Thí nghiệm thực hiện nhằm xác định thành phần, mật số và xác định hiệu lực trừ cỏ dại trên ruộng lúa sạ của các loại thuốc diệt cỏ trên ruộng thí nghiệm đồng thời đánh giá ảnh hưởng của
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC TRỪ CỎ DẠI TRÊN RUỘNG LÚA
SẠ CỦA HỖN HỢP THUỐC PENOXSULAM VÀ
PENDIMETHALIN XỬ LÝ Ở 3 NGÀY SAU SẠ
TẠI LONG ĐỊNH - TIỀN GIANG
Tp Hồ Chí Minh, tháng 08/2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC TRỪ CỎ DẠI TRÊN RUỘNG LÚA
SẠ CỦA HỖN HỢP THUỐC PENOXSULAM VÀ
PENDIMETHALIN Ở 3 NGÀY SAU SẠ TẠI
LONG ĐỊNH - TIỀN GIANG
Tp Hồ Chí Minh, tháng 08/2011
Trang 3ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC TRỪ CỎ DẠI TRÊN RUỘNG LÚA
SẠ CỦA HỖN HỢP THUỐC PENOXSULAM VÀ
PENDIMETHALIN XỬ LÝ Ở 3 NGÀY SAU SẠ
TẠI LONG ĐỊNH - TIỀN GIANG
Tác giả
HOÀNG CAO NGUYÊN
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng kỹ sư ngành Nông Học
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:
ThS Lâm Thị Mỹ Nương
KS Nguyễn Hữu Trúc
Tp Hồ Chí Minh, tháng 08/2011
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành theo chương trình đào tạo kỹ sư chuyên ngành Nông Học, hệ chính quy tại Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Tôi xin chân thành cảm ơn:
− Ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM
− Thầy Nguyễn Hữu Trúc cùng toàn thể thầy cô trong Khoa Nông Học, Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
− Cô Lâm Thị Mỹ Nương cùng Ban Giám đốc và các anh chị cán bộ tại Trung Tâm Bảo Vệ Thực Vật Phía Nam đã hết lòng hướng dẫn, tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tại Trung Tâm
− Gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Trang 5
TÓM TẮT
Hoàng Cao Nguyên, Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh Tháng 08/2011 Đề tài " Đánh giá hiệu lực trừ cỏ dại trên ruộng lúa sạ của hỗn hợp thuốc Penoxsulam và Pendimethalin xử lý ở 3 ngày sau sạ tại Long Định – Tiền Giang" Giáo viên hướng dẫn: Ths Lâm Thị Mỹ Nương, Ks Nguyễn Hữu Trúc Đề tài thực hiện từ 30/03/2011 đến 30/06/2011
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD), với 4 lần lặp lại, gồm 15 nghiệm thức Thí nghiệm thực hiện nhằm xác định thành phần, mật số
và xác định hiệu lực trừ cỏ dại trên ruộng lúa sạ của các loại thuốc diệt cỏ trên ruộng thí nghiệm đồng thời đánh giá ảnh hưởng của các loại thuốc diệt cỏ đến sinh trưởng và năng suất của cây lúa Thời gian phun thuốc 3 ngày sau sạ, các biện pháp canh tác khác đều theo tập quán của nông dân Kết quả thí nghiệm cho thấy:
- Tại ruộng thí nghiệm hiện diện 5 loại cỏ Trong đó cỏ đuôi phụng, cỏ chác hiện diện ở mức độ phổ biến Cỏ lồng vực, cỏ cháo và rau mương hiện diện ở mức độ ít phổ biến
- Các loại thuốc trừ cỏ tham gia thí nghiệm đều có hiệu lực diệt cỏ cao Trong đó nghiệm thức xử lý hỗn hợp thuốc Penoxsulam + Pendimethalin (0,25+0,5 lít/ha; 0,25+1,0 lít/ha; 0,375+0,5 lít/ha; 0,375+1,0 lít/ha; 0,5+0,5 lít/ha; 0,5+1,0 lít/ha) diệt được hầu hết 5 loại cỏ dại nêu trên Còn thuốc Penoxsulam (ở 3 liều lượng xử lý) chỉ diệt được nhóm cỏ chác lác và lá rộng còn đối với cỏ đuôi phụng, hiệu lực diệt cỏ thấp (57,2 - 76,8%) Thuốc Pendimethalin (ở 3 liều lượng xử lý) chỉ diệt được nhóm cỏ hòa bản và lá rộng, hiệu lực diệt cỏ chác thấp (60,0 - 93,5%)
- Các thuốc Pendimethalin (1,0; 1,5 lít/ha) và hỗn hợp thuốc Penoxsulam + Pendimethalin (0,25+1,0 lít/ha; 0,375+0,5 lít/ha; 0,375+1,0 lít/ha; 0,5+0,5 lít/ha; 0,5+1,0 lít/ha) có dấu hiệu ngộ độc rõ sau 7 ngày xử lý ở cấp 5 và kéo dài đến 14 ngày sau xử lý thì ngộ độc giảm xuống còn cấp 3, đến 28 ngày sau xử lý thì không còn bị dấu hiệu ngộ
Trang 6độc Tuy nhiên độc tính của thuốc không ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và phát triển của cây lúa
- Về năng suất thực tế: Các nghiệm thức xử lý thuốc đều cho năng suất cao hơn so với đối chứng có ý nghĩa trong thống kê, biến động từ (3,3 – 5,9 tấn/ha) Đặc biệt nghiệm thức dùng hỗn hợp thuốc Penoxsulam + Pendimethalin (0,25+0,5 lít/ha ;0,25+1,0 lít/ha; 0,375+0,5 lít/ha; 0,375+1,0 lít/ha; 0,5+0,5 lít/ha; 0,5+1,0 lít/ha) cho năng suất cao nhất (5,3 - 5,9 tấn/ha) Nghiệm thức đối chứng chỉ đạt (2,3 tấn/ha)
Trang 7
MỤC LỤC
Trang
ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC TRỪ CỎ DẠI TRÊN RUỘNG LÚA SẠ CỦA HỖN HỢP
THUỐC PENOXSULAM VÀ PENDIMETHALIN XỬ LÝ Ở 3 NGÀY SAU SẠ TẠI
LONG ĐỊNH - TIỀN GIANG i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục v
Danh sách chữ viết tắt viii
Danh sách các bảng ix
Danh sách các hình x
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích 2
1.3 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Sơ lược về cỏ dại 3
2.1.1 Một vài định nghĩa về cỏ dại 3
2.1.2 Đặc điểm chung của cỏ dại 3
2.1.3 Cỏ dại trong ruộng lúa 4
2.1.3.1 Phân loại cỏ dại trong ruộng lúa 4
2.1.3.2 Những loại cỏ phổ biến trên ruộng lúa 6
2.1.3.3 Tác hại của cỏ dại đối với ruộng lúa 6
2.1.3.4 Lợi ích của cỏ dại 7
Trang 82.1.3.5 Những đặc điểm quan trọng của cỏ dại trên ruộng lúa 7
2.1.3.6 Các biện pháp quản lý cỏ dại trong ruộng lúa 8
2.2 Sơ lược về thuốc trừ cỏ 10
2.2.1 Định nghĩa thuốc trừ cỏ 10
2.2.2 Lịch sử 10
2.2.3 Các nhóm thuốc 11
2.2.4 Phổ tác dụng của thuốc trừ cỏ 12
2.2.5 Những dạng thuốc trừ cỏ thường gặp 12
2.2.6 Cơ chế tác động của thuốc trừ cỏ 12
2.2.7 Con đường xâm nhập của thuốc trừ cỏ vào cỏ dại 13
2.2.8 Ưu nhược điểm của biện pháp diệt cỏ bằng hóa chất 14
2.2.8.1 Ưu điểm 14
2.2.8.2 Nhược điểm 14
2.2.9 Thuốc thí nhiệm 14
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 16
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 16
3.1.1 Thời gian nghiên cứu 16
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 16
3.1.2.1 Đặc điểm khí hậu thời tiết khu vực thí nghiệm 16
3.1.2.2 Đặc điểm đất đai địa hình khu vực thí nghiệm 17
3.2 Vật liệu thí nghiệm 17
3.3 Phương pháp khảo nghiệm 18
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm và các nghiệm thức thí nghiệm 18
3.3.2 Kỹ thuật canh tác 21
3.3.3 Xác định thành phần, mật số các loài cỏ dại trên ruộng thí nghiệm 22
3.3.4 Xác định hiệu lực của thuốc diệt cỏ trên ruộng lúa sạ 22
3.3.5 Ảnh hưởng của các thuốc thí nghiệm đến sinh trưởng và năng suất lúa 23
3.3.5.1 Phương pháp đánh giá độc tính của thuốc trừ cỏ đối với lúa 23
Trang 93.3.5.2 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa 234
3.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 24
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Thành phần, mật số các loài cỏ dại trên ruộng thí nghiệm 25
4.2 Đánh giá hiệu lực của các loại thuốc diệt cỏ trên ruộng lúa sạ 32
4.2.1 Ảnh hưởng của các loại thuốc diệt cỏ đến mật số các loài cỏ trên ruộng thí nghiệm 32
4.2.1.1 Mật số cỏ lồng vực 32
4.2.1.2 Mật số cỏ đuôi phụng 35
4.2.1.3 Mật số cỏ cháo 40
4.2.1.4 Mật số cỏ chác 41
4.2.1.5 Mật số rau mương 46
4.2.2 Ảnh hưởng của các loại thuốc diệt cỏ đến trọng lượng cỏ tươi các loài cỏ ở thời điểm 56 ngày sau xử lý 47
4.2.3 Hiệu lực diệt cỏ của các loại thuốc tham gia thí nghiệm 52
4.2.3.1 Hiệu lực tính theo mật mật số cỏ 52
4.2.3.2 Hiệu lực tính theo trọng lượng cỏ tươi ở 56 ngày sau xử lý 68
4.3 Ảnh hưởng của các loại thuốc thí nghiệm đến sinh trưởng và năng suất lúa 73
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 82
5.1 Kết luận 82
5.2 Đề nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 87
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Diễn biến khí hậu thời tiết qua các tháng thí nghiệm 17
Bảng 3.2 Các nghiệm thức tham gia thí nghiệm 18
Bảng 3.3 Bảng phân cấp mức độ độc của thuốc đối với cây lúa 23
Bảng 4.1 Thành phần và mức độ phổ biến của các loại cỏ dại trên ruộng thí nghiệm 25
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến mật số cỏ lồng vực 34
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến mật số cỏ đuôi phụng 37
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến mật số cỏ cháo 39
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến mật số cỏ chác 44
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến mật số rau mương 45
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến trọng lượng cỏ tươi các loài cỏ 50
Bảng 4.8 Hiệu lực diệt cỏ của các loại thuốc tính theo mật số cỏ lồng vực 52
Bảng 4.9 Hiệu lực diệt cỏ của các loại thuốc tính theo mật số cỏ đuôi phụng 58
Bảng 4.10 Hiệu lực diệt cỏ của các loại thuốc tính theo mật số cỏ cháo 59
Bảng 4.11 Hiệu lực diệt cỏ của các loại thuốc tính theo mật số cỏ chác 63
Bảng 4.12 Hiệu lực diệt cỏ của các loại thuốc tính theo mật số rau mương 65
Bảng 4.13 Hiệu lực diệt cỏ từng loại tính theo trọng lượng cỏ tươi 56 ngày sau xử lý 68
Bảng 4.14 Cấp độ độc của cây lúa quan sát bằng mắt thường vào các thời điểm 73
Bảng 4.15 Ảnh hưởng của các thuốc diệt cỏ đến một số chỉ tiêu sinh trưởng lúa 77
Bảng 4.16 Các yếu tố cấu thành năng suất và nằng suất lúa 79
Trang 12DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1 Toàn cảnh khu thí nghiệm sau khi đắp bờ 20
Hình 3.2 Toàn cảnh khu thí nghiệm trước xử lý thuốc 20
Hình 3.3 Phun thuốc bằng bình phun đeo vai 21
Hình 4.1 Cỏ lồng vực (Echinochloa crus-galli) trên ruộng thí nghiệm 26
Hình 4.2 Cỏ đuôi phung (Leptochloa chinensis) trên ruộng thí nghiệm 27
Hình 4.3 Cỏ cháo (Cyperus difformis) trên ruộng thí nghiệm 28
Hình 4.4 Cỏ chác (Fimbristylis miliacea) trên ruộng thí nghiệm 29
Hình 4.5 Cỏ rau mương (Ludwigia octovalvis) trên ruộng thí nghiệm 30
Hình 4.6 Toàn cảnh khu thí nghiệm 1 ngày sau phun thuốc (4 NSS) 31
Hình 4.7 Toàn cảnh khu thí nghiệm 7 ngày sau phun thuốc (10 NSS) 31
Hình 4.8 Cỏ đuôi phụng trên nghiệm thức đôi chứng và NT Penoxsulam (0,25 l/ha), 28 ngày sau phun xử lý (31 NSS) 38
Hình 4.9 Sự khác biệt về mật số cỏ giữa NT Penoxsulam+Pendimethalin (0,375+0,5 l/ha) và nghiệm thức đối chứng, 56 ngày sau phun xử lý (59 NSS) 38
Hình 4.10 Toàn cảnh khu thí nghiệm 14 ngày sau phun xử lý (17 NSS) 43
Hình 4.11 Toàn cảnh khu thí nghiệm 56 ngày sau phun xử lý (59 NSS) 43
Hình 4.12 Toàn cảnh khu thí nghiệm 80 ngày sau phun xử lý (83 NSS) 49
Hình 4.13 Cùng thầy Nguyễn Hữu Trúc thăm ruộng TN, 28 ngày sau phun xử lý 51
Hình 4.14 Cán bộ công ty Dow AgroSciences thăm ruộng TN, 70 ngày sau phun xử lý 51
Hình 4.15 Nghiệm thức xử lý thuốc Penoxsulam+Pendimethalin (0,375+1,0 l/ha) 57
Hình 4.16 Tác động của thuốc Penoxsulam lên cỏ chác, 7 ngày sau phun xử lý 64
Hình 4.17 Sự khác biệt giữa NT Pendimethalin (0,5 l/ha) và NT Penoxsulam (0,25 l/ha) 72
Hình 4.18 Sự khác biệt giữa NT Penoxsulam (0,50 l/ha) và NT Sofit 300EC 72
Hình 4.19 Triệu chứng ngộ độc của cây lúa trên NT Pendimethalin (1,0 l/ha), 7 NSXL 75
Trang 13Hình 4.20 Triệu chứng ngộ độc của cây lúa trên NT Pendimethalin (1,0 l/ha), 28 NSXL
Trang 14Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực chủ yếu của hơn nửa dân số trên toàn
cầu (IRRI, 1997), trong đó sản lượng lúa gạo của các nước Châu Á đã đóng góp gần 90 % tổng sản lượng lúa gạo trên toàn cầu Cây lúa được trồng ở khoảng 112 nước và lúa gạo là thức ăn căn bản của gần 3 tỉ người (Trần Văn Đạt, 2005) Ngoài việc đóng vai trò chính là một cây lương thực thiết yếu, nó còn là nguồn thu nhập của người dân
Việt Nam có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp lúa gạo (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Vì vậy, việc phát triển ngành trồng lúa ở nước ta có vai trò rất quan trọng Một trong những điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển ngành trồng lúa ở nước ta là vị trí địa lý nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ nóng ẩm quanh năm rất thích hợp với cây lúa Với điều kiện thuận lợi đó, ngành trồng lúa ở nước ta không những đảm bảo an ninh lương thực trong nước mà còn vươn ra xuất khẩu Trong năm 2010, Việt Nam là một nước sản xuất và xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới (FAO, 2010)
Tuy nhiên, ngành trồng lúa ở nước ta cần phải được nghiên cứu và phát triển hơn nữa để đảm bảo an ninh lương thực trong bối cảnh dân số gia tăng rất nhanh, mặt khác đem lại nguồn lợi kinh tế Trong sản xuất lúa gạo trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng hiện đang bị đe dọa rất nghiêm trọng bởi nhiều dịch hại Cỏ dại là một trong những dịch hại mà ngành nông nghiệp đang đối mặt vì nó làm giảm năng suất từ 44 –
96 % tùy theo biện pháp canh tác, và làm giảm chất lượng của lúa gạo (IRRI) Cỏ dại
Trang 15cạnh tranh ánh sáng, nước và dinh dưỡng làm giảm năng suất lúa Nhiều loài cỏ dại là ký chủ trung gian của sâu bệnh hại và còn là nơi trú ẩn của chuột
Trong các nhóm cỏ hiện diện trên ruộng lúa thì nhóm cỏ hòa bản và nhóm cỏ Cói lác làm giảm năng suất lúa rõ nét nhất
Từ năm 1940 trở lại đây, các nước tiên tiến đã nhanh chóng sử dụng nhiều hóa chất diệt cỏ dại Hằng năm, có hàng trăm thuốc diệt cỏ dại ra đời để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng Do thuốc hóa học có nhiều ưu điểm: ít tốn công, hiệu lực mạnh, nhanh, dễ
áp dụng, trừ được nhiều loài Nhưng cũng có những nhược điểm như: làm nhiễm bẩn môi trường sống, làm giảm quần thể thiên địch, để lại dư lượng thuốc trong nông sản phẩm Ngoài ra việc có quá nhiều loại thuốc trừ cỏ dại, gây khó khăn cho người sử dụng có thể lựa chọn được một loại thuốc trừ cỏ dại vừa có hiệu lực cao vừa ít ảnh hưởng đến môi trường
Như vậy, những ảnh hưởng của cỏ dại đối với ngành trồng lúa là rất nghiêm trọng Việc nghiên cứu tìm ra thuốc diệt cỏ dại tốt là vô cùng quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong ngành trồng lúa
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, đề tài “Đánh giá hiệu lực trừ cỏ dại trên ruộng lúa sạ của hỗn hợp thuốc Penoxsulam và Pendimethalin xử lý ở 3 ngày sau sạ tại Long Định – Tiền Giang” đã được thực hiện
1.2 Mục đích
Tìm ra hỗn hợp thuốc Penoxsulamvà Pendimethalin diệt cỏ dại tốt trên ruộng lúa sạ
để khuyến cáo sử dụng
1.3 Yêu cầu
- Xác định thành phần, mật số các loài cỏ dại trên ruộng thí nghiệm
- Xác định hiệu lực trừ cỏ dại (%) trên ruộng lúa sạ của các nghiệm thức thí nghiệm
- Ảnh hưởng của các thuốc diệt cỏ thí nghiệm đến sinh trưởng và năng suất lúa
Trang 16Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược về cỏ dại
2.1.1 Một vài định nghĩa về cỏ dại
Cỏ dại là những cây mọc không đúng chỗ hoặc mọc ở chỗ không mong muốn, là cây mọc lên không do gieo trồng mà gây hại nhiều hơn sinh lợi, tác hại đến những mục tiêu của con người
Những thực vật mọc tự nhiên trên đồng ruộng như cỏ lồng vực, cỏ lác hoặc mọc trên những cơ quan thực vật có ích như tầm gửi, tơ hồng là những thực vật phát triển ngoài ý muốn của con người, có ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng, năng suất và phẩm chất của cây trồng, gây tốn kém trong chi phí sản xuất… Có khả năng thích ứng với ngoại cảnh biến đổi, có tính chống chịu cao với ngoại cảnh khắc nghiệt (Phùng Đăng Chinh, Dương Hữu Tuyền và Lê Trường, 1978)
2.1.2 Đặc điểm chung của cỏ dại
Các loài cỏ dại có một số đặc điểm chung như sau:
- Cỏ dại có khả năng chống chịu cao và tính chất biến động rất lớn so với cây trồng Đặc tính này giúp cỏ tồn tại lâu dài và dai dẳng
- Cỏ dại có nhiều hình thức sinh sản và khả năng nhân giống mạnh Chúng có thể sinh sản bằng hạt, thân bò, thân ngầm tùy theo loại
Trang 17- Số lượng hạt và mầm ngủ của cỏ dại rất nhiều, đảm bảo cho nó có hệ số nhân giống cao
- Tính chất dễ rụng và có nhiều hình thức phát tán Sau khi chín, hạt cỏ dễ rời khỏi cây Hiện tượng này kèm theo hiện tượng chín không đều làm cho cỏ dại có đủ thời gian phóng thích hạt ra ngoài Hạt cỏ có kích thước nhỏ, trọng lượng thấp, quả và hạt có nhiều
bộ phận như: lông, râu, móc giúp chúng có thể lan truyền trên diện tích lớn bằng nhiều con đường: theo nước, gió, động vật, con người
- Hạt cỏ có tính miên trạng và nảy mầm không đều Tính miên trạng gây khó khăn
cho việc xác định thời điểm trừ cỏ có hiệu quả và chính xác
- Cỏ dại giữ sự nảy mầm rất lâu Rất nhiều loài cỏ dại có thể giữ được nảy mầm của mình sau 15 – 20 năm Ở Mỹ sau khi chôn vùi dưới đất 20 năm, 51 loại cỏ trong số 107 loại thí nghiệm vẫn có những hạt nảy mầm
- Phần lớn hạt cỏ dại chỉ mọc mầm ở phần đất nông Hạt cỏ dại khi rụng xuống thì nằm trên mặt đất, nhưng sau đó chúng được trộn vào đất do các biện pháp canh tác Cày càng sâu, trộn đất càng đều thì hạt cỏ dại phân bố càng đều và càng sâu: có những hạt có thể nảy mầm ngay, những hạt đó cũng được phân bố khắp trong lớp đất cày; các hạt chưa mọc ngay cũng vậy Tuy nhiên hạt nảy mầm ngay được phân bố đều trong lớp đất cày, nhưng chỉ những hạt ở lớp đất nông mới mọc được
- Phần lớn hạt cỏ dại mọc nhiều ở lớp đất 0 – 2 cm, mọc vào loại trung bình ở lớp đất 3 – 5 cm và mọc ít ở lớp đất 5 – 7 cm Ở độ sâu dưới 7cm hầu như không có hạt cỏ mọc Còn hạt cây trồng có thể mọc cao ở độ sâu 7 cm
2.1.3 Cỏ dại trong ruộng lúa
2.1.3.1 Phân loại cỏ dại trong ruộng lúa
Theo IRRI (1978), các loại cỏ thường phân thành ba nhóm chính
Nhóm cỏ hòa bản (Poaceae): là nhóm cỏ phổ biến, có hầu hết trên ruộng lúa các
nước Chúng có lá hẹp dài, gân lá song song, thân tròn, rỗng, lá mọc đứng và mọc thành 2 hàng dọc theo thân, rễ chùm, có hoa và hạt rất nhiều, hạt nảy mầm rất tốt Nhóm này có các loại cỏ: cỏ lồng vực, đuôi phụng, cỏ túc, cỏ bắc, cỏ mồm
Trang 18Nhóm cói lác (Cyperaceae): các loại cỏ này có lá dài và hẹp, mọc thành 3 hàng
dọc theo thân, thân thường cứng hình tam giác và đặc ruột Sinh sản hữu tính, sinh trưởng
và phát triển tốt trong điều kiện ẩm ướt, có khả năng đẻ nhánh rất nhiều Mỗi thân cỏ mang một chùm bông lớn, hạt cỏ dễ tách khỏi bông Nhóm này có các loại cỏ: cỏ cháo, cỏ chác, cỏ lác rận (u du), lác vuông, lác hến, cỏ năng
Nhóm cỏ lá rộng: lá thường lớn và rộng, đa dạng, gân lá sắp xếp theo nhiều cách
khác nhau nhưng không song song Nhóm này có nhiều kiểu sinh sản khác nhau, thường sinh sản bằng hạt, đôi lúc cũng sinh sản vô tính Trong nhóm này có các loại cỏ: cỏ xà bông, rau mương, rau mác bao, rau bợ, cỏ vẩy ốc, cỏ đồng tiền
Dựa vào phương thức sinh sống có hai nhóm:
Cỏ dại ký sinh: cỏ dại sống nhờ hoàn toàn vào dưỡng chất do cây chủ cung cấp
như dây tơ hồng, gọi là cỏ ký sinh hoàn toàn Cỏ dại có thể tự túc một phần chất hữu cơ,
đó là những loại cỏ có lá xanh như tầm gởi
Cỏ dại không ký sinh: phần lớn nhóm này có đủ các cơ quan dinh dưỡng như rễ,
thân, lá và được phân ra cỏ một lá mầm và cỏ hai lá mầm
• Cỏ một lá mầm: chúng có những đặc tính như lá thường hẹp, dày, mọc xiên; rễ thường là rễ chùm, ăn nông; điểm sinh trưởng được bọc trong bẹ lá như cỏ lồng vực, cỏ chác, cỏ lác rận
• Cỏ hai lá mầm: loại này có những đặc tính là lá thường rộng, nằm ngang, mỏng, mềm và ít lông; rễ thường là rễ cọc ăn sâu; điểm sinh trưởng thường lộ ra ngoài như: rau mác bao, cỏ xà bông
Phân loại theo chu kỳ sinh sống, cỏ dại được chia ra làm hai nhóm chính:
Cỏ hằng niên: chu kỳ sinh sống dưới một năm, các loài cỏ này có chu kỳ sinh
sống ngắn hơn cây lúa như cỏ lồng vực, cỏ đuôi phụng, cỏ mồm, cỏ cháo, cỏ chác, rau mương, cỏ mực, rau trai, rau muống, rau dừa
Cỏ đa niên: chu kỳ sống thường trên một năm, có nhiều cách tồn tại vốn tự nhiên
do sinh sản bằng hạt, bằng một đoạn thân, hoặc một đoạn rễ trong đất Ruộng ít được cày xới, ruộng một năm, canh tác một vụ, hoặc đất hoang thì cỏ đa niên sẽ chiếm ưu thế hơn
Trang 19cỏ hằng niên Những loài cỏ đa niên thường thấy trên ruộng lúa là cỏ chỉ, cỏ ống, cỏ bắc,
cỏ cú, u du, rau bợ, bèo tấm, lục bình, rau mác bao
Ngoài ra người ta còn chia ra cỏ nhị niên, cỏ hoàn tất chu kỳ sống là hai năm
2.1.3.2 Những loại cỏ phổ biến trên ruộng lúa
Theo Keith Moody (1989), có khoảng 530 loại cỏ quan trọng hơn 180 giống thuộc
60 họ là cỏ dại hại lúa Trong đó, cỏ hòa bản là quan trọng nhất với hơn 80 loài Kế đó là nhóm cói lác với hơn 50 loài Các loài cỏ quan trọng trên ruộng lúa tại ĐBSCL bao gồm:
cỏ lồng vực (Echinochloa crus-galli), cỏ đuôi phụng (Leptochloa chinensis), lúa cỏ (Oryza sativa) thuộc nhóm hòa bản, cỏ chác (Fimbristylis miliacea), cỏ cháo (Cyperus difformis), lác rận (Cyperus iria) thuộc nhóm cỏ lác, rau mương (Ludwigia octovalvis), rau mác bao (Monochoria vaginalis), cỏ xà bông (Sphenolea zeylanica) thuộc nhóm cỏ lá
rộng, phân bố rất rộng trên mọi vùng đất từ đất phù sa màu mỡ cho đến đất nhiễm mặn, nhiễm phèn (Dương Văn Chín, 2005)
2.1.3.3 Tác hại của cỏ dại đối với ruộng lúa
Theo tài liệu của FAO, cỏ dại gây ra thiệt hại 11,5 % tổng sản lượng nông nghiệp trên toàn thế giới, tổng thất thu là 287.500.000 tấn sản phẩm Tùy ở mức độ phát triển của nông nghiệp, con số thiệt hại ở các nước khác nhau (nước rất phát triển 5%, nước phát triển trung bình 10 %, nước kém phát triển 25 %)
Theo thống kê của các nước trồng lúa ở Châu Á thì cỏ dại có thể làm giảm đến 50 % thiệt hại năng suất nếu không có biện pháp phòng trừ Trong các nhóm cỏ hiện diện trên ruộng lúa thì nhóm cỏ thuộc họ hòa bản và nhóm cỏ thuộc họ chác lác làm giảm năng suất lúa rõ nét nhất
Cỏ dại cạnh tranh với cây lúa về chất dinh dưỡng, ánh sáng, nước đồng thời là nguồn truyền sâu, bệnh hại (Trần Đức Viên, 2006) Cỏ dại xuất hiện trên đồng ruộng sẽ che bớt ánh sáng của cây, đồng thời hút một phần chất dinh dưỡng và nước làm giảm độ phì của đất và ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng
Trên thực tế sản xuất, cỏ dại cạnh tranh mạnh mẽ với lúa vào thời kì 28 – 42 ngày sau gieo, các loài nấm bệnh đạo ôn, khô vằn, sâu cuốn lá, bọ xít sinh sống được trên nhiều
Trang 20loại cỏ hòa bản như cỏ lồng vực, đuôi phụng, cỏ chỉ (Nguyễn Mạnh Chinh và Mai Thành Phụng, 2004)
Năng suất của lúa cũng bị sụt giảm nghiêm trọng do sự cạnh tranh của cỏ dại Loài
có chiều cao thấp, nảy mầm trễ thường có khuynh hướng cạnh tranh ít hơn những loài có chiều cao, nảy mầm vào đầu vụ (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Cỏ dại còn làm giảm chất lượng hạt gạo khi đem xay chà, dẫn đến giảm giá trị xuất khẩu và làm hạt giống bị lẫn tạp là nguồn lây lan cỏ dại cho mùa vụ sau
Bên cạnh đó cỏ dại còn gây hao tổn về kinh tế do chi phí dùng để phòng trừ, làm sạch cỏ thuỷ sinh trong các ao hồ nuôi thuỷ sản, gây mất bớt nước ở các ao hồ tự nhiên hoặc hồ chứa Các phí tổn phi nông nghiệp như trẻ em bỏ học để lo làm cỏ kịp thời vụ cho gia đình, cản trở tầm nhìn xa trên các con đường và các họat động giải trí, ảnh hưởng sức khỏe con người và giá trị đất đai
2.1.3.4 Lợi ích của cỏ dại
Ngoài những thiệt hại mà cỏ dại gây ra cho sản xuất nông nghiệp, chúng còn có một
số lợi ích như:
- Chống xói mòn
- Làm thức ăn hoặc che chở cho gia súc, cho con người
- Thuốc chữa bệnh
- Tăng cường nguồn hữu cơ trong đất
- Kí chủ của những loài côn trùng có ích và làm tăng vẻ mỹ quan của cảnh vật
2.1.3.5 Những đặc điểm quan trọng của cỏ dại trên ruộng lúa
Cỏ có khả năng thích ứng và tồn tại cao: cỏ dại chịu rét tốt hơn cây lúa Cỏ chịu được phèn hoặc mặn cũng tốt hơn cây lúa
Cỏ sinh sản nhanh và nhiều hơn cây lúa: một bông cỏ lồng vực có từ vài trăm đến vài ngàn hạt Một cây rau dền qua một vụ có thể cho ra vài triệu hạt
Hạt cỏ dễ phát tán hơn hạt lúa Hạt cỏ thường nhỏ, nhẹ, có lông tơ nên dễ được nước, gió, côn trùng, gia súc, con người và công cụ mang đi xa
Trang 21Một số hạt cỏ có miên trạng và cấu trúc vỏ đặc biệt nên chúng tồn tại lâu trong đất, trong hệ thống tiêu hóa của súc vật và ngay cả trong phân ủ
Cỏ dại có nhiều cách sinh sản hơn lúa: cỏ thường sinh sản bằng hạt Tuy nhiên, một
số loại có thể sinh sản bằng thân hoặc một đoạn rễ (cỏ gà, rau má)
Hầu hết các loài cỏ trên ruộng lúa đều mọc rất mạnh khi thiếu nước Do đó, giữ mực nước ruộng hợp lý theo chu kỳ sinh trưởng và phát triển của cây lúa sẽ hạn chế được sự phát triển của cỏ dại
2.1.3.6 Các biện pháp quản lý cỏ dại trong ruộng lúa
Mục đích của việc phòng trừ cỏ dại là làm giảm quần thể của cỏ dại đạt tới mức nhất định, tại đó năng suất cây trồng ít bị ảnh hưởng
Vì vậy, để làm giảm cỏ mọc bằng nhiều phương pháp khác nhau Tuy nhiên, không
có biện pháp nào có thể áp dụng trong mọi điều kiện, mỗi biện pháp đều có thuận lợi và khó khăn riêng
Loại bỏ hạt cỏ trong nguồn giống gieo sạ
Dùng giống xác nhận để gieo sạ Hạt giống xác nhận phải đạt tiêu chuẩn không quá 10 hạt cỏ dại trong 1 kg hạt giống
Sử dụng 1/20 diện tích ruộng để làm lúa giống vụ sau: khử lẫn triệt để từ giai đoạn lúa đẻ nhánh, loại bỏ những bụi cỏ, bụi lúa cao hoặc thấp hơn bình thường và lúa cỏ
Loại bỏ hạt cỏ còn sót lại trong lúa giống: trước khi ngâm ủ, cần sàng sấy lại hoặc đãi trong nước nhiều lần để loại hạt cỏ và những hạt lúa lép lửng Trường hợp hạt cỏ nhiều thì cho lúa giống đã ngâm nước sạch 24 – 36 giờ (lúa đã no nước) vào dung dịch nước muối nồng độ 15 % (1,5 kg muối tốt hòa tan trong 10 lít nước sạch), cứ một thể tích lúa giống cần 3 thể tích nước muối để loại toàn bộ hạt lép lửng và hạt cỏ dại Sau đó, đãi lúa giống với nước sạch nhiều lần cho hết muối rồi đem đi ủ
Sửa soạn đất kỹ diệt cỏ, quản lý nước ém cỏ
Sau khi thu hoạch, trong thời gian đất trống, các hạt cỏ dại và lúa cỏ trong đất mọc lên hoặc là chủ động bơm nước vào ruộng khô để nhử cỏ mọc lên cao 5 – 10 cm, tiến hành cày vùi lấp toàn bộ cỏ, sau đó bừa trục kỹ mới gieo sạ lúa
Trang 22Mặt ruộng được san bằng phẳng, sau khi sạ cấy cho nước vào ruộng và duy trì mực nước ruộng theo các giai đoạn sinh trưởng của lúa có tác dụng ém cỏ rất tốt
- Dùng đúng loại thuốc cỏ lúa: điều cần thiết trước hết là phải biết được thành phần
cỏ trên ruộng gồm những loại gì là chính cần phải diệt để chọn loại thuốc có phổ tác dụng thích hợp Sau đó xem xét thêm điều kiện của ruộng, nhất là mặt bằng và khả năng chủ động nước, để đáp ứng yêu cầu của loại thuốc sử dụng
Cuối cùng, nên tham khảo giá cả để chọn loại thuốc thích hợp, có hiệu quả cao mà lại đỡ tốn chi phí
- Dùng thuốc cỏ đúng thời điểm: phải dùng đúng thời gian đã hướng dẫn với từng loại thuốc tùy theo thuốc đó là loại tác động tiền hay hậu nảy mầm Thuốc tiền nảy mầm tác động diệt cỏ khi hạt cỏ chưa hoặc đang nẩy mầm, loại này cần phun sớm sau khi làm đất hoặc sau khi gieo sạ 1 – 4 ngày Thuốc hậu nẩy mầm tác động khi hạt cỏ đã mọc thành cây, thường dùng sau khi gieo cấy lúa từ 10 – 20 ngày Có loại thuốc tác động khi cây cỏ còn nhỏ dưới 2 lá gọi là thuốc hậu nảy mầm sớm, thường dùng sau khi gieo cấy từ 6 – 10 ngày
- Dùng thuốc cỏ lúa đúng liều lượng: tính toán pha đúng lượng thuốc cần pha cho mỗi bình phun và phun đủ số bình cần phun cho một đơn vị diện tích theo khuyến cáo ghi trên nhãn thuốc Khi sử dụng ở liều lượng quá cao, một số thuốc trừ cỏ có thể gây ngộ độc cho lúa làm lúa bị cháy lá, lùn, còi cọc hoặc chết Nhưng nếu dùng ở liều lượng thấp
cỏ có thể không chết, hiệu quả trừ cỏ thấp Thuốc cỏ dùng để rải nên trộn với cát, phân bón để rải cho đều khắp ruộng
Trang 23- Dùng thuốc cỏ lúa đúng cách: tùy theo đặc tính của thuốc cỏ là lưu dẫn qua lá hoặc hấp thụ qua rễ mà tuân thủ theo những hướng dẫn theo yêu cầu riêng của từng loại thuốc Cần chú ý phải chuẩn bị mặt ruộng bằng phẳng, quản lý nước trước và sau khi phun rải thuốc cỏ là hết sức quan trọng để phát huy tối đa tác dụng diệt cỏ của thuốc Không nên phun thuốc cỏ khi trời nắng nóng, đang có gió to hay sắp mưa
Tiêu chí chọn lựa thuốc trừ cỏ lúa
¾ Hiệu quả trừ cỏ cao, diệt được những loài cỏ chính trong ruộng lúa
¾ Có tính chọn lọc cao, an toàn cho cây lúa, con người, động vật thủy sinh, côn trùng có ích
¾ Điều kiện sử dụng dễ dàng, thích hợp với đặc điểm và kỹ thuật canh tác
Tiếp sau đó, nhiều hợp chất vô cơ được dùng diệt cỏ như Sodium chlorate, alcium cyanamid, Carbon bisulphide Tuy vậy những hợp chất này phân hủy chậm trong môi trường, do đó gây độc hại cho con người và ảnh hưởng đến chất đất
Thuốc diệt cỏ hữu cơ đầu tiên có tên Dinitro-Ortho-Cresol (DNOC) được giới thiệu vào năm 1932 Năm 1941, W G Templeman khi nghiên cứu NAA như một chất điều hòa
Trang 24sinh trưởng cho cây lúa mì ở thí nghiệm trong chậu, tình cờ ông phát hiện NAA giết được
cây cải dầu hoang (Brassica kaber)
Đặc biệt, việc phát minh ra chất diệt cỏ 2,4-dichlorophenoxy acetic (2,4 D), đánh đấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển thuốc trừ cỏ Nó được thương mại hóa đầu tiên bởi công ty Sherwin-Williams Paint và được sử dụng sau năm 1940 Chúng có thể ảnh hưởng đến cây trồng thân cỏ như cây ngô hoặc những cây ngũ cốc nhưng giá rẻ và dễ sản xuất là lý do đến hiện nay nó vẫn được sử dụng
Năm 1950 nhóm thuốc trừ cỏ Triazine được giới thiệu, nó bao gồm atrazine – chất
mà hiện nay là mối quan tâm lớn của con người khi chúng được cho rằng làm ô nhiễm nước ngầm và ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Glyphosate, thường được bán ra với tên là Roundup, được giới thiệu vào năm 1974 Bây giờ chúng là một trong những thuốc trừ cỏ được sử dụng rộng rãi nhất Việc sử dụng thuốc trừ cỏ hiện nay rất phổ biến ở các nước phát triển và nông dân các nước này xem đây là biện pháp diệt cỏ hữu hiệu duy nhất mà ít để ý đến các biện pháp khác
Hiện nay, có khoảng 300 hóa chất diệt cỏ trên thế giới nhưng chỉ có rất ít hóa chất được sử dụng rộng rãi Các hóa chất trừ cỏ hiện nay đã thỏa mãn phần nào đòi hỏi của người sử dụng: diệt được nhiều loại cỏ, an toàn với cây trồng, ít ảnh hưởng xấu đến độ màu mỡ của đất, dễ sử dụng, dễ bảo quản
Ở nước ta, hiện nay việc dùng thuốc hóa học trừ cỏ đã trở nên phổ biến, không chỉ đối với ruộng trồng lúa, hoa màu mà cả đối với ruộng trồng cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả… Việc dùng thuốc hóa học trừ cỏ đã thực sự làm giảm số công lao động làm
cỏ để chuyển sang một số khâu thâm canh khác
Trang 25- Thuốc hậu nảy mầm: thuốc này có tác động diệt cỏ sau khi cây cỏ đã mọc từ 1,5 đến 5 lá, tương đương với 10 – 20 ngày sau khi gieo sạ của cây lúa (Sindax 10WP, Whip’S 7,5EW)
Ngoài ra, còn có một số loại thuốc cỏ hậu nảy mầm sớm thường được áp dụng từ 4 –
10 ngày sau khi gieo sạ lúa (Saviour 10WP)
2.2.4 Phổ tác dụng của thuốc trừ cỏ
Phổ tác dụng của thuốc trừ cỏ là số lượng loài cỏ mà thuốc cỏ có thể tiêu diệt được,
có thể biểu hiện bằng nhóm cỏ (họ hòa bản, họ chác lác và lá rộng)
- Thuốc trừ cỏ phổ hẹp: thuốc chỉ gây hại cho một số loài cỏ hoặc vài nhóm cỏ ví
dụ 2,4 D trừ được cỏ lá rộng và cỏ họ chác lác, Sofit 300ND trừ được nhóm cỏ họ hòa bản và cỏ họ chác lác
- Thuốc trừ cỏ phổ rộng: thuốc gây hại cả ba nhóm cỏ chính trên ruộng lúa như: Butanil 55EC, trừ được cỏ lồng vực, đuôi phụng, cỏ chác, cỏ lác, cỏ mồm, rau mác bao,
cỏ xà bông, rau mương
2.2.5 Những dạng thuốc trừ cỏ thường gặp
Dạng bột thấm nước (BTN, WP): Londax 10WP
Dạng nhũ dầu (ND, EC): Meco 60 ND, Clincher 10EC
Dạng dung dịch tan trong nước (DD, SL): Anco 720DD
Dạng huyền phù trong dầu (OD): Clipper 25OD
Dạng huyền phù (SC, HP): Facet 25 SC, Nominee 10SC
Dạng hạt phân tán trong nước (WDG, WG): Sunrice 15WG
Dạng dịch tan trong nước đậm đặc (WSC): Spark 16WSC
Thể sữa trong nước (EW): Whip’S 7,5EW
2.2.6 Cơ chế tác động của thuốc trừ cỏ
Sau khi vào trong cây cỏ, thuốc có thể tác động theo nhiều cách để diệt cỏ Đối với các thuốc dùng trừ cỏ cho ruộng lúa, tới nay đã nghiên cứu phát hiện một số cách tác động chính sau:
Trang 26- Kích thích sự phát triển quá mức của tế bào, làm biến đổi các phản ứng sinh hóa trong cây cỏ, gây ra hiện tượng biến dạng cây và hủy diệt các điểm sinh trưởng, cây cỏ sẽ chết Điển hình cho cơ chế tác động này là nhóm thuốc Phenoxy như 2,4 D
- Ức chế quá trình tổng hợp chất diệp lục: chất diệp lục tạo nên màu xanh của lá cây,
là nơi hấp thụ ánh sáng mặt trời để tạo năng lượng cho các phản ứng tổng hợp vật chất trong cây Do đó không có chất diệp lục cây cỏ sẽ chết Các thuốc trừ cỏ lúa có tác dụng
ức chế sự tổng hợp chất diệp lục trong cây cỏ điển hình là chất Oxadiazon (trong thuốc trừ cỏ Ronstar)
- Ức chế sự tổng hợp chất Lipid: Lipid cùng với Protid và Glucid là ba thành phần
cơ bản trong tế bào của cây Không có Lipid sẽ không tạo thành tế bào, cây cỏ sẽ chết Thuốc trừ cỏ lúa điển hình tác động theo cơ chế này là các chất Butachlor (có trong nhiều loại thuốc như Butoxim, Echo, Michelle…), Fenoxaprop (trong thuốc Whip-S) và Quinclorac (trong thuốc Facet)
- Ức chế sự tổng hợp Aminoacid: các acid amin là thành phần cấu tạo thành chất Protid, trong đó có một số acid amin không thể thiếu trong cây hoặc không thể có chất nào thay thế được, như Valin Thuốc trừ cỏ lúa tác động theo cơ chế này điển hình là chất Pyrazosulfuron (trong thuốc Sirius, Star)
Ngoài ra, có một số loại thuốc trừ cỏ khác tác động bằng ức chế quá trình quang hợp,
ức chế tổng hợp vitamin và nhiều cơ chế khác đang được nghiên cứu
2.2.7 Con đường xâm nhập của thuốc trừ cỏ vào cỏ dại
Hầu hết các thuốc trừ cỏ cho lúa đều có thể xâm nhập vào cây cỏ qua rễ, qua mầm
và qua lá
Đối với thuốc tiền nảy mầm được phun lên ruộng khi hạt cỏ chưa nảy mầm, thuốc xâm nhập chủ yếu qua rễ hoặc qua mầm khi hạt cỏ nảy mầm tiếp xúc với lớp thuốc trên mặt đất
Các thuốc hậu nảy mầm phun thuốc khi hạt cỏ đã mọc thành cây, có lá, thì thuốc xâm nhập chủ yếu qua lá, một số thuốc cũng được rễ hút vào, thuốc có thể thấm trực tiếp qua lớp sáp của lá vào bên trong gây hại cây cỏ
Trang 272.2.8 Ưu nhược điểm của biện pháp diệt cỏ bằng hóa chất
2.2.8.1 Ưu điểm
- Áp dụng được vào nhiều thời điểm khác nhau
- Diệt sớm không để cỏ tấn công ngay từ giai đoạn đầu
- Diệt được cả cỏ có hình dạng giống cây trồng, rất khó phân biệt bằng biện pháp nhổ bằng tay
- Không nhất thiết là ruộng gieo theo hàng
- Thời gian diệt cỏ đa niên kéo dài, do thuốc lưu dẫn đến tận rễ và diệt tận gốc
- Diệt tốt các loài cỏ không nhổ bằng tay được
- Hạn chế xói mòn do không phải làm đất
- Thuốc diệt cỏ ngay tại ruộng không cho phép chúng lan truyền
- Không cực nhọc vất vả như các biện pháp khác
- Có tính chuyên biệt nên ít ảnh hưởng đến cây trồng nếu dùng đúng cách
Ít tốn công lao động, sử dụng nhanh chóng trên diện rộng đạt kết quả nhanh
2.2.8.2 Nhược điểm
- Không có dấu hiệu nhắc nhở ngay nông dân khi áp dụng sai, chỉ phát hiện thiệt hại sau đó một thời gian
- Có thể gây thiệt hại cho cây trồng lân cận
- Đòi hỏi phải thành thạo trong việc sử dụng thuốc
- Cần phải có dụng cụ chuyên dùng
- Có thể tạo ra tính kháng thuốc ở cỏ dại
- Ảnh hưởng đến sức khỏe người và vật nuôi
2.2.9 Thuốc thí nhiệm
Penoxsulam (đang trong thời gian khảo nghiệm chưa có mặt trên thị trường)
Hoạt chất: Penoxsulam 25 g a.i/l
Pendimethalin (đang trong thời gian khảo nghiệm chưa có mặt trên thị trường) Hoạt chất: Pendimethalin 330 g a.i/l
Trang 28 Butachlor 60EC
Hoạt chất: Butachlor
Tên hóa học: N-(butoxymethyl)-2-chloro-2’,6’-diethyl-acetanilide
Tính chất: thuốc kỹ thuật ở thể lỏng Tan ít trong nước, tan trong các dung môi hữu
Sử dụng: dùng trừ cỏ cho ruộng lúa sạ và lúa cấy
Chế phẩm nhũ dầu 60% hoạt chất dùng liều lượng 0,8 – 1,2 l/ha
Phun thuốc trước khi sạ, cấy 2 – 3 ngày (làm đất xong), hoặc 3 – 7 ngày sau khi sạ hoặc cấy
Sofit 300EC
Hoạt chất: Pretilachlor 300g/l + chất an toàn Fenclorim 100g/l
Tên hóa học: 2-Chlo-2’,6’-diethyl-N-(2-propoxy-ethyl) acetanilide
Tính chất:
- Pretilachlor: thuốc kỹ thuật ở thể lỏng, không màu Tan ít trong nước, tan trong benzene, dichloromethane, hexane, methanol
- Fenclorim: là chất an toàn cho lúa Được rễ mầm lúa hút vào có tác dụng hạn chế
sự xâm nhập và ảnh hưởng của Pretilachlor đối với mầm lúa
Đặc tính: nhóm độc III, LD50 qua miệng 6099 mg/kg, LD50 qua da 3100 mg/kg Tương đối độc với cá và ong
Công dụng: thuốc trừ cỏ nội hấp, chọn lọc, trừ được nhiều loại cỏ hòa bản, cỏ năn, lác và lá rộng
Sử dụng: trừ cỏ cho ruộng lúa sạ và cấy
Dùng với liều lượng 1,0 – 1,2 l/ha
Phun thuốc sau khi sạ 1 – 4 ngày Cũng có thể phun trước khi sạ cấy 1 – 3 ngày
Trang 29Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm đã được tiến hành trong vụ Hè Thu 2011, từ ngày 30/03/2011 đến ngày 30/06/2011
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được bố trí tại xã Long Định, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
Ruộng thí nghiệm tương đối bằng phẳng Các điều kiện trồng trọt (loại đất, phân bón, mật độ sạ, chiều cao mực nước) phải đồng đều trên mọi ô thí nghiệm và phù hợp với điều kiện canh tác của địa phương
3.1.2.1 Đặc điểm khí hậu thời tiết khu vực thí nghiệm
Khí hậu Tiền Giang mang tính chất nội chí tuyến - cận xích đạo và khí hậu nhiệt đới gió mùa nên nhiệt độ bình quân cao và nóng quanh năm Nhiệt độ bình quân trong năm là
27 - 27,9oC tổng tích ôn cả năm 10.183oC/ năm
Có 2 mùa: Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng
Trang 30Thí nghiệm được bố trí vào vụ Hè Thu năm 2011, số liệu khí hậu thời tiết thu thập
được từ đài khí tượng khu vực tỉnh Tiền Giang và được trình bày ở bảng 3.1
Bảng 3.1: Diễn biến khí hậu thời tiết qua các tháng thí nghiệm
(mm)
Tốc độ gió (m/s) Trung
(Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực nam bộ, 2011)
3.1.2.2 Đặc điểm đất đai địa hình khu vực thí nghiệm
Thí nghiệm được thực hiện trên chân ruộng sản xuất 3 vụ/năm Đất thuộc dạng đất
sét, nhiễm phèn nhẹ (pH khoảng 5,5)
3.2 Vật liệu thí nghiệm
Giống lúa thí nghiệm: IR 50404
IR 50404 được chọn lọc từ tập đoàn giống nhập nội của IRRI Thời gian sinh trưởng:
85 – 90 ngày Chiều cao cây: 85 – 90 cm Canh tác được cả 3 vụ trong năm
Khung sắt dùng điều tra cỏ có kích thước (0,5 m x 0,5 m)
Cân điện tử dùng để cân trọng lượng cỏ và trọng lượng 1000 hạt lúa
Phân bón NPK (16 – 16 – 8), DAP (18 – 46 – 0), Ure
Thuốc diệt cỏ: Penoxsulam, Pendimethalin, Butachlor 60EC, Sofit 300EC
Trang 313.3 Phương pháp khảo nghiệm
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm và các nghiệm thức thí nghiệm
Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) diện hẹp, bốn lần lặp lại, kích thước ô: 20 m2 (4 m x 5 m), gồm 15 nghiệm thức Giữa các ô thí nghiệm trong cùng 1 lần lặp lại có bờ cao 20 cm, khoảng cách giữa 2 lần lặp lại là 0,5 m và tạo thành mương nước để tưới tiêu
Bảng 3.2 Các nghiệm thức tham gia thí nghiệm
Tất cả các nghiệm thức phun thuốc 1 lần vào thời điểm 3 ngày sau sạ
Trang 33Hình 3.1: Toàn cảnh khu thí nghiệm sau khi đắp bờ
Hình 3.2: Toàn cảnh khu thí nghiệm trước xử lý thuốc
Trang 34• Lần 1 (5 ngày sau khi sạ): 5 kg Ure + 15 kg DAP (18 – 16 – 0)
• Lần 2 (25 ngày sau khi sạ): 5kg Ure + 15 kg NPK (16 – 16 – 8)
• Lần 3 (35 ngày sau khi sạ): 8 kg Ure + 8 kg NPK (16 – 16 – 8)
Công thức bón phân: 14,7 kg N + 10,6 kg P2O5 + 1,8 kg K2O
Chế độ bơm nước thực hiện theo quy trình khảo nghiệm đề ra, ruộng khi xử lý thuốc mực nước trong ruộng đủ ẩm không ô nào bị đọng trũng, sau khi phun xịt 24 giờ cho nước vào ruộng giữ mực nước liên tục và theo sự phát triển của cây lúa
Các chế độ chăm sóc như bón phân, phun xịt thuốc trừ sâu áp dụng theo nông dân
Hình 3.3: Phun thuốc bằng bình phun đeo vai
Trang 353.3.3 Xác định thành phần, mật số các loài cỏ dại trên ruộng thí nghiệm
Dùng khung sắt có kích thước 50 cm x 50 cm đặt ngẫu nhiên trên 4 điểm của mỗi ô đối chứng, đếm mật số từng loài cỏ có trong khung để xác định thành phần và mật số cỏ dại trên ruộng thí nghiệm Chỉ tiêu này thực hiện lúc cây lúa được 45 ngày sau phun
Một số quy cách đếm cỏ (Theo Cục BVTV):
Cỏ lồng vực (Echinochloa sp.) đếm chồi, mỗi nhánh là một cây
Cỏ đuôi phụng (Leptochloa chinensis) đếm chồi, mỗi nhánh là một cây
Rau mương (Ludwigia octovalvis) đếm gốc, mỗi gốc là một cây
Cỏ chác (Fimbristylis miliacea) đếm gốc, mỗi gốc là một cây
Cỏ lác (Cyperus sp.) đếm gốc, mỗi gốc là một cây
Cách lấy mẫu cân trọng lượng:
Mỗi nghiệm thức cân trọng lượng tươi 4 khung (0,5x0,5 m) (tại điểm điều tra mật số cỏ) ở giai đoạn 45 ngày sau phun Cắt thân sát mặt đất, rửa sạch, đếm và phân loại từng loại cỏ sau đó đem cân trọng lượng bằng cân điện tử
3.3.4 Xác định hiệu lực của thuốc diệt cỏ trên ruộng lúa sạ
Hiệu lực diệt cỏ của thuốc trên ruộng lúa sạ được xác định dựa vào hai chỉ tiêu: mật
số cỏ và trọng lượng cỏ tươi của từng loài cỏ dại
- Phương pháp theo dõi chỉ tiêu mật số cỏ: dùng khung sắt có kích thước 0,25 m2 đặt
cố định trên 4 điểm cho từng ô cơ sở Đếm mật số của từng loài cỏ dại có trong khung ở các thời điểm 7, 14, 28 và 42 ngày sau phun thuốc
- Phương pháp theo dõi lấy chỉ tiêu về trọng lượng cỏ: sau khi lấy chỉ tiêu về mật số
cỏ, tiến hành lấy chỉ tiêu về trọng lượng cỏ trên các ô thí nghiệm vào 45 ngày sau phun thuốc
Trên mỗi ô cơ sở, cắt từng loài cỏ dại có trong khung (4 khung/ô cơ sở đã có sẵn khi lấy chỉ tiêu về mật số cỏ) mang về cân từng loài cỏ, tính ra (g/m2)
Hiệu lực của thuốc được tính theo công thức sau:
HLT (%) = [(1 – A/B)] x 100
Trong đó:
Trang 36A: mật số cỏ (cây/m2) hoặc trọng lượng cỏ tươi ở ô xử lý thuốc (g/m2)
B: mật số cỏ (cây/m2) hoặc trọng lượng cỏ tươi ở ô đối chứng (g/m2)
3.3.5 Ảnh hưởng của các thuốc thí nghiệm đến sinh trưởng và năng suất lúa
3.3.5.1 Phương pháp đánh giá độc tính của thuốc trừ cỏ đối với lúa
Đánh giá độc tính của thuốc đối với cây lúa: độc tính của thuốc với cây lúa được quan sát vào các thời điểm 1, 3, 5, 7, 10, 14 và 28 ngày sau khi phun thuốc Nếu có hiện tượng ngộ độc xảy ra thì cần quan sát nhiều lần cho đến khi cây phục hồi hoặc chết Các triệu chứng ngộ độc (nếu có) cần được mô tả rõ ràng Những chỉ tiêu nào có thể đo đếm như chiều cao cây, tỷ lệ cây bị ngộ độc cần được biểu thị bằng số liệu cụ thể Phương pháp điều tra các chỉ tiêu này dựa theo phương pháp điều tra sinh trưởng của cây trồng Những triệu chứng ngộ độc có thể đánh giá bằng mắt như lá biến vàng, cháy, biến dạng…thì ước lượng độ độc cho toàn ô dựa theo thang đánh giá
Bảng 3.3 Bảng phân cấp mức độ độc của thuốc đối với cây lúa
Cấp Triệu chứng
1 Cây khỏe mạnh không có triệu chứng ngộ độc
2 Triệu chứng ngộ độc rất nhẹ, cây hơi cằn
3 Triệu chứng ngộ độc nhẹ, nhưng dễ dàng nhận biết
4 Triệu chứng ngộ độc nặng hơn (ví dụ: mất diệp lục) nhưng có thể chưa ảnh
hưởng đến năng suất
5 Cây biến màu, cháy lá nặng hoặc còi cọc Có thể ảnh hưởng đến năng suất
6, 7, 8, 9 Thiệt hại năng suất, cây chết hoàn toàn
(Nguồn: Cục BVTV)
* Đếm số nhánh/m 2
Trên mỗi ô thí nghiệm điều tra 4 điểm, mỗi điểm dùng khung sắt có kích thước 0,25
m2 đặt khung vào điểm điều tra, đếm tất cả số nhánh hữu hiệu và vô hiệu có trong khung, tính ra (nhánh/m2)
Trang 373.3.5.2 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa
Được tính theo công thức sau:
Năng suất lý thuyết (NSLT):
NSLT (tấn/ha) = (số bông/m2 x số hạt chắc/bông x P1000 hạt) / 1000 x 100
- Số bông/m2:
Quan sát vào giai đoạn lúa thu hoạch
Cách quan sát: mỗi ô thí nghiệm quan sát 4 điểm cố định, mỗi điểm 0,25 m2 và quy
- Số liệu về hiệu lực (%) được chuyển sang arcsin (x)1/2 trước khi xử lý thống kê
- Các số liệu được phân tích ANOVA - 2 và trắc nghiệm phân hạng bằng phần mềm MSTATC Các biểu đồ được thiết kế bằng phần mềm Microsoft Excel
Trang 38Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thành phần, mật số các loài cỏ dại trên ruộng thí nghiệm
Bảng 4.1 Thành phần và mức độ phổ biến của các loại cỏ dại trên ruộng thí nghiệm
(cây/m2)
Tỷ lệ (%)
Mức độ phổ biến
Ghi chú: + Ít phổ biến, ++ phổ biến
Qua bảng 4.1 cho thấy
Trong khu vực ruộng thí nghiệm hiện diện 5 loại cỏ, các loài cỏ phân bố không đều Trong đó cỏ đuôi phụng và cỏ chác hiện diện ở mức độ phổ biến, còn các loại khác như
cỏ lồng vực, cỏ cháo và rau mương hiện diện ở mức độ ít phổ biến
Mật số trung bình các loại cỏ thì cỏ chác có mật số cao nhất (1.161,8 cây/m2) chiếm
tỷ lệ 69,8% trong tổng số các loài cỏ, tiếp đến là cỏ đuôi phụng với mật số (407,5 cây/m2) chiếm tỷ lệ 24,5%, cỏ lồng vực với mật số (43,5 cây/m2) chiếm tỷ lệ 2,6%, rau mương với
Trang 39mật số (28,8 cây/m2) chiếm tỷ lệ 1,7%, thấp nhất là cỏ cháo (23,3 cây/m2) chiếm tỷ lệ 1,4% trong tổng số các loài cỏ trong ruộng thí nghiệm
Cỏ lồng vực (Echinochloa crus-galli)
Cỏ nhất niên cạnh tranh rất mạnh, cao từ 1 – 2 m, thân cứng, chắc, mọc thành từng bụi, đứng thẳng , với nhiều dạng hình Lá hẹp hình ngọn giáo dài tới 40 cm, rộng 5 – 15
mm, không có lá thìa, bông màu xanh tới đỏ tía ở ngọn, từ 5 – 40 gié, hạt hình elip, có râu
3 – 4 mm hoặc không có râu, trổ hoa quanh năm, sinh sản bằng hạt Thích hợp nơi đất ẩm nhiều ánh sáng, giàu đạm, thường mọc trong ruộng lúa, mương nước và đầm lầy Được coi là một trong những loài cỏ nguy hại nhất cho lúa và một số cây trồng cạn khác trên toàn cầu
Hình 4.1: Cỏ lồng vực (Echinochloa crus-galli) trên ruộng thí nghiệm
Trang 40 Cỏ đuôi phụng (Leptochloa chinensis)
Cỏ nhất niên thân bụi, mọc khỏe, cao đến 1 m Thân thon, thẳng đứng hoặc nhô lên
từ cành gốc Lá thẳng và láng, dài 10 – 20 cm, dẹt, nhọn, mỏng, mặt trên nhám, lá thìa dài
1 – 2 mm Phát hoa có lông hình trứng hẹp, trục chính dài 10 – 40 cm, cành đơn, phân nhiều cành, dài 5 – 15 cm Gié phụ không có cuống phụ, mỗi gié phụ mang 3 – 7 hoa màu xanh nhạt hoặc hơi đỏ Sinh sản bằng hạt hoặc các đoạn đứt của thân rễ Mọc tốt ở vùng đất thấp ẩm ướt, tuy nhiên không tồn tại nơi đất ngập nước liên tục Hạt nảy mầm dễ dàng
ở các lõm đất cao trong ruộng lúa nước Thường tìm gặp ở ruộng lúa sạ thẳng, đôi khi trên đất cây trồng cạn
Hình 4.2: Cỏ đuôi phụng (Leptochloa chinensis) trên ruộng thí nghiệm