Bảng 2.3 Thành phần hóa học của một số loại nấm Đơn vị tính: trên 100g nấm khô, * tính trên 100g nấm tươi, - chưa xác định Thành phần Loại nấm Nấm rơm Nấm mèo Nấm bào ngư Nấm hương Nấm m
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG TĂNG TRƯỞNG CỦA NẤM BÀO
NGƯ (Pleurotus sp) TRÊN MÔI TRƯỜNG BÃ MÍA,
VỎ TRẤU CÓ BỔ SUNG CaCO3
Họ và tên sinh viên: ĐỖ THỊ TỐ LOAN Ngành: NÔNG HỌC
Niên khóa: 2007 – 2011
Tháng 08 / 2011
Trang 2NGƯ (Pleurotus sp.) TRÊN MÔI TRƯỜNG BÃ MÍA,
VỎ TRẤU CÓ BỔ SUNG CaCO3
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Con kính gửi lời biết ơn sâu sắc đến bố mẹ và những người thân yêu trong gia đình đã luôn ở bên con, giúp đỡ con vượt qua khó khăn, động viên con học tập thật tốt
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Ban Giám Hiệu cùng quý thầy cô Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức chuyên môn, những kinh nghiệm quý báu và tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường
Em xin chân thành biết ơn cô Phạm Thị Ngọc đã trực tiếp hướng dẫn và giúp
đỡ em trong suốt thời gian vừa qua để em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn tập thể lớp Nông Học 33B cùng các anh chị, bạn bè đã
hỗ trợ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập, thực hiện đề tài
Đồng gửi lời cảm ơn đến anh chị Nguyễn Văn Ánh (chủ trại nấm bào ngư Văn Ánh) đã nhiệt tình giúp đỡ, truyền đạt kinh nghiệm cho em khi thực hiện đề tài
Sinh Viên thực hiện
Đỗ Thị Tố Loan
Trang 4TÓM TẮT
ĐỖ THỊ TỐ LOAN, Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, tháng
08/2011, “Khảo sát khả năng tăng trưởng của nấm bào ngư Pleurotus sp trên môi
trường bã mía, vỏ trấu có bổ sung CaCO3”
Giáo viên hướng dẫn: ThS PHẠM THỊ NGỌC
Đề tài đã được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 02/2010 đến 06/2010 tại nhà (ấp Vĩnh Tiến, xã Vĩnh Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương), nhằm khảo sát khả năng tăng trưởng của nấm bào ngư trên môi trường bã mía, vỏ trấu và xác định mức CaCO3 bổ sung vào giá thể để điều chỉnh pH môi trường cho phù hợp
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên hai yếu tố, 10 nghiệm thức, 3 lần lặp lại Các nghiệm thức:
NT A1B1: 100 % bã mía, không bổ sung CaCO3
NT A2B1: 75 % bã mía + 25 % vỏ trấu, không bổ sung CaCO3
NT A3B1: 50 % bã mía + 50 % vỏ trấu, không bổ sung CaCO3
NT A4B1: 25 % bã mía + 75 % vỏ trấu, không bổ sung CaCO3
NT A5B1: 100 % vỏ trấu, không bổ sung CaCO3
NT A1B2: 100 % bã mía, bổ sung 2% CaCO3
NT A2B2: 75 % bã mía + 25 % vỏ trấu, bổ sung 2% CaCO3
NT A3B2: 50 % bã mía + 50 % vỏ trấu, bổ sung 2% CaCO3
NT A4B2: 25 % bã mía + 75 % vỏ trấu, bổ sung 2% CaCO3
NT A5B2: 100 % vỏ trấu, bổ sung 2% CaCO3
Bố trí thí nghiệm trên cơ chất (bã mía, vỏ trấu + cám gạo + CaCO3) Kết quả thí nghiệm đã cho thấy:
Về khả năng tăng trưởng và năng suất:
- Sử dụng cơ chất 100% bã mía thì động thái phát triển chiều dài tơ tốt nhất, thời gian tơ phủ kín bịch ngắn nhất, thời gian ra quả thể nhanh nhất, số quả thể/chùm nhiều nhất, mức bổ sung 2% CaCO3 vừa cho năng suất cao mà chi phí đầu tư thấp và hiệu quả kinh tế cao
Trang 5- Đối với công thức phối trộn, công thức A2B1 (75% bã mía + 25% vỏ trấu + 0% CaCO3) và công thức phối trộn A1B2 (100% bã mía + 2% CaCO3) cho năng suất cao hơn các công thức phối trộn còn lại
Về kinh tế, NT A2B1 mang lại lợi nhuận cao nhất nhưng NT A1B2 có hiệu quả kinh tế hơn
Về tình hình sâu bệnh, trong thời gian thực hiện thí nghiệm, có sự xuất hiện của nấm mốc xanh ở NT A1B1 và bị ấu trùng ruồi tấn công ở NT A1B1 và NT A3B1
Tóm lại, trong các công thức phối trộn của thí nghiệm thì công thức A2B1 (75% bã mía, 25% vỏ trấu + 0% CaCO3) cho năng suất cao hơn các công thức phối trộn còn lại, công thức phối trộn A1B2 (100% bã mía + 2% CaCO3) có hiệu quả kinh
tế nhất
Trang 6MỤC LỤC
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH SÁCH CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG ix
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu đề tài 2
1.3 Yêu cầu 2
1.4 Phạm vi đề tài 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Giới thiệu chung về nấm ăn 3
2.2 Giá trị dinh dưỡng của nấm 3
2.3 Giá trị dinh dưỡng của nấm 5
2.4Tình hình sản xuất nấm trên thế giới và ở Việt Nam 6
2.4.1 Tình hình sản xuất nấm trên thế giới 6
2.4.2 Tình hình sản xuất nấm ở Việt Nam 7
2.5 Những thuận lợi và khó khăn trong nghề trồng nấm ở Việt Nam 9
2.5.1 Thuận lợi 9
2.6 Giới thiệu chung về nấm bào ngư 11
2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của nấm bào ngư 11
2.8 Giá trị dược liệu của nấm bào ngư 14
2.9 Nguyên liệu trồng nấm bào ngư 14
2.10 Tình hình nghiên cứu về nấm bào ngư 16
2.11 Kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch nấm bào ngư 17
2.11.1 Chuẩn bị nguyên liệu 17
2.11.2 Chuẩn bị sinh khối 18
2.11.3 Chăm sóc, thu hoạch và chế biến 18
2.11.4 Sâu bệnh hại nấm 18
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 20
3.2 Điều kiện thời tiết trong thời gian thực hiện thí nghiệm 20
3.3 Vật liệu thí nghiệm 21
3.3.1 Giống 21
3.3.2 Nguyên liệu trồng nấm 21
3.3.3 Các dụng cụ, thiết bị thí nghiệm 21
3.4 Phương pháp thí nghiệm 21
3.5 Qui trình thực hiện 22
3.6 Phương pháp thu thập số liệu và các chỉ tiêu theo dõi 22
3.6.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng 22
3.6.2 Chỉ tiêu năng suất 23
3.6.3 Hiệu quả kinh tế 23
3.7 Phương pháp xử lý số liệu 23
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
Trang 74.1 Kết quả theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng 24
4.1.1 Động thái phát triển chiều dài sợi tơ 24
4.1.2 Tốc độ tăng trưởng chiều dài sợi tơ nấm 27
4.1.3 Phần trăm số bịch phôi có tơ phủ trắng ở giai đoạn 25 NSC 28
4.1.4 Thời gian tơ nấm ăn trắng bịch phôi 29
4.1.5 Thời gian ra quả thể 30
4.1.6 Số chùm quả thể trên bịch 30
4.1.7 Số quả thể trên chùm 31
4.1.8 Trọng lượng trung bình một chùm quả thể 32
4.1.9 Tình hình sâu bệnh 33
4.3 Hiệu quả kinh tế 36
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 37
5.1 Kết luận 37
5.2 Đề nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
PHỤ LỤC 41
Trang 8
NSLT Năng suất lý thuyết
NSÔTN Năng suất ô thí nghiệm
NSTT Năng suất thực thu
NT Nghiệm thức
TLQTTB Trọng lượng quả thể trung bình
Vit Vitamin
Trang 9DANH SÁCH CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 1: Chùm quả thể nấm của các nghiệm thức 41
Hình 2: Chùm quả thể nấm của các nghiệm thức (tt) 42
Hình 3: Chùm quả thể nấm của các nghiệm thức (tt) 43
Hình 4: Nấm mốc xanh ở nghiệm thức A1B1 44
Hình 5: Nấm thu hoạch được từ các nghiệm thức 45
Đồ thị 1: Động thái tăng trưởng chiều dài sợi tơ nấm 46
Đồ thị 2: Tốc độ tăng trưởng chiều dài sợi tơ nấm 46
Biểu đồ 3: Năng suất của các nghiệm thức 47 Biểu đồ 4: Diễn biến nhiệt độ từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2011 tại tỉnh Bình Dương 47
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tỉ lệ phần trăm so với chất khô 4
Bảng 2.2: Hàm lượng vitamin và chất khoáng 4
Bảng 2.3 Thành phần hóa học của một số loại nấm 5
Bảng 2.4: Thành phần amino acid 5
Bảng 2.5: Sản lượng nấm ăn trên thế giới từ năm 1975 – 1986 7
Bảng 2.6 Sản lượng nấm ăn trên thế giới từ năm 1990 – 1997 7
Bảng 2.7 Thành phần acid amin trong một số loài nấm bào ngư 13
Bảng 2.8Hàm lượng vitamine của một số loài nấm bào ngư 13
Bảng 2.9 Hàm lượng nguyên tố vi lượng trong một số loài nấm bào ngư 14
Bảng 3.1 Các yếu tố thời tiết 20
Bảng 4.1 Động thái phát triển chiều dài sợi tơ nấm của các nghiệm thức (cm) 24
Bảng 4.2 Tốc độ tăng trưởng chiều dài sợi tơ nấm (cm / ngày) 27
Bảng 4.3 Phần trăm số bịch phôi có tơ phủ trắng ở giai đoạn 25 NSC (%) 28
Bảng 4.4 Thời gian tơ nấm ăn trắng bịch phôi (ngày) 29
Bảng 4.5 Thời gian ra quả thể (ngày) 30
Bảng 4.6 Số chùm quả thể trên bịch (chùm) 31
Bảng 4.7 Số quả thể trung bình của một chùm (quả thể) 32
Bảng 4.8 Trọng lượng trung bình một chùm quả thể (g) 32
Bảng 4.9 Năng suất của các nghiệm thức 34
Bảng 4.10 Tổng chi, tổng thu, lợi nhuận của các nghiệm thức 36
Trang 11Từ xa xưa, con người đã biết sử dụng nấm ăn làm thực phẩm nhưng chỉ hái nấm mọc tự nhiên nên hầu như nấm được xem như một món ăn dành cho giới quý tộc
Khoảng gần 25 năm trở lại đây, ở nước ta đã xuất hiện nghề trồng nấm và nghề này cũng trải qua nhiều thăng trầm nhưng vẫn có những bước phát triển khá tốt
Trồng nấm ăn là nghề mang lại hiệu quả kinh tế vì chỉ với diện tích nhỏ vẫn có thể cho thu nhập cao, đầu tư thấp, vòng quay vốn nhanh, nguyên liệu rẻ và dồi dào Trong đó, nấm bào ngư là một loại nấm ăn dễ trồng, cho năng suất cao, phẩm chất ngon và còn có cả tính chất dược liệu
Tuy nhiên, hiện nay nghề trồng nấm ở nước ta còn chưa tận dụng hết nguồn nguyên liệu sẵn có Đa số người dân mới chỉ sử dụng nguyên liệu là mùn cưa, rơm rạ
để trồng nấm Trong khi đó, lượng bã mía rất lớn được thải ra từ các nhà máy đường
và bã mía ép lấy nước uống vẫn chưa được quan tâm tận dụng, như vậy vừa lãng phí vừa gây ô nhiễm môi trường Ngoài ra, vỏ trấu cũng là nguồn nguyên liệu có thể trồng nấm ăn và nên được tận dụng tối đa
Vì vậy, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Nông học - Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của cô Phạm Thị Ngọc, tôi
thực hiện đề tài: “Khảo sát khả năng tăng trưởng của nấm bào ngư Pleurotus sp trên
môi trường bã mía, vỏ trấu có bổ sung CaCO3”
Trang 12Ghi chép số liệu đầy đủ và chính xác trong quá trình nghiên cứu
1.4 Phạm vi đề tài
Thời gian thực hiện từ tháng 02 năm 2011 đến tháng 06 năm 2011
Đề tài được nghiên cứu tại nhà (ấp Vĩnh Tiến, xã Vĩnh Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương)
Trang 13Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu chung về nấm ăn
Nấm được xếp vào một giới riêng vì có sự khác biệt với động vật và thực vật về khả năng quang hợp, dinh dưỡng và sinh sản
Theo Nguyễn Lân Dũng (2002), giới nấm có rất nhiều chủng loại nhưng con người mới chỉ biết đến một số loại để phục vụ cho cuộc sống Các nấm ăn thuộc ngành phụ Nấm túi (Ascomycotina) và ngành phụ Nấm đảm (Basidimomycotina)
Nấm không thể sống tự dưỡng (autotroph) mà phải sống dị dưỡng (heterotroph) nhờ các chất hữu cơ có sẵn vì chúng không có khả năng quang hợp như thực vật Đa
số các nấm ăn sống hoại sinh tức là sống trên chất hữu cơ chết Tuy nhiên có số ít nấm
ăn có đời sống kí sinh trên cơ thể sống
Tế bào nấm không có đời sống độc lập trong sợi nấm vì giữa các tề bào có vách ngăn mà vách ngăn lại có lỗ thủng Thông qua các lỗ thủng, chất nguyên sinh có thể di chuyển dễ dàng trong sợi nấm Ngay nhân tế bào có khi cũng thắt nhỏ lại để chui qua được các lỗ này, sợi nấm trở thành một ống sống Ở đầu sợi nấm, nơi thực hiện quá trình tăng trưởng, chất nguyên sinh thường tập trung dày đặc
Nấm ăn có cấu trúc chủ yếu là hệ sợi nấm Các sợi nấm ăn có dạng ống tròn Với cấu trúc sợi, tơ nấm len lỏi sâu vào trong cơ chất (rơm rạ, mạt cưa, gỗ) lấy thức ăn đem nuôi toàn bộ cơ thể nấm
2.2 Giá trị dinh dưỡng của nấm
Theo Nguyễn Hữu Đống và ctv (2003), nấm ăn là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Hàm lượng protein (đạm thực vật) chỉ sau thịt, cá, giàu chất khoáng
và các acid amine không thay thế, các vitamine A, B, C, D, E v.v không có độc tố
Có thể coi nấm ăn như một loại ‘‘rau sạch’’, ‘‘ thịt sạch’’
Trang 14Ngoài giá trị dinh dưỡng, nấm ăn còn có những đặc tính của biệt dược, có khả
năng phòng và chữa bệnh như làm hạ huyết áp, chống béo phì, chữa bệnh đường ruột,
tẩy máu xấu (Nguyễn Hữu Đống và ctv, 2003)
Giá trị dinh dưỡng của nấm được thể hiện qua các bảng dưới đây
Bảng 2.1: Tỉ lệ phần trăm so với chất khô
Đơn vị tính: %
Độ ẩm (W)
Protein Lipid Carbo-
Nguồn: Nguyễn Hữu Đống và ctv, 2003
Bảng 2.2: Hàm lượng vitamin và chất khoáng
Đơn vị tính: mg/100g chất khô Acid
nicotinic
Ribo- flavin
Thia- min
ascorbic
Acid-Iron Calcium Phospho
Trang 15Bảng 2.3 Thành phần hóa học của một số loại nấm
Đơn vị tính: trên 100g nấm khô, (*) tính trên 100g nấm tươi, (-) chưa xác định Thành phần Loại nấm
Nấm rơm Nấm mèo Nấm bào ngư Nấm hương Nấm mỡ
Nguồn: Nguyễn Hữu Đống và ctv, 2003
2.3 Giá trị dinh dưỡng của nấm
Nấm không những ăn ngon, có giá trị dinh dưỡng cao mà lại không gây xơ cứng động mạch và không làm tăng cholesteron trong máu như nhiều loại thịt động vật (Bộ NN – PTNT, 2009)
Trang 16Trong nấm có chứa acid folic có khả năng giúp phòng và chữa bệnh thiếu máu, retine làm chậm sự phát triển của tế bào ung thư, glucan (từ thành phần cấu tạo vách tế bào nấm) hay leutinan (trích từ nấm đông cô) cũng có khả năng làm chậm sự phát triển
tế bào ung thư Nấm còn chứa ít natri nên tốt cho nhứng người bị bệnh thận và suy tim
có biến chứng phù (Bộ NN – PTNT, 2009)
Đã có những nghiên cứu cho biết nấm có khả năng tăng cường miễn dịch của
cơ thể, kháng ung thư, kháng virus, dự phòng và trị bệnh tim mạch, giải độc và bảo vệ gan, kiện tỳ dưỡng vị, hạ đường máu và chống phóng xạ, thanh trùng các gốc tự do và chống lão hóa (Bộ NN – PTNT, 2009)
2.4Tình hình sản xuất nấm trên thế giới và ở Việt Nam
2.4.1 Tình hình sản xuất nấm trên thế giới
Trên thế giới, ngành sản xuất nấm ăn đã hình thành và phát triển từ hàng trăm năm nay
Hiện nay, đã ghi nhận được khoảng 2000 loài nấm ăn, trong đó có 80 loài nấm
ăn ngon và được nghiên cứu nuôi trồng (UNESCO, 2004)
Ở Châu Âu, trồng nấm đã trở thành một ngành công nghiệp lớn và đang dần được cơ giới hoá hoàn toàn nên năng suất và chất lượng rất cao
Khu vực Châu Á, trồng nấm vẫn còn mang tính chất thủ công, năng suất chưa cao nhưng nhờ vào số đông hộ sản xuất nên tổng sản lượng lớn
Các dạng nấm xuất khẩu: nấm đóng hộp, nấm đông lạnh, nấm tươi, nấm muối, nấm sấy khô, các thực phẩm chế biến từ nấm… Theo ông Bạch Quốc Khang - Chánh văn phòng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, mỗi năm, thế giới có nhu cầu trên
20 triệu tấn sản phẩm nấm, và xu hướng này đang tăng với tốc độ 3,5% Thị trường tiêu thụ nấm ăn lớn nhất hiện nay là: Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan và các nước châu Âu Mức tiêu thụ bình quân tính theo đầu người của châu Âu, châu Mỹ là 2 - 3 kg/năm; Nhật, Đức khoảng 4 kg/năm (Bộ NN – PTNT, 2009)
Nấm bào ngư được nuôi trồng rộng rãi trên thế giới Ở Châu Âu, nấm bào ngư được trồng ở Hungary, Đức, Pháp, Ý, Hà Lan Ở Châu Á, nấm bào ngư được trồng ở Trung Quốc với sản lượng rất cao (khoảng 12 nghìn tấn mỗi năm) Ngoài Trung Quốc, nấm bào ngư còn được trồng ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ (Nguyễn Lân Dũng, 2002)
Trang 17Bảng 2.5: Sản lượng nấm ăn trên thế giới từ năm 1975 – 1986
Đơn vị tính : nghìn tấn nấm tươi/năm Tên loài Tên thường gọi Năm 1975 Năm 1979 Năm 1986
Nguồn: Nguyễn Hữu Đống và ctv, 2003
Bảng 2.6 Sản lượng nấm ăn trên thế giới từ năm 1990 – 1997
Đơn vị tính : nghìn tấn nấm tươi/năm
Nguồn : Lê Duy Thắng, 2001
2.4.2 Tình hình sản xuất nấm ở Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu và phát triển sản xuất nấm ăn ở Việt Nam bắt đầu từ những
năm 70 của thế kỉ trước Tuy nhiên, chỉ hơn 10 năm trở lại đây, trồng nấm mới được
xem như là một nghề mang lại hiệu quả kinh tế
Tổng sản lượng các loại nấm ăn và nấm dược liệu của Việt Nam hiện nay
khoảng trên 150000 tấn/năm Kim ngạch xuất khẩu khoảng 60 triệu USD năm (Bộ NN
– PTNT, 2009)
Theo Bộ NN – PTNT (2009), nước ta hiện đang nuôi trồng 6 loại nấm phổ biến,
phân bố ở các địa phương như sau :
Trang 18Nấm rơm trồng ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (Đồng Tháp, Sóc Trăng, Cần Thơ, Trà Vinh v.v ) chiếm 90% sản lượng nấm rơm của cả nước
Nấm mèo trồng ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ, chiếm 50% sản lượng nấm mèo
Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển nghề trồng nấm, trong đó, lượng rơm
rạ 20 - 30 triệu tấn/năm đủ để sản xuất được 2 triệu tấn nấm tươi tương đương 1 tỷ USD, thậm chí, nếu chế biến thành đồ hộp thì giá trị thu về còn cao hơn nữa Tuy nhiên, giá nấm xuất khẩu của Việt Nam chỉ bằng 60% so với sản phẩm cùng loại được sản xuất tại Thái Lan, Trung Quốc Nguyên nhân là do nguồn nguyên liệu không đảm bảo về chất lượng, sản phẩm không đồng đều về kích thước, mẫu mã và nhất là nấm ăn Việt Nam vẫn chưa có thương hiệu trên thị trường thế giới Trên thực tế, các nhà xuất khẩu nấm Việt Nam phải để các doanh nghiệp nước ngoài chế biến và đóng gói lại sản phẩm của mình với nhãn mác mới, tiếp tục bán ra thị trường với giá cao hơn Rõ ràng, việc tạo dựng thương hiệu cho nấm vẫn đang là bài toán chưa có lời giải (Minh Huệ, 2010)
Từ năm 2002, Việt Nam đã xuất khẩu sang thị trường châu Mỹ, so với trước đây là chỉ Đài Loan, Malaysia và Thái Lan Việc mở được thị trường này đã làm cho
Trang 19doanh số các nhà máy đóng hộp đóng tại phía Nam tăng vọt (50%), và đặc biệt, không còn bị khống chế giá trong mùa nấm của các nước trên (Hà Yên, 2010)
Nấm rơm Việt Nam bắt đầu xuất khẩu từ cuối những năm 80 của thế kỉ trước, sản lượng ban đầu là 2500 tấn/năm Đến năm 2002 XK tăng lên 40000/năm, đạt kim ngạch 40 triệu USD Hiện nay nhu cầu tiêu dùng thế giới cần hơn 20 triệu tấn nấm/năm, tốc độ tăng 3,5% Thị trường tiêu thụ cao nhất là Mỹ, Nhật, Đài Loan và các nước EU (Hữu Đức, 2009)
Dự kiến năm 2010 sản lượng nấm nước ta đạt trên 1 triệu tấn/năm sử dụng khoảng 6 triệu tấn phế phụ phẩm trong nông nghiệp cho nuôi trồng nấm, chế biến được trên 50% tổng sản lượng nấm sản xuất ra dưới dạng nấm muối, nấm sấy, nấm hộp Tổng giá trị sản phẩm đạt 7.000 tỉ đồng/năm, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 200 triệu USD mỗi năm (Hà Yên, 2010)
2.5 Những thuận lợi và khó khăn trong nghề trồng nấm ở Việt Nam
2.5.1 Thuận lợi
Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (2009), nghề trồng nấm ở nước
ta có những thuận lợi sau :
Nguồn nguyên liệu rẻ tiền, dễ kiếm và dồi dào : phế liệu của nông nghiệp như
cỏ dại, rơm rạ, mùn cưa, thân cây, lõi bắp, thân cây đậu, bã mía, vụn bông vải, lục bình v.v
Vốn đầu tư không cao, tùy thuộc vào mô hình sản xuất
Vòng quay vốn nhanh do chu kì sản xuất ngắn Ví dụ như nấm rơm thu hoạch
15 – 20 ngày sau trồng, nấm mèo thu hoạch sau 2- 2,5 tháng sau trồng
Hiệu quả sử dụng đất cao do có thể sử dụng giàn kệ nhiều tầng để trồng
Giá trị kinh tế cao : có nhiều loại nấm có giá trị xuất khẩu như nấm rơm, nấm bào ngư, nấm hương v.v
Lao động trồng nấm nhẹ nhàng, có thể tận dụng thời gian nhàn rỗi, tận dụng mọi nguồn lao động
Tiêu tốn ít nước hơn so với nhiều loại cây trồng
Bã phế liệu sau khi trồng nấm có thể dùng làm phân hữu cơ cho cây trồng Trồng nấm góp phần bảo vệ môi trường do tận dụng nguồn phế liệu nông nghiệp, lâm nghiệp và không có mùi hôi thối
Trang 202.5.2 Khó khăn
Hiện nay nghề trồng nấm đã phổ biến hơn ở nước ta Tuy nhiên, nghề này vẫn chưa thực sự đạt được hiệu quả xứng với tiềm năng có được, cũng chưa áp dụng phổ biến kỹ thuật sản xuất thâm canh để đạt năng suất cao, chất lượng tốt Đây là vấn đề cần được giải quyết từ nhiều nguyên nhân khó khăn Theo Nguyễn Hữu Đống và ctv (2003), những nguyên nhân chưa thành công của nghề trồng nấm ở nước ta là :
- Việc tổ chức sản xuất nấm của các đơn vị chuyên doanh nấm còn nhiều yếu kém (về giống nấm, kỹ thuật nuôi trồng, chế biến, hợp đồng xuất khẩu)
- Các thiết bị, công nghệ nuôi trồng nấm nhập khẩu của nước ngoài chưa hoàn toàn phù hợp với Việt Nam về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội : giá thành 1kg nấm sản xuất theo công nghệ Đài Loan và Italia cao hơn nhiều so với giá thành 1kg nấm sản xuất bình thường của các hộ nông dân
- Công tác nghiên cứu về công nghệ chọn tạo giống, công nghệ nuôi trồng và chế biến nấm đạt năng suất cao, giá thành thấp ; công nghệ bảo quản, chế biến nấm đạt chất lượng ở các trung tâm nghiên cứu và cơ sở sản xuất chưa được chú trọng
- Việc tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn về giá trị dinh dưỡng và cách ăn nấm trên các phương tiện thông tin đại chúng còn quá ít, phần lớn người Việt Nam vẫn còn chưa biết đến những loại nấm như nấm mỡ, kim châm, đùi gà, ngọc trâm, bào ngư v.v
- Hiện tượng ‘tranh mua, tranh bán’ đối với các cơ quan chức năng làm công tác xuất khẩu nấm đã diễn ra Nhà nước chưa có hệ thống tổ chức chỉ đạo tổng thể từ
cơ quan nghiên cứu đến cơ sở sản xuất, xuất khẩu nấm
Bên cạnh đó, còn có những nguyên nhân như: thời tiết không ổn định, người dân thường khó xác định được nguyên nhân gây bệnh ở nấm, đòi hỏi kỹ thuật cao trong khâu sản xuất giống, nấm tươi cần phải tiêu thụ nhanh vì điều kiện bảo quản chế biến chưa tốt
Trong tư tưởng, nhiều nông dân vẫn chỉ xem đây là nghề phụ nên chưa chú trọng việc đầu tư sản xuất thâm canh, hoặc không đủ vốn đầu tư
Trang 212.6 Giới thiệu chung về nấm bào ngư
Theo Nguyễn Lân Dũng (2002), nấm bào ngư có:
Tên khoa học: Pleurotus sp
Tên khác: Nấm sò, nấm hương chân ngắn, nấm bình cô
Giới: Fungi hay Mycota
Theo Nguyễn Hữu Đống và ctv (2003), nấm bào ngư có nhiều loại khác nhau
về màu sắc, hình dạng, khả năng thích nghi với điều kiện nhiệt độ Nấm có dạng hình phễu lệch, mọc thành cụm tập trung bao gồm 3 phần: mũ, phiến và cuống
Trong điều kiện tự nhiên, đến giai đoạn trưởng thành nấm bào ngư sẽ phát tán bào tử nhờ gió, bào tử rải ra khắp mọi nơi, gặp điều kiện môi trường thích hợp sẽ hình thành hệ sợi nấm sơ cấp với một nhân Hệ sợi nấm sơ cấp phát triển đầy đủ tạo nên một mạng rời để hình thành hệ sợi nấm thứ cấp, sau đó có sự kết hợp của hệ sợi nấm thứ cấp hình thành quả thể nấm hoàn chỉnh
Có hai nhóm nấm sò:
- Nhóm chịu lạnh : phát triển tốt ở nhiệt độ từ 13 – 20 oC
- Nhóm chịu nhiệt độ cao : phát triển ở nhiệt độ từ 24 – 28 oC
Ở Việt Nam trước đây, nấm bào ngư chủ yếu mọc hoang dại trên thân gỗ, mọc đơn độc hay chồng lên nhau Gần 25 năm trở lại đây, người dân nước ta đã biết cách nuôi trồng loại nấm này
2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của nấm bào ngư
Dinh dưỡng : Nấm bào ngư là loại nấm sử dụng trực tiếp nguồn cellulose Ngoài ra, cũng có thể bổ sung thêm nguồn đạm (cám, ure), khoáng (super lân, vôi, amon phosphate để giúp sợi nấm tăng trưởng nhanh hơn, năng suất nấm cao hơn
Trang 22Nhưng cũng cần chú ý vì việc bổ sung dinh dưỡng sẽ khiến nấm dễ bị nhiễm các tạp khuẩn, tạp nấm hơn
Nhiệt độ: Là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của tơ nấm, và việc hình thành quả thể Ở giai đoạn ủ tơ, một số loài cần nhiệt độ từ 200C – 300C, một số loài khác cần từ 270C – 320C, thậm chí 350C như loài P tuber-regium Để ra quả thể,
có loài cần nhiệt độ thấp 150C – 250C nhưng cũng có loài cần nhiệt độ cao hơn 250C –
320C (Lê Duy Thắng, 2001)
Độ ẩm (gồm độ ẩm giá thể và độ ẩm không khí): Độ ẩm rất quan trọng đối với
sự phát triển của tơ và quả thể Nấm bào ngư yêu cầu độ ẩm giá thể khoảng 60 - 65% Trong thời kỳ tưới đón nấm, độ ẩm không khí không được dưới 70%, tốt nhất ở 70 - 95% Độ ẩm thấp hơn 70% quả thể bị vàng và khô mép Ở độ ẩm 50% nấm bào ngư ngừng phát triển và chết, dạng bán cầu lệch và lá lục bình bị khô mặt, cháy vàng ở bìa mép mũ nấm Ngược lại, độ ẩm cao (95%) chưa hẳn đã tốt cho nấm, tai nấm dễ bị nhũn và rũ xuống (Lê Duy Thắng, 2001)
Độ pH: Nấm bào ngư có khả năng chịu được sự giao động pH tương đối tốt pH môi trường có thể giảm xuống 4,4 hoặc tăng lên 9 tơ nấm vẫn mọc được Tuy nhiên,
pH thích hợp đối với hầu hết các loài nấm bào ngư trong khoảng 5,0 - 7,0, pH thấp làm quả thể không hình thành và ngược lại pH quá kiềm tai nấm bị dị hình (Lê Duy Thắng, 2001)
Ánh sáng: Không quan trọng trong giai đoạn nuôi tơ Ánh sáng cần thiết cho việc tạo nụ nấm Ánh sáng tốt nhất là khoảng 200 lux, cường độ ánh sáng quá mạnh sẽ ngăn cản việc hình thành nụ nấm, còn ánh sáng yếu làm chân nấm dài ra, mũ hẹp (Lê Duy Thắng, 2001)
Độ thông thoáng : Nấm bào ngư cần thoáng khí để dễ dàng hấp thụ Oxy (O2) và thải khí carbonic (CO2) để phát triển vì vậy nhà trồng nấm cần có độ thông thoáng vừa phải, nhưng tránh gió lùa trực tiếp Theo Nguyễn Hữu Đống và ctv (2003), độ thông gió cần thiết trong giai đoạn nuôi sợi, khi nấm lên chỉ cần thông thoáng vừa phải
2.8 Giá trị dinh dưỡng của nấm bào ngư
Theo Nguyễn Hữu Đống và ctv (2003), nấm bào ngư tươi chứa 30 % proteine,
2 % lipid, 58 % carbohydrate, trong nấm bào ngư có một số vitamin, khoáng chất như : acid nicotinic, riboflavine, thiamine, acid ascorbic, Fe, Ca, P Đặc biệt nấm bào
Trang 23ngư có chứa đầy đủ 9 amino acid không thay thế là isoleucine, leucine, lysine,
methionine, phenylalanine, threonine, valine, tyrosine và trytophan
Tuy nhiên, nấm bào ngư cũng chứa một lượng rất nhỏ arabitol nên khi ăn vào
có thể sẽ gây khó chịu trong đường tiêu hóa của một số cá thể
Bảng 2.7 Thành phần acid amin trong một số loài nấm bào ngư
Đơn vị tính : g/100g proteine thô
Nguồn : Nguyễn Lân Dũng, 2002
Bảng 2.8Hàm lượng vitamine của một số loài nấm bào ngư
Đơn vị tính : mg/100g nấm khô Loài nấm bào
Trang 24Bảng 2.9 Hàm lượng nguyên tố vi lượng trong một số loài nấm bào ngư
Nguồn : Nguyễn Lân Dũng, 2002
2.8 Giá trị dược liệu của nấm bào ngư
Các nghiên cứu về dược lý của nấm bào ngư cho biết trong nấm có chất
pleutorin, chất này có tác dụng kháng khuẩn gram dương, kháng tế bào ung thư và làm
giảm cholesterol trong máu (Chanh Đara,2007)
Đông y cho rằng nấm bào ngư có vị ngọt, tính ấm, có thể chữa được bệnh tiểu
đường, bệnh mỡ máu
Theo Nguyễn Lân Dũng (2002), đã có một số nghiên cứu về đặc tính dược liệu
của nấm bào ngư như sau :
- Thử nghiệm về ung thư ở chuột bạch cho thấy dùng nước nóng chiết xuất nấm
bào ngư (P.ostreatus) có thể làm tiêu hoàn toàn khối u với tỷ lệ 50% ở chuột
- Nghiên cứu của S.C Tam (1986) cho thấy nấm bào ngư phượng vỹ (P.sajor –
caju) có tác dụng làm hạ huyết áp
- Theo nghiên cứu của Phó Liên Giang (1985) thì nếu ăn nấm bào ngư với
lượng 2,5g/kg cơ thể, sau 40 ngày lượng cholesteron trong máu đã giảm từ 253,13mg
xuống còn 193,12mg Nếu ăn nấm bào ngư với lượng cao gấp đôi (5g/kg cơ thể) thì
sau 40 ngày, lượng cholesteron trong máu giảm xuống chỉ còn 128,75 mg
2.9 Nguyên liệu trồng nấm bào ngư
Nấm bào ngư thuộc nhóm phá hoại gỗ, sống chủ yếu hoại sinh, mặc dù có một
số loài có đời sống ký sinh như P.ostreatus, P.eryngii… (Kreiself, 1961) Do vậy đa số
nguyên liệu để trồng nấm bào ngư đều chứa cellulose Nhưng hàm lượng cellulose
trong cơ chất thường thấp hơn 50 %, còn lại là lignin, hemicellulose và khoáng (trích
dẫn bởi Trần Văn Mão, 2004)
Trang 25Hiện nay nguyên liệu trồng nấm bào ngư phổ biến là mùn cưa, rơm rạ Tuy nhiên, vẫn còn những phế phẩm nông nghiệp chứa nhiều cellulose, có thể sử dụng để trồng nấm bào ngư nhưng lại chưa được chú ý nhiều như bã mía, vỏ trấu
Theo Nguyễn Văn Bình và ctv (1996) bã mía chiếm 25 – 30 % trọng lượng mía
ép, trong bã mía có 49% nước, 45 – 55 % cellulose, 2,5 % chất hòa tan (đường) Một nghiên cứu khác cho biết trong bã mía có 39,2 % cellulose, 19,7 % hemicellulose, 17,8
% lignin, 1,5 % protein
Theo SGGP (2001), trong bã mía có chứa một lượng xenlulô rất cao, có thể nuôi được các loại nấm rơm, nấm sò, mộc nhĩ, nấm mỡ, nấm hương và nấm linh chi Nếu tận dụng nguồn bã mía hiện nay cho việc nuôi nấm, mỗi năm có thể thu về 250 triệu USD
Thế nhưng, 2,5 triệu tấn bã mía/năm tập trung ở khoảng 40 nhà máy mía đường lớn trong cả nước lại chưa được tận dụng đúng mức
Căn cứ vào kết quả thí nghiệm và các số liệu thống kê, các nhà khoa học thuộc Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật (Viện Di truyền Nông nghiệp) đã đi tới nhận xét, nuôi nấm trên bã mía cũng đưa lại năng suất tương đương với rơm rạ, mùn cưa Thậm chí, ở nấm sò và mộc nhĩ, phương pháp này còn đem lại năng suất cao hơn Sau đây là vài số liệu so sánh cụ thể:
- Năng suất trung bình của nấm rơm trên bã mía khô đạt 12,08%, trong khi trên rơm rạ khô đạt 12,6% (tính phần trăm sản phẩm tươi trên nguyên liệu khô)
- Năng suất trung bình của nấm mỡ trên bã mía khô đạt 23,2% (trên rơm rạ khô đạt 26,2%)
- Năng suất của nấm linh chi trên bã mía khô đạt 11,35% (trên mùn cưa cao su khô đạt 9,52%)
- Năng suất của nấm sò trên bã mía khô đạt 80% (trên rơm rạ khô đạt 78,12%)
- Năng suất của mộc nhĩ trên bã mía khô đạt 95,04% (trên mùn cưa khô đạt 93,92%)
Nếu sử dụng hết lượng bã mía vào sản xuất nấm các loại, sẽ tạo việc làm cho khoảng 300.000-500.000 người, tạo lượng sản phẩm có giá trị khoảng 250 triệu USD/năm Ngoài ra, việc nuôi nấm sẽ làm cho môi trường trong sạch do giải quyết được lượng rác thải do bã mía gây ra
Trang 26Hiện phương pháp nuôi nấm này đang được thực nghiệm trên diện rộng tại Công ty cổ phần Mía đường Lam Sơn
Thành phần chính của vỏ trấu bao gồm : 35 – 40 % cellulose, 20 – 30 % hemicellulose và 25 – 30 % lignin Ngoài ra, vỏ trấu còn chứa hợp chất ni tơ và vô cơ (Ngân hàng kiến thức trồng lúa Việt Nam, 2009) Mặt khác, ở nước ta vỏ trấu là nguồn nguyên liệu dồi dào và rẻ tiền Chính vì vậy, vỏ trấu có khả năng trở thành cơ chất trồng nấm bào ngư có hiệu quả
Theo Ph.Nguyên – Đức Vịnh (2006), tại huyện Cờ Đỏ, ông Trần Ái Việt - trưởng Phòng Tài nguyên & môi trường huyện - cho biết khoảng 27 nhà máy trên địa bàn thải ra khoảng 50.000 tấn trấu mỗi năm Lượng trấu lớn như thế không có nơi tiêu thụ Chị Ôn Thị Mỹ Luông, chủ Nhà máy xay lúa Thành Lợi 2, thị trấn Thới Lai, huyện Cờ Đỏ, than thở: “Chưa bao giờ các nhà máy xay xát lại rơi vào hoàn cảnh khó
xử như lúc này, có thể phải ngừng hoạt động Trấu thì đầy bồ, đầy kho nhưng không thể nào giải phóng được để nhà máy hoạt động tiếp Trước đây, thương lái đến mua mỗi ghe trấu từ 500.000 đến 1 triệu đồng Bây giờ cho không họ cũng không lấy, buộc chúng tôi phải mướn họ lại chở đi mỗi ghe cả triệu đồng”
Cũng theo Ph.Nguyên – Đức Vịnh (2006), tình trạng ô nhiễm vỏ trấu ở trên sông ở huyện Tân Châu, tỉnh An Giang cũng ngày càng nghiêm trọng hơn, dân lại kêu cứu Ngày 28-3, huyện Tân Châu tổ chức cuộc họp gồm có Sở Nông nghiệp & phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên & môi trường và một số ngành liên quan để bàn về giải pháp khắc phục, sau đó giao cho hai xã Tân An, Long An tăng cường kiểm tra, xử lý Nhưng đến nay tình trạng ô nhiễm vẫn chưa được giải quyết
Như vậy, nếu tận dụng những nguồn phế nguyên liệu trên để trồng nấm thì vừa giải quyết được tình trạng ô nhiễm môi trường mà còn mang lại hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập cho người dân ở những vùng có nhiều nguyên liệu như trên
2.10 Tình hình nghiên cứu về nấm bào ngư
Thời gian gần đây nấm bào ngư trở nên phổ biến hơn trên thị trường Việt Nam Nấm bào ngư xuất khẩu cũng như tiêu thụ trong nước ngày càng nhiều Đây là thành công của nghề trồng nấm ăn ở nước ta với kỹ thuật trồng nấm thâm canh cho năng suất cao mà giá thành lại hạ xuống dẫn đến lợi nhuận của người trồng được nâng lên mà người tiêu dùng vẫn có cơ hội sử dụng nấm bào ngư nhiều hơn
Trang 27Tuy nhiên nếu không tiếp tục nghiên cứu để cải tiến phương pháp, tìm ra nguồn nguyên liệu với những công thức phối trộn phù hợp với điều kiện sản xuất mới thì ngành trồng nấm chưa thể tận dụng hết tiềm năng được thừa hưởng từ sản xuất nông nghiệp Việt Nam Vì thế, đã có nhiều nghiên cứu về loại giá thể mới để nuôi trồng nấm bào ngư như :
- Năm 2005, Nguyễn Hoài Vững đã nghiên cứu thành công quy trình sản xuất nấm bào ngư bằng nguyên liệu trấu Nghiên cứu này đã được ứng dụng và mang lại hiệu quả kinh tế cho người trồng nấm ở An Giang (Nguyên Bửu, 2009)
- Kỹ thuật trồng nấm bào ngư trên bụi xơ dừa được ứng dụng tại cù lao Tắc Cậu (xã An Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang) từ đầu năm 2006 Kỹ thuật này không chỉ góp phần giải quyết được tình trạng bụi xơ dừa gây ô nhiễm môi trường mà còn mang lại thu nhập đáng kể, cải thiện đời sống người dân Mô hình trồng nấm bào ngư trên bụi xơ dừa đang được nhân rộng (Chanh Đara, 2007)
- Năm 2005, mô hình trồng nấm bào ngư trên cơ chất rơm rạ ven vườn cây ăn trái có sử dụng chế phẩm xử lý rơm đã được Trung tâm Nghiên cứu khoa học và công nghệ Vĩnh Long phối hợp với Trung tâm Khuyến nông, Trung tâm Dạy nghề tổ chức năm đợt tập huấn kỹ thuật trồng nấm bào ngư cho trên 200 lượt nông dân, đoàn viên thanh niên trong tỉnh (Trương Công Khả, 2004)
Hiện nay, mô hình trồng nấm bào ngư đang được các trung tâm khuyến nông quan tâm và mở nhiều lớp tập huấn kỹ thuật trồng loại nấm này Nhờ vậy mà nấm bào ngư ngày càng trở nên phổ biến hơn đối với người Việt Nam
2.11 Kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch nấm bào ngư
2.11.1 Chuẩn bị nguyên liệu
Theo Nguyễn Hữu Đống và ctv (2003), nguyên liệu trồng nấm bào ngư phổ biến hiện nay là rơm rạ, bông phế thải, mùn cưa
Có 2 phương pháp xử lý các loại nguyên liệu trên :
- Phương pháp 1 : ủ nguyên liệu thành đống đủ lớn để tăng nhiệt độ trong đống
ủ đạt 60 – 70oC, thời gian kéo dài 6 – 7 ngày Trung bình một đống ủ đảm bảo có trọng lượng khô từ 300kg trở lên
- Phương pháp 2 : khử trùng nguyên liệu trong hơi nước ở nhiệt độ 100 –
125oC, kéo dài 90 – 180’
Trang 28Nguyên liệu sau xử lý được đóng vào túi nilon chuyên dùng, có trọng lượng 1,2kg – 3kg/túi tùy nguyên liệu Sau khi thanh trùng nguyên liệu, chờ nguội (trong vòng 24h) thì cấy meo giống Khi cấy phải đảm bảo tránh lây nhiễm bào tử nấm bệnh
từ trong không khí đến mức tối đa
2.11.2 Chuẩn bị sinh khối
Theo Nguyễn Hữu Đống và ctv (2003), bịch phôi sau khi cấy meo được chuyển vào nhà ủ tơ, điều kiện ánh sáng và độ ẩm thích hợp cho sự phát triển của tơ nấm Có thể đặt trên giá hoặc để trực tiếp xuống đất (nút bịch hướng lên trên) Khoảng cách giữa các bịch là 5 – 10cm Nhà ươm cần thoáng mát, sạch sẽ, không cần ánh sáng
Thời gian ươm khoảng 25 – 30 ngày Sợi nấm phát triển, ăn dần vào nguyên liệu tạo nên màu trắng đồng nhất, bịch rắn chắc là có thể treo lên và rạch bịch Dùng dao nhọn sắc rạch 4 – 6 đường xung quanh, các đường cách đều nhau và dài 3 – 4cm
Gỡ nút bông rồi quay ngược cho miệng túi hướng xuống dưới Mỗi bịch cách nhau 15 – 20cm
2.11.3 Chăm sóc, thu hoạch và chế biến
Theo Nguyễn Hữu Đống và ctv (2003), sau rạch bịch 4 – 6 ngày, nấm bắt đầu
ra thì tiến hành tưới nước bên ngoài túi Tùy lượng nấm ra và điều kiện thời tiết mà điều chỉnh lượng nước tưới sao cho bề mặt mũ nấm lúc nào cũng đọng một lớp nước Lưu ý là tưới dạng phun sương, lượng nhỏ nhưng thời gian kéo dài
Nấm bào ngư mọc tập trung thành cụm nên khi nấm đủ lớn thì hái cả cụm Phải hái nấm đúng độ tuổi để đạt năng suất, chất lượng tốt nhất Khi nhìn thấy bào tử nấm phát tán (như làn khói trắng bay ra từ cây nấm) là biểu hiện nấm quá già Tổng thời gian thu hái nấm kéo dài trong phạm vi 30 – 45 ngày kể từ ngày hái đầu tiên
Nấm bào ngư có thể sử dụng tươi, muối chua hoặc phơi, sấy khô
2.11.4 Sâu bệnh hại nấm
Theo Nguyễn Hữu Đống và ctv (2003), trong quá trình trồng nấm bào ngư, nấm
có thể bị tấn công bởi chuột, côn trùng (ruồi đẻ trứng vào bịch phôi và dòi nở ra sẽ ăn phá tơ nấm, có thể làm bịch phôi bị mất năng suất) và các loại nấm mốc
Chuột : cắn phá bịch phôi, giống, nấm Nên chú ý phòng tránh chuột trong suốt quá trình nuôi trồng nấm
Trang 29Côn trùng : ruồi đẻ trứng vào bịch phôi, sau đó ấu trùng (dòi) sẽ ăn phá tơ nấm rất nhanh và có thể làm mất năng suất Để đề phòng bị ruồi phá hoại thì khi xử lý nguyên liệu phải kỹ để tránh nguy cơ tồn tại trứng ruồi trong nguyên liệu Chú ý môi trường xung quanh, nếu thấy có nhiều ruồi nhà hoặc ruồi đục quả v.v thì phải chủ động phun thuốc xua đuổi chúng khỏi khu vực ủ nguyên liệu, nơi để giống nấm, nhà ủ
tơ và nhà trồng Nếu phát hiện có dòi đục phá bịch nấm (nếu ở giai đoạn ươm tơ theo dõi thấy có những đường đục ngoằn nghèo, ngả màu vàng ố thì nhìn kỹ sẽ thấy có dòi đang phá hại), tiến hành cách ly những bịch có dòi, phun thuốc xua đuổi ruồi và tiêu hủy những bịch bị tấn công nhiều
Nấm mốc : nấm bào ngư thường bị nhiễm Trichoderma spp., là loài nấm mốc
phát triển trên các cơ chất có chất gỗ, làm bịch nấm thâm đen lại, ảnh hưởng đến năng suất nấm Để hạn chế sự phát triển của loài mốc này, cần khử trùng tốt nguyên liệu trồng nấm hoặc nâng pH môi trường (Trần Thị Kim Ngân, 2010) Để phòng bệnh thì khâu xử lý nguyên liệu phải cẩn thận, nhà trồng phải sạch sẽ, làm vệ sinh khử trùng trước và sau mỗi đợt trồng Khi cấy meo cũng phải khử trùng dụng cụ, phòng cấy sạch
sẽ, tránh để bào tử nấm bệnh trong không khí rơi vào bịch phôi Làm vệ sinh môi trường xung quanh khu vực trồng nấm Nguồn nước tưới và dụng cụ tưới phải sạch sẽ Nếu có bịch bị nhiễm thì cách ly ngay, phun thuốc, tiêu hủy những bịch nhiễm nặng để tránh lây lan
Nói chung, trong quá trình nuôi trồng nấm cần đảm bảo sự sạch sẽ, cẩn thận và thường xuyên theo dõi để phát hiện kịp thời sâu bệnh, từ đó đưa ra biện pháp xử lý kịp thời, ít tốn kém nhất
Trang 30Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
Thời gian thực hiện: 02/2011 đến 03/06/2011
Địa điểm: Thí nghiệm được tiến hành tại nhà (ấp Vĩnh Tiến, xã Vĩnh Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương)
3.2 Điều kiện thời tiết trong thời gian thực hiện thí nghiệm
Bảng 3.1 Các yếu tố thời tiết
Tháng nhiệt độ
(oC)
độ ẩm (%)
lượng mưa (mm)
tổng số giờ nắng (giờ)
Nhìn chung, thời tiết trong thời gian thí nghiệm tương đối thuận lợi cho việc trồng nấm bào ngư Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị thu đón quả thể (tháng 4,
tháng 5) thì nhiệt độ cao, ảnh hưởng không tốt cho việc ra quả thể của nấm bào ngư
Trang 313.3 Vật liệu thí nghiệm
3.3.1 Giống
Giống nấm bào ngư Pleurotus sp đặt mua lại của trại nấm bào ngư Văn Ánh
(nguồn giống từ Long Khánh – Đồng Nai)
3.3.2 Nguyên liệu trồng nấm
Giá thể: bã mía, vỏ trấu
Chất phối trộn: CaCO3, cám gạo (15 %)
A2: 75 % bã mía + 25 % vỏ trấu
A3: 50 % bã mía + 50 % vỏ trấu
A4: 25 % bã mía + 75 % vỏ trấu
A3B1 (NT3)
A4B1 (NT4)
A5B1 (NT5)B2 A1B2
(NT6)
A2B2 (NT7)
A3B2 (NT8)
A4B2 (NT9)
A5B2 (NT10)Quy mô thí nghiệm
Thí nghiệm có 30 ô, mỗi ô thí nghiệm gồm 5 bịch nấm Tổng số bịch nấm trên toàn khu thí nghiệm là 150 bịch
Trang 32liệu, đóng bịch, hấp khử trùng
Bã mia ủ 7 ngày, vỏ trấu ủ 14 ngày Trộn cám gạo, CaCO3 Đóng bịch khoảng 0,6kg rồi hấp khử trùng 2 lần, mỗi lần 8h
Chuẩn bị giống Mua giống tại Long Khánh (Đồng Nai)
Chú ý độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng Theo dõi các chỉ tiêu về tơ nấm, quả thể Quan sát tình hình sâu bệnh
11/04/2011 Bắt đầu thu hoạch
06/2011 Kết thúc đề tài
3.6 Phương pháp thu thập số liệu và các chỉ tiêu theo dõi
3.6.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng
Mỗi ô chọn 4 bịch nấm để theo dõi các chỉ tiêu sau:
Động thái phát triển chiều dài sợi tơ (cm): theo dõi chiều dài tơ nấm từ lúc bắt đầu cấy meo giống cho đến khi tơ nấm ăn trắng bịch phôi, đo từ cổ nút đến sợi tơ dài nhất, thời gian theo dõi trong giai đoạn nuôi tơ là 5 ngày/lần
Tốc độ tăng trưởng chiều dài sợi tơ nấm (cm/ngày): lấy số đo chiều dài sợi tơ lần sau trừ số đo chiều dài sợi tơ lần trước / 5
Trang 33Phần trăm số bịch phôi có tơ phủ trắng ở giai đoạn 25 ngày sau cấy: tính số bịch
có tơ phủ trắng của mỗi ô thí nghiệm rồi quy về phần trăm
Thời gian tơ nấm phủ trắng tất cả các bịch của các nghiệm thức (ngày): đếm số ngày từ khi cấy meo giống đến lúc tơ ăn đầy kín tất cả các bịch phôi của mỗi ô thí nghiệm
Thời gian ra quả thể (ngày): thời gian từ khi rạch bịch phôi đến khi có 2 bịch/ô
ra quả thể đầu tiên
Số chùm quả thể/bịch: chọn 2 bịch cho quả thể đầu tiên để theo dõi, đếm tất cả
số chùm quả thể qua các lần thu hoạch
Số quả thể/chùm: chọn số chùm quả thể trên 2 bịch cho quả thể đầu tiên, đếm
số quả thể/chùm, đếm 1 lần/ngày
Trọng lượng trung bình một chùm quả thể (g/chùm): chọn số chùm quả thể trên
2 bịch cho quả thể đầu tiên, cân và tính trọng lượng trung bình, tính trong lần thu hoạch đầu tiên
Theo dõi tình hình sâu bệnh ở các nghiệm thức: đếm số bịch bị nhiễm nấm bệnh của mỗi nghiệm thức, tính tỷ lệ bệnh trên 15 bịch của mỗi nghiệm thức
3.6.2 Chỉ tiêu năng suất
Trọng lượng quả thể trung bình mỗi bịch (kg/bịch) = số chùm quả thể trung bình x trọng lượng trung bình mỗi chùm
Năng suất ô thí nghiệm (kg/ô) = tổng trọng lượng quả thể thu được của mỗi ô qua các lần thu hoạch
Năng suất thực thu (kg/1000 bịch) = (sản lượng nấm của ô thí nghiệm / số bịch của ô) x 1000
Năng suất lý thuyết (kg/1000 bịch) = (Trọng lượng quả thể trung bình / bịch) x
1000
3.6.3 Hiệu quả kinh tế
Lợi nhuận = tổng chi phí – tổng thu nhập
3.7 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm MSTATC (phân tích biến lượng ANOVA, trắc nghiệm phân hạng ) và Microsoft Excel
Trang 34Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng
4.1.1 Động thái phát triển chiều dài sợi tơ
Sự tăng trưởng của chiều dài tơ nấm chủ yếu phụ thuộc vào bản chất của giống, điều kiện khí hậu, ngoài ra còn phụ thuộc vào chất dinh dưỡng có trong bịch phôi
Bảng 4.1 Động thái phát triển chiều dài sợi tơ nấm của các nghiệm thức (cm)
Trang 35Bảng 4.1 cho thấy ảnh hưởng của cả yếu tố A, yếu tố B và sự tương tác giữa hai yếu tố A, B đều làm cho các nghiệm thức có sự khác biệt rất có ý nghĩa về động thái phát triển chiều dài tơ nấm của các nghiêm thức ở 10 NSC
Yếu tố A: có ba nhóm nghiệm thức
- Nhóm a: nghiệm thức ở mức A1 có chiều dài tơ lớn nhất (8,46 cm)
- Nhóm b: nghiệm thức ở mức A3 có tơ dài hơn ở mức A3
- Nhóm c: các nghiệm thức ở mức A2, A5 và A4 theo thứ tự giảm dần chiều dài
Tương tác AB: có bốn nhóm nghiệm thức
- Nhóm A: NT A1B1 có chiều dài tơ dài nhất (8,96 cm), NT A3B1 có chiều dài
tơ là 8,58 cm, NT A1B2 tơ nấm dài 8,23 cm
- Nhóm B: NT A1B2 có tơ dài hơn NT A2B1
- Nhóm C: NT A2B1 có tơ dài hơn NT A4B2
- Nhóm D: NT A4B2, NT A5B2, NT A5B1, NT A3B2, NT A2B2, NT A4B1 theo thứ tự giảm dần chiều dài tơ nấm NT A4B1 có động thái phát triển chiều dài tơ kém nhất (4,26 cm)
Ở giai đoạn 15 NSC, sự sai biệt giữa các NT dưới sự ảnh hưởng của yếu tố A, yếu tố B và tương tác AB đều rất có ý nghĩa
Yếu tố B: sự sai biệt giữa các NT rất có ý nghĩa, NT B1 có động thái phát triển chiều dài tơ tốt hơn NT B2
Trang 36Tương tác AB: có 4 nhóm NT xếp theo thứ tự giảm dần về động thái phát triển chiều dài tơ nấm
- Nhóm A: NT A3B1, NT A1B1, NT A1B2, NT A2B1
- Nhóm B: NT A1B2), NT A2B1, NT A5B2, NT A4B2, NT A5B1
- Nhóm C: NT A5B2, NT A4B2, NT A5B1, NT A2B2, NT A3B2
- Nhóm D: NT A4B2, NT A5B1, NT A2B2, NT A3B2, NT A4B1
Giai đoạn 15 NSC, NT A3B1 có động thái phát triển tơ tốt nhất (14,73 cm), NT A4B1 có động thái phát triển chiều dài tơ kém nhất (10,10 cm)
Ở 20 NSC, sự sai biệt giữa các NT dưới sự ảnh hưởng của yếu tố A, yếu tố B và tương tác AB đều rất có ý nghĩa
Trang 37Nhìn chung, qua các giai đoạn phát triển tơ nấm thì NT ở mức A1 luôn có động thái phát triển chiều dài tơ nấm tốt nhất, NT B1 luôn phát triển tốt hơn NT B2, nhóm
NT A1B1, NT A3B1 và NT A1B2 có động thái phát triển tốt hơn các NT còn lại
4.1.2 Tốc độ tăng trưởng chiều dài sợi tơ nấm
Bảng 4.2 Tốc độ tăng trưởng chiều dài sợi tơ nấm (cm / ngày)
NT Ngày sau cấy
Giai đoạn 10 – 15 NSC, NT A5B2 có tốc độ tăng trưởng chiều dài tơ nhanh nhất (1,47 cm/ngày), tốc độ phát triển chiều dài tơ của NT A1B2 là chậm nhất (1,11 cm/ngày)
Giai đoạn 15 – 20 NSC, NT A1B2 có tốc độ tăng trưởng chiều dài tơ nhanh nhất (1,20 cm/ngày), tốc độ phát triển chiều dài tơ của NT A4B2 là chậm nhất (0,55 cm/ngày)
Giai đoạn 20 – 25 NSC, NT A3B2 có tốc độ tăng trưởng chiều dài tơ nhanh nhất (1,37 cm/ngày), NT A2B2 có tốc độ phát triển chiều dài tơ chậm nhất (0,32 cm/ngày)
Trang 384.1.3 Phần trăm số bịch phôi có tơ phủ trắng ở giai đoạn 25 NSC
Thông thường tơ nấm sẽ phủ kín bịch phôi ở giai đoạn 25 – 30 NSC, nhưng điều này còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh và cũng tùy vào chất lượng của giống và dinh dưỡng trong bịch phôi
Bảng 4.3 Phần trăm số bịch phôi có tơ phủ trắng ở giai đoạn 25 NSC (%)
- (**): sự khác biệt giữa các nghiệm thức rất có ý nghĩa, trắc nghiệm phân hạng
Trang 394.1.4 Thời gian tơ nấm ăn trắng bịch phôi
Bảng 4.4 Thời gian tơ nấm ăn trắng bịch phôi (ngày)
- (**): sự khác biệt giữa các nghiệm thức rất có ý nghĩa, trắc nghiệm phân hạng
Yếu tố A có hai nhóm NT:
- Nhóm a: gồm NT A2, NT A3, NT A4, NT A5 Trong đó, NT A5 có thời gian
để tơ nấm phủ trắng lâu nhất (26,67 ngày)
- Nhóm b gồm NT A1có thời gian để tơ nấm phủ kín bịch nhanh nhất (20, 67 ngày), NT A2 và NT A3
Yếu tố B: dù sự khác biệt không có ý nghĩa nhưng ở NT B2 tơ nấm phủ kín trước NT B1
Yếu tố AB: sự khác biệt cũng không có ý nghĩa Tuy nhiên, NT A1B2 tơ nấm phủ kín nhanh nhất (sau 20,33 ngày) còn NT A5B1 tơ nấm chậm phủ kín nhất (28 ngày)
Tốc độ tăng trưởng nhanh của tơ nấm không nhất thiết liên quan đến lượng nấm phát sinh, nghĩa là khi gieo cấy giống, tơ có thể đi nhanh (vì nhiều lý do) nhưng số tai nấm hay sản lượng nấm vẫn có thể thấp hơn so với tốc độ trung bình Ngược lại, tốc
Trang 40độ tăng trưởng tơ chậm lại ảnh hưởng rõ rệt lên năng suất nấm và kết quả bao giờ cũng xấu hơn
4.1.5 Thời gian ra quả thể
Sau khi tơ ăn kín bịch thì ta tiến hành rạch bịch Sau rạch bịch một thời gian thì quả thể bắt đầu hình thành Khoảng thời gian hình thành quả thể ở các nghiệm thức thì khác nhau, thời gian hình thành quả thể phụ thuộc nhiều vào giống, dinh dưỡng, ẩm
Bảng 4.5 cho thấy sự khác biệt giữa các nghiệm thức của yếu tố A, yếu tố B và tương tác AB về thời gian ra quả thể đều không có ý nghĩa
Yếu tố A: NT A1, NT A2, NT A3 có thời gian ra quả thể bằng nhau và nhanh nhất (3,67 ngày) NT A5 có thời gian ra quả thể lâu nhất (5,17 ngày)
Yếu tố B: NT B1có thời gian ra quả thể nhanh hơn NT B2
Tương tác AB: NT A2B1, NT A4B1, NT A1B2 có thời gian ra quả thể như nhau và nhanh nhất (3,33 ngày) NT A5B1 có thời gian ra quả thể chậm nhất (6 ngày)
4.1.6 Số chùm quả thể trên bịch
Số chùm quả thể nấm là một trong những chỉ tiêu để đánh giá sự sinh trưởng phát triển của nấm và là yếu tố quan trọng cấu thành năng suất Số chùm quả thể nấm phụ thuộc vào đặc tính của giống Tuy nhiên, điều kiện khí hậu, thời tiết, quá trình chăm sóc cũng quyết định đến sự hình thành và phát triển của chùm quả thể