1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC VÀ KHẢ NĂNG HẠN CHẾ TỶ LỆ NHIỄM BỆNH VÀNG LÁ GREENING CỦA 5 LOẠI THUỐC TRỪ SÂU PHÒNG TRỪ RẦY CHỔNG CÁNH Diaphorina citri Kuwayama (HEMIPTERA: PSYLLIDAE) TRÊN CÂY CAM SÀNH TRONG NHÀ LƯỚI TẠI TIỀN GIANG

79 177 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA NÔNG HỌC ---- ---- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC VÀ KHẢ NĂNG HẠN CHẾ TỶ LỆ NHIỄM BỆNH VÀNG LÁ GREENING CỦA 5 LOẠI THUỐC TRỪ SÂU PHÒNG TRỪ RẦY CHỔNG CÁNH Diaphorina citri

Trang 1

KHOA NÔNG HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC VÀ KHẢ NĂNG HẠN CHẾ TỶ LỆ NHIỄM BỆNH VÀNG LÁ GREENING CỦA 5 LOẠI THUỐC TRỪ SÂU

PHÒNG TRỪ RẦY CHỔNG CÁNH Diaphorina citri Kuwayama

(HEMIPTERA: PSYLLIDAE) TRÊN CÂY CAM SÀNH

TRONG NHÀ LƯỚI TẠI TIỀN GIANG

NGÀNH : BẢO VỆ THỰC VẬT KHÓA : 2007 - 2011

SINH VIÊN THỰC HIỆN: ĐOÀN MINH HUY

Tp Hồ Chí Minh, tháng 08/2011

Trang 2

ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC VÀ KHẢ NĂNG HẠN CHẾ TỶ LỆ NHIỄM BỆNH VÀNG LÁ GREENING CỦA 5 LOẠI THUỐC TRỪ SÂU

PHÒNG TRỪ RẦY CHỔNG CÁNH Diaphorina citri Kuwayama

(HEMIPTERA: PSYLLIDAE) TRÊN CÂY CAM SÀNH

TRONG NHÀ LƯỚI TẠI TIỀN GIANG

Tác giả

ĐOÀN MINH HUY

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng

Kỹ sư ngành Bảo vệ thực vật

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:

ThS Lê Cao Lượng

ThS Kazuyoshi Yuasa

Tp Hồ Chí Minh, tháng 08/2011

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Con xin thành kính khắc ghi công ơn của ba mẹ đã sinh thành, nuôi dạy con khôn lớn và luôn là điểm tựa tinh thần vững chắc cho con trưởng thành như ngày hôm nay

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh mà đặc biệt là các thầy cô trong khoa Nông học đã dạy dỗ tôi suốt 4 năm học qua

Xin chân thành cảm ơn Viện cây ăn quả miền Nam và Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Cảm ơn sâu sắc thầy Lê Cao Lượng và ThS Kazuyoshi Yuasa đã tạo điều kiện thuận lợi và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp Cảm ơn sâu sắc KS Đoàn Văn Bằng, TS Katsuya Ichinose, KS Đỗ Hồng Tuấn, chị Võ Thị Nga, chị Tạ Thị Kim Oanh và bạn Lê Thị Phương Dung đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Đồng cảm ơn đến các bạn Nhân, Cảnh, Yến và tập thể lớp Bảo vệ thực vật khóa

33 đã giúp đỡ tôi trong suốt những năm học tại trường cũng như trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2011

Đoàn Minh Huy

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu “Đánh giá hiệu lực và khả năng hạn chế tỷ lệ nhiễm bệnh

vàng lá Greening của 5 loại thuốc trừ sâu phòng trừ rầy chổng cánh Diaphorina citri

Kuwayama (Hemiptera: Psyllidae) trên cây cam sành trong nhà lưới tại Tiền Giang” được tiến hành tại khu nhà lưới của Viện cây ăn quả miền Nam, thời gian từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2011 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố

Kết quả thu được:

- Trong điều kiện nhà lưới T =29±1, RH= 80 ± 1% , cả 5 loại thuốc trừ sâu đều

có hiệu lực trong phòng trừ rầy chổng cánh, trong đó thuốc actara và dantotsu cho hiệu lực rất cao và kéo dài đến 60 ngày sau xử lý Thuốc nugor và sumithion cho hiệu lực cao nhưng giảm dần Thuốc admire cho hiệu lực thấp hơn nhưng tăng dần

- Trong điều kiện nhà lưới T =29±1, RH= 80 ± 1%, khi thả 3 con thành trùng rầy chổng cánh lên cây giống cam sành trong 8 ngày thì rầy chổng cánh có thể truyền bệnh VLG cho cây với tỷ lệ nhiễm biến động từ 0 % đến 30 % Tỷ lệ nhiễm bệnh VLG trung bình của nghiệm thức đối chứng là 10% và tỷ lệ nhiễm bệnh VLG trung bình ở các nghiệm thức có xử lý thuốc thấp hơn so với nghiệm thức đối chứng Trong đó, nghiệm thức actara và nugor không nhiễm bệnh VLG, tỷ lệ nhiễm trung bình cao hơn

ở nghiệm thức dantotsu (1,67%), admire (3,33%) và nghiệm thức sumithion (5%) tính đến thời điểm 30 ngày sau xử lý thuốc

- Như vậy, trong điều kiện nhà lưới các loại thuốc dantosu, admire, sumithion đều có khả năng hạn chế tỷ lệ nhiễm bệnh VLG nhưng thuốc actara và nugor là có khả năng hạn chế tỷ lệ nhiễm bệnh VLG cao nhất

- Trong 5 loại thuốc trừ sâu được xử lý trên cây giống cam sành trong điều kiện nhà lưới T =29±1, RH= 80 ± 1%, thì chỉ có thuốc actara là vừa có hiệu lực cao trong

Trang 5

phòng trừ rầy chổng cánh vừa có khả năng hạn chế tỷ lệ nhiễm bệnh VLG cao nhất Thuốc nugor có khả năng hạn chế tỷ lệ nhiễm bệnh VLG cao nhưng lại không có hiệu lực kéo dài trong phòng trừ rầy chổng cánh

Trang 6

MỤC LỤC

Trang tựa i

Lời cảm tạ ii

Tóm tắt iii

Mục lục v

Danh sách các chữ viết tắt viii

Danh sách các bảng ix

Danh sách các biểu đồ x

Danh sách các hình xi

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.3 Giới hạn đề tài 2

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Tổng quan về cây cam sành 3

2.1.1 Đặc điểm thực vật học cây cam sành 3

2.1.2 Nhu cầu sinh thái 4

2.1.3 Giá trị dinh dưỡng của cam sành 4

2.1.4 Tình hình sản xuất và phân bố cây cam sành 5

2.2 Tổng quan về bệnh vàng lá Greening (VLG) 6

2.2.1 Lịch sử về bệnh VLG 6

2.2.2 Sự nguy hại và hiện trạng bệnh VLG 6

2.2.3 Triệu chứng bên ngoài của bệnh VLG 8

2.2.4 Triệu chứng bên trong của bệnh VLG trên cam sành 9

2.2.5 Tác nhân gây bệnh 10

2.2.6 Sự lây nhiễm bệnh VLG 11

Trang 7

2.2.7 Chẩn đoán bệnh Greening bằng phương pháp PCR 12

2.2.7.1 Phương pháp trích DNA 12

2.2.7.2 Tiến trình PCR 13

2.2.7.3 Điện di sản phẩm PCR và đọc kết quả dưới tia UV 14

2.2.8 Một số biện pháp phòng trừ bệnh VLG 15

2.3 Tổng quan vể rầy chổng cánh (RCC) 16

2.3.1 Phân bố 16

2.3.2 Ký chủ của Diaphorina citri Kuwayama 16

2.3.3 Đặc điểm hình thái của Diaphorina citri Kuwayama 17

2.3.4 Đặc điểm sinh học của Diaphorina citri Kuwayama 17

2.3.5 Cách gây hại của Diaphorina citri Kuwayama 18

2.3.6 Biện pháp phòng trị 18

2.3.6.1 Biện pháp canh tác 18

2.3.6.2 Thiên địch 19

2.3.6.3 Biện pháp hóa học 20

2.4 Một số kết quả nghiên cứu về biện pháp phòng trừ RCC Diaphorina citri và bệnh VLG 20

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Thời gian, địa điểm 22

3.2 Điều kiện tự nhiên và điều kiện khí hậu của tỉnh Tiền Giang 22

3.3 Vật liệu nghiên cứu 25

3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 26

3.3.2 Dụng cụ thí nghiệm 26

3.4 Nội dung nghiên cứu 27

3.5 Phương pháp nghiên cứu 27

3.5.1 Nhân mật số rầy chổng cánh 27

3.5.2 Chuẩn bị cây giống cam sành thí nghiệm 28

3.5.3 Xử lý thuốc 29

3.5.4 Tiến hành bao lưới và thả RCC thí nghiệm 32

3.5.5 Phương pháp lấy chỉ tiêu 34

3.5.6 Chỉ tiêu theo dõi 34

Trang 8

3.6 Xử lý số liêu 34

Chương 4.KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36

4.1 Hiệu lực của 5 loại thuốc trừ sâu phòng trừ RCC 36

4.2 Khả năng hạn chế tỷ lệ nhiễm bệnh VLG của 5 loại thuốc trừ sâu phòng trừ RCC 39

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47

5.1 Kết luận 47

5.2 Đề nghị 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

PHỤ LỤC 56

Trang 9

(Trung tâm nghiên cứu quốc tế khoa học nông nghiệp Nhật Bản)

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Hiệu lực tồn lưu của 5 loại thuốc trừ sâu phòng trừ rầy chổng cánh sau 8

ngày thả rầy lên cây cam sành giống thí nghiệm trong điều kiện nhà lưới T =29±1, RH=

80 ± 1% 36

Bảng 4.2: Kết quả PCR giám định bệnh VLG trên cây giống cam sành ở các thời điểm

sau xử lý thuốc 39

Bảng 4.3: Tỷ lệ nhiễm bệnh VLG trên cây giống cam sành thí nghiệm sau 8 ngày thả

rầy tính từ thời điểm 0 ngày sau xử lý thuốc 41

Bảng 4.4: Tỷ lệ nhiễm bệnh VLG trên cây giống cam sành thí nghiệm sau 8 ngày thả

rầy tính từ thời điểm 1 ngày sau xử lý thuốc 41

Bảng 4.5: Tỷ lệ nhiễm bệnh VLG trên cây giống cam sành thí nghiệm sau 8 ngày thả

rầy tính từ thời điểm 5 ngày sau xử lý thuốc 42

Bảng 4.6: Tỷ lệ nhiễm bệnh VLG trên cây giống cam sành thí nghiệm sau 8 ngày thả

rầy tính từ thời điểm 10 ngày sau xử lý thuốc 42

Bảng 4.7: Tỷ lệ nhiễm bệnh VLG trên cây giống cam sành thí nghiệm sau 8 ngày thả

rầy tính từ thời điểm 15 ngày sau xử lý thuốc 43

Bảng 4.8: Tỷ lệ nhiễm bệnh VLG trên cây giống cam sành thí nghiệm sau 8 ngày thả

rầy tính từ thời điểm 30 ngày sau xử lý thuốc 43

Bảng 4.9: Tỷ lệ nhiễm bệnh VLG của cây giống cam sành thí nghiệm sau 8 ngày thả

rầy tính từ các thời điểm sau xử lý thuốc khác nhau 44

Bảng 4.10: Ảnh hưởng của 5 loại thuốc trừ sâu phòng trừ RCC lên tỷ lệ nhiễm bệnh

VLG trung bình của các cây giống cam sành thí nghiệm 44

Bảng 4.11: Tỷ lệ nhiễm bệnh VLG trung bình của các nghiệm thức thí nghiệm 45

Trang 11

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Nhiệt độ trung bình và ẩm độ trung bình từ tháng 2/2011 – 6/2011 ở

huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang 23

Biểu đồ 3.2 Lượng mưa trung bình từ tháng 2 / 2011 – 6 / 2011 ở huyện Châu Thành

tỉnh Tiền Giang 24

Biểu đồ 3.3: Tốc độ gió từ tháng 2 / 2011 – 6 / 2011 ở huyện Châu Thành tỉnh Tiền

Giang 24

Trang 12

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình Trang

Hình 2.1: Vi khuẩn Candidatus Liberibacter asiaticus 11

Hình 2.2: Kết quả PCR dưới máy chụp UV 14

Hình 2.3: Ấu trùng Diaphorina citri trên cây chanh tàu nhân nuôi thí nghiệm 17

Hình 2.4: Thành trùng Diaphorina citri trên cây chanh tàu nhân nuôi thí nghiệm 17

Hình 3.1: Kết quả PCR các cây chanh tàu nhiễm bệnh VLG 27

Hình 3.2: Các lồng lưới nhân mật số RCC Diaphorina citri tại huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang 28

Hình 3.3: 5 loại thuốc trừ sâu thí nghiệm 29

Hình 3.4: Các dụng cụ xử lý thuốc 29

Hình 3.5: Các cây được xử lý thuốc sumithion trong khu I của nhà lưới 31

Hình 3.6: Các cây được xử lý thuốc admire, actara, dantotsu, nugor trong khu II của nhà lưới 31

Hình 3.7: Hủ nhựa chứa RCC 32

Hình 3.8: Ống nghiệm chứa 3 con RCC 32

Hình 3.9: Cây giống cam sành thí nghiệm sau khi bao lưới và thả RCC vào lưới 33

Hình 3.10: Thí nghiệm ở thời điểm 0 ngày sau xử lý thuốc 33

Hình 3.11: Mẫu lưới của nghiệm thức Dantotsu ở thời điểm 0 ngày sau xử lý 35

Hình 3.12: Nghiệm thức Dantotsu sau khi thu mẫu lưới 35

Hình 3.13: Mẫu lưới của các nghiệm thức được mang về phòng thí nghiệm 35

Hình 3.14: Phần ngọn cây giống cam sành được đặt trong túi nilong 35

Hình 3.15: Các túi nilong chứa phần ngọn cam sành được bảo quản ở - 310 C 35

Trang 13

là 7,3 triệu hecta với sản lượng khoảng 109,8 triệu tấn, đứng đầu trong tất cả các họ

cây ăn quả (Nguyễn Văn Kế, 2008)

Ở Việt Nam, cây có múi Citrus (cam, quýt, chanh, bưởi) cũng chiếm một diện tích rất lớn, đặc biệt là ở Đồng bằng sông Cửu Long với 80.000 hecta (2006), sản lượng vượt 523.000 tấn (Nguyễn Văn Kế, 2008) Trong đó, cây cam sành được trồng rất rộng rãi do lợi nhuận thu nhập từ cam sành khá cao, nhất là trồng cam trái vụ (Đoàn Hữu Tiến, 2006) Tại Vĩnh Long, diện tích cây có múi chiếm khoảng 40% diện tích cây ăn trái toàn tỉnh (15.614 hecta), riêng cam sành có hơn 7.200 ha và ở Tiền Giang diện tích cam sành là 4.411 hecta (SOFRI - JIRCAS, 2005)

Tuy nhiên, hiện nay diện tích cây có múi nói chung và diện tích cam sành nói riêng đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi nhiều loại sâu bệnh hại như bệnh Tristeza, bệnh vàng lá thối rễ, bệnh loét,…nhưng có thể nói nguy hiểm nhất vẫn là bệnh vàng lá Greening Bệnh vàng lá Greening (VLG) còn gọi là Huanglongbing (HLB) là bệnh có sức tàn phá nhất ở những vùng chuyên canh cây có múi nhiệt đới và á nhiệt đới (Ogata

và ctv., 2010) Bệnh do vi khuẩn Candidatus Liberibacter asiaticus gây ra, bệnh có

nguồn gốc ở châu Á và rầy chổng cánh (RCC) là tác nhân lan truyền bệnh (Graca và

Korsten, 2004; Hung và ctv., 2004) Hiện nay, bệnh vẫn chưa có biện pháp quản lý

triệt để, do đó biện pháp quản lý chủ yếu là kiểm soát tác nhân trung gian truyền bệnh

Trang 14

bằng thuốc bảo vệ thực vật, đặc biệt là các loại thuốc lưu dẫn kéo dài (Halbert và

Manjunath, 2004; Yang và ctv., 2006) Đồng thời, các kết quả nghiên cứu trước đây

cũng đã cho thấy rằng việc sử dụng cây giống sạch bệnh kết hợp với xử lý thuốc trừ sâu trước khi trồng là một trong những biện pháp chiến lược quản lý dịch hại tổng hợp

- IPM trong quản lý bệnh vàng lá Greening (Nguyễn Minh Châu và ctv, 2010) f

Vì vậy, cùng với sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Nông Học trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, các cán bộ hướng dẫn ở Viện cây

ăn quả Miền Nam (VCAQMN) và Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu lực và khả năng hạn chế tỷ lệ nhiễm bệnh

vàng lá Greening của 5 loại thuốc trừ sâu phòng trừ rầy chổng cánh Diaphorina citri

Kuwayama (Hemiptera: Psyllidae) trên cây cam sành trong nhà lưới tại Tiền Giang”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu

1.2.1 Mục tiêu

Đánh giá hiệu lực của 5 loại thuốc trừ sâu trong phòng trừ rầy chổng cánh Đưa ra khuyến cáo về loại thuốc trừ sâu có hiệu quả cao trong việc hạn chế tỷ lệ bệnh VLG

Thời gian: đề tài được thực hiện từ tháng 2/2011 đến tháng 7/2011

Đối tượng nghiên cứu: thuốc trừ sâu, rầy chổng chổng cánh và bệnh VLG

Trang 15

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tổng quan về cây cam sành

Cam sành có tên khoa học là Citrus nobilis var nobilis (tên cũ: Citrus

reticulata var nobilis) thuộc họ Rutaceae (họ Cam quýt) bao gồm: cam, quýt, chanh,

bưởi, bồng, hạnh, quất, kim quít, phật thủ, cằn thăng, nguyệt quế, Cam sành là giống được lai giữa cam và quýt (thực ra đây là một giống quýt, nhưng trong sản xuất và thị trường được gọi là cam sành), là loại cây được trồng lâu đời và phân bố rộng khắp ở

nước ta (Cục bảo vệ thực vật, 2006)

2.1.1 Đặc điểm thực vật học cây cam sành

Rễ của cây cam sành là rễ chùm Khi trồng bằng hạt hay cây ghép, cây con được chuyển từ vườn ươm tới vườn sản xuất bị bứng đi bứng lại nhiều lần nên rễ cọc thường bị đứt và vì vậy chúng sẽ cho 2 - 3 rễ cái lớn Các rễ này phân nhánh nhiều lần cho tới khi có rễ sợi (đường kính nhỏ hơn 0,5 mm), trên các rễ sợi này mới mang lông hút Rễ hấp thu nước và muối khoáng liên tục nhưng mạnh nhất vào thời kỳ ra hoa và

kết trái (Nguyễn Văn Kế, 1999)

Tán cây cam sành nhỏ, cây cao 3 - 5 m, cây có nhiều cành, cành mọc yếu và không có gai

Lá cam sành có cánh nhỏ, có khi không rõ Lá có màu xanh thẫm, dài 7 - 8 cm, rộng 4 - 4,5 cm Số lượng lá trên cây rất quan trọng, để tạo ra một trái cam sành cần 50

lá, vì vậy cần có biện pháp duy trì số lá xanh nhiều và tốt trên cây (Nguyễn Văn Kế, 1999)

Hoa cam sành mọc đơn hoặc chùm, có 4 - 5 cánh trắng và có khoảng 20 - 40 nhị đực

Trang 16

Trái cam sành có hình tròn hơi dẹp, đường kính 7 - 8,2 cm, cao 6 - 8 cm Đầu trái và cuống trái lõm xuống Vỏ trái dày, xù xì, màu xanh vàng hay vàng đỏ khi chín,

dễ lột Trái có nhiều nước, con tép trong trái to và có vị ngọt hơi chua Trái cam sành nặng trung bình 3 - 4 trái / kg

Hạt cam sành hình tròn trứng, là hạt đa phôi, có tử diệp màu xanh nhạt (Nguyễn

Văn Kế, 1999) hay trắng (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994)

Cam sành có trung bình 15 - 20 hạt / trái, có trái hoàn toàn không có hạt, nhưng cũng có trái có đến 24 - 30 hạt Tỉ lệ hạt đa phôi của cam sành là từ 11% đến 21% (B.Aubert và G.Vullin)

2.1.2 Nhu cầu sinh thái

Theo Vũ Công Hậu (1996), cam sành chịu lạnh kém, dưới 130C cây ngừng sinh trưởng, trên 300C thì khả năng quang hợp của cây giảm Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cam sành là 23 - 290C

Cây ưa ánh sáng nhẹ từ 10.000 lux đến 15.000 lux, cường độ ánh sáng quá cao làm trái cam sành bị nám, mất nhiều nước, sinh trưởng kém do đó tuổi thọ ngắn (Vũ Công Hậu, 1996)

Lượng mưa thích hợp cho cam sành khoảng 1500 mm / năm Độ pH thích hợp

từ 5,5 đến 6,5 Khi đất có pH thấp cần bón vôi để vừa nâng cao năng suất trái vừa nâng cao tuổi thọ của cây Muốn cây cho quả to, ngon ngọt và đẹp mã nên bón nhiều kali

2.1.3 Giá trị dinh dưỡng của cam sành

Trong quả cam có chứa nhiều loại vitamin rất tốt cho sức khỏe Nước cam có chứa vitamin C có tác dụng gia tăng tính đề kháng và tăng tính hấp thu chất sắt, thực vật Trong cam có vitamin B9 giúp ngăn ngừa các bệnh về tim mạch Ngoài ra, hợp chất vitamin A trong nước cam vừa là chất tạo màu sắc cho quả cam, vừa có thể ngăn ngừa được nguy cơ mắc bệnh ung thư gan, bệnh xơ cứng động mạch, thậm chí còn

giúp những người viêm gan mãn tính tránh được bệnh ung thư gan

Trang 17

Vỏ cam còn có tác dụng chữa bệnh ho có đàm và giã rượu rất hiệu quả Bên cạnh đó, vỏ cam còn chứa canxi giúp ngăn ngừa bệnh loãng xương

Bình quân trong một trái cam có chứa khoảng 170 mg phytochemicals bao gồm các chất dưỡng da và chống lão hóa Bên cạnh đó, cam có chất limonoid hoạt động một cách đặc biệt trong việc ngăn ngừa bệnh ung thư và có tác dụng giải độc, lợi tiểu Những người thường ăn cam, quýt có tỉ lệ nhiễm các bệnh ung thư như ung thư phổi và dạ dày khá thấp Tuy nhiên những người hay bị rối loạn tiêu hóa không nên ăn nhiều cam

2.1.4 Tình hình sản xuất và phân bố cây cam sành

Cam sành có nguồn gốc từ vùng Đông Nam Á, nhưng hiện nay đã được trồng phổ biến trên thế giới, có khoảng 100 quốc gia sản xuất cam sành như Hoa Kỳ, Mexico, Brazil, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam (Cục bảo vệ thực vật, 2006)

Diện tích cây có múi ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) năm 2004 là 62.518 ha, chiếm 56,1% tổng diện tích cây có múi cả nước Trong đó có 22.133 ha trồng cam sành, chiếm 74% diện tích cam sành cả nước Ở ĐBSCL, cam sành được trồng ở các tỉnh như Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ

Trong tổng diện tích trồng cam sành ở ĐBSCL, Tiền Giang và Vĩnh Long là hai tỉnh trồng nhiều cam sành nhất, trong đó, diện tích trồng cam sành của Tiền Giang chiếm 22% tổng diện tích trồng cam sành của ĐBSCL Ở Tiền Giang, cây cam sành được trồng chủ yếu tại huyện Châu Thành và huyện Cái Bè Trước đây, huyện Cái Bè trồng nhiều cam sành nhất nhưng những năm gần đây diện tích trồng cam sành giảm

do bệnh vàng lá Greening (Đoàn Hữu Tiến, 2006)

Theo điều tra của Lê Thị Thu Hồng (2000), đa số các vùng đều trồng giống cam sành không xác nhận (tức là giống sản xuất không theo quy trình sản xuất cây giống cây có múi xác nhận; trồng giống do nhà vườn tự sản xuất, cơ sở tư nhân; hoặc giống trôi nổi không rõ nguồn gốc) Diện tích trồng giống cây xác nhận chỉ chiếm 2% diện tích trồng cam sành của cả ĐBSCL

Trang 18

Ở ĐBSCL, quanh năm luôn có cam sành thu hoạch nhờ điều kiện khí hậu và áp dụng các biện pháp cho trái nghịch vụ Các tháng 9, 10, 11 là thời gian cam sành cho thu hoạch nhiều nhất (chiếm 37% tổng sản lượng cam sành của cả năm); tháng 1 đến tháng 7 là thời gian sản lượng cam sành đạt thấp (bình quân chỉ đạt 6,3% sản lượng của cả năm) (Đoàn Hữu Tiến, 2006)

2.2 Tổng quan về bệnh vàng lá Greening (VLG)

2.2.1 Lịch sử về bệnh VLG

Bệnh VLG được đặt tên là “Huanglongbing” ở phía Nam Trung Hoa vào năm

1943 và được ghi nhận đầu tiên ở Nam Phi vào năm 1947 Năm 1951, bệnh HLB được biết đến ở Đài Loan với tên gọi địa phương là “Likubin”, bệnh xâm nhập vào Đài Loan

từ phía Nam Trung Hoa thông qua vật liệu nhân giống bị nhiễm bệnh Bệnh HLB lây lan khắp Đông Nam Á trong suốt thập niện 1960, ở Philippines được biết với tên gọi là bệnh lốm đốm vàng lá (leaf mottle yellows), bệnh thối hóa mạch libe (citrus vein phloem degeneration – CVPD) ở Indonesia, hay bệnh tàn lụi (dieback) ở Ấn Độ Đến năm 1988, Miyakawa và Tsuno đầu tiên phát hiện bệnh ở Iriomote – thuộc cực nam quần đảo Okinawa, Nhật bản gần với Đài Loan Năm 2003 bệnh lây lan lên phía bắc

đến đảo Tokunoshima, thuộc tỉnh Kagoshima, Nhật Bản (Su và ctv., 2010)

HLB cũng được ghi nhận ở Brazil vào năm 2004 và ở Florida vào năm 2005

(Susan Halbert và ctv., 2008)

Ở Việt Nam, bệnh này được GS Hà Minh Trung báo cáo vào năm 1992 Sau đó tác nhân gây bệnh được Gs Bové và Ts Garnier báo cáo vào năm 1995 Hiện nay, bệnh vẫn là một trong những bệnh có tính hủy diệt nhất trên cây có múi trên thế giới (Nguyễn Minh Châu và ctv, 2010)

2.2.2 Sự nguy hại và hiện trạng bệnh VLG

Theo Lê Thị Thu Hồng (2000), bệnh VLG đang lan rộng trên 50 quốc gia và đe dọa nghiêm trọng đến nguồn gen cây có múi ở các nước châu Á Bệnh đã tàn phá khoảng 60 triệu cây có múi ở Châu Phi và Châu Á Theo Aubert (1987), ở Trung

Trang 19

Quốc, Thái Lan, Maylaysia, Indonesia và Philipine, có hơn 1 triệu cây bị tiêu hủy mỗi năm

Ở Malaysia bệnh được xác định đầu tiên vào năm 1989, đến năm 1991 bang Sarawak – Malaysia đã tiêu hủy 1143 ha cam quýt, ước tính thất thu kinh tế lên đến 2 triệu đô la vào năm 2004 một cuộc khảo sát của chính quyền đã cho thấy có 69,7% trong tổng số 3525,9 ha bị nhiễm bệnh và một số bang có tỷ lệ nhiễm lên đến 100% (Lily Eng, 2008)

Theo Lopes (2006), bệnh VLG được phát hiện đầu tiên ở Brazil (châu Mỹ) vào tháng 3 năm 2004 tại hai trang trại thuộc bang Sao Paulo Đến tháng 10 năm 2006, bệnh được phát hiện trên 650000 cây, khoảng 0,3 % số cây của bang bị nhiễm sau khoảng 2,5 năm kể từ khi phát hiện đầu tiên và việc loại bỏ cây có múi nhiễm bệnh đã bắt buộc từ tháng 7 năm 2005

Bệnh VLG xuất hiện ở nước ta từ cuối năm 60, nước ta có 120.000 ha cây có múi thì có 10.000 ha bị vàng lá chiếm 8,33% (Võ Thị Thu Oanh, 2000) Tại ĐBSCL, bệnh được tìm thấy lần đầu tiên vào 1994 Theo kết quả điều tra của Lê Thị Thu Hồng (2000), bệnh đã gây hại nặng ở hầu hết các tỉnh ĐBSCL, trong đó, một số tỉnh bị bệnh nặng như:

ƒ Bến Tre: cây cam sành có diện tích lớn nhất, bệnh Greening gây hại nặng nhất ở huyện Chợ Lách

ƒ Cần Thơ: diện tích cây có múi năm 1994 là 15.000 ha, trong đó, diện tích nhiễm VLG là 6.000 ha (49% tổng diện tích) Một số xã như An Bình, Mỹ Khánh, Đông Phước, Phú Hữu có diện tích nhiễm bệnh trên 80%

ƒ Vĩnh Long: bệnh gây hại nặng trên cây cam sành 4 - 6 tuổi, các vườn tuổi 8 trở lên thì mức độ bệnh trung bình Tại các huyện Trà Ôn, Tam Bình, cây bị nhiễm nặng

ƒ Tiền Giang: bệnh hại nặng ở hai huyện Châu Thành và Cái Bè

Theo Tô Thị Hồng Yến và cvt (2004), bệnh VLG đang lây lan nhanh tại các vùng chuyên canh cây có múi, tại Thừa Thiên Huế tỷ lệ nhiễm từ 20% - 63,33%; ở

Trang 20

ĐBSCL tỷ lệ nhiễm tại huyện Cái Bè – Tiền Giang từ 56% – 77,14%, tại huyện Tam Bình – Vĩnh Long là 19,23% - 73,81%

2.2.3 Triệu chứng bên ngoài của bệnh VLG

Trên lá, thân, cành:

- Phiến lá biến vàng gần hết, chỉ có gân lá và vùng phụ cận vẫn còn xanh (giống triệu chứng thiếu mangan) Lá mới ra biến vàng, nhỏ và uốn cong (giống triệu chứng thiếu kẽm) Lá già có màu xanh nhạt, cong vẹo, gân lá bị sưng (giống triệu chứng thiếu Bo) Ban đầu bệnh xuất hiện cục bộ trên 1 hoặc vài nhánh ngọn, sau đó lan rộng ra toàn cây (Võ Thị Thu Oanh, 2000)

- Trên lá già có những đốm vàng loang lổ, các lá non nhỏ lại, phiến lá ngã sang màu vàng, gân lá màu xanh Bệnh nặng các lá nhỏ lại, mọc thẳng đứng (lá tai thỏ), chỉ còn gân chính có màu xanh, một vài cành bị chết khô (Nguyễn Thị Thu Cúc

- Triệu chứng phổ biến thường thấy là gân chính của lá bị vàng và những tế bào liền kề gân lá chính bị vàng, sau đó toàn bộ lá bị lốm đốm vàng xanh nhạt, lá thô cứng, quăn queo và gân lá phát triển một cách bất thường, lá bị rụng, cành bị chết (Su

và ctv., 2010)

- Theo Yoshihiro Ohtsu và ctv (1998); Lê Thị Thu Hồng và ctv (2001), có 7

dạng triệu chứng khác nhau trên cây bệnh VLG: lốm đốm với những đốm vàng nhạt xen kẽ những đốm xanh bất định trên lá; vết màu vàng loang trải đối xứng hai bên (triệu chứng thiếu mangan); vàng lá gân xanh (triệu chứng thiếu kẽm); lá vàng gân vàng; lá già gân lồi sần sùi; lá non xanh lợt; triệu chứng phức hợp trên lá già nhất

Trang 21

Trên hoa: cây bị bệnh sẽ có hiện tượng ra hoa muộn hoặc trái vụ (Hà Minh

Trung và ctv., 1994) Cây nhiễm bệnh mang hoa nhiều trong mùa nghịch nhưng hầu hết các hoa này đều bị rụng (Su và ctv., 2010)

Trên quả: Trái của những cây bị bệnh thường nhỏ, nhạt màu, múi bên trong chai sượng, chẻ dọc trái thấy phần trung trụ bị vặn vẹo, vỏ dày, hạt bị thui hoặc lép (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh, 2002) Quả cam sành của cây bị bệnh giảm trọng lượng 52,29% và độ brix giảm 1,54% so với quả của cây không bị bệnh (Lê Thị Thu Hồng, 2000)

Trên rễ: rễ tơ của cây bị nhiễm bệnh ít hơn và cường độ hô hấp của những rễ

này thấp hơn so với rễ tơ của cây không bị nhiễm bệnh (Ogata và ctv., 2010) Cây tàn dần vài năm sau rễ thối mục (Vũ Triệu Mân, 2007)

2.2.4 Triệu chứng bên trong của bệnh VLG trên cam sành

Theo Nguyễn Thanh Bình và ctv (2004), trên cam sành nhiễm bệnh VLG có

biểu hiện các triệu chứng bên trong:

- Lá: có hiện tượng tích lũy tinh bột ở cả bề mặt trên của gân lá và đặc biệt ở mặt trên phiến lá tích tụ rất nhiều trong nhu mô và lục mô rào trong khi lá cây sạch bệnh không thấy xuất hiện hiện tượng này

Đây chính là một trong những nguyên nhân ức chế sự hình thành lục lạp khiến cho lá cây có hiện tượng vàng gây ra triệu chứng vàng lá Lá bị bệnh VLG còn thể hiện rõ sự phân chia bất thường của tầng phân sinh libe mộc trong gân chính của lá, sự phân chia quá mạnh của tượng tầng khiến các tế bào libe hậu lập và mộc lập bị ép dẹp dẫn tới hiện tượng ức chế khả năng vận chuyển nhựa luyện vào trong thân gây ra sự tích tụ tinh bột trong gân và phiến lá

- Cuống lá: tương tự như ở lá, cuống lá cũng có hiện tượng tích lũy tinh bột trong các tế bào nhu mô với mật độ dày hơn so với lá cây sạch bệnh, đặc biệt là tinh bột xuất hiện rất nhiều trong nhu mô tùy

Trang 22

Tinh bột tích tụ cả trong hệ thống mạch dẫn của cuống lá, đây chính là nguyên nhân gây ức chế khả năng cung cấp nước và muối khoáng từ thân qua lá dẫn đến hiện tượng lá bị thiếu nước và một số khoáng vi lượng cần thiết khác đặc biệt là Zn, Mn,

Mg gây ra triệu chứng thường thấy đối với bệnh này Đặc biệt các khoáng vi lượng này rất cần thiết trong các quá trình trao đổi chất, tổng hợp protein, phân chia nhiễm sắc thể gây ra triệu chứng lá hẹp hay lá tai thỏ…nguyên nhân gây ra sự tích tụ tinh bột trong cuống lá một lần nữa là do sự phân chia bất thường của tượng tầng làm cho các

tế bào libe và mộc bị hẹp và nhỏ lại, vách dày lên làm cản trở các quá trình vận chuyển nước và muối khoáng cũng như nhựa luyện trong cây làm ức chế sự sinh trưởng của cây dẫn đến cây còi cọc và sau đó sẽ chết

- Thân cây (cành): trong thân cây cũng có sự tích tụ tinh bột nhưng chỉ tích tụ dày đặc trong nhu mô tủy , nhưng sự khác biệt rõ nhất giữa thân cây bệnh và thân cây sạch bệnh là nhu mô tủy cây bệnh hẹp hơn, ngược lại lớp gỗ cây bệnh lại dày hơn

Hệ thống mạch dẫn cây bệnh bị phân chia nhiều tầng, nhiều lớp, mộc và libe hậu lập có thể lên đến 5-6 lớp ở thân cây bệnh trong khi cây sạch chỉ có 1 lớp

2.2.5 Tác nhân gây bệnh

Bệnh VLG trên thế giới hiện nay do ba dòng vi khuẩn gây ra là vi khuẩn dòng

châu Á Candidatus Liberibacter asiaticus, vi khuẩn dòng châu Phi Candidatus

Liberibacter africanus và vi khuẩn dòng châu Mỹ Candidatus Liberibacter americanus Dòng vi khuẩn gây bệnh ở Nam Phi mẫn cảm với nhiệt độ và chỉ biểu

hiện triệu chứng ở nhiệt độ khoảng 22 – 24 0C, trong khi đó vi khuẩn dòng châu Á thích hợp nhiệt độ nóng ẩm (khoảng 27 – 32 0C) hoặc mát mẻ, bởi do đặc tính như vậy nên được gọi là dòng chống chịu nhiệt (Bové, J M, 2006)

Vi khuẩn dòng châu Á Candidatus Liberibacter asiaticus gây bệnh VLG ở Việt

Nam có hai dạng là hình que và hình cầu Dạng hình que với nhiều tế bào chất, kích thước 350 - 500 x 660 - 1500 nm, tế bào chất được bao xung quanh bởi 2 lớp màng, bao gồm màng tế bào dày khoảng 20 - 25 nm và lớp màng trong của tế bào chất dày 7,5 nm Thân chính của vi khuẩn có dạng tinh thể, roi mềm dẻo (100 - 550 x 500 -

2500 nm) đối với những tế bào vi khuẩn còn non còn tế bào già thì có màng nguyên

Trang 23

sinh chất dày đặc Dạng hình cầu với đường kính khoảng 600 - 800 nm, màng tế bào chất mỏng (Huang, A L, 1987)

Vi khuẩn Candidatus Liberibacter asiaticus là vi khuẩn kí sinh bắt buộc trong mạch libe, làm tổn thương mạch libe (Kim và ctv., 2009) và lượng lớn tinh bột tích lũy trên lá của những cây nhiễm (Schneider, 1986; Takushi và ctv., 2007), sự vận chuyển sản phẩm quang hợp từ lá đến rễ của cây bệnh có thể bị ức chế (Ogata và ctv., 2010)

Theo Nguyễn Thanh Bình và ctv (2004 ), vi khuẩn Candidatus liberibacter

asiaticus ký sinh trong mạch libe cây cam sành gây ra hiện tượng tầng phân sinh libe

mộc phân chia bất thường trong thân và làm rối loạn chức năng dẫn truyền của hệ thống mạch dẫn và tạo ra sự hóa gỗ sớm trong thân cây gây ức chế sự trao đổi chất, nước và muối khoáng, ức chế quá trình quang tổng hợp ở lá làm cho cây cam sành không thể tăng trưởng được nữa

2.2.6 Sự lây nhiễm của bệnh VLG

Bệnh VLG không truyền qua hạt giống Bệnh lây lan chủ yếu thông qua nhân

giống vô tính và lan truyền thông qua RCC dòng châu Á - Diaphorina citri (Hung, S

C 2006)

Hình 2.1: Vi khuẩn Candidatus Liberibacter asiaticus

(Nguồn: Viện cây ăn quả miền Nam)

Trang 24

2.2.7 Chẩn đoán bệnh Greening bằng phương pháp PCR

Phương pháp PCR (Polymerase Chain Reaction) là một phản ứng tổng hợp dây chuyền nhờ polymerase do Karl Mullis và cộng sự phát minh năm 1985 Là một phương pháp tạo dòng DNA in vitro, không cần sự hiện diện của tế bào Dưới tác động của polymerase, nó khuếch đại trình tự DNA nằm giữa hai đoạn mồi (primer) Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong nhiều phòng thí nghiệm trên thế giới (Lê Thị

Thu Hồng và ctv., 2002)

Quy trình giám định bệnh được tiến hành theo 3 bước như sau:

Bước 1: trích DNA từ gân lá

Bước 2: chạy PCR mẫu DNA bằng máy Thermo cycle

Bước 3: điện di sản phẩm PCR và đọc kết quả dưới tia UV

2.2.7.1 Phương pháp trích DNA

DNA khuôn mẫu được ly trích từ 0,5 g gân lá cây có múi Theo Lê Thị Thu

Hồng và ctv (2002), có nhiều phương pháp trích khác nhau tùy theo yêu cầu về độ

tinh sạch của DNA và điều kiện phòng thí nghiệm như:

• Phương pháp dùng nitơ lỏng và muối NaCl ở nồng độ cao

• Phương pháp sử dụng phenol

• Phương pháp sử dụng bộ kít promega

• Phương pháp sử dụng dung dịch đệm (CTAB: 54,8 mM, Tris- bazơ:100 mM, NaCl: 1,4 M, PVP: 2%, EDTA: 20 mM là phương pháp dễ ứng dụng do thao tác đơn giản hơn, ít độc hại hơn và DNA tương đối tinh sạch)

Nguyên tắc chung của phương pháp trích DNA (Hồ Huỳnh Thùy Dương 2003):

• Nghiền gân lá với dung dịch CTAB có bổ sung 2 - mercaptoethanol Hỗn hợp này sẽ phá vỡ màng tế bào và màng nhân, giải phóng DNA đồng thời phân hủy protein

Trang 25

• Loại bỏ thành phần không mong muốn, chủ yếu là các protein bằng cách lắc thật mạnh trong dung dịch phenol: chloroform Protein bị biến tính sau khi li tâm sẽ tủa thành một lớp nằm giữa pha nước (có chứa nucleic acid) và pha phenol: chloroform Pha nước có chứa nucleic acid sẽ được thu nhận lại (tại phòng thí nghiệm giám định bệnh chỉ sử dụng chloroform)

• Tủa nucleic acid nhằm thu nhận nucleic acid dưới dạng cô đặc bằng isopropanol Ly tâm thu cặn tủa Rửa lại cặn tủa trong ethanol 70% để loại bỏ các muối, isopropanol Hòa tan DNA trong nước cất hai lần, sau đó bảo quản trong tủ đá

2.2.7.2 Tiến trình PCR

PCR được thực hiện trên cơ sở phản ứng sinh tổng hợp DNA theo 3 trình tự sau:

- Biến thành dây đơn

- Phản ứng của primer gắn vào đầu dây chuỗi mã đối xứng với chuỗi mã trên dây template để có phân tử DNA mới

- Kéo dài dây mới nhờ primer

Theo Lê Thị Thu Hồng và ctv (2002), sản phẩm PCR có độ dài khác nhau do

có nhiều cặp đoạn mồi (primers) khác nhau Vi khuẩn Candidatus Liberibacter

asiaticus có các cặp mồi đặc trưng như:

• Cặp mồi A2J5: thực hiện 35 chu kỳ (920C trong 20 giây; 620C trong 20 giây; 750C trong 45 giây; giữ mẫu ở 40C) sẽ cho sản phẩm là 669 bp đối với L

africanus và 703 bp đối với L asiaticus

• 16Sr DNA universal primers: thực hiện 35 chu kỳ (920C trong 45 giây; 720C trong 1 phút 20 giây; giữ mẫu ở 40C ) sẽ cho sản phẩm là 1500 bp

• Ol1, Ol2: thực hiện 45 chu kỳ (560C trong 30 giây; 940C trong 45 giây; 720C trong 30 giây; giữ mẫu ở 40C) sẽ cho sản phẩm là 563 bp

Trang 26

• Cặp mồi nhập từ GS Hong Ji Su (Đại học Đài Loan): thực hiện 35 chu kỳ nhân DNA (940 C trong 1 phút, 600 C trong 1 phút, 720 C trong 2 phút) và cho sản phẩm nhân phân tử DNA là 227bp

Ngoài ra còn có nhiều primer khác như Ol2c / Ol1, Fp / rp và Mho353 / Mho354 cũng rất hữu hiệu và tinh nhạy trong trong chẩn đoán bệnh VLG (Lê Thị Thu

Hồng và ctv., 2002)

2.2.7.3 Điện di sản phẩm PCR và đọc kết quả dưới tia UV

Kết quả PCR được phân tích bằng phương pháp điện di Có nhiều cách điện di như điện di theo phương thẳng đứng với gel polyacrylamide, điện di theo phương ngang với gel agarose Trong giám định bệnh cây, người ta thường chọn điện di với

gel agarose nồng độ 1,2% Theo Lê Thị Thu Hồng và ctv (2002) gel agarose 1,5% và

1 % đều cho kết quả tốt nên có thể sử dụng agarose 1% để tiết kiệm hóa chất

Sau quá trình chạy điện di, gel được nhuộm với ethidium bromide và được quan sát bằng tia UV

M 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 13

Hình 2.2: Kết quả PCR dưới máy chụp UV

(mẫu nghiệm thức Đối chứng ở thí nghiệm 10 ngày sau xử lý thuốc)

M: maker; 13: mẫu nhiễm; 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10: mẫu không nhiễm;

Trang 27

2.2.8 Một số biện pháp phòng trừ bệnh VLG

Hà Minh Trung và ctv (1994) đã đưa ra một số biện pháp để phòng trừ bệnh VLG

như sau:

• Biện pháp lâu dài

- Sản xuất giống cây sạch bệnh VLG để cung cấp cho dân

- Kiểm tra vườn ươm và cấp chứng chỉ giống sạch bệnh được bán

- Nhà vườn nên trồng giống cây sạch bệnh sản xuất qua vi ghép đỉnh sinh trưởng , được nhân trong nhà lưới hai cửa và phải được chứng nhận Không sử dụng giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc

- Phòng trừ tổng hợp RCC

• Biện pháp trước mắt

- Qua hệ thống khuyến nông, chuyển giao đến nông dân chủ vườn, cán bộ

kỹ thuật các hiểu biết về bệnh VLG và các kỹ thuật phòng trừ RCC

- Có biện pháp xử lý thích hợp với các vùng bệnh khác nhau:

+ Vùng dịch: hủy bỏ cây bị bệnh, chuẩn bị đất để trồng vườn mới, phòng trừ triệt để côn trùng môi giới là RCC

+ Vùng nhẹ: chặt bỏ những cây non đã bị bệnh và những cây già bị bệnh nặng Chỉ để lại những cây bị bệnh nhẹ (lác đác một vài nhánh bị bệnh) để chăm sóc, chạy chữa (phun dung dịch ZnMn kết hợp xử lý tetraxyclin)

+ Vùng chưa có bệnh: phòng trừ triệt để RCC, mua giống sạch bệnh ở những vùng chưa có bệnh

- Nghiêm cấm tiêu thụ giống được sản xuất ở những vùng trong ổ dịch hoặc những vùng bị bệnh nhẹ

Trang 28

Rầy chổng cánh - Diaphorina citri xuất hiện ở một số nước vùng Đông Nam Á

và các nước như Ấn Độ, Pakistan, Srilanka, Thái Lan (Nguyễn Thị Chắt, 2006)

Ở miền Nam Việt Nam mật độ RCC Diaphorina citri rất cao và hiện diện hầu như ở khắp nơi (Huynh và ctv., 1995) Trong đó mật số tập trung nhiều ở các tỉnh Cần

Thơ, Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang và Đồng Tháp do thành phần cây ký chủ tại các tỉnh ĐBSCL đa dạng gồm cam, quýt, chanh, bưởi, và nhất là nguyệt quế, đây là cây ký chủ ưa thích của RCC Trong khi đó các tỉnh miền Đông Nam Bộ trồng rãi rác chủ yếu

là bưởi và chanh nên mật số tương đối thấp Huyện U Minh (Cà Mau) và Côn Đảo là không có RCC Các tỉnh có mật số RCC cao nhất là Bến Tre, Cần Thơ, kế đến là Tiền Giang, Vĩnh Long và Trà Vinh (Nguyễn Thị Thanh Vân, 2006)

2.3.2 Ký chủ của Diaphorina citri Kuwayama

Ký chủ chính của RCC Diaphorina citri là cây trồng họ cam quýt (Nguyễn Thị

Chắt, 2006) Trong đó, ký chủ ưa thích của RCC là các loại cây kiểng như cần thăng, nguyệt quế, kim quất, phật thủ, trong đó nguyệt quế là ký chủ được RCC ưa thích nhất (Lê Thị Thu Hồng, 2000)

Nguyệt quế là ký chủ ưa thích nhất của RCC, tuy nhiên ở Đài Loan nguyệt quế

không được xem là ký chủ của vi khuẩn gây bệnh Theo Su và ctv (2010), vi khuẩn

gây bệnh vàng lá Greening ở Đài Loan không nhân mật số và truyền bệnh trong cây nguyệt quế, kết quả giám định PCR cho thấy nguyệt quế không nhiễm bệnh VLG Tuy nhiên, tại bang Sao Paulo – Brazil thì nguyệt quế được xem là nguồn ủ bệnh và được ghi nhận có nhiễm bệnh VLG (Lopes, 2006)

Theo Koizumi và ctv (1996), táo Limonia acidissima cũng là một trong những

kí chủ của RCC

Trang 29

2.3.3 Đặc điểm hình thái của Diaphorina citri Kuwayama

Theo Lê Thị Thu Hồng (2001) trong điều kiện ở ĐBSCL:

RCC trưởng thành nhỏ dài 2,5 – 2,8 mm, đầu nhọn, cơ thể có màu nâu xám, cánh cũng có màu nâu xám xen với những vết trắng vàng, khi đậu phần đuôi cánh nhô cao tạo thành một góc nhọn với mặt phẳng nên được gọi là RCC Rầy trưởng thành có thể sống được tới 3 – 4 tháng

Trứng có hình elip, đầu trứng có mấu gắn vào mô lá, trứng màu vàng tươi, kích thước trứng 0,2 mm Trứng được đẻ rời rạc hay thành từng đám trên các đọt non, lá non Thời gian phát dục trung bình của trứng là 4 ngày

Ấu trùng có 5 tuổi, khi mới nở có màu vàng tươi, kích thước rất nhỏ và rất ít di chuyển; từ tuổi 3 trở đi cơ thể ấu trùng có hình bầu dục dẹp màu thay đổi từ vàng cam đến xám, mầm cánh phát triển che hết một phần cơ thể Kích thước ấu trùng lúc lớn nhất đạt khoảng 2 mm, thời gian phát dục 12 – 13 ngày

2.3.4 Đặc điểm sinh học của Diaphorina citri Kuwayama

Theo Kim và ctv (1997), vòng đời của rầy trên cam mật trung bình là 28,7

ngày, trên kim quýt là 58,2 ngày và trên nguyệt quế là 22 ngày

Hình 2.3: Ấu trùng Diaphorina citri

trên cây chanh tàu nhân nuôi thí nghiệm

Hình 2.4: Thành trùng Diaphorina citri

trên cây chanh tàu nhân nuôi thí nghiệm

Trang 30

Trong phòng thí nghiệm RCC có vòng đời ngắn dao động từ 18,7 – 32,6 ngày, thời gian tiền đẻ trứng 7 – 11 ngày, thời gian đẻ trứng 1 – 9 ngày, một rầy cái có thể đẻ trung bình 284 trứng, cao nhất là 397 trứng và số trứng đẻ tối đa là 73 trứng / ngày Ở ngoài đồng có 7 – 9 lứa rầy trong một năm, thành trùng RCC xuất hiện quanh năm với

tỷ lệ rầy cái luôn chiếm trên 50 % (Hà Minh Trung và ctv., 2001)

Chu kỳ sinh trưởng của rầy có thể kéo dài đến 3 tuần Thành trùng có thể sống được cả tháng, có khả năng chích hút dịch cây và truyền bệnh VLG (Nguyễn Thị Chắt, 2006)

Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, mật số RCC tăng trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 7 và giảm mật số trong giai đoạn từ tháng 10 đến tháng giêng (Nguyễn Minh

Châu và ctv., 2010)

2.3.5 Cách gây hại của Diaphorina citri Kuwayama

Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), RCC chích hút làm ảnh hưởng đến sự phát triển của chồi non Khi mật số cao, sự chích hút của rầy làm cho chồi non bị khô, rụng

lá, gây hiện tượng khô cành, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây và sự ra trái, đồng thời ảnh hưởng đến quá trình quang hợp do mật ngọt của RCC tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển

Sự gây hại quan trọng nhất của RCC tại ĐBSCL là truyền vi khuẩn Candidatus

Liberibacter asiaticus gây bệnh VLG cho các cây có múi Bằng cách sau khi chích hút

trên những cây bị nhiễm bệnh, vi khuẩn Candidatus Liberibacter asiaticus có thể lưu

tồn và nhân mật số trong tuyến nước bọt của RCC, vì vậy sau đó, khi tiếp tục chích hút trên những cây không nhiễm bệnh, RCC sẽ truyền vi khuẩn vào những cây này và truyền bệnh VLG (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

2.3.6 Biện pháp phòng trị

2.3.6.1 Biện pháp canh tác: theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000)

Loại bỏ nguồn bệnh ra khỏi vườn bằng cách nhổ bỏ những cây đã bị nhiễm bệnh

Trang 31

Trồng cây chắn gió xung quanh vườn để ngăn chặn sự tái nhiễm do rầy truyền

từ những cây bệnh xung quanh vườn

Tỉa cành và bón phân thích hợp để điều khiển các đợt đọt non ra tập trung để dễ theo dõi và dễ phát hiện sự hiện diện của RCC

Không nên trồng các loại cây kiểng như cần thăng, nguyệt quế, kim quất trong vườn vì đây là những ký chủ ưa thích của RCC

Nên khử trùng dụng cụ cắt tỉa bằng nước Javel khi chuyển từ cây này qua cây khác để tránh sự lây nhiễm

Nên trồng xen hợp lý với các cây trồng khác như chuối, ổi để tăng thu nhập trong giai đoạn kiến thiết cơ bản và giảm áp lực của rầy truyền bệnh

Dùng bẫy màu vàng treo trong vườn để phát hiện sự xuất hiện của rầy Thường xuyên kiểm tra vườn theo các đợt lá non để xác định sự xuất hiện của rầy và có biện pháp xử lý kịp thời

2.3.6.2 Thiên địch

Theo Huỳnh và ctv (1999) ghi nhận nhện Salticidae và Linyphiidae hiện diện

trên vườn cây có múi đặc biệt vào thời điểm cây ra hoa, đây là thiên địch ăn thịt thành trùng rầy chổng cánh Theo Đức và Lai (1998) ghi nhận có 14 loài ký sinh ấu trùng và thành trùng rầy chổng cánh

Theo Hai và ctv (1999) xác định 2 loài ong ký sinh phổ biến trên RCC là

Diaphorencyrtus aligarhensis và Tamarixia radiata và 4 loài Hyperparasitoids: Chartocerus sp., Marietta leopardina, Tetrasticus sp Và 1 loài chưa định danh Loài Diaphorencyrtus aligarhensis phổ biến hơn loài Tamarixia radiata

Tại ĐBSCL, ngoài hai loài ong ký sinh trên, sự hiện diện của kiến vàng

Oecophylla smaragdina đã góp phần hạn chế cao sự bộc phát của RCC (Nguyễn Thị

Thu Cúc, 2000)

Trang 32

2.3.6.3 Biện pháp hóa học

Có thể sử dụng các loại thuốc hóa học như Bassa 50 EC, Applaud 10 WP, Trebon, Sagomin, Supracid hoặc dầu khoáng (Caltex- Oil / DCO Trion hay DC Tron Plus) để phòng trị (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) DC Tron Plus có hiệu quả phòng trừ RCC tương đối khá và không gây hại ong ký sinh cũng như không ô nhiễm môi trường

(Hà Minh Trung và ctv., 2001)

2.4 Một số kết quả nghiên cứu về biện pháp phòng trừ RCC Diaphorina citri

Kuwayama và bệnh VLG

Theo Nguyễn Minh Châu và ctv (2010), tại ĐBSCL cây cam sành được tập

trung nghiên cứu nhiều hơn vì có giá trị kinh tế cao của vùng Chiến lược quản lý dịch hại tổng hợp – IPM trong quản lý bệnh vàng lá Greening thông qua việc kết hợp kết quả của nhiều nghiên cứu trước đây được đế xuất như sau:

− Quyết định trồng cây có múi dựa vào việc đánh giá rủi ro nhiễm bệnh vàng lá Greening

− Loại bỏ cây nhiễm bệnh trên vườn và những vùng xung quanh, vệ sinh vùng đất

và vườn cây

− Chuẩn bị đất tốt hơn: làm mô cao hơn và rộng hơn, cung cấp nhiều phân hữu cơ

và vô cơ trước khi trồng, vôi để trung hòa độ pH đất, để phơi đất như vậy ít nhất 1 tháng

− Khoảng cách trồng cây tăng lên từ 4 – 5 m, kết hợp việc tỉa cành tạo tán sớm để giúp cây phân tán tốt hơn

− Sử dụng cây sạch bệnh, kết hợp với xử lý thuốc trừ sâu lưu dẫn 10 ngày trước khi trồng, thời gian trồng thích hợp nhất là từ tháng 10 đến tháng 12, vì giai đoạn này

mật số RCC Diaphorina citri Kuwayama thấp

− Trồng xen ổi vào vườn cây có múi nên được thực hiện trước khi trồng cây có múi ít nhất là 6 tháng

− Sử dụng thuốc trừ sâu lưu dẫn thuộc nhóm Neonicotinoids: một trong những loại thuốc sau Imidacloprid, Thiamethoxam hoặc Clothianidin có thể được sử dụng

Trang 33

mỗi 2 tháng 1 lần bằng cách tưới dung dịch thuốc vào xung quanh gốc cây sau khi trồng

− Những loại dịch bệnh khác như côn trùng, bệnh, tuyến trùng cũng cần được chú

ý phòng trừ một cách có hiệu quả để bảo vệ cây tránh bị nhiễm bệnh

− Tăng cường bón phân hữu cơ và vô cơ một cách kịp thời và thích hợp

Trang 34

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian, địa điểm

- Thời gian: đề tài được thực hiện từ giữa tháng 2 / 2011 đến giữa tháng 6/2011

- Địa điểm: đề tài được thực hiện tại khu nhà lưới của Viện cây ăn quả miền Nam thuộc xã Long Định, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang

3.2 Điều kiện tự nhiên và điều kiện khí hậu của tỉnh Tiền Giang

Tỉnh Tiền Giang có diện tích là 236.663,24 ha trải dài từ Tây sang Đông theo

tả ngạn sông Tiền Tiền Giang có 4 nhóm đất chính, trong đó nhóm đất phù sa có diện tích lớn nhất, chiếm 52,99% diện tích tự nhiên (123.949 ha), phân bố dọc theo bờ của sông Tiền và sông Vàm Cỏ Tây, chiếm phần nhiều diện tích của huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo, thành phố Mỹ Tho và một phần huyện Gò Công Tây 3

nhóm đất còn lại là nhóm đất phèn chiếm 19,36% diện tích đất tự nhiên với 45.298

ha, nhóm đất mặn với 34.143 ha (chiếm 14,59% diện tích tự nhiên) và nhóm đất cát

chiếm 1,44% diện tích tự nhiên với 7.152 ha

Khí hậu Tiền Giang mang tính chất nhiệt đới, gió mùa cận xích đạo, có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng Tiền Giang có lợi thế là chế độ nhiệt cao và ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Nhiệt độ trung bình trong năm

là 26,60C Sự chênh lệch độ ẩm qua các tháng không lớn, độ ẩm trung bình tháng thay đổi từ 76,7% (tháng 3) đến 87,3% (tháng 9), độ ẩm trung bình trong năm là 82,7%

Lượng mưa năm trung bình năm vào khoảng 1.100 mm đến 1.400 mm và khá

ổn định qua các năm Trong năm, lượng mưa phân bổ không đồng đều, hình thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa gắn với gió mùa Tây Nam, bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10 Lượng mưa mùa mưa chiếm 86% đến 90% lượng mưa năm và khá ổn định qua các năm Mùa khô gắn liền với mùa gió mùa Đông Bắc ít

Trang 35

ẩm, bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4 năm sau Lượng mưa mùa khô chỉ chiếm từ 10% đến 14% tổng lượng mưa cả năm và có sự biến động khá lớn qua các năm

Biểu đồ 3.1 Nhiệt độ trung bình và ẩm độ trung bình từ tháng

2/2011 – 6/2011 ở huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang (Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia – Đài khí tượng thủy

văn khu vực Nam Bộ, 2011)

Trang 36

1 7

Biểu đồ 3.2 Lượng mưa trung bình từ tháng 2 / 2011 – 6 / 2011 ở

huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang (Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn Quốc gia – Đài khí tượng

thủy văn khu vực Nam Bộ, 2011)

Trang 37

3.3 Vật liệu nghiên cứu

1- Cây giống: cây giống cam sành sạch bệnh ghép trên gốc chanh Volka

(Citrus Volkameriana)

2- Mẫu lá cây giống cam sành

3- Rầy chổng cánh (Diaphorina citri Kuwayana) từ quá trình nhân nuôi

4- Thuốc trừ sâu

5- Hóa chất cần thiết trong quá trình ly trích DNA:

• Dung dịch CTAB 2%:

100ml Tris – HCl 40ml EDTA

• Kít Pure Taq Ready To Go

7- Hoá chất cần thiết cho quá trình chạy điện di:

Trang 38

3.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Rầy chổng cánh (Diaphorina citri Kuwayama)

- Máy điện di

- Máy chụp mẫu UV

- Máy nghiền

Trang 39

3.4 Nội dung nghiên cứu

Đánh giá hiệu lực và khả năng làm giảm tỷ lệ nhiễm bệnh VLG của 5 loại thuốc trừ sâu phòng trừ rầy chổng cánh trên cây giống cam sành trong nhà lưới

3.5 Phương pháp nghiên cứu

3.5.1 Nhân mật số rầy chổng cánh

Quá trình nhân nuôi mật số rầy chổng cánh được tiến hành ở ngoài đồng trên

cây chanh tàu Citrus limonia 9 năm tuổi được trồng tại ấp Hòa Bình, xã Hòa Tịnh,

huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

Thu mẫu lá từ các cây chanh để kiểm tra bệnh VLG bằng phương pháp PCR, sau đó tiến hành nhân nuôi rầy trên những cây đã được xác định nhiễm bệnh VLG để thu thế hệ rầy F1 nhiễm bệnh

Trên cây chanh, chọn những cành nhánh khỏe, có khả năng ra đọt non nhanh, ít

bị che bóng, đón được nhiều ánh sáng và phù hợp với kích thước lồng lưới (lồng lưới hình trụ có kích thước đường kính 35cm, chiều dài 75 cm) Cắt đọt của các cành nhánh này một đoạn dài 20 cm và lặt bỏ bớt một số lá rồi tiến hành bao phủ lồng lưới, 7-10 ngày sau khi cắt đọt thấy xuất hiện các đọt non trên cành đã được bao phủ lồng lưới thì tiến hành thả thành trùng RCC vào lồng lưới

Hình 3.1: Kết quả PCR các cây chanh tàu nhiễm bệnh VLG

Ngày đăng: 10/06/2018, 21:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w