Nên công tác quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn với 13 nội dung, đây là cơ sở pháp lý để Nhà nước nắm chắc, quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên của quốc gia cũng như để người sử dụng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
:::::
NGÔ THỊ NGỌC THƠ
07124113 DH07QL
2007 - 2011 Quản Lý Đất Đai
TP Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN
Trang 3UBND HUYỆN BÌNH CHÁNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
PHÒNG TÀI NGUYÊN Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
VÀ MÔI TRƯỜNG
Bình Chánh, ngày 30 tháng 06 năm 2011
GIẤY XÁC NHẬN THỰC TẬP Kính gửi: Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Sinh viên: Ngô Thị Ngọc Thơ – Lớp DH07QL, thuộc khoa Quản Lý Đất Đai và
Bất Động Sản, trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh đã đến phòng Tài nguyên
và Môi trường huyện Bình Chánh thực tập từ ngày 01/04/2011 đến ngày 30/06/2011
Đề tài nghiên cứu: “ Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn
huyện Bình Chánh, Tp Hồ Chí Minh”
Trong quá trình thực tập, sinh viên Ngô Thị Ngọc Thơ, đã hoàn thành tốt công
tác được phân công Đạo đức phẩm chất tốt, tác phong giản dị khiêm tốn, chấp hành
tốt nội quy, quy chế của cơ quan, có tinh thần tự giác trong công việc, cố gắng tìm tòi
thu thập số liệu tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của các
anh chị cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường trong công tác quản lý về đất đai
Nay phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Chánh xác nhận để tạo điều
kiện cho sinh viên Ngô Thị Ngọc Thơ hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp
TRƯỞNG PHÒNG
Trang 4
i
LỜI CẢM ƠN
LỜI CẢM ƠN
-o0o -
Để hoàn thành bốn năm trên giảng đường trường Đại học Nông Lâm Thành phố
Hồ Chí Minh và bài báo cáo tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường, tập thể Thầy,Cô giáo nhà trường; nhất là Khoa Quản Lý Đất Đai và Bất Động Sản đã tận tình chỉ dạy và giúp đỡ em trong quá trình học tập,đó là những kiến thức cần thiết cho hành trang công việc của em sau này
Em chân thành cảm ơn thầy Phó Giáo sư Tiến sĩ Huỳnh Thanh Hùng Phó Hiệu Trưởng trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chi Minh – Người trực tiếp hướng dẫn, tận tình góp ý, động viên em trong suốt quá trình hoàn thành bài báo cáo
Con chân thành cảm ơn gia đình và ba mẹ đã tạo mọi điều kiện để con học tập tốt nhất, là chỗ dựa tinh thần vững chắc luôn động viên an ủi khi con gặp khó khăn để con vững vàng trên con đường học vấn
Chân thành cảm ơn các bạn lớp DH07QL luôn động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực tập tốt nghiệp
Chân thành cảm ơn các anh chị trong Phòng Tài Nguyên Môi Trường huyện Bình Chánh, đặc biệt anh Nguyễn Thành Hùng đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình thực tập và viết bài báo cáo tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người
NGÔ THỊ NGỌC THƠ
Trang 5ii
TÓM TẮT Sinh viên thực hiện: Ngô Thị Ngọc Thơ, Khoa Quản lý Đất đai & Bất động
sản, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Đề tài: “Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Bình Chánh Tp Hồ Chí Minh”
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Huỳnh Thanh Hùng, Trường Đại học Nông
Lâm Tp Hồ Chí Minh
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia là yếu tố cấu thành nên giang sơn đất nước Đất đai đóng vai trò là một nguồn lực, đồng thời là một yếu tố đầu vào không thể thiếu trong các hoạt động kinh tế của đất nước Tuy vậy quỹ đất đai lại
có hạn, do đó việc sử dụng một cách tiết kiệm, có hiệu quả nguồn tài nguyên này vào việc phát triển kinh tế của đất nước có ý nghĩa rất quan trọng
Bình Chánh là huyện nằm ở ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh được thành lập theo NĐ 103/2003/NĐ-CP ngày 05/11/2003 của Chính phủ Với lợi thế vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, Bình Chánh đã và đang có nhiều thuận lợi để phát triển kinh
tế xã hội Mặt khác sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - dịch vụ- nông nghiệp đã gây áp lực đối với đất đai Nên công tác quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn với 13 nội dung, đây là cơ sở pháp lý để Nhà nước nắm chắc, quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên của quốc gia cũng như để người sử dụng đất yên tâm sử dụng và khai thác tiềm năng từ đất mang lại
Qua quá trình nghiên cứu cho thấy huyện Bình Chánh năm 2010 có diện tích tự nhiên là 25.255,99 ha Trong đó đất nông nhiệp là 17.242,99 ha( chiếm 68,28% diện tích đất tự nhiên), đất phi nông nghiệp là 7.892,42 ha( chiếm 31,25% diện tích đất tự nhiên), đất chưa sử dụng là 119,88 ha( chiếm 0,47% diện tích tự nhiên)
Trong năm 2010, tổng số GCN cấp lần đầu là 2.698 với diện tích là 685,13 ha,
có 17.640 hồ sơ đăng kí đất đai, công tác kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 hoàn thành, tổng diện tích giao đất, cho thuê đất cho đối tượng sử dụng là 22.229,90 ha, diện tích đất thu hồi là 343,68 ha, chuyển mục đích sử dụng đất có 1.515 trường hợp với diện tích là 658.155,9 ha Huyện đã giải quyết được
7 hồ sơ tranh chấp về đất đai, 172/285 đơn khiếu nại, công tác thanh tra việc chấp hành các chế độ thể lệ về quản lý và sử dụng đất đai được tổ chức thường xuyên, đúng thẩm quyền, phát huy kịp thời những ưu điểm về xử lý nghiêm minh đối với những vi phạm trên lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai
Từ kết quả nghiên cứu đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục những khuyết điểm trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất Đồng thời kiến nghị cấp trên với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sửa chữa, điều chỉnh, bổ sung những chủ trương, chính sách, cơ chế quản lý Nhà nước về đất đai đã không còn phù hợp
Trang 6iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG BIỂU v
DANH SÁCH BIỂU ĐỒ v
CHÚ THÍCH CHỮ VIẾT TẮT vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN I: TỔNG QUAN 3
I.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU……… 3
I.1.1 Cơ sở khoa học ……….3
I.1.2 Cơ sở thực tiễn ……….6
I.1.3 Cơ sở pháp lý………11
I.2 KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU……….12
I.3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………13
I.3.1 Nội dung nghiên cứu ………13
I.3.2 Phương pháp nghiên cứu……….13
PHẦN HAI: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 15
II.1 KHÁI QUÁT CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN BÌNH CHÁNH………15
II.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của huyện 15
II.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 21
II.2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH CHÁNH……….32
II.2.1 Cơ cấu sử dụng đất năm 2010 32
II.2.2 Sử dụng đất theo đối tượng sử dụng 33
II.2.3 Theo mục đích sử dụng đất 34
Trang 7iv
II.2.4 Tình hình biến động đất đai huyện Bình Chánh 38
II.3 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH CHÁNH……….40
II.3.1 Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện các văn bản đó hành chính 40
II.3.2 Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính 41
II.3.3 Khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất 42
II.3.4 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 43
II.3.5 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất 47
II.3.6 Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý sổ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 49
II.3.7 Thống kê, kiểm kê đất 55
II.3.8 Quản lý tài chính về đất đai 56
II.3.9 Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản 57
II.3.10 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất 57
II.3.11 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai 57
II.3.12 Giải quyết tranh chấp đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai 58
II.3.13 Quản lý các dịch vụ công về đất đai 60
II.4 ĐÁNH GIÁ ƯU VÀ KHUYẾT ĐIỂM TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH CHÁNH…… ……61
II.4.1 Ưu điểm 61
II.4.2 Khuyết điểm 62
II.5 NHỮNG ĐỀ XUẤT VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THỜI GIAN TỚI……….63
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
III.1 KẾT LUẬN……….65
III.2 KIẾN NGHỊ………66
Trang 8v
DANH SÁCH BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Hệ thống sông, rạch chính của huyện Bình Chánh
Bảng 2.2: Thống kê các loại đất
Bảng 2.3: Mật độ dân số trên địa bàn huyện Bình Chánh năm 2009
Bảng 2.4: Thống kê dân số - lao động
Bảng 2.5: Cơ cấu giá trị sản xuất các ngành kinh tế
Bảng 2.6: Cơ cấu sử dụng đất
Bảng 2.7 : Sử dụng đất theo đối tượng sử dụng
Bảng 2.8 : Sử dụng đất chia theo đối tượng quản lý đất
Bảng 2.9 : Cơ cấu đất nông nghiệp năm 2010
Bảng 2.10: Diện tích, cơ cấu các loại đất phi nông nghiệp năm 2010
Bảng 2.11: Biến động đất đai 2005-2010
Bảng 2.12: Các đơn vị hành chính của huyện Bình Chánh
Bảng 2.13: Số tờ bản đồ địa chính trên địa bàn huyện
Bảng 2.14: Phân bổ diện tích trong kỳ sử dụng đất
Bảng 2.15: Kết quả thực hiện việc phân bổ diện tích các loại đất trong kỳ kế
hoạch
Bảng 2.16: Kết quả công tác lập sổ bộ địa chính theo tài liệu bản đồ 02/CT-UB Bảng 2.17: Tổng hợp kết quả ĐKĐĐ của các xã trên địa bàn huyện Bình
Chánh từ năm 2006
Bảng 2.18: Kết quả cấp GCNQSDĐ lần đầu từ năm 2006 – 2010
Bảng 2.19: Thống kê số liệu cấp Giấy chứng nhận theo Nghị định số
88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2010
Bảng 2.20: Các nguồn thu tài chính về đất đai qua các năm
Bảng 2.21:Kết quả tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại tố cáo và tranh chấp đất
đai từ 1/7/2004 đến ngày 30/9/2010
Bảng 2.22: Tổng hợp kết quả giải quyết TCĐĐ của các xã trên địa bàn huyện
Bình Chánh từ năm 2005
DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp huyện Bình Chánh năm 2010 Biểu đồ 2.3: Cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp huyện Bình Chánh năm 2010
Trang 9
vi
CHÚ THÍCH CHỮ VIẾT TẮT
TNMT : Tài nguyên và Môi trường
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 10Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện tự nhiên không thể thiếu và không có gì để thay thế của các ngành kinh tế quốc dân, của các ngành văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và việc định cư cho cộng đồng dân cư
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động Trong quá trình lao động, con người tác động vào đất đai để tạo ra các sản phẩm cần thiết phục vụ cho con người, vì vậy đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên, đồng thời vừa là sản phẩm lao động của con người Do đất đai là nguồn tài nguyên có giới hạn nên vấn đề hàng đầu của mỗi quốc gia hiện nay là cần có một chiến lược quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên này một cách có hiệu quả và hợp lý nhất
Vai trò của công tác quản lý đất đai ngày càng trở nên quan trọng, nhất là trong điều kiện hiện nay đất nước ngày càng phát triển, hội nhập, hợp tác kinh tế, công tác này được Nhà nước giao nhiệm vụ, trọng trách nhằm quản lý tốt mang lại hiệu quả về mặt kinh tế, tạo sự ổn định về mặt xã hội Trong những năm gần đây công tác này càng được chú trọng, xác định là nhiệm vụ quan trọng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn liền với hiệu quả quản lý sử dụng tài nguyên đất Quốc gia
Bình Chánh là một huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh, là vùng kinh tế động lực thúc đẩy sự tăng trưởng chung của Thành phố, khu vực được xem là
có tiềm năng lớn như: đất đai màu mỡ, nguồn nhân lực đông và có tay nghề cao.Trong những năm gần đây Bình Chánh đã thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư cả trong và ngoài huyện.Từ một huyện chuyên làm nông nghiệp trồng lúa là chính, năm
2000 trở đi tốc độ đô thị hóa trong huyện diễn ra khá nhanh cơ cấu kinh tế của huyện
có sự chuyển biến theo hướng công nghiệp, dịch vụ thương mại Với tốc độ đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc dẫn đến nhu cầu đất đai gia tăng, gây sức ép lớn đến quỹ đất cho các ngành kinh tế nói riêng và quỹ đất đai nói chung.Vì vậy, vấn đề quản lý đất đai mang một vấn đề mang tính nóng bỏng trên đại bàn huyện Bình Chánh
Xuất phát từ yêu cấu cấp bách trên, được sự phân công của khoa Quản Lý Đất Đai và Bất Động Sản, trường ĐH Nông Lâm Tp.HCM và được sự chấp nhận của Phòng TN&MT huyện Bình Chánh, chúng tôi thực hiện đề tài:
“ Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Bình Chánh -
Tp Hồ Chí Minh”
Mục đích nghiên cứu
Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất đai của huyện Bình Chánh theo 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai nhằm tìm ra những ưu điểm và bất cập trong công tác quản lý đất đai
Đề xuất những giải pháp khắc phục những mặt yếu kém thiếu sót cho công tác quản lý và sử dụng đất đai của huyện
Trang 11Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Bình Chánh,Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 12Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
PHẦN I: TỔNG QUAN I.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
I.1.1 Cơ sở khoa học
I.1.1.1 Các khái niệm
Đất đai
Đất đai là một vùng không gian được xác định, trong đó bao gồm đặc trưng về thổ quyển trong vùng không gian đó, đặc trưng về thạch quyển, thủy quyển, khí quyển, sinh quyển,…trong vùng không gian đó Đất đai còn đặc trưng cho yếu tố quản trị, hoạt động của con người từ quá khứ đến hiện tại và kỳ vọng cho tương lai
Quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai
Trang 13Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai ban đầu, đăng ký biến động đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
kê được tiến hành một năm một lần
Kiểm kê đất đai
Là việc Nhà nước tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính và trên thực địa về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm kiểm kê và tình hình biến động giữa hai lần kiểm
kê Kiểm kê đất đai được tiến hành năm năm một lần
Tranh chấp đất đai
Là sự tranh giành về quyền quản lý, quyền sử dụng trên một khu đất cụ thể mà mỗi bên đều cho rằng mình phải được quyền đó là đúng pháp luật Vì vậy họ không thể cùng nhau tự giải quyết mà yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết
Thanh tra đất đai
Là việc xem xét, kiểm soát, kiểm tra thường xuyên định kỳ nhằm rút ra những nhận xét, kết luận cần thiết để kiến nghị với cơ quan nhà nước nhằm khắc phục những nhược điểm, thiếu soát, phát huy ưu điềm góp phần nâm cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai
Quy hoạch sử dụng đất
Là hệ thống các biện pháp của nhà nước về tổ chức, quản lý nhằm mục đích sử dụng hiệu quả tối đa tài nguyên đất với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, bảo vệ môi trường để phát triển bền vững trên cơ sở phân phối quỹ đất vào các mục đích phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng theo các đơn vị hành chính các cấp, các vùng
và cả nước
Kế hoạch sử dụng đất
Là sự chi tiết hóa các nội dung của quy hoạch, thời gian thực hiện các phương
án quy hoạch
I.1.1.2 Một số vấn đề về quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai nhằm mục đích:
- Bảo vệ quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất;
- Đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất đai của quốc gia, tăng cường hiệu quả sử dụng đất
Trang 14Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
- Bảo vệ đất, cải tạo đất, bảo vệ môi trường Yêu cầu của công tác quản lý đất đai là phải đăng ký, thống kê đất đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật đất đai ở từng địa phương theo các cấp hành chính
Nguyên tắc của quản lý nhà nước về đất đai
Trong quản lý nhà nước về đất đai cần chú ý các nguyên tắc sau:
- Đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất của Nhà nước đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân Vì vậy, không thể có bất kỳ một cá nhân hay một nhóm người nào chiếm đoạt tài sản chung thành tài sản riêng của mình được Chỉ có Nhà nước - chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn dân mới có toàn quyền trong việc quyết định số phận pháp lý của đất đai, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của Nhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng
- Đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất đai, giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người trực tiếp sử dụng
- Tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc của quản lý kinh tế Tiết kiệm là cơ sở, là nguồn gốc của hiệu quả
I.1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về đất đai
- Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện các văn bản đó hành chính
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính
- Khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
- Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý sổ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Thống kê, kiểm kê đất
- Quản lý tài chính về đất đai
- Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử
Trang 15Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
I.1.2 Cơ sở thực tiễn
Sơ lược về công tác quản lý Nhà nước về đất đai ở nước ta
I.1.2.1 Trong thời kỳ đầu lập nước
Khi người Việt cổ cùng sống chung trong một công xã nguyên thuỷ thì đất đai
là của chung và đó chính là khởi thuỷ của ruộng đất công, mọi người cùng làm, cùng hưởng và cùng chung sức bảo vệ
Từ thời vua Hùng, toàn bộ ruộng đất trong cả nước là của chung và cũng là của vua Hùng Khi đất đai bị xâm phạm thì các vua Hùng tổ chức chống cự để bảo vệ và người dân phải thực hiện mệnh lệnh của vua Những khái niệm sơ khai về sở hữu nhà vua được hình thành
I.1.2.2 Trong thời kỳ phong kiến
Các triều đại phong kiến ở nước ta đã nghĩ đến quản lý và sử dụng đất đai từ đầu thế kỉ XI Triều đình nhà Lý-Trần đã bắt đầu quan tâm đến công tác quản lý đất đai Việc đầu tiên phải làm là đo đạc ruộng đất, lập sổ điền bạ nhằm mục đích đánh thuế theo diện tích
Cuối thế kỷ 14, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần Năm 1397, dưới sự chi phối của Hồ Quý Ly, nhà Trần đã phải ban hành chính sách "Hạn danh điền" để thu hồi ruộng đất cho Nhà nước
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi vua, cùng với việc phong thưởng ruộng đất cho các công thần và cấp lộc điền ông còn cấp đất ở cho các công thần, vương tôn, quý tộc, quan lạ trong kinh thành đồng thời quan phủ đã tiến hành kiểm Kế đất đai để lập sổ sách (địa bạ) từ đó thực hiện chính sách phân phối lại ruộng công, ruộng bỏ hoang cho binh lính và nông dân
Năm 1483,vua Lê Thánh Tông" Quốc triều Hình luật" (còn gọi là Luật Hồng Đức) là bộ luật đầu tiên của nước ta được ban hành gồm 6 quyển có 722 điều, trong đó
có 59 điều nói về ruộng đất Tinh thần chung của "Quốc triều Hình luật" khi điều chỉnh quan hệ đất đai là bảo vệ nghiêm ngặt chế độ ruộng đất công; bảo vệ quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất; quy định việc mua bán, thừa kế, cầm cố ruộng đất; quy định trách nhiệm của quan lại trong việc quản lý ruộng đất và nghĩa vụ của các chủ ruộng
Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, suốt từ năm 1805 đến 1836, nhà Nguyễn hoàn tất bộ địa bạ của 18.000 xã từ mục Nam Quan đến mũi Cà Mau Trong địa bạ ghi rõ thửa đất thuộc quyền sở hữu của ai, các hướng giáp đâu, sử dụng làm gì, quan điền quan thổ hay ruộng tư, loại hạng ruộng đất, kích thước bao nhiêu Ngay trong những năm đầu trị vì đất nước, Nguyễn Ánh đã ban hành bộ luật thứ hai của nước ta mang tên “Hoàng Việt Luật lệ” (còn gọi là Bộ luật Gia Long).Trong bộ luật này có 14 điều tập trung bảo
vệ chế độ sở hữu ruộng đất, đảm bảo việc thu thuế
Trang 16Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
I.1.2.3 Trong thời kỳ Pháp thuộc
Sau khi xâm chiếm nước ta, thực dân Pháp đã lo ngay đến vấn đề ruộng đất
Thực dân Pháp chia đất nước ta thành 3 kỳ Mỗi kỳ thực dân Pháp thực hiện một chế độ cai trị khác nhau Mỗi làng xã có một chưởng bạ phụ trách điền địa
- Nam kỳ là chế độ quản thủ địa bộ
- Bắc kỳ và Trung kỳ là chế độ quản thủ địa chính
Pháp cũng đã tiến hành xây dựng 3 loại bản đồ: bản đồ bao đạc, bản đồ giải thửa và phác hoạ giải thửa Các loại bản đồ thời kỳ này được lập với nhiều tỷ lệ khác nhau từ 1/200 đến 1/10.000
Chế độ điền thổ tại Nam kỳ
Pháp bắt đầu thành lập Sở Địa chính Sài Gòn vào năm 1867, đặt dưới quyền một viên Thanh tra hành chính người Pháp
Đến năm 1896, Sở Địa chính đặt dưới quyền trực tiếp của Thống đốc Nam kỳ,
từ đó tiến hành lập bản đồ giải thửa
Đến năm 1930, đã đo đạc và lập xong bản đồ giải thửa cho hầu hết các tỉnh phía Tây và phía Nam của Nam kỳ
Chế độ quản thủ địa bộ tại Nam kỳ như sau:
- Chế độ quản thủ địa bộ theo Nghị định ngày 06/05/1891 : Tỉnh trưởng đảm nhiệm việc quản thủ địa bộ cho người Việt Nam trong tỉnh, đồng thời lo các công việc sau: điều tra quyền sở hữu ruộng đất, xếp hạng ruộng đất, đăng ký theo số liệu địa chính, cấp trích lục cho chủ sở hữu
- Chế độ quản thủ địa bộ theo Nghị định ngày 18/02/1921 : Tỉnh trưởng đảm nhiệm việc quản thủ địa bộ cho người Việt Nam trong tỉnh Nơi nào có Ty Bảo thủ điền thổ thì quản thủ về điền thổ kiêm nhiệm quản thủ địa bộ Các văn bản được ghi vào sổ địa bạ gồm các văn tự chuyển quyền, lập quyền, huỷ quyền và án tòa
Đối với ruộng đất của Pháp và ngoại kiều khác có chế độ quản lý riêng gọi là chế độ Để đương do Ty Bảo thủ để đương phụ trách, tức là áp dụng theo Luật Napoleon để bảo vệ các quyền sở hữu
Chế độ quản thủ địa chính ở Trung kỳ
Ngày 26/04/1930, Khâm sứ Trung kỳ đã ban hành Nghị định số 1358 lập Sở Bảo tồn điền trạch, đến 14/10/1939 đổi thành Sở Quản thủ địa
Để thực hiện quản thủ địa chính phải tiến hành đo đạc giải thửa, lập địa bạ, điền
bạ và sổ các chủ sở hữu gồm các bước: phân ranh giới xã, phân ranh giới các thửa, đo đạc lập bản đồ địa chính tỷ lệ l/2.000, lập địa bộ danh sách các thửa đất
Chế độ quản thủ địa chính ở Bắc kỳ
Việc quản thủ địa chính do Trưởng ty Địa chính trực tiếp phụ trách; chế độ quản thủ địa chính ở Bắc kỳ như sau:
Trang 17Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
- Chế độ quản thủ địa chính mà các tài liệu chưa được phê chuẩn (theo Nghị định số 393 ngày 23/12/1929, sau đó được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 1370
ngày 07/08/1931 của Thống sứ Bắc kỳ), tài liệu gồm: một bộ bản đồ, một sổ điền bạ,
một sổ khai báo
- Chế độ quản thủ địa chính mà các tài liệu đã được phê chuẩn (theo Nghị định
số 2851 ngày 13/09/1937 và Nghị định số 2815 ngày 17/09/1937 của Thống sứ Bắc kỳ), tài liệu gồm: một bộ bản đồ giải thửa chính xác, sổ địa chính, sổ điền chủ, sổ mục lục các thửa và mục lục điền chủ,sổ khai báo
I.1.2.4 Chế độ miền Nam Việt Nam trong thời kỳ Mỹ- Ngụy (1954-1975)
Miền Nam trong thời kỳ này tồn tại hai chính sách ruộng đất khác nhau: chính sách ruộng đất của chính quyền cách mạng và chính sách ruộng đất của Mỹ - Nguỵ
Chính sách ruộng đất của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam mà nội dung xuyên suốt trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc là ruộng đất về tay người cày, nhưng do chiến tranh kéo dài và ác liệt chính sách này chỉ thực hiện được ở vùng giải phóng
Từ năm 1954- 1975, chính quyền Mỹ - Nguỵ chia miền Nam nước ta thành 3 miền: nam phần, trung phần và cao nguyên trung phần Tổ chức và hoạt động quản thủ điền địa từ năm 1954 đến năm 1975 đã thay đổi theo 3 giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1954-1955: là giai đoạn thiết lập Nha Địa chính tại các miền: Nam
phần, Trung phần, Cao nguyên
Giai đoạn 1956-1959: Chúng thành lập Nha Tổng giám đốc Địa chính và địa
hình, ở các tỉnh có Ty Địa chính; chúng còn ban hành "Quốc sách về điền địa và nông nghiệp"
Giai đoạn 1960-1975: Chúng thành lập Tổng nha Điền địa với 11 nhiệm vụ,
trong đó có 3 nhiệm vụ chính sau: xây dựng các tài liệu được nghiên cứu, tổ chức điều hành tất cả các việc của công tác địa chính, quản thủ tài liệu, khai thác tài liệu để tiến hành cải cách điền địa
I.1.2.5 Công tác quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta giai đoạn chưa có Luật đất đai ( từ 1945 đến 1987)
Giai đoạn này bao gồm toàn bộ thời kỳ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945-1975) Trong đó: từ năm 1945-1954, nước ta thực hiện Cách mạng dân tộc dân chủ; từ năm 1954-1975 nước ta thực hiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam Đặc trưng cơ bản của chính sách ruộng đất trong thời kỳ này là: khai hoang, vỡ hoá, tận dụng diện tích đất đai để sản xuất nông nghiệp; tịch thu ruộng đất của thực dân, việt gian, địa chủ, phong kiến chia cho dân nghèo; chia ruộng đất vắng chủ cho nông dân
Đồng thời, giai đoạn này còn gồm cả thời kỳ đầu của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ khi thống nhất đất nước cho đến khi bắt đầu đổi mới (1976-
Trang 18Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
1987), cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội theo nền kinh tế kế hoạch Vì vậy, mỗi thời
kỳ đều có chính sách quản lý đất đai khác nhau, phù hợp với tình hình lịch sử của đất nước
Ngày 19/12/1953, Chủ tịch nước Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 179/SL ban hành Luật Cải cách ruộng đất
Ngày 1 tháng 7 năm 1980, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 201/CP
về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong
cả nước (sau đây gọi tắt là Quyết định số 201/CP năm 1980)
Có thể nói, đây là văn bản pháp quy đầu tiên quy định khá chi tiết, toàn diện về công tác quản lý ruộng đất trong toàn quốc
Ngày 10 tháng 11 năm 1980, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 299/TTg về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống Kế ruộng đất trong cả nước
Ngày 18 tháng 12 năm 1980, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Hiến pháp 1980 Theo đó, 4 hình thức sở hữu đất đai (sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu của người lao động riêng lẻ, sở hữu của nhà tư sản dân tộc) ở Hiến pháp 1959 được gộp làm một, đó là sở hữu toàn dân (Điều 19) do Nhà nước thống nhất quản lý nên việc quản lý đất đai cần phải thay đổi theo cho phù hợp
Như vậy, giai đoạn 1945 đến 1987, tuy chưa có Luật đất đai nhưng đã có nhiều văn bản pháp quy để điều chỉnh các quan hệ về ruộng đất với nội dung cơ bản là ngày càng tăng cường công tác quản lý đất đai Đồng thời cũng đã sơ khai quy định các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai
I.1.2.6 Công tác quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta giai đoạn thực hiện Luật đất đai 1987 ( từ 08-01-1988 trên 14-10-1993)
Sau 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội theo kiểu kinh tế kế hoạch, đến năm
1986, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới, xoá bỏ bao cấp, chuyển sang nền kinh tế hạch toán kinh doanh Trước tình hình đó, ngày 29 tháng
12 năm 1987, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật đất đai đầu tiên - Luật Đất đai 1987
Luật Đất đai 1987 khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý và vẫn giữ 7 nội dung quản lý nhà nước về đất đai như ở Quyết định số 201/CP năm 1980, nhưng có hoàn thiện hơn
Theo tinh thần của Luật Đất đai 1987, để tăng cường công tác quản lý đất đai, ngày 14 tháng 7 năm 1989 Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý ruộng đất ban hành Quyết định số 201 QĐ/ĐKTK về việc ban hành quy định cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất Trong bản quy định ban hành kèm theo Quyết định này quy định về điều kiện, đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trang 19Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
Ngày 6 tháng 11 năm 1991 , Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Chỉ thị số 364-CT về việc giải quyết những tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tỉnh, huyện, xã Thực hiện Chỉ thị này, các địa phương đã tiến hành xác định, cắm mốc địa giới hành chính và lập hồ sơ địa giới hành chính
Ngày 12 tháng 5 năm 1993, Cục trưởng Cục Đo đạc và Bản đồ nhà nước đã ban hành Quyết định số 77-QĐ- CT quy định kỹ thuật thành lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính các cấp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Theo đó, Ban chỉ đạo 364 của tỉnh phải lập phương án kinh tế - kỹ thuật thành lập bản đồ địa giới hành chính các cấp của tỉnh
Như vậy giai đoạn này, công tác quản lý đất đai đã bắt đầu đi vào nề nếp và đặc biệt chú ý tới việc xác định, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính các cấp địa phương
I.1.2.7 Công tác quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta giai đoạn thực hiện Luật đất đai 1993 ( từ 15-10-1993 đến 30-6-2004)
Luật Đất đai 1993 đã chế định cơ sở pháp lý cơ bản để quan hệ đất đai ở nước
ta chuyển sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Như vậy, Luật Đất đai năm 1993 khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và nguyên tắc giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân Đồng thời giao quyền sử dụng đất và kèm theo các quyền khác như: quyền chuyển đổi, quyền thừa kế, quyền thế chấp, quyền cho thuê, quyền chuyển nhượng nhằm tăng cường tính tự chủ và lợi ích kinh tế được đảm bảo về mặt pháp lý cho những người sử dụng đất
Tuy nhiên, kinh tế thị trường phát triển kéo theo các quan hệ xã hội trở nên phức tạp hơn, nhu cầu sử dụng và mua bán quyền sử dụng đất (thực chất là mua bán đất đai) trở nên thường xuyên đã làm phát sinh rất nhiều vấn đề mà Luật Đất đai năm
1993 khó giải quyết Vì thế, ngày 02-12-1998 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai được ban hành và ngày 01-10-2001 tiếp tục sửa đổi một số điều của Luật Đất đai Luật sửa đổi lần này là chú trọng đến khía cạnh kinh tế của đất đai và vai trò quản lý nhà nước đối với đất đai Điều đó được thể hiện bởi những qui định về khung giá các loại đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tính giá trị tài sản khi giao đất hoặc khi nhà nước bồi thường, qui hoạch và kế hoạch sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…
I.1.2.8 Công tác quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta giai đoạn thực hiện Luật đất đai 2003 ( từ 1-7-2004 đến nay)
Luật đất đai 2003 quy định về quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Trang 20Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
Do những nhu cầu mới của đất nước và sự phát triển của xã hội,tại Kỳ họp thứ
4 Quốc hội khóa XI xem xét nhất trí thông qua và Quyết định Luật đất đai có hiệu lực
từ ngày 1/7/2004 Tại Nghị quyết số 02/2002/QH11 ngày 5/8/2002 của Quốc hội khóa
XI kỳ hộp thứ nhất đã quy định danh sách các bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ, trong đó xác lập thành lập mới Bộ Tài nguyên và Môi trường
Vì Luật đất đai 2003 chỉ quy định, những nguyên tắc chung nhất nên để đảm bảo việc thi hành Luật đất đai có hiệu quả, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn để cụ thể các điều luật trong Luật đất đai 2003 quy định Từ khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực, công tác quản lý Nhà nước về đất đai ngày càng được hoàn thiện, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước
I.1.3 Cơ sở pháp lý
- Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
- Luật đất đai 2003 ngày 26 tháng 11 năm 2003
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai
năm 2003
- Nghị định 182/ 2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt hành
chính trong lĩnh vực đất đai
- Nghị định 69/2009/NĐ -CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định bổ sung
về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hổ trợ và tái định cư
- Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/ 2007 của Chính phủ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi nhà nước thu hồi đất
- Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 181/2004/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật
đất đai 2003 và các văn bản khác có liên quan đến công tác quản lý và sử dụng đất
- Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử
dụng đất
- Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường,
hổ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Nghị định 44/2008/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định 198 về thu tiền sử dụng đất
- Thông tư số 116/2004/TT-BTNMT ngày 07/12/2004 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004 NĐ-CP của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất
Thông tư 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trang 21Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
- Thông tư số 70/2006/TT-BTC ngày 13/04/2005 cùa Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 cùa Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về
thu tiền sử dụng đất
- Thông tư số 06/2007/TT - BTNMT ngày 15/06/2007 của Bộ Tài nguyên Môi trường hướng dẫn thực hiện Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà
nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Thông tư số 09/2007/TT- BTNMT ngày 02/08/2007 của Bộ Tài nguyên Môi
trường hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính
- Thông tư 08/2007/TT-BTNMT ngày 02/08/2007 của Bộ tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng
đất
- Thông tư 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất
- Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21/07/2006 của Bộ Tài nguyên Môi
trường về việc ban hành quyết định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Quyết định số 07/2007/QĐ-BTNMT ngày 27/02/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành định mức kinh tế - kĩ thuật đăng kí quyền sử dụng đất,
lập hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Chỉ thị số 364/TTg của thủ tướng Chính phủ về quản lý địa giới hành chính
I.2 KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Dưới thời nhà Nguyễn, Bình Chánh thuộc huyện Tân Long, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định Sau khi Pháp xâm lược và cai trị, đã thay đổi cách thức cai trị và phân ranh hành chánh, theo đó thì Bình Chánh lại thuộc quận Trung Quận (về phía chính quyền cách mạng thì gọi là huyện Trung Huyện) tỉnh Chợ Lớn Dưới thời nhà Nguyễn, Bình Chánh thuộc huyện Tân Long, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định Sau khi Pháp xâm lược
và cai trị, đã thay đổi cách thức cai trị và phân ranh hành chánh, theo đó thì Bình Chánh lại thuộc quận Trung Quận (về phía chính quyền cách mạng thì gọi là huyện Trung Huyện) tỉnh Chợ Lớn Đến năm 1957 huyện Bình Chánh được thành lập trên cơ
sở tách ra từ huyện Trung Huyện; và đến năm 1960 do yêu cầu của cuộc kháng chiến Bình Chánh lại tách ra Nam, Bắc Bình Chánh; Nam gọi là Bình Chánh - Nhà Bè, Bắc nhập với Tân Bình gọi là Bình Tân Đến năm 1972, tên gọi huyện Bình Chánh được phục hồi trên cơ sở hợp nhất Nam, Bắc Bình Chánh Đến tháng 12 năm 2003, do sự tăng dân số cơ học và để tạo điều kiện thuận lợi để phát triển, huyện Bình Chánh tách
ra thành lập thêm quận Bình Tân Vậy hiện nay huyện Bình Chánh còn lại 15 xã và 1 thị trấn
Trang 22Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
Bình Chánh là huyện nằm ở phía Tây – Tây Nam của nội thành Thành phố Hồ Chí Minh Tọa độ địa lý của huyện là 1060 27’51- 1060 42’ kinh Đông và 1020 27’38”
- 1020 52’30” vĩ Bắc Bình Chánh là 5 huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh, nằm ở phía Tây Nam Phía Đông giáp huyện Nhà Bè, quận 8, quận Bình Tân và huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, phía Tây giáp huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, phía Nam giáp huyện Bến Lức, tỉnh Long An, phía Bắc giáp huyện Hóc Môn, thành phố
Hồ Chí Minh
Về vị trí là cửa ngõ phía Tây vào nội thành TP.Hồ Chí Minh, nối liền với các trục đường giao thông quan trọng như Quốc lộ 1A, đây là huyết mạch giao thông chính từ các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long đến các tỉnh vùng trọng điểm kinh tế phía Nam và các tỉnh miền Đông Nam Bộ Với các tuyến đường liên tỉnh lộ 10 nối liền với khu công nghiệp Đức Hòa ( Long An); đường Nguyễn Văn Linh nối từ quốc lộ 1A đến khu công nghiệp Nhà Bè và khu chế xuất Tân Thuận quận 7, vượt sông Sài Gòn đến Quận 2 và đi Đồng Nai, quốc lộ 50 nối huyện Bình Chánh với các huyện Cần Giuộc, Cần Đước (Long An) Bình Chánh trở thành cầu nối giao lưu kinh tế, giao thương đường bộ giữa vùng đồng bằng Sông Cửu Long với vùng kinh tế miền Đông Nam Bộ
và các khu công nghiệp trọng điểm
I.3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
I.3.1 Nội dung nghiên cứu:
- Đánh giá điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, thực trạng kinh tế xã hội của huyện
- Đánh giá tình hình sử dụng đất trên địa bàn huyện năm 2010 và biến động đất đai giai đoạn 2005-2010
- Đánh giá tình hình quản lý đất đai theo 13 nội dung của Luật Đất đai trên địa bàn huyện
- Đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm trong công tác quản lý và sử dụng đất
của huyện Bình Chánh
- Đề xuất những giải pháp quản lý và sử dụng đất trong tương lai
I.3.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê: Thống kê diện tích các loại đất, thống kê các số liệu,
tài liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tổng hợp các số liệu vào các bảng biểu để minh họa
- Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở thu thập các số liệu, tài liệu tiến hành hệ
thống tổng hợp để lựa chọn các thông tin cần thiết
- Phương pháp so sánh: So sánh đất đai qua các năm để đánh giá được tình
hình sử dụng đất đai cũng như tình hình quản lý biến động đất đai trên địa bàn
Trang 23Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
- Phương pháp kế thừa: Kế thừa có chọn lọc những văn bản thể hiện chủ trương
của Đảng và Nhà nước trong công tác quản lý đất đai, kế thừa các số liệu, tài liệu,
chuyên đề
- Phương pháp phân tích: Phân tích vấn đề trước khi đưa ra quyết định
- Phương pháp chuyên gia: Tham gia, trao đổi ý kiến với các nhà chuyên môn
về lĩnh vực quản lý đất đai để tiếp nhận những kiến thức, học hỏi kinh nghiệm trong quản lý đất đai
Trang 24Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
PHẦN HAI: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU II.1 KHÁI QUÁT CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN BÌNH CHÁNH
II.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
Về địa giới hành chính tiếp giáp các quận, huyện như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Hóc Môn
- Phía Đông giáp quận Bình Tân, Quận 8, Quận 7 và huyện Nhà Bè
- Phía Nam giáp huyện Bến Lức và huyện Cần Giuộc tỉnh Long An
- Phía Tây giáp huyện Đức Hòa tỉnh Long An
Với vị trí là cửa ngõ phía Tây vào nội thành Tp.Hồ Chí Minh, nối liền với các trục đường giao thông quan trọng như Quốc lộ 1A, đây là huyết mạch giao thông chính từ các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long đến các tỉnh vùng trọng điểm kinh tế phía Nam và các tỉnh miền Đông Nam Bộ Với các tuyến đường liên tỉnh lộ 10 nối liền với khu công nghiệp Đức Hòa ( Long An); đường Nguyễn Văn Linh nối từ quốc lộ 1A đến khu công nghiệp Nhà Bè và khu chế xuất Tân Thuận quận 7, vượt sông Sài Gòn đến Quận 2 và đi Đồng Nai, quốc lộ 50 nối huyện Bình Chánh với các huyện Cần Giuộc, Cần Đước (Long An) Bình Chánh trở thành cầu nối giao lưu kinh tế, giao thương đường bộ giữa vùng đồng bằng Sông Cửu Long với vùng kinh tế miền Đông Nam Bộ
và các khu công nghiệp trọng điểm
Tuy nhiên, hệ thống cơ sở hạ tầng còn chậm phát triển đã ảnh hưởng đến quá trình phát triển KT- XH của huyện
Trang 25Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ vị trí huyện Bình Chánh
II.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình huyện Bình Chánh có dạng nghiêng và thấp dần theo hai hướng Tây Bắc – Đông Nam và Đông Bắc - Tây Nam, với độ cao giảm dần từ 3m đến 0,3m so với mực nước biển Có 3 dạng địa hình chính:
- Dạng đất gò có độ cao từ 2- 3 m, thoát nước tốt, phù hợp với việc trồng rau màu và có thể bố trí các cơ sở công nghiệp, phân bố tập trung ở các xã Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B
- Dạng đất thấp bằng có độ cao xấp xỉ 2,0 m, phân bố ở các xã: Tân Quý Tây;
An Phú Tây; Bình Chánh; Tân Túc; Tân Kiên; Bình Hưng; Phong Phú; Đa Phước;
Trang 26Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
Quy Đức; Hưng Long Dạng địa hình này phù hợp với trồng lúa 2 vụ, cây ăn trái, rau
màu và nuôi trồng thủy sản
- Dạng trũng thấp, đầm lầy: có độ cao từ 0,5 m - 1,0 m, gồm các xã Tân Nhựt;
Bình Lợi; Lê Minh Xuân; Phạm Văn Hai, đây là vùng thoát nước kém
II.1.1.3 Thủy văn
Huyện Bình Chánh có hệ thống sông, kênh, rạch khá đa dạng (khoảng 10 sông,
rạch chính)
Bảng 2.1: Hệ thống sông, rạch chính của huyện Bình Chánh
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Chánh)
Phần lớn sông, rạch của huyện Bình Chánh nằm ở khu vực hạ lưu, nên
nguồn nước bị ô nhiễm do nước thải từ các khu công nghiệp của thành phố đổ về:
nước đen từ kênh Tàu Hủ, kênh Tân Hòa - Lò Gốm, kênh Đôi, rạch Nước Lên, rạch
Cần Giuộc,… đã ngày càng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp ( đặc biệt là
nuôi trồng thủy sản) cũng như đối với môi trường sống của nhân dân trong các khu
dân cư
Nhìn chung hệ thống sông, kênh, rạch trực tiếp chi phối chế độ thủy văn của
Huyện và nét nổi bật của dòng chảy là sự xâm nhập của thủy triều
II.1.1.4 Khí hậu
- Bình Chánh nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất
xích đạo Nên huyện có 2 mùa rõ rệt:
Trang 27Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
- Lượng mưa trung bình năm từ 1300mm - 1770mm Mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm Mưa tập trung vào tháng 7,8,9 vào tháng 10,1 lượng mưa không đáng kể
- Độ ẩm không khí trung bình năm khá cao 79,5% Cao nhất vào tháng 7,8,9
là 80% - 90%, thấp nhất tháng 12 là 70%
- Tổng số giờ nắng 2.100 – 2.920 giờ
Nhìn chung, thời tiết của huyện với các đặc điểm khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ tương đối ổn định, thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp và sinh hoạt của nhân dân Tuy nhiên, lượng mưa tập trung theo mùa nên có những kỳ xảy ra hạn hán làm thiệt hại cho năng suất hoa màu trong nông nghiệp và đời sống dân sinh
II.1.1.5 Các nguồn tài nguyên
a Tài nguyên đất
Tài nguyên đất của huyện Bình Chánh khá phong phú, đa dạng với các nhóm đất chính sau:
- Nhóm đất phù sa: Có diện tích khoảng 5.797,7 ha, chiếm 23% diện tích toàn
huyện, phân bố ở các xã Tân Quý Tây, An Phú Tây, Bình Chánh, Hưng Long, Quy Đức, Đa Phước Đây là một loại đất quý hiếm, cần thiết phải được cung cấp nước tưới,
ưu tiên sản xuất lúa nước 2 đến 3 vụ và sử dụng một phần diện tích nhỏ cho việc trồng cây ăn trái
- Nhóm đất xám: Có diện tích khoảng 3.716,8 ha chiếm tỷ lệ 14,7% diện tích
đất của huyện, phân bố trên các triền thấp, tập trung ở các xã Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B Loại đất này dễ thoát nước, thuận lợi cho cơ giới hóa và thích hợp với các loại cây công nghiệp hàng năm, cây công nghiệp ngắn ngày, rau, đậu,…
- Đất phèn: Nhóm đất này chiếm diện tích 10.508,6 ha, chiếm 41,7% diện
tích đất của huyện, tập trung ở các xã Tân Nhựt, Bình Lợi, Phạm Văn Hai, Lê Minh Xuân Đây là vùng đất thấp trũng, bị nhiễm phèn mặn, nên chỉ thích hợp với những loại cây chịu được phèn mặn như giống lúa chịu phèn, dứa, cây lâm nghiệp, hệ thống thủy lợi huyện Hóc Môn – Bắc Bình Chánh hoàn chỉnh được nước ngọt về để rửa phèn trong nội đồng thì có thể tăng thêm một vụ lúa hoặc chuyển sang trồng một số cây ăn trái Hiện nay, đất phèn đã được khai thác trồng lúa 2-3 vụ, rau màu và các loại cây ăn quả
Trang 28Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
Ngoài ra, huyện còn có một số loại đất khác nhưng chiếm tỷ lệ rất nhỏ, phần lớn phân bố dọc theo hệ thống kênh rạch
Bảng 2.2: Thống kê các loại đất
ha %
1 Đất phù sa 5.797,7 23,0 Tân Quý Tây, An Phú Tây, Bình Chánh,
Hưng Long, Quy Đức, Đa Phước
2 Đất xám 3.716,8 14,7 Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B
3 Đất phèn 10.508,6 41,7 Tân Nhựt, Bình Lợi, Phạm Văm Hai, Lê
Minh Xuân
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Chánh)
b Tài nguyên nước
Tài nguyên nước của huyện gồm nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm:
- Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt của huyện Bình Chánh bao gồm hệ
thống các sông, rạch, mà hệ thống mực nước chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thủy triều 3 hệ thống sông lớn: sông Nhà Bè- Rạp Soài, Vàm Cỏ Đông và sông Sài Gòn Mùa khô độ mặn xâm nhập vào sâu nội đồng, độ mặn khoảng 4%, mùa mưa mực nước lên cao nhất là 1,1m, gây lụt cục bộ ở các vùng đất trũng của huyện
- Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm phân bố khá rộng nhưng ở độ sâu từ
150-300m, nước ngầm ngọt phân bố chủ yếu ở các tầng chứa nước Pleitoxen, trong đó
có nơi 30-40m Trừ các xã phía Bắc là Vĩnh Lộc A và Vĩnh Lộc B, nguồn nước ngầm của huyện không bị nhiễm phèn, nên khai thác nước tưới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp cũng như nước sinh hoạt, vào tháng nắng mực nước ngầm cũng tụt khá sâu trên 40m, các xã còn lại nguồn nước ngầm đều bị nhiễm phèn
Trữ lượng khai thác ước tính 300-400 m3/ngày Nhìn chung nguồn nước ngầm huyện Bình Chánh khá tốt và dồi dào, đang giữ vị trí quan trọng trong việc cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân trong huyện
c Tài nguyên rừng
Năm 2010, huyện Bình Chánh có 1.047,86 ha đất lâm nghiệp, chiếm 4,15% so với tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện, trong đó:
- Diện tích đất rừng đặc dụng: 29,9232 ha Phân bổ ở xã Lê Minh Xuân
- Rừng phòng hộ 262,6765 ha phân bổ ở xã Lê Minh Xuân
Trang 29Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
- Đất có rừng sản xuất 710,53 ha, chủ yếu là trồng dứa, bạch đàn,… đang được khai thác, tập trung ở xã Phạm Văn Hai 508,43 ha, xã Lê Minh Xuân 264,53 ha
Nhìn chung, rừng của huyện chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chủ yếu là rừng trồng và rừng thứ sinh tự nhiên Diện tích rừng trồng của huyện Bình Chánh ngoài việc cải tạo môi trường sinh thái cảnh quan còn đóng góp một phần vào việc cung cấp gỗ cho xây dựng
d Tài nguyên khoáng sản
So với các huyện trong Thành phố, tuy không có tài nguyên khoáng sản quý hiếm, nhưng Bình Chánh lại có loại đất có thể dùng làm nguyên liệu cho ngành sản xuất vật liệu xây dựng với trữ lượng tương đối phong phú Theo tài liệu của đoàn địa chất Thành phố sơ bộ đánh giá như sau:
- Loại thân quặng 1: Sét gạch ngói nằm trên địa bàn xã Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc
B, có diện tích khoảng 200 ha, ước đoán trữ lượng khoảng 4 triệu m3
- Loại thân quặng 2: Cũng nằm trên địa bàn xã Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B ước
đoán trữ lượng khoảng 20 triệu m3
- Loại thân quặng 3: Sét gạch ngói nằm trên địa bàn thị trấn Tân Túc, ước đoán
trữ lượng khoảng 10 triệu m3
Ngoài ra, còn có than bùn phân bố rải rác nằm dọc theo khu vực cầu An Hạ, nông trường Lê Minh Xuân nhưng với trữ lượng không đáng kể
e Tài nguyên nhân văn
Huyện Bình Chánh là vùng đất có truyền thống văn hóa và tinh thần yêu nước quật cường Trên địa bàn huyện hiện có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống như: Việt (kinh), Hoa, Chăm, Khơme,…với nền văn hóa phong phú, đa dạng, phát huy truyền thống cách mạng, niềm tự hào quê hương
Trong thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước, người dân huyện Bình Chánh đã phát huy truyền thống đoàn kết, ý chí tự lực tự cường, khắc phục mọi khó khăn đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế, văn hóa và giữ vững trật tự an ninh xã hội
Tuy chặng đường phát triển phía trước còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng với truyền thống yêu nước, sáng tạo, tranh thủ thời cơ, phát huy những lợi thế sẵn có, huyện Bình Chánh vững vàng đi lên thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển
II.1.1.6 Thực trạng môi trường
Cảnh quan thiên nhiên của huyện Bình Chánh mang vẻ đẹp của vùng Đông Nam Bộ với những hệ thống kênh rạch, các khu dân cư,… tạo nên bức tranh thiên nhiên hài hòa, tươi đẹp Trên địa bàn huyện còn lưu giữ nhiều công trình kiến trúc đặc sắc mang đậm dấu ấn của các thời kỳ đấu tranh xây dựng của nhân dân các dân tộc
Trang 30Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
Trong những năm gần đây do quá trình đô thị hóa cùng với phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ và cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội,… chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt chưa được quản lý chặt chẽ, việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, phân bón trong nông nghiệp không đúng quy trình, quy phạm đã gây nên ô nhiễm môi trường cục bộ trong từng khu vực Nguyên nhân của việc ô nhiễm trên là do công tác quy hoạch, bố trí sắp xếp các ngành nghề, các phân khu chức năng còn chậm chưa đáp ứng kịp tốc độ đô thị hóa, sự gia tăng về phương tiện giao thông, chất lượng các tuyến đường xuống cấp trầm trọng gây ảnh hưởng về khói bụi, về trật tự an toàn xã hội,…Tuy nhiên, về cơ bản môi trường sinh thái của huyện còn tương đối trong lành, những năm tới huyện Bình Chánh cần có biện pháp bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững
II.1.1.7 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
a Lợi thế
Huyện Bình Chánh là cửa ngõ phía Tây vào Thành phố Hồ Chí Minh, có vị trí địa lý thuận lợi, mạng lưới giao thông khá thuận lợi trong giao lưu kinh tế - văn hóa với các quận, huyện trong Thành phố, các tỉnh Miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ
Tài nguyên thiên nhiên khá phong phú, đất đai đa dạng, chất lượng cao Hệ thống sông ngòi thuận lợi cho phát triển giao thông đường thủy giữa huyện Bình Chánh với Thành phố và các tỉnh miền Đông, Tây Nam Bộ
Ngoài ra, huyện còn nhiều di tích lịch sử, văn hóa, đây là tiềm năng để phát triển các loại hình dịch vụ, du lịch khi được khơi dậy và phát huy sẽ góp phần đẩy nhanh tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
b Hạn chế
Huyện Bình Chánh nghèo về tài nguyên khoáng sản
Phần địa hình thấp, thường bị úng nước vào mùa mưa gây ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt, hoạt động sản xuất, kinh tế và xã hội của huyện
Ô nhiễm môi trường có xu hướng gia tăng nhất là khu vực công nghiệp
II.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội
II.1.2.1 Thực trạng xã hội
a Dân số
Theo Niên giám thống kê năm 2009, dân số của huyện Bình Chánh là 406.067 người, mật độ dân số bình quân 1,608 người/km2 , tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 12,55%, ( tốc độ tăng dân số tự nhiên giảm từ năm 2005 đến 2009 là 1,19%)
Trang 31Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
Bảng 2.3: Mật độ dân số trên địa bàn huyện Bình Chánh năm 2009
STT Đơn vị hành chính Số dân (người) Mậtđộ
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Chánh)
Mật độ dân số trong huyện phân bố không đồng đều trong 16 xã, thị trấn, mật
độ dân số cao nhất là xã Bình Hưng 4.180 người/km2 và mật độ thấp nhất là xã Bình Lợi 464 người/km2 Qua đây cho thấy tính tác động của sự phân bố dân cư đến việc
QHSDĐ cũng là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội
Về thành phần dân tộc, dân số chủ yếu là đồng bào dân tộc Kinh chiếm
97,67% tổng dân số, kế đến là dân tộc Hoa chiếm 1,67%, dân tộc Khơmer 0,45%, còn lại là các dân tộc Chăm và dân tộc khác, người dân nước ngoài chiếm tỷ lệ không đáng
kể
Tuy nhiên, với tốc độ đô thị hoá nhanh huyện đã, đang và sẽ đón một lượng dân
số từ nơi khác đến sống Điều này đã tác động không nhỏ tới sự hình thành và thúc đẩy các điểm, khu dân cư tập trung, các tụ điểm kinh tế, các khu vực công nghiệp, khu vực
có ngành nghề truyền thống, từ đó dẫn đến sự thay đổi phân bố dân cư, phát triển
Trang 32Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
sản xuất và tác động nhất định đến việc sử dụng đất trên địa bàn huyện Ngoài ra việc
tăng thêm nguồn lao động, lực lượng dân nhập cư đang là một áp lực cho huyện trong
quản lý con người, giải quyết việc làm và tăng thêm sự quá tải cho các công trình hạ
tầng như giáo dục, y tế, nhà ở,… đồng thời cũng gây nên nhiều hậu quả phức tạp về
kinh tế và an ninh trật tự, an toàn xã hội
b Lao động, việc làm, thu nhập
Lao động
Trong những năm qua lực lượng lao động trên địa bàn huyện có xu hướng tăng
nhanh Nguyên nhân do lực lượng lao động nhập cư tăng nhanh theo tốc độ đô thị hoá,
số người trong độ tuổi lao động là 222.331 người Năm 2005 đến năm 2009 tăng lên
289.631 người, chiếm 71,32% tổng dân số toàn huyện, chiếm 9,7 % cơ cấu lao động
toàn huyện Mức độ gia tăng bình quân dân số trong độ tuổi lao động từ 2005-2009 tăng
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Chánh)
Nguồn lao động tăng nhanh là một trong những điều kiện thuận lợi của huyện
phát triển kinh tế - xã hội Lao động trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại dịch vụ
có tộc độ tăng bình quân cao nhất Điều này cũng phù hợp với địa bàn đang được đô thị
hoá, đó là sự chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành: lao động nông nghiệp giảm
dần để chuyển qua các ngành CN-TTCN và TM-DV đang ngày càng phát triển Lao
Trang 33Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
động trên địa bàn huyện chủ yếu là lao động thủ công, với trình độ chuyên môn của lực lượng lao động thấp không thể đáp ứng được yêu cầu phát triển công nghiệp và thương mại dịch vụ Mặt khác, nguồn lao động từ dân nhập cư phần lớn có trình độ văn hoá thấp, không có trình độ chuyên môn về một ngành nghề nhất định
Do đó, chất lượng lao động đang là vấn đề hạn chế còn tồn tại trong quá trình phát triển, vì Bình Chánh là huyện ven của thành phố, lao động chủ yếu là nghề nông nên trình độ chuyên môn của lực lượng lao động không thể đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế cả 3 khu vực Mặt khác, phần lớn đội ngũ lao động di chuyển
từ nơi khác đến, nhất là các tỉnh, vùng lân cận có trình độ văn hoá thấp, thiếu chuyên môn nên đã ảnh hưởng đến chất lượng lao động của huyện nói chung
Tình hình giải quyết việc làm
Trong năm đã giải quyết việc làm cho 5.071(trong đó có 2.131 nữ) lao động trên đại bàn huyện từ các nguồn xã - thị trấn, Quỹ xóa đói giảm nghèo, Trung tâm dạy nghề, Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm
Trung tâm Dạy nghề tổ chức dạy nghề và cấp chứng chỉ hoàn chỉnh khóa học cho 1.262 lượt học viên, đạt 126,2% kế hoạch với tổng kinh phí 255,2 triệu đồng từ nguồn kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia
Thu nhập
Năm 2010, chương trình xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả tích cực, tổng xóa đói giảm nghèo đạt 10.019.739.524 tỷ đồng, đã hộ trợ vốn vay cho 1.982 hộ với số tiền 9.286.907.100 đồng, đạt 148% kế hoạch Thông qua chương trình có 1.953 hộ được trợ vốn vươn lên thoát nghèo theo tiêu chí của Thành phố Tỷ lệ nghèo của huyện hiện còn 11.938 hộ, chiếm 10,5%; trong đó mức thu nhập từ 6 – 8 triệu đồng/người/năm có 7.268 hộ; từ 8 – 10 triệu đồng/người/năm có 3.332 hộ; từ 10 – 12 triệu đồng/người/ năm
có 1.338 hộ
II.1.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế
a Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Kinh tế trên địa bàn huyện Bình Chánh chủ yếu dựa vào 2 khu vực công nghiệp
và thương mại - dịch vụ Tổng giá trị sản xuất trên toàn huyện tăng từ 3.378,284 tỷ đồng (năm 2006) lên 8.769,926 tỷ đồng (năm 2010)
Trên cơ sở định hướng phát triển chung của huyện, huyện Bình Chánh tập trung phát triển kinh tế chính là dịch vụ - thương mại, công nghiệp, nông nghiệp với giá trị
và tỷ trọng đạt được của các ngành thể hiện qua bảng như sau:
Trang 34Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
Bảng 2.5: Cơ cấu giá trị sản xuất các ngành kinh tế
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Chánh)
Khu vực công nghiệp luôn có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, bình quân giai đoạn 2006 - 2010 là 40,6%; khu vực dịch vụ thương mại tốc độ giá trị tăng trưởng bình quân là 52,94% , giá trị gia tăng khu vực nông nghiệp là 6,46% Với tốc độ tăng trưởng như trên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tiếp tục diễn ra theo xu hướng khu vực công nghiệp, dịch vụ có tỉ trọng tăng dần trong cơ cấu kinh tế
b Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
Nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp có sự chuyển dịch từ cây con kém hiệu quả, sức cạnh tranh thấp sang hiệu quả cao, bền vững; an toàn vệ sinh thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp được quản lý chặt chẽ Bước đầu đã hình thành nền nông nghiệp đô thị với những cây con hiệu quả như: hoa lan, cây kiểng, rau an toàn, cá cảnh…
- Trồng trọt: chiếm tỷ trọng 44,58% cơ cấu ngành, so với năm 2009 giảm 1,9%
so với năm 2006 giảm 14,95% với các nhóm cây trồng chính như lúa 6,756 ha, giảm 1.210 ha so với năm 2008, chiếm 21,92% cơ cấu cây trồng; rau 2.620 ha, giảm 226 ha
so với năm 2008, chiếm 37,03% cơ cấu cây trồng; bắp 30 ha, giảm 15 ha so với năm
2008, chiếm 0,23% cơ cấu cây trồng; mía 1.312 ha, tăng 44 ha so với năm 2008, chiếm 9,9% cơ cấu cây trồng; ngoài ra còn các loại hoa kiểng (lan, mai, hoa nền….) có diện tích khoảng 153 ha
Trang 35Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
- Chăn nuôi: chiếm tỷ trọng 44,58% cơ cấu ngành, tăng 4,46%, so với năm
2009, so với năm 2006 tăng 8,93% tính đến thời điểm 01/10/2010 các loại gia súc chủ yếu trên địa bàn huyện con heo 49.696 con, chiếm 47,26% cơ cấu chăn nuôi; bò 4.386 con ( trong đó có 1.766 bò sữa), chiếm 19,58% cơ cấu chăn nuôi
- Thủy sản: chiếm tỷ trọng 10,33% cơ cấu ngành, giảm 2,29% so với năm 2009,
so với năm 2006 tăng 6,16%; diện tích gieo trồng thủy sản năm 2010 là 776,4 ha chủ yếu với cá thịt, cá kiểng
- Lâm nghiệp: chiếm tỷ trọng 0,66% cơ cấu ngành, giảm 0,27% so với năm
2009 so với năm 2006 giảm 0,14% Theo điều tra hiện trạng đất đai năm 2010, diện tích đất rừng là 1.048 ha, trong đó 262,48 ha rừng phòng hộ , 755,26 rừng sản xuất, 29,9 ha rừng đặc dụng
Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
Giá trị sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm 2010 là 3.936,972 tỷ đồng, đạt 130% kế hoạch năm 2010 Ngành công nghiệp chế biến tiếp tục phát triển tốt, mức tăng trưởng đều (ngành sản xuất thực phẩm và đồ uống tăng 35,87%, sản xuất kim loại tăng 30,45%)
Thương mại dịch vụ
Trong những năm qua, việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo cơ chế thị trường đã thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, tạo sản phẩm hàng hoá ngày càng nhiều, nhu cầu trao đổi hàng hoá tăng nhanh trên địa bàn huyện nên đã thúc đẩy ngành dịch vụ càng phát triển với quy mô lớn hơn Tổng doanh số bán ra ước tính năm
2010 đạt 4.472,280 tỷ đồng
+ Hệ thống chợ phân bố trên địa bàn của các xã, thị trấn được hình thành và phát triển từ lâu đời Tuy nhiên do cơ sở hạ tầng của các chợ còn chắp vá, chưa được đầu tư cải tạo, nhiều nơi chợ còn họp ở lòng đường gây cản trở giao thông Trên địa bàn huyện chưa hình thành và phát triển loại siêu thị, trung tâm thương mại, chợ chuyên doanh Các chợ chủ yếu là bán lẻ kinh doanh các mặt hàng tươi sống, lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân
+ Lĩnh vực kinh doanh nhà hàng, khách sạn trên địa bàn huyện ngày càng phát triển, phân bố chủ yếu ở Thị trấn Tân Túc và một số xã dọc Quốc lộ 1A
Ngành dịch vụ của huyện chủ yếu là khu vực kinh tế trong nước chiếm tỷ trọng lớn Để thu hút được nguồn vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài thì huyện cần phải có những chính sách để khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực này nhằm khai thác triệt để tiềm năng của huyện, mang lại hiệu quả kinh tế cao
Trang 36Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
II.1.2.3 Thực trạng phát triển phát triển cơ sở hạ tầng
a Giao thông
Đường bộ:
Trên địa bàn huyện Bình Chánh có tổng chiều dài các loại đường bộ khoảng 679
km, trong đó: mạng lưới đường chính là 175,376 km, ngoài hệ thống đường chính còn có
hệ thống đường nông thôn, quy mô nhỏ với tổng chiều dài các tuyến đường này là 666
km
Phân loại sơ bộ loại đường cho thấy:
- Đường bê tông nhựa: Có 5 tuyến đường với tổng chiều dài là 4,29 km, chiếm khoảng 0,51% trên tổng chiều dài của mạng lưới đường bộ trên địa bàn huyện
- Đường nhựa: Có 18 đường với tổng chiều dài khoảng 31,2 km, chiếm 3,73%
tổng chiều dài mạng lưới đường bộ của huyện Nhìn chung, hiện nay các con đường
này đang xuống cấp, cần phải có biện pháp duy tu và sửa chữa để đảm bảo cho việc lưu thông hàng hoá và hành khách một cách thuận lợi, an toàn nhất
- Đường đá dăm: hiện có khoảng 110 đường mặt đá dăm, tổng chiều dài là71,9
km, chiếm 8,6%
- Đường cấp phối, đá sỏi: đây là loại đường chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số chiều dài đường bộ của huyện Bình Chánh Với 348 đường,có tổng chiều dài khoảng 428,7 km, đường cấp phối sỏi đỏ chiếm 51,27% tổng chiều dài đường giao thông toàn huyện
- Đường đất: toàn huyện có 347 đường đất với tổng chiều dài khoảng 299,8 km, chiếm 35,85% tổng chiều dài đường huyện
- Đường xi măng: khoảng 5 đường xi măng với tổng chiều dài khoảng 0,35 km, chiếm 0,04% tổng chiều dài đường giao thông của huyện
Giao thông thuỷ
Ngoài hệ thống đường bộ, huyện Bình Chánh còn có mạng lưới đường sông, rạch khá dày đặc, nên rất thuận tiện cho giao thông đường thuỷ Mạng lưới đường thuỷ trên toàn huyện dài khoảng 85 km, với diện tích sông, rạch là 10,54 km2, chiếm 4,2% tổng diện tích sử dụng đất của huyện
Một số tuyến đường giao thông thuỷ chính:
- Tuyến đường thuỷ theo sông Bến Lức đi Đồng Tháp Mười
- Tuyến đường thuỷ theo sông Cần Giuộc - Cây Khô đi Hà Tiên, Cà Mau
- Tuyến liên vùng Hóc Môn - Bình Chánh theo kênh An Hạ
- Tuyến liên vùng Kênh Xáng ra sông Bến Lức đi các tỉnh Miền Tây
Các cảng sông chủ yếu trên địa bàn huyện là các cảng chuyên dùng của các xí nghiệp như cảng của nhà máy xay xát Satake, nhà máy phân bón Bình Điền II, các bến đò ngang liên xã như bến Phong Phú - Hưng Long
Trang 37Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
b Nước
Nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân trên địa huyện chủ yếu từ Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Thành phố, hiện có 30 trạm cấp nước cung cấp cho 13,098 hộ, chiếm tỷ lệ 11,39%; Công ty Cấp nước chủ yếu trên các trục đường chính như Quốc lộ 1A, Tỉnh lộ 10, Trần Đại Nghĩa, Quốc lộ 50, Láng Le – Bàu Cỏ, Đoàn Nguyễn Tuân, Nguyễn Hữu Trí, Bùi Thanh Khiết cung cấp nước cho 19.466 hộ, chiếm tỷ lệ 16,93%; các trạm cấp nước trong các khu công nghiệp và các
dự án khu dân cư cung cấp nước trong nội bộ phục vụ 4.016 hộ, chiếm tỷ lệ 3,5% ngoài ra người dân sử dụng nước giếng tại hộ gia đình chiếm 61,71%, 04 trạm cấp nước nhỏ do Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn Thành phố đầu tư cây dựng tại Xóm Gò - Phong Phú cung cấp cho 62/103 hộ dân, chiếm tỷ lệ 0,05%; còn khoảng 7.377 hộ dân sống ven các song, kênh rạch sử dụng nước mặt, nước mưa phục vụ cho sinh hoạt chiếm tỷ lệ 6,42%
c Giáo dục và đào tạo
Trong năm qua, huyện đã đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ bản, sửa chữa trường lớp ngày càng khang trang, từng bước đạt chuẩn về yêu cầu, điều kiện dạy và học; đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên cơ bản đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn tăng dần ở các cấp học, bậc học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn huyện Công tác phổ cập bậc trung học hoàn thành đúng tiến độ, kết quả xóa mù - phổ cập giáo dục được duy trì nâng lên từng năm
Triển khai nhiệm vụ năm học 2010 - 2011, tỉ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100%, tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình Tiểu học vào lớp 6 đạt 99,74%, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS vào lớp 10 và các chương trình Trung cấp chuyên nghiệp đạt khoảng 90% Huyện cũng đã huy động các lớp xóa mù chữ, phổ cập THCS 143 học sinh, phổ cập bậc Trung học 454 học sinh
Nhìn chung chất lượng giáo dục của huyện khá cao, mạng lưới trường lớp đã xây dựng rộng khắp với hệ thống cơ sở vật chất đã dần đáp ứng yêu cầu dạy và học Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý của ngành đã được chuẩn hoá, một số đã đạt trên chuẩn Chất lượng và hiệu suất đào tạo các ngành, các cấp đều tăng Số trường lớp, giáo viên học sinh năm sau cao hơn năm trước Tuy vậy trong những năm tới cần nâng cao chất lượng dạy học, tăng cường cơ sở vật chất, tăng đào tạo nghề và trình độ cao
d Y tế
Sự nghiệp y tế trên địa bàn huyện có nhiều chuyển biến tích cực trong việc chăm lo sức khoẻ của nhân dân Cơ sở vật chất và trang thiết bị từng bước được nâng cao Đội ngũ thầy thuốc được đào tạo bồi dưỡng cả về chuyên môn và đạo đức nghề
nghiệp
- Năm 2010 hoàn thành xây dựng 02 trạm y tế xã Tân Nhựt, xã Bình Chánh,
nâng số trạm y tế mới xây dựng và trang bị đạt chuẩn Quốc gia trên địa bàn huyện là
Trang 38Ngành Quản Lý Đất Đai SVTH: Ngô Thị Ngọc Thơ
07 trạm; xây mới thêm 02 khoa khám bệnh (khoa Nhi và khoa Cấp cứu) tại bệnh viện huyện Bình Chánh
- Tổng lần khám chữa bệnh trong năm là 792.348 lượt( khám tại Bệnh viện là
438.208 lượt, tại trạm Y tế và Trung tâm Y tế dự phòng là 354.140 lượt), tăng 20% so với năm 2009, trong đó có BHYT là 170.259 lượt, BHYT người nghèo 852 lượt( tăng
121 lượt so với năm 2009), khám chữa bệnh trẻ em dưới 6 tuổi là 39.616 lượt ( tăng 6.590 lượt) ; điểu trị miễn phí tại Trạm Y tế là 2.165 lượt( giảm 6.180 lượt)
Huyện thực hiện đồng bộ các hoạt động về phòng, chống bệnh sốt xuất huyết, dịch tiêu chảy cấp, dịch muỗi,…Tuy vậy, để đáp ứng ngày càng cao nhu cầu khám chữa bệnh nhân dân, cơ sở vật chất của ngành cần được trang bị, hiện đại hóa Các cơ
sở y tế cần mở rộng điểm và quy mô diện tích đất
e Văn hóa, thể dục thể thao
Huyện hiện có 1 Trung tâm văn hóa tại thị trấn Tân Túc hoạt động thường xuyên với 2 loại hình văn hóa nghệ thuật và thể dục thể thao
Hiện nay huyện Bình Chánh có phong trào Thể dục thể thao tương đối phát triển, đặc biệt là môn bóng đá, một số điểm tập luyện như trung tâm văn hóa Thẩ dục thể thao Thành Long là trung tâm tập huấn đào tạo ra những cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp cho Thành phố, cả nước
f An ninh – quốc phòng
Tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng vững mạnh đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết TW 8 khoá IX Công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh được thực hiện nghiêm túc, đúng đối tượng, bảo đảm thời gian quy định Chất lượng tổng hợp và công tác sẳn sàng chiến đấu lực lượng vũ trang địa phương được nâng lên Đến nay biên chế cơ quan quân sự huyện đạt 100%, đội ngũ cán bộ chủ chốt đáp ứng tiêu chuẩn chính trị, chuyên môn theo quy định Lực lượng dự bị động viên được tập trung kiểm tra sẳn sàng chiến đấu và huấn luyện hàng năm đạt 100% chỉ tiêu Tổ chức diễn tập phòng thủ phù hợp tình hình thực tế tại địa phương, đạt yêu cầu đề ra Hoàn thành chỉ tiêu công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ Thực hiện chính sách hậu phương quân đội
Tình hình an ninh chính trị giữ vững ổn định, đảm bảo an toàn tuyệt đối trên địa bàn, nhất là trong các ngày lễ, Tết và thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng Chủ động giải quyết có hiệu quả các vụ khiếu kiện đông nguời, các vụ đình công, lãn công, tranh chấp liên quan đến tôn giáo, không để xảy ra các điểm nóng về
an ninh chính trị Công tác phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội, thực hiện chương trình, mục tiêu 3 giảm có chuyển biến tích cực, công tác tuần tra, kiểm tra an toàn giao thông duy trì thường xuyên, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc từng bước được củng cố, phát triển