1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THỦ ĐỨC

125 1,5K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 832,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thời xa xưa của văn minh loài người, giới tính đã được đề cập đến bằng một hệ thống thần thoại cổ đại và các khảo luận về tình yêu như kinh “Kama Sutra” của Ấn Độ, “Nghệ thuật yêu” củ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM KHOA NGOẠI NGỮ - SƯ PHẠM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT THỰC TRẠNG GIÁO DỤC

GIỚI TÍNH HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THỦ ĐỨC

GVHD: HÀ THỊ NGỌC THƯƠNG SVTH: NGUYỄN THỊ QUANG NIÊN KHÓA: 2007 – 2011

Tp HCM Tháng 5/2010

Trang 2

KHẢO SÁT THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH HỌC ĐƯỜNG

CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT THỦ ĐỨC

Tác giả

NGUYẾN THỊ QUANG

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng cử nhân ngành

Sư Phạm Kỹ Thuật Công – Nông Nghiệp

Giáo viên hướng dẫn Cô: Hà Thị Ngọc Thương

Tp Hồ Chí Minh Tháng 5/2011

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN – PHẢN BIỆN

I Nhận xét của giáo viên hướng dẫn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Có kết quả như ngày hôm nay, con xin cám ơn cha mẹ, anh chị đã nuôi

dưỡng, giáo dục con nên người Ngàn lần khắc ghi công ơn to lớn đó.Con hứa

sẽ luôn là một người con ngoan, một người có ích cho xã hội cho đất nước

Em cũng xin trân trọng cám ơn:

Toàn thể quý thầy cô bộ môn Sư phạm kỹ thuật trường ĐH Nông Lâm

Tp Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và dạy dỗ em trong suốt quá trình học tập tại

trường

Toàn thể quý thầy cô, Ban giám hiệu và các em học sinh trường THPT

Thủ Đức đã tạo điều kiện giúp em thực hiện tốt đề tài này

Cô Hà Thị Ngọc Thương, giảng viên bộ môn Sư phạm kỹ thuật, trường

ĐH Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành đề tài

này

Mình cũng gửi lời cám ơn đến tất cả các bạn lớp DH07SK, DH07SP đã

luôn ở cạnh an ủi, giúp đỡ, động viên mình trong suốt quá trình học, và trong

cuộc sống

Chúc mọi người sức khỏe để hoàn thành công việc và luôn thành công

trong cuộc sống

Trang 5

TÓM TẮT

Thời gian: Từ tháng 9/2010 đến tháng 5/2011

Xã hội phát triển, tệ nạn xã hội ngày càng tăng cao Đặc biệt xảy ra với

lứa tuổi học sinh là tình trạng quan hệ tình dục, nạo phá thai Chính vì vậy, giáo

dục giới tính đã trở nên vấn đề cấp thiết hơn cả, nhưng vấn đề này vẫn chưa

được quan tâm và nhìn nhận đúng mực Vì vậy, người nghiên cứu thực hiện đề

tài: “KHẢO SÁT THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH HỌC ĐƯỜNG

CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THỦ ĐỨC”, với

mục đích tìm hiểu thực trạng giáo dục giới tính tại trường, những hạn chế,

cách khắc phục để quá trình giảng dạy giáo dục giới tính đạt hiệu quả cao, góp

phần giáo dục hoàn thiện nhân cách học sinh

Phương pháp nghiên cứu: trong quá trình thực hiện đề tài người nghiên

cứu sử dụng các phương pháp khoa học sau: phương pháp nghiên cứu tài liệu,

phương pháp phỏng vấn, điều tra, khảo sát, thống kê, xử lý số liệu

Kết quả thu được:

- Hầu hết các em cũng đã tự ý thức được vai trò của giáo dục giới tính trong

nhà trường và cũng đã có ý thức hơn trong việc tìm hiểu và tiếp thu kiến thức

giáo dục giới tính cho mình Các em cũng có sự hiểu biết về giới tính, về quan

hệ tình dục, nạo phá thai và ảnh hưởng của nó

- Các bậc phụ huynh cũng đã nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của

giáo dục giới tính đối với các em, cũng đã có những hiểu biết về tình trạng nạo

phá thai hiện nay đã lên mức báo động, và đã có sự quản lý, giáo dục và biện

pháp giáo dục với các em đúng mực

- Hầu hết các giáo viên đều biết rõ về tình hình nạo phá thai hiện nay xảy ra đối

với các em, và cũng đều đề ra giải pháp là phải giáo dục giới tính cho các em

ngay từ đầu cấp 2

- Hầu hết học sinh, phụ huynh và giáo viên đều muốn đưa giáo dục giới tính

thành môn học chính thức

- Thực tiễn, việc giáo dục giới tính trong nhà trường còn nhiều hạn chế về nội

dung, phương pháp, hình thức dạy và nhất là chưa có giáo viên có chuyên môn

phụ trách dạy vấn đề này

Trang 6

- Vì vậy, các trường phổ thông cần tổ chức và giảng dạy giáo dục giới tính một

cách đầy đủ và hấp dẫn hơn Nếu có điều kiện nên đưa giáo dục giới tính thành

môn học chính thức để các em có thể nắm rõ hơn về kiến thức này, và có thể

ngăn chặn ở mức thấp nhất tình trạng quan hệ tình dục và nạn nạo phá thai hiện

nay

Trang 7

MỤC LỤC

Trang tựa i

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN – PHẢN BIỆN ii

LỜI CẢM ƠN iii

TÓM TẮT iv

MỤC LỤC vi

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT x

DANH SÁCH CÁC BẢNG xi

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ xii

Chương 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Giới hạn vấn đề 2

1.3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.3.2 Khách thể nghiên cứu 2

1.4 Mục đích nghiên cứu 2

1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

1.6 Giả thuyết nghiên cứu 3

1.7 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.8 Cấu trúc luận văn 4

1.9 Tiến trình nghiên cứu 5

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

2.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu về giới tính 6

2.1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu về giới tính trên thế giới 6

2.1.2 Sơ lược lịch sử nghiên cứu về giới tính ở Việt Nam 8

2.2 Các khái niệm cơ bản 11

2.2.1 Khái niệm về giáo dục 11

Trang 8

2.2.2 Khái niệm về giới 11

2.2.3 Khái niệm về giới tính 12

2.2.4 Khái niệm về giáo dục giới tính 13

2.3 Những vấn đề về giới tính 14

2.3.1 Nguồn gốc của giới tính 14

2.3.2 Sự phức tạp của đời sống giới tính 15

2.3.3 Mối quan hệ giữa hai giới 17

2.3.3.1 Mối quan hệ cư xử, giao tiếp giữa hai giới 17

2.3.3.2 Mối quan hệ bạn khác giới 18

2.3.3.3 Mối quan hệ giữa tình yêu và tình dục 19

2.3.3.4 Mối quan hệ hôn nhân 20

2.4 Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông 21

2.4.1 Đặc điểm chung của lứa tuổi 21

2.4.2 Giới tính và sức khỏe sinh sản 22

2.4.3 Sự phát triển nhân cách học sinh trung học phổ thông 23

2.5 Giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông hiện nay 24

2.5.1 Nhiệm vụ của giáo dục giới tính 24

2.5.2 Nội dung của giáo dục giới tính 26

2.5.3 Những nguyên tắc của giáo dục giới tính 29

2.5.4 Các phương pháp giáo dục giới tính phổ thông 31

2.5.5 Ý nghĩa của giáo dục giới tính 32

2.5.6 Gia đình và giáo dục giới tính 34

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 36

3.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi 36

3.3 Phương pháp phỏng vấn 37

3.4 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 37

3.4.1 Phương pháp phân tích định lượng 37

3.4.2 Phương pháp phân tích định tính 38

3.4.3 Phương pháp so sánh 38

Trang 9

Chương 4: KẾT QUẢ 39

4.1 Vài nét về trường trung học phổ thông Thủ Đức 39

4.2 Kết quả nghiên cứu học sinh trường trung học phổ thông Thủ Đức 40

4.2.1 Kết quả khảo sát giới tính của các em học sinh 40

4.2.2 Học lực của các em học sinh 40

4.2.3 Hoạt động rèn luyện thân thể và tổng hợp kiến thức xã hội 41

4.2.4 Vai trò của giáo dục giới tính đối với học sinh 45

4.2.5 Hình thức dạy giáo dục giới tính ở trưởng trung học phổ thông Thủ Đức 53

4.2.6 Suy nghĩ về tình yêu học trò 54

4.2.7 Tình trạng nạo phá thai 64

4.3 Kết quả khảo sát phụ huynh học sinh 68

4.3.1 Sự quản lý và quan tâm của gia đình đối với các em học sinh 68

4.3.2 Suy nghĩ về giáo dục giới tinh trong nhà trường 77

4.3.3 Sự quản lý của gia đình đối với con cái trước tình trạng nạo phá thai đang diễn ra hiện nay 80

4.4 Kết quả phỏng vấn giáo viên trường trung học phổ thông Thủ Đức 87

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97

5.1 Kết luận 97

5.1.1 Những nội dung nào được áp dụng khi đưa chương trình giáo dục giới tính vào trường trung học phổ thông Thủ Đức? 97

5.1.2 Những phương pháp và những hình thức nào đã được áp dụng để thực hiện công tác giáo dục giới tính cho học sinh trường trung học phổ thông Thủ Đức ? 97

5.1.3 Hiệu quả của công tác giáo dục giới tính đối với học sinh trường trung học phổ thông Thủ Đức như thế nào? 98

5.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục giới tính cho học sinh trường trung học phổ thông Thủ Đức là gì? 99

5.1.5 Suy nghĩ của giáo viên và phụ huynh về vấn đề giáo dục giới tính như thế nào? 100

Trang 10

5.2 Kiến nghị 101

5.2.1 Về phía nhà trường 101

5.2.2 Về phía xã hội 102

5.2.3 Về phía gia đình 102

5.3 Hướng phát triển của đề tài 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC 1 3

PHỤ LỤC 2 6

PHỤ LỤC 3 8

Trang 11

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

………Development

Trang 12

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Kết quả khảo sát giới tính trên 309 em HS 40

Bảng 4.2: Bảng kết quả so sánh học lực của các em HS ở mỗi giới 40

Bảng 4.3: Mức độ hoạt động thể thao của các em HS 41

Bảng 4.4 Mức độ tổng hợp kiến thức xã hội của HS 43

Bảng 4.5 Sự cần thiết của kiến thức GDGT đối với HS 45

Bảng 4.6 Hứng thú tham gia các buổi sinh hoạt chuyên đề về giới tính của HS 47

Bảng 4.7 Nguồn kiến thức, thông tin về giới tính của HS 49

Bảng 4.8 Sự cần thiết của việc đưa GDGT thành môn học chính thức 51

Bảng 4.9 Hình thức dạy GDGT cho HS ở trưởng THPT Thủ Đức 53

Bảng 4.10 Ý kiến của HS về vấn đế yêu khi đang là một HS 55

Bảng 4.11 Cảm nhận của HS về tình yêu học trò 56

Bảng 4.12 Vấn đề QHTD của những người bạn của bạn khi yêu nhau 58

Bảng 4.13 QHTD khi là một HS THPT 59

Bảng 4.14 Mức độ hiểu biết về QHTD của HS 61

Bảng 4.15 Ảnh hưởng của phá thai 62

Bảng 4.16 Tình trạng NPT hiện nay 64

Bảng 4.17 Suy nghĩ về tình trạng NPT hiện nay của HS 66

Bảng 4.18 Việc đưa đón con đi học của phụ huynh đối với các em HS 68

Bảng 4.19 Việc học của các em HS qua sự nhận định của phụ huynh 70

Bảng 4.20 Sự thường xuyên tâm sự, chia sẻ tâm tư với các con của phụ huynh 72

Bảng 4.21 Sự quản lý của gia đình về việc cho con đi chơi đối với các em HS 74

Bảng 4.22 Việc GDGT cho con của phụ huynh 75

Bảng 4.23 Sự phù hợp của chương trình GDGT trong nhà trường 77

Bảng 4.24 GDGT là vẽ đường cho hươu chạy 78

Bảng 4.25 Tình trạng báo động về QHTD và NPT của HS THPT 80

Bảng 4.26 Biện pháp quản lý con khi biết con có QHTD 81

Bảng 4.27 Giúp con có kiến thức, tâm lý tốt 84

Trang 13

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1: So sánh mức độ hoạt động thể thao giữa HS nam và HS nữ 42

Biểu đồ 4.2 So sánh mức độ tổng hợp kiến thức xã hội giữa HS nam và HS nữ

44

Biểu đồ 4.3 So sánh giữa HS nam và HS nữ về sự cần thiết của kiến thức

GDGT 45

Biểu đồ 4.4 So sánh ý kiến thích tham gia những buổi sinh hoạt chuyên đề giới

tính do trường tổ chức giữa HS nam va HS nữ 47

Biểu đồ 4.5 So sánh nguồn kiến thức, thông tin giữa HS nam và HS nữ 50

Biểu đồ 4.6 So sánh giữa HS nam và HS nữ về sự cần thiết của việc đưa GDGT

thành môn học chính thức trong nhà trường 52

Biểu đồ 4.7 Hình thức dạy GDGT cho HS 54

Biểu đồ 4.8 So sánh ý kiến của HS nam và HS nữ về vấn đề yêu khi còn là một

HS 55

Biểu đồ 4.9 So sánh ý kiến của HS nam và HS nữ về tình yêu học trò 57

Biểu đồ 4.10 So sánh ý kiến của HS nam và HS nữ về vấn đề QHTD của những

người bạn đang yêu của các em 58

Biểu đồ 4.11 So sánh ý kiến của HS nam và HS nữ đối với QHTD khi đang là

một HS THPT 60

Biểu đồ 4.12 So sánh mức độ hiểu biết về QHTD giữa HS nam và HS nữ 61

Biểu đồ 4.13 So sánh ý kiến của HS nam và HS nữ về ảnh hưởng của phá thai

Trang 14

Biểu đồ 4.18 So sánh sự thường xuyên tâm sự, chia sẻ tâm tư với con giữa

PHHS nam và PHHS nữ 73

Biểu đồ 4.19 So sánh sự quản lý của gia đình giữa PHHS nam và PHHS nữ về

việc cho con đi chơi 74

Biểu đồ 4.20 So sánh việc GDGT cho con giữa PHHS nam và PHHS nữ……75

Biểu đồ 4.21 So sánh về sự phù hợp của chương trình GDGT trong nhà trường

giữa PHHS nam và PHHS nữ 77

Biểu đồ 4.22 So sánh ý kiến GDGT là vẽ đường cho hươu chạy giữa PHHS

nam và PHHS nữ 78

Biểu đồ 4.23 Tình trạng báo động về QHTD và NPT của HS 80

Biểu đồ 4.24 So sánh giữa PHHS nam và PHHS nữ về biện pháp quản lý con

khi biết con có QHTD 83

Biểu đồ 4.25 So sánh ý kiến của PHHS nam và PHHS nữ về vấn để giúp con có

kiến thức, tâm lý tốt và có thể tránh được những ảnh hưởng xấu từ môi trường

xung quanh 85

Trang 15

Chương 1: GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, nền kinh tế thị trường

đã đưa Việt Nam nhanh chóng hội nhập nền kinh tế thế giới Đặc biệt, khi Việt

Nam chính thức là thành viên của WTO (tổ chức thương mại thế giới) thì việc

hòa nhập với nền kinh tế thế giới là điều luôn sẵn sàng Song song với sự hội

nhập đó phải là sự biết chọn lọc, tiếp thu những tinh hoa, giá trị văn hóa từ

nước bạn nếu không thì mặt trái của sự tiếp thu không chọc lọc sẽ dẫn tới

những hậu quả không thể lường trước được, nền văn hóa của dân tộc sẽ không

giữ được bản sắc dân tộc vốn có của nó

Mà ngày nay, lối ăn chơi sa đọa, hưởng thụ của tầng lớp giới trẻ đã gây

nên tiếng chuông cảnh báo cho xã hội Thông qua mạng thông tin toàn cầu

Internet và các loại sách báo, văn hoá phẩm độc hại… giới trẻ Việt Nam đã tiếp

cận những “tri thức” ngoài luồng dẫn đến sự tò mò muốn tìm hiểu, khám phá

bản thân và bạn khác giới Sợ rằng, với cách sống như thế thì sớm muộn gì

những hậu quả không ai muốn và những điều không nên có sẽ xảy ra mà chính

họ là người gánh chịu và xã hội bị ảnh hưởng

Hiện nay, tình trạng NPT đã lên mức báo động Theo thống kê, Việt

nam là 1 trong 3 nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới Năm 2002 có 300

ca nạo phá thai, năm 2004 có 1800 ca, tháng đầu năm 2005 tại bệnh viện Từ

Dũ có 200 ca (Theo Vn Express 31/07/2005) Và còn chưa kể đến những

phòng khám tư nhân, phòng khám chui Điều đáng nói ở đây là trong những

con số đó hơn 60 % là HS Ngày nay, càng nhiều HS, sinh viên nếm “trái cấm”

khi còn ngồi trên ghế nhà trường Đặc biệt ở các trường đại học, cao đẳng,

trung cấp hiện tượng sinh viên “sống thử” đang khá phổ biến

Điều đó là điều đáng lo ngại, và đáng phải quan tâm hơn nữa đối với

ngành GD, đối với những người làm công tác sư phạm và những bậc phụ

huynh, những người làm cha mẹ

Trang 16

Nguyên nhân của tình trạng NPT, của thực trạng đau lòng đó là giới trẻ

chưa có hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giới tính cũng như SKSS, về tránh

thai an toàn để tự bảo vệ mình, bảo vệ sức khỏe mình

Hiểu biết về giới tính là nhu cầu thiết yếu của mỗi bạn trẻ Làm thế nào

để GDGT mang lại hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của đối tượng tuổi vị thành niên,

đó vẫn là câu hỏi khó đặt ra cho xã hội

Xuất phát từ thực trạng trên, người nghiên cứu tiến hành nghiên cứu đề

tài: “Khảo sát thực trạng giáo dục giới tính học đường tại trường THPT Thủ

Đức”

1.2 Giới hạn vấn đề

Do khả năng của người nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và giới hạn của

thời gian thực hiện luận văn, đề tài chỉ khảo sát 350 HS, 350 PHHS, 8 GV và

Ban giám hiệu trường THPT Thủ Đức về các vấn đề nghiên cứu trong năm học

2010 – 2011

1.3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng GDGT học đường tại trường THPT Thủ Đức

- Tìm hiểu thực trạng GDGT tại trường THPT Thủ Đức

- Tìm hiểu hiệu quả của công tác GDGT học đường ở trường THPT Thủ Đức

Từ đó đưa ra những đề xuất và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác

GDGT tại trường

1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài

- Nhiệm vụ 2: Khảo sát chương trình, tình hình GDGT tại trường THPT Thủ

Đức

Trang 17

- Nhiệm vụ 3: Khảo sát, phân tích, đánh giá tác dụng của công tác GDGT đối

với học sinh trường THPT Thủ Đức

- Nhiệm vụ 4: Đưa ra kết luận chung về về tác dụng của công tác GDGT đối

với các em học sinh trường THPT Thủ Đức Từ đó đưa ra những đề xuất và

kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác GDGT tại trường

1.6 Giả thuyết nghiên cứu

Hầu hết các em HS trường THPT Thủ Đức đã có ý thức trong việc tiếp

thu và tìm hiểu kiến thức giới tính Đồng thời đã nhận thức được vai trò của

GDGT trong nhà trường Tuy nhiên, chương trình GDGT tại trường chưa được

tổ chức tốt về các mặt như: cách quản lý, tập huấn và bồi dưỡng chuyên môn

nghiệp vụ, chưa có GV phụ trách chuyên môn Vì thế, nên chưa mang lại hiệu

quả cao trong việc GDGT cho HS nhằm đáp ứng với yêu cầu chung của sự

nghiệp GD và đào tạo của đất nước

1.7 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi sau:

Câu hỏi 1: Khi đưa chương trình GDGT học đường vào trường THPT Thủ Đức

thì những nội dung nào đã được áp dụng?

Câu hỏi 2: Những phương pháp và những hình thức nào đã được áp dụng để

thực hiện công tác GDGT cho HS trường THPT Thủ Đức ?

Câu hỏi 3: Hiệu quả của công tác GDGT này đối với HS trường THPT Thủ

Trang 18

1.8 Cấu trúc luận văn

Lời cảm ơn

Mục lục

Chương 1: Giới thiệu

Giới thiệu sơ lược về vấn đề nghiên cứu như lý do chọn đề tài, mục

đích, nhiệm vụ, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, thời gian

thực hiện đề tài

Chương 2: Cơ sơ lý luận

Trình bày những lý thuyết cơ bản, những cơ sở mà người nghiên cứu

dựa vào để tiến hành nghiên cứu đồng thời nêu tóm lược lịch sử cảu vấn đề

nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Người nghiên cứu sẽ mô tả một số phương pháp nghiên cứu được sử

dụng trong đề tài

Chương 4: Kết quả và phân tích

Người nghiên cứu sẽ trình bày số liệu nghiên cứu và phân tích kết quả

thu được

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Rút ra kết luận từ vấn đề nghiên cứu và đưa ra một số kiến nghị đối với

việc GDGT trong nhà trường

Tài liệu tham khảo: Những tài liệu mà người nghiên cứu đã sử dụng trong quá

trình nghiên cứu

Phụ lục

Trang 19

1.9 Tiến trình nghiên cứu

Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu : Từ tháng 9/2010 đến tháng 5/2011

THỰC HIỆN

GHI CHÚ

Đăng ký đề tài, hoàn tất đề cương

Người nghiên cứu

Trình bày đề cương, chỉnh sửa đề cương

Người nghiên cứu

Người nghiên cứu

Tháng 1- 2/2011

Báo cáo giữa giai đoạn

Người nghiên cứu

Phát phiếu hỏi Thu thập dữ liệu Viết luận văn chương

1, 2, 3, 4 Hoàn thành đề tài

Người nghiên cứu

cứu

Trang 20

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu về giới tính

2.1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu về giới tính trên thế giới

Thời kì cổ đại, giới tính cũng đã được quan tâm, tìm hiểu nhưng mang

màu sắc tâm linh, mê tín Từ thời xa xưa của văn minh loài người, giới tính đã

được đề cập đến bằng một hệ thống thần thoại cổ đại và các khảo luận về tình

yêu như kinh “Kama Sutra” của Ấn Độ, “Nghệ thuật yêu” của Ovidius, “chuỗi

ngọc của người yêu” của Hazma, “Phaedr và bữa tiệc” của Platon,… Trong đó

các tác giả “không những đặt cơ sở các chuẩn mực về đạo đức và tôn giáo cho

tình yêu, mà còn cố gắng cung cấp những kiến thức về sinh học và tâm lý học

tình dục” (IU.I.Kusniruk, 1988)

Thời kì đêm trường trung cổ, tôn giáo và nhà nước phong kiến đã lợi

dụng sự ngu dốt và thất học của nhân dân để gieo rắc những quan điểm sai lầm

rằng quan hệ nam nữ có tính chất tội lỗi, thiếu đạo đức, nhưng thực tế là phục

vụ cho sự ăn chơi sa đọa của các tầng lớp vua quan thống trị

Đến thời kì phục hưng, bộ môn giải phẫu và sinh lý người bắt đầu phát

triển, công tác nghiên cứu các vấn đề tính dục mới bắt đầu thực sự được tiến

hành Đồng thời những khía cạnh của tính dục, phương diện đạo đức và GD

cũng đã được nói tới (Bùi Ngọc Oánh, 2008)

được mở rộng hơn Cho cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học

J.Bachocen (Thụy Sĩ), J.Mac Lennan (Anh), E.Westermach (Phần Lan),

Ch.Letourneau và A.Espinas (Pháp), Lewis Henry Morgan (Mĩ),

X.MKovalevxki (Nga),… không những đã sự phát triển quan hệ tính dục với

các dạng hôn nhân và gia đình, mà còn gắn cả với các yếu tố khác của chế độ

xã hội và văn hóa

Đặc biệt, F.Enggels đã đưa ra một quan điểm mới về phương pháp phân

tích các dạng liên kết những mối quan hệ tính dục với quan hệ kinh tế và quan

hệ xã hội Trong cuốn “nguồn gốc của gia đình, của quyền tư hữu và của Nhà

nước”, F.Enggels đã phân tích một cách có phê phán “các công trình nghiên

cứu về giới tính và đời sống gia đình” theo những nguồn thư tịch về thời cổ đại

Trang 21

“Ông đã bổ sung thêm nhiều dẫn liệu mới và đưa ra những kiến thức rất xác

thực và khái quát hóa thành một hệ thống nhất quán” (IU.I.Kusniruk, 1988)

Năm 1919, M.Hirschfeld thành lập viện nghiên cứu tính dục học đầu

tiên trên thế giới

Tại Mỹ, năm 1921, một ủy ban liên ngành được thành lập để nghiên cứu

các vấn đề về tính dục và đã được hỗ trợ cho công tác nghiên cứu của nhà sinh

học A.Kingey cùng các đồng sự của ông

xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề quan hệ giới tính, vấn đề hôn nhân gia đình

cũng được coi là cấp bách” (Bùi Ngọc Oánh, 1999)

sống gia đình đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống GDĐĐ và GDGT” (I.X.Kôn,

1987)

A.X.Makarenko nói rằng: “Thanh niên cần phải học tập cách yêu đương,

phải học tập để hiểu biết tình yêu, và phải học tập cách sống hạnh phúc” Ông

còn chỉ ra rằng: “Khi GD cho trẻ tính ngay thằng, tính chân thật, thói quen nói

sự thật, tôn trọng người khác, tôn trọng những cảm xúc và hứng thú của họ, là

chúng ta đã đồng thời GD cho nó cả về quan hệ giới tính” (Nguyễn Hữu Dũng,

1999)

Nhiều nước trên thế giới như Tiệp Khắc, Hungari, Balan đều đã tiến

hành GDGT cho HS phổ thông như chương trình bắt buộc Các nước phương

Tây như Anh, Đan Mạch, Thụy Điển, Mỹ, … đã tiến hành GD cho HS khá sớm

(năm 1966)

Từ năm 1970 trở đi các nhà khoa học Đức quan niệm rằng: “Những hiểu

biết khoa học về vấn đề GDGT cần được trang bị ngay cho các cô mẫu giáo,

vườn trẻ Ở đó cũng cần phải nói đến sự GD về mối quan hệ đúng đắn giữa

những người khác giới (Bùi Ngọc Oánh, 1999)

Tầm quan trọng của việc “cần phải phát triển và hoàn thiện nội dung

phương pháp GDGT phù hợp với đạo lý” đã được thừa nhận tại kỳ họp liên tịch

giữa Việt hàn lâm khoa học y học và viện hàn lâm khoa GD Liên xô 1971 và

tại cuộc “Hội thảo quốc tế của các nước xã hội chủ nghĩa về kế hoạch hóa gia

Trang 22

đình, GDGT về vợ chồng và gia đình” tại Vacsava năm 1977 (Bùi Ngọc Oánh,

2008)

Một số nước châu Á, châu Phi, Mỹ La Tinh cũng đã đưa GDGT vào

trường phổ thông và đã thu được kết quả tốt

Singapo, Philippin, … cũng đã được thực hiện chương trình GDGT, đã đưa

GDGT vào chương trình nội khóa của trường phổ thông cơ sở và trường THPT

và cũng là một bộ phận trong chương trình GDDS và kế hoạch hóa gia đình

2.1.2 Sơ lược lịch sử nghiên cứu về giới tính ở Việt Nam

Tại Việt Nam, trong thời gian gần đây việc GDDS cùng với GDGT đã

được chú ý đẩy mạnh theo tinh thần chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 của Chủ

tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng đã nêu rõ: “Bộ GD, Bộ ĐH và Trung

học chuyên nghiệp, tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan

xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho HS

những kiến thức về khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con

cái” Bộ GD đã đưa ra Chỉ thị về việc GDDS và GDGT trong toàn bộ hệ

thống trường học các cấp và các ngành học của cả nước (Bùi Ngọc Oánh,

2008)

Từ năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính,

về tình yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố Đã có nhiều công trình

nghiên cứu, các đề tài nghiên cứu về giới tính và GDGT dưới sự chỉ đạo của

Nhà Nước, của Bộ GD – ĐT, của Viện khoa học GD đã thu hút được sự tham

gia của các giáo sư Đào Trọng Hùng, Trần Trọng Thuỷ, Phạm Hoàng Gia,

Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Nho, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức,

Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuộc điều tra về giới tính, tình yêu, hôn

nhân, gia đình của Bộ Y Tế,của Uỷ ban dân số - gia đình và trẻ em đã được

tiến hành rộng khắp Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu của các tác giả như

Thạc Sĩ Lê Thị Ngọc Bích (trung tâm tư vấn SKSS và phát triển cộng đồng –

Hội kế hoạch hoá gia đình Việt Nam), Diệp Từ Mỹ và Nguyễn Văn Lơ (2004,

Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh)……về tình trạng yêu đương, kiến

thức, thái độ và thực hành về SKSS ở lứa tuổi vị thành niên Các công trình này

Trang 23

đã nêu lên những vấn đề rất phong phú và đa dạng về giới tính và GDGT ở

Việt Nam, bước đầu làm cơ sở cho việc GDGT cho thanh niên HS

Hội nghị quốc tế và phát triển dân số (ICPD) tổ chức tại Cairo năm 1994

đã đặt vai trò chất lượng dân số là ưu tiên hàng đầu trong chính sách dân số,

trong đó có vấn đề SKSS vị thành niên Do đó, GDDS ở Việt Nam sau năm

1994 cũng nhấn mạnh đến các nội dung SKSS vị thành niên như là một ưu tiên

Vì vậy, “SKSS” xuất hiện như một khái niệm cơ bản trong lĩnh vực GDDS

Đáng chú ý là chương trình VIE/88/P09 và VIE/88/P10 nghiên cứu về

GD đời sống gia đình và giới tính cho HS (gọi tắt là GD đời sống gia đình)

được thực hiện từ năm 1988 đến năm 1992 Được Hội đồng chính phủ, Bộ GD

– ĐT, Viện khoa học GD Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài

trợ của UNFPA (Quỹ dân số của Liên hợp quốc) và UNESSCO (tổ chức giáo

dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc) khu vực Dưới sự chỉ đạo trực

tiếp của Giáo sư Trần Trọng Thuỷ và Giáo sư Đặng Xuân Hoài, đề án đã được

tiến hành rất thận trọng và khoa học, nghiên cứu rất quy mô, sâu rộng trên toàn

quốc ở 18 tỉnh thành; trên hàng trăm ngàn phụ huynh học sinh, trên hàng ngàn

GV với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, các cơ sở GD và nhiều ngành có

liên quan Chương trình này đã được khảo sát nhiều vấn đề : quan niệm về tình

bạn, tình yêu, hôn nhân, nhận thức về giới tính và GDGT của GV, HS….ở

nhiều nơi trong cả nước, để xây dựng một kế hoạch GDGT tính cho HS phổ

thông từ lớp 9 đến lớp 12

Ngoài ra, trong những năm gần đây, có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn

đề GDGT học đường ở trường THPT Người nghiên cứu xin lược khảo một số

hội thảo và luận văn tốt nghiệp có nội dung liên quan đến đề tài người ngiên

cứu thực hiện như sau:

Chương trình hành động phòng chống tệ nạn mại dâm giai đoạn 2001 –

2005, Bộ GD – ĐT phối hợp với Cục phòng chống tệ nạn xã hội – Bộ LĐ – TB

– XH đã xây dựng một số chương trình khung GDGT hướng vào phòng chống

mại dâm ở các bậc học

GDGT và SKSS (VIE 97 P13) GDGT được đề cập đến trong mối quan

hệ với GD SKSS và dân số

Trang 24

GD lối sống lành mạnh trong quan hệ người khác giới (đề tài hợp tác

giữa Viện Khoa học GD và Cục phòng chống tệ nạn xã hội – Bộ LĐ – TB –

XH), để GD phòng xa và ngăn ngừa các em sa vào tệ nạn mại dâm, nhưng mới

chỉ ở mức độ xác định những nội dung GD có thể khai thác qua các môn học

theo chương trình chưa đổi mới

Cơ sở khoa học của khung chương trình GD giới tính – phòng chống

mại dâm cho HS và sinh viên (Bộ GD – ĐT hợp tác với Cục phòng chống tệ

nạn xã hội – Bộ LĐ – TB – XH), trong đó đã xác định mục đích và nội dung

GDGT, phòng chống mại dâm trong chỉnh thể và hệ thống; xem xét, kế thừa và

tận dụng những nội dung mới để tạo ra một chương trình GD cập nhật, hữu

hiệu thông qua cả hai con đường lồng ghép qua giờ lên lớp và tổ chức hoạt

động ngoại khóa

GDGT cho HS phổ thông thông qua hoạt động ngoại khóa (Tiểu dự án

hợp tác giữa Viện Khoa học GD với quỹ nhi đồng Anh), nằm trong khuôn khổ

của dự án “can thiệp phòng chống HIV cho vị thành niên” nhằm giúp cho các

em biết sống lành mạnh, có trách nhiệm trong quan hệ giới tính

Huỳnh Thị Thùy Liên, 2006 Khảo sát thực trạng giáo dục giới tính và

tâm sinh lý của học sinh phổ thông ở quận Thủ Đức – TP Hồ Chí Minh Khóa

luận tốt nghiệp, sinh viên bộ môn sư phạm kỹ thuật, trường ĐH Nông Lâm TP

Hồ Chí Minh, niên khóa 2002 – 2006

Nghiên cứu nổi lên một số ưu điểm như: Tham khảo nhiêu tài liệu,

phương pháp cụ thể, rõ ràng, có kết luận, kiến nghị đầy đủ và cụ thể, theo

người nghiên cứu là một đề tài mới mẻ và khá nhạy cảm Tuy nhiên trong

nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế như: có nhiều lỗi chính tả, lỗi fomat, và đặc

biệt đề tài vẫn chưa đào sâu nghiên cứu kỹ mà chỉ đi được những điều căn bản,

trong quá trình thực hiện tác giả cũng đã bộc lộ tính thiếu khoa học trong

nghiên cứu, như: khi hỏi về QHTD thì tác giả chỉ dám hỏi dưới tên “chuyện

ấy” mà không dám hỏi thẳng là QHTD trong khi nếu nói “chuyện ấy” thì chưa

rõ ràng

Trang 25

2.2 Các khái niệm cơ bản

2.2.1 Khái niệm về giáo dục

quá trình thế hệ trước truyền đạt lại kinh nghiệm lịch sử - xã hội cho thế hệ sau

nhằm chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống lao động cần thiết để tiếp tục phát

triển xã hội GD còn hàm chứa tự GD, vì lẽ GD sẽ không đạt kết quả nếu cá

nhân được GD không làm cho những điều mang đến cho cá nhân đó trở thành

cái của mình

Theo Phan Thanh Long (2006), GD là quá trình tác động có mục đích, có

tổ chức của nhà GD đến đối tượng GD nhằm thỏa mãn nhu cầu phát triển nhân

cách riêng của mỗi HS và đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực của toàn xã

hội

Theo Nguyễn An (1996), GD là một từ Hán – Việt chứa đựng hai nội dung:

+ Giáo có nghĩa là dạy dỗ, bảo ban

+ Dục có nghĩa là nuôi nấng, chăm sóc

- Về bản chất, GD là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử

xã hội của các thế hệ loài người

- Về hoạt động, GD là quá trình tác động của xã hội và các nhà GD đến các đối

tượng GD để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách

được khái quát trong các ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội,…

Từ những quan điểm trên về GD có thể thấy, các tác giả có sự nhấn

mạnh về tác động có ý thức, có mục đích đến người được GD, tính tích cực chủ

thể của cá nhân dưới sự tác động của nhu cầu, nguyện vọng, khả năng, khuynh

hướng tự thể hiện và tự khẳng định mình

2.2.2 Khái niệm về giới

tạp, có nhiều góc độ nghiên cứu và theo nhiều quan điểm khác nhau:

- Giới có thể hiểu theo nghĩa sinh học, là một tập hợp những đặc điểm sinh lý

cơ thể đặc trưng ở người như đặc điểm về di truyền, hệ cơ quan sinh lý cơ thể

mà điển hình là cơ quan sinh dục Ở con người có hai loại hệ cơ quan sinh dục

Trang 26

chính là cơ quan sinh dục nam và cơ quan sinh dục nữ, vì vậy loài người có hai

giới là giới nam và giới nữ

- Giới còn được hiểu theo góc độ xã hội, là những đặc điểm mà xã hội tạo nên

ở người nam và người nữ, là quy định của xã hội về người nam và người nữ, là

những đặc trưng xã hội ở nam và ở nữ, bao gồm nhiều vấn đề như: vai trò, vị

trí của mỗi giới, đặc điểm và nhiệm vụ của mỗi giới trong xã hội,…

Tuy ở loài người chủ yếu có hai giới, nhưng trong thực tế còn một số ít

người không thuộc hai giới trên, họ thuộc giới tính thứ ba Giới này xuất hiện

do cơ quan sinh dục không bình thường về mặt cấu tạo hoặc chức năng dẫn đến

việc phát triển tâm, sinh ký không bình thường là nói đến mối quan hệ xã hội

và tương quan giữa địa vị xã hội của nam và nữ trong bối cảnh xã hội cụ thể

Theo Nguyễn Võ Kỳ Anh (2002), giới là tập hợp các mong muốn và

hành vi ứng xử mang tính xã hội về các đặc trưng và quan niệm giúp định

nghĩa các giá trị của nam giới hay nữ giới trong một xã hội hay nền văn hóa

nhất định

học cơ bản giống nhau (Bùi Ngọc Oánh, 1999)

2.2.3 Khái niệm về giới tính

Theo Nguyễn Khắc Viện (1994), giới tính: Một khái niệm sinh học: đực

và cái (trừ những trường hợp vô tính), nhưng ở con người còn mang tính xã hội

rõ rệt Nếu ở các sinh vật khác, những khác biệt về giới tính mang tính tự nhiên

thuần túy, thì ở con người những khác biệt còn mang tính xã hội sâu sắc, mang

tính sinh học – xã hội

Theo Phan Thanh Long (2006), giới tính là những đặc điểm riêng biệt về

giải phẫu sinh lý cơ thể và những đặc trưng về tâm lý – xã hội (hứng thú, tình

cảm, cảm xúc, tính cách, năng lực, nhận thức,…) tạo nên sự khác biệt về giới

nam và nữ

Theo Thái Thị Ngọc Dư (2006), giới tính trước hết là những đặc tính

hay đặc điểm của giới bao gồm các mặt tâm lý, sinh lý, mặt xã hội:

khả năng tư duy cao ở những lĩnh vực đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ, còn nam thì

Trang 27

mạnh về đường lối tư duy Còn ở mặt tình cảm, nam luôn mạch lạc, rõ ràng; nữ

thì thường không rõ ràng, dễ chan hòa giữa tình cảm này và tình cảm khác

mọc râu, lông, xuất tinh… ; nữ có hiện tượng kinh nguyệt, mọc lông, phát triển

ngực,…

nữ khác nhau Chẳng hạn, yêu cầu nam phải chững chạc, dũng cảm, cao

thượng, phải làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm, mang tính kĩ thuật

cao, là trụ cột gia đình; còn nữ thì phải nhu mì, kín đáo, thủy chung, đảm đang,

làm những công việc nhẹ nhàng, đòi hỏi sự khéo léo, giữ gìn hạnh phúc gia

đình, nuôi dạy con cái

Như vậy, giới tính là tất cả những đặc điểm riêng biệt tạo nên sự khác

biệt giữa nam và nữ” (Nguyễn Hữu Dũng, 1999)

2.2.4 Khái niệm về giáo dục giới tính

Theo Nguyễn Thanh Bình (2005), GDGT là một hợp phần cần thiết,

không thể tách rời của quá trình GD toàn diện thế hệ đang trưởng thành GDGT

thống nhất với GDĐĐ nhưng không hòa tan trong GDĐĐ

Theo Phan Thanh Long (2006), GDGT là “GD về chức năng, thái độ,

hành vi đúng đắn đối với người khác giới Điều quan trọng là đề cập vấn đề

giới tính một cách công khai và đầy đủ ở lớp học từ nhà trẻ đến ĐH, giúp cho

HS cảm thấy an toàn và tự do trong việc biểu lộ cảm xúc liên quan đến đời

sống giới tính”

Theo Nguyễn Hữu Dũng (1999), GDGT là hệ thống các biện pháp y

khoa và sư phạm nhằm GD cho thiếu nhi, thanh thiếu niên có một thái độ đúng

đắn với các vấn đề giới tính

Như vậy, có thể hiểu GDGT là một quá trình tác động sư phạm của nhà

GD hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng và

những khuynh hướng phát triển của nhân cách HS, nhằm xác định thái độ xã

hội cần thiết của cá nhân đối với các vấn đề giới tính

Trang 28

2.3 Những vấn đề về giới tính

2.3.1 Nguồn gốc của giới tính

Theo Bùi Ngọc Oánh (1999), nguồn gốc giới tính bao gồm:

- Nguồn gốc sinh học: Giới tính của con người trước hết là do các tế bào sinh

sản quyết định Trong tế bào sinh sản của nam (tinh trùng) có chứa hai NST

quy định giới tính: NST X qui định giới tính nữ, và NST Y qui định giới tính

nam Trong tế bào sinh sản nữ (trứng) chỉ chứa một loại NST X Đứa bé sinh ra

là nữ nếu mang cặp NST đồng tử XX, là nam nếu mang cặp NST giới tính là dị

hợp XY

- Nguồn gốc xã hội: Những đặc điểm sinh học chưa đủ để xác định giới tính

Tình cảm và ý thức về giới tính của mỗi người chỉ được hình thành qua sự giao

tiếp với những người khác qua sự ảnh hưởng GD và các điều kiện xã hội

Những đặc điểm về giải phẫu và sinh lý của cơ thể mới chỉ là tiền đề, là cơ sở

vật chất tạo nên sự khác biệt giới tính mà thôi Do đó, giới tính còn do các mối

quan hệ xã hội quy định:

+ Xã hội quy định, đánh giá con người theo những phẩm chất, đặc điểm, tư thế,

tác phong riêng phù hợp giới tính Chẳng hạn, ở nữ phải dịu dàng, hiền hậu,

đảm đang, có ý tứ, biết giữ gìn phẩm hạnh; còn ở nam xã hội đòi hỏi sự cao

thượng, dũng cảm, cương quyết

+ Xã hội còn qui định sự phân công lao động giữa nam và nữa khác nhau, ví dụ

như: nam cần đảm nhiệm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm, khó khăn;

còn nữ thường là những công việc cần sự khéo léo, nhẹ nhàng hơn

+ Xã hội cũng thừa nhận những đặc điểm giải phẫu và sinh lý giới tính thành

quan niệm xã hội Ví dụ như người nam cần phải khỏe mạnh, cao lớn; còn nữ

có cơ thể nhỏ bé, “xinh xắn” hơn Ngay cả bản năng tình dục cũng được xã hội

thừa nhận, đánh giá theo những tiêu chuẩn đạo đức, văn hóa nhất định: “Tình

dục ở con người chịu sự chi phối của các quy luật tâm lý, quy luật tình cảm,

của ý thức đạo đức, văn hóa, xã hội Ở Việt Nam, vấn đề tình dục được coi là

vấn đề gắn liền với đạo đức xã hội” (Bùi Ngọc Oánh, 1988)

+ Sự GD của xã hội, của người lớn ảnh hưởng nhiều đến đặc điểm giới tính của

con người “Nếu một em gái được nuôi dưỡng, GD theo những điều kiện và

Trang 29

môi trường của con trai, em đó dễ có hành vi cư xử của con trai, dễ có nhiều

nam tính hơn và ngược lại, đối với một em trai cũng vậy” (Bùi Ngọc Oánh,

1999)

+ Giới tính còn được xác định bởi tâm lý, ý thức của chính bản thân mỗi người

Đến một độ tuổi nhất định, đến một sự phát triển nhất định về mặt ý thức, mỗi

cá nhân đều ý thức được giới của mình, hiểu được mình thuộc giới nào và cần

có những phẩm chất nào để thể hiện giới… Sự tự ý thức về giới này bị chi

phối bởi nhiều yếu tố như: sự nhận thức về những quy định của xã hội về giới

của mỗi người, sự nhận thức về những đánh giá của mọi người xung quanh về

giới của bản thân mình và những đòi hỏi của mọi người về những phẩm chất,

đặc điểm mà mình cần có, và sự nhận thức của bản thân hơi tự cảm nhận mình

thuộc về giới nào, có những nhu cầu đặc trưng cho giới đó Tuy nhiên, có

những người tuy cơ thể là nam giới nhưng luôn nghĩ mình cần phải là nữ và

hướng hoạt động, sinh hoạt của mình theo nữ giới (hiện tượng “xu hướng giới”,

“bản sắc giới”)

2.3.2 Sự phức tạp của đời sống giới tính

Theo Bùi Ngọc Oánh (1999), do giới tính có nguồn gốc sinh vật và

nguồn gốc xã hội, những đặc điểm của giới tính có rất nhiều và rất đa dạng

Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu các đặc điểm giới tính ở con người theo

nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau

Theo nhà khoa học Eveline Sullezot, chuyên gia của Liên Hiệp Quốc

viện nghiên cứu những đặc điểm giới tính con người phải xem xét trên 3 hình

diện: Cơ thể (sinh học), Cá nhân (tâm lý học), Xã hội (xã hội học)

Khi phân tích sự khác biệt giữa nam và nữ Giáo sư Trần Trọng Thủy đã

nhấn mạnh những đặc trưng sinh lý và những đặc trưng tâm lý xã hội của hai

giới (Liên hiệp các hội khoa học và kĩ thuật Việt Nam, 1988 Những khác biệt

giới tính, Dành cho phái đẹp NXB Hà Nội)

Với E.Sullerot nếu xét riêng về mặt sinh lý ông đưa ra 7 dấu hiệu khác

biệt rõ ràng giữa nam và nữ như sau:

+ Những hoocmon sinh dục

+ Sự hình thành những tế bào sinh sản

Trang 30

+ Cơ quan sinh sản và chức năng của nó

+ Hình thái cơ thể

+ Sự già lão của cơ thể

+ Bệnh lý cơ thể

+ Tuổi thọ

Về mặt tâm lý và xã hội, E.Sullerot cũng tán thành quan niệm của

E.Maccoby: “sự khác biệt giới tính biểu hiện từ khi trẻ em còn rất nhỏ (2, 3

tuổi) và thể hiện ở nhiều mặt hoạt động khác nhau như vui chơi, chơi đồ chơi,

quan hệ với người lớn, hoạt động trí tuệ ”

Sự khác biệt về giới tính còn thể hiện ở nhiều mặt khác Kể cả quá trình

trưởng thành của cơ thể “Nhiều khác biệt về các thuộc tính của đàn ông và đàn

bà cũng còn bí ẩn, đặc biệt là những đặc điểm không có liên quan trực tiếp với

con người mới đẻ ra Chẳng hạn, đồng hồ sinh học của mỗi giới hoạt động một

cách khác nhau Theo mức độ trưởng thành (trạng thái của xương trong các giai

đoạn phát triển khác nhau của cơ thể) khi đẻ ra, con gái phát triển trước con trai

một tháng Con gái biết đi, biết nói sớm hơn Dần dần, khoảng cách ấy càng

tăng lên cho đến lúc bước vào lứa tuổi quá độ (dậy thì) thì cách nhau tới hai

năm, và đến khi kết thúc sự tăng trưởng thể chất thì cách nhau tới ba năm”

(Dina Makximova, 1995 Báo tuần lễ, Liên xô, số 28)

mối quan hệ mật thiết với nhau Do đó, trong quan hệ những người khác giới,

có nhiều vấn đề phức tạp về giới tính nảy sinh Có thể kết luận về những đặc

điểm giới tính con người như sau:

- Những đặc điểm giới tính ở con người rất nhiều và phức tạp Nó bao gồm

những đặc điểm về sinh lý, tâm lý và xã hội

- Giới tính biểu hiện trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người trong đời

sống

- Giới tính biểu hiện trong quá trình trưởng thành của cơ thể, ngay từ lúc thụ

tinh, trong quá trình phát triển cơ thể từ khi mới sinh ra đến lúc trưởng thành và

trong suốt cuộc đời Sự biểu hiện bị chi phối bởi nhiều yếu tố sinh lý, tâm lý,

Trang 31

điều kiện sống xã hội, hoạt động cá nhân, những thuộc tính di truyền, những

tác động xã hội

- Giới tính biểu hiện trong các hoạt động tâm lý của con người, trong toàn bộ

nhân cách Nó gắn liền với đời sống tâm lý và toàn bộ nhân cách con người

- Giới tính của con người có thể bị biến đổi do những tác nhân về tâm lý, sinh

lý, xã hội Những ảnh hưởng của sự hoạt động, của sự rèn luyện, những can

thiệp của con người về mặt xã hội, về mặt y tế đều có thể làm cho giới tính thay

đổi Những chức năng của bộ phận sinh lý cơ thể đặc biệt là chức năng của hệ

cơ quan sinh dục tạo nên nhiều đặc điểm về giới tính, nhiều vấn đề của giới

tính như tình dục, các bệnh lây lan qua đường tình dục

- Sự quan hệ giữa hai giới trong đời sống xã hội làm nảy sinh nhiều đặc điểm

giới tính mới và làm phức tạp thêm những đặc điểm giới tính mới đã có ở con

người

- Các phong tục tập quán, các quy định xã hội cũng chi phối nhiều đặc điểm

giới tính, làm cho đặc điểm giới tính ở từng vùng, từng miền, từng giai đoạn

lịch sử có những đặc trưng riêng làm phong phú và phức tạp thêm đời sống giới

tính của con người

2.3.3 Mối quan hệ giữa hai giới

Theo Bùi Ngọc Oánh (1999), những đặc điểm tạo nên sự khác biệt giữa

hai giới nhưng không làm cho hai giới đối lập nhau, mà ngược lại, làm cho hai

giới có quan hệ mật thiết với nhau hơn, tạo nên những mối quan hệ đặc biệt

giữa hai giới

Những mối quan hệ này cũng rất phức tạp, tế nhị chủ yếu bao gồm sự cư

xử giao tiếp trong xã hội, tình bạn khác giới, tình yêu nam nữ, hôn nhân gia

đình,

2.3.3.1 Mối quan hệ cư xử, giao tiếp giữa hai giới

Theo Bùi Ngọc Oánh (1999), khác với mối quan hệ giữa hai người đồng

giới, quan hệ giữa hai người khác giới thường đặc biệt hơn: khi cư xử với

người khác giới, ở con người thường xuất hiện những rung cảm, những ý nghĩ

“không bình thường”, không tự nhiên Những xúc cảm này được tạo bởi những

đặc điểm sinh học (nhất là do chức năng của hệ cơ quan sinh dục tạo ra) hoặc

Trang 32

những đặc điểm sinh lý xã hội (tính e thẹn, mắc cỡ, mọi người gán ghép, những

nhận xét đánh giá, ) Đặc biệt từ tuổi dậy thì trở đi, khi con người bước vào

thời kỳ chín muồi sinh dục

Ở thời kỳ này do sự trưởng thành về sinh dục, do sự quan tâm đánh giá

một cách “chặt chẽ” của xã hội, do sự phát triển tâm lý mỗi khi cư xử giao

tiếp với người khác giới, con người thường có những cảm xúc giới tính rõ rệt

mạnh mẽ Họ có thể thận trọng ý tứ, tế nhị, e ngại mắc cỡ hoặc cũng có thể

xuất hiện những ham muốn, đòi hỏi về tình cảm hoặc tình dục Những cảm xúc

này bị chi phối bởi những quy định của xã hội, những chuẩn mực đạo đức,

phong tục, tập quán; nó cũng có quan hệ mật thiết với đạo đức, phong tục, tập

quán

Giới tính tạo nên những mối quan hệ đặc biệt giữa nam và nữ chi phới

hành vi giao tiếp, cư xử giữa người nam và người nữ Trong mỗi mối quan hệ,

có những hành vi cư xử tương ứng: nếu hai người xa lạ hành vi cư xử phải tế

nhị, lịch sự, phải giữ khoảng cách, Nếu đó là hai vợ chồng, họ có thể rất thân

mật, có thể có hành vi âu yếm, yêu thương

2.3.3.2 Mối quan hệ bạn khác giới

Do những đặc điểm giới tính, mối quan hệ bạn khác giới khác hẳn quan

hệ bạn đồng giới và nó cũng đã trở thành nhu cầu trong đời sống tình cảm của

con người Nhưng cũng vì thế mà tình bạn khác giới có nhiều đặc điểm khác

với tình bạn đồng giới như: trong cư xử giữa hai người bạn, không thể có

những hành động quá thân mật, không thể suốt ngày ở bên nhau, đi đâu cũng

có nhau Tình bạn khác giới có thể rất tốt, rất đẹp , tồn tại lâu dài, nhưng nó

cũng có thể chuyển hóa thành tình yêu

Theo I.X.Kon (1987), “tình bạn khác giới chứa đựng một tình yêu đang

nảy sinh được chất chứa bên trong” Theo ông, “tình bạn khác giới của các em

nữ có tiêu chuẩn tinh tế hơn, mang nhiều động cơ tâm lý hơn ở các em nam”

Ở cùng một lứa tuổi, nhu cầu bạn khác giới ở các em nữ thường cao

hơn Trong công trình nghiên cứu của mình, I.X.Kon đã kết luận, từ lớp 5 đến

lớp 10 (tương đương từ lớp 9 đến lớp 12 ở Việt Nam) trong tất cả các lứa tuổi,

số lượng các em gái kết bạn khác giới bao giờ cũng nhiều hơn các em trai, và

Trang 33

tuổi càng lớn thì sự khác biệt càng rõ hơn Những kết quả điều tra của nhóm

cán bộ nghiên cứu của khoa Tâm lý trường ĐH Sư phạm Tp HCM năm 1988

cũng hoàn toàn thống nhất với nhận định trên (Bùi Ngọc Oánh, 1989)

Như vậy, tình bạn khác giới của các em nảy sinh do sự khác biệt giới

tính, và bị chi phối bởi sự phát triển giới tính, trước hết là những đặc điểm phát

triển tính dục và đời sống tình cảm của các em

2.3.3.3 Mối quan hệ giữa tình yêu và tình dục

Theo Bùi Ngọc Oánh (1999), những đặc điểm giới tính, kể cả những đặc

điểm tính dục, tình dục và đặc điểm tâm lý thường thúc đẩy hai người bạn khác

giới đi đến tình yêu trong những điều kiện phù hợp Sự khác biệt giới tính

thường có tác dụng hỗ trợ tình yêu thêm đằm thắm, sâu sắc; giúp hai người bổ

sung cho nhau, phối hợp với nhau, đan chéo vào nhau, có khi đến mức hòa hợp

với nhau “hai người trở thành một”

Một vài quan niệm cho rằng tình yêu chỉ là vấn đề tình dục, hoặc trong

tình yêu chủ yếu là tình dục Trong thực tế ngoài tình dục còn nhiều yếu tố tâm

lý có tác dụng rất mạnh mẽ đến tình yêu như sự thương mến, sự gần gũi Sự

đồng cảm, sự giúp đỡ và quan tâm đến nhau thậm chí có thể hy sinh vì nhau

Tuy nhiên, trong tình yêu, yếu tố tình dục cũng có vai trò rất quan trọng Tình

dục có thể làm nảy sinh tình yêu, có thể làm cho tình yêu thêm say đắm, mãnh

liệt hơn, làm cho tình yêu phát triển mạnh thêm, sâu nặng thêm Ngược lại, tình

dục không phù hợp có thể làm cho tình yêu phai nhạt hoặc tan vỡ

tình dục”, “là sự đam mê tình dục”, “có mục đích là hai giới được gần nhau”

(Bùi Ngọc Oánh, 1999)

Ngày nay, không ai phủ nhận rằng ở con người ai cũng có những nhu

cầu về tình dục nhất định, nhưng không phải tình dục là cơ sở của tình yêu,

rằng tình yêu là do nhu cầu về tình dục mà ra Cần phải hiểu được rằng tình dục

là một tổ hợp các yếu tố tâm lý trong đó đời sống tình cảm, các đặc điểm nhân

cách giữ vai trò rất quan trọng I.X.Kôn khẳng định: “mỗi một cá thể đều có

những tiềm năng tính dục tự nhiên nào đó, nhưng kịch bản hành vi tính dục của

Trang 34

nó, tức là người đó yêu ai và yêu như thế nào thì lại bị quy định bởi toàn bộ tổ

hợp các điều kiện hình thành nên nhân cách của người đó” (I.X.Kon, 1987)

Tình dục cũng có ảnh hưởng các quan hệ yêu đương nhưng tình dục

không phải là quan hệ duy nhất của quan hệ ấy; thậm chí ngay chính bản thân

tình dục lại còn phụ thuộc vào các điều kiện xã hội, đời sống tâm lý, đời sống

tình cảm trong tình yêu Theo A.X.Makarenkô: “tình yêu của con người không

thể hình thành một cách đơn giản từ sự đam mê tình dục bản năng đơn thuần

mà chỉ tìm thấy sức mạnh của tình yêu “thực sự yêu đương” trong kinh nghiệm

của mối thiện cảm và những quan hệ cảm thông, thân thiết, gắn bó lẫn nhau ở

con người” Theo ông, nếu một thanh niên đã không yêu cha mẹ, đồng chí, bạn

bè thì người thanh niên ấy khó có một tình yêu thật sự đối với người vợ chưa

cưới và người vợ đã cưới của mình (Bùi Ngọc Oánh, 1999)

Tình yêu càng ít mang tính chất tình dục đơn thuần bao nhiêu sẽ càng tốt

đẹp bấy nhiêu Tình yêu và tình dục luôn luôn gắn bó mật thiết với nhau, thúc

đẩy nhau cùng phát triển trong mối quan hệ yêu đương giữa hai người

Như vậy, quan hệ giữa tình yêu và tình dục cũng rất phức tạp, mang tính

tâm lý, xã hội cao đồng thời nó cũng ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển nhân

cách con người Cần chú trọng đến đặc điểm này bởi ở lứa tuổi thanh thiếu niên

nếu không có sự hướng dẫn chu đáo của người lớn sẽ dẫn đến những sai lầm

đáng tiếc cho các em

2.3.3.4 Mối quan hệ hôn nhân

hội, trong đó xã hội thừa nhận hai người khác nhau được chung sống với nhau,

bị ràng buộc với nhau bởi luật pháp Xã hội quy định phải có trách nhiệm đối

với nhau và cùng có trách nhiệm trước xã hội Bình thường xã hội quy định chỉ

hai người khác giới được kết hôn với nhau (không kể một số trường hợp đồng

tính luyến ái “kết hôn” với nhau)

với nhau, mới có những quan hệ vợ chồng, có sự sinh con, có quan hệ cha con,

mẹ con, mới có đời sống gia đình, Trong hôn nhân, quan hệ tình dục giữa hai

vợ chồng được coi như là trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi Trong hôn nhân,

Trang 35

những vấn đề giới tính khác, nhất là tính dục và tâm lý, tính dục có vai trò rất

quan trọng

Như vậy, có thể nói, quan hệ hôn nhân là hệ quả, là sản phẩm của đời

sống giới tính

2.4 Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông

2.4.1 Đặc điểm chung của lứa tuổi

Lứa tuổi thanh niên HS THPT (còn gọi là lứa tuổi đầu thanh niên) là lứa

tuổi bao gồm các em khoảng 15 – 18 tuổi Mà thường gọi tắt là lứa tuổi thanh

niên HS (Bùi Ngọc Oánh, 1996)

Tuổi thanh niên là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Các

em có hình dáng người lớn, có những nét của người lớn nhưng chưa phải là

người lớn Đa số các em vẫn còn là HS (Lê Văn Hồng, 2002)

Tuổi HS THPT là lứa tuổi phát triển tài năng, tiếp thu nhanh, có khả

năng sáng tạo và linh hoạt nhưng cũng dễ chủ quan, nông nổi, kiêu ngạo, ít

chịu học hỏi đến nơi đến chốn Vì vậy mà các em rất cần sự chỉ bảo, giúp đỡ,

nhằm định hướng những suy nghĩ, hành động, lý tưởng sống đúng đắn hơn

Một bước ngoặt lớn ở lứa tuổi HS THPT là giai đoạn dậy thì, khi tuyến

sinh dục trên cơ thể có những biến đổi:

+ Ở nam: hoocmon testosteron tăng cao làm tăng kích thước bộ phận sinh dục,

xuất hiện lông mu, lông nách, mọc râu, giọng nói thay đổi,tăng chiều cao, hiện

tượng xuất tinh đầu tiên xuất hiện

+ Ở nữ: lượng hoocmon testosteron tăng cao kích thích ngực nở, tuyến sữa

phát triển, lông mu, lông nách xuất hiện, tăng chiếu cao, xuất hiện kiểu thanh

quản nữ giới với giọng cao, kỳ kinh đầu tiên xuất hiện Hai điều dễ nhận thấy

nhất ở bé gái là ngực nở và mọc lông mu (Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan,

Nguyễn Văn Thàng, 2002)

Những thay đổi của cơ thể và tâm sinh lý của học sinh phổ thông đã làm

các em chú ý hơn về cơ thể mình cho nên luôn luôn làm đẹp để gây sự chú ý ở

người khác phái, các em đã bắt đầu thích chơi với những người bạn khác giới,

biết trò chuyện về những vấn đề thầm kín liên quan đến sự phát dục

Trang 36

Theo Mai Ngọc Luông, Trương Công Thanh, Nguyễn Hữu Chùy, Đào

Thị Vân Anh (1999), ở lứa tuổi này (15 - 18 tuổi): đã xuất hiện những mối tình

đầu và những giao tiếp tình dục Chúng củng cố những kiến thức, hiểu biết

trong lĩnh vực tình dục Sự quan tâm tới những vấn đề trên là điều hoàn toàn tự

nhiên Nhu cầu hiểu biết những cái mới của đời sống con người và của bản

thân mình rất lớn, các bậc cha mệ nên tìm cơ hội thuận lợi, chủ động gợi

chuyện với con mình, tạo niềm tin và sự thông cảm với chúng, các em sẽ tránh

được những hoạt động tình dục bừa bãi, chuẩn bị cho mình một cuộc sống tình

dục lành mạnh khi bước vào cuộc sống hôn nhân Ở lứa tuổi này, hoàn cảnh xã

hội có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển tình cảm của các em

phong phú sâu sắc hơn lứa tuổi tiểu học Tình cảm mang tính bồng bột, sôi nổi

đã giảm đi, nhường chỗ cho tình cảm có ý thức Đây là lứa tuổi đang phát triển

mạnh mẽ về tình cảm, đạo đức, tình cảm bạn bè, đồng chí và tập thể Tuy

nhiên, tình yêu ở lứa tuổi này còn ngộ nhận và không bền chặt bởi các nhà tâm

lý nhận đinh rằng những rung động tuổi mới lớn chỉ là bước phát triển đầu tiên

tình cảm đối với người khác giới nhưng đó chưa phải là lúc bước vào quan hệ

yêu đương, vì tâm sinh lý lứa tuổi này còn chưa đủ chín mùi để gánh vác một

mối tình cảm phức tạp mà đến người lớn cũng còn phải đau đầu vì nó

2.4.2 Giới tính và sức khỏe sinh sản

Theo Lê Văn Hồng (2002), HS THPT thường quan tâm đến những mối

quan hệ bạn khác giới, các thay đổi của cơ thể nhưng các em thường lúng túng

khi nói tới vấn đề này

Tình yêu và đời sống tình dục của HS THPT có quan hệ mật thiết với

đời sống tâm lý của các em, những quan hệ này đưa HS đến vấn đề về đạo đức,

trách nhiệm, kỉ luật và thông thường HS rất bối rối, đôi khi bế tắc, sai lầm trong

giải quyết vấn đề, xử lý các tình huống “gay cấn” trong quan hệ khác giới

Thực tế cho thấy 1/3 trẻ vị thành niên quan hệ tình dục trước hôn nhân Nhưng

các em lại thiếu hiểu biết về quan hệ tình dục an toàn và cách bảo vệ sức khỏe

của mình.(www.giaoducgioitinh.org.vn)

Trang 37

Do đó, phụ huynh, GV cần phải quan tâm, thông cảm và hướng dẫn các

em có cái nhìn đúng đắn trong quan hệ bạn bè khác giới, không nên cấm đoán,

can thiệp thô bạo hay bỏ mặc các em

Lứa tuổi HS THPT là lứa tuổi hoàn thiện các chức năng sinh dục (Lê

Văn Hồng, 2002)

Các em thường quan tâm đến vấn đề tình dục, sinh sản, kinh nguyệt,

trinh tiết, mộng tinh,… Nhưng lại ít thông tin về vấn đề này Vì vậy các em rất

cần sự giúp đỡ của GV, phụ huynh, nhà tư vấn tâm lý nhằm hướng dẫn tư vấn

những thông tin cần thiết về giới tính để các em có cái nhìn đúng đắn về SKSS

Từ đó các em có thể lý giải được những thay đổi của bản thân và tự bảo vệ

mình trong các mối quan hệ khác giới, nhất là sống trong thời đại bùng nổ

thông tin hiện nay

2.4.3 Sự phát triển nhân cách học sinh trung học phổ thông

HS THPT không chỉ có nhu cầu đánh giá, mà còn có khả năng đánh giá

sâu sắc về những phẩm chất, điểm mạnh, điểm yếu của những người cùng sống

và của chính mình Tự đánh giá khách quan không phải dễ dàng Tuổi HS

THPT thường dễ có xu hướng cường điệu trong tự đánh giá, có thể sai lầm

trong tự đánh giá Việc phân tích có mục đích là một dấu hiệu cần thiết của một

nhân cách đang trưởng thành và là tiền đề của sự GD có mục đích Chúng ta

phải có thái độ nghiêm túc khi nghe các em phát biểu, không được chế giễu ý

kiến tự đánh giá của các em Cần phải giúp đỡ các em một cách khéo léo để các

em hình thành một biểu tượng khách quan về nhân cách của bản thân (Lê Văn

Hồng, 2002)

Lứa tuổi HS THPT là giai đoạn hình thành thế giới quan Nội dung học

tập ở trường, quan hệ xã hội rộng rãi, điều kiện sống phong phú, đa dạng đã

giúp các em hình thành thế giới quan, nhân sinh quan ở mức khá cao, sâu sắc,

nhất quán và khái quát Nếu được GD đúng mức, đầy đủ các em có thế giới

quan khoa học với những quy luật biện chứng về sự phát triển tự nhiên và xã

hội, khắc phục hiện tượng mê tín dị đoan Ở các em có thể hình thành một số

nhân sinh quan cộng sản tốt đẹp

Trang 38

Các em có thể tìm thấy hình ảnh con người lí tưởng trong cuộc sống

bình thường, từ những người lao động bình thường, đó là hình ảnh những con

người có phẩm chất cao đẹp, trong sáng Mẫu người lí tưởng của thanh niên HS

có tác dụng thúc đẩy các em vươn tới (Bùi Ngọc Oánh 1996)

Đặc biệt, trong vấn đề giới tính, các em rất tò mò và muốn khám phá Vì

vậy, GDGT cho các em ở độ tuổi này là điều rất quan trọng và cần thiết

2.5 Giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông hiện nay

2.5.1 Nhiệm vụ của giáo dục giới tính

Theo Bùi Ngọc Oánh (1999), theo quan điểm của G.I.Geraximovic và

Đ.V.Kôlêxôp Nhiệm vụ của GDGT là:

+ GD niềm tin rằng trong lĩnh vực các quan hệ thân thiết với người khác giới, con

người không phải độc lập với xã hội, không thể hoàn toàn tách biệt các quan hệ

giữa hai giới thành các quan hệ xã hội Đồng thời còn phải GD ý thức trách nhiệm

xã hội của con người (thiếu nhi, thanh niên, thiếu niên) đối với từng hành động của

mình

+ GD niềm tin mong muốn có một gia đình bền vững, khỏe mạnh thân ái, nhu cầu

có con hợp lý, có ý thức và khả năng GD con

+ GD ý thức tôn trọng đối với người khác, với những người nam giới và nữ giới,

GD có khả năng chú ý và tôn trọng những đặc thù và những mối quan tâm của cả

hai giới

+ GD khả năng và ý muốn đánh giá các hành động của mình đối với những người

khác, không phải chỉ với mọi người nói chung, mà còn đối với những người thuộc

giới nhất định; từ đó có được khái niệm đâu là hành động tốt, đâu là hành động xấu

trong lĩnh vực các quan hệ ấy

+ GD thái độ trách nhiệm đối với sức khỏe của mình và đối với người khác, hình

thành quan niệm về tác hại của các mối QHTD quá sớm và quan niệm không chấp

nhận thái độ vô trách nhiệm và nhẹ dạ trong lĩnh vực các quan hệ với những người

khác giới

+ Tạo thái độ phê phán đối với những tàn dư của thứ đạo đức tư sản trong lĩnh vực

các quan hệ qua lại giữa nam và nữ đối với những định hướng sai lầm trong quan

hệ với người khác giới, thói hưởng thụ, thói tư hữu, tính ích kỉ…

Trang 39

+ GD quan niệm đúng đắn về tính trưởng thành cùng với nội dung và các dấu hiệu

đích thực của nó (nhất là quan niệm về sự cư xử và đời sống tích dục)

Theo Nguyễn Thị Đoan (1988), nhiệm vụ của GDGT bao gồm :

- GD ý thức trách nhiệm xã hội trong quan hệ giới tính con người

- GD khả năng hiểu biết những đặc điểm giới tính trong quá trình cùng hoạt động

chung với các bạn khác giới, biết tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau

- Bồi dưỡng những hiểu biết về hành vi tốt xấu, cái cho phép và cái không thể vượt

qua trong phạm vi với người khác giới; biết tự đánh giá hành vi của mình với

người khác giới

- Bồi dưỡng những hành vi đúng đắn về sự trưởng thành sinh lý của con người

(bao gồm nội dung, những dấu hiệu thực sự thể hiện của nó)

- Bồi dưỡng ý thức trách nhiệm đối với sức khỏe của bản thân và của người khác,

ý thức được tác hại của việc kết hôn sớm

- Bồi dưỡng tinh thần phê phán và thái độ không khoan nhượng đối với những tàn

tích và quan điểm đạo đức phong kiến tư sản trong phạm trù quan hệ giới tính

Như vậy, nhiệm vụ của GDGT bao gồm cả việc truyền thụ tri thức về giới

tính, về mối quan hệ nam nữ và các mối quan hệ khác (với người lớn, với gia đình,

xã hội, bản thân…) và cả việc GD những phẩm chất đạo đức và quan niệm đúng

đắn về đời sống giới tính con người

Theo Nguyễn Thị Bích Ngọc (1989), GDGT có 2 nhiệm vụ cơ bản:

- Thứ nhất, GDGT cần phải giúp con người biết phê phán bác bỏ những quan niệm

nhận thức, nhận thức sai về giới tính và GDGT như:

+ Không chính thức, và như vậy sẽ có thể đi tới những hậu quả không tốt Phê

phán bác bỏ những nhận thức tư tưởng không đúng đắn về bản năng sinh dục về

QHTD, về khuynh hướng “giải phóng tình dục”, “cách mạng tình dục” hoặc xu

hướng tiêu cực phó mặc mọi chuyện “cho nó đến đâu thì đến”, dẫn đến sự tan vỡ

của nhiều cuộc hôn nhân

+ Phân tích, phê phán những tư tưởng và hành vi không lành mạnh ở thế giới và

Việt Nam: QHTD bừa bãi, yêu nhau, lấy nhau, bỏ nhau quá dễ dàng, thiếu ý thức

trách nhiệm đối với việc xây dựng gia đình, xã hội giống nòi, chỉ săn đuổi khoái

cảm…

Trang 40

+ Giải quyết được những boăn khoăn lo ngại cho rằng việc GDGT chỉ làm cho

thanh thiếu niên bị kích thích không lành mạnh, chỉ làm cho các em hư người đi

Cần phải làm cho mọi người thấy rằng: bản năng tính dục có sức thúc đẩy mãnh

liệt đến độ nếu ta không GD cho con người, thì bản thân họ đến một lúc nào đó, sẽ

tự tìm hiểu đi tới vấn đề qua nhiều nguồn thông tin

- Thứ hai, GDGT phải giúp cho con người hình thành được những tri thức quan

niệm đúng đắn, khoa học, phù hợp, có tác dụng tốt cho họ và xã hội, bao gồm:

+ Tri thức đúng đắn khoa học về sinh lý cơ thể, đời sống tính dục, cả về cấu tạo

chức năng, cả về giai đoạn phát triển của nó…để họ có thể vận dụng những tri thức

này vào cuộc sống vào việc bảo vệ sức khỏe sắc đẹp và đời sống hạnh phúc

+ Những tri thức đúng đắn khoa học về đời sống tâm lí, tâm lí tính dục, tâm lí giới

tính…

+ Những tri thức đúng đắn khoa học về tình yêu hôn nhân, đời sống gia đình, về

đạo lý tâm lý xã hội , về cách cư xử và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với mọi

người, với người khác giới, với người yêu, người vợ, người chồng, cha mẹ, con

cái, việc sinh đẻ và nuôi dạy con cái

+ Chính sách dân số của nhà nước

Như vậy, có thể đi đến kết luận về nhiệm vụ của GDGT bao gồm:

- Hình thành và trang bị cho thế hệ trẻ những tri thức khoa học và quan điểm đúng

đắn về đời sống giới tính, tính dục, cách cư xử đúng đắn, phù hợp trong các mối

quan hệ với mọi người, người khác giới, tình yêu hôn nhân và đời sống gia đình

- Chuẩn bị về tinh thần và khả năng thực tiễn cho thế hệ trẻ giúp cho họ biết

cách tổ chức và xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, nâng cao chất lượng

cuộc sống, góp phần xây dựng và thúc đẩy xã hội phát triển, giàu mạnh

2.5.2 Nội dung của giáo dục giới tính

Nội dung của GDGT trước hết là phải giúp cho việc thực hiện những

nhiệm vụ của GDGT Nó “được quy định bởi các mục đích và nhiệm vụ của

GDGT” (G.I.Gheraximovic, 1988) Nó cũng bị chi phối bởi những nguyên tắc

chung của hoạt động GD, của các hoạt động sư phạm Theo A.V.Petrovxki

(1984), “Những nguyên tắc chung của GD đều được áp dụng trong GDGT

Ngày đăng: 10/06/2018, 09:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm