1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH TÂY NINH”

64 224 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 3,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục tiêu khảo sát thực trạng quản lý và thực hiện quy hoạch sử dụng đất NTNĐ, tìm hiểu phong tục tập quán của địa phương ảnh hưởng đến việc mai táng, tình hìn

Trang 1

KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

Trang 2

Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Du

Trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

Ký tên: ………

- Tháng 9 năm 2011 -

Trang 3

Lời đầu tiên con xin cảm ơn ba mẹ đã sinh thành nuôi nấng, dạy dỗ và tạo mọi điều kiện cho con học tập cho đến ngày hôm nay, cảm ơn các chị của em luôn động viên chia sẻ

và lo lắng cho em Con luôn khắc ghi trong tâm!

Em xin gủi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, Quý thầy cô giảng viên Khoa Quản lý đất đai và Bất động sản đã trang bị kiến thức, kinh nghiệm cho em trong suốt thời gian em học tập dưới mái trường đại học

Và lời cảm ơn chân thành đến thầy, Giáo viên hướng dẫn, thầy Nguyễn Du đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo cho em những kinh nghiệm, kiến thức trong suốt quá trình thực hiện

đề tài. 

Xin gửi lời cám ơn đến các cô chú, anh chị: Chú Trương Văn Quảng (Viện Quy hoạch Đô thị - Nông thôn), chú Trần Thiện Phong (phòng Tài nguyên Môi trường huyện Hốc Môn), anh Nguyễn Thành Nhơn, anh Thanh (cựu sinh viện DH06QL), anh Tươi ( sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Hải Dương) và tất cả bạn bè, các anh chị khóa trước, những người đã giúp đỡ, động viên tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và thời gian thực hiện luận văn

Sinh viên Nguyễn Thị Minh Luyến

LỜI CẢM ƠN



Trang 4

   Trang ii

động sản, Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

Đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa

huyện Châu Thành - tỉnh Tây Ninh”

Giáo viên hướng dẫn: Ths Nguyễn Du, Bộ môn Quy hoạch, Khoa Quản lý Đất đai 

Bất động sản Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

Huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh là huyện nằm phía tây của thị xã Tây Ninh, giáp với các huyện Tân Biên, Bến Cầu, thị xã Tây Ninh, huyện Hòa Thành và Campuchia Với tổng diện tích 57,315 ha, chiếm 14,2% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Về

cơ cấu hành chính huyện có 15 xã và 1 thị trấn, dân số toàn huyện là 131,591 dân

Cùng với cả nước trong những năm qua huyện Châu Thành đã tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, từng bước góp phần ổn định tình hình chính trị và phát triển kinh tế - xã hội thiết lập trật tự kỷ cương trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất ở địa phương

Tuy nhiên, tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều bất cập Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục tiêu khảo sát thực trạng quản lý và thực hiện quy hoạch sử dụng đất NTNĐ, tìm hiểu phong tục tập quán của địa phương ảnh hưởng đến việc mai táng, tình hình quản lý nhà nước về đất NTNĐ của địa phương, đánh giá kết quả đạt được và tồn tại hạn chế trong quản lý sử dụng NTNĐ, nguyên nhân hạn chế, đề xuất, định hướng cho cơ chế chính sách, biện pháp kiểm soát việc quản lý sử dụng đất NTNĐ trên địa bàn

Theo báo cáo tình hình quản lý sử dụng đất NTNĐ trên địa bàn huyện Châu Thành đến hết ngày 30 tháng 5 năm 2011: dân số trung bình năm 2010 của huyện là 131.591,0 người, trên địa bàn huyện có tất cả 47 nghĩa trang, với diện tích 82,14 ha, chiếm 0,14% diện tích tự nhiên Nhưng qua bản đồ huyện có 1 nghĩa trang Liệt sĩ và

12 nghĩa địa được chính quyền quản lý được thể hiện lên bản đồ hiện trạng và chiếm tổng diện tích 36,7332 ha nhưng trong số liệu thống kê thì số này tăng lên 15 tương ứng với mỗi xã một nghĩa địa Sự chênh lệch lên tới 45,4068 ha đây là một con số không nhỏ, và nó cũng thể hiện khá nhiều bất cập trong hệ thống nghĩa trang ở địa phương Cho thấy tình hình cập nhật biến động loại đất này rất ít được quan tâm tới

Và trên thực tế tổng diện tích đất nghĩa trang chôn rãi rác hiện không thống kê được Điển hình là tình trạng chôn cất rãi rác một nơi vài ba mộ điển hình như xã Ninh Điền, qua quá trình tiến hành khảo sát thực địa cho thấy việc chôn rãi rác rất phổ biến chỉ đi trên đường lộ của xã thì khoảng 400 m đến 2 km là thấy một khu mộ chí Có nơi chỉ một đến hai mộ có nơi thì là mộ gia tộc hoặc một khu mộ tự phát ngay sát nhà dân

Từ những kết quả đánh giá trên, đề tài đã đưa ra những giải pháp, kiến nghị giúp hoàn thiện hơn công tác quản lý đất NTNĐ, đảm bảo cho việc khai thác, sử dụng đất đúng mục đích, đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả hơn

Trang 5

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

PHẦN I: TỔNG QUAN 3

I 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

I.1.1 Cơ sở khoa học 3

I.1.2 Cơ sở pháp lý 4

I.1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về đất đai và đất NTNĐ 7

I.1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về đất đai 8

I.1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về nghĩa trang, nghĩa địa 8

I.1.2.4 Quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa 8

A Khái quát về quy hoạch sử dụng đất và QHSDĐ NTNĐ 8

B Nội dung quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa 9

I.1.3 Cơ sở thực tiễn 9

I.1.3.1 Một số nghiên cứu và tình hình quản lý, quy hoạch NTNĐ 10

A.Một số nghiên cứu và tình hình quản lý, quy hoạch đất NTNĐ và an táng tại một số địa bàn trong nước 10

B Một số nghiên cứu và tình hình quản lý, quy hoạch đất NTNĐ và an táng tại một số nơi trên thế giới13 I.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN MỘ CHÍ Ở CÁC NTNĐ TRONG CẢ NƯỚC VÀ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN 13

I.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng 13

I.2.2 Các phong tục tập quan trong mai táng và cải táng ở huyện Châu Thành 14

I.2.2.1 Phong tục tưởng niệm và chôn cất người chết 14

I.2.2.2 Phong tục cải táng 14

I.2.3 Một số ví dụ điển hình cho các nhân tố ảnh hưởng nêu trên 18

I.3 KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 21

I.4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

I.4.1 Nội dung nghiên cứu 22

I.4.2 Phương pháp nghiên cứu 22

PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23

Trang 6

   Trang iv

II.1.3 Tài nguyên nhân văn, tôn giáo 24

II.1.4 Thực trạng môi trường 25

II.1.5 Các hoạt động văn hóa - xã hội 25

II.1.6 Về dân số 26

II.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI 28

II.3 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ BIẾN ĐỘNG CÁC LOẠI ĐẤT 28

II.3.1 Đất nông nghiệp 28

II.3.2 Đất phi nông nghiệp 29

II.3.3 Đất đô thị 29

II.3.4 Đất khu dân cư nông thôn 29

II.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NTNĐ TRÊN ĐỊA BÀN 29

II.4.1 Địa bàn huyện Châu Thành 29

II 5 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA 50

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 PHỤ LỤC

Trang 8

   Trang vi

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 1: Mô hình An Viên Vĩnh Hằng tại xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu,

tỉnh Đồng Nai 12

Hình 2: Một số hình trong mai táng đạo Thiên chúa 15

Hình 3: Một số hình ảnh về mai táng đạo Phật 16

Hình 4: Một số hình ảnh trong tang lễ của đạo Cao Đài 17

Hình 5: Chùm ảnh về làng biển An Bằng 18 

Hình 6: Tại Nghệ An 19

Hình 7: Tại Bến Tre 19

Hình 8: Tổng hợp một số hình ảnh qua quá trình khảo sát tại huyện Châu Thành, tháng 7 năm 2011 48 

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG Trang

Bảng 1: Phân bố quỹ đất nghĩa trang, nghĩa địa 11

Bảng 2: Chỉ tiêu về dân số của huyện năm 2009 27

Bảng 3: Thống kê diện tích theo bản đồ và niên giám 2009 34

Bảng 4: Diện tích đất NTNĐ ở các xã năm 2009 36

Bảng 5: Biến động đất NTNĐ giai đoạn 2000 – 2010 37

Bảng 6: Tỷ lệ sinh, tỷ lệ tử và tỷ lệ tăng tự nhiên (%) 37

Bảng 7: Diện tích và cơ cấu các loại đất PNN năm 2011 38

Bảng 8: Quy hoạch đất phi nông nghiệp năm 2010 39

Bảng 9: Cơ cấu đất phi nông nghiệp xã Ninh Điền năm 2010 42

Bảng 10: Tổng kết thực hiện quy hoạch đến năm 2010 42

Bảng 11: Chỉ tiêu quy hoạch đất phi nông nghiệp đến năm 2020 46

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

“ Sinh – Lão – Bệnh – Tử” vốn là quy luật tự nhiên và cơ bản nhất đối với mọi sinh vật trên trái đất, kể cả con người Khác với các loại sinh vật, con người khi chết được mai táng theo những phong tục tập quán, nghi thức truyền thống riêng để tiễn đưa người đã khuất về nơi an nghỉ cuối cùng và cũng là nghi lễ thể hiện tình cảm, lòng biết ơn của con cháu, cộng đồng xã hội đối với người quá cố Tuy nhiên, một vướng mắc lớn mà chúng ta đang gặp phải trong quá trình đô thị hóa phát triển mạnh hiện nay

là vấn đề liên quan đến cơ chế, chính sách quản lý xây dựng các nghĩa trang và an táng cho các đô thị nói chung và điểm dân cư nói riêng

Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế, xã hội, nhu cầu về đất đai của các ngành, các lĩnh vực, của các cá nhân, tổ chức ngày càng tăng cùng với sự hội nhập với thế giới đã hình thành các khu công nghiệp, đô thị lớn trên phạm vi cả nước, dẫn đến gia tăng dân số ở các thành phố lớn càng nhiều, sự không ngừng gia tăng dân số (Dân số nước ta năm 2000 là 77,7 triệu người nhưng năm 2010 đã là 86,93 triệu người) trong khi đó quỹ đất có hạn dẫn đến chỉ tiêu đất bình quân trên đầu người ở mức thấp, tác động mạnh mẽ đến cơ sở hạ tầng đô thị và việc sử dụng các loại đất, trong đó có đất nghĩa trang nghĩa địa Một thực tế là khi vấn đề đất chật người đông đang báo động, tình trạng cạn kiệt quỹ đất luôn được đề cập tới, người chết lấn đất người sống, không những việc lập nghĩa địa mang tính địa phương vẫn tiếp tục mà hiện nay còn nhiều bất cập, như việc người dân đua nhau xây dựng lăng mộ kiên cố, bề thế với nhiều quy mô, kích cỡ Không chỉ xây cho người chết, không ít nơi còn chiếm đất xây lăng mộ cho người còn sống

Đối với đất nghĩa trang nghĩa địa, qua thời gian dài hầu hết các nghĩa địa ở nông thôn nước ta thường là tự phát, nằm xen lẫn với ruộng vườn, nhà ở, hoặc nếu có tập trung cũng không dựa trên quy hoạch mà mang tính địa phương Các nghĩa trang nghĩa địa tồn tại hàng chục thậm chí hàng trăm năm nay vẫn còn được mở rộng chôn cất, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí mà chúng ta chưa lường hết được các mối nguy hại Một vấn đề nghiêm trọng nữa là cảnh quan, việc chôn cất rải rác trong khu dân cư, xen lẫn trong đất nông nghiệp, chôn cất tùy tiện, mộ phần xây dựng theo nhiều hướng, bằng nhiều loại vật liệu, màu sắc, kích cở, kiểu dáng khác nhau Từ đó gây mất mỹ quan lãng phí quỹ đất, lãng phí tiền của, làm giảm đi sự tôn nghiêm cần dành cho nơi an nghĩ cuối cùng đối với người chết Tình trạng này gần như được thả nổi không những đối với các nghĩa trang do lịch sử để lại mà nhiều nghĩa trang của đô thị mới xây gần đây cũng có hiện tượng này

Không chỉ vấn đề nghĩa trang, vấn đề cơ sở vật chất phục vụ tang lễ hiện cũng rất thiếu và yếu (về nhà tang lễ, phòng quàn lạnh, xe đi quan ), vấn đề về công nghệ an táng mới như hỏa táng mà còn nhiều vấn đề đáng bàn về công suất, tiêu chuẩn, chất lượng thiết bị Khoảng cách từ các nhà tang lễ, các nghĩa trang, nghĩa địa đến dân cư gần nhất vẫn không đúng theo quy định Đặc biệt đất nghĩa trang, nghĩa địa do chưa có định mức, quy định nào cụ thể nên các địa phương khi xây dựng quy hoạch, kế hoạch chủ yếu dựa vào kết quả thực hiện của thời kỳ trước để dự kiến cho thời kỳ sau, có nơi

để nhiều có nơi để ít, có nơi không giành quỹ đất cho mở rộng nghĩa trang, nghĩa địa

Vấn đề sử dụng đất để xây dựng nghĩa trang, nghĩa địa được xác định là việc làm quan trọng trong đời sống tâm linh của con người Việt Nam ta, nó thể hiện truyền

Trang 11

thống uống nước nhớ nguồn, biết ơn những thế hệ đi trước và người có công với nước,

đó cũng là nét đẹp văn hoá trong sinh hoạt cộng đồng và xã hội con người “Sống có

nhà, chết có mồ” Các khu nghĩa trang, nghĩa địa đã gắn với nơi chôn nhau cắt rốn, gắn

với tiềm thức của mỗi con người Thông thường người ta có thể sinh sống, làm ăn ở nhiều nơi nhưng khi về già lại nghĩ về quê hương, nghĩ đến mồ mả của cha ông và đặc biệt là lo đến chỗ an nghỉ cuối cùng của chính bản thân mình

Hơn nữa, một thực tế cả nước hiện có 64 tỉnh (thành), 679 quận (huyện); 9.902

xã (phường) và 769 đô thị thì đô thị nào xã nào của Việt Nam cũng tồn tại ít nhất một

nghĩa trang riêng tạo ra một bất cập lớn cho sự phát triển của đất nước sau này (

Trung tâm Nghiên cứu và Quy hoạch Môi trường đô thị - nông thôn)

Tây Ninh là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ - khu vực có tốc độ đô thị hóa mạnh nhất nước, có phong tục chôn cất một lần không cải táng và hỏa táng Đặc biệt

và đây là tỉnh có nhiều mộ liệt sĩ nhất trong khu vực này Về nghĩa địa thì chủ yếu chôn cất theo gia tộc, trong vườn nhà, theo tín ngưỡng hoặc chỉ đơn thuần là nơi cao ráo, thuận tiện giao thông chưa tính đến ô nhiễm môi trường nước, không khí

Huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh cũng không nằm ngoài sự manh mún trong việc sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa Nơi đây người dân chủ yếu theo đạo Cao Đài,

và việc chôn theo nghĩa trang, nghĩa địa đã được quy hoạch còn nhiều bất cập, nhiều nơi chôn theo gia tộc, cá nhân hoặc tập thể nhỏ trong vườn nhà, chôn trong đất sản xuất nông nghiệp, việc phân cấp nghĩa trang, phong tục nghi lễ còn phức tạp Tuy đã

có quy hoạch nhưng vẫn còn tồn tại không ít các mộ phần tự phát và tiếp tục được mở rộng, trùng tu Do đó yêu cầu đặt ra là đất đai phải được quản lý một cách chặt chẽ, không ngừng nâng cao tính hiệu quả trong quá trình sử dụng nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý của nhà nước và nhu cầu sử dụng đất của các cá nhân, tổ chức

Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên, được sự phân công của Khoa Quản

lý đất đai và Bất động sản, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy Nguyễn Du, chúng tôi

đã tiến hành thực hiện đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn huyện Châu Thành - tỉnh Tây Ninh”

Đối tượng nghiên cứu

- Ảnh hưởng của cơ chế chính sách với việc quản lý sử dụng đất NTNĐ

- Ảnh hưởng của phong tục tập quán với việc quản lý sử dụng đất NTNĐ

Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu đất nghĩa trang nghĩa địa trên địa bàn huyện Châu Thành

- Thời gian thực hiện 4 tháng, từ ngày 01/5/2011 đến 20/8/2011

Trang 12

PHẦN I: TỔNG QUAN I.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

I.1.1 Cơ sở khoa học

Các khái niệm:

- Quàn ướp: là thực hiện việc lưu giữ thi hài, hài cốt trước khi mai táng hoặc

hoả táng;

- Khâm liệm: là thực hiện việc bao bọc thi hài bằng vải hoặc các vật liệu khác

trong thời gian quàn ướp trước khi đặt vào quan tài;

- Mai táng: là thực hiện việc lưu giữ thi hài hoặc hài cốt dưới mặt đất;

- Hung táng: là hình thức mai táng thi hài trong một khoảng thời gian nhất định

sau đó sẽ được cải táng;

- Cải táng (bốc mộ): là thực hiện việc chuyển xương cốt từ mộ hung táng sang

mộ cát táng hoặc để hoả táng;

- Cát táng: là hình thức mai táng hài cốt sau khi cải táng;

- Hỏa táng: là thực hiện việc thiêu đốt thi hài hoặc hài cốt ở nhiệt độ cao đến

khi thành tro; tro người chết bỏ trong bình kín để thờ cúng trong gia đình, nơi thờ tự của tôn giáo hoặc rãi ngoài thiên nhiên Hỏa táng là hình thức tán văn minh, tiết kiệm chi phí và quan trọng là quỹ đất trong điều kiện đất chật người đông Về phương diện môi trường thì hỏa táng là hợp vệ sinh, vì sử dụng nhiệt độ cao để đốt cháy các hệ thống tổ chức mô bào của người chết, không gây ảnh hưởng môi trường, khác với địa táng những chất phân hủy sẽ thẩm thấu vào môi trường đất, nước

- Đất nghĩa địa: là phần đất dùng để chôn cất người chết, gắn liền với hình

thức địa táng của người Việt Nam Nghĩa địa được hiểu là đất nghĩa, ý nghĩa của nó không những là “nghĩa tử là nghĩa tận” mà còn có tính giáo dục thế hệ sau ghi nhớ công đức của tổ tiên và sâu xa hơn việc lo hậu sự cho người chết cũng chính là lo cho

người sống

- Nghĩa trang hung táng: là nghĩa trang mà ở đó diễn ra quá trình phân hủy

các tổ chức tế bào phần mềm cơ thể gây ra ô nhiễm hữu cơ đối với môi trường không khí, đất và nước ngầm trong khu vực nghĩa trang và các vùng lân cận

- Nghĩa trang cát táng: là nghĩa trang chỉ chôn cất sương cốt, quá trình phân

hủy các tổ chức trong xương (tủy) đã chấm dứt nên nguy cơ gây ô nhiễm hữu cơ đối với môi trường chỉ còn ở mức chấp nhận được

- Nghĩa trang nhân dân: là nơi chôn cất phần mộ của người dân trong khu vực

một vùng, được sử dụng phục vụ cho nhiều đối tượng khác nhau không có sự phân biệt

về tôn giáo, đẳng cấp, dân tộc

- Nghĩa trang tôn giáo: là nghĩa trang chôn cất phần mộ những người theo

cùng một tôn giáo nhất định và do các tổ chức tôn giáo quản lý

- Nghĩa trang dòng họ: là nơi chôn cất phần mộ của những người trong cùng

một dòng họ

- Nghĩa trang gia đình: là nơi chôn cất phần mộ của những người có quan hệ

thân thuộc theo quy định của pháp luật dân sự

Trang 13

- Nghĩa trang cá nhân: là nơi chôn cất phần mộ của một người và vợ (hoặc

chồng) của người đó

- Nghĩa trang công viên: là nghĩa trang có mật độ an táng thấp, khoảng 15%

diện tích đất nghĩa trang còn lại là diện tích đất cây xanh, đường bãi đỗ Bên cạnh đó

mộ chí được xây dựng như những tác phẩm nghệ thuật còn có các công trình kiến trúc công cộng, văn hóa

I.1.2 Cơ sở pháp lý

Chính sách pháp luật về đất đai nói chung đã được Nhà nước ban hành và thường xuyên chỉnh sửa bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước

Thực tế hiện nay ở Việt Nam là đang song song tồn tại rất nhiều loại hình nghĩa trang như: nghĩa trang tôn giáo, nghĩa trang hội đoàn, nghĩa trang gia đình, nghĩa trang dòng họ, nghĩa trang nhân dân phường, xã và có một đặt điểm chung là phần lớn không thuộc sự quản lý của chính quyền Chỉ riêng trên địa bàn thành phố Hà Nội theo

số liệu kiểm kê 01/01/2000 đã có hơn 120 nghĩa trang, nghĩa địa lớn nhỏ các loại Trong đó chỉ có 3 nghĩa trang: Văn Điển, Mai Dịch, Sài Đồng thuộc quản lý trực tiếp của chính quyền thành phố Thành phố Hồ Chí Minh hiện có khoảng 1.200 ha đất nghĩa trang, nhưng diện tích đất nghĩa trang nhân dân chỉ khoảng 100 ha, còn lại xấp

xỉ 1.100 ha là đất nghĩa trang tự phát của các đoàn hội, họ tộc, tư nhân nằm rãi rác khắp nơi, xen lẫn trong các khu dân cư đang phát triển theo tốc độ đô thị hóa Thành phố Vinh hiện nay có tất cả 95 nghĩa trang các loại nhưng chỉ có 2 nghĩa trang do chính quyền thành phố quản lý là Nghĩa trang Liệt sĩ và Nghĩa trang nhân dân thành

phố Vinh.(Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu và Quy hoạch Môi trường đô thị nông thôn)

Ngoại trừ các nghĩa trang Liệt sĩ đã có các quy định quản lý riêng của ngành Lao động Thương binh và Xã hội, đối với các khu vực đô thị, chỉ có các nghĩa trang nhân dân đô thị là các nghĩa trang chính thức và nằm dưới sự quản lý, bảo trợ của chính quyền Tuy là một hạng mục hạ tầng xã hội thiết yếu của đô thị và cả khu vục nông thôn nói riêng nơi chôn cất phần mộ của những người dân và là nơi tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, nhưng hệ thống các văn bản, quy phạm về quản lý nghĩa trang của Việt Nam hiện rất thiếu và yếu, chỉ gồm:

 Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam (tập 1) ban hành theo Quyết định số

682/BXD- CSXD ngày 14/12/1996 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng

Chương 4, điều 4.10.2 Khoảng cách ly vệ sinh quy định: Khoảng cách ly tối thiểu giữa nghĩa trang đô thị đến các công trình dân dụng, công nghiệp phải là 2.000 m

Chương 5, bảng 5.8.1 quy định:

Quy định diện tích chỉ tiêu 0,01 – 0,06 ha/ 1000 dân

 Luật đất đai 2003 được Quốc hội ban hành ngày 26/11/2003

Điều 101 Luật đất đai 2003 quy định:

Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa phải quy hoạch thành khu tập trung, xa khu dân cư, thuận tiện cho việc chôn cất, thăm viếng, hợp vệ sinh và tiết kiệm đất UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức đất và chế độ quản lý việc xây dựng phần

mộ, tượng đài, bia tưởng niệm trong nghĩa trang, nghĩa địa

Trang 14

Điều 33 cũng quy định: Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với trường hợp đất được sử dụng làm nghĩa trang, nghĩa địa

 Điều 94 Nghị định 181,năm 2004

Quy định của Chính phủ về việc bố trí đất làm nghĩa trang, nghĩa địa: Bố trí phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng đất mai táng bảo đảm tiết kiệm đất; tổ chức và có chính sách khuyến khích việc an táng người chết không sử dụng đất Nghiêm cấm việc lập nghĩa trang, nghĩa địa trái với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được duyệt

 Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ

hội, Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25/06/2005

Tại Chương II mục 2 có những quy định cụ thể Tổ chức việc tang phải thực

hiện theo đúng quy định của pháp luật về hộ tịch, môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; việc tang cần được tổ chức chu đáo, trang nghiêm, gọn nhẹ, tiết kiệm; khi đưa tang phải tuân thủ các quy định của pháp luật về an toàn giao thông và trật tự an toàn công cộng; hạn chế tối đa việc rắc vàng mã, tiền âm phủ trên đường; không rắc tiền

giấy hoặc tiền xu trên đường Khuyến khích thực hiện các hình thức hoả táng, điện

táng Chính quyền địa phương các cấp phải có quy hoạch, kế hoạch và đầu tư kinh phí, từng bước xây dựng nghĩa trang thành công trình văn hoá tưởng niệm của địa phương

Việc quàn, chôn cất, hoả táng, điện táng, bốc mộ và di chuyển thi hài, hài cốt phải thực hiện theo quy định tại Điều lệ Vệ sinh ban hành kèm theo Nghị định số 23/HĐBT ngày 24 tháng 11 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)

 Điều 27 Luật Bảo vệ môi trường 29/11/2005

Quy định nơi chôn cất, mai táng phải đảm bảo có vị trí, khoảng cách đáp ứng điều kiện về vệ sinh môi trường, cảnh quan khu dân cư, không gây ô nhiểm nguồn nước sinh hoạt, sản xuất; việc quàn, ướp, di chuyển, chôn cất thi thể, hài cốt phải đảm bảo yêu cầu vệ sinh môi trường; việc mai táng người chết do dịch bệnh nguy hiểm được thực hiện theo quy định của Bộ Y tế và Nhà nước khuyến khích cộng đồng dân

cư, người dân thực hiện chôn cất trong khu nghĩa trang, nghĩa địa theo quy hoạch; hỏa táng hợp vệ sinh, xóa bỏ hủ tục mai táng gây ô nhiễm môi trường

Chính quyền các cấp phải quy hoạch nơi chôn cất, hỏa táng và hướng dẫn nhân dân bỏ dần các tập tục lac hậu

Nghĩa địa, nơi hỏa táng phải xa khu dân cư và các nguồn nước

 Nghị định số: 35/2008/NĐ-CP ngày 25/03/2008 quy định xây dựng quản

Có những hỗ trợ, ưu đãi đặc biệt trong đầu tư xây dựng nghĩa trang

Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư xây dựng nghĩa trang theo quy định của pháp luật

Trang 15

- Các tổ chức và cá nhân đầu tư xây dựng nghĩa trang được nhà nước;

- Cấp đất xây dựng nghĩa trang lâu dài và không thu tiền sử dụng đất;

- Hỗ trợ xây dựng các công trình hạ tầng ngoài hàng rào;

- Hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ kinh phí đền bù, giải phóng mặt bằng tuỳ theo quy

mô, hình thức đầu tư, công nghệ được áp dụng và tác động đến môi trường của dự án;

- Hỗ trợ đầu tư và hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư Đồng thời Nghị định cũng cho phép tổ chức, cá nhân tự quyết định giá dịch vụ nghĩa trang do mình cung cấp trên cơ sở khai thác kinh doanh được UBND cấp tỉnh chấp thuận đối với các nghĩa trang do mình đầu tư xây dựng

Quy hoạch địa điểm nghĩa trang: Khuyến khích quy hoạch các nghĩa trang phục vụ cho nhiều địa phương khác nhau và các nghĩa trang có sử dụng hình thức táng mới văn minh, hiện đại nhằm tiết kiệm đất, kinh phí xây dựng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường

- Quy hoạch xây dựng, xây mới hoặc mở rộng,cải tạo, đóng cửa, di chuyển nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ

 Điểm 6.1.3, Chương VI, Quy chuẩn xây dựng Việt Nam Quy hoạch xây

dựng QCXDVN 01: 2008/BXD ban hành kèm theo Quyết định số BXD ngày 3/4/2008 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc ban hành "Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Quy hoạch xây dựng"

04/2008/QĐ-Theo đó, khi lựa chọn địa điểm nghĩa trang, phải nghiên cứu khả năng phục vụ cho liên vùng, liên đô thị

Nghĩa trang xây dựng mới phải bố trí ở ngoài đô thị, phù hợp với quy hoạch phát triển đô thị hoặc dân cư nông thôn, không ảnh hưởng đến môi trường dân cư xung quanh, không ảnh hưởng đến nguồn nước cấp cho sinh hoạt, ở cuối hướng gió so với khu dân cư, nghĩa trang chôn cất một lần không được bố trí trong nội thị

Các nghĩa trang hiện có trong đô thị không đạt tiêu chuẩn môi trường phải ngừng sử dụng và có kế hoạch di chuyển

Mặt bằng nghĩa trang phải đảm bảo đất bố trí cho các khu vực: mai táng, hệ thống thu gom và xử lý nước thải từ khu mộ hung táng, đường đi, nhà quản trang, sân hành lễ, cây xanh, hàng rào thích hợp và hệ thống biển báo để nhận biết mộ chí

Đối với nghĩa trang hỗn hợp, phải có các khu vực mai táng khác nhau (hung táng, cát táng, hỏa táng), khu vực dành riêng cho trẻ em, tôn giáo

Diện tích đất nghĩa trang căn cứ vào dự báo về dân số

Quy mô sử dụng đất nghĩa trang cần được dự báo trên cơ sở dự báo về dân số

đô thị Chỉ tiêu sử dụng đất cho một phần mộ: Mộ hung táng, chôn cất 1 lần: ≤

5m2/mộ; Mộ cải táng: ≤ 3m2/mộ

Tỷ lệ sử dụng đất trong nghĩa trang: Nghĩa trang hung táng và chôn cất một lần: tối đa 70% diện tích đất dùng để chôn cất; tối thiểu 30% diện tích đất cho công trình giao thông và các công trình phụ trợ Nghĩa trang cát táng: tối đa 50% diện tích đất dùng để chôn cất; tối thiểu 50% diện tích đất cho công trình giao thông và các công trình phụ trợ

Bên cạnh đó còn có một số văn bản gián tiếp quy định như sau:

Trang 16

 Quy chuẩn xây dựng Việt Nam 1997

 Bộ tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường bắt buộc áp dụng, kèm Quyết định 35/2002/QĐ-BKHCNMT, ngày 25/06/2002

 Luật Quy hoạch đô thị 2009

 Thông tư 02/2009/TT-BYT ngày 26/05/2009 của Bộ Y tế Quy định và hướng

dẫn cụ thể rỏ ràng về vệ sinh trong hoạt động mai táng và hỏa táng

I.1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về đất đai và đất NTNĐ

Bất kỳ một chế độ nào nhà nước cũng phải nắm vai trò quản lý đất đai Trải qua qúa trình lịch sử, các dân tộc phải khai phá, chiến đấu tranh giành, giành giữ lãnh thổ mới có được đất đai Không một cá nhân nào có thể tự khai phá, chiếm giữ đất đai nếu không có hỗ trợ từ tập thể, cộng đồng, mang tính quốc gia, chứ không phải của cá nhân Các nước trên thế giới dù có quy định chế độ sở hữu tư nhân về đất đai thì cũng chỉ trong phạm vi dân sự của những chủ thể sử dụng đất, trường hợp vì lợi ích quốc gia thì quyền tư hữu về đất đai phải phục tùng quyền lực công cộng Chính vì vậy hiến pháp nước ta quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý

Về hình thức, việc quản lý nhà nước đối với đất đai được thể hiện:

- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chính sách, pháp luật về đất đai;

- Cơ quan nhà nước tổ chức thức hiện chính sách pháp luật về đất đai;

- Cơ quan nhà nước tổ chức giám sát, thanh tra, kiểm tra thực hiện chính sách pháp luật về đất đai

Chính sách đất đai do cơ quan nhà nước trung ương đề ra và được thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật bắt buộc phải thực thi trong cuộc sống ở các địa

phương Chính sách này được thực hiện bằng các cơ chế hành chính, kinh tế và tổ chức

I.1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về đất đai

Được thể chế hóa trong Luật đất đai 2003, gồm 13 nội dung, có thể tóm tắt như sau:

- Nhà nước xác lập quyền sử dụng đất đai cho các chủ sử dụng cụ thể

- Nhà nước quy định các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

- Nhà nước quy hoạch và quản lý đất đai theo mục đích sử dụng đất

- Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đất đai

I.1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về nghĩa trang, nghĩa địa

- Quy hoạch và xây dựng nghĩa trang

Trang 17

- Ban hành và hướng dẫn thi hành các văn bản pháp luật về quản lý và sử dụng nghĩa trang, nghĩa địa

- Quản lý giá dịch vụ nghĩa trang

- Đề xuất việc đóng cửa nghĩa trang với các cấp chính quyền khi nghĩa trang không đủ điều kiện hoạt động nữa Nghĩa trang do cấp nào quản lý thì UBND cấp đó

có thẩm quyền quyết định đóng cữa nghĩa trang

- Xây dựng cơ sở dữ liệu về hệ thống nghĩa trang trên địa bàn quản lý

- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm trong việc quản lý và

sử dụng nghĩa trang, báo cáo định kỳ về tình hình hoạt động, quản lý của các nghĩa trang

- Nghiên cứu ứng dụng các công nghệ tiên tiến, các phương pháp mới trong việc quản lý và sử dụng lại đất này

- Đồng thời tuyên truyền, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc quản lý sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa

I.1.2.4 Quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa

A Khái quát về quy hoạch sử dụng đất và QHSDĐ NTNĐ

Quy hoạch sử dụng đất đai là một trong những chính sách hữu hiệu để quản lý đất NTNĐ Nhà nước dùng chính sách quy hoạch để sắp xếp và bố trí lại không gian sử dụng các loại đất (trong đó có đất NTNĐ) nhằm đạt hiệu quả cao, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển

Luật đất đai 2003 phân loại đất thành 3 nhóm: nông nghiệp, phi nông nghiệp và chưa sử dụng Đất nông nghiệp có 8 loại đất và phi nông nghiệp có 10 loại Loại đất làm NTNĐ thuộc loại đất phi nông nghiệp Đất NTNĐ cả nước tuy chiếm tỷ trọng ít so với cơ cấu đất đai toàn quốc (gần 0,3%) song đây là loại đất đặc biệt vì khi sử dụng tùy tiện sẽ ảnh hưởng đến việc sử dụng các loại đất khác Mặt khác, đất NTNĐ là loại đất đặc biệt vì nó gắn với phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa của người dân do đó việc quản lý loại đất này cũng đặc biệt Từ đó phải có chính sách quy hoạch sử dụng hết sức chặc chẽ

Đối với những vùng đất đai rộng lớn, dân cư thưa thớt thì vấn đề sử dụng đất nghĩa địa chưa là áp lực cho cộng đồng tức thời, nhưng đối với khu vực thành thị, nơi đất đai ít ỏi và mức tập trung dân cư cao, đòi hỏi con người phải quy hoạch tổ chức lại không gian sống của mình và đất NTNĐ phải được bố trí hợp lý, sử dụng có hiệu quả

và tiết kiệm Nếu các địa phương chậm triển khai thực hiện quy hoạch sử dụng đất thì

sẽ phải mất nhiều thời gian, công sức để giải quyết những khó khăn, hậu quả của vấn

đề này

B Nội dung quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa

- Điều tra nghiên cứu - phân tích - tổng hợp các điều kiện tự nhiên - kinh tế -

xã hội và hiện trạng sử dụng đất NTNĐ;

- Xác định phương hướng mục tiêu sử dụng đất NTNĐ trong tương lai;

- Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án;

- Xác định các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất NTNĐ và bảo vệ môi trường;

- Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất NTNĐ

Trang 18

I.1.3 Cơ sở thực tiễn

- Nhân dân ta có truyền thống uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây và luôn chăm lo đến mồ mả ông bà, thể hiện lòng hiếu thảo đối với những người

đã sinh thành dưỡng dục

- Pháp luật đất đai đã có những quy định cụ thể về quản lý, sử dụng đất NTNĐ

làm cơ sở cho việc bố trí, sắp xếp và sử dụng đất tại các NTNĐ đi vào nề nếp Như

Nghị định số: 35/2008/NĐ-CP ngày 25/03/2008 quy định xây dựng quản lý và sử dụng đất nghĩa trang; Quy chuẩn xây dựng Việt Nam quy hoạch xây dựng QCXDVN 01: 2008/BXD ban hành kèm theo Quyết định số 04/2008/QĐ-BXD ngày 3/4/2008 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc ban hành "Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Quy hoạch xây dựng"; Thông tư 02/2009/TT-BYT ngày 26/05/2009 của Bộ Y tế là một trong ba văn bản cụ thể và gần đây nhất quy định về các vấn đề liên quan đến đất nghĩa trang, nghĩa địa

- Hệ thống quy hoạch sử dụng đất đã cơ bản xác định được vị trí và quỹ đất dành cho mục đích xây dựng NTNĐ Một số văn bản tại huyện Châu Thành

+ Báo cáo tình hình quản lý, sử dụng đất làm nghĩa trang nghĩa địa của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Châu Thành, thực hiện theo Công văn số

1420/STTNMT-CCQLĐĐ ngày 14/7/2011của Sở Tài nguyên và Môi trường về việc kiểm tra tình hình quản lý, sử dụng đất làm NTNĐ

+ Quyết định số 09/2011/QĐ-UBND ngày 22/3/2010 về ban hành quy định phân cấp quản lý nghĩa trang trên địa bàn tỉnh và NĐ 35/2008/NĐ-CP về chế độ sử dụng đất làm NTNĐ

+ Công văn số 2330/VP-KTN ngày 08/7/2011 của văn phòng UBND tỉnh Tây Ninh truyền đạt chỉ đạo của lãnh đạo UBND Tỉnh kèm theo Công văn số

2309/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 27/6/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc kiểm tra tình hình quản lý, sử dụng đất làm NTNĐ

+ Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước năm 2009 và kế hoạch năm

2010 huyện Châu Thành

+ Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Tây Ninh đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất

5 năm 2011 – 2015

+ Niên giám thống kê huyện Châu Thành năm 2009

Nhìn chung trên thực tế các văn bản, quy phạm rất ít có hiệu lực thực thi trong công tác quản lý các nghĩa trang nhân dân Ngoài việc chưa bám sát thực tế của các quy định và sự thiếu hiểu biết pháp luật của người dân khu vực nông thôn, nguyên nhân chính làm các văn bản, quy phạm ít có giá trị áp dụng, phổ biến tình trạng lơ là công tác quản lý nghĩa trang việc an táng hiện nay đều được hình thành và phát triển tự phát theo nhu cầu của từng xã, từng thôn, làng, xóm, bản và thậm chí từng hộ gia đình

mà thiếu sự can thiệp, quản lý thống nhất của chính quyền cấp cơ sở

- Việc quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa thực tế chưa có sự định hướng và hoạch định đúng đắn mà chủ yếu là công nhận sự tồn tại hoặc mở rộng các nghĩa trang, nghĩa địa đã có sẵn, nên nhiều khi chưa giải quyết được các vấn đề về vệ sinh môi trường

- Hầu hết các khu NTNĐ mà đặc biệt là các nghĩa địa nhân dân chưa có quy hoạch chi tiết, dẫn đến việc bố trí sử dụng đất cho chôn cất ở nhiều địa phương còn tuỳ tiện

Trang 19

- Thời gian vừa qua ở một số tỉnh đồng bằng xuất hiện phong trào đầu tư xây dựng mồ mả khang trang (có ngôi mộ chiếm hàng trăm m2, hoặc cả phần mộ của một gia đình, dòng tộc chiếm tới hàng nghìn m2 đất), tạo thành một xu hướng chiếm đất làm mộ giả (sinh phần, giữ chỗ), tạo dư luận không tốt trong nhân dân

- Nhiều khu nghĩa địa hiện nay nằm vào giữa các đô thị gây ảnh hưởng về mỹ quan và môi trường; hoặc một số khu phải di dời, giải toả do nằm trong khu đất quy hoạch thu hồi xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị; đặc biệt cũng có khu nằm trong nguy cơ phải di dời đến lần thứ hai (điều này là kiêng kỵ và không thể thực hiện đối với người dân các tỉnh phía Nam)

- Một số địa phương, đặc biệt đối với các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, việc bố trí đất NTNĐ đáp ứng nhu cầu chôn cất của người dân là điều rất bức xúc đối với chính quyền TP và ngoài khả năng của cấp quận, huyện; Các thành phố lớn đang phải tiến hành thoả thuận với các tỉnh lân cận để có thể bố trí quy hoạch các khu NTNĐ

- Thực tế cho thấy việc mở rộng hoặc xây mới các khu NTNĐ hiện nay rất khó khăn do không chọn được địa điểm, hạn chế về vốn đầu tư, giải phóng mặt bằng và sự cản trở của người dân địa phương có đất gần đó

- Một số nơi xảy ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước, cả nước mặt và nước ngầm, ảnh hưởng đến sản xuất và sức khoẻ của người dân

I.1.3.1 Một số nghiên cứu và tình hình quản lý, quy hoạch NTNĐ

A Một số nghiên cứu và tình hình quản lý, quy hoạch đất NTNĐ và an táng tại một số địa bàn trong nước

- Ở Việt Nam sau khi Luật đất đai có hiệu lực thi hành nhìn chung các tỉnh đã bắt đầu quan tâm đến việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (đặc biệt từ 1995 trở lại đây) Nội dung, trình tự và phương pháp lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất được quy định rõ trong Nghị định và Thông tư hướng dẫn Về định mức sử dụng đất cho các lĩnh vực, các ngành giáo dục, ngành y tế, ngành giao thông, thủy lợi, thể dục thể thao, đất

ở, đất nông nghiệp…Tuy nhiên đối với đất NTNĐ ở một số địa phương đã nhận thức được tầm quan trọng, tính bức xúc trong việc quản lý sử dụng cho nên đã đưa ra được một số quy định riêng cho việc quản lý xong nó chỉ mang tính cục bộ, chưa mang tính tổng thể chung

- Hiện nay ở nước ta chưa có công trình nào được đầu tư nghiên cứu một cách bài bản, mà mới chỉ dừng lại ở một số phạm vi nghiên cứu liên đới đến lĩnh vực môi trường ví dụ như :

“Nghiên cứu tác động ô nhiễm của nghĩa trang Văn Điển đến môi trường nước ngầm khu vực xung quanh thủ đô Hà Nội Đã có kết luận rằng NTNĐ có ảnh hưởng lớn tới nguồn nước ngầm ở các khu vực xung quanh”

“Nghiên cứu xây dựng dự thảo chiến lược quản lý nghĩa trang và an táng cho các đô thị và điểm dân cư nông thôn Việt Nam đến năm 2020” của Viện Quy hoạch đô thị Nông thôn – Bộ Xây dựng (2005) do tác giả Trương Văn Quảng làm chủ nhiệm” Theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của cả nước đã được Quốc hội thông qua, quỹ đất dành cho phát triển NTNĐ theo các vùng cụ thể như sau:

Trang 20

Bảng 1 Phân bổ quỹ đất nghĩa trang, nghĩa địa

(ha)

Cơ cấu trong đất chuyên dùng (%)

Bình quân trên đầu người

- Qua số liệu quy hoạch đến năm 2010 của cả nước cho thấy việc sử dụng đất

và quy hoạch sử dụng đất làm NTNĐ của các vùng rất khác nhau, nó theo hiện rất rõ ở

cả hai chỉ tiêu bình quân là: cơ cấu đất NTNĐ trên quy mô dân số Nhìn chung người dân ở các tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ rất quan tâm đến mồ mả, mặt khác đây là vùng trải qua chiến tranh khốc liệt; có thể thấy điều này thông qua số liệu sử dụng đất NTNĐ bình quân trên đầu người của vùng Bắc Trung

Bộ và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ gấp 10 lần tiêu chí bình quân của vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long Việc sử dụng đất NTNĐ ở các tỉnh phía Bắc đạt mức bình quân chung của cả nước

• Khu vực miền Tây Nam Bộ:Là vùng trũng thấp của đồng bằng sông Cửu

Long, nơi tập trung chôn cất một lần không cải táng và hỏa táng( hỏa táng trong lò thủ công) Đặc biệt đây là vùng về mùa nước lũ, địa táng gặp rất nhiều khó khăn do nhiều khu vực bị úng ngập dài ngày Trong khu vực này có nghiên cứu tại Thành phố Mỹ Tho, đô thị loại III, thuộc Tiền Giang của dự án: “ Điều tra đánh giá hiện trạng, đề xuất các tiêu chí quy hoạch chọn địa điểm, giải pháp công nghệ và tổ chức quản lý các khu nghĩa trang trong quy hoạch xây dựng đô thị” do Viện Quy Hoạch đô thị - nông thôn lập tháng 05/2003

• Khu vực miền Đông Nam Bộ: Khu vực đang có tốc độ phát triển kinh tế mạnh

nhất cả nước, nơi tập trung chôn cất một lần không cải táng và hỏa táng (thủ công và hiện đại), nhiều địa phương đang có chính sách đẩy mạnh phát triển hình thức hỏa táng hiện đại trong công tác quản lý nghĩa trang, an táng Trong khu vực này tại thị xã Thủ Dầu Một, đô thị loại IV tỉnh Bình Dương có dự án: “ Điều tra đánh giá hiện trạng, đề xuất các tiêu chí quy hoạch chọn địa điểm, giải pháp công nghệ và tổ chức quản lý các khu nghĩa trang trong quy hoạch xây dựng đô thị”, bổ sung với các số liệu tại thành phố Hồ Chí Minh

• Vùng ven biển Nam Trung Bộ và vùng cao nguyên Nam Trung Bộ: Khu

vực tập trung chôn cất một lần không cải táng, vùng Bắc Trung Bộ: khu vực tập trung chôn ba năm cải táng một lần và chôn cất một lần không cải táng Hiện chưa có nghiên cứu nào cụ thể chi tiết

Trang 21

• Vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ: Khu vực có tập trung chôn ba năm cải

táng một lần, và được phát hiện trước đây có tồn tại thêm các hình thức khác (không phổ biến) là: hỏa táng và lưu táng Hiện chưa có nghiên cứu nào cụ thể chi tiết

• Vùng miền núi phía Bắc: Khu vực tập trung chôn ba năm cải táng một lần

Hiện chưa có nghiên cứu nào cụ thể chi tiết

• Với những mô hình mới đầu tư như thế này cần tính toán kỹ lưỡng trước khi bắt đầu xây dựng

Hình 1 Mô hình An Viên Vĩnh Hằng tại xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai

 Cụ thể trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Đứng trước những bất cập xung quanh vấn đề NTNĐ của UBND tỉnh Tây Ninh

đã ban hành quy định phân cấp quản lý nghĩa trang trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, theo quy định này áp dụng cho các sở ngành của tỉnh, UBND các huyện, thị xã, UBND các

xã, phường thị trấn và các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh Tây Ninh (Ban hành kèm

theo Quyết định số 09/2010/QĐ-UBND, ngày 22/3/2009 của UBND tỉnh Tây Ninh)

Qua kiểm tra tình hình quản lý, sử dụng đất làm NTNĐ trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, hiện trạng quản lý và quy hoạch đất NTNĐ cụ thể như sau:

Hiện trạng sử dụng đất NTNĐ đến ngày 30/5/2011 là: 282 nghĩa trang, nghĩa địa, tổng diện tích: 600,84 ha, trong đó tập trung nhiều ở huyện Trảng Bàng với số lượng: 49 NTNĐ; diện tích 169,92 ha, chủ yếu do người dân tự chôn cất trong khu dân

cư, thị xã Tây Ninh có diện tích nghĩa trang thấp nhất với: 18,21 ha

Trong tổng số 282 nghĩa trang, nghĩa địa có: 218 NTNĐ phù hợp với quy hoạch

sử dụng đất; 01 nghĩa trang có hoạt động kinh doanh, dịch vụ; 163 cái đảm bảo vệ sinh môi trường; 09 nghĩa trang liệt sỹ Tức là còn 64 nghĩa trang không nằm trong sự quản

lý cũng như quy hoạch

Theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và quy hoạch xây dựng đến năm 2020: số lượng NTNĐ là 311 cái với diện tích 696,46 ha trong đó thị xã Tây Ninh có diện tích đất nghĩa trang giảm do di dời ra khỏi đô thị hoặc chuyển đổi công năng nhằm nâng cao cảnh quan đô thị

Về tình hình quản lý, sử dụng đất các dự án đầu tư xây dựng NTNĐ trên địa bàn Tỉnh như sau:

Hiện trên địa bàn tỉnh có 05 tổ chức sử dụng đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, với

Trang 22

Nam thuê với diện tích 14 ha để thực hiện Dự án “Sơn trang tiên cảnh” tại xã Trường Hòa, huyện Hòa Thành Đây là công trình nghĩa trang xanh của tỉnh có quy mô lớn trong khu vực, sử dụng hình thức táng hiện đại (hỏa táng), góp phần tiết kiệm đất và bảo vệ môi trường Diện tích còn lại 11,95 ha do UBND xã quản lý, sử dụng, không có mục đích kinh doanh hạ tầng liên quan đến sử dụng đất, được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất

Theo đó UBND tỉnh đã đưa ra những quy định cụ thể về địa điểm nghĩa trang cho toàn tỉnh Báo cáo của các huyện trong khu vực đã được tổng kết (trong đó có huyện Châu Thành) xong nhiều địa phương chỉ tham gia điều tra hiện trạng NTNĐ một cách hình thức mang tính đối phó

B Một số nghiên cứu và tình hình quản lý, quy hoạch đất NTNĐ và an táng tại một số nơi trên thế giới

- Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về đất NTNĐ trong đó có tài liệu khoa học

“ The impact of cemeteries on the environment and public health” (1998) của Văn phòng Khu vực Châu Âu – Tổ chức Y tế Thế giới, nghiên cứu về ảnh hưởng của đất nghĩa trang về môi trường đất, nước và sức khỏe cộng đồng

I.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN MỘ CHÍ Ở CÁC NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA TRONG CẢ NƯỚC VÀ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN I.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng

- Nhìn chung nhân tố chính ảnh hưởng đến quá trình phát triển mộ chí ngày nay

là vấn đề kinh tế Những năm trước đây do điều kiện kinh tế khó khăn, người dân ít quan tâm đến vấn đề xây sửa mộ Ngày nay khi nền kinh tế phát triển, các vấn đề xã hội đều được quan tâm trong đó có việc tôn tạo xây sửa phần mộ cho dòng họ, tổ tiên của mình Dân gian có câu “phú quý sinh lễ nghĩa” Đúng vậy hiện nay ở hầu hết các địa phương nhiều gia đình khá giả phần mộ được xây cất rất công phu, to đẹp, trước khi xây còn được thiết kế, chọn thợ giỏi để xây cất, vật liệu đẹp và đắt tiền…có những phần mộ được xây cất tốn kém hàng chục triệu, thậm chí đến hàng trăm triệu đồng

- Nhân tố truyền thống dân tộc cũng là vấn đề quan trọng trong việc phát triển

mộ trí Người Việt Nam ta có câu “Uống nước nhớ nguồn”, con cháu phải nhớ đến công ơn cha mẹ đã sinh thành, thể hiện bằng việc xây mộ cho cha mẹ là để báo hiếu với người đã khuất

- Vấn đề tâm linh của người Việt cũng là nhân tố quan trọng của việc xây sửa

mộ trí cho các cụ là để các cụ được sung sướng nơi chín suối và sẻ phù hộ cho con cháu khỏe mạnh, làm ăn tấn tới hơn

- Tôn giáo là vấn đề liên quan đến quy mô và cách thức xây dựng mộ trí Người theo đạo Phật có kiến trúc mộ trí khác người theo đạo Thiên Chúa hoặc đạo Cao Đài

- Tệ nạn bói toán, mê tín dị đoan mà làm theo sự xắp đặt, sai khiến của người khác xây mộ nhằm mong muốn cuộc sống sau này sẻ tốt đẹp hơn

- Ngoài ra trong xây dựng mộ trí còn có cả sự ảnh hưởng của vấn đề ganh đua giữa các gia đình các dòng họ với nhau, mộ xây sau phải to, đẹp hơn mộ trước…

- Đây là một thực trạng nghiêm trọng đang diễn ra tại rất nhiều các địa bàn trong cả nước, đáng để gióng lên hồi chuông báo động

Trang 23

I.2.2 Các phong tục tập quán trong mai táng và cải táng ở

I.2.2.1 Phong tục tưởng niệm và chôn cất người chết

Ở Châu Thành phong tục tưởng niệm người chết rất đa dạng, xong chủ yếu có

các dạng sau ( Nguồn “Nếp cũ con người Việt Nam”)

- Đối với người chết ở tuổi trưởng thành hoặc tuổi già khi chết ở nhà được tổ chức tang lễ tại gia đình, họ hàng, người thân đến thăm hỏi, chia buồn khoảng 24 giờ (

có thể kéo dài đến 30 giờ), đối với người trong đạo Thiên Chúa là 2 ngày 1 đêm, Cao Đài sẽ có thời gian dài hơn từ 2 đến 3 ngày để viếng sau đó tiến hành đưa tang người chết ra nơi chôn cất theo phong tục, tập quán Đối với người chết ở tuổi còn trẻ hoặc mắc bệnh truyền nhiễm, việc tưởng niệm cũng được tiến hành tại gia đình, nhưng thời gian tưởng niệm thường diễn ra ngắn hơn (24 giờ) so với người chết tuổi già

- Trường hợp người chết tại bệnh viện hay tại một nơi nào đó việc tưởng niệm

sẽ được tiến hành tại khu vực công cộng của địa phương, nhưng thời gian gần đây nhiều nơi đưa về gia đình để làm thủ tục tưởng niệm, chôn cất

- Sau khi tổ chức tang lễ tại gia đình, người chết được đưa tang và chôn cất tại khu vực nghĩa địa theo quy định của địa phương Trước kia việc vận chuyển thi hài người chết đến nơi an táng thường phải dùng đòn và người trong xã trực tiếp khiêng Ngày nay chủ yếu đều sử dụng xe Thuyền Bát Nhã ( đạo Cao Đài), xe Rồng để đưa tang cho cả những gia đình có đạo hay không có đạo

I.2.2.2 Phong tục cải táng

A Đạo Thiên Chúa

- Đạo Thiên chúa chủ yếu tập trung tại khu vực thị trấn Châu Thành, 72% dân số

là tín đồ

- Đối với người theo đạo Thiên chúa thì áp dụng phương pháp đào sâu chôn chặt (có nghĩa là không có phong tục cải táng) Các nghi thức trong chôn cất của đạo cũng đơn giản hơn so với các đạo như Cao Đào và Phật Giáo

- Lễ nhập liệm: Theo đạo Công giáo, gia chủ không đặt nặng vấn đề cúng kiến,

mà chủ yếu là đọc kinh cầu cho linh hồn người mất Được sự giúp đở rất nhiệt tình của các vị chức trong đạo, gia đình chỉ cần chuẩn bị sẳn đồ tang phục (có một số người mặc

đồ tang trườc khi nhập liệm) Đây là một điểm hay của Công Giáo, trong việc tang lễ

Gần đến giờ nhập liệm, bà con Công giáo trong khu sẽ đến cùng gia đình đọc kinh, trước khi Cha Sở đến làm lễ Đồ dùng tẩn liệm theo Công giáo là: vải trắng (không sữ dụng chiếu, vải đỏ) Cha Sở làm lễ xong (khi người chết đã được đặt vào quan tài) liền ra về, phần nghi lễ còn lại do các Ông Trùm làm tiếp.nghi lễ Công giáo

có phần trang nghiêm hơn Phật giáo, ít rườm rà chi tiết hơn đạo Cao Đài Bàn thờ theo Công giáo đơn giản là một bảng tên thánh, bình bông huệ trắng, cây thánh giá phía sau quan tài treo một tấm vải có thiêu tên giáo xứ, tên thánh của người chết Trước nhà

có treo bốn lá cờ nhỏ có thiêu chữ Ví dụ: Sống gởi thác về

- Lễ động quan:

Lễ động quan theo Công giáo được chia làm hai phần Đầu tiên, bà con trong họ

sẽ đọc kinh trước giờ động quan Sau đó linh cữu sẽ được đưa vào nhà thờ làm lễ Thông thường, lúc sinh thời người chết đi lễ tại đâu thì sẽ được Cha Sở của nhà thờ đó

Trang 24

Cha Sở hay các vì nữ tu thì sẽ được nhiều Cha đến làm lễ Đồng tế Người theo đạo công giáo ít khi mời các ban Nhạc nam mà họ thường chỉ sử dụng Ban kèn tây khi đưa tiễn

Đã có thời Giáo Hội cấm cử hành tang lễ cho người tự tử cũng như không cho

an táng trong đất thánh của họ Đạo vì cho rằng họ là gương xấu tự sát Nhưng nay Giáo Hội đã cho phép hỏa táng xong phải tôn trọng, người tín hữu ngày nay được phép hỏa táng thân nhân đã qua đời hay đem chôn cất ngoài nghĩa trang như tục lệ đã có từ lâu đời Xác chết của thân nhân được mai táng hay được thiêu đốt thành tro bụi đựng trong các hộp để cất giữ trong gia đình hay ở nơi nhà thờ nào có nhận cất giữ các hộp tro này Nghĩa là được hỏa táng nhưng phải tin xác dù đã ra tro bụi, vẫn sẽ được sống lại như Giáo Hội dạy Do đó, phải cất giữ tro của xác được hỏa táng chứ không được đem ra trải ngoài sông, hồ hay biển cả như những người ngoài Công giáo đã làm

Những người không tin, không phục tùng giáo hội Công Giáo thì sẽ không được cử hành lễ tang theo nghi thức của Giáo Hội Lúc chôn cất thường là 5 giờ sáng

và thường sử dụng kèn Tây chứ không thuê dàn nhạc

Hình 2 Một số hình trong mai táng đạo Thiên chúa

(Nguồn:http://titocovn.com/grouparticle/20110721/24860)

B Đạo Phật

Đạo Phật cũng không có phong tục cải táng Gia đình có người sắp mất, phải tuyệt đối bình tĩnh, không được khóc lóc kêu gào trước giường người sắp mất, mời Sư, mời ban hộ niệm, chân tâm cầu đức Phật A Di Đà tiếp dẫn! Hoặc để băng cassette tụng Kinh suốt thời gian hấp hối và sau đó! Không được di chuyển hay đụng mạnh vào thi thể người mất đến 12 giờ Đặt tràng hạt vào đôi tay chắp nghiêm trang trên bụng, an táng hoặc hỏa táng, đều tẩm liệm thi hài trong tư thế ấy (phải đặt đôi tay lên bụng họ, khi họ mới lìa trần, để quá lâu, xác cứng không dễ dàng để được nữa) Không được sát sinh để cúng tế! Cầu siêu bằng kinh A Di Đà, đến 49 ngày, sau đó tụng kinh Địa Tạng cho đến 100 ngày, thời gian này con cháu nên ăn chay

Không nên dùng Nylon để tẩm liệm, vì sợ thi hài sẽ lâu phân hóa, nếu chôn xuống đất! Nhiều nơi, người ta liệm bằng áo tràng của Chùa, và có các Thầy làm phép, trì chú để ngừa tránh ma quỷ lợi dụng thân xác của người chết, làm hại cho con cháu Theo truyền thống Phật giáo, có thể Trà Tỳ, tức hỏa táng thi thể, và nhặt xương tro cho vào bình sứ để thờ trong Chùa, hay chôn xuống đất, hoặc rải xuống biển, xuống sông

đều được!!(Nguồn: http://phathoc.net/tu-hoc/nghi-le-hanhtri)

Trang 25

Hình 3 Một số hình ảnh về mai táng đạo Phật

D Đạo Cao Đài

- Cao Đài là một tôn giáo mới, có tính dung hợp các tôn giáo lớn mà chủ yếu là Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo Các tín đồ thi hành những giáo điều của Đạo như không sát sinh, sống lương thiện, hòa đồng, làm lành tránh dữ, giúp đỡ xung quanh, cầu nguyện, thờ cúng tổ tiên, và thực hành tình yêu thương vạn loại qua việc ăn chay với mục tiêu tối thiểu là đem sự hạnh phúc đến cho mọi người, đưa mọi người về với Thượng đế nơi Thiên giới và mục tiêu tối thượng là đưa vạn loại thoát khỏi vòng luân

hồi.( Trích Wiki việt nam )

- Đối với người theo đạo Cao Đài thì sau khi chôn người chết đều có quá trình cải táng nếu gia đình có di chuyển nơi ở thì mộ phần sẽ được cải táng và mang đến nơi nghĩa địa gần nơi nhập cư mới, sau thời gian 3 đến 5 năm (trung bình khoảng 1.200 ngày), tuy nhiên nếu sau thời gian 3 đến 5 năm nếu khi đào lên mà thi thể vẫn chưa phân hủy hết thì vẫn tiếp tục tiến hành thủ tục cải táng

- Trong đạo Cao Đài khi chôn không có hiện tượng phân vùng chôn cất, người theo đạo hay không theo sẻ được chôn chung Trong đạo Cao Đài có những thủ tục khác so với các đạo khác và người dân không có đạo là không có phong tục mở cửa

mã Lúc xưa, khi đi hành lễ tại đám tang có sử dụng bài kinh mở cửa mã và gia đình làm các thủ tục mở cửa mã cho người mất Nhưng bây giờ khi một Tín đồ mất và có Chức sắc chức lễ làm “Phép Bí Tích” thì Hội Thánh qui định xóa bỏ tập tục này, gia đình có tiến hành mở cửa mã cho người thân của mình sau đó hay không là do tùy ở gia đình nhưng Hội Thánh không cho phép Sau khi chôn cất người quá cố 3 ngày thì con cháu đến mộ phần thăm viếng để tỏ lòng thương tiếc Thủ tục cúng tế gồm 1 con

gà, 1 cây mía, cây thang 5 nấc và 3 ống trúc, rãi 5 thứ đậu lên mã Trong 3 ngày sau khi mới chôn, mỗi buổi chiều con cái đem cơi trầu đến mộ phần mà khóc lóc gọi là " ấp mộ", đem hơi nóng của tình thân gia đình làm cho mộ đở lanh lùng Đến ngày thứ 3, con cháu đắp sửa lại ngôi mộ cho tốt đẹp hoặc làm nhà mồ Có mời phù thủy đến yếm bùa trừ ma quỷ Nguyên nhân của những thủ tục rườm rà trên là do có quan niệm:

+ Trong Giáo lý, kinh sách Cao Đài nói rằng sau khi thoát xác linh hồn không còn ở lại dương gian này nửa, vì vậy ngôi mộ được coi như là nơi giữ cái xác đã thoái rửa Đây là một quan niệm tuy là mê tín xong cũng là điểm tích cực hơn, giảm bớt chi phí cho việc an táng

+ Thủ tục cúng gà là do quan niệm con gà con kêu chiêm chíp thể hiện ý

Trang 26

+ Cúng mía vì cây mía thay cho cây sậy, cây lau Có ý nghĩa Cha Mẹ nuôi con chẳng quản thân ốm o gầy mòn

+ Cúng 3 ống trúc tượng trưng cho người quân tử đã thi hành xong quân thần cang, phụ tử cang, phu thê cang ( tam cang) 5 nấc thang là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín (ngũ thường)

+ Cúng rãi 5 thứ đậu lên mã có ý nghĩa con người sống được là nhờ ngũ

cốc (Theo sự sưu tầm của nhà văn Toan Ánh trong "Nếp Cũ Con Người Việt Nam”)

- Nghi lễ trong tang lễ của đạo Cao Đài rất phức tạp và được viết thành sách

“Nghi thức tang lễ trong đạo Cao Đài” gồm:

1 Nghi lễ cầu hồn và tụng kinh cho người hấp hối

2 Nghi thức tẩm liệm và đọc kinh

Hình 4 Một số hình ảnh trong tang lễ của đạo Cao Đài:

Quan niệm càng đông người đến cầu nguyện thì “sức truyền thần” càng mạnh nên việc tập trung để đi viếng được người trong đạo rất coi trọng

(Nguồn: http://thegioivohinh.com/diendan/showthread.php?t=23983)

I.2.3 Một số ví dụ điển hình cho các nhân tố ảnh hưởng nêu trên

Ở làng biển An Bằng (xã Vinh An, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế) trước đây còn gọi là làng “ăn xin” vì trước đây vốn rất nghèo khổ, ông bà tổ tiên quanh năm thiếu thốn, nhiều người phải đi ăn xin, làm thuê cho các vùng lân cận Có gia đình dắt díu nhau lên Huế, có gia đình thì đi xa hơn, vào miền Nam Có những thời điểm cả làng vắng hoe vì đến cả trẻ con cũng theo bố mẹ đi ăn xin Nhưng rồi việc ăn xin cũng

Trang 27

chẳng thể đưa lại cho họ thoát khỏi cái đói nghèo Rồi một số người đã không chịu được đã liều dùng thuyền nhỏ vượt biên, hiện nay có tới 90% gia đình có người đi Mỹ

Khi kinh tế đã khá giả, do nguồn tiền từ nước Mỹ gửi về, phong trào xây lăng

mộ trong ngôi làng biển này bỗng dưng trở nên bức bách Nhà nào chưa xây được cho những người đã khuất ngôi mộ đàng hoàng thì cảm thấy khó chịu Thế nên ngày còn sống, nhiều người đã tự chọn đất và xây mộ cho mình Khi mất ngôi mộ chỉ mới xong phần móng

Những quần thể lăng mộ như những

tòa lâu đài nguy nga trên cồn cát ở làng

Ngôi mộ 800 triệu đánh vỡ gốm mua

từ Huế để trang trí trên mộ

Một chiếc xe trâu kéo đang đi lấy cát ở

bờ biển về bán cho những người xây mộ. 

Trang 28

Hinh 6 Tại Nghệ An

Tại khu vực bến phà Rạch Miễu cũ, thuộc địa phận xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre Ngôi biệt thự và cũng là ngôi mộ độc nhất vô nhị này đang tọa lạc ở Bến Tre, nghe thật vô lý nhưng đây là chuyện hoàn toàn có thật Điều đáng nói ở đây là việc chôn trong nhà như vậy nhưng lại không có một sự can thiệp nào về phía chính quyền địa phương và lúc chôn chỉ đặt quan tài xuống nền nhà rồi xây xi măng ốp gạch hoa cương xung quanh Nghĩa là, vị trị của người chết gần như là ngang bằng với người sống

Hình 7 Tại Bến Tre

Không những ở khu vực tỉnh lẻ mà trong các thành phố lớn vấn đề NTNĐ cũng

vô cùng nhứt nhối

Sống bên cạnh nghĩa trang, lại không có nước sạch, nhiều khu vực dân cư tại

TP.HCM, nơi có gần 7,2 triệu người( năm 2009 ) trên diện tích 2095 km2 là thành phố

có mật độ dân số cao nhất và đông dân nhất nước (3.420 người/km2) Với tỷ lệ tử 0.4% thì số người chết khoảng 28.800 người/năm, bình quân mỗi quận huyện có 1.200 người chết/năm Hiện nay ngoài nghĩa trang liệt sĩ Thủ Đức, có nghĩa trang cũ Bình Hưng Hòa xây dựng từ trước giãi phóng đã đóng cửa chôn cất, chỉ dùng để hỏa táng và trong tương lai phải di chuyển 60.000 ngôi ở đây về nghĩa trang Đa Phước vừa quy hoạch đưa vào

Nhìn từ bên ngoài, ngôi

mộ nằm ngay giữa nhà 

Ngôi mộ chôn nổi, ốp đá hoa

cương và nằm ngay tại vị trí giữa

phòng khách

Dù bị cấm nhưng các hộ gia đình vẫn thuê người xây bao, chiếm đất nghĩa trang

(xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương - Nghệ An)

Trang 29

sử dụng mới, nhưng không kéo dài được bao lâu nay nghĩa trang Gò Dưa cũng hết chỗ chôn, thành phố đang tiến hành quy hoạch xây dựng nghĩa trang khoảng 100 ha tại Củ Chi

Và điều đáng nói ở đây là có khoảng 1000 ha đất NTNĐ tự phát và nằm rãi rác trong khu dân cư Vì thế việc lấn chiếm đất của người chết để xây nhà vẫn cứ diễn ra hàng ngày Nguồn nước của những khu dân cư mới này thì không thể kiểm soát nổi Và cũng theo đó tình trạng nghĩa trang phát sinh mà không được quản lý khiến rất nhiều người dân buộc phải chấp nhận "sống chung với nước bẩn" nhiều năm nay, theo Luật Bảo vệ sức khỏe thì NTNĐ mới giải tỏa phải để trống 2 năm mới được xây nhà và tuyệt đối không được xây giếng Nếu muốn thì phải đào cách xa khu NTNĐ từ 100 m trở lên Việc khoan giếng trên nền NTNĐ cũ chưa được tẩy uế, chưa đủ thời gian mùn hóa thì nguồn nước sẽ bị ô nhiễm, đặc biệt là khoan giếng ngay trên nghĩa địa thì hậu quả thật khó lường

Vào mùa mưa, hàng ngàn hộ dân vùng ven thành phố, sống cạnh các khu nghĩa địa lại khốn đốn vì mùi tanh bốc lên nồng nặc và nguồn nước sinh hoạt ô nhiễm nặng Nguyên nhân do có nhiều nghĩa địa hình thành tự phát, chôn cất người chết quá gần với nhà dân

Phường Bình Trưng Đông, quận 2 có trên 10 nghĩa địa lớn, nhỏ thì chỉ có 3 nơi được phép tiếp tục chôn cất còn những nghĩa địa còn lại vẫn tự động cơi nới, mở rộng Nhiều hộ dân muốn vào nhà mình phải đi len lỏi vào các ngôi mộ được xây lấn cả ra đường Các gia đình đã phải khoan giếng sâu từ 40-50 m nhưng vẫn không tránh được mùi hôi

Kết quả xét nghiệm nguồn nước của Viện Pasteur xác định: “Nguồn nước tại đây có các hóa chất độc hại như lưu huỳnh, phốt pho, axit sunphuric có thể gây ra nhiều bệnh nguy hiểm như ung thư da, rối loạn tiêu hóa, viêm ruột, viêm gan ” Vậy nhưng họ vẫn phải sử dụng nguồn nước này vì chẳng thể kiếm ra nguồn nước nào khác

để thay thế

Tình trạng này cũng xảy ra ở phường 11, 16, 17 (quận Gò Vấp), Linh Chiểu, Linh Tây (quận Thủ Đức), Phước Bình (quận 9), Thạnh Lộc, Thạnh Xuân (quận 12) Nhiều nghĩa địa nhỏ tự phát hình thành với quy mô vài chục ngôi mộ nằm san sát trước nhà, sau nhà, có nơi cách nhà chưa đến 0,5 m Hậu quả là các hộ dân đang phải sống xen lẫn với mồ mả ở những khu vực này không chỉ phải sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm hút lên từ các ngôi mộ mà còn chịu đựng những mùi tanh hôi khó chịu từ những ngôi mộ nứt nẻ hay sạt lở, nhất là sau những cơn mưa lớn

Chính quyền các địa phương nghiêm cấm nhưng lại thiếu kiểm tra, xử lý kiên quyết khiến việc chôn cất tại các khu dân cư vẫn liên tục phát triển Nhiều gia đình tự

ý bán đất để cho người từ các nơi đến chôn cất người quá cố nhưng vẫn mượn danh nghĩa là chôn cất người trong thân tộc Một số hộ còn bán đất ruộng để cho người dân

từ các nơi khác đến hình thành các nghĩa trang tự phát

Theo quy định chung, tại các nghĩa địa mới giải tỏa không được khoan giếng và chỉ được xây nhà sau 2 năm Nhưng phần nhiều những nghĩa địa tại các quận, huyện vùng ven như nghĩa địa ở phường Phước Bình, quận 9 vừa được giải tỏa 6 tháng đã được xây nhà làm khu định cư nên nguồn nước nơi này bị ô nhiễm nghiêm trọng Khu nghĩa địa Bà thánh Anna, phường Tân Hưng, quận 7 chưa kịp giải tỏa để xây dựng khu dân cư thì hiện đã có trên 60 hộ dân đến sống bên cạnh các ngôi mộ

Trang 30

Tại Hà Nội những khu đất gần nghĩa trang ở các huyện ngoại thành như Từ Liêm, Trung Văn (quận Cầu Giấy) và các quận mới như Hoàng Mai, Long Biên… hơn chục năm trước vốn là đồng không mông quạnh, nay trở thành những lô đất trị giá bạc triệu Vì vậy, số người dân xây nhà sát nghĩa trang không thể thống kê nổi

Chưa có nước máy và một phần do thói quen, nhiều năm qua, người dân sống cạnh các NTNĐ ở Hà Nội vẫn dùng nước giếng khoan, dù không biết chất lượng thế nào Nhiều hộ dân sống gần các nghĩa trang bơm thẳng nước giếng khoan vào bể kín nên hầu như không ai phát hiện được nguy cơ tiềm ẩn Một vài người dân ở khu vực đường 69 (Từ Liêm) cho biết khi họ cho nước giếng khoan vào thau, để 1-2 ngày là thấy xuất hiện váng trắng mỏng Nhiều người dân không đồng tình với giả thiết nước nhiễm phèn vì nếu vậy, khi để lắng xuống nước sẽ trong hoặc qua lọc có thể hết váng Còn với váng trắng mỏng kể trên lại không thể hết được Nước bơm lên dù rất trong vẫn có mùi hôi tanh, nếu đun sôi để vài hôm trong bình thì có hiện tượng thiu

Theo các chuyên gia y tế, nước ngầm gần nghĩa trang rất có thể bị nhiễm chất hữu cơ; đặc biệt là hàm lượng amoni (NH4) và vi sinh (coliform, coliform chịu nhiệt

và ecoli) cao Đây là những yếu tố có khả năng gây ra các bệnh về đường ruột

Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, chất độc nitrat (phân hủy từ xác người và động vật) thường xuyên có ở khu vực nghĩa địa Việc dùng nước bị nhiễm chất này lâu ngày

sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe Trẻ em uống sữa pha bằng nước nhiễm nitrat hoặc ăn rau quả nhiễm chất này thường bị thiếu máu, ngợp thở

I.3 KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Hiện nay, huyện Châu Thành có 15 đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó thị trấn Châu Thành là huyện lỵ, là trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế của huyện, những năm gần đây thị trấn được đầu tư xây dựng các công trình công cộng và kết cấu hạ tầng, đổi mới diện mạo đô thị để thị trấn thực sự trở thành trung tâm văn hóa, thương mại của huyện Bên cạnh đó, do sự phát triển nhanh của các khu công nghiệp, khu dân

cư nên tốc độ đô thị hóa của huyện trong những năm qua diễn ra khá nhanh, nhưng chỉ

ở một số xã như Thái Bình, Đồng Khởi, Thanh Điền và thị trấn Châu Thành

Trong thời kỳ 2005-2010, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn do tác động của suy giảm kinh tế, thiên tai, dịch bệnh và những hạn chế của địa phương Tuy nhiên, phát huy truyền thống anh hùng, bằng bản lĩnh và nghị lực Đảng bộ và nhân dân huyện Châu Thành đã hoàn thành được nhiệm vụ do Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ IX đề ra

Cơ cấu kinh tế của huyện đã có sự chuyển dịch đúng định hướng Từ đó đã khai thác được tiềm năng, lợi thế, đạt được yêu cầu tăng trưởng; an ninh chính trị, trật tự an toàn

xã hội được giữ vững; đời sống vật chất tinh thần của người dân được nâng lên; thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, điều hành nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ và chính quyền ở địa phương

Huyện Châu Thành nằm về phía Tây thị xã Tây Ninh, được giới hạn bởi ranh giới hành chính như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Tân Biên

- Phía Nam giáp huyện Bến Cầu

- Phía Đông giáp thị xã Tây Ninh và huyện Hòa Thành

- Phía Tây giáp Campuchia

Trang 31

Tổng diện tích tự nhiên là 57.315 ha, chiếm 14,2% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Huyện có 15 xã và thị trấn: An Cơ, An Bình, Biên Giới, Đồng Khởi, Hảo Đước, Hòa Hội, Hòa Thạnh, Long Vĩnh, Ninh Điền, Thái Bình, Trí Bình, Thanh Điền, Thành Long, Phước Vinh, thị trấn Châu Thành Tổng dân số năm 2010 là 131.591,0 người

Nằm ở vị trí cửa ngõ phía Tây của thị xã Tây Ninh với 48 km đường biên giới với các tuyến đường trục nối thị xã Tây Ninh với các huyện biên giới khác như: Bến Cầu, Tân Biên nên khá thuận lợi để phát triển một nên kinh tế toàn diện theo hướng

mở Đồng thời cũng mở ra nhiều cơ hội để thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của

huyện.Có quốc lộ 22B chạy qua nên có vị trí hết sức quan trọng về kinh tế - xã hội và

an ninh quốc phòng không chỉ đối với riêng Tây Ninh, mà còn của cả miền Đông Nam Bộ cũng như cả nước

Nền kinh tế huyện đã và đang chuyển dịch đúng hướng, tốc độ tăng trưởng khá,

GDP bình quân đầu người trong những năm gần đây tăng đáng kể

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2005 – 2010 đạt 12.06%/năm Thu nhập bình quân đầu người đạt 12,3 triệu đồng/ năm Năm 2010 giá trị sản xuất nông-lâm-thủy sản đạt 839 tỷ 450 triệu đồng, tốc độ tăng 7,93%/năm; công nghiệp xây dựng đạt 378 tỷ 500 triệu đồng, tốc độ tăng 16,66%/năm; thương mại, dịch vụ 455 tỷ

226 triệu đồng, tốc độ tăng 18%/năm Hệ thống kết cấu hạ tầng được đầu tư, nhiều công trình quan trọng được hoàn thành đưa vào sử dụng phục vụ đời sống nhân dân và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội

I.4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

I.4.1 Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát thực trạng quản lý và thực hiện quy hoạch sử dụng đất NTNĐ

- Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế - xã hội

- Tình hình quản lý đất đai

- Hiện trạng sử dụng và biến động các lại đất

- Tìm hiểu phong tục tập quán của địa phương ảnh hưởng đến việc mai táng

- Tình hình quản lý nhà nước về đất NTNĐ của địa phương

- Đánh giá kết quả đạt được và tồn tại hạn chế trong quản lý sử dụng NTNĐ

- Nguyên nhân hạn chế

- Đề xuất, định hướng cho cơ chế chính sách, biện pháp kiểm soát việc quản lý

sử dụng đất NTNĐ trên địa bàn

I.4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: thu thập về mặt cơ sở lý thuyết như các

khái niệm, định nghĩa

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, kế thừa tài liệu, số liệu từ các

nghiên cứu báo cáo liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Phương pháp điều tra:

+ Điều tra thống kê: Thu thập thông tin kết hợp điều tra diện rộng và trọng điểm, tổng hợp và tính toán số liệu để đánh giá hiện trạng trên cơ sở đưa ra các giải

Trang 32

 Điều tra diện rộng: nhằm thu thập thông tin tổng quát về hiện trạng

 Điều tra trọng điểm: nhằm kiểm tra độ tin cậy của thông tin diện rộng, xem xét thực trạng, chụp ảnh tư liệu và thu thập những tư liệu xác định định mức sử dụng và quy hoạch đất NTNĐ

+ Điều tra phỏng vấn: Nhằm thu thập thêm thông tin để hiểu rỏ hơn hiện trạng và các phong tục tập quán của địa phương

+ Khảo sát địa bàn nghiên cứu, đo đếm thống kê để cho thấy mức độ chôn

cất rãi rác, phân tán, tổng hợp số liệu đánh dấu vào bản đồ

Phương pháp bản đồ: Là phương pháp dùng bản đồ để thể hiện một thực trạng

hay một kết quả của đối tượng mà ta mong muốn đề cập đến

PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU II.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

II.1.1 Tăng trưởng kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2005 – 2010 đạt 12.06%/năm Thu nhập bình quân đầu người đạt 12,3 triệu đồng/ năm Năm 2010 giá trị sản xuất:

- Nông - lâm - thủy sản đạt 839 tỷ 450 triệu đồng, tốc độ tăng 7,93%/năm;

- Công nghiệp - xây dựng đạt 378 tỷ 500 triệu đồng, tốc độ tăng 16,66%/năm;

- Thương mại - dịch vụ 455 tỷ 226 triệu đồng, tốc độ tăng 18%/năm

Hệ thống kết cấu hạ tầng được đầu tư, nhiều công trình quan trọng được hoàn thành đưa vào sử dụng phục vụ đời sống nhân dân và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Công tác quản lý đất đai đã dần đi vào nề nếp, ổn định hơn

II.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Về cơ cấu ngành, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng từ 18,49% năm 2005 lên 22,62% năm 2010; tỷ trọng thương mại-dịch vụ tăng từ 21,01% lên 27,21% (Nghị quyết 26%); tỷ trọng nông-lâm-thủy sản giảm từ 60,5% xuống 50,17% (Nghị quyết 49%) Nếu không tính giá trị sản xuất của ngành xây dựng, thì tổng giá trị sản xuất đạt 1.596 tỷ 726 triệu đồng và cơ cấu kinh tế là Nông nghiệp 52,6%, công nghiệp 18,9%, dịch vụ 28,5%

Năm 2010 giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản đạt 839 tỷ 450 triệu đồng, tốc độ tăng

7,93%/năm đạt 100% kế hoạch tăng 7,18% so cùng kỳ năm 2009

Giai đoạn 2001 - 2005 công nghiệp tiếp tục tăng trưởng, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp từ 18,49% năm 2005 lên 22,62% năm 2010

Thương mại - dịch vụ phát triển tương đối ổn định, năm 2006 tốc độ tăng

trưởng đạt 22,12%, năm 2007 có tốc độ tăng trưởng là 21,00%, năm 2008 tốc độ tăng trưởng 23,67%, nhưng đến năm 2010 tăng lên đến 27,21%

Năm 2009, do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, giá các mặt hàng nông sản của huyện giảm mạnh dẫn đến tình hình kinh tế, đầu tư sản xuất kinh doanh của huyện tiếp tục gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên với những biện pháp cấp bách của Chính phủ và UBND tỉnh cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân, kinh tế của huyện vẫn tiếp tục phát triển theo chiều hướng thuận lợi, lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, an ninh - quốc phòng được giữ vững ổn định

Ngày đăng: 10/06/2018, 15:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm