Trong nền kinh tế nước ta, vai trò của khu vực kinh tế Nhà nước mà lực lượng chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước được coi là chủ đạo. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: " ... thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể dần trở thành nền tảng của nền kinh tế, kinh tế Nhà nước phải phát huy vai trò chủ đạo, nắm vững những vị trí then chốt trong nền kinh tế, là nhân tố mở đường cho sự phát triển kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế". Trong thời đại ngày nay, khi cuộc cách mạng khoa học- kĩ thuật đang diễn ra như vũ bão, khoa học, công nghệ đã trở thàh lực lượng sản xuất trực tiếp, để tồn tại và phát triển, khẳng định vai trò đầu tàu của mình, các doanh nghiệp Nhà nước cần phải có năng lực thiết bị, công nghệ tương xứng. Nhưng có một thực tế không mấy khả quan hiện nay là trình độ công nghệ, máy móc của các doanh nghiệp Nhà nước còn thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung của khu vực và thế giới. Mặt khác, trong xu thế toàn cầu hoá, nước ta từng bước hội nhập kinh tế thông qua việc gia nhập các tổ chức thương mại của khu vực và thế giới, kí kết hiệp định thương mại với Mỹ... hàng hoá của ta phải đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế... Thực tế đó cho thấy việc đầu tư đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay là rất cấp bách. Trên cơ sở những tìm tòi và nghiên cứu về vấn đế này em đã thực hiện đề tài:" Đầu tư đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp Nhà nước" với mục đích tìm hiểu thực trạng công nghệ và tình hình đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp Nhà nước trong thời gian qua , từ đó đề xuất một và ý kiến về vấn đề này.
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế nước ta, vai trò của khu vực kinh tế Nhà nước màlực lượng chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước được coi là chủ đạo Vănkiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: " thực hiện nhất quánchính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó kinh tếNhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thểdần trở thành nền tảng của nền kinh tế, kinh tế Nhà nước phải phát huy vaitrò chủ đạo, nắm vững những vị trí then chốt trong nền kinh tế, là nhân tố
mở đường cho sự phát triển kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và làmột công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế"
Trong thời đại ngày nay, khi cuộc cách mạng khoa học- kĩ thuậtđang diễn ra như vũ bão, khoa học, công nghệ đã trở thàh lực lượng sảnxuất trực tiếp, để tồn tại và phát triển, khẳng định vai trò đầu tàu của mình,các doanh nghiệp Nhà nước cần phải có năng lực thiết bị, công nghệ tươngxứng Nhưng có một thực tế không mấy khả quan hiện nay là trình độ côngnghệ, máy móc của các doanh nghiệp Nhà nước còn thấp hơn nhiều so vớimặt bằng chung của khu vực và thế giới Mặt khác, trong xu thế toàn cầuhoá, nước ta từng bước hội nhập kinh tế thông qua việc gia nhập các tổchức thương mại của khu vực và thế giới, kí kết hiệp định thương mại vớiMỹ hàng hoá của ta phải đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Thực
tế đó cho thấy việc đầu tư đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp Nhà nướchiện nay là rất cấp bách
Trên cơ sở những tìm tòi và nghiên cứu về vấn đế này em đã thực
hiện đề tài:" Đầu tư đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp Nhà
nước" với mục đích tìm hiểu thực trạng công nghệ và tình hình đổi mới
công nghệ trong các doanh nghiệp Nhà nước trong thời gian qua , từ đó đềxuất một và ý kiến về vấn đề này
Nội dung cơ bản của đề án này gồm 3 chương :
Chương I Lí luận chung về đầu tư, doanh nghiệp Nhà nước và vấn đề đầu
tư đổi mới công nghệ
Chương II.Tình hình công nghệ và đầu tư đổi mới công nghệ trong cácdoanh nghiệp Nhà nước
Chương III.Một số giải pháp nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hoạtđộng đầu tư đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp Nhà nước
Trang 2CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN, DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ
ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
I KHÁI NIỆM ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN.
Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư, chúng
ta có những cách hiểu khác nhau về đầu tư
Theo nghĩa rộng, đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiệntại để thu được những kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồnlực đã bỏ ra để đạt được những kết quả đó
Như vậy, mục đích của việc đầu tư là thu được kết quả lớn hơn những
gì đã bỏ ra Tuy nhiên, nếu xét trên góc độ nền kinh tế, người ta không xemnhững hoạt động như gửi tiền tiết kiệm là hoạt động đầu tư vì nó khônglàm tăng của cải cho nền kinh tế mặc dù người gửi vẫn có khoản thu lớnhơn so với số tiền gửi
Ta có định nghĩa về đầu tư phát triển như sau: “Đầu tư phát triển là
hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế, tạo việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội"
Trên giác độ nền kinh tế, đầu tư tác động đến tổng cung và tổng cầu,
sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, tác động đến sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, tăng cường khả năng khoa học, công nghệ của nền kinh tế.Xét trên giác độ doanh nghiệp, đầu tư quyết định sự ra đời, hoạt động
và sự phát triển của doanh nghiệp Đầu tư phát triển tạo điều kiện nâng caokhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạođiều kiện giảm giá thành, tăng lợi nhuận, đổi mới công nghệ, trang thiết bị,nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Hoạt động đầu tư phát triển trongdoanh nghiệp tập chủ yếu vào 4 nội dung sau:
• Đầu tư vào máy móc thiết bị và dây chuyền công nghệ
Trang 3• Đầu tư vào hàng tồn trữ.
• Đầu tư vào nguồn nhân lực
• Đầu tư vào tài sản vô hình
II KHÁI NIỆM VỀ DOANH NGHIỆP VÀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC.
1 Doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện cáchoạt động kinh doanh, thực hiện các chức năng sản xuất, mua bán hànghoá, dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu của con người và xã hội, tìm kiếmlợi nhuận thông qua các hoạt động hữu ích đó
Theo điều 3, Luật Doanh nghiệp do Quốc hội thông qua ngày
12/6/1999: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ
sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạncủa quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch
vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi
Theo khái niệm này, trừ loại hình kinh doanh cá thể, các tổ chức kinh
tế đảm bảo các điều kiện về tài sản, tên riêng, trụ sở giao dịch và có giấychứng nhận đăng kí kinh doanh đều được gọi là doanh nghiệp
2 Phân loại doanh nghiệp.
Có nhiều cách phân loại doanh nghiệp, nhưng cách phân loại thườngđược sử dụng nhiều nhất và có vai trò quan trọng nhất trong việc nghiêncứu cũng như quản lí hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế làcách phân loại dựa trên hình thức sở hữu Theo đó, doanh nghiệp đượcphân thành các nhóm sau
-Doanh nghiệp Nhà nước
- Doanh nghiệp tư nhân
- Doanh nghiệp công ty
- Doanh nghiệp hợp tác xã
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
3 Doanh nghiệp Nhà nước(DNNN)
Thông thường, doanh nhân là những người sở hữu doanh nghiệp đồngthời là người trực tiếp quản lí, điều hành mọi hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp Họ bỏ tiền ra kinh doanh, thu lợi nhuận và chịu trách nhiệm
về các hoạt động đó, trách nhiệm và quyền lợi của họ thống nhất với nhau
Trang 4hữu và chủ thể quản lí Điều này qui định những tính chất khác biệt tronghoạt động của DNNN so với các loại hình doanh nghiệp khác.
Điều 1, Luật Doanh nghiệp Nhà nước qui định: “Doanh nghiệp Nhànước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn thành lập và tổ chức quản
lí, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mụctiêu kinh tế, xã hội do Nhà nước giao cho”
Nhà nước đầu tư vốn để thành lập DNNN nên tài sản trong DNNNthuộc sở hữu của Nhà nước, doanh nghiệp quản lí, sử dụng tài sản Nhànước theo qui định của chủ sở hữu là Nhà nước Để đảm bảo cho DNNNhoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nước ban hành cơchế, chính sách cho hoạt động của DNNN và cử người quản lí, điều hànhdoanh nghiệp
4 Tính chủ đạo của các doanh nghiệp Nhà nước ttong nền kinh tế nước ta.Doanh nghiệp Nhà nước là sản phẩm của sự phát triển và xã hội hoánền sản xuất Tại hầu hết các nước trên thế giới đều tồn tại loại hình DNNNnhưng vai trò, vị trí, tỷ trọng đóng góp của nó trong nền kinh tế tuỳ thuộcvào quan điểm, đường lối, chính sách phát triển kinh tế xã hội của mỗiquốc gia ở từng giai đoạn phát triển
Tại các nước tư bản phát triển, vai trò cũng như tỷ trọng đóng góp củacác DNNN trong GDP thường không cao, thậm chí là rất thấp Ví dụ: đónggóp của DNNN vào GDP ở Mĩ là 2%, ở Đức khoảng 10%, ở Malaisia là24%, còn ở Việt Nam, tỉ lệ này vào khoảng trên 40%
Sở dĩ có sự khác biệt này là do quan điểm về vai trò, vị trí cũng nhưmục tiêu hoạt động của các doanh nghiêp Nhà nước ở nước ta so với cácnước tư bản chủ nghĩa là không giống nhau
Tại các nước tư bản chủ nghĩa, DNNN có thể là một doanh nghiệpkhông thuộc sở hữu của Nhà nước mà chỉ thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ kinh tế, xã hội do Nhà nước giao cho, các công ty này còn được gọi làcác công ty công cộng(public company), phần lớn các công ty này là hoạtđộng công ích Còn ở Việt Nam, ngoài nhiệm vụ hoạt động công ích, cácDNNN còn thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh, được Nhà nước tàitrợ vốn, thành lập và tổ chức quản lí hoạt động
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là phát triển nền kinh tế hànghoá nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa Do đó, thành phần kinh
tế Nhà nước mà lực lượng nòng cốt là các DNNN phải giữ vai trò chủ đạo.Tính chủ đạo của các DNNN không nhất thiết chỉ thể hiện ở số lượng và tỷ
Trang 5trọng của nó trong nền kinh tế mà còn thể hiện ở chức năng, vị trí cũng nhưhiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này.
Doanh nghiệp nhà nước có chức năng điều tiết và định hướng, đảmbảo cho sự phát triển ổn định của nền kinh tế Trong những trường hợp bất
ổn xảy ra, DNNN dùng lực lượng vật chất của mình để kìm giá, chống đầu
cơ, tăng giá Doanh nghiệp nhà nước phải chịu trách nhiệm cung cấp nhữnghàng hoá thiết yếu phục vụ nền kinh tế, những mặt hàng mà các doanhnghiệp tư nhân vì lợi nhuận thấp mà không sản xuất Chức năng địnhhướng của DNNN thể hiện ở chỗ DNNN phải đi tiên phong trong các lĩnhvực chiến lược theo đường lối phát triển chung, tạo điều kiện cho các thànhphần kinh tế khác phát triển
Ngoài chức năng định hướng và điều tiết, DNNN còn có chức năng hỗtrợ và phục vụ Sự khác biệt của DNNN là sự phát triển của DNNN khôngchỉ đơn thuần vì bản thân nó mà quan trọng hơn là tạo điều kiện cho sựphát triển của toàn bộ nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà nước, các DNNNđóng một vai trò hết sức quan trọng vì đây là lực lượng vật chất cơ bảngiúp Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế Đối với nước
ta, vai trò của hệ thống DNNN được đặc biệt coi trọng bởi lẽ thành phầnkinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể là nền tảng của nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa Để thực hiện được vai trò kinh tế,chính trị của mình, DNNN ttước hết phải là lực lượng vật chất đủ mạnh Vìvậy, mục tiêu cơ bản nhất của phần lớn các DNNN hiện nay vẫn là hiệuquả sản xuất kinh doanh Để đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanhcũng như vươn lên đủ sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế thếgiới hiện nay, các DNNN phải được tổ chức và cơ cấu hợp lí, đội ngũ cán
bộ và công nhân có trình độ cao và một điều quan trọng là phải có hệthống máy móc, công nghệ hiện đại Tình hình thực tế cho thấy, hiện nay,năng lực thiết bị công nghệ của nền kinh tế nước ta nói chung và của cácDNNN còn rất hạn chế Do đó, vấn đề đầu tư đổi mới công nghệ ở cácDNNN hiện nay là rất cấp thiết
III CÔNG NGHỆ VÀ VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ.
1 Khái niệm về công nghệ
Đứng trên các góc độ khác nhau, người ta có thể định nghĩa công nghệtheo nhiều cách khác nhau Uỷ ban kinh tế xã hội châu Á- Thái bìnhdương(ESCAP) đưa ra định nghĩa: “Công nghệ là việc áp dụng khoa học
Trang 6vào thực tiễn bằng cách sử dụng những những nghiên cứu và xử lí nó mộtcách có hệ thống và có phương pháp Công nghệ là hệ thống kiến thức vềqui trình và kĩ thuật chế biến vật chất và thông tin”
Mở rộng nội dung của định nghĩa này, có thể quan niệm công nghệbao gồm tất cả các kĩ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụngtrong sản xuất, chế tạo hoặc dịch vụ công nghiệp, dịch vụ quản lí
Định nghĩa này đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong quan niệm vềcông nghệ Ngày nay, vượt khỏi khuôn khổ chật hẹp trước kia, khi màngười ta coi công nghệ luôn phải gắn với quá trình sản xuất trực tiếp Bằngcách nhìn tổng quan và khái quát, ESCAPE đã mở rộng khái niệm vànhững ứng dụng công nghệ ra các lĩnh vực dịch vụ và quản lí
2 Các bộ phận cấu thành của công nghệ
Theo quan niệm hiện đại, công nghệ bao gồm 2 phần: phần cứng vàphần mềm
a) Phần cứng:
Bao gồm : máy móc, thiết bị, dụng cụ, kết cấu xây dựng, nhà xưởng Phần cứng giúp tăng năng lực cơ bắp(máy móc, thiết bị), tăng trí lực củacon người(máy tính)
Thiếu máy móc, thiết bị thì không thể có công nghệ, nhưng công nghệkhông chỉ bao gồm máy móc thiết bị
b) Phần mềm : bao gồm
- Phần con người: là đội ngũ nhân lực có sức khoẻ, có kĩ năng, kĩ xảo, kinh
nghiệm sản xuất, làm việc có trách nhiệm và năng suất cao Một trang thiết
bị hoàn hảo nhưng nếu thiếu con người có trình độ chuyên môn tốt và có kỉluật lao động cao thì cũng không có hiệu quả
- Phần thông tin: bao gồm các dữ liệu, thuyết minh, dự án, mô tả sáng chế,
chỉ dẫn kĩ thuật, các thông tin điều hành kĩ thuật, điều hành sản xuất Phần thông tin rất quan trọng, nó được tiến hành tìm hiểu trong mộtthời gian dài và hoàn thiện trước khi kí kết hợp đồng chuyển giao côngnghệ
- Phần tổ chức: bao gồm những liên hệ, bố trí, sắp xếp, đào tạo đội ngũ
cho các hoạt động như phân chia nguồn lực, tạo mạng lưới, lập kế hoạch,kiểm tra, điều hành
Mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành công nghệ được biểu diễn qua
sơ đồ sau:
Trang 73 Đầu tư đổi mới công nghệ.
Đổi mới công nghệ là sự chủ động thay thế một phần đáng kể(cốt lõi,
cơ bản ) hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng công nghệ khác
Đổi mới công nghệ là nhân tố đóng vai trò quyết định đối với sự tồntại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Đổi mới công nghệ là một hìnhthức của đầu tư phát triển nhưng có nội dung đi sâu vào mặt “chất” của đầu
tư Mục tiêu của đầu tư đổi mới công nghệ cũng như của đầu tư phát triểnđều là tăng năng lực sản xuất kinh doanh, tạo thêm những tài sản mới vàcông ăn việc làm cho người lao động Tuy nhiên, mục tiêu cụ thể của đầu
tư đổi mới công nghệ chính là tập trung vào việc tạo ra các yêú tố mới củacông nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tăng khảnăng cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ
Đầu tư phát triển bao gồm cả việc mở rộng qui mô sản xuất kinhdoanh, còn đầu tư đổi mới công nghệ chủ yếu nhằm tăng năng suất laođộng, cải tiến, thay đổi và phát triển các loại hàng hoá, dịch vụ mới có chấtlượng cao hơn, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của thị trường được tốt hơn.Đầu tư đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp được thực hiện nhờ cácnguồn sau đây:
- Cải tiến, hiện đại hoá công nghệ truyền thống hiện có
- Tự nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghệ mới
- Nhập công nghệ tiên tiến từ nước ngoài thông qua mua sắm trang thiết bị
và chuyển giao công nghệ
TỔ CHỨC
Con người
Trang 8Như vậy, đổi mới công nghệ chính là một hình thức của đầu tư pháttriển nhằm hiện đại hoá dây chuyền công nghệ và trang thiết bị cũng nhưtrình độ nguồn nhân lực, tăng năng lực sản xuất kinh doanh cũng như cạnhtranh thông qua cải tiến, đổi mới sản phẩm hàng hoá dịch vụ Tuỳ theotrình độ phát triển của mỗi doanh nghiệp, đổi mới công nghệ được thựchiện từng phần hoặc kết hợp theo 7 giai đoạn sau:
• Giai đoạn 1: Nhập công nghệ để thoả mãn nhu cầu tối thiểu
• Giai đoạn 2: Tổ chức cơ sở hạ tầng kinh tế ở mức tối thiểu để tiếpthu công nghệ nhập
• Giai đoạn 3: Tạo nguồn công nghệ từ nước ngoài thông qua lắpráp(SKD,CKD và IKD)
• Giai đoạn 4: Phát triển công nghệ nhờ lisence
• Giai đoạn 5: Đổi mới công nghệ nhờ nghiên cứu và triển khai
• Giai đoạn 6: Xây dựng tiềm lực công nghệ để xuất khẩu công nghệdựa trên cơ sở nghiên cứu và triển khai
• Giai đoạn 7: Liên tục đổi mới công nghệ dựa trên đầu tư nghiêncứu cơ bản
Một công nghệ nào cũng chỉ phát triển trong một giai đoạn nhất địnhtheo chu kì: xuất hiện _ tăng trưởng _ trưởng thành _ bão hoà Chu kì ấygọi là “vòng đời công nghệ” Đầu tư đổi mới công nghệ cũng phải căn cứvào “vòng đời” này để quyết định thời điểm đầu tư thích hợp nhất nhằmđảm bảo hiệu quả của vốn đầu tư
Các giai đoạn đầu tư theo “ vòng đời công nghệ” được thể hiện ở đồthị sau:
Khởi động
Tăng trưởng
Trưởng
th nh à
Bão hoà
Lựa chọn đầu tư
JPhát triển đầu tư
Ho n thi à ện đầu tư
Nhu cầu công nghệ mới
Chu kì đầu
tư đổi mới
công nghệ.
Trang 94 Lựa chọn công nghệ để đổi mới.
Có 4 yếu tố để lựa chọn khi tiếp nhận công nghệ mới, đó là vốn, laođộng, hàm lượng nguyên liệu và hàm lượng tri thức Các nước đangphát triển, với tiềm lực kinh tế và năng lực công nghệ còn hạn chế, thườngchú trọng đến yếu tố vốn và lao động khi đổi mới công nghệ Trong hìnhdưới đây là hàm sản xuất với hai yếu tố vốn và lao động Để sản xuất mộtlượng sản phẩm nhất định, với một lượng lao động nhất định , có nhiềucông nghệ khác nhau ứng với các điểm trên đường đẳng lượng Nhằm đạtđược số lượng sản phẩm nhất định với chi phí tối ưu, người ta xác địnhđường đẳng phí thể hiện sự phối hợp giữa trình độ lao động và vốn Nếuchọn công nghệ A, cần lượng vốn OV1 và số lao động là OL1 Khi chọncông nghệ B sẽ cần lượng vốn OV2 và số lao động là OL2
Tất cả các nước phát triển khi lựa chọn công nghệ để đổi mới, người
ta chú trọng tới yếu tố hiện đại và chất xám của công nghệ Theo dõi lịch
sử phát triển của công nghệ, người ta thấy có sự dịch chuyển các yếu tố lựachọn trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi nước Có thểnhận thấy điều này qua sự phát triển công nghệ ở Nhật Bản trong 25 nămqua Vào những năm 50 của thế kỉ này, nước Nhật chú trọng đến các côngnghệ cần nhiều lao động để giải quyết việc làm và phát triển các công nghệthiết yếu Những năm 70, họ chú trọng vào các công nghệ ít lao độngnhưng có hàm lượng thiết bị cao Và đến những năm 80, Nhật Bản đã tậptrung vào những công nghệ có hàm lượng chất xám cao
A
Trang 10
5.Đổi mới công nghệ và hiệu quả Cuộc cách mạng khoa học- công nghệ phát triển như vũ bão trên toàn thế giới ngày càng khẳng định khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Hàm sản xuất Cobb- Douglas biểu diễn tác động của công nghệ đối với kết quả của hoạt động sản xuất như sau: Y=T.Lα .Kβ .Rγ Trong đó: Y là kết quả đầu ra của hoạt động kinh tế T: Yếu tố đầu vào là công nghệ L: lao động K: vốn sản xuất R: tài nguyên thiên nhiên α, β, γ : Tỉ lệ đóng góp của các yếu tố đầu vào Hàm sản xuất này cho thấy công nghệ là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất Trong đó phân biệt rõ hai loại yếu tố tác động đến khối lượng sản phẩm đầu ra của hoạt động kinh tế Thứ nhất, những yếu tố tác động trực tiếp bao gồm: lao động, vốn và tài nguyên Thứ hai, là yếu tố góp phần nâng cao hiệu suất sử dụng của các yếu tố trên, đó là công nghệ Mỗi công nghệ ở một thời điểm nhất định lập nên một giới hạn về bao nhiêu sản phẩm có thể sản xuất được với một lượng đầu vào đã cho Với một trình độ công nghệ nhất định có một loạt các phương pháp( các công nghệ) có thể sử dụng để sản xuất ra một loại hàng hoá hay dịch vụ 1985
1974
Thiết bị Nguyên liệu
Lao động
H m l à ượng tri thức
1959
Trang 11Cho một lượng đầu vào xác định có thể biết được lượng đầu ra cực đạithông qua hàm sản xuất:
Q = f(K, L, a, b )
Trong đó:
Q: lượng đầu ra K: lượng đầu vào là vốn; a: hệ số thu hồi vốn
L: lượng đầu vào là lao động; b: hiệu suất lao động.Đổi mới công nghệ là áp dụng những tiến bộ về công nghệ Tiến bộ đódưới dạng kĩ thuật mới về sản xuất hay phương pháp mới về quản lí, tổchức hay marketing mà nhờ đó sản phẩm sản xuất ra sẽ có năng suất caohơn, chất lượng tốt hơn, chi phí sản xuất thấp hơn và do đó có thể hạ giáthành sản phẩm
Với một lượng đầu vào vốn và lao động(giả thiết các đầu vào giữnguyên không đổi), đổi mới công nghệ cũ bằng một công nghệ có trình độcao hơn sẽ làm đường đẳng lượng 1- 1’ dịch chuyển về phía gốc tọa độ,đường 2- 2’
Đổi mới công nghệ còn thể hiện ở chỗ đổi mới sản phẩm, nâng caochất lượng, mẫu mã, làm cho các chủng loại sản phẩm trở nên phong phú,
đa dạng hơn Đổi mới công nghệ chính là con đường tốt nhất để nâng caonăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua việc cải tiến sản phẩm cả
về chất lượng và giá thành Do đó, đổi mới công nghệ tác động trực tiếpđến hiệu quả của đầu tư phát triển, là một trong những tiền đề cơ bản đểnâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả của đầu tư đổi mới công nghệ
Trang 12Ngược lại, hiệu quả của đầu tư phát triển cũng tác động mạnh mẽ đếnquá trình đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp Hoạt động đầu tư có hiệuquả sẽ tạo ra tiềm lực mới cho đổi mới công nghệ Tiềm lực cho đổi mớicông nghệ ở đây có thể diễn giải như sau: thứ nhất là nguồn vốn cho đầu tưđổi mới công nghệ bao gồm đầu tư mua công nghệ hoặc đầu tư phát triểncông nghệ; thứ hai là năng lực công nghệ của doanh nghiệp nói riêng vànăng lực công nghệ của nghành, của đất nước nói chung Năng lực côngnghệ lại phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của Quốc gia vàtrình độ phát triển khoa học , công nghệ của từng nghành, từng doanhnghiệp Cụ thể hơn, các hoạt động nghiên cứu, triển khai, nguồn nhân lực
về khoa học, công nghệ sẽ quyết định năng lực công nghệ của một nghành
và rộng hơn là của một quốc gia nào đó Đây cũng là một điểm khác biệt cơbản giữa các nước công nghiệp hoá và các nước đang phát triển
Trong điều kiện của nước ta hiện nay, đầu tư và gắn liền với nó là hiệuquả đầu tư chính là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khảnăng khoa học, công nghệ Chúng ta đều biết rằng có hai con đường cơ bản
để có công nghệ là tự nghiên cứu phát minh ra công nghệ mới và nhậpcông nghệ từ nước ngoài Dù là tự nghiên cứu hay nhập từ nước ngoài đềucần phải có vốn đầu tư Mọi phương án đổi mới công nghệ không gắn vớinguồn vốn đầu tư sẽ là phương án không khả thi Nói một cách chính xác,đổi mới công nghệ phải đi đôi với việc nâng cao hiệu quả đầu tư nhằm mởrộng và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
6.Những yêu cầu đặt ra trong quá trình đổi mới công nghệ
6.1 Đổi mới công nghệ phải tạo ra sự chuyển biến về chất trong quá trình
sản xuất, kinh doanh.
Xét về quá trình sản xuất, kinh doanh, đổi mới công nghệ cần đạtđược yêu cầu: tăng cường cơ khí hoá, tự động hoá, tin học hoá một phầnhay toàn bộ qui trình sản xuẩt, từng bước sử dụng máy móc thay thế conngười ở những công việc nặng nhọc, nguy hiểm và theo hướng giảm dần tỷtrọng lao động giản đơn, tăng tỉ trọng lao động phức tạp, lao động mangnhiều yếu tố chất xám; cải tiến và tối ưu hoá hệ thống tổ chức và công nghệtrong khu vực sản xuất kinh doanh cũng như trong khu vực quản lí nhằmđạt mục tiêu cuối cùng là nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sảnphẩm hàng hoá dịch vụ
Xét về sản phẩm đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh, đổi mớicông nghệ phải cho kết quả là hàm lượng công nghệ trong gía trị gia tăng
Trang 13của sản phẩm ngày càng chiếm tỷ trọng cao, thể hiện ở chỗ: giá trị mới củasản phẩm hàng hoá, dịch vụ sau đổi mới công nghệ sẽ làm cho hàm lượngcác yếu tố đầu vào truyền thống (nguyên vật liệu, nhiên liệu ) giảm đi, hàmlượng công nghệ tăng lên Đây là một yêu cầu rất quan trọng nhằm mụctiêu tăng năng lực cạnh tranh cũng như khẳng định sự tồn tại của doanhnghiệp
Thí dụ trong các doanh nghiệp cửa các nước phát triển, đầu tư phi vậtchất (đầu tư cho nghiên cứu và triển khai, đào tạo, tin học,viễn thông tiếpthị ) tăng nhanh và là loại đầu tư cho trí tuệ, hiện đã chiếm tới khoảng40%vốn cố định Tại Mỹ đã tổng kết đóng góp cửa yếu tố cơ bản vào tăngthu nhập quốc dân với tỷ lệ: đầu tư ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệđóng góp 71,4%, trong đó áp dụng các sáng chế 37,1%, tăng chất lượng laođộng 28,5%, hiệu quả của cải tiến hệ thống tổ chức quản lý 5,8% Nhữngnăm gần đây, chính vì phát triển các nghành sử dụng ít nguyên liệu -nhiênliệu hơn, nên mặc dù giai đoạn từ tháng 2-1999 đến đầu năm 2000 giá dầuthô tăng gấp 3 lần từ trước đến nay từ mức 10USD/thùng tăng đến 30USD /thùng, giá hàng tiêu dùng thế giới nhìn chung vẫn không tăng vọt dothị trường sản phẩm phụ thuộc vào dầu lửa đã giảm hơn 40% so với 25năm trước đây
Xét về mặt cơ cấu nguyên liệu - năng lượng truyền thống so vớinguyên liệu mới, đổi mới công nghệ phải nhằm tăng dần tỷ lệ sử dụng cáccông nghệ truyền thống đang dần phải thay đổi mục tiêu của mình do sựgiới hạn của nguồn tài nguyên (người ta dự đoán rằng, khoảng năm 2040-
2045, nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ bị cạn kiệt và chấm dứt nền vănminh công nghiệp dầu mỏ) Thực tể hiện nay cho thấy, cuộc cách mạngcông nghệ lần thứ 3 đang định hình với những đặc trưng mới về chất như:
có tính tự động cao, là sự kết hợp giữa công nghệ điện tử, công nghệ tinhọc, công nghệ có tính tự động hoá cao, công nghệ vũ trụ và đáy đại dươngcùng các công nghệ chế biến chiều sâu không có phế liệu, sử dụng nguyênliệu nguyên liệu mới có khả năng tái sinh không gây ô nhiễm môi trường Đầu tư đổi mới thị trường công nghệ chính là nhằm đấp ứng những yêu cầu
đó
Xét về tính chất đổi mới công nghệ phải nhằm mục tiêu làm cho danhmục, chủng loại chất lượng mẫu mã, công dụng và giá cả của sản phẩm đóđược đổi mới hoạc cải tiến theo chiều hướng đa dạng hơn, tinh xảo hơn, tiết
Trang 14kiệm năng lượng và rẻ hơn, tiến tới tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ hoàntoàn mới
6.2 Đổi mới công nghệ phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế xã
hội, chiến lược phát triển của doanh nghiệp
Chiến lược phát triển kinh tế và chiến lược công nghệ quốc gia đóng vaitrò quan trọng trong định hướng phát triển công nghệ trong từng doanhnghiệp một mặt có được những ưa điểm và hỗ trợ nhất định (về vốn, vềthông tin ) của Chính phủ, mặt khắc đảm bảo cho doanh nghiệp có đượchướng đi đúng, tiết kiệm nguồn lực, tránh được những rửi ro không đáng
có
6.3 Đổi mới công nghệ phải nhằm mục tiêu từng bước bắt kịp trình độ
công nghệ so với các nước trong khu vực và trên thế giới, tiến tới chủ động
sáng tạo công nghệ theo mô hình Nghiên cứu (R)_ Triển khai (D) Tại ViệtNam hiện nay, hệ thống máy móc thiết bị lạc hậu từ 2 đến 5 thế hệ, mứctiêu hao nhiên liệu cao gấp 1,5 đến 2 lần , năng suất lao động công nghiệpchỉ đạt 30% so với thế giới Một lao động nông nghiệp chỉ nuôi được 3người trong khi đó ở Mỹ là 30 người, các loại vật liệu mới chỉ chiếm 5%tổng số các loại vật liệu, hệ số cơ giới hoá trong công nghiệp chỉ bằng 50%
so với thế giới, nghành công nghiệp maý lạc hậu từ 50-100 năm so với cácnước phát triển cao.Vì vậy ở những năm đầu, con đường duy nhất là tiếpthu công nghệ hiện đại, thông qua chuyển giao công nghệ Bên cạnh đó tíchcực chuẩn bị các điều kiện vật chất kỹ thuật con người để tiến tới thựchiện nghiên cứu sáng tạo công nghệ mới cho chính chúng ta
6.4.Đổi mới công nghệ phát triển phải gắn liền với phát triển kinh tế xã hội
7 Các tiêu thức đánh giá hiệu quả kinh tế của đầu tư đổi mới công nghệ
Mục đích của mỗi doanh nghiệp khi tiến hành đầu tư đổi mới côngnghệ là để sản xuất ra những hàng hoá, dịch vụ có chất lượng cao hơn, tăngkhả năng cạnh tranh trên thị trường, tăng doanh thu, lợi nhuận Để thực hiệnđược mục tiêu này thì doanh nghiệp cần lựa chọn những công nghệ, thiết bị
Trang 15tốt, nhưng phải đặt trong mối quan hệ với những ràng buộc về điều kiện tàichính, trình độ kĩ thuật và quản lí hiện có của doanh nghiệp.
Để đánh giá hiệu qủa kinh tế của việc đầu tư đổi mới công nghệ, người
ta có nhiều chỉ tiêu xem xét Một số chỉ tiêu cơ bản thường được sử dụng là:
- Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng (NPV) của phương án công nghệ: theo chỉ tiêunày, nếu phương án có giá trị hiện tại ròng không âm thì được coi là có hiệuquả
- Chỉ tiêu tỷ số lợi ích/ chi phí( B/ C): Phương án công nghệ được chấpnhận khi tỷ số này không nhỏ hơn 1
- Chỉ tiêu hệ số hoàn vốn nội bộ(IRR): giá trị này phải thoả mãn điều kiệnlớn hơn chi phí cơ hội của vốn đầu tư
- Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn(T): phương án công nghệ có thời gian thu hồivốn càng nhỏ càng tốt
7.1.Giá trị hiện tại ròng của phương án công nghệ(NPV).
Giá trị hiện tại ròng chính là giá trị cộng dồn của dòng lợi ích thuđược trong thời hạn công nghệ hoạt động đã được tính qui đổi về mặt bằngthời gian hiện tại theo một mức lãi suất chiết khấu lựa chọn NPV chính làhiệu số của giá trị hiện tại của dòng thu nhập trừ đi giá trị hiện tại của dòngchi phí theo lãi suất chiết khấu lựa chọn
NPV được tính theo công thức sau:
Trong đó:
• NPV là giá trị hiện tại ròng của phương án công nghệ
• Bi là lợi ích thu được từ công nghệ ở năm thứ i
• Ci là chi phí năm thứ i của phương án công nghệ; r là tỉ suất chiết khấu,
cho phép đánh giá chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn vào phương áncông nghệ mới
• n- thời hạn công nghệ hoạt động
Theo phương pháp này, nếu phương án có giá trị hiện tại ròng không âmthì được coi là có hiệu quả và được chấp nhận Nếu NPV nhỏ hơn 0 thìphương án không được chấp nhận
i ( )ni B
NPV
0 1
011
Trang 167.2 Tỷ số lợi ích/ chi phí(B/C).
Tỷ số lợi ích/ chi phí được tính theo công thức sau:
Tỷ số lợi ích/ chi phí chính là tỷ lệ giữa tổng lợi ích qui về hiện tại vàtổng chi phí qui về hiện tại Phương án công nghệ có hiệu qủa khi tỷ số nàykhông nhỏ hơn 1 Chỉ tiêu này cho thấy mức thu nhập ứng với một đồng chiphí
Nhược điểm của chỉ tiêu này là không cho ta biết được lãi ròng củaphương án Do đó có thể xảy ra trường hợp một dự án nhỏ, giá công nghệ rẻtiền thì tỷ lệ B/C lớn nhưng thực tế thì lãi không cao
7.3 Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ(IRR).
IRR chính là mức lãi suất mà nếu dùng nó làm tỷ suất chiết khấu đểtính chuyển các khoản thu, chi của phương án công nghệ về mặt bằng thờigian hiện tại thì tổng thu sẽ cân bằng với tổng chi
IRR được xác định theo công thức sau:
Nếu IRR>= r(tỷ suất chiết khấu) thì phương án công nghệ chấp nhậnđược Khi đó, phương án cho phép nhận được tỷ lệ lợi tức về vốn cao hơn chiphí cơ hội của vốn
7.4.Thời gian thu hồi vốn(T).
Đây chính là thời gian cần thiết để thu hồi số vốn đầu tư đã bỏ ra chophương án công nghệ bằng các khoản lợi nhuận thuần và khấu hao thu hồihàng năm
• Nếu không tính đến yếu tố giá trị thời gian của tiền, thời gian thu hồi vốnđược xác định như sau:
Giá trị của T phải thoả mãn:
i ( )ii C
n
i ( )ii B C
) IRR ( i B
0 1 0 1
0 1
Iv ) D W (
Trang 17- T: thời gian thu hồi vốn(năm).
- (W+D)i: lợi nhuận thuần và khấu hao năm thứ i
- Iv0: vốn đầu tư ban đầu
Nếu tính đến yếu tố thời gian của tiền, thời gian thu hồi vốn được xác địnhnhư sau:
Trong đó: (W+D)iPV là lợi nhuận và khấu hao năm thứ i quy về hiện tại
Chỉ tiêu này không cho biết phần thu nhập sau khi hoàn vốn Nếu chỉ dựavào chỉ tiêu này thì có thể chọn lầm phương án có thời gian thu hồi vốnnhanh nhưng tổng thu nhập cả đời phương án lại thấp Chỉ tiêu này cần được
sử dụng kết hợp với các chỉ tiêu khác
0Iv )D
W ( + iPV > =
∑
Trang 18CHƯƠNG II:TÌNH HÌNH CÔNG NGHỆ VÀ ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
I TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1 Kết quả bước đầu.
Trong những năm đổi mới các doanh nghiệp nhà nước đã có những tiến
bộ quan trọng, điều này thể hiện ở một số kết quả sau:
-Doanh nghiệp nhà nước đã được tổ chức , sắp xếp lại thông qua việc cổphần hoá, thành lập các tổng công ty 90 và 91 Đó là tiến bộ quan trọngtrong việc cơ cấu lại và tổ chức lại DNNN theo hướng trung vào nhữngngành , lĩnh vực và địa bàn quan trọng, tăng qui mô và thúc đẩy sản xuấtkinh doanh có hiệu qủa
- Hoạt động liên doanh liên kết giữa các DNNN với các thành viên kinh tếkhác , nhất là với nước ngoài phát triển mạnh mẽ Qua đó nâng cao nănglực công nghệ, tiếp thu kỹ năng quản lý tiên tiến, tăng mức đóng góp chongân sách nhà nước và tạo nhiều việc làm cho người lao động
- Công nghệ, phương pháp sản xuất kinh doanh và quản lý của một sốdoanh nghiệp ngày một hiện đại, quy mô hơn
- Các doanh nghiệp công ích của nhà nước hoạt động có kết quả tốt hơnđáp ứng được nhu cầu với quy mô ngày càng tăng, chất lượng cao và kịpthời hơn cho sản xuất kinh doanh
- Tốc độ tăng trưởng chung của DNNN nhanh hơn tốc độ tăng trưởngchung của nền kinh tế Tỷ trọng trong GDP và tích luỹ của DNNN cao nhấttrong các thành phần kinh tế và đang chi phối sự phát triển của các thànhphần kinh tế khác theo mục tiêu kinh tế xã hội mà Đảng và Nhà nước xácđịnh
-Số lượng DNNN hoạt động có hiệu quả tăng nhiều , hiệu quả sử dụng vốncao hơn, nộp ngân sách Nhà nước chiếm tỷ trọng cao nhất so với các thànhphần kinh tế khác
- Những tiến bộ trên có thể minh hoạ bằng những số liệu sau :
Theo báo cáo của ban đổi mới quản lý doanh nghiệp Trung ương số lượngDNNN đã giảm 1200 (1990) xuống còn 5280 doanh nghiệp (đầu năm 2000) đã cổ phần hoá được 306 doanh nghiệp với tổng số vốn gần 1000 tỷđồng, thành lập 17 tổng công ty 91 và 76 tổng công ty 90 Thời kì 91- 95,tốc độ tăng trưởng của DNNN bình quân là 11,7%, bằng 1,5 lần tốc độ tăngtrưởng kinh tế (8,2% ) và gần gấp đôi tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh
tế ngoai quốc doanh
Trang 19_ Tỷ trọng của khu vực kinh tế Nhà nước trong GDP tăng từ 33.3% năm 91lên 40,07% năm 96 ; 41,23% năm 98
Tỷ lệ nộp ngân sách Nhà nước trên vốn Nhà nước năm 93 là 14,7%, năm
98 là 27,89% Tỷ suất lợi nhuận trên vốn Nhà nước năm 93 là 6,8%, năm
98 là 12,31% Năm 99, các DNNN làm ra 40,2% GDP, trên 50% giá trịxuất khẩu, đóng góp 39,25% ngân sách nhà nước DNNN đang sử dụngkhoảng 15% lực lượng lao động trong các ngành nghề phi nông nghiệp.Doanh nghiệp Nhà nước đã có những tiến bộ về chất trong hoạt động, về cơbản đã xoá bỏ cơ chế sản xuất theo chỉ tiêu pháp lệnh trên giao,vai trò tổchức kinh doanh tự chủ tài chính được xác lập mở rộng doanh nghiệp đượcgiao vốn, tự chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn , Nhà nước từngbước quản lý doạnh nghiệp bằng pháp luật, môi trường và hành lang pháp
lý cho hoạt động của doanh nghiệp được rõ ràng hơn
2.Những tồn tại của các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay
Trong việc phát huy vai trò chủ đạo của DNNN còn những mặt tồntại chưa thưc sự làm đòn bẩy nhanh tăng trưởng kinh tế bền vững, ổn địnhchưa giải quyết được những vấn đề cơ bản về mặt xã hội đang đặt ra ,vaitrò mở đường, hướng dẫn các thành phần kinh tế khác và vai trò đối tácchính của doanh nghiệp trong liên doanh còn yếu chưa tạo đủ vật chất đểđảm bảo vững chắc những cân đối lớn của nền kinh tế và để doanh nghiệpthực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tình trạng lãng phí, thamnhũng trong các DNNN còn phổ biến
Những tồn tại trên chưa đươc khắc phục vì DNNN còn có những yếukém sau :
2.1 Số lượng DNNN còn quá lớn và dàn trải: Tuy số lượng các doanh
nghiệp đã giảm đáng kể song thực tế cho thấy số lượng như vậy vẫn cònnhiều Các DNNN chồng chéo lên nhau theo cơ quan quản lý ngành nghề.Trong số các DNNN hiện nay thì có đến 25% doanh nghiệp có vốn dưới 1
tỷ đồng VN, trong số đó 50% có số vốn dưới 500 triệu VNĐ, thậm chí cótỉnh, thành phố có doanh nghiệp có vốn dưới 100 triệu VNĐ
2.2 Tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN chưa
cao và đang có nguy cơ giảm dần Tốc độ tăng trưởng bình quân năm của
DNNN từ trên 11% năm 1991-1995 nay giảm xuống còn 8-9% năm 1998-1999 Hiệu quả sử dụng vốn giảm, năm 1995 một đồng vốn tạo ra 3,46đồng doanh thu và 0,19 đồng lợi nhuận Tỷ lệ tương ứng của năm 1998 là2,9 đồng doanh thu và 0,19 đồng lợi nhuận Cá biệt, ngành công nghiệp 1