1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA NẤM Ceratocystis fimbriata Ellis Halst GÂY BỆNH CHẾT NHÁNH CÂY NHÃN (Dimocarpus longan Lour)

83 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA NÔNG HỌC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA NẤM Ceratocystis fimbriata Ellis & Halst GÂY BỆNH CHẾT NHÁNH CÂY NHÃN Dimocarpus longan Lour NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT K

Trang 1

KHOA NÔNG HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA NẤM Ceratocystis fimbriata Ellis & Halst GÂY BỆNH CHẾT NHÁNH CÂY NHÃN

(Dimocarpus longan Lour)

NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT KHÓA: 2007-2011

SINH VIÊN THỰC HIỆN: ĐỖ THỊ HIỀN HOA

Tp Hồ Chí Minh, tháng 07/2011

Trang 2

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA NẤM Ceratocystis fimbriata Ellis & Halst GÂY BỆNH CHẾT NHÁNH CÂY NHÃN

(Dimocarpus longan Lour)

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi

đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhà trường, thầy cô, bạn bè và gia đình

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô trong Khoa Nông học và các giảng viên trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức quý báu và tạo điều kiện tốt cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Từ Thị Mỹ Thuận,

Khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh - người đã luôn tận tình hướng dẫn, động viện và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới anh Nguyễn Huy Cường, phòng Bảo Vệ Thực Vật – Viện Nghiên Cứu Cây Ăn Quả Miền Nam đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập vật liệu nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thành viên của hai lớp DH07BVB và DH07BVA, những người bạn thân thiết đã chia sẻ, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt 4 năm qua Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới cha mẹ và những người thân của tôi, đã luôn bên tôi, động viên, khuyến khích và giúp đỡ tôi trên từng chặng đường của mình

Xin chân thành cảm ơn mọi người!

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2011

Tác giả

Đỗ Thị Hiền Hoa

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài “Khảo sát đặc điểm sinh học của nấm Ceratocystis fimbriata Ellis &

Halst gây bệnh chết nhánh cây nhãn (Dimocarpus longan Lour)” được thực hiện

tại phòng thí nghiệm bệnh cây của bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, khoa Nông học, trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, thời gian từ tháng 02 đến tháng 06 năm

2011

Giáo viên hướng dẫn:

TS Từ Thị Mỹ Thuận – Khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung thực hiện:

Khảo sát đặc điểm hình thái của nấm Ceratocystis fimbriata (C fimbriata)

Khảo sát sự sinh trưởng, phát triển của nấm C fimbriata ở các nhiệt độ khác nhau Khảo sát sự sinh trưởng, phát triển của nấm C fimbriata ở các pH khác nhau

Khảo sát sự sinh trưởng, phát triển của nấm C fimbriata ở các thời gian chiếu sáng

khác nhau

Ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng nảy mầm của bào tử nấm C fimbriata

Kết quả đạt được:

Sau khi khảo sát đặc điểm hình thái của 6 mẫu phân lập (MPL) nấm C fimbriata

gây bệnh chết nhánh cây nhãn ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Vĩnh Long cho thấy, các MPL nấm giống nhau về hình thái Nhưng kích thước bào tử nội sinh, bào tử hậu, bào tử túi, quả thể và cổ quả thể khác nhau Bào tử hậu, bào tử túi và quả thể đều có kích thước lớn nhất ở mẫu TG1, mẫu TG3 có kích thước bào nội sinh lớn nhất và cổ quả thể dài nhất

Trang 5

Khảo sát sự sinh trưởng và phát triển của 6 MPL nấm C fimbriata ở 6 mức nhiệt

độ: 10oC, 15oC, 20oC, 25oC, 30oC và 35oC cho kết quả, khoảng nhiệt độ mà 6 mẫu phân lập nấm có thể sinh trưởng và phát triển là 15 – 30oC Nhưng nhiệt độ thích hợp nhất cho nấm sinh trưởng và phát triển là 25oC, có tản nấm phát triển nhanh nhất ở mẫu nấm BT, chậm nhất ở mẫu VL sau 10 ngày nuôi cấy

Khi tiến hành khảo sát sự sinh trưởng và phát triển của 6 MPL nấm C fimbriata ở

9 mức pH: 4, 4,5, 5, 5,5, 6, 6,5, 7, 7,5 và 8 cho thấy, ở các mức pH từ 4 đến 8 nấm đều

có khả năng sinh trưởng và phát triển Nhưng 6 MPL phát triển tốt nhất ở pH =6,5 và

7 Ở pH = 6,5, các mẫu TG1, TG3, TG4 và BT sinh trưởng và phát triển tốt hơn các

pH khác, còn 2 mẫu TG2 và VL phát triển tốt nhất ở mức pH = 7 ở 10 ngày sau cấy (NSC)

Tiến hành khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng nảy mầm của bào tử nấm

C fimbriata cho thấy, bào tử của 6 MPL nấm không nảy mầm ở các nhiệt độ 10oC,

15oC, 20oC, 30oC và 35oC Nhiệt độ duy nhất bào tử nấm C fimbriata nảy mầm là

25oC Tại mức nhiệt độ này và sau 5 giờ sau cấy (GSC), mẫu TG3 có tỷ lệ bào tử nảy mầm nhiều nhất (97,33 %), tỷ lệ nảy mầm ít nhất ở mẫu nấm TG2 (91,33 %)

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Trang tựa ii

Lời cảm ơn iii

Tóm tắt iv

Mục lục vi

Danh sách các chữ kí hiệu, viết tắt viii

Danh sách các bảng ix

Danh sách các hình x

Chương 1 Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu 2

1.3 Yêu cầu 2

Chương 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Giới thiệu về cây nhãn 3

2.1.1 Phân loại thực vật và nguồn gốc cây nhãn 4

2.1.2 Đặc điểm thực vật học 4

2.1.3 Điều kiện sinh thái 5

2.1.4 Một số giống nhãn trồng phổ biến tại Việt Nam 5

2.1.5 Một số bệnh hại chính trên cây nhãn 6

2.2 Giới thiệu về nấm Ceratocystis fimbriata 8

2.2.1 Phân loại 8

2.2.2 Một số đặc điểm của nấm Ceratocystis fimbriata 8

2.2.3 Nấm Ceratocystis fimbriata gây bệnh chết nhánh nhãn 9

2.2.4 Nấm Ceratocystis fimbriata gây bệnh trên cây trồng khác 9

Trang 7

Chương 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 10

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 10

3.2 Đối tượng nghiên cứu 10

3.3 Nội dung nghiên cứu 10

3.4 Vật liệu và phương tiện nghiên cứu 10

3.5 Phương pháp nghiên cứu 11

3.5.1 Khảo sát đặc điểm hình thái của nấm C fimbriata 11

3.5.2 Khảo sát sự sinh trưởng, phát triển của nấm C fimbriata ở các nhiệt độ khác nhau (theo phương pháp của Tainter, 1986) 12

3.5.3 Khảo sát sự sinh trưởng, phát triển của nấm C fimbriata ở các pH khác nhau 13

3.5.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng nảy mầm của bào tử nấm C fimbriata 13

3.5.5 Phương pháp xứ lý số liệu 14

Chương 4 Kết quả và thảo luận 15

4.1 Đặc điểm hình thái của nấm C fimbriata 15

4.2 Sự sinh trưởng và phát triển của nấm C fimbriata ở các nhiệt độ khác nhau 22

4.3 Sự sinh trưởng và phát triển của nấm C fimbriata ở các pH khác nhau 29

4.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng nảy mầm của bào tử nấm C fimbriata 34

Chương 5 Kết luận và đề nghị 36

5.1 Kết luận 36

5.2 Đề nghị 37

Tài liệu tham khảo 38

Phụ lục 40

Trang 8

DANH SÁCH CÁC CHỮ KÍ HIỆU, VIẾT TẮT

CABI Centre for Agriculture and Biosciences International

Ceratocystis fimbriata C fimbriata

Ctv Cộng tác viên

CV Coefficient of Variation

EPPO European Plant Protection Organization

GSC Giờ sau cấy

MPL Mẫu phân lập

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1: ký hiệu và địa điểm thu thập 6 MPL nấm C fimbriata 11

Bảng 4.1: Đặc điểm hình thái của 6 MPL nấm C fimbriata trên môi trường PGA 15

Bảng 4.2: Kích thước các loại bào tử của 6 mẫu phân lập nấm C fimbriata 17

Bảng 4.3: Quá trình nảy mầm của các loại bào tử nấm C fimbriata 20

Bảng 4.4: Đường kính tản nấm của 6 MPL nấm C fimbriata trên mội trườn PGA ở 15oC 22

Bảng 4.5: Đường kính tản nấm của 6 MPL nấm C fimbriata trên môi trường PGA ở 20oC 23

Bảng 4.6: Đường kính tản nấm của 6 MPL nấm C fimbriata trên môi trường PGA ở 25oC 24

Bảng 4.7: Đường kính tản nấm của 6 MPL nấm C fimbriata trên môi trường PGA ở 30oC 25

Bảng 4.8: Đường kính tản nấm của 6 MPL nấm C fimbriata trên môi trường PGA ở các pH khác nhau sau 6 NSC và 10 NSC 30

Bảng 4.9: Tốc độ phát triển tản nấm của 6 MPL nấm C fimbriata trên môi trường PGA ở các pH khác nhau 32

Bảng 4.10: Tỷ lệ bào tử nảy mầm (%) của 6 MPL nấm C fimbriata ở nhiệt độ 25oC tại các thời điểm khác nhau 34

Trang 10

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1: Cây nhãn tiêu da bò bị bệnh 7

Hình 2.2: Triệu chứng trong mạch gỗ 7

Hình 4.1: Tản nấm C fimbriata mẫu TG1 trên môi trường PGA ở 25oC sau 10 NSC 18 Hình 4.2: Sợi nấm C fimbriata mẫu TG1 gây bệnh chết nhánh cây nhãn 18

Hình 4.3: Quả thể của nấm C fimbriata mẫu TG1 gây bệnh chết nhánh cây nhãn 19

Hình 4.4: Bào tử của nấm C fimbriata mẫu TG1 gây bệnh chết nhánh cây nhãn 19

Hình 4.5: Quá trính nảy mầm của 3 loại bào tử nấm C fimbriata 21

Hình 4.6: Đường kính tản nấm của 6 MPL nấm C fimbriata ở các nhiệt độ khác nhau sau 10 ngày nuôi cấy 27

Hình 4.7: Tản nấm C fimbriata mẫu TG1 trên môi trường PGA ở các nhiệt độ khác nhau sau 10 ngày nuôi cấy 28

Hình 4.8: Tản nấm C fimbriata mẫu TG1 trên môi trường PGA ở pH khác nhau sau 10 ngày nuôi cấy 33

Hình 4.9 : Quá trình nảy mầm của bàn tử nấm C fimbriata mẫu TG1 ở mức nhiệt độ 25oC 35

Trang 11

Cây nhãn (Dimocarpus longan Lour) cùng họ với cây vải (Litchi chinensis), chôm chôm (Nephelium lappaceum L.), là cây á nhiệt đới và nhiệt đới Nhãn được trồng

nhiều ở Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam

Trái nhãn chứa nhiều chất dinh dưỡng, có thể ăn tươi, sấy khô, đóng hộp nên nhu cầu sử dụng trái nhãn là rất cao Việc tăng sản lượng nhãn để đáp ứng nhu cầu đó là cần thiết và người trồng nhãn đã sử dụng những biện pháp làm tăng năng suất, đặc biệt

là khắc phục hiện tượng ra quả cách niên như: khoanh vỏ, xiết nước, xử lý hóa chất Những biện pháp này đem lại hiệu quả cao, tuy nhiên việc khoanh vỏ, xiết nước cùng với những bất cẩn trong quá trình trồng và chăm sóc đã gây ra những vết thương cho cây nhãn Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật gây bệnh như nấm, vi khuẩn xâm nhập và phát triển

Cây nhãn cũng như các loại cây trồng khác đều bị sâu bệnh hại tác động đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây Và một trong những bệnh gây hại nghiêm trọng

trên cây nhãn trong thời gian gần đây là bệnh chết nhánh do nấm C fimbriata gây ra

Bệnh chết nhánh nhãn với các triệu chứng: cành hay thân bị khô héo dần, sau đó chết

đi làm ảnh hưởng tới năng suất và hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, việc nghiên cứu về bệnh này để tìm ra những biện pháp phòng ngừa và trị bệnh còn rất nhiều hạn chế

Trang 12

Chính vì vậy, được sự phân công của khoa Nông học chúng tôi đã tiến hành thực

hiện đề tài “Khảo sát đặc điểm sinh học của nấm Ceratocystis fimbriata Ellis &

Halst gây bệnh chết nhánh cây nhãn (Dimocarpus longan Lour)”, để nghiên cứu

một số đặc điểm hình thái và sinh học của nấm làm tiền đề cho các nghiên cứu về

phòng trừ bệnh chết nhánh nhãn do nấm C fimbriata gây ra, giúp tăng hiệu quả kinh tế

cho người trồng nhãn

1.2 Mục tiêu

Khảo sát một số đặc điểm sinh học của nấm C fimbriata tác nhân gây bệnh chết

nhánh cây nhãn, nhằm cung cấp cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về bệnh này

Trang 13

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới thiệu về cây nhãn

Cây nhãn (Dimocarpus longan Lour) là một trong những cây trái được trồng lâu đời

nhất và phổ biến nhất của nước ta Đây là loại cây ăn trái có khả năng thích hợp với nhiều loại thổ nhưỡng khác nhau, dễ trồng, tuổi thọ dài và năng suất cao Tùy theo từng giống mà trái nhãn có hình dạng và màu sắc khác nhau

Theo Nguyễn Văn Kế (2008), nhãn thường được ăn tươi, chủ yếu người tiêu dùng là người gốc châu Á Hongkong là nơi nhập nhãn nhiều nhất Do trái nhãn có thời gian tồn trữ ngắn, nên nhãn cần được chế biến như sấy khô, đông lạnh, đóng hộp Thịt nhãn sấy khô (nhãn nhục) còn là vị thuốc chữa đau dạ dày, mất ngủ và giải độc được người Trung Quốc sử dụng nhiều

Theo Trần Thế Tục (1993), kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng trong trái nhãn cho thấy: đường tổng số 12,38 – 22,55%, trong đó đường glucoza 3,85 – 10,16%, axit 0,096 – 0,109%, vitamin C 43,12 – 163,70 mg/100 gr thịt quả, vitamin K 196,5 mg/100 gr Ngoài ra, trái nhãn còn có các chất khoáng Ca, P, Fe đều là chất dinh dưỡng rất cần thiết cho sức khỏe của con người Và cây nhãn cho ra nhiều hoa, nhiều đợt trong năm nên là cây lấy mật quan trọng có chất lượng cao, cây có tán xòe rộng dùng làm cây che bóng tốt

Theo Wong và Saichol (1991), nhãn là trái cây quý, ngon ngọt và đặc biệt có mùi thơm đặc trưng, độ đường biến động từ 15 – 25% Cứ 100 gr thịt quả cho khoảng 100 – 109 calo Trái nhãn nặng từ 5 – 22 gr Để xuất khẩu nhãn tươi qua các thị trường lớn trái phải to, nặng từ 14 – 18 gr (loại A), độ Brix từ 19 – 20%, phần thịt quả chiếm từ

67 – 78% trọng lượng toàn trái, không sâu bệnh, mẫu mã đẹp, loại B trái trung bình có trọng lượng biến động từ 12,5 – 13,2 gr, và các trái dưới 12,5 gr được xếp vào loại C

Trang 14

Với những giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế mà cây nhãn mang lại, việc mở rộng diện tích trồng, chăm sóc nhãn là điều rất cần thiết

2.1.1 Phân loại thực vật và nguồn gốc cây nhãn

Cây nhãn có tên khoa học là Dimocarpus longan Lour, tên tiếng Anh là Longan

Cây nhãn có vị trí phân loại như sau:

Kingdom (giới): Plantae Order (bộ): Sapindales Family (họ): Sapindaceae Genus (giống): Dimocarpus

Species (loài): Dimocarpus longan

< Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Longan >

Theo Ke và ctv (2000), cây nhãn có nguồn gốc từ phía bắc Myanmar tới phía nam Trung Quốc Tại Trung Quốc, nhãn có nguồn gốc ở Yunnan và các trung tâm phát sinh phụ là Guangdong, Guangxi và đảo Hainan

và bầu noãn có nhiều lông tơ với núm nhụy có hai thùy Thời gian một phát hoa nở kéo dài từ 1 – 2 tuần, sự thụ phấn diễn ra chủ yếu từ 8 giờ sáng đến 2 giờ chiều, hoa nở

Trang 15

theo thứ tự như sau: hoa đực, hoa cái và cuối cùng là hoa lưỡng tính Hoa nhãn thụ phấn chéo nhờ côn trùng

Trái nhãn thuộc loại quả hạch, vỏ có màu xanh khi còn non, khi chín tùy từng giống

có màu sắc khác nhau, vỏ vàng sậm (tiêu da bò), vàng ửng hồng (tiêu hồng), vàng nhạt (tiêu trắng) Đường kính trái từ 1,25 – 3,5 cm, thịt trái có màu đục và mỏng nhiều nước

ở giống long nhãn, ráo ở các giống nhãn tiêu Hạt nhãn tròn nâu đen và láng, kích thước thay đổi tùy theo giống nhãn (Nguyễn Văn Kế, 2008)

2.1.3 Điều kiện sinh thái

Theo Nguyễn Văn Kế (2008), nhãn là cây trồng được ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Tùy theo giống nhãn mà nhiệt độ tới hạn thay đổi từ 7 – 12oC Nhiệt độ tối hảo cho sự ra hoa và quả phát triển là 20 – 25oC Nhãn rất cần ánh sáng, bị rợp bóng cây sẽ cho ít trái

Nhãn là cây chịu hạn khá tốt nhưng chịu úng rất kém Lượng mưa tối thiểu khoảng 1.200 – 1.500 mm/năm, nên tưới bổ sung khi lượng mưa phân bố không đều để làm tăng năng suất và chất lượng trái

Đất thịt (phù sa ven sông) và đất thịt pha cát, độ pH từ 5,5 – 6,5 phù hợp cho trồng nhãn Cây nhãn cần chân đất sâu và thoát nước tốt

2.1.4 Một số giống nhãn trồng phổ biến tại Việt Nam

Cây nhãn là một trong những cây ăn trái chủ đạo làm tăng hiệu quả kinh tế cho người nông dân hiện nay Vì vậy, diện tích trồng nhãn ở Việt Nam ngày càng được mở rộng và các giống nhãn cũng được cải thiện để tăng năng suất và chất lượng trái Sau đây là một số giống nhãn được trồng phổ biến ở Việt Nam:

• Long nhãn: lá kép có 4 cặp lá chét, bản lá to dày, trái to, hạt lớn, để lộ vết nứt trắng, phần thịt cơm mỏng, nước nhiều, ăn ngọt thơm Do trái nhiều nước nên không được ưa chuộng so với các giống khác Long nhãn được sử dụng làm gốc ghép do sức sống mạnh

Trang 16

• Nhãn tiêu da bò: cây có khả năng sinh trưởng mạnh, vỏ trái có màu vàng sậm, thịt trái dày, hạt nhỏ, ráo nước, chùm lớn Nhãn tiêu da bò có 5 cặp lá chét, bản lá nhỏ, thuôn nhọn Giống này có thời gian nuôi trái dài, cần phải xử lý để cây ra hoa

• Nhãn xuồng: có nguồn gốc từ Bà Rịa – Vũng Tàu, có hai loại là xuồng cơm trắng

và xuồng cơm vàng Xuồng cơm vàng được thị trường ưa chuộng hơn Trái có màu vàng hanh, trái lớn có dạng hình xuồng đường kính có thể lớn hơn 3 cm, trọng lượng

từ 16 – 25 gr, có phần cuống lõm sâu, thịt trái dày, ráo dòn, ngọt thơm Nhãn xuồng trồng bằng hạt, dễ ra hoa (Nguyễn Văn Kế, 2008)

2.1.5 Một số bệnh hại chính trên cây nhãn

• Bệnh thối trái do nấm Phytophthora sp gây ra Bệnh này thường xuất hiện và gây

hại nặng trên trái nhãn sắp chín vào mùa mưa Trái bệnh bị thối nâu, thịt trái thối nhũn, chảy nước có mùi hôi chua và có thể thấy tơ nấm trắng phát triển trên vết bệnh Cần cắt bỏ và thu gom những trái bị bệnh trong vườn đem đi tiêu hủy Phun các thuốc gốc đồng để phòng trị theo liều lượng khuyến cáo

• Bệnh phấn trắng do Oidium sp.: hoa bị xoắn vặn, khô cháy, trái non bị nhiễm

bệnh sẽ nhỏ, có màu nâu Vỏ trái bị đóng phấn trắng phần cuống trái Trái bị bệnh thường thối nâu đen ở cuống trái sau đó lan dần đến nguyên trái Phun các thuốc gốc lưu huỳnh Kumulus, hoặc Anvil, Topsin M nồng độ 0,1 – 0,2

• Bệnh khô cháy hoa do Phyllostista sp.: bệnh thường xuất hiện vào lúc hoa nở rộ,

trên cánh hoa có những vết chấm nhỏ bằng đầu kim, có màu nâu đen làm hoa bị vàng, sau đó khô và rụng đi Bệnh nặng khi có sương mù, mưa nhiều, ẩm độ cao Phun Benomyl 0,1% hay các thuốc gốc đồng

• Bệnh đốm rong do rong Cephaleuros virescens gây ra: bệnh gây hại nghiêm trọng

trên lá vào những tháng mưa ẩm Đốm bệnh có hình tròn lúc đầu nhỏ khoảng 3 – 5

mm, hơi nhô lên trên mặt lá do rong phát triển thành lớp nhung mịn màu xanh hơi vàng Đốm bệnh tròn có thể phát triển hơn 1 cm Mặt dưới của vết bệnh có màu nâu nhạt đến sậm do mô lá bị hoại Trên một lá có thể có nhiều đốm làm cho lá bị vàng và

Trang 17

rụng sớm Phòng trị bệnh bằng các loại thuốc gốc đồng Bordeaux, Copper B, Copper Zinc (Võ Thế Truyền và cộng sự, 2003)

• Bệnh đọt chổi: bệnh làm hoa méo mó, rụng hết, lá già cong queo, lá non mọc chụm lại Bệnh được nghi ngờ do virus gây ra, lây lan nhờ côn trùng hay qua mắt ghép, gây hại nặng giống nhãn tiêu da bò Bệnh không có thuốc phòng trị, biện pháp tốt nhất là chọn giống tốt (Nguyễn Văn Kế, 2008)

• Bệnh chết nhánh nhãn do nấm Ceratocystis fimbriata gây ra: triệu chứng ban đầu

bệnh xuất hiện trên một số cành chính, lá bị héo, sau đó toàn bộ cây bị héo khô, rụng

lá và làm chết cây một cách rất nhanh chóng, đột ngột Vị trí cành héo thường gặp ở những cành cấp 1 hay thân chính Khi cắt ngang cành hoặc thân chính bị chết nhánh thì thấy hệ thống bó mạch có màu nâu đen Phòng trừ bệnh bằng cách tiến hành cắt tỉa

và tiêu huỷ những cành bệnh, cành vô hiệu bên trong tán, vệ sinh vườn sạch sẽ Phun ngừa thuốc trừ nấm có phổ rộng như: Coc 85, Zineb, Mancozeb Topsin-M trước khi khoanh vỏ xử lý ra hoa nhằm tiêu diệt mầm bệnh (Trương Thị Hậu, 2009)

Hình 2.1: Cây nhãn tiêu da bò bị bệnh Hình 2.2: Triệu chứng trong mạch gỗ

(Hình ảnh nguồn: Đỗ Thị Hiền Hoa, 2011)

Trang 18

2.2 Giới thiệu về nấm Ceratocystis fimbriata

2.2.1 Phân loại

Nấm Ceratocystis fimbriata Ellis & Halst có vị trí phân loại như sau:

Kingdom (giới): Fungi Phylum (ngành): Ascomycota Class (lớp): Sordariomycetes Order (bộ): Microascales Family (họ): Ceratocystidaceae Genus (giống): Ceratocystis

Species (loài): Ceratocystis fimbriata

< Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Ceratocystis_fimbriata>

2.2.2 Một số đặc điểm của nấm Ceratocystis fimbriata

• Đặc điểm hình thái

Trong môi trường nhân tạo, sợi nấm màu trong suốt sau đó xanh lục hơi nâu và tỏa

ra mùi hương trái cây Nấm tăng trưởng rất nhanh (0,5 cm trong 24 giờ ở 24oC, môi trường PGA) Đường kính quả thể từ 130 – 200 µm, có cổ dài từ 400 – 800 µm Ba loại bào tử được hình thành: bào tử nội sinh có màu trắng, hình trụ, chiều dài từ 11 –

16 µm, chiều rộng từ 3 – 6 µm; bào tử hậu hình cầu, có màu xanh lục hơi nâu, chiều dài từ 11 – 19 µm, chiều rộng từ 9 – 15 µm; bào tử túi có hình dạng như cái mũ có chiều dài 4 – 8 µm (OEPP/EPPO, 1992)

Trang 19

• Phương thức hoạt động và phát tán

Nấm C fimbriata phát tán giữa các cây Platanus spp thông qua chỗ tiếp xúc của

rễ (Accordi, 1986) Nấm này chỉ xâm nhập qua vết thương, và có thể tồn tại trên bề mặt vết thương trong 7 – 15 ngày, chúng lây lan nhanh chóng theo chiều dọc thân cây với chiều dài vết bệnh từ 1 – 2 m/năm Trong tự nhiên, nấm bệnh được truyền qua các công cụ cắt tỉa thân cành, các máy móc làm đất gây tổn thương cho rễ Nấm có mùi hương trái cây nên thu hút côn trùng đến truyền bệnh, chúng cũng được lây bệnh qua con đường thương mại từ vùng này sang vùng khác (OEPP/EPPO, 1992)

2.2.3 Nấm Ceratocystis fimbriata gây bệnh chết nhánh nhãn

Những nghiên cứu ngoài nước về bệnh chết nhánh trên cây nhãn do nấm C

fimbriata gây ra là rất ít

Những nghiên cứu trong nước về bệnh chết nhánh nhãn cũng rất hạn chế Theo Bùi Cách Tuyến (2004) và Nguyễn Huy Cường (2006), bệnh chết nhánh nhãn do nấm

Phoma sp gây ra Tuy nhiên, theo phòng Bảo Vệ Thực Vật – Viện Nghiên Cứu Cây

Ăn Quả Miền Nam (2008) xác định bệnh chết nhánh nhãn tiêu da bò do nấm C fimbriata gây ra (Trương Thị Hậu, 2009)

2.2.4 Nấm Ceratocystis fimbriata gây bệnh trên cây trồng khác

Loài nấm C fimbriata có phạm vi ký chủ rất rộng lớn, với ít nhất 31 loài cây trồng trong 14 họ cây kí chủ của chi Ceratocystis (CABI, 2001) Theo Ellis và Halsted (1980), những cây kí chủ của loài này gồm: cây bạch đàn (Eucalyptus spp.), cây xoài (Mangifera indica), cây cacao (Theobroma cacao), cây cà phê (Coffea arabica), cây cao su (Hevea brasiliensis), cây tiêu huyền (Platanus spp.), cây quả hạnh (Prunus spp.), cây dương sung (Populus spp.) Theo Johnson và cộng sự (2005), nấm C fimbriata gây bệnh cho cây khoai sọ (Colocasia esculenta) và cây khoai lang (Ipomoea batatas)

Trang 20

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Địa điểm tiến hành nghiên cứu: phòng thí nghiệm bệnh cây của Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh Thời gian nghiên cứu từ tháng 02 đến tháng 06 năm 2011

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Nấm Ceratocystis fimbriata tác nhân gây bệnh chết nhánh cây nhãn

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát đặc điểm hình thái của nấm C fimbriata

- Khảo sát sự sinh trưởng, phát triển của nấm C fimbriata ở các nhiệt độ khác nhau

- Khảo sát sự sinh trưởng, phát triển của nấm C fimbriata ở các pH khác nhau

- Ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng nảy mầm của bào tử nấm C fimbriata

3.4 Vật liệu và phương tiện nghiên cứu

• Vật liệu nghiên cứu: 6 mẫu phân lập nấm C fimbriata được phân lập từ mẫu cây

nhãn bệnh chết nhánh ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Vĩnh Long

Trang 21

Bảng 3.1: Ký hiệu và địa điểm thu thập 6 MPL nấm C fimbriata

STT Ký hiệu MPL Địa điểm lấy mẫu

1 TG1 Xã Hiệp Đức - Cai Lậy - Tiền Giang

2 TG2 Xã Hiệp Nhơn - Cai Lậy - Tiền Giang

3 TG3 Ấp Hòa Phúc - Hòa Khánh - Cái Bè - Tiền Giang

4 TG4 Xã Bình Đức - Châu Thành - Tiền Giang

5 BT 404/1 - Phú Phụng - Chợ Lách - Bến Tre

6 VL Ấp Phước Lợi A - Phước Hậu - Long Hồ - Vĩnh Long

• Môi trường nuôi cấy: môi trường PGA

Thành phần môi trường như sau:

Khoai tây 200 gr Glucose 20 gr Agar 15 gr Nước cất 1.000 ml

• Hóa chất dùng để chuẩn độ pH: NaOH, HCl 1N

• Dụng cụ: cân điện tử, nồi hấp, tủ sấy, tủ cấy, tủ định ôn, kính hiển vi, bếp điện, thước micrometer, buồng đếm hồng cầu Thomas, micropipet, pipet, ống tiêm, đĩa petri (đường kính 9cm), cốc thủy tinh, bình tam giác, lame, dao cấy, kéo, kẹp, đèn cồn, giấy thấm vô trùng, hộp nhựa có nắp đậy có kích thước 8 x 14 x 7 cm, ống hút nhựa, túi nilon

3.5 Phương pháp nghiên cứu

3.5.1 Khảo sát đặc điểm hình thái của nấm C fimbriata

• Thu thập mẫu bệnh: 6 mẫu bệnh được thu từ cành, thân cây nhãn có biểu hiện khô chết nhánh, hay chết toàn thân tại vườn nhãn các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Vĩnh Long

• Phương pháp phân lập nấm: tiến hành rửa các mẫu bệnh đã được thu thập dưới vòi nước chảy, tại vị trí vết bệnh đặc trưng ta cắt phần tiếp giáp giữa mô bệnh và mô

Trang 22

khỏe kích thước 1 – 2 cm cho vào cốc thủy tinh Rửa các mẫu bệnh với cồn 700, rửa sạch lại với nước cất, lặp lại 3 lần trong khoảng thời gian là 5 phút Các mẫu bệnh sẽ được cắt nhỏ hơn và để ráo nước trong tủ cấy trên giấy thấm vô trùng Khử trùng kẹp trên ngọn lửa đèn cồn, để nguội, gắp mẫu đặt 3 điểm trên đĩa petri chứa môi trường PGA Khi sợi nấm mọc ra từ mẫu bệnh, cấy chuyền sang đĩa PGA mới

• Cách tiến hành: từ tản nấm C fimbriata đã được phân lập 5 ngày tuổi, lấy một

khoanh nấm đường kính 0,5 cm đặt vào đĩa petri có sẵn môi trường PGA Đặt đĩa petri

ở điều kiện nhiệt độ phòng Sau khi thấy nấm mọc, tiến hành làm tiêu bản quan sát dưới kính hiển vi ở các độ phóng đại 10X và 40X Tiến hành làm tiêu bản và quan sát

24 giờ/lần cho đến khi các loại bào tử xuất hiện

• Các chỉ tiêu theo dõi:

- Hình dạng, màu sắc tản nấm

- Thời gian xuất hiện, hình dạng, màu sắc và kích thước của bào tử nội sinh, bào

tử hậu, bào tử túi, quả thể, cổ quả thể Dùng thước micrometre để đo kích thước các loại bào tử và quả thể, mỗi chỉ tiêu đo 30 lần cho mỗi MPL

3.5.2 Khảo sát sự sinh trưởng, phát triển của nấm C fimbriata ở các nhiệt độ

khác nhau (theo phương pháp của Tainter, 1986)

Tiến hành nuôi cấy 6 MPL nấm C fimbriata ở 6 nhiệt độ 10oC, 15oC, 20oC, 25oC,

30oC, 35oC để khảo sát sự sinh trưởng phát triển của nấm ở những nhiệt độ khác nhau Mỗi nhiệt độ cấy 5 đĩa petri cho mỗi MPL

• Các bước tiến hành: mỗi MPL, tiến hành cấy một khoanh nấm có đường kính 0,5

cm (lấy từ mép tản nấm 5 ngày tuổi) vào trung tâm của đĩa petri (đã đổ sẵn môi trường PGA) ở vị trí úp ngược sao cho nấm tiếp xúc với môi trường Đặt các đĩa petri trong tủ định ôn có điều chỉnh nhiệt độ

• Các chỉ tiêu theo dõi:

- Hình thái của tản nấm

- Đường kính tản nấm: đường kích của tản nấm được tính theo công thức sau:

D (cm) = (d1 +d2)/2

Trang 23

Trong đó: d1, d2 là 2 đường chéo vuông góc phần tản nấm mọc

Tiến hành đo 5 lần, lần đầu đo ở 2 ngày sau cấy, các lần đo sau cách nhau 48 giờ, quan sát cách mọc của tản nấm ở các nhiệt độ khác nhau

3.5.3 Khảo sát sự sinh trưởng, phát triển của nấm C fimbriata ở các pH khác

nhau

• Các bước tiến hành: mỗi MPL, tiến hành cấy một khoanh nấm có đường kính 0,5

cm cùng độ tuổi (lấy từ mép tản nấm 5 ngày tuổi) vào trung tâm đĩa petri chứa môi trường PGA đã được chuẩn độ ở 9 pH: 4, 4,5, 5, 5,5, 6, 6,5, 7, 7,5 và 8 ở vị trí úp ngược sao cho nấm tiếp xúc với môi trường Ở mỗi pH cấy 5 đĩa Petri cho mỗi MPL Đặt các đĩa petri ở điều kiện nhiệt độ phòng

• Chỉ tiêu theo dõi được thực hiện tương tự như mục 3.5.2

3.5.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng nảy mầm của bào tử nấm C fimbriata

• Các bước tiến hành: Thí nghiệm tiến hành trên lame, có nhỏ 1 giọt agar nước (20

g agar/1.000 ml nước cất) lame được đặt trong những hộp nhựa trong có nắp đậy, 1 lame/hộp Dưới đáy hộp nhựa đặt giấy vô trùng thấm ẩm, để duy trì độ ẩm trong hộp

Bào tử nấm C fimbriata được hòa trong nước vô trùng để tạo thành dung dịch bào tử

có mật số 2 x 103 bào tử/ml Sử dụng buồng đếm hồng cầu Thomas để đếm mật số bào

tử Dung dịch bào tử được nhỏ lên lame (trên giọt agar) và cho hộp nhựa được đậy kín Sau đó, hộp được đặt trong tủ định ôn ở các nhiệt độ thí nghiệm (10oC, 15 oC, 20 oC,

25 oC, 30 oC và 35 oC), ở mỗi nhiệt độ thực hiện 5 hộp, mỗi hộp 1 lame

• Chỉ tiêu theo dõi: tỷ lệ nảy mầm được tính theo công thức sau:

Tỷ lệ bào tử nảy mầm (%) = (số bào tử nảy mầm / tổng số bào tử quan sát) x 100

Ở các thời điểm 1, 2, 3, 4 và 5 giờ sau cấy, lấy lame để kiểm tra sự nảy mầm của bào tử bằng cách quan sát dưới kính hiển vi Ở mỗi thời điểm theo dõi, quan sát ít nhất

100 bào tử để tính tỷ lệ nảy mầm, bào tử nảy mầm là những bào tử có một hoặc vài ống mầm có chiều dài dài hơn đường kính của bào tử

Trang 24

Đếm mật số bào tử/ml bằng buồng đếm hồng cầu Thomas theo công thức:

D = (4.000 x a x 103 x 10-n)/b Trong đó: D: mật số bào tử/ml a: số lượng bào tử đếm được trong 16 ô lớn b: số ô con trong 16 ô lớn (256 ô)

10-n: nồng độ pha loãng mẫu

Trang 25

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm hình thái của nấm C fimbriata

Đặc điểm hình thái và màu sắc tản nấm của 6 MPL nấm C fimbriata được mô tả

dựa vào cơ sở và phương pháp mô tả của Hunt, 1956 (trích dẫn bởi Backer và

Harrington, 2004) Kết quả hình thái của 6 MPL nấm C fimbriata được thể hiện ở

bảng 4.1 và bảng 4.2

Theo kết quả quan sát được, đặc điểm tản nấm của 6 MPL nấm C fimbriata trên

môi trường PGA hầu như không có sự khác biệt

Bảng 4.1: Đặc điểm hình thái của 6 MPL nấm C fimbriata trên môi trường PGA

Đặc điểm Ngày xuất hiện

Bào tử hậu 3 Hình cầu, hình trứng Màu nâu đen

Đặc điểm tản nấm của 6 mẫu nấm phân lập C fimbriata như sau: tản nấm có dạng

tròn, có mùi trái cây chín, ban đầu có màu trắng sau đó chuyển sang màu nâu đen,

những sợi nấm mới mọc ở ngoài rìa tản nấm có màu trắng Sợi nấm mọc dày và mọc

sát mặt môi trường nuôi cấy

Quan sát dưới kính hiển vi cho thấy sợi nấm mảnh, không màu, có vách ngăn, chỗ

vách ngăn không thắt lại Bào tử nội sinh xuất hiện lúc 2 NSC có hình trụ, không màu,

đơn bào, mọc thành chuỗi Bào tử hậu xuất hiện lúc 3 NSC, xuất hiện riêng lẻ có hình

Trang 26

cầu hoặc hình trứng, màu nâu đen Ở 5 NSC quả thể xuất hiện Quả thể mọc nổi trên

bề mặt tản nấm, phần đáy phình to có hình cầu, màu nâu đen đến đen Quả thể có cổ thẳng dài, miệng cổ mở rộng với nhiều tua mọc tỏa ra các phía, màu nâu và không có vách ngăn Bào tử túi được rỉ ra từ cổ quả thể có hình dạng giống chiếc mũ, đơn bào, không màu

Số liệu ở bảng 4.2 cho thấy, có sự khác biệt về kích thức bào tử nội sinh giữa các MPL Ba mẫu nấm TG1, TG2 và TG4 có kích thước bào tử nội sinh tương đương nhau

từ 20,31 – 20,76 x 4,41 – 4,99 µm Mẫu nấm BT và VL có kích thước bào tử lớn hơn biến động từ 23,95 – 25,36 x 4,13 – 4,95 µm, MPL TG3 có kích thước bào tử nội sinh lớn nhất 29,38 x 4,97 µm

Bào tử hậu của 6 MPL nấm C fimbriata có sự biến động về kích thước nhưng

không lớn Hai mẫu TG1 và TG3 có kích thước bào tử lớn hơn các MPL khác biến động từ 14,65 – 14,69 x 9,92 – 11,10 µm Mẫu nấm TG4 và VL có kích thước bào tử nhỏ hơn lần lượt là 14,27 x 10,79 µm, 13,66 x 9,31 µm Còn 2 mẫu TG2 và BT có kích thước bào tử hậu nhỏ hơn các MPL khác và có kích thước tương đương nhau từ 13,14 – 13,18 x 9,18 – 9.58 µm

Mẫu phân lập TG1 có kích thước bào tử túi lớn nhất trong 6 MPL với kích thước bào tử đạt 6,74 x 4,86 µm Có kích thước bào tử nhỏ hơn là mẫu VL (6,14 x 4,41 µm) Bốn mẫu TG2, TG3, TG4 và BT có kích thước bào tử túi tương đương nhau biến động

từ 5,52 – 5,79 x 3,37 – 4,44 µm

Quả thể của MPL TG1 có kích thước lớn nhất đạt 204,67 x 181,07 µm, nhỏ nhất ở mẫu nấm TG3 với kích thước 142,77 x 135,30 µm Bốn MPL TG2, TG4, BT và VL có kích thước quả thể biến động từ 153,77 – 184,83 x 131,70 – 166,50 µm Cổ quả thể mẫu TG3 dài nhất với chiều dài 563,47 µm, ngắn nhất ở mẫu TG2 với chiều dài đạt 232,37 µm Cổ quả thể ở các MPL khác biến động từ 452,67 – 527,03 µm

Trang 27

Bảng 4.2: Kích thước các loại bào tử của 6 mẫu phân lập nấm C fimbriata

MPL Bào tử nội sinh

(µm)

Bào tử hậu (µm)

Bào tử túi (µm)

Quả thể (µm)

Cổ quả thể (µm) TG1 20,38 ± 5,22 x 4,99 ± 1,08 14,65 ± 1,44 x 11,10 ± 0,96 6,74 ± 0,79 x 4,86 ± 0,61 204,67 ± 41,66 x 181,07 ± 30,68 452,67 ± 63,42

Trang 28

Như vậy sau khi tiến hành quan sát, 6 MPL nấm C fimbriata có hình thái tản nấm

giống nhau Nhưng kích thước bào tử nội sinh, bào tử hậu, bào tử túi, quả thể và cổ quả thể khác nhau Bào tử hậu, bào tử túi và quả thể đều có kích thước lớn nhất ở mẫu TG1, mẫu TG3 có kích thước bào nội sinh lớn nhất và cổ quả thể dài nhất

Hình 4.1: Tản nấm C fimbriata mẫu TG1 trên môi trường PGA ở 25oC sau 10 NSC

Hình 4.2: Sợi nấm C fimbriata mẫu TG1 gây bệnh chết nhánh cây nhãn

Trang 29

Hình 4.3: Quả thể của nấm C fimbriata mẫu TG1 gây bệnh chết nhánh cây nhãn

A: Quả thể; B: Tua tại miệng quả thể

Hình 4.4: Bào tử của nấm C fimbriata mẫu TG1 gây bệnh chết nhánh cây nhãn

A: Bào tử nội sinh; B: Bào tử hậu; C: Bào tử túi; D: Bào tử túi được rỉ ra từ miệng quả thể

Trang 30

Bảng 4.3: Quá trình nảy mầm của các loại bào tử nấm C fimbriata

Loại bào tử Thời gian nảy mầm

Ghi chú: (–): Không xuất hiện giác bám

Theo dõi quá trình nảy mầm 3 loại bào tử: bào tử nội sinh, bào tử túi và bào tử hậu

của 6 MPL nấm C fimbriata trên môi trường WA (môi trường agar nước) cho thấy,

quá trình nảy mầm của các loại bào tử giữa 6 MPL không khác nhau Tuy nhiên, mỗi

loại bào tử lại có thời gian nảy mầm khác nhau

Bào tử nội sinh có hiện tượng trương nước ngay sau 1 giờ theo dõi Vào thời điểm

2 GSC, bào tử nội sinh bắt đầu nảy mầm và sợi nấm mọc dài ra ở các thời điểm theo

dõi sau đó Bào tử nội sinh mọc mầm ở 1 đầu hoặc 2 đầu của bào tử, đôi khi mọc mầm

ngay chính giữa bào tử

Bào tử túi có thời gian nảy mầm chậm hơn bào tử nội sinh Hiện tượng trương

nước của bào tử túi xuất hiện sau 2 giờ theo dõi và bắt đầu nảy mầm ở thời điểm 3

GSC

Bào tử hậu có thời gian nảy mầm chậm nhất trong 3 loại bào tử Hiện tượng trương

nước xuất hiện sau 2 giờ theo dõi và kéo dài đến 3 GSC Bào tử hậu bắt đầu nảy mầm

ở thời điểm 4 GSC

Bào tử túi và bào tử hậu chỉ mọc 1 ống mầm ở đỉnh của bào tử Ba loại bào tử đều

không xuất hiện giác bám trong quá trình theo dõi

Trang 31

1 giờ 2 giờ 3 giờ 4 giờ 5 giờ

Hình 4.5: Quá trính nảy mầm của 3 loại bào tử nấm C fimbriata

A1 – A5: Bào tử nội sinh

B1 – B5: Bào tử túi

C1 – C5: Bào tử hậu

Trang 32

4.2 Sự sinh trưởng và phát triển của nấm C fimbriata ở các nhiệt độ khác nhau

Nhiệt độ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm Mỗi loại nấm khác nhau thích nghi với một giới hạn nhiệt độ khác nhau Kết quả

khảo sát sự sinh trưởng và phát triển của 6 MPL nấm C fimbriata ở 6 nhiệt độ khác

nhau trên môi trường PGA được trình bày từ bảng 4.4 đến bảng 4.7

Kết quả thí nghiệm cho thấy tản nấm của 6 MPL không mọc ở 10oC và 35oC Như

vậy, 2 mức nhiệt độ này không thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của nấm C fimbriata

Bảng 4.4: Đường kính tản nấm của 6 MPL nấm C fimbriata trên môi trường PGA ở

Kết quả ở bảng 4.4 cho thấy, khác biệt về sự phát triển của tản nấm 6 MPL ở 15oC đều rất có ý nghĩa về mặt thống kê Hình thái tản nấm của 6 MPL ở 15oC đồng đều nhau, tản nấm mọc tròn đều màu trắng, sợi nấm mọc thưa và mọc sát mặt thạch, không xuất hiện quả thể

Trang 33

Sau 2 ngày cấy đường kính tản nấm mẫu TG1 lớn nhất đạt 1,07 cm, nhỏ nhất mẫu TG3 với đường kính tản nấm 0,77 cm Ở 4 NSC, mẫu VL có đường kính tản nấm lớn nhất đạt 1,87 cm, nhỏ nhất là tản nấm của mẫu TG3 có đường kính 1,23 cm

Tại 3 thời điểm 6, 8 và 10 NSC tản nấm của mẫu VL đạt đường kính lớn nhất với kích thước lần lượt là 2,56, 3,24 và 3,38 cm Mẫu nấm BT có đường kính tản nấm nhỏ nhất trong các MPL ở 3 thời điểm này với kích thước lần lượt là 1,50, 1,76 và 1,90 cm.

Bảng 4.5: Đường kính tản nấm của 6 MPL nấm C fimbriata trên môi trường PGA ở

Qua kết quả bảng 4.5 cho thấy, mức ý nghĩa thống kê khi khảo sát sự sinh trưởng

và phát triển của nấm 6 MPL nấm C fimbriata ở 20oC rất có ý nghĩa thống kê ở 2, 6, 8

và 10 NSC, không có ý nghĩa thống kê ở 4 NSC

Ở 2 ngày sau cấy, 4 mẫu nấm TG2, TG3, BT và VL có đường kính tương đương nhau từ 1,20 – 1,25 cm Đường kính tản nấm lớn nhất ở mẫu TG4 đạt 1,54 cm, tản nấm mẫu TG1 nhỏ hơn với đường kính 1,40 cm

Trang 34

Tản nấm mẫu BT có đường kính lớn hơn tản nấm các MPL khác ở thời điểm 4, 6, 8

và 10 NSC lần lượt là 2,59, 3,70, 4,26 và 4,40 cm Trong 6 MPL, tản nấm mẫu TG3 có đường kính nhỏ nhất ở 4 NSC (2,35 cm) và 6 NSC (2,81 cm), ở 8 và 10 NSC tản nấm mẫu TG1 có đường kính nhỏ nhất lần lượt là 2,95 và 3,07 cm

Ở 20oC, 6 mẫu nấm phân lập đều có tản nấm mọc tròn đều, màu nâu, càng xa tâm màu càng nhạt, không hình thành quả thể

Bảng 4.6: Đường kính tản nấm của 6 MPL nấm C fimbriata trên môi trường PGA ở

Kết quả xử lý thống kê về ảnh hưởng của 25oC tới sinh trưởng và phát triển của 6

MPL nấm C fimbriata cho thấy khác biệt rất có ý nghĩa về đường kính tản nấm giữa 6

MPL tại các thời điểm nuôi cấy Ở mức nhiệt độ này, tản nấm của 6 MPL phát triển khá nhanh, tản nấm mọc tròn đều, có màu nâu, ở mép tản nấm sợi nấm mọc thưa và màu nhạt hơn so với tâm tản nấm, hình thành quả thể màu nâu đen từ 5 NSC

Sau 2 ngày cấy tại nhiệt độ 25oC thấy có sự khác biệt về đường kính tản nấm giữa các MPL Mẫu TG2 có đường kính tản nấm lớn nhất đạt 1,80 cm, nhỏ nhất tản nấm mẫu TG1 với đường kính 1,45 cm Hai mẫu TG3 và BT có đường kính tản nấm tương

Trang 35

đương nhau từ 1,72 – 1,76 cm, tản nấm của 2 MPL TG4 và VL có đường kính gần bằng nhau với kích thước đạt 1,53 – 1,55 cm

Tại 4 NSC, tản nấm mẫu TG2 đạt đường kính lớn nhất 3,69 cm, tản nấm nhỏ hơn ở mẫu TG3 với đường kính đạt 3,33 cm Đường kính tản nấm nhỏ nhất ở MPL VL đạt 2,83 cm, còn tản nấm của 3 mẫu nấm TG1, TG4 và BT có đường kính tương đương nhau từ 3,07 – 3,17 cm

Trong 6 MPL tại 3 thời điểm 6, 8 và 10 NSC, mẫu BT đạt đường kính tản nấm lớn nhất lần lượt là 5,85, 7,83 và 8,99 cm Mẫu VL có đường kính tản nấm nhỏ hơn các MPL khác lần lượt là 3,98, 5,12 và 6,04 cm

Bảng 4.7: Đường kính tản nấm của 6 MPL nấm C fimbriata trên môi trường PGA ở

Kết quả xử lý theo bảng 4.7 cho thấy, mức ý nghĩa thống kê khi khảo sát sự sinh

trưởng và phát triển giữa tản nấm của 6 MPL nấm C fimbriata tại 30oC ở các thời điểm khác nhau đều khác biệt rất có ý nghĩa thống kê Hình thái tản nấm của 6 MPL giống nhau, tản nấm mọc dạng tròn, màu nâu, càng xa tâm màu càng nhạt, sợi nấm

Trang 36

mọc sát mặt thạch, có màu trắng ở mép tản nấm Quả thể hình thành từ 5 NSC, màu nâu đen

Ở 2NSC mẫu nấm BT có đường kính tản nấm lớn nhất đạt 1,58 cm, nhỏ nhất ở tản nấm mẫu TG4 với đường kính 1,15 cm Bốn mẫu nấm TG1, TG2, TG3 và VL có đường kính tản nấm tương đương nhau từ 1,26 – 1,30 cm

Trong 6 MPL tại 4 và 6 NSC, mẫu TG3 có đường kính tản nấm lớn nhất đạt 1,77

và 2,72 cm, nhỏ nhất ở mẫu nấm TG4 với đường kính đạt 2,43 và 3,38 cm Ở 8 và 10 NSC, tản nấm có đường kính nhỏ nhất ở mẫu TG1 lần lượt là 3,29 và 3,90 cm, đường kính lớn nhất ở tản nấm mẫu VL đạt 4,41 và 5,27 cm

Kết quả từ hình 4.6 cho thấy, 6 MPL nấm C fimbriata đều không mọc 10°C và

35°C nấm, nấm sinh trưởng và phát triển tốt nhất ở 25oC, ở các mức nhiệt độ 15oC,

20oC, 30oC nấm có phát triển nhưng khá chậm

Sau 10 ngày nuôi cấy, tản nấm của 6 MPL có đường kính lớn nhất khi nuôi cấy ở

25oC Tại nhiệt độ này, mẫu nấm BT có đường kính tản nấm lớn nhất (8,99 cm), nhỏ nhất ở tản nấm mẫu VL (6,04 cm) Đường kính tản nấm của 6 MPL giảm dần ở các nhiệt độ 30oC, 20oC và 15oC Ở 30oC, mẫu VL có đường kính tản nấm lớn nhất (5, 27 cm), nhỏ nhất ở tản nấm TG1 (3,90 cm) Tại 20oC, đường kính tản nấm của mẫu BT lớn nhất (4,40 cm), nhỏ nhất ở tản nấm mẫu TG1 (3,07 cm) Còn tại 15oC tản nấm mẫu

VL có đường kính lớn nhất (3,38 cm), nhỏ nhất ở tản nấm BT (1,90 cm)

Trang 37

Hình 4.6: Đường kính tản nấm của 6 MPL nấm C fimbriata ở các nhiệt độ khác nhau sau 10 ngày nuôi cấy

Ghi chú: Trong cùng 1 MPL, các cột được ghi phía trên bởi cùng 1 ký tự thể hiện sự khác biệt không có ý nghĩa ở mức alpha = 0,01, theo trắc nghiệm LSD

Trang 38

            Hình 4.7: Tản nấm C fimbriata mẫu TG1 trên môi trường PGA ở các nhiệt độ khác nhau sau 10 ngày nuôi cấy

Trang 39

4.3 Sự sinh trưởng và phát triển của nấm C fimbriata ở các pH khác nhau

Độ pH là một trong những yếu tố môi trường quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh

trưởng và phát triển của nấm C fimbriata Chúng tôi đã tiến khảo sát sự phát triển của

6 MPL C fimbriata ở 9 mức độ pH khác nhau để xác định pH thích hợp nhất để nuôi

cấy nấm

Kết quả từ bảng 4.8 cho thấy, sinh trưởng và phát triển của 6 MPL C fimbriata sau

6 và 10 ngày nuôi cấy có sự khác biệt giữa 9 pH khác nhau tại mỗi MPL đều rất có ý nghĩa về thống kê

Sau 6 ngày nuôi cấy, hình thái tản nấm của 6 MPL mọc khá tròn đều, có màu nâu Sợi nấm mọc dày dần khi giảm pH từ 6 đến 4, mọc thưa dần ở các mức pH = 6,5 đến

pH = 7, nhưng lại mọc dày ở các mức pH cao hơn Tại thời điểm này, tản nấm của 6 MPL có xuất hiện quả thể màu nâu đen, nhưng chỉ xuất hiện ở 2 mức pH là 6,5 và 7 Tại pH = 4, sự phát triển của 6 mẫu nấm là thấp nhất, mẫu VT có đường kính tản nấm đạt 0,78 cm phát triển tốt nhất trong 6 MPL, phát triển thấp nhất là mẫu TG1 với đường kính tản nấm 0,68 cm Đường kính tản nấm của 6 mẫu phân lập tăng lên khi được nuối cấy ở các mức pH cao hơn

Sự phát triển của mẫu nấm TG3 (3,02 cm) và TG4 (3,35 cm) là nhanh nhất ở pH = 6,5 Tại pH = 7 các mẫu nấm TG1 (3,15 cm), TG2 (2,99 cm) và VL (3,25 cm) phát triển tốt hơn các pH khác Còn mẫu nấm BT đều phát triển tốt ở 2 mức pH trên, với đường kính tản nấm đạt được 3,00 cm Nấm phát triển chậm dần khi tăng pH của môi trường nuôi cấy lên 7,5 và 8

Tại 10 ngày sau cấy, tản nấm của 6 MPL mọc tròn đều, màu nâu đen, Càng ở mức

pH thấp thì sợi nấm mọc càng dày Tản nấm của 6 MPL hình thành nhiều quả thể ở 2 mức pH = 6,5 và 7, quả thể không xuất hiện ở các pH còn lại

Khi nuôi cấy 6 mẫu nấm ở pH = 4 đều cho đường kính thấp hơn so với 6 MPL được nuôi cấy ở các pH khác Ở pH này, mẫu TG1 mọc tốt nhất với đường kính tản nấm đạt 0,97 cm, mọc chậm nhất ở mẫu TG3 có đường kính tản nấm đạt 0,86 cm Nấm phát triển nhanh hơn khi tăng pH ở môi trường nuôi cấy từ 4 đến 6,5

Trang 40

Bảng 4.8: Đường kính tản nấm của 6 MPL nấm C fimbriata trên môi trường PGA ở các pH khác nhau sau 6 NSC và 10 NSC

Ghi chú: (A): Đường kính trung bình của 5 lần lặp lại Trong cùng một cột, các số trung bình ghi theo sau bởi cùng 1 kí tự thì sự khác biệt không có ý nghĩa ở mức alpha = 0,01, theo trắc nghiệm LSD (**): Khác biệt rất có ý nghĩa ở mức alpha = 0,01.

5 1,83 de 1,75 de 1,89 b 2,04 bc 1,69 c 1,76 c 2,36 cd 2,84 c 2,92 b 2,87 b 2,03 de 2,38 d 5,5 2,56 c 2,04 cd 2,14 b 2,08 bc 1,70 c 2,51 b 3,65 b 3,02 c 2,96 b 2,97 b 2,40 cd 3,40 c

6 2,80 bc 2,42 b 2,87 a 3,13 a 2,65 b 3,02 a 4,47 a 3,96 b 4,89 a 4,92 a 4,20 b 4,63 b 6,5 3,01 ab 2,53 b 3,02 a 3,35 a 3,00 a 3,11 a 4,99 a 3,93 b 5,33 a 5,31 a 4,88 a 5,17 ab

7 3,15 a 2,99 a 3,00 a 3,33 a 3,00 a 3,25 a 4,76 a 4,82 a 5,18 a 4,72 a 4,78 a 5,38 a 7,5 2,12 d 2,31 bc 2,01 b 2,19 b 1,85 c 1,97 c 2,89 ab 3,12 c 3,05 b 3,06 b 2,81 c 2,87 cd

8 1,92 de 1,7 de 2,00 b 1,78 c 1,79 c 1,83 c 2,62 cb 2,63 cd 2,93 b 2,650b 2,63 c 2,73 d

CV (%) 6,46 8,53 9,14 8,76 6,46 6,68 10,34 8,71 9,06 9,37 7,43 8,86

Ngày đăng: 10/06/2018, 21:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm