HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG CHÈ PH1 TẠI CÔNG TY CHÈ BIỂN HỒ HUYỆN CHƯPĂH, TỈNH GIA LAI Sinh viên thực hiện:
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG CHÈ PH1 TẠI CÔNG TY CHÈ BIỂN HỒ
HUYỆN CHƯPĂH, TỈNH GIA LAI
Sinh viên thực hiện: HOÀNG ANH TÍN
Ngành: NÔNG HỌC Niên khoá: 2006 – 2010
Pleiku, Tháng 10– 2010
Trang 2ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG
VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG CHÈ PH1 TẠI CÔNG TY CHÈ BIỂN HỒ
HUYỆN CHƯPĂH, TỈNH GIA LAI
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành nhờ sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô trường ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, Ban lãnh đạo Công ty Chè Biển Hồ, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Ban Giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh.
Ban Chủ nhiệm khoa Nông Học.
Phân hiệu trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí mInh tại Gia Lai.
Toàn thể các cán bộ công nhân viên Công ty Chè Biển Hồ và tất cả các thầy, cô đã tận tâm giảng dạy cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường, đặc biệt là các thầy, cô trong khoa Nông Học.
Tôi xin bày tỏ lòng thành kính và biết ơn đến thầy giáo: Lê Văn Dũ – Bộ môn NHTN
và bác Phan Đình Huynh, giám đốc Công ty Chè Biển Hồ, cùng các Cô, Chú, anh chị trong Phòng Kỹ thuật đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này.
Xin cảm ơn gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận này.
Pleiku, ngày 15 tháng 3 năm 2011
Người thực hiện Sinh viên
Hoàng Anh Tín
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu: “Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng
và năng suất giống chè PH1 tai công ty chè Biển Hồ, huyện Chưpăh, tỉnh Gia Lai” được tiến hành từ tháng 10/2010 đến tháng 03/2011.
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên một yếu tố gồm các loại phân bón lá: Bio-8, Đầu Trâu 005, K-H, Arrow, 3 lần lặp lại Diện tích thí nghiệm
là 300m2 Các loại phân bón lá được phun 3 lần mỗi lần cách nhau 1 tháng, phun theo chiều gió và đều mặt tán Trong thời gian 3 tháng, kết quả thu được:
Các loại phân bón lá dùng trong thí nghiệm đều cho các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất chè cao hơn so với đối chứng Trong đó phân bón lá Đầu Trâu là tốt nhất:
Mức tăng chiều cao cây cao nhất, với mức tăng chiều cao cây là 16,1cm tăng 1,7cm so với đối chứng.
Chiều dài búp P+2 và P+3 là cao nhất với số lượng búp P+2 là 5,3 búp/khung tăng 2,8 búp/khung so với đối chứng và số lượng búp P+3 là 6,1 búp/khung tăng 3,4 búp/khung so với đối chứng.
Trọng lượng búp P+2 và P+3 là cao nhất với trọng lượng búp P+2 là 1,3g tăng 0,4g so với nghiệm thức đối chứng Trọng lượng búp P+3 là 1,4g tăng 0,4g so với nghiệm thức đối chứng.
Số lượng búp P+2 và P+3 là cao nhất với số lượng búp P+2 là 5,3 búp/khung tăng 2,8 búp/khung so với đối chứng và với số lượng búp P+3 là 6,1 búp/khung tăng 3,4 búp/khung so với đối chứng.
Năng suất thực thu cao nhất, với năng suất thu được cao nhất là 5,6364 tấn/ha, tăng 2,1493 tấn/ha so với đối chứng.
Lợi nhuận thu được cao nhất, lợi nhuận thu được theo tính toán trên 1ha khoảng 21.958.880 đồng.
Trang 5Mục lục
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu 2
1.3 Yêu cầu 2
1.4 Giới hạn 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Sơ lược về cây chè 3
2.1.1 Nguồn gốc 3
2.1.2 Phân loại 3
2.1.3 Đặc điểm thực vật học của cây chè 5
2.2 Yêu cầu điều kiện sinh thái đối với cây chè 5
2.2.1 Điều kiện khí hậu 6
2.2.2 Điều kiện đất đai 6
2.3 Vị trí cây chè trong nền nông nghiệp Việt Nam 6
2.4 Tình hình sản xuất chè 7
2.4.1 Tình hình sản xuất chè trên thế giới 7
2.4.2 Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam 9
2.4.3 Tình hình sản xuất chè tại khu vực nghiên cứu 10
2.4.4 Những thuận lợi và khó khăn hiện tại của công ty chè Biển Hồ 11
2.4.5 Hướng phát triển của công ty trong thời gian tới 12
2.5 Kỹ thuật canh tác cây chè 12
2.5.1 Về phân bón 12
CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1 Địa điểm và thời gian thí nghiệm 16
Trang 63.1.1 Địa điểm thí nghiệm: 16
3.1.2 Thời gian thí nghiệm .18
3.2 Vật liệu và dụng cụ 18
3.2.1 Vật liệu 18
3.2.2 Dụng cụ: Bình xịt, cân, thước, bảng, khung kẽm, dây ni lông, khung đo 20
3.3 Phương pháp thí nghiệm 20
3.3.1 Bố trí thí nghiệm 20
3.3.2 Phương pháp tiến hành 21
3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 22
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 22
Chương 4.Kết quả và thảo luận Error! Bookmark not defined. 4.1 Tình hình thời tiết trong thời gian thực nghiệm 23
4.2 Ảnh hưởng của phân bón lá đến các chỉ tiêu sinh trưởng của giống chè PH1 23
4.2.1 Ảnh hưởng của phân bón lá đến tăng trưởng chiều cao cây 23
4.2.2 Ảnh hưởng của phân bón lá đến tăng trưởng đường kính tán 24
4.2.3 Ảnh hưởng của phân bón lá đến số lượng búp (P+2) 25
4.2.4 Ảnh hưởng của phân bón lá đến số lượng búp (P+3) 26
4.2.6 Ảnh hưởng của phân bón lá đến chiều dài búp chè (P+2) 28
4.2.7 Ảnh hưởng của phân bón lá đến chiều dài búp chè (P+3) 29
4.2.7 Ảnh hưởng của phân bón lá đến trọng lượng búp chè (P+2) 31
4.2.7 Ảnh hưởng của phân bón lá đến trọng lượng búp chè (P+3) 32
4.2.8 Ảnh hưởng của phân bón lá đến Năng suất thực thu của chè 33
4.2.9 Ảnh hưởng của phân bón lá đến Hàm lượng nước của búp chè 34
4.3 Lợi nhuận thu được khi sử dụng phân bón lá 34
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35
Trang 75.1 Kết luận 35
5.2 Đề nghị 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Phụ lục 1 Một số hình ảnh trong thí nghiệm 39
Phụ lục 2.Chi phí đầu tư và lãi suất 41
Phụ lục 3 Xử lý thống kê 42
Trang 8Danh sách bảng
Bảng 2.2 Năng suất chè của một số nước trên thế giới (Kg khô/ha) 7
Bảng 2.3 Sản lượng chè của một số nước trên thế giới (tấn) 8
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lượng chè của 10 tỉnh trồng chè lớn nhất 10
Bảng 2.5 Bón phân cho chè kinh doanh 14
Bảng 3.2 Kết quả phân tích đất tại vườn chè thí nghiệm 18
Bảng 4.1 Một số yếu tố thời tiết trong thời gian thực nghiệm 23
Bảng 4.2 Ảnh hưởng phân bón lá đến chiều cao cây (cm) 23
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến đường kính tán (cm) 24
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến số lượng búp (P+2) (búp/ khung 25 x 25cm) 25
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến số lượng búp (P+3) (búp/ khung 25 x 25cm) 27
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến số lượng búp mù (búp/ khung 25 x 25cm) 28
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến chiều dài của búp chè (P+2) Đơn vị tính : cm/búp 28
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến chiều dài của búp chè (P+3) Đơn vị tính : cm/búp 30
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến trọng lượng của búp chè P+2.Đơn vị tính : g/búp 31
Bảng 4.10 Trọng lượng của búp chè P+3 trên khung (25x25) Đơn vị tính : g 32
Bảng 4.11 Năng suất thực thu của chè trong mỗi đợt hái ở mỗi ô thí nghiệm (tấn/ha) 33 Bảng 4.12 Hàm lượng nước trong búp chè tươi (%) 34
Bảng 4.13 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón lá trên chè ( đồng/ha) 34
Trang 9Danh sách hình
Hình 1 Chè trước khi xử lý 39
Hình 2 Chè sau khi xử lý 39
Hình 3 Búp chè PH1 phun nước lã 40
Hình 4 Búp chè PH1 phun phân bón lá Bio-8 40
Hình 5 Búp chè PH1 phun phân bón lá Đầu Trâu 005 40
Hình 6 Búp chè PH1 phun phân bón lá K – H 40
Hình 7 Búp chè PH1 phun phân bón Arrow 40
Trang 11Nghề trồng chè đã phát triển khắp châu lục và ở Việt Nam chè là một cây trồng chính mang lại thu nhập cho người trồng chè và ngoại tệ cho đất nước Chè có giá trị rất lớn cả về mặt kinh tế lẫn giá trị sử dụng Giá trị đó chủ yếu được thu từ lá và búp chè Trong lá chè có chứa các hợp chất rất cần thiết cho cơ thể như: hợp chất tanin, ankaloic, cafein và một số Vitamin A, E, B2… Búp chè là nguyên liệu để chế biến ra các loại chè, vì vậy quan hệ trực tiếp đến năng suất và phẩm chất của chè.
Ở nước ta, nghề trồng và chế biến chè có từ rất lâu đời, cho đến nay vẫn được duy trì và phát triển Tuy nhiên, năng suất và chất lượng chè nước ta vẫn thấp so với một số nước trên thế giới Hiện nay nghề trồng chè nước ta đang mở rộng qui mô sản xuất Con người đã áp dụng được nhiều thành tựu khoa học kĩ thuật mới vào sản xuất Trong đó, việc sử dụng các loại phân bón lá cũng là một trong những biện pháp kĩ thuật mang lại hiệu quả cho năng suất và chất lượng chè Để tìm hiểu thêm vấn đề này
đề tài: “Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sự sinh trưởng và năng suất giống chè PH1 tại Công ty Chè Biển Hồ, huyện ChưPăh, Gia Lai” đã được thực hiện.
Trang 13Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược về cây chè
2.1.1 Nguồn gốc
Các công trình nghiên cứu và khảo sát trước đây cho rằng nguồn gốc cây chè là
ở vùng Cao Nguyên Vân Nam Trung Quốc, nơi có điều kiện khí hậu ẩm và ấm quanh năm Theo các tài liệu của Trung Quốc thì cách đây 4.000 năm, người Trung Quốc đã biết dùng chè làm dược liệu và sau đó mới dùng để uống Vùng biên giới Tây Bắc Việt Nam nằm trong vùng nguyên thủy của giống chè.
Hiện nay chè được phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên khác nhau, phân bố từ 30 vĩ độ Nam đến 45 vĩ độ Bắc, phân bố nhiều ở 30 nước trên thế giới Gần đây những thành tựu khoa học của các nhà chọn giống trên thế giới đã chọn tạo ra nhiều giống chè mới có khả năng thích ứng với các điều kiện khí hậu khác nhau, tạo ra nhiều triển vọng cho nghề trồng chè trên thế giới.
Trang 14Việc phân loại chè thường được dựa vào cơ quan dinh dưỡng, cơ quan sinh thực và đặc tính sinh hóa của chè Việc phân loại chè còn có nhiều tranh cãi, tuy nhiên phân loại của Cohen Stuart vào năm 1919 được chấp nhận nhiều nhất.
Theo Cohen Stuart thì chè được phân ra làm 4 chủng (hay thứ, variety) gồm:
– Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var microphylla, hoặc var.
Bohea): Cây dạng bụi thấp, phân cành nhiều, cao 1 – 2m, lá nhỏ màu xanh, vàng, tím, gợn sóng, dài 4 – 6cm Có 6 – 7 đôi gân lá không rõ, răng cưa nhỏ, không đều, chịu rét tốt ở nhiệt độ đến -15oC Búp nhỏ, hoa nhiều, năng suất thấp khoảng 4 – 5 tấn/ha/năm, phẩm chất bình thường Tuy nhiên, các dòng cao sản như Kim Tuyên, Ngọc Thúy có năng suất cao đến 15 tấn tươi/ha/năm Chè Trung Quốc lá nhỏ được trồng ở miền đông, đông nam Trung Quốc, Nhật Bản.
– Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var Macrophylla): Thân gỗ cao 5m,
lá dài 12 – 15cm, rộng 5 – 7cm, màu xanh, vàng nhạt, răng cưa trên lá không đều Có
8 – 9 đôi gân lá, chóp lá nhọn, búp trung bình 0,5 – 0,6g Năng suất cao đến 6 – 8 tấn tươi/ha/năm, phẩm chất tốt Các giống phổ biến là biến chủng Kỳ Môn ở An Huy, ít chịu rét, ở Việt Nam gọi là chè trung du trồng phổ biến bàng hạt ở miền Bắc như: Vĩnh Phú, Bắc Thái dùng để ché biến chè xanh, chè đen và một ít ở cao nguyên Lâm Đồng.
– Chè Shan (Camellia sinensis var Shane): Thân gỗ cao từ 6 – 10m, lá thon, to
và dài 15 – 18cm màu xanh nhạt, răng cưa đều, to hoặc nhỏ, chóp lá thon Có khoảng
10 – 12 đôi gân lá rõ, sâu Tôm chè có nhiều lông tơ trắng mịn gọi là chè bạch mao Thích nghi ở độ cao 500m, trồng nhiều ở Vân Nam (Trung Quốc), Miến Điện và Việt Nam Chè shan được trồng nhiều ở miền núi phía Bắc như Shan Mộc Châu, Hà Giang, Trấn Ninh và ở Lâm Đồng Năng suất búp đại trà đạt 10 tấn/ha, năng suất cao đến 25 tấn tươi/ha/năm.
– Chè Ấn Độ (Camellia sinensis var Assamica): Thân gỗ cao 17m, cành ít, lá
xanh đậm, ngắn, chiều dài lá 14 – 17cm, dầy, phiến lá gợn sóng nổi lên Có từ 12 – 15 đôi gân lá, rõ, sâu, mặt phiến lá lồi lõm Cho nhiều búp, năng suất đến 25 tấn tươi/ha/năm, hàm lượng tanin cao đến 35% chất khô Trồng nhiều ở Ấn Độ, Trung Quốc, một ít ở Việt Nam.
Trang 152.1.3 Đặc điểm thực vật học của cây chè
- Thân: cây chè sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên là cây đơn trục, trên đó phân ra các cấp cành.
- Cành: cành chè do mầm dinh dưỡng phát triển thành, trên cành chia ra nhiều đốt Cành chè được phân ra nhiều cấp.
- Lá chè: lá chè mọc cách trên cành, mỗi đốt có 1 lá, hình dạng và kích thước lá chè thay đổi tùy giống Lá chè có gân rất rõ, rìa lá có răng cưa Trên một cành chè có các loại lá: lá vảy ốc, lá cá, lá thật.
- Hoa, quả, hạt chè: cây chè sau khi sinh trưởng 2 – 3 tuổi (cây thực sinh) bắt đầu ra hoa, mọc từ chồi sinh thực ở nách lá Hoa lưỡng tính, tràng hoa có 5 – 9 cánh màu trắng Bộ nhị đực có 100 – 400 cái Bao phấn có 2 nửa gồm 4 túi phấn Hạt phấn hình tam giác màu vàng nhạt đến vàng nâu Bầu nhụy cái chẻ 3, khi hoa nở lông tuyến tiết ra chất nhờn trắng như tuyến mật Ở gốc bầu có tuyến mật làm thành một vòng tròn gọi là đĩa Phương thức thụ phấn chủ yếu là thụ phấn khác hoa (thụ phấn chéo).
- Quả chè thuộc loại quả nang, có 1 – 4 hạt thường là 3 hạt, quả hình tròn, hình trứng, tam giác hay mỏng tùy theo số hạt Vỏ ngoài màu xanh, khi chín chuyển màu xanh thẫm hoặc nâu, khi chín vỏ nứt.
- Hạt chè có vỏ sành bên ngoài màu xám nâu Vỏ sành cứng do 6 – 7 lớp thạch
tế bào tạo thành 1 lớp vỏ bọc kín, nhân chè gồm có 2 lá mầm và phôi chè Lá mầm phát triển to, nặng 75% trọng lượng hạt, có tác dụng dự trữ chất dinh dưỡng: 10% protein, 32% lipid, 31% glucid Phôi chè gồm mầm rễ, mầm thân và mầm ngọn.
- Mầm chè: cây chè có các loại mầm: mầm dinh dưỡng và mầm sinh thực Mầm dinh dưỡng phát triển thành cành và lá, mầm sinh thực phát triển thành nụ hoa quả Mầm dinh dưỡng bao gồm mầm đỉnh, mầm nách, mầm ngủ, mầm bất định.
- Búp chè có 2 loại: búp bình thường gồm 1 tôm + (2 – 3) lá non và búp mù không có tôm.
- Rễ chè: Bộ rễ là một bộ phận quan trọng của cây chè, rễ có sự liên quan mật thiết đến sự sinh trưởng Bộ rễ gồm: rễ cái, rễ nhánh, rễ phụ, rễ lông.
2.2 Yêu cầu điều kiện sinh thái đối với cây chè
Xét điều kiện sinh thái của cây chè là nghiên cứu các điều kiện sống thích hợp nhất đối với cây Nắm vững các điều kiện sinh thái cũng như khả năng thích ứng của
Trang 16cây với điều kiện tự nhiên để tác động các biện pháp kỹ thuật một cách hữu hiệu trong quá trình canh tác chè.
2.2.1 Điều kiện khí hậu
Nhiệt độ và ẩm độ là 2 yếu tố khí hậu ảnh hưởng lớn nhất đến cây chè Chè phát triển thuận lợi nhất trong điều kiện:
+ Nhiệt độ 15 – 25oC
+ Tổng nhiệt lượng/ năm khoảng 8.000oC
+ Lượng mưa hàng năm 1.500 – 2.000 mm
+ Độ ẩm không khí tương đối 80 – 85%
+ Độ ẩm đất 70 – 80% ẩm độ bảo hòa
2.2.2 Điều kiện đất đai
Độ chua: chè thích hợp ở độ pHKCl4,5 – 5,5 Độ pHKCldưới 3,5 cây còi cọc, lá xanh thẫm và có cây chết Độ pHKCl trên 7,5 cây ủ lá vàng Nhìn chung chè ưa đất chua nhưng cần nhiều Calcium, phân tích trong lá chè có 0,5% canxi, đứng thứ nhì sau kali ở dưới dạng tinh thể Oxalat canxi.
Độ dày tầng đất, thành phần cơ giới, chế độ nước: độ sâu tầng đất ít nhất là 80
cm, mực nước ngầm trên 1 m Về thành phần cơ giới chè ưa loại đất thịt pha cát và đất thịt nhẹ đến thịt nặng Chè là cây ưa nước nhưng chịu úng rất kém nên khi khảo sát chọn đất trồng chè cần chú ý khu vực thoát nước tốt trong mùa mưa.
2.3 Vị trí cây chè trong nền nông nghiệp Việt Nam
Chè là loại cây công nghiệp lâu năm có thời gian sinh trưởng dài trên 70 năm, chu kì khai thác kinh tế trên 40 năm Thời gian cho sản phẩm bắt đầu từ năm thứ 2 – 3,
và năng suất tăng dần từ năm thứ 10 và duy trì đến 40 năm hoặc cao hơn.
Chè có giá trị xuất khẩu cao, chủ yếu sang các nước châu Âu, Trung Đông nên nhu cầu sản xuất là rất cần thiết.
Chè là cây không tranh chấp đất với cây lương thực, chủ yếu chè được trồng trên vùng đồi núi, miền trung du, cao nguyên Nam Trung Bộ.
Cây chè cần lượng lớn lao động tham gia vào các công đoạn trồng, chăm sóc,
và đặc biệt là thu hái nên góp phần vào việc giải quyết vấn đề lao động cho người dân Việt Nam.
Trang 172.4 Tình hình sản xuất chè
2.4.1 Tình hình sản xuất chè trên thế giới
Chè được trồng khá phổ biến ở các nước trên thế giới như: Trung Quốc, Srilanka, Nhật Bản, Indonesia Ngoài ra còn một số nước khác như Gruzia, Malawi.
Chè được phát triển với tốc độ cao trên thế giới từ đầu thế kỷ 18 Diện tích chè thế giới 2.460.982 ha, Châu Á chiếm 86,7%, Châu Phi chiếm 8,04%, Trung Quốc là nước có diện tích chè lớn nhất thế giới: 1.134.600ha Sản lượng chè toàn thế giới 3.100.000 tấn khô (Châu Á chiếm 83,25% và Châu Phi chiếm 14,4%) Nước có sản lượng chè lớn nhất thế giới: 1.580.000 tấn Trên thế giới có 58 nước trồng chè ở khắp các châu: Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Đại Dương
Qua bảng 2.1 cho thấy, diện tích chè trên thế giới có sự gia tăng giữa các năm
2004 – 2007 nhưng lại giảm nhẹ vào năm 2008.
Bảng 2.1 Diện tích trồng chè của một số nước trên thế giới (ha)
Trung Quốc 989.262 1.058.564 1.117.040 1.175.732 1.215.174
Ấn Độ 520.000 521.000 555.611 567.020 474.000 Sri Lanka 212.720 212.720 212.720 212.720 212.720 Kenya 136.700 141.300 147.080 149.190 157.700 Việt Nam 120.800 122.500 122.900 126.200 129.300 Indonesia 116.200 142.847 111.055 110.524 106.948 Thổ Nhĩ kỳ 76.632 76.625 76.136 76.000 75.826
Argentina 36.670 36.335 38.000 40.000 40.000
Nhật Bản 49.100 48.700 48.500 48.200 48.200
Thế giới 2.601.131 2.716.475 2.763.062 2.847.323 2.806.443
(Nguồn: FAOSTAT Data, 2009)
Trong đó, nước có diện tích chè cao nhất là Trung Quốc, có sự gia tăng diện tích trồng chè giữa 2004 – 2008 Nước có diện tích chè thấp nhất là Nhật Bản đồng thời diện tích trồng chè có xu hướng giảm ở nước này.
Qua bảng 2.2 cho thấy: năng suất chè trên thế giới từ năm 2004 – 2008 có nhiều biến động, năng suất chè gia tăng từ 2004 – 2005 nhưng có xu hướng giảm nhẹ vào
Trang 18năm 2006 Sau đó, năng suất chè tiếp tục gia tăng Nhưng nhìn chung từ năm 2004 –
2008 năng suất chè của thế giới tăng từ 1.310,6 đến 1.687,5 kg khô/ha Vào năm 2008, năng suất chè của nước Thổ Nhĩ Kỳ cao nhất (14.510,2 kg khô/ha), thấp nhất là năng suất của Trung Quốc (1.034,7 kg khô/ha).
Bảng 2.2 Năng suất chè của một số nước trên thế giới (Kg khô/ha)
Thế giới 1.310,6 1.326,4 1.320,6 1.370,7 1.687,5
(Nguồn: FAO STAT Data, 2009)
Bảng 2.3 Sản lượng chè của một số nước trên thế giới (tấn).
Argentina 70.389 67.871 72.129 76.000 76.000 Trung Quốc 855.422 953.660 1.047.345 1.183.002 1.257.384
Ấn Độ 878.000 893.000 928.000 949.220 805.180 Sri Lanka 308.090 317.200 310.800 305.220 318.470 Kenya 324.600 328.500 310.580 369.600 345.800 Việt Nam 119.500 132.525 151.000 164.000 174.900 Indonesia 171.200 177.700 146.858 150.224 150.851 Thổ Nhĩ Kỳ 201.663 217.540 201.866 206.160 1.100.257 Nhật Bản 100.700 100.000 91.800 94.100 94.100 Thế giới 3.409.055 3.603.197 3.649.170 3.902.881 4.735.961
Trang 19Qua bảng 2.3 cho thấy: Vào năm 2008, Trung Quốc có sản lượng chè cao nhất (1.257.384 tấn), thấp nhất là Nhật Bản có sản lượng (94.100 tấn) Tuy nhiên, sản lượng chè của thế giới từ năm 2004 – 2008 có sự gia tăng giữa các năm.
2.4.2 Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam
Cây chè được trồng khá lâu tại Việt Nam, một số đồn điền đầu tiên thành lập từ năm 1890 tại Tỉnh Cương - Phú Thọ với diện tích 60 ha, Quảng Nam, Quảng Ngãi 1.900 ha Từ 1925 đến 1940 diện tích chè mở ra tại cao nguyên trung bộ khoảng 2.750
ha Cho đến năm 2005, diện tích chè ở Việt Nam đạt 125.000 ha, sản lượng 577.000 tấn búp tươi Trước đây, sản phẩm chè của Việt Nam chỉ xuất khẩu sang ba nước thì nay đã có 110 nước biết đến sản phẩm này Kim ngạch xuất khẩu mỗi năm ngành chè thu về khoảng 130 - 140 triệu USD.
Theo quy hoạch, đến năm 2010 cả nước có 100.000 ha, nhưng đến nay diện tích trồng chè đã vượt quy hoạch, đạt 131000 ha Bởi vậy kiến nghị nâng quy hoạch lên 150.000 ha vào năm 2015 Nước ta đang phấn đấu vào năm 2015 xuất khẩu 200.000 tấn chè/năm, đạt kim ngạch 400 triệu USD/năm.
Chè phân bố ở 5 vùng trồng chính là:
Vùng Tây Bắc: chủ yếu là giống chè Shan và Trung Du.
Vùng Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn: chủ yếu trồng giống chè Trung Du, Assam
và Shan.
Vùng Trung Du - Bắc Bộ: chủ yếu là giống Trung Du, Assam và các dòng chè lai.
Vùng Bắc Trung Bộ: chủ yếu là giống Assam.
Vùng Tây Nguyên: chủ yếu là chè Shan, Trung Du, Assam.
Trang 20Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lượng chè của 10 tỉnh trồng chè lớn nhất
Sản lượng (tấn) Tổng DT kinh
(Nguồn: Viện KHKT nông lâm nghiệp MNPB và Hiệp hội chè Việt Nam, 2009)
Qua bảng 2.4 cho thấy: Lâm Đồng là tỉnh có diện tích trồng chè lớn nhất cả nước (24.762 ha) chiếm 23% so với cả nước và sản lượng cũng đạt cao nhất (129.888 tấn) Tuy nhiên, Sơn La mới là tỉnh có năng suất búp tươi cao nhất (11,68 tấn/ha) so với năng suất trung bình của cả nước là 5,49 tấn/ha.
2.4.3 Tình hình sản xuất chè tại khu vực nghiên cứu
Cây chè được đưa vào Gia Lai từ rất sớm Năm 1922 người pháp đã nghiên cứu điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng đất đai, rất phù hợp với cây chè nên đã mở hai đồn điền Chè Biển Hồ và đồn điền Chè Bàu Cạn Hiện nay có thêm nông trường chè Ayun với diện tích nhỏ Tổng diện tích cả ba vùng là 1.200 ha Nhưng cây chè cũng được xác định là một trong những cây công nghiệp mũi nhọn của tỉnh, tạo việc làm cho nhân dân lao động địa phương, tuy nhiên thu nhập từ vườn chè của người nông dân còn thấp, một trong những nguyên nhân đó là do vườn chè già, chè trồng bằng hạt, giống lẫn tạp, vườn chè không đồng đều, năng suất thấp.
Trang 21Những năm trở lại đây, Công ty chè Biển Hồ đã tiến hành khảo nghiệm 12 giống chè và chọn được giống chè PH1 trồng bằng phương pháp giâm cành, cho năng suất 15 – 16 tấn búp tươi/ha Hiện nay, diện tích chè PH1 trồng bằng phương pháp giâm cành chiếm khoảng 50% diện tích do đó đã đưa năng suất bình quân từ 2,5 tấn lên 5,6 tấn /ha Năm 2002, Công ty nhận 8 giống tiếp tục khảo nghiệm để chọn giống chè phù hợp cho năng suất và chất lượng cao, để đưa vào cơ cấu giống chè tốt phục vụ trồng mới bằng phương pháp giâm cành cho những năm tiếp theo.
2.4.4 Những thuận lợi và khó khăn hiện tại của công ty chè Biển Hồ
Thuận lợi
Công ty chè Biển Hồ có lịch sử hình thành khá lâu nên thừa hưởng được cơ sở
hạ tầng với đội ngũ lao động thành thạo tay nghề được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác mà không tốn chi phí đào tạo ban đầu.
Điền kiện tự nhiên vùng Tây Nguyên cũng có nhiều thuận lợi cho công ty phát triển cây chè.
Chính sách giá của xí nghiệp tương đối linh hoạt do đố tạo điều kiện thuận lợi cho xí nghiệp về cạnh tranh về giá.
Sản xuất của xí nghiệp đã có nhiều năm uy tín với khách hàng và có khả năng cung cấp nhiều sản phẩm cho thị trường.
Hệ thống tiếp nhận các thông tin còn yếu, thiếu cập nhật.
Công ty còn hạn chế trong việc sử dụng các hình thức bán hàng tín dụng, mua bán chiết khấu, chưa có ngân sách cũng như cán bộ chuyên trách về tiếp thị sản phẩm.
Trang 222.4.5 Hướng phát triển của công ty trong thời gian tới
Phát huy sáng kiến cải tạo công nghệ chế biến, năng cao chất lượng sản phẩm,
đa dạng hóa mặt hàng chè, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã bao bì phù hợp với nhu cầu thị trường.
Giảm mức tiêu hao nguyên vật liệu chống lãng phí nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng cường công tác tiêu thụ sản phẩm để luân chuyển vốn nhanh.
Sắp xếp lại bộ máy quản lý giảm số lao động đến tuổi nghỉ chế độ.
Góp phần xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường môi sinh, củng cố an ninh quốc phòng trật tự an toàn xã hội.
2.5 Kỹ thuật canh tác cây chè
2.5.1 Về phân bón
Bón phân cho chè trong thời kỳ sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, sản lượng búp và phẩm chất của chè Năng suất thu hoạch chính là lá với chu
kỳ 7 – 10 ngày 1 lứa hái, cần cung cấp liên tục cho cây.
Cây chè hút dinh dưỡng liên tục trong chu kỳ phát triển hàng năm và cả chu kỳ sống, cần có đủ chất dinh dưỡng thường xuyên.
Quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây chè xảy ra đồng thời và liên tục, vì vậy cần phải bón phân hợp lý để tạo nhiều búp, hạn chế ra hoa quả.
Đối tượng thu hoạch chè là búp và lá non, vì thế lượng dinh dưỡng trong đất mất đi nhiều, cần bổ sung kịp thời để có năng suất ổn định từng quý và cả năm.
Theo Lê Quang Hưng (2007), hàm lượng đạm chiếm nhiều nhất ở búp chè, lá non, bộ lá trên cây, do đó quyết định năng suất búp thu hoạch và chất lượng sinh hóa của búp chè sau khi chế biến Khi lượng đạm cung cấp thiếu hụt hoặc do mất đạm trong quá trình canh tác giữa các tháng do trực di, búp chè sinh trưởng kém, búp nhỏ,
tỉ lệ búp mù cao, giảm sản lượng Nhu cầu đạm tùy theo tuổi cây Bón đạm làm rút ngắn thời gian hình thành đợt búp, số lứa hái tăng lên, số ngày hái giảm xuống.
Sử dụng phân lân cho chè:
Bón lân làm tăng năng suất và phẩm chất chè khi bón đủ N, K Hiệu quả của lân kéo dài tới 20 – 25 năm Trên đất đỏ, lân thường dễ bị cố định, lượng lân dư sẽ tăng
Trang 23hiệu quả về sau so với lân bón ở những năm đầu Lân cần cho rễ cây chè phát triển, tạo cành gỗ mới và lượng lá hình thành nhiều hơn, giảm khô cành khi đốn.
Bón phân lân trên nền N, K làm tăng hàm lượng catechin trong búp chè, tăng phẩm chất Bón phân lân trên nền có cây phủ đất cùng với đạm, bón thêm 60 kg P2O5
có ảnh hưởng tăng hiệu suất sử dụng đạm là 2,81 kg chè thương phẩm/kg N Lá chè đủ dinh dưỡng khi hàm lượng lân trong lá là 0,33 – 0,39%.
Thiếu lân, lá chè có màu tối, cành mau khô, lượng lân áp dụng cho chè thông thường là 100 kg P2O5/ha Bón lân áp dụng 1 lần vào tháng 11 – 12.
Sử dụng phân Kali cho chè:
Trên những vườn chè trồng ở những vùng tro núi lửa, hàm lượng Kali cao, nhưng bón Kali dạng Calci ammonium nitrate với liều lượng cao trong nhiều năm, đất trở nên thiếu Kali do mất cân đối Ca/K, làm giảm hiệu quả bón K2O rõ rệt Hàm lượng Kali trong lá dưới 0,5% là thiếu Kali Trong đất, hàm lượng K cần đạt trên 15mg/100g
K2O Cây thiếu K làm lá cháy bìa lá, lá rụng sớm, giảm số chồi, vỏ cây trắng bạc.
Hàm lượng K tổng số trong lá 1 là1,65%, lá 2 là 1,45%, lá 3 là 0,46% Tùy theo năng suất búp, lượng Kali bón cho chè kinh doanh thay đổi tùy theo năng suất chè hàng năm Chè đạt năng suất 6 – 10 tấn búp tươi/ha/năm bón 60 – 80 kg K2O/ha Chè đạt năng suất 10 tấn búp tươi/ha bón 80 – 100 kg K2O/ha, loại đạt 20 tấn búp tươi/ha bón 300 kg K2O/ha.
Nguyên tố vi lượng:
Theo Võ Thái Dân (2009), vi lượng có ảnh hưởng quan trọng đến sinh trưởng, năng suất và phẩm chất chè do chúng là thành phần của men, diệp lục tố Phân vi lượng thường được sử dụng ở dạng phân bón lá.
Hàm lượng Ca thích hợp để duy trì hệ lá là 0,6 – 0,8% Cây chè sẽ bị suy thoái nếu trị số này vượt quá 0,8%, còn nếu hàm lượng Ca trong cây giảm xuống dưới 0,6% thì cây nhiễm độc kim loại nặng (đặc biệt là Mn) Ca, Fe và Zn đều được tích lũy ở rễ, khó di chuyển lên chồi Ở những đất có nhiều Mn nên chú ý bón vôi và đặc biệt cần lưu ý đến chất hữu cơ trong đất.
Các nghiên cứu khác cho thấy, năng suất sản lượng chè sẽ giảm nếu hàm lượng
Na trong các mô lá vượt quá 150 ppm.Ở những vùng đất có hàm lượng Na trao đổi >
60 ppm, thì nên tăng cường bón K để cây giảm bớt việc hấp thu Na.
Trang 24Al được tích lũy bị động trong chè Các phức chất tanin - Al làm cho nước chè đen có màu đỏ sáng.
Sử dụng phân hữu cơ cho chè:
Theo khuyến cáo thì cần bổ sung các loại phân như sau:
Bảng 2.5 Bón phân cho chè kinh doanh
Số lần bón/năm
Thời gian bón (tháng) Phương pháp bón Năng
-60 - 30 - 10% K2O
K2O 120 – 200 2 1 - 5 - 9 - Phân bón tan chậm
(Nguồn: Quản lý cây chè tổng hợp Nhà xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội – 2006)
Bón phân hữu cơ cho chè ngoài việc cung cấp dinh dưỡng, còn có tác dụng cải thiện tích chất vật lý, hóa học, sinh vật học và chế độ nước trong đất Nguồn hữu cơ gồm có phân chuồng, phân ủ từ rác thải, phân xanh và các nguyên liệu lá cành sau khi đốn chè.
Sản lượng gia tăng ổn định nhờ vào phân bón hữu cơ cho chè, với tác dụng là chất giữ dưỡng liệu ít trực di Trong thời kỳ kinh doanh, bón phân hữu cơ 3 năm 1 lần với liều lượng 25 tấn/ha, hoặc chia mỗi năm 1 lần.
Sử dụng phân bón lá cho chè:
Chè là cây công nghiệp dài ngày, sản phẩm thu hoạch lá, búp và lá non, sản lượng chè tập trung cho thu hoạch trong mùa mưa từ 75 – 85% sản lượng cả năm.
Trang 25Trong điều kiện thời tiết thuận lợi cây chè cho thu hoạch 5 – 7 ngày/1lứa, do vậy việc cung cấp dinh dưỡng kịp thời cho chè là rất cần thiết.
Khi bón phân qua lá cây sẽ hấp thu toàn bộ dinh dưỡng cung cấp, tiết kiệm được phân bón và hiệu quả nhanh.
Cây hấp thụ phân bón qua lá bởi lỗ khí khổng, vì vậy muốn bón phân qua lá có hiệu quả nhất là phun lên bề mặt lá có nhiều khí khổng nhất.
Như vậy, ngoài việc cung cấp đủ dinh dưỡng qua đất, việc bổ sung dinh dưỡng tức thì cho cây chè cần phải cung cấp dinh dưỡng qua lá Khi bón phân vào đất thì các chất dinh dưỡng hấp thu qua rễ khó di chuyển trong cây theo hướng từ thấp lên cao, trường hợp bón phân qua lá thì các chất dinh dưỡng dii chuyển trong cây theo hướng
từ trên xuống dưới dễ dàng hơn và các chất dinh dưỡng di chuyển trong cây một cách
tự do, nếu bón qua lá ở tầng giữa thì các chất dinh dưỡng có thể di chuyển cả hai chiều một cách hữu hiệu Điều đáng chú ý khi sử dụng phân bón lá cho chè, cần chú ý bón
đủ lượng thành phần và và tỷ lệ phân gốc thì mới đảm bảo hiệu quả lâu dài, phân bón
lá mới có tác dụng tốt.
Thị trường ngày nay có nhiều loại phân bón lá khác nhau cho cây chè Tuy nhiên do điều kiện canh tác, thị hiếu và thói quen của mỗi nơi khác nhau nên đòi hỏi phải tiến hành thí nghiệm để chọn những loại phân bón lá chè phù hợp cho kết quả tốt
ở mỗi địa phương Nhiều thí nghiệm so sánh thuốc đã được tiến hành và cho kết quả:
- Theo Nguyễn Thị Hoài Thảo, 2009 về kết quả đề tài ảnh hưởng của phân bón
lá đến sinh trưởng và năng suất của cây chè tại huyện Chưprông cho thấy:
Mật độ búp trên khung (25x25cm) của phân bón lá HPV cao nhất, với mật độ là 9,20 búp.
Phân bón lá HVP làm năng suất và lợi nhuận tăng cao nhất, năng suất tăng 1.153g và lợi nhuận tăng 29.555 đồng so với đối chứng.
Phân bón lá K – H cho chiều dài búp tăng cao nhất, với chiều dài là 15,69cm.
Trang 26Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm và thời gian thí nghiệm
3.1.1 Địa điểm thí nghiệm:
Thí nghiệm được bố trí tại vườn chè cành PH1 tại công ty chè Biển Hồ- Huyện Chưpăh- Tỉnh Gia Lai với diện tích 1000m2
3.1.1.1 Vị trí địa lý công ty chè Biển Hồ
Công ty chè Biển Hồ nằm trên địa bàn xã Nghĩa Hưng và một phần đất thuộc xã Hòa Phú, Huyện Chưpah, nằm dọc trên quốc lộ 14, km số 13 đường đi Kon Tum, cách trung tâm thành phố Pleiku 13 km về phía Bắc.
- Địa giới:
+ Phía Bắc giáp xã Hòa Phú – Huyện Chưpah
+ Phía Nam giáp Biển Hồ - Thành phố Pleiku
+ Phía Đông giáp xã Chưjô – Thành phố Pleiku
+ Phía Tây giáp Công ty cao su Chưpah – Huyện Chưpah
- Tọa độ địa lý:
+ Từ 107060’13’’ – 108001’14’’ kinh độ Đông
+ Từ 14002’00’ – 14007’14’’ vĩ độ Bắc
3.1.1.2 Khí hậu của khu vực nghiên cứu
Chưpah nằm trong vùng khí hậu Tây Nguyên cận nhiệt đới nóng ẩm, quanh năm ánh sáng dồi dào, không có mùa đông lạnh, gió bão lớn, sương muối.
Với độ cao trên 700m, vùng chè Biển Hồ có khí hậu khá mát mẻ nên nhiệt độ trung bình trong năm không cao.
Thời gian từ tháng 1 đến tháng 5 nhiệt độ có sự thay đổi theo chiều hướng tăng
Trang 27Lai đang ở mùa khô, khoảng cuối tháng 5 thì nhiệt độ mới có xu hướng giảm dần do Chưpăh chuẩn bị bước vào mùa mưa Những ngày có nhiệt độ cao nhất thường tập trung ở cuối tháng 3 đầu tháng 4 và thấp nhất tập trung ở giữa tháng 1.
Ẩm độ không khí có sự thay đổi theo chiều hướng tăng dần Tháng 4 có độ ẩm trung bình thấp nhất trong các tháng đạt 77,2% và tháng 8 có độ ẩm trung bình cao nhất đạt 93,5%.
Hướng chủ yếu là Tây Nam – Đông Bắc
Từ tháng 4 đến tháng 9 hướng gió là Tây Nam – Đông Bắc
Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau hướng gió Tây Bắc – Đông Nam
Mùa mưa tại Chưpăh bắt đầu vào cuối tháng 4 và kéo dài đến tháng 10 chính vì vậy mà lượng mưa có xu hướng tăng dần Tại thời điểm nghiên cứu không có mưa nhiều nên lượng mưa trung bình của các tháng không cao, số ngày mưa trong tháng cũng không đáng kể, số giờ nắng giảm dần.
Mạch nước ngầm khá sâu thường từ 5 đến 10m, có suối Ianhing chảy về Biển
Hồ bao quanh và còn 17 ha mặt nước các công trình hồ đập xen kẽ và các lô chè, cà phê của Công ty đảm bảo cho nhu cầu tưới cho các diện tích.
3.1.1.3 Địa hình, thổ nhưỡng
Địa hình thuộc dạng đồi thoải cao nguyên ít dốc, độ cao so với mặt nước biển là
700 m, nơi cao nhất có độ cao là 750 m, 90% diện tích có độ dốc dưới 15o (khoảng
300 ha) Đất hình thành trên đá bazan có màu nâu và màu nâu thẫm, hầu hết là trên 1m, đất ít chua, giàu chất dinh dưỡng, chủ yếu là trên các diện tích chè mà chủ đồn điền trồng chè trước giải phóng, phù hợp cho cây chè phát triển với năng suất cao, chất lượng tốt Hiện tại công ty có hơn 1.100 ha đất nông nghiệp trồng chè và cà phê Trong đó có 375,8 ha chè và 740 ha cà phê, 17 ha ao hồ (có 4 ao hồ xung quanh khu vực trồng chè nên nguồn nước tưới luôn được đảm bảo).
Trang 28Bảng 3.2 Kết quả phân tích đất tại vườn chè thí nghiệm
Độ sâu pHKCl
(mg/100g đất)
Trao đổi (meq/100g đất)
HC N P2O5 K2O P2O5 K2O Ca2+ Mg2+
(0-20 cm) 4,37 6,18 0,21 0,37 0,04 1,50 5,87 0,24 0,16 (20-60 cm) 4,69 2,35 0,12 0,30 0,03 0,65 1,93 0,24 0,16
(Nguồn: Viện KHKT Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên)
Bảng 3.2 cho thấy:
- Độ chua đất thích hợp cho chè phát triển.
- Thành phần hữu cơ, N trong đất cao phù hợp cho cây chè phát triển, nhưng P
dễ tiêu, Ca, Mg trao đổi thấp.
3.1.2 Thời gian thí nghiệm.
Thí nghiệm được bố trí từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 02 năm 2011.
3.2 Vật liệu và dụng cụ.
3.2.1 Vật liệu
* Giống vườn thí nghiệm:
Giống được sử dụng trong thí nghiệm là giống PH1 ở 12 năm tuổi, đang trong thời kỳ kinh doanh phát triển tốt.
Giống PH1 được tạo bằng phương pháp chọn lọc cá thể từ tập đoàn Assamica (
Ấn Độ) Giống PH1 bắt đầu được chọn tạo từ năm 1965 và được công nhận năm 1972 Những đặc điểm chính của giống PH1: thân gỗ, phân cành thấp, số cành cấp 1 nhiều,
to khoẻ Lá màu xanh đậm, hình bầu dục; lá to trung bình (35 – 40 cm2) Trọng lượng một búp 0,8 – 1 g, tán rộng 1,0 - 1,4 m Năng suất trung bình 16 - 19 tấn/ha, thâm canh tốt có thể đạt 25 - 28 tấn/ha Sản phẩm chế biến thành chè đen đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Cây chịu nóng, hạn khá, chịu rét trung bình, kháng rầy xanh, bọ xít muỗi khá.
Dễ bị nhện đỏ hại từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau.
* Phân bón cho chè kinh doanh tại công ty chè Biển Hồ
- Phân hữu cơ: phân hữu cơ 3 năm bón 1 lần.
+ Lượng phân 25.000 – 30.000 kg.
Trang 29+ Rạch hàng ngang tán chè sâu 20 – 25 cm, rộng 30 cm Bỏ phân vào lấp kín đất, kết hợp vùi cỏ xuống rãnh, bón vào tháng 10, 11.
- Bón phân vô cơ: bón 2 lần/năm Lượng phân bón cho 1 năm như sau:
3.3 Bón phân cho chè kinh doanh
Năng suất (tấn/ha) Loại phân (kg/ha)
Giới thiệu về chất điều hòa sinh trưởng.
Các chất điều hòa sinh trưởng có khả năng điều hòa sinh trưởng phát triển cây
và dẫn tới tăng năng suất cây trồng, tùy theo mục đích thu hoạch là thu hoạch lá, hoa, quả, thân hay rễ mà ta phải sử dụng tùy chất điều hòa sinh trưởng riêng biệt hoặc hỗn hợp các loại Nhìn chung khi phun chất điều hòa sinh trưởng lên cây vào đúng giai đoạn thì có thể cho năng suất tăng trung bình từ 10 – 15%, nhiều trường hợp tăng cao hơn Năng suất được tăng lên phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện canh tác như: phân bón, nước và giống cây.
Khi sử dụng riêng chất điều hòa sinh trưởng để phun cho cây trồng thì năng suất được tăng lên nhưng riêng về chất lượng nông sản thì có vấn đề Khi phun ở nồng
độ thấp, năng suất tăng thấp, chất lượng đảm bảo Khi phun ở nồng độ cao, năng suất tăng nhanh nhưng chất lượng lại giảm Vì vậy, trong thực tiễn sản xuất không nên dùng riêng lẽ các chất điều hòa sinh trưởng để phun cho cây, đặc biệt không nên sử dụng nồng độ cao để tăng năng suất cao mà quên mất chất lượng.
Trang 30Trong các chế phẩm cần đưa thêm các thành phần vi lượng và N.P.K vào để đảm bảo chất lượng nông sản.
Một số nhóm chất điều hòa sinh trưởng thông dụng:
Giberellin: tác dụng làm tăng sự vươn lóng và sự phát triển của đỉnh sinh trưởng hoặc chồi
Auxin: giúp vươn dài lóng, thân, ngọn và sự ra rễ.
Cytokinin: kích thích sự ra chồi bên, làm giảm ảnh hưởng ngọn và ức chế sự thành lập rễ (theo bùi bá bổng, 1995)
Các phân bón lá sử dụng trong thí nghiệm
+ Đầu Trâu 005: là phân bón lá dùng cho chè có thành phần: 30% đạm (N), 10% lân (P2O5), 10% kali (K2O), lưu huỳnh (S), magiê (Mg), canxi (Ca), kẽm (Zn), sắt (Fe), đồng (Cu), mangan (Mn), bo (B), molypden (Mo), gibberellin, αNAA, bNOA + K-H: là phân bón lá dung cho chè co thành phần Humate, N = 3%, P2O5= 5%, K2O = 4%, S= 1,05%, Cu, Zn, Bo, Mo, Ca, do Công ty cổ phần Thanh Hà – Nghĩa Tân – Cầu Giấy – Hà Nội.
+ Arrow: là phân bón lá dùng cho chè có các thành phần Magnesium oxdie (31%), Calxium oxide (1%) Do công ty TNHH & TM Quang Nông – Tp HCM
+ Bio – 8: là phân bón lá dùng cho chè có các thành phần N = 20%; P2O5= 20%;
K205= 8%; MgO = 1,70%; Kelpak = 27%; pH = 5 Khoáng vi lượng: Fe (EDTA) = 1,75 %; Cu (EDTA) = 0,0625%; Zn (EDTA) = 0,90%; Mn ( EDTA ) = 0,0625% và B,
Mo, Co và các chất kích thích sinh trưởng tự nhiên: Cytokinin, Auxin, Gibberellin Phân phối bởi: BOLY Corporation Chi Nhánh TP.Hồ Chí Minh.
3.2.2 Dụng cụ: Bình xịt, cân, thước, bảng, khung kẽm, dây ni lông, khung đo
3.3 Phương pháp thí nghiệm
3.3.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên một yếu tố, với 5 nghiệm thức và 3 lần lặp lại cách nhau 1 hàng cây, diện tích mỗi ô thí nghiệm là 20m2, tổng diện tích cho thí nghiệm là 300m2.
Trang 31` A: Đối chứng phun nước lã (2 lít phun đều trên mặt tán cho 20m2)
B: Bio -8 (2 ml/2 lít phun đều trên mặt tán cho 20m2) C: Đầu Trâu 005 (1,25g/ 2 lít phun đều trên mặt tán cho 20 m2) D: K-H (1 ml/2 lít phun đều trên mặt tán cho 20m2)
E: Arrow (5g/bình 2lít phun đều trên mặt tán chè cho ô 20m2)
3.3.2 Phương pháp tiến hành
- Thời gian tiến hành từ ngày 5/10/2010.
- Dùng bình pha chế phẩm phun đều mặt tán của giống chè.
- Thí nghiệm được bố trí phun 3 lần trong thời gian thí nghiệm Đợt 1 vào ngày 7/10/2010, đợt 2 vào ngày 6/11/2010, và đợt 3 vào 6/12/2010 Mỗi đợt cách nhau 30 ngày.
Chiều biến thiên
Trang 323.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi
3.3.3.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng
_ Chiều cao cây (cm): đo từ mặt đất đến mép lá của búp cao nhất trên tán chè,
đo hai đợt sau đó lấy hiệu chiều cao cây đợt 2 và đợt 1, hai đợt đo cách nhau 50 ngày Lần đo đầu cách đợt thu hái đầu 2 ngày, lần đo sau cách đợt thu hái trước 2 ngày.
_ Đường kính tán (cm): đo hai đường chéo vuông góc trên mặt tán, lấy trung bình cộng của hai số đo, đo và tính toán như ở chiều cao cây.
_ Số lượng búp: đủ tiêu chuẩn (P+3, P+2), búp mù: đếm số lượng của từng loại búp (đủ tiêu chuẩn P+2, P+3, búp mù P+2, mù P+3 trong và ngoài tán) của 5 cây trong
3.3.3.2 Các chỉ tiêu năng suất
_ Trọng lượng búp/ô (mỗi ô 20 m2, năng suất thực): cân tất cả số búp chè thu được trên mỗi ô thí nghiệm.
_ Hàm lượng nước (%).
3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Tất cả các số liệu đều tính toán bằng phần mềm Excel, phân tích thống kê bằng phần mềm MSTATC.
Trang 33Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình thời tiết trong thời gian thực nghiệm
Bảng 4.1 Một số yếu tố thời tiết trong thời gian thực nghiệm
(mm/tháng)
Độ ẩm (%) Trung bình Tối cao Tối thấp
(Nguồn: Trạm dự báo khí tượng Pleiku, 2011.)
Nhiệt độ trung bình qua các tháng biến động từ 19,4,oC đến 22oC, tháng 10 có nhiệt độ cao nhất 22oC, tháng 12 có nhiệt độ thấp nhất 19,4oC
Ẩm độ trung bình từ 79 - 88 %, tháng 10 có ẩm độ không khí trung bình cao nhất 88 %, tháng 12 có ẩm độ không khí trung bình thấp nhất 79 %.
Lượng mưa của các tháng biến động từ 128,5 - 293,2 mm, lượng mưa cao nhất
là tháng 10 (293,2 mm), lượng mưa thấp nhất là tháng 12 (79 mm).
Nhận xét: nhiệt độ giữa các tháng chênh lệch không cao, nhiệt độ thích hợp cho cây chè sinh trưởng và phát triển Vào tháng 10 – 12/2010 ẩm độ cao giúp chè sinh trưởng tốt Lượng mưa vào tháng 10 cao giúp cho búp chè tháng 11 phát triển tốt.
4.2 Ảnh hưởng của phân bón lá đến các chỉ tiêu sinh trưởng của giống chè PH1 4.2.1 Ảnh hưởng của phân bón lá đến tăng trưởng chiều cao cây
Sau khi xử lý các loại phân bón lá cho cây chè trong thí nghiệm qua các tháng
từ tháng 10 đến tháng 12/2010, ở các nghiệm thức xử lý phân bón lá chiều cao cây chè tăng nhiều hơn so với đối chứng như trình bày trong bảng 4.2.
Trang 34Bảng 4.2 Ảnh hưởng phân bón lá đến chiều cao cây (cm)
Ghi chú: các giá trị trong cùng 1 cột theo sau cùng ký tự, khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Tuy nhiên, mức độ tăng chiều cao cây chè khác nhau khi xử lý các loại phân bón lá khác nhau, nhưng qua kết quả thí nghiệm thì mức độ tăng chiều cao của loại phân bón lá K-H là cao nhất so với các loại phân bón lá còn lại khi xử lý.
4.2.2 Ảnh hưởng của phân bón lá đến tăng trưởng đường kính tán
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến đường kính tán (cm)
Trang 35Đường kính tán của nghiệm thức dùng phân bón lá Bio-8 là cao nhất cao hơn với đối chứng là 1,8 cm và có sự khác biệt với các nghiệm thức còn lại Đường kính tán của 2 nghiệm thức dùng phân bón lá Đầu Trâu và K-H không có sự khác biệt với nhau và có sự khác biệt rất có ý nghĩa so với nghiệm thức đối chứng.
Trong thời gian thí nghiệm thì đường kính tán tăng thêm từ 17,9 – 19,7cm Trong đó các nghiệm thức sử dụng phân bón lá có đường kính tăng cao hơn so với nghiệm thức đối chứng từ 0,6- 1,8 cm.
4.2.3 Ảnh hưởng của phân bón lá đến số lượng búp (P+2)
Từ bảng 4.4 ta thấy số lượng búp chè P+2 ở trong đợt 1 không có sự khác biệt.
Từ đợt 2 đến đợt 7 thì số lượng búp chè P+2 khi xử lý các loại phân bón lá tăng cao hơn so với nghiệm thức đối chứng
Số lượng búp chè P+2 trong đợt 1 là thấp nhất trong 7 đợt, tuy nhiên không có
sự khác biệt giữa các nghiệm thức phun phân và nghiệm thức đối chứng.
Số lượng búp chè trong đợt 7 là cao nhất trong 7 đợt, trong đó nghiệm thức Đầu Trâu cao nhất và cao hơn so với đối chứng là 2,6 búp/khung, có sự khác biệt với các nghiệm thức phun phân Bio-8, K-H, Arrow và sự khác biệt rất có ý nghĩa so với nghiệm thức đối chứng Nghiệm thức Arrow không có sự khác biệt so với nghiệm thức đối chứng.
Trang 36Bảng 4.4 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến số lượng búp (P+2) (búp/ khung 25
Trang 374.2.4 Ảnh hưởng của phân bón lá đến số lượng búp (P+3)
Từ bảng 4.5 số lượng búp chè P+3 ở trong đợt 1 không có sự khác biệt Từ đợt
2 đến đợt 7 thí số lượng búp chè P+3 khi xử lý các loại phân bón lá tăng cao hơn so với nghiệm thức đối chứng.
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến số lượng búp (P+3) (búp/ khung 25
Số lượng búp chè P+3 trong đợt 1 là thấp nhất trong 7 đợt Tuy nhiên không có
sự khác biệt giữa các nghiệm thức phun phân và nghiệm thức đối chứng.
Số lượng búp chè P+3 trong đợt 5 là cao nhất trong 7 đợt, trong đó nghiệm thức Đầu Trâu là cao nhất cao hơn so với nghiệm thức đối chứng là 5,14 búp/khung, các nghiệm thức phun phân K-H, Bio-8, Arrow có sự khác biệt rất có ý nghĩa so với nghiệm thức đối chứng.
Trang 384.2.5 Ảnh hưởng của phân bón lá đến số lượng búp mù
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến số lượng búp mù (búp/ khung 25 x
4.2.6 Ảnh hưởng của phân bón lá đến chiều dài búp chè (P+2)
Bảng 4.7 cho ta thấy chiều dài búp chè P+2 trong 2 đợt hái đầu không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức phun phân với nghiệm thức đối chứng.
Trong đó chiều dài búp chè P+2 trong đợt 2 là thấp nhất trong 7 đợt thu hái, nghiệm thức phun phân Đầu Trâu 005 có chiều dài búp dài nhất trong đợt nhưng không có sự khác biệt với các nghiệm thức phun phân bón lá còn lại và nghiệm thức đối chứng.
Trang 39Bảng 4.7 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến chiều dài của búp chè (P+2)
Trong thời gian thí nghiệm thì chiều dài búp P+2 tăng từ 9,8- 11,8cm.
Trang 404.2.7 Ảnh hưởng của phân bón lá đến chiều dài búp chè (P+3)
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến chiều dài của búp chè (P+3)
Chiều dài búp P+3 trong đợt 2 là ngắn nhất trong 7 đợt thu hái, tuy nhiên không
có sự khác biệt giữa các nghiệm thức phun phân và nghiệm thức đối chứng.
Chiều dài búp P+3 trong đợt 5 là cao nhât trong 7 đợt ,trong đó chiều dài nghiệm thức phun phân Đầu Trâu 005 là cao nhất cao hơn so với đối chứng là 2,2 cm,
có sự khác biệt với các nghiệm thức phun phân bón lá Bio-8, K-H, Arrow, đặc biệt có
sự khác biệt rất có ý nghĩa với nghiệm thức đối chứng Trong thời gian thí nghiệm thì chiều dài búp P+3 tăng từ 11,1- 12,3cm.