Khi nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế thị trường, do có sự tác động của nhiều yếu tố kinh tế – xã hội , nên trong quá trình sử dụng lao động đã xẩy ra nhiều bất đồng về quyền và lợi ích , dẫn đến tranh chấp giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao động. Chế định giải quyết tranh chấp lao động là công cụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động và người sử dụng lao động, góp phần duy trì , ổn định quan hệ lao động , nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực tế cho thấy, Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Pháp luật lao động quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và của người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất, vì vậy lao động có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và trong hệ thống pháp luật của quốc gia. Do đó, tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động là một vấn đề hết sức quan trọng , luôn được đặt ra đối với hầu hết các nước trên thế giới. Với những lý do trên , em đã chọn đề tài cho bài tiểu luận của mình là : “ Tranh chấp lao động và cách giải quyết tranh chấp lao động “ Bài tiểu luận của em gồm 3 phần : Phần I : Nhận thức chung về tranh chấp lao động Phần II : Trình bầy thực tiễn Phần III : Một số ý kiến
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Khi nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế thị trường, do có sự tác động của nhiều yếu tố kinh tế – xã hội , nên trong quá trình sử dụng lao động đã xẩy ra nhiều bất đồng về quyền và lợi ích , dẫn đến tranh chấp giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao động Chế định giải quyết tranh chấp lao động là công cụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động và người sử dụng lao động, góp phần duy trì , ổn định quan hệ lao động , nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Thực tế cho thấy, Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước Pháp luật lao động quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động
và của người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất, vì vậy lao động có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và trong hệ thống pháp luật của quốc gia
Do đó, tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động là một vấn đề hết sức quan trọng , luôn được đặt ra đối với hầu hết các nước trên thế giới
Với những lý do trên , em đã chọn đề tài cho bài tiểu luận của mình là :
“ Tranh chấp lao động và cách giải quyết tranh chấp lao động “
Bài tiểu luận của em gồm 3 phần :
Phần I : Nhận thức chung về tranh chấp lao động
Phần II : Trình bầy thực tiễn
Phần III : Một số ý kiến
Hà Nội , ngày 20 tháng 11 năm 2002
Trang 2Ầ N I NHẬN THỨC CHUNG VỀ TRANH CHẤP LAO ĐỘNG
I TRANH CHẤP LAO ĐỘNG
1 Khái niệm tranh chấp lao động
Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ lao động được thiết lập qua hình thức hợp đồng lao động theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng giữa người lao động v ngà ng ười sử dụng lao động Thực chất, đây là ng quan hệ hợp tác cùng có lợi, trên cơ sở hiểu biết v quan tâm là ng ẫn nhau để cùng đạt được lợi ích m mà ng ỗi bên đã đặt ra Song, chính do mục tiêu đạt được lợi ích tối đa l à ng động lực trực tiếp của cả hai bên, m già ng ữa họ có thể dung ho à ng được quyền lợi trong suốt quá trình thực hiện quan hệ lao động Người lao động thường có nhu cầu tăng lương, giảm thời gian lao động v à ng được l m vià ng ệc trong điều kiện ng y c ng tà ng à ng ốt hơn…Người sử dụng lao động lại luôn có xu hướng tăng cường độ, thời gian l m vià ng ệc, giảm chi phí nhân công…nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn Những vectơ lợi ích ngược chiều n y sà ng ẽ trở th nh nhà ng ững bất đồng, mâu thuẫn nếu hai bên không biết dung ho quyà ng ền lợi với nhau Do đó sự phát sinh tranh chấp lao động giữa người lao động v ngà ng ười sử dụng lao động là ng điều khó tránh khỏi
Hiện nay, tuy giải quyết tranh chấp lao động được quy định trong pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới , nhưng tuỳ theo đặc điểm kinh
tế, chính trị, xã hội của từng nước mà khái niệm tranh chấp lao động được hiểu khác nhau Theo Bộ luật lao động (1994) :
Trang 3“ Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước tập thể và trong quá trình học nghề
“
2) Đặc điểm của tranh chấp lao động
Do tính chất đặc biệt của quan hệ lao động m các tranh chà ng ấp lao động cũng có đặc điểm riêng giúp phân biệt nó với các tranh chấp gần gũi khác , cụ thể bao gồm :
- Tranh chấp lao động phát sinh tồn tại gắn liền với quan hệ lao động Mối quan hệ này thể hiện ở hai điiểm cơ bản : Các bên tranh chấp bao giờ cũng là chủ thể của quan hệ lao động và đối tượng tranh chấp chính là nội dung của quan hệ lao động đó Trong quá trình thực hiện quan hệ lao động ,
có nhiều lý do để các bên không thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đã được thống nhất ban đầu Ví dụ, một trong hai bên chỉ quan tâm đến lợi ích riêng của mình, hoặc điều kiện thực hiện hợp đồng, thoả ước đã thay đổi làm cho những quyền và nghĩa vụ đã xác định không còn phù hợp , hoặc cũng có thể do trình độ xây dựng hợp đồng và sự hiểu biết về pháp luật còn hạn chế dẫn đén các bên không hiểu đúng các qui định của pháp luật , các thoả thuận trong hợp đồng …
- Tranh chấp lao động không chỉ là những tranh chấp về quyền, nghĩa
vụ mà còn bao gồm cả những tranh chấp về quyền và lợi của các bên trong quan hệ lao động
Thực tế, hầu hết các tranh chấp khác ( như tranh chấp dân sự ) thưòng xuất phát từ sự vi phạm pháp luật , vi phạm hợp đồng hoặc do không hiểu đúng quyền và nghĩa vụ đã được xác lập mà dẫn đến tranh chấp Riêng tranh chấp lao động có thể phát sinh trong trường hợp không có vi phạm pháp luật Đặc
Trang 4điểm này bị chi phối bởi bản chất quan hệ lao động và cơ chế điều chỉnh của pháp luật Trong nền kinh tế thị trường các bên của quan hệ lao động được
tự do thương lượng , thoả thuận hợp đồng , thoả ước phù hợp với quy luật của pháp luật cũng như khả năng đáp ứng của mỗi bên Quá trình thoả thuận thương lưọng đó không phải bao giờ cũng đạt kết quả Ngay cả khi đạt kết quả thì những nội dung đã thoả thuận được cũng có thể trở thành không phù hợp do các yếu tố mới phát sinh tại thời điểm tranh chấp
- Tính chất và mức độ của tranh chấp lao động luôn phụ thuộc vào quy
mô và số lượng tham gia của một bên tranh chấp là người lao động
Tranh chấp lao động nếu chỉ phát sinh giữa một người lao động và người sử dụng lao động ( đối tượng tranh chấp là quyền, nghĩa vụ, lợi ích chỉ liên quan đén một cá nhân người lao động ) thì tranh chấp đó đơn thuần là tranh chấp cá nhân Sự ảnh hưởng của nó đến hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ ở mức độ hạn chế nên thường được xem là ít nghiêm trọng Song , nếu trong một thời điểm, có nhiều người lao động cùng tranh chấp với người sử dụng lao động, những tranh chấp đó lại cùng nội dung ( ví dụ : nhiều người lao động cùng yêu cầu tăng lương , cùng yêu cầu tiền thưởng cuối năm …)
và nhất là khi những người lao động này cùng liên kết với nhau thành một tổ chức thống nhất để đấu tranh đòi quyền lợi chung thì những tranh chấp lao động đó đã mang tính tập thể Mức độ ảnh hưởng của tranh chấp tập thể tuỳ thuộc vào phạm vi xảy ra tranh chấp , nhưng nếu chúng có nguy cơ bùng nổ thành đình công thì rõ ràng là nghiêm trọng hơn các tranh chấp cá nhân
- Tranh chấp lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của bản thân, gia đình người lao động , nhiều khi còn tác động đén an ninh công cộng và đời sống kinh tế , chính trị xã hội
Đặc điểm này xuất phát từ bản chất quan hệ lao động là quan hệ chứa đựng nhiều vấn đề mang tính xã hội như thu nhập , đời sống , việc làm …
Trang 5của người lao động Thực tế hầu hết mọi người lao động tham gia quan hệ lao động để có thu nhập đảm bảo cuộc sống và gia đình họ cũng trông chờ vào nguồn thu nhập đó Vì vậy , khi tranh chấp lao động xảy ra , quan hệ lao động có nguy cơ bị phá vỡ , người lao động có thể bị mất việc làm , mất thu nhập , mất nguồn đảm bảo cuộc sống thường xuyên cho ban thân và gia đinh nên đời sống của họ trực tiếp bị ảnh hưởng
Người sử dụng lao động cũng phải tốn thời gian , công sức vào quá trình giải quyết tranh chấp nên có thể việc sản xuất kinh doanh bị gián đoạn dẫn đến mất các cơ hội kinh doanh , mất một phần lợi nhuận và khả năng đầu tư phát triển sản xuất , giải quyết việc làm … Nghiêm trọng hơn, là khi tranh chấp lao động tập thể xảy ra ở những doanh nghiệp thiết yếu của nền kinh tế quốc đân hoặc an ninh quốc phòng, trong một ngành hoặc một địa phương, thì còn có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và đời sống xã hội trong cả một khu vực, thậm chí có thể ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế Nếu không giải quyết kịp thời , những tranh chấp đó có thể ảnh hưởng tới an ninh công cộng
và đời sống chính trị xã hội của quốc gia
3) Phân loại tranh chấp lao động
Sự phân loại tranh chấp lao động là nhằm để đánh giá đúng thực chất của tranh chấp lao động trên cơ sở đó mà giải quyết chúng có hiệu quả Có thể phân loại tranh chấp lao động theo những tiêu chí sau :
a) Căn cứ vào quy mô của tranh chấp:
Theo điều 157 Bộ luật lao động : “ Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động ”
* Tranh chấp lao động cá nhân
Trang 6Tranh chấp lao động cá nhân l tranh chà ng ấp giữa cá nhân người lao động với người sử dụng lao động về quyền v là ng ợi ích liên quan đến việc
l m, tià ng ền lương, thu nhập v các à ng điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động v trong quá trình hà ng ọc nghề; về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; về bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động
* Tranh chấp lao động tập thể
Tranh chấp lao động tập thể là tranh chấp giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác; về thực hiện thoả ước lao động tập thể; về quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn
b) Căn cứ vào tính chất của tranh chấp, có thể chia tranh chấp lao động thành các tranh chấp về quyền và các tranh chấp về lợi ích.
Tranh chấp về quyền l nhà ng ững tranh chấp phát sinh trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ đã được quy định trong luật lao động , thoả ước lao động tập thể, hợp đồng lao động
Tranh chấp về lợi ích l nhà ng ững tranh chấp về quyền lợi chưa được pháp luật quy định hoặc để ngỏ, chưa được các bên ghi nhận trong thoả ước tập thể hoặc đã được thoả thuận trong thoả ước nhưng không còn phù hợp do các yếu tố phát sinh v o thà ng ời điểm tranh chấp ( ví dụ : tập thể
Trang 7lao động yêu cầu có tiền thưởng cuối năm, yêu cầu tiền lương cao hơn mức tiền lương đã thoả thuận )
Ngo i hai cách phân loà ng ại chủ yếu trên , tranh chấp lao động còn có thể được phân loại căn cứ v o à ng nội dung tranh chấp ( tranh chấp về tiền
lương , thời gian l m vià ng ệc , kỷ luật lao động…) hoặc quan hệ phát sinh tranh chấp (tranh chấp trong quan hệ lao động , trong quan hệ học nghề , trong quan hệ bảo hiểm xã hội…) hoặc khu vực tranh chấp ( tranh chấp
trong khu vực kinh tế nh nà ng ước , tư nhân , có vốn đầu tư nước ngo ià ng …)
4 Nguyên nhân phát sinh tranh chấp lao động
a Về phía người lao động
Tranh chấp lao động xảy ra thường do các yêu cầu chính đáng của người lao động và những đòi hỏi công bằng với sức lao động mà họ bỏ ra chưa được thoả đáng , quyền lợi của họ không được đáp ứng Và cũng một phần do trình độ văn hoá của người lao động còn rất hạn chế, đến quyền lợi của họ mà họ cũng không biết là mình có quyền và nghĩa vụ gì , từ đó dẫn đến các tranh chấp xảy ra
b Về phía người sử dụng lao động
Vì mục đích thu được nhiều lợi nhuận nên người sử dụng lao động
tìm mọi cách để tận dụng sức lao động của người lao động vượt quá giới hạn
mà luật lao động quy định , từ đó làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động ( đây là nguyên nhân cơ bản )
c Về phía công đoàn
Là một tổ chức có vai trò rất quan trọng , họ đại diện cho người lao động bảo vệ quyền lợi một cách trực tiếp cho người lao động Với vai trò lớn như vậy nhưng họ lại chưa hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình do hoạt động còn kém và còn một số doanh nghiệp còn chưa có tổ chức công đoàn
Trang 8d Về phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không những không kiểm tra giám sát một cách thường xuyên mà họ còn buông lỏng trong hoạt động, quản lý, không thực hiện việc thanh tra lao động một cách sát sao thường xuyên nên không phát hiện hoặc xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật
5) Vấn đề đình công
Đình công luôn liên quan đến tranh chấp lao động , nó vừa l bià ng ểu hiện
về mặt hình thức của tranh chấp lao động tập thể vừa l hà ng ậu quả của quá trình giải quyết tranh chấp lao động không th nh à ng
- Toà án nhân dân có quyền quyết định cuối cùng về những cuộc đình công và tranh lao động tập thể
- Việc giải quyết các cuộc đình công và các vụ án lao động do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định
a GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG
1) Những yêu cầu đối với giải quyết tranh chấp lao động
Việc giải quyết tranh chấp lao động cần phải đáp ứng các mục đích đã đặt ra ( duy trì củng cố quan hệ lao động, bảo vệ người lao động, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động ) Nhưng phải theo các yêu cầu sau :
- Phải tôn trọng đề cao thương lượng , hoà giải và quyền tự quyết của các bên trong khuôn khổ pháp luật và lợi ích của xã hội , cộng đồng
- Phải phù hợp với đặc điểm tâm lý , truyền thống dân tộc và phù hợp với tập quán lao động quốc tế
2) Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động :
Trang 9* Thương lượng trực tiếp v tà ng ự d n xà ng ếp giữa các bên tại nơi phát sinh tranh chấp
Nguyên tắc này vừa đảm bảo cho quyền và nghĩa vụ của các bên luôn phù hợp với điều kiện của họ, vừa ngăn ngừa những hậu quả xấu xảy ra do tranh chấp lao động phát sinh
* Thông qua hoà giải để giải quyết tranh chấp trên cơ sở tôn trọng quyền
và lợi ích của hai bên , tôn trọng lợi ích chung của xã hội
Nếu các bên đã thương lượng không thành, và một trong hai bên , hoặc
cả hai bên gửi đơn yêu cầu giải quyết thì cơ quan có thẩm quyền trước hết phải hoà giải tranh chấp giữa các bên
* Giải quyết tranh chấp lao động công khai , khách quan , nhanh chóng , đúng pháp luật
Muốn giải quyết được nhanh chóng , muốn khôi phục , thừa nhận quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và ổn định sản xuất thì cơ quan có thẩm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và ổn định sản xuất thì cơ quan
có thẩm quyền phải thật khách quan , công khai và đúng pháp luật Pháp luật quy định thời hạn giải quyết tranh chấp lao động ngắn hơn thời hạn giảI quyết số tranh chấp khác
* Đảm bảo quyền tham gia của đại diện các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động
Đại diện của các bên thường là người am hiểu pháp luật , hiểu điều kiện của các bên , từ đó có thể giúp cơ quan có thẩm quyền có phương án giải quyết phù hợp
3 Mục đích và ý nghĩa
Trang 10- Giải quyết tranh chấp lao động là việc có ý nghĩa vô cùng quan trọng ,
nó nhằm duy trì và củng cố, đảm bảo sự hoà bình và ổn định trong quan hệ lao động
- Giải quyết tranh chấp lao động giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ lao động , qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động làm việc nhiều hơn kết quả lao động tốt hơn , động viên khuyến khích sản xuất phát triển.Từ đó giúp cho các doanh nghiệp phát triển
ổn định dẫn đến đất nước có một nền kinh tế bền vững
- Và việc giải quyết tranh chấp lao động còn góp phần hoàn thiện pháp luật, nhằm bảo đảm các quy phạm pháp luật được áp dụng một cách thống nhất và đúng đắn trên thực tế trong mọi thời điểm trên cả nước
4) Các cơ quan , tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động :
a/ Hội đồng ho gi à gi ải lao động cơ sở hoặc ho gi à gi ải viên của cơ quan
lao động cấp huyện
Hội đồng hoà giải lao động cơ sở được thành lập ở các doanh nghiệp
sử dụng thường xuyên từ 10 lao động trở lên Hoà giải viên của cơ quan lao động cấp huyện hoà giải các tranh chấp lao động xảy ra ở những doanh nghiệp sử dụng thường xuyên dưới 10 lao động
b/ Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh :
Ho già ng ải v già ng ải quyết các tranh chấp lao động tập thể m hà ng ội đồng ho già ng ải cơ sở hoặc ho già ng ải viên của cơ quan lao động cấp huyện
đã ho già ng ải nhưng không th nh , các bên à ng đương sự có đơn yêu cầu hội đồng trọng t i già ng ải quyết
c/ Toà án nhân dân