Phân tích kết quả thực nghiệm dựa trên những đoạn video ghi hình và thu được kết quả sau: các em học sinh có sự tập trung vào bài giảng, một số em có những biểu hiện tích cực trong việc
Trang 1BỘ MÔN SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY ĐỂ
TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
Trang 2i
cho con khôn lớn đến ngày hôm nay Cám ơn các anh đã giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để em có thể hoàn thành tốt quá trình học tập và nghiên cứu
Để hoàn thành tốt khóa luận này, em xin gởi lời cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Thanh Thủy đã chu đáo, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt tiến trình thực hiện khóa luận
Em xin cám ơn quý thầy cô trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
đã tận tình dạy bảo và truyền đạt kiến thức cho em trong suốt thời gian học tập tại trường
Cảm ơn toàn thể thầy cô bộ môn Sư Phạm Kỹ Thuật đã dạy dỗ, giúp đỡ tận tình cho em trong suốt quá trình học tập cũng như quá trình thực hiện khóa luận
Em xin chân thành cám ơn Ban Giám Hiệu, cùng toàn thể quý thầy cô và các
em học sinh trường THPT Nguyễn Hữu Huân đã nhiệt tình cộng tác và tạo điều kiện thuận lợi cho em thực hiện khóa luận này
Cuối cùng, xin cảm ơn tập thể lớp DH07SK đã luôn bên tôi, động viên, chia sẽ
và giúp đỡ tôi trong suốt khoảng thời gian học tập và thực hiện đề tài
TpHCM, ngày 2 tháng 5 năm 2011
Trang 3ii
Mục lục ii
Tóm tắt khóa luận iv
Danh sách các sơ đồ v
Danh sách các hình ảnh vi
Danh sách các chữ viết tắt vii
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Vấn đề nghiên cứu 2
1.3 Mục đích nghiên cứu 2
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
1 6 Phương pháp nghiên cứu 3
1.7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
1.8 Phạm vi nghiên cứu 3
1.9 Cấu trúc luận văn 3
1.10 Kế hoạch nghiên cứu 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
2.1 Những phát hiện của khoa học nghiên cứu não bộ hiện đại 6
2.1.1 Tế bào não 6
2.1.2 Các bán cầu não 7
2.1.3 Tâm lý quá trình học và nhớ 7
2.1.4 Gestalt – tính toàn thể 8
2.1.5 Chức năng của bộ não 8
2.2 Cách ghi chú thông thường 9
2.2.1 Các lối ghi chú chủ động/thụ động chính 9
2.2.2 Những bất lợi của lối ghi chú theo kiểu thông thường 9
2.3 Sơ đồ tư duy (Mind Map) 10
2.3.1 Định nghĩa 10
2.3.2 Phân loại 11
2.3.3 Cách vẽ 11
2.3.4 Ưu điểm của sơ đồ tư duy 12
2.4 Sử dụng sơ đồ tư duy trong giáo dục 12
2.4.1 Các ứng dụng cúa sơ đồ tư duy trong giáo dục 12
2.4.2 Lợi ích của việc giảng dạy với sơ đồ tư duy 14
2.5 Giới thiệu chung về môn kỹ thuật Công nghệ ở trường THPT 14
2.5.1 Nội dung chủ yếu 14
2.5.2 Đặc điểm 15
2.5.3 Vai trò 15
2.6 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 15
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Phương pháp nghên cứu tài liệu 17
Trang 4iii
3.2.3 Thiết kế bài giảng có sử dụng sơ đồ tư duy 18
3.3 Phương pháp quan sát 19
3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 20
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
4.1 Các sơ đồ tư duy được sử dụng trong bài giảng 21
4.2 Các bước thiết kế sơ đồ tư duy cho bài học và bài giảng sử dụng sơ đồ tư duy 27
4.3 Thiết kế một số bài giảng sử dụng sơ đồ tư duy 28
4.4 Các slide bài giảng điện tử có sử dụng sơ đồ tư duy 29
4.5 Mô tả một số bài giảng thử nghiệm sử dụng sơ đồ tư duy 34
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
5.1 Tóm tắt kết quả 42
5.2 Kết luận nội dung các giáo án được thiết kế: 42
5.2.1 Chất lượng giáo án được thiết kế 42
5.2.2 Kinh nghiệm khi thiết kế giáo án giảng dạy sử dụng sơ đồ tư duy 42 5.3 Kết luận kết quả khi thực hiện giảng dạy sử dụng sơ đồ tư duy 43
5.3.1 Thuận lợi 43
5.3.2 Khó khăn 43
5.4 Kết luận tác dụng của việc tổ chức dạy học bằng sơ đồ tư duy đối với học sinh 44
5.4.1 Hứng thú học tập của học sinh 44
5.4.2 Phát triển khả năng tư duy logic sáng tạo của học sinh 45
5.4.3 Khả năng tiếp thu bài của học sinh 47
5.5 Kết luận chung về việc tổ chức dạy học có sử dụng sơ đồ tư duy 48
5.6 Kiến nghị 48
5.6.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 49
5.6.2 Đối với trường phổ thông 49
5.6.3 Đối với bản thân giáo viên và sinh viên sư phạm 49
5.7 Hướng phát triển của đề tài 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51 Phụ lục 1: Giáo án bài 17 - Công nghệ 10
Phụ lục 2: Giáo án bài 48 - Công nghệ 10
Phụ lục 3: Giáo án bài 20 - Công nghệ 11
Phụ lục 4: Giáo án bài 22 - Công nghệ 11
Phụ lục 5: Giáo án bài 13 - Công nghệ 12
Phụ lục 6: Giáo án bài 26 - Công nghệ 12
Phụ lục 7: Hướng dẫn cài đặt và sử dụng chương trình iMindMap
Phụ lục 8: Nội dung đĩa CD kèm theo bài khóa luận
Phụ lục 9: Giới thiệu sơ lược về trường THPT Nguyễn Hữu Huân
Phụ lục 10: Giới thiệu về người nghiên cứu
Trang 5iv
Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy để tổ chức dạy học môn Công nghệ ở trường trung học phổ thông
Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiê ̣n trong thời gian từ tháng 09 năm 2010 đến tháng 05 năm
2011
Đi ̣a điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành ta ̣i trường THPT Nguy ễn Hữu Huân quâ ̣n Thủ Đức – Tp.HCM
Mục đích nghiên cứu
Góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn công nghệ ở trường THPT
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liê ̣u , phương pháp thử nghiệm, phương pháp quan sát, phương pháp phân tích dữ liệu
Kết quả nghiên cứu
Qua thời gian tiến hành làm đề tài, người nghiên cứu đã thiết kế 6 sơ đồ tư duy
để ứng dụng vào dạy học môn công nghệ ở ba khối lớp 10, 11 và 12
Người nghiên cứu tiến hành ứng dụng sơ đồ tư duy vào trong giảng dạy 3 lớp ở trường THPT Nguyễn Hữu Huân – quận Thủ Đức – TP.HCM Phân tích kết quả thực nghiệm dựa trên những đoạn video ghi hình và thu được kết quả sau: các em học sinh
có sự tập trung vào bài giảng, một số em có những biểu hiện tích cực trong việc sử dụng sơ đồ tư duy,…
Trang 6v
trồng 25
Sơ đồ 4.2 Sơ đồ tư duy của bài 48 – Công nghệ 10: Phần một số sản phẩm chế biến từ
lâm sản 26
Sơ đồ 4.3 Sơ đồ tư duy của bài 20 – Công nghệ 11: Khái quát về động cơ đốt trong 27
Sơ đồ 4.4 Sơ đồ tư duy của bài 22 – Công nghệ 11: Thân máy và nắp máy 28
Sơ đồ 4.5 Sơ đồ tư duy của bài 13 – Công nghệ 12: Khái niệm về mạch điện tử điều
kiển 29
Sơ đồ 4.6 Sơ đồ tư duy của bài 26 – Công nghệ 12: Động cơ không đồng bộ ba pha 30
Trang 7vi
Hình 4.2 Một số slide bài giảng có sơ đồ tư duy trong bài 22 – Công nghệ 11 30
Hình 4.3 Một số slide bài giảng có sơ đồ tư duy trong bài 22 – Công nghệ 11 31
Hình 4.4 Một số slide bài giảng có sơ đồ tư duy trong bài 26 – Công nghệ 12 31
Hình 4.5 Một số slide bài giảng có sơ đồ tư duy trong bài 26 – Công nghệ 12 32
Hình 4.6 Một số slide bài giảng có sơ đồ tư duy trong bài 26 – Công nghệ 12 33
Hình 4.7 Một số slide bài giảng có sơ đồ tư duy trong bài 26 – Công nghệ 12 34
Hình 5.1 Video Thucnghiem1: HS tập trung vào bài giảng 45
Hình 5.2 Video thucnghiem1_2: HS quan sát và ghi chú trên sơ đồ tư duy 46
Hình 5.3 Video thucnghiem1_2: HS đối chiếu kiến thức trong sách giáo khoa với sơ đồ tư duy 46
Hình 5.4 Học sinh hào hứng xung phong phát biểu 47
Trang 9kể cho sự phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, ổn định chính trị của đất nước Từ Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII, Nghị quyết trung ương 2 khóa VIII, đến Nghị quyết Đại hội IX, Đại hội X, Đảng ta đã coi giáo dục, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế và bền vững
Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những mục tiêu lớn mà ngành giáo dục và đào tạo đặt ra trong giai đoạn hiện nay Người thầy từ việc truyền đạt kiến thức trở thành người hướng dẫn học sinh tìm kiến thức, rèn luyện cho học sinh có thói quen
tư duy sáng tạo Xu hướng dạy học “lấy người thầy làm trung tâm” không còn phù hợp nữa và đang được chuyển đổi thành “lấy người học làm trung tâm” Trong quá trình dạy học, người giáo viên cần từng bước áp dụng các phương pháp, phương tiện tiên tiến vào quá trình dạy và học Khuyến khích và phát triển kỹ năng tự học của học sinh Cùng theo đó là sự phát triển và bùng nổ một khối lượng thông tin, kiến thức khổng lồ đòi hỏi người học phải rất cố gắng để lĩnh hội
Kiến thức nhân loại là vô bờ bến và thường xuyên phát triển Chương trình học ngày càng nặng nề hơn Điều đó đặt ra cho người dạy một câu hỏi lớn: Làm thế nào để học sinh có thể học tập một cách say mê và hiệu quả? Phương pháp học tập bằng sơ đồ
tư duy là một trong những giải pháp cho câu hỏi đó
Sơ đồ tư duy đã xuất hiện từ thập niên 60 Nó được xem là một công cụ hỗ trợ cho bộ não, giúp người học có thể quan sát nội dung cần đọc một cách nhanh chóng Người học có thể nhớ lâu hơn và có hứng thú để tìm hiểu, tiếp thu kiến thức mới Mặc khác, sơ đồ tư duy còn thúc đẩy quá trình sáng tạo của người học
Nội dung môn công nghệ rất đa dạng, mang nhiều thông tin mới và khó với học sinh Việc để học sinh khái quát, sơ đồ hóa nội dung một cách hệ thống, dễ nhớ, lôi cuốn, và phát huy tính sáng tạo là một vấn đề cần thiết Xuất phát từ lý do trên, người
Trang 10 Thiết kế bài giảng có sử dụng sơ đồ tư duy
Sử dụng sơ đồ tư duy để tổ chức giảng dạy môn công nghệ
Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học môn công nghệ
1.3 Mục đích nghiên cứu
Góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn công nghệ ở trường THPT
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài nhằm trả lời hai câu hỏi:
Việc thiết kế bài bảng môn công nghệ có sử dụng sơ đồ tư duy được tiến hành như thế nào?
Việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học môn công nghệ đem lại hiệu quả như thế nào với hoạt động học tập của học sinh?
1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
Nhiệm vụ 2: Phân tích nội dung chương trình công nghệ ở trường THPT
Nhiệm vụ 3: Thiết kế sơ đồ tư duy để tổ chức dạy học môn công nghệ ở trường THPT
Nhiệm vụ 4: Đề xuất các biện pháp sử dụng sơ đồ tư duy để tổ chức dạy học các nội dung tương ứng
Nhiệm vụ 5: Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra hiệu quả của việc sử dụng sơ đồ
tư duy trong dạy học môn công nghệ
Nhiệm vụ 6: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn công nghệ ở trường THPT
Trang 113
1 6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu liên quan để xây dựng
cơ sở lý luận của đề tài như: Các sách, tạp chí, luận văn, tiểu luận, tài liệu chuyên môn… có liên quan Các tài liệu chuyên ngành phương pháp dạy học, lý luận dạy học
Phương pháp thử nghiệm: Dạy thử nghiệm 1 bài công nghệ 10, 1 bài công nghệ
11 và 1 bài công nghệ 12 tại trường THPT Nguyễn Hữu Huân
Phương pháp quan sát: Quan sát bằng mắt và thông qua video, quan sát các biểu hiện về hứng thú học tập của học sinh trong giờ học
Phương pháp phân tích dữ liệu
Phương pháp phân tích định tính: sử dụng trong phân tích đoạn phim từ video bao gồm: Thái độ của học sinh, hoạt động,…
Đưa ra kết luận, giải thích, lý giải dựa trên nền tảng cơ sở lý luận
1.7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Việc thiết kế và tổ chức dạy học môn công nghệ có sử dụng sơ đồ tư duy
Khách thể nghiên cứu: học sinh ba lớp 10D12, 11A1, và 12A10 tại trường THPT Nguyễn Hữu Huân
1.9 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu
Trong chương này người nghiên cứu giới thiệu những vấn đề sau:
Giới thiệu lý do chọn đề tài
Vấn đề nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
Trang 124
Nhiệm vụ nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Cấu trúc luận văn
Kế hoạch nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận
Trình bày những lý thuyết cơ bản mà người nghiên cứu dựa vào để làm rõ những vấn đề về sơ đồ tư duy
Tóm tắt nội dung, kết quả, nhận xét ưu nhược điểm của những nghiên cứu trước đây
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Mô tả những phương pháp nghiên cứu, phương pháp phân tích dữ liệu đã sử dụng trong luận văn
Mô tả cách lựa chọn đối tượng giảng dạy, cách thiết kế các bài giảng trong phương pháp thực nghiệm
Chương 4: Phân tích
Phân tích các dữ liệu có được từ việc dạy thử nghiệm để đưa ra kết quả cho nghiên cứu
Trình bày kết quả bài giảng có sử dụng sơ đồ tư duy
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Kết luận: Từ kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu đưa ra kết luận cho vấn đề nghiên cứu, đáp án cho câu hỏi nghiên cứu
Thảo luận
Hướng phát triển của đề tài
Tài liệu tham khảo: Người nghiên cứu đưa ra danh sách các tài liệu, các nguồn
tư liệu đã phục vụ cho người nghiên cứu trong suốt quá trình nghiên cứu
Phụ lục: Các bài giảng mẫu và một số tài liệu bổ sung cho đề tài
Trang 135
1.10 Kế hoạch nghiên cứu
1 Tháng 9/2010 Đăng ký làm đề tài
Thu thập tài liệu, viết đề cương
Người nghiên cứu
2 Tháng 10/2010 Trình bày đề cương chỉnh sửa đề
Trang 14Khi phóng to lên, mỗi xúc tu rong như một nhánh cây, tủa ra từ nhân tế bào não Các nhánh từ nhân tế bào não đó được gọi là nhánh nơ-ron, có cấu trúc rẽ nhánh cây (dendrite), trong đó nhánh đặc biệt dài và to nhất là trục axon, kênh truyền phát thông tin chính của tế bào nơ-ron
Mỗi nhánh dendrite và trục axon có thể dài từ 1 milimét đến 1,5 mét Nằm quanh suốt chiều dài của chúng là những cấu trúc lồi gọi là gai nhánh (dendritic spine)
và nút dẫn truyền (synaptic button)
Mỗi gai nhánh và nút dẫn truyền từ một tế bào não kết nối với nút dẫn truyền của một tế bào não kế cận Khi có xung điện truyền qua tế bào não, các hóa chất sẽ truyền qua một khe hẹp ngập chất lỏng nằm giữa hai tế bào não gọi là khe dẫn truyền (synaptic gap) và lọt vào bề mặt tiếp nhận của tế bào não kế tiếp, tạo ra xung điện chạy qua tế bào não tiếp nhận thông tin, rồi từ đó xung điện này lại được dẫn đến một tế bào não kế cận khác
Trong mỗi giây, một tế bào não có thể tiếp nhận xung thông tin đến từ hàng trăm nghìn điểm kết nối Sau đó, tế bào não lập tức xử lý toàn bộ dữ liệu các thông tin đến rồi xác định đường truyền thích hợp trong một phần triệu giây
Trong công trình nghiên cứu có tựa đề “Sự hình thành trí khôn tự nhiên và nhân tạo”, giáo sư Pyotr Kouzmich Anokhin đã kết luận như sau:
“Chúng tôi có thể chứng tỏ rằng mỗi nơ-ron trong não bộ con người đều có khả năng thực hiện số lượng kết nối là số 1 đứng trước 28 con số 0 Nếu chỉ một nơ-ron mà
đã có tiềm năng như vậy thì chúng ta có thể hình dung nổi khả năng của cả bộ não con người Điều này có nghĩa là tổng số tổ hợp chập viết thành số sẽ là con số 1 đứng trước 10,5 kilômét số 0
Trang 157
Chưa ai có thể tận dụng được hết khả năng của bộ não Vì thế, chúng ta không thể chấp nhận bất kỳ ước đoán bi quan nào về giới hạn bộ não của con người Nó là vô hạn”
2.1.2 Các bán cầu não
Theo Roger Sperry (1968), phần tiến hóa nhất của bộ não là vỏ não Những phát hiện ban đầu của ông cho thấy hai vỏ bán cầu não có khuynh hướng phân chia thành hai nhóm chức năng tư duy chính: Bán cầu não phải dường như hoạt động trội hơn trong các hoạt động về nhịp điệu, nhận thức về không gian, gestalt (tính toàn thể), tưởng tượng, mơ mộng, màu sắc và kích thước; bán cầu não trái trội hơn ở các hoạt động về lời nói, suy luận, số, xâu chuỗi, quan hệ tuần tự, phân tích và liệt kê
Các nghiên cứu khoa học sau này đã xác nhận những phát hiện trên Thêm vào
đó, các nhà khoa học đã khám phá ra rằng: Mặc dù mỗi bán cầu não có sự trội hơn ở những hoạt động tư duy nhất định, nhưng về cơ bản cả hai bán cầu đều thuần thục trong mọi lĩnh vực, và các kỹ năng tư duy mà Roger Sperry (1968) đã phát hiện thật ra được phân bố trên khắp vỏ não Vì thế, việc phân loại thành người trội não trái hay não phải như hiện nay là có hại Theo Michael Bloch (1990), khi tự xem mình là loại trội não trái hay não phải là ta đã tự giới hạn khả năng mở mang những phương thức mới của mình
2.1.3 Tâm lý quá trình học và nhớ
Theo Nelson (1971), bộ não con người chủ yếu ghi nhớ những thông tin sau:
Các chi tiết trong phần đầu thời gian học (“hiệu ứng ưu tiên theo trình tự xuất hiện”)
Những chi tiết cuối thời gian học (“hiệu ứng ưu tiên theo mức độ cập nhật”)
Mọi chi tiết được liên hệ với sự việc, quy luật hay cấu trúc đã ghi nhớ, hoặc liên quan đến các khía cạnh của vấn đề đang học
Mọi chi tiết đặc sắc hay nổi bật đặc biệt lưu ý
Mọi chi tiết đặc biệt thu hút ngũ quan
Những chi tiết đặc biệt được cá nhân quan tâm
Trang 168
2.1.4 Gestalt – tính toàn thể
Theo Tony Buzan và Barry Buzan (2008), bộ não có khuynh hướng đi tìm quy luật và tự điền vào chổ khuyết Chẳng hạn, phần lớn chúng ta khi đọc dòng chữ “một, hai, ba,…” thì khó cưỡng lại cảm giác thôi thúc phải thêm “bốn” vào Cũng thế, nếu ai
đó bảo rằng: “Tôi có chuyện này hay lắm … Ấy chết, chuyện này không thể tiết lộ được”, thì phản ứng tâm lý của ta là đòi nghe tiếp
2.1.5 Chức năng của bộ não
Theo Tony Buzan và Barry Buzan (2008), bộ não có 5 chức năng chính: tiếp nhận, lưu giữ, phân tích, tác xuất, kiểm soát Cụ thể như sau:
Tiếp nhận: Mọi thông tin được tiếp nhận qua ngũ quan
Lưu giữ: Trí nhớ, kể cả lưu trữ (khả năng lưu thông tin) và nhớ (khả năng truy tìm thông tin đã lưu)
Phân tích: Nhận dạng quy luật và xử lý thông tin
Tác xuất: Mọi hình thức giao tiếp hay hoạt động sáng tạo, bao gồm cả tư duy
Kiểm soát: Mọi chức năng tư duy và thể chất
Tất cả 5 chức năng hoạt động này của bộ não đều củng cố lẫn nhau Chẳng hạn,
ta dễ tiếp nhận dữ liệu hơn nếu quan tâm có động cơ, và quá trình tiếp nhận thích hợp với các chức năng của não Tiếp nhận thông tin có hiệu quả thì ta mới dễ dàng lưu giữ
và phân tích chúng Ngược lại, lưu giữ và phân tích có hiệu quả sẽ làm khả năng tiếp nhận thông tin gia tăng
Tương tự, chức năng phân tích cần có với hàng loạt quá trình xử lý thông tin phức tạp lại đòi hỏi khả năng lưu giữ (ghi nhớ, liên kết) các thông tin đã tiếp nhận Chất lượng phân tích hiển nhiên phụ thuộc vào khả năng tiếp nhận và lưu giữ thông tin
Cả ba chức năng ấy cùng dẫn đến chức năng thứ tư là tác xuất thể hiện bởi sơ
đồ tư duy, lời nói, cử chỉ,… từ những thông tin đã tiếp nhận, lưu giữ và phân tích
Chức năng thứ năm là sự kiểm soát tổng quát của não, nó theo dõi mọi chức năng tư duy và thể chất, bao gồm cả tình trạng sức khỏe tổng quát, thái độ, điều kiện
Trang 179
môi trường Chức năng này rất quan trọng vì tinh thần và thể xác có lành mạnh thì bốn chức năng còn lại mới có thể đạt hiệu năng tối đa
2.2 Cách ghi chú thông thường
2.2.1 Các lối ghi chú chủ động/thụ động chính
Theo Tony Buzan và Barry Buzan (2008), có ba lối ghi chú chủ động/thụ động chính thường được sử dụng Cụ thể là:
Lối dùng câu hoặc tường thuật, đơn giản là ghi chú nội dung cần giao tiếp ở dạng tường thuật
Lối liệt kê, là ghi lại các ý tưởng theo tuần tự xuất hiện
Lối dàn ý đánh thứ tự bằng số hay alphabet, là ghi chú theo kiểu xâu chuỗi, phân cấp nhóm chính và nhóm con
Trên khắp thế giới, các phương pháp ghi chú theo kiểu thông thường phổ biến hiện nay đều như nhau Lối ghi chú ở Trung Đông và Châu Á trong có khác với phương Tây, nhưng thật ra cũng y hệt nhau Những ghi chú bằng tiếng Trung Quốc, Nhật, hay Ả rập được viết theo chiều thẳng đứng hoặc từ phải sang trái chứ không phải
từ trái sang phải, cũng vẫn là lối trình bày theo kiểu tuần tự
Theo kết quả nghiên cứu của Tony Buzan và các cộng sự (2000), trên 95% đối tượng thử nghiệm ở mọi trường học, đại học và công ty sử dụng ba lối ghi chú khái quát trên
2.2.2 Những bất lợi của lối ghi chú theo kiểu thông thường
Theo Tony Buzan và Barry Buzan (2008), phương pháp ghi chú chủ động/thụ động theo kiểu thông thường có 4 bất lợi như sau:
Các từ khóa bị chìm khuất: Từ khóa truyền tải các ý tưởng quan trọng – thường là danh từ hay động từ giúp ta hồi ức những chùm tia ý tưởng liên kết mỗi khi đọc hay nghe thấy nó Theo lối ghi chú thông thường, những từ khóa thường rải ra trên nhiều trang giấy và bị chìm khuất trong một rừng chữ không quan trọng bằng Điều này trở thành trở ngại khi bộ não tìm mối liên kết có ích giữa các khái niệm trọng tâm
Khó nhớ nội dung: Các ghi chú bằng một màu đơn điệu dễ gây nhàm chán thị giác, khiến não khước từ và bỏ quên chúng đi Hơn nữa, lối ghi chú
Trang 1810
thông thường thường là hàng dãy liệt kê, bất tận và không có gì khác biệt
Sự buồn tể ấy đưa não vào trạng thái bị thôi miên, nửa mê nửa tỉnh nên hầu như chẳng thể nhớ nội dung gì
Lãng phí thời gian: Lối ghi chú chủ động/thụ động theo kiểu thông thường trong mọi giai đoạn đều lãng phí thời gian vì nó:
+ Chỉ dẫn đến ghi chú cái không cần thiết
+ Buộc ta đọc những ghi chú không cần thiết
+ Buộc ta phải đọc đi đọc lại những ghi chú không cần thiết
+ Buộc ta phải truy tìm từ khóa
Không kích thích não sáng tạo: Bản chất của lối trình bày tuần tự trong những bản ghi chú thông thường là cản trở não tìm các mối liên kết, chống lại hoạt động sáng tạo và ký ức Hơn nữa và nhất là khi đối diện với những bản ghi chú theo kiểu liệt kê, não liên tục có cảm giác nó “đã tới phần kết” hay “hoàn tất” Cảm giác đã hoàn thành nhưng không có thật này có tác dụng gần như ma túy tư duy, làm trì trệ và kìm hãm quá trình tư duy
2.3 Sơ đồ tƣ duy (Mind Map)
2.3.1 Định nghĩa
Để định nghĩa sơ đồ tư duy, đầu tiên chúng ta phải biết khái niệm về tư duy mở rộng
Theo Tony Buzan và Barry Buzan (2008), Tư duy mở rộng (theo động từ gốc
“to radiate” gợi ý hình ảnh lan tỏa, mở rộng từ mọi hướng hay từ vùng trung tâm) là những quá trình tư duy liên kết xuất phát từ việc kết nối với vùng trung tâm
Cũng theo Tony Buzan và Barry Buzan (2008), Sơ đồ tư duy được định nghĩa như sau: Sơ đồ tư duy (Mind Map) là biểu hiện của tư duy mở rộng, đó là một kỹ thuật họa hình đóng vai trò là chiếc chìa khóa vạn năng của bộ não
Tony Buzan và Barry Buzan (2008) đã nêu ra bốn bốn đặc điểm tư duy như sau:
Đối tượng quan tâm được kết tinh thành một hình ảnh trung tâm
Từ hình ảnh trung tâm, những chủ đề chính của đối tượng tỏa rộng thành các nhánh
Trang 1911
Các nhánh đều cấu thành từ một hình ảnh chủ đạo hay từ khóa trên một dòng liên kết Những vấn đề phụ cũng được biểu thị bởi các nhánh gắn kết với những nhánh có thứ bậc cao hơn
Các nhánh tạo thành một cấu trúc nút liên hệ nhau
2.3.2 Phân loại
Tony Buzan và Barry Buzan (2008) đã phân loại các sơ đồ tư duy như sau:
Sơ đồ tư duy con
Sơ đồ tư duy song hành
Sơ đồ tư duy đa chủng loại
Sơ đồ tư duy hổ trợ trí nhớ
Sơ đồ tư duy sáng tạo
Sơ đồ tư duy tập thể
Sơ đồ tư duy chủ đạo
2.3.3 Cách vẽ
James Harrison (2008) đã trình bài cách vẽ sơ đồ tư duy qua các bước sau: Bước 1: Tập trung vào câu hỏi trọng tâm hay chủ đề cụ thể Xác định thật rõ mục tiêu hướng đến hay nỗ lực giải quyết
Bước 2: Đặt tờ giấy nằm ngang và bắt đầu vẽ sơ đồ tư duy từ giữa trang
Bước 3: Vẽ một hình ảnh ở giữa trang giấy để biểu thị nội dung của sơ đồ Sử dụng nhiều màu sắc cho hình ảnh này để gợi tính trực quan cho sơ đồ
Bước 4: Vẽ một loạt đường liên kết nét đậm, dạng cong tỏa từ tâm của hình ảnh Đây là các nhánh lớn của sơ đồ tư duy, có tác dụng triển khai ý tưởng cho sơ đồ
Bước 5: Viết lên mỗi nhánh một ý chính với một từ ngắn gọn Từ này sẽ giúp người vẽ thấy rõ vấn đề đang xem xét
Bước 6: Vẽ thêm các nhánh cấp hai và cấp ba cho sơ đồ Nhánh cấp hai liên kết với nhánh chính, nhánh cấp ba liên kết với nhánh của cấp hai,… Mỗi nhánh có thể là các từ để trả lời cho các câu hỏi xung quanh đề tài như: ai, cái gì, ở đâu, tại sao, bằng cách nào,…
Trang 2012
2.3.4 Ƣu điểm của sơ đồ tƣ duy
Theo Tony Buzan và Barry Buzan (2008), sơ đồ tư duy có thể khắc phục được những bất lợi của kiểu ghi chú thông thường Ưu điểm của nó thể hiện qua các điểm sau:
Chỉ ghi chú các từ liên quan, tiết kiệm từ 50-95% thời gian
Chỉ đọc các từ liên quan, tiết kiệm hơn 90% thời gian
Thời gian ôn bài ghi chú dạng sơ đồ tư duy tiết kiệm 90%
Tránh lãng phí thời gian dò tìm các từ khóa trong một trang đầy chữ, tiết kiệm trên 90% thời gian
Tăng cường tập trung vào trọng tâm
Dễ dàng nhận biết những từ khóa thiết yếu
Cải thiện sức sáng tạo và trí nhớ, nhờ khả năng tập trung tức thời những từ khóa thiết yếu
Tạo mối liên kết mạch lạc, tối ưu giữa các từ khóa
Não dễ dàng tiếp thu và ghi nhớ những sơ đồ tư duy kích thích thị giác, đa sắc và đa chiều
Suốt quá trình thực hiện sơ đồ tư duy, người vẽ luôn bắt gặp các cơ hội khám phá tìm hiểu, tạo điều kiện cho quá trình tư duy diễn ra liên tục
Lập sơ đồ tư duy kích thích khả năng điền vào chỗ khuyết của bộ não, nhờ
đó nâng cao tinh thần hiếu học của người học
Nhờ liên tục vận dụng mọi kỹ năng của vỏ não mà não ngày càng linh hoạt, tiếp nhận hiệu quả, và tự tin vào khả năng của mình
2.4 Sử dụng sơ đồ tƣ duy trong giáo dục
2.4.1 Các ứng dụng cúa sơ đồ tƣ duy trong giáo dục
Theo Tony Buzan và Barry Buzan (2008), sơ đồ tư duy có bốn ứng dụng trong giáo dục như sau:
2.4.1.1 Soạn ghi chú cho bài giảng
Dùng sơ đồ tư duy làm ghi chú cho ài giảng là một trong những cách ứng dụng hữu hiệu nhất So với cách phải viết ra thì soạn bài giảng theo hình thức theo hình thức
Trang 2113
sơ đồ tư duy nhanh hơn nhiều và có ưu điểm lớn là cho phép cả giảng viên lẫn học viên lúc nào cũng có được cái nhìn tổng quát về chủ đề Một bài giảng theo sơ đồ tư duy dễ cập nhật theo thời gian và các chi tiết trong bài giảng cũng không bao giờ bị xáo trộn Nhờ có những đặc tính hỗ trợ trí nhớ, sơ đồ tư duy cho phép giảng viên chỉ cần xem lướt qua trước khi lên lớp là có thể nắm bắt được trọng tâm
Sơ đồ tư duy là dàn ý cho bài giảng Nó giúp giảng viên có khả năng duy trì sự cân đối tuyệt vời giữa tính ngẫu hứng, sinh động của một bài nói chuyện với bố cục rõ ràng, hợp lý của một bài thuyết trình Hơn nữa, sơ đồ tư duy còn cho phép giảng viên giảng bài theo đúng thời gian quy định, hoặc nếu thời gian qui định thay đổi vì một lý
do nào đó thì giảng viên cũng có thể chỉnh sửa cho bài giảng dài hơn hay ngắn đi theo yêu cầu
2.4.1.2 Hoạch định cho năm
Giáo viên có thể dùng sơ đồ tư duy để có cái nhìn tổng quát về chương trình học của cả năm, bao gồm các học kỳ và hình thức bài học phải dạy Ví dụ, một giáo viên địa lý có thể có ý niệm về số lần đi thực địa và trình chiếu slide trong năm tương quan với số bài học dạy trong lớp
2.4.1.3 Dạy học
Giáo viên có thể vẽ phần tương ứng của sơ đồ tư duy khi đang giảng bài Cách biểu thị quy trình tư duy như thế sẽ làm rõ cấu trúc bài học, đồng thời duy trì sự chú ý của học sinh, giúp các em nhớ và hiểu bài dễ dàng hơn Cũng có thể cho học sinh tự hoàn chỉnh các sơ đồ tư duy dạng khung hoặc phát những bản sao trắng đen để các em
tự tô màu
2.4.1.4 Thi cử
Nếu mục đích của kỳ thi là kiểm tra kiến thức và mức độ hiểu bài chứ không phải khả năng viết của học sinh thì sơ đồ tư duy là giải pháp lý tưởng Vì nó có thể giúp giáo viên thấy ngay học sinh đó có bao quát được chủ đề hay không, cũng như các mặt mạnh và yếu của mỗi học sinh
Phương pháp kiểm tra bằng sơ đồ tư duy sẽ giúp giáo viên đánh giá rõ ràng và khách quan về mức độ hiểu biết của học sinh mà không bị ảnh hưởng bởi cảm nhận về những kỹ năng trong các lãnh vực khác như đúng ngữ pháp, không sai chính tả hay
Trang 2214
chữ viết rõ ràng Hơn nữa, hình thức kiểm tra này còn giúp tiết kiệm cả khối thời gian thường bị mất đi cho việc đọc và chấm bài thi
2.4.2 Lợi ích của việc giảng dạy với sơ đồ tư duy
Tony Buzzan (2008) đã nêu ra một số lợi ích của việc giảng dạy với sơ đồ tư duy như sau:
Sơ đồ tư duy gợi hứng thú cho người học một cách tự nhiên, nhờ đó giúp
họ tiếp thu nhiều hơn và tích cực hơn trong lớp
Sơ đồ tư duy làm cho bài học cũng như cách trình bày bài học ngẫu hứng, sáng tạo và lý thú hơn đối với cả giáo viên lẫn học viên
Nhờ sơ đồ tư duy, ghi chú bài giảng của giáo viên trở nên linh hoạt, tùy biến Giáo viên có thể làm mới hoặc bổ sung thêm kiến thức cho bài giảng một các rõ ràng nhanh chóng
Sơ đồ tư duy biểu thị nội dung thích hợp dưới hình thức rõ ràng và dễ nhớ nên người học có khuynh hướng đạt điểm cao hơn trong các kỳ thi
Sơ đồ tư duy không những biểu thị sự kiện mà còn cho thấy mối liên hệ giữa các sự kiện ấy, nhờ đó giúp người học hiểu sâu hơn về vấn đề
Số lượng ghi chú cho bài giảng giảm đi rất nhiều
Sơ đồ tư duy rất có ích cho các em học sinh “có vấn đề về học tập” Nó giúp cho các em có khả năng tự diễn đạt trọn vẹn, nhanh chóng và tự nhiên
2.5 Giới thiệu chung về môn kỹ thuật Công nghệ ở trường THPT
2.5.1 Nội dung chủ yếu
Công nghệ 10: Tìm hiểu về các vấn đề cơ bản trong nông, lâm nghiệp và thủy sản như cách sản xuất, bảo quản Ngoài ra, chương trình còn bao gồm một số khái niệm và phương thức về tạo lập doanh nghiệp
Công nghệ 11: Ứng dụng Toán học, Vật lý, Hóa học,… trong việc xây dựng ngôn ngữ kỹ thuật bằng bản vẽ kỹ thuật, nghiên cứu các phương tiện, phương pháp, kỹ năng cơ bản trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp để tác động vào đối tượng lao động, đem lại thành quả cho con người
Trang 2315
Công nghệ 12 bao gồm 2 lĩnh vực kỹ thuật quan trọng:
Kỹ thuật điện tử: Ngành kỹ thuật ứng dụng những quy luật tương tác giữa hạt điện tử với các trường điện từ và các chất, qui luật của dòng điện tử trong mạch điện để chế tạo các thiết bị điện tử và hệ thống điện tử dùng trong sản xuất và đời sống
Kỹ thuật điện - ngành kỹ thuật ứng dụng các các định luật và những hiện tượng điện từ cũng như việc sản xuất và sử dụng điện năng trong thực tiễn
2.5.2 Đặc điểm
Tính cụ thể và tính trừu tượng:
Tính cụ thể: Nội dung môn học phản ánh những đối tượng cụ thể (vật phẩm, quá trình kỹ thuật - công nghệ cụ thể) Tăng cường cho HS quan sát vật thật,
mô hình thật, thao tác hoặc các quy trình kỹ thuật
Tính trừu tượng: Khái niệm, nguyên lý hoạt động mà HS không thể quan sát một các trực tiếp
Cần trực quan hóa những nội dung trừu tượng bằng những phương tiện trực quan (hình vẽ, đồ thị, sơ đồ…)
2.5.3 Vai trò
Kỹ thuật Công nghệ là một môn khoa học ứng dụng, nghiên cứu việc vận dụng những quy luật tự nhiên và nguyên lý khoa học nhằm đáp ứng yêu cầu vật chất và tin thần cho con người
Kỹ thuật Công nghệ còn giáo dục hướng nghiệp cho các em giúp các em có thể chon nghề phù hợp với sở thích và khả năng của mình
2.6 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Sơ đồ tư duy mới bắt đầu được phổ biến ở Việt Nam năm 2008 Vì thế các đề tài nghiên cứu cụ thể về việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học rất hiếm gặp Một số công trình nghiên cứu có giá trị như:
1 Sách Sơ đồ tư duy của hai tác giả Tony Buzan và Barry Buzan (Lê Huy Lâm
dịch, 2008), NXB Tổng hợp Tp.HCM xuất bản Nội dung của quyển sách cho người đọc thấy những điểm yếu của các cách ghi chú kiểu thông thường, tư duy mở rộng và cơ sở lý luận của nó, sơ đồ tư duy và cơ sở của
Trang 2416
sơ đồ tư duy, cách vẽ sơ đồ tư duy và các ứng dụng tư duy trong đời sống Quyển sách này là một cơ sở lý luận toàn diện về sơ đồ tư duy Dù vậy, hai tác giả chưa phân tích và đưa ra cách sử dụng sơ đồ tư duy trong các phương diện trong đời sống một cách cụ thể
2 Sách Hướng dẫn kỹ năng học tập theo phương pháp Buzzan do James
Harrison làm chủ biên (Lê Huy Lâm dịch, 2008), NXB Tổng hợp Tp.HCM xuất bản Tác giả đã miêu tả chi tiết kỹ thuật học tập theo Quan hệ hữu cơ của Buzan – phương pháp BOST (Buzan Organic Study Technique) dành cho học sinh và sinh viên Tác giả đã mô tả về sơ đồ tư duy và cách vẽ sơ đồ
tư duy một cách ngắn gọn và xúc tích Tuy nhiên, tác giả đưa ra quá ít các
sơ đồ tư duy để người đọc tham khảo
3 Phan Thị Thùy Vân với đề tài “Thiết kế và thử nghiệm một số bài giảng
công nghệ 10 nhằm phát triển thói quen tư duy của học sinh” Trong đề tài,
Phan Thị Thùy Vân đã thiết kế và giảng dạy thử nghiệm hai bài giảng công nghệ 10 dựa trên năm định hướng trong quá trình dạy học của Marzano (1992) Từ kết quả thu được qua việc phân tích video và phiếu câu hỏi, tác giả cho rằng phương pháp này giúp học sinh tiếp thu bài tốt hợn, giáo viên soạn thiết kế giáo án dễ dàng hơn Tuy nhiên, qua đề tài này, người nghiên cứu nhận thấy tác giả chỉ thiết kế hai giáo án mà người nghiên cứu dùng để giảng dạy thử nghiệm mà chưa thiết kế nhiều giáo án hơn để những người nghiên cứu khác có nhiều cơ sở phát triển đề tài
Trang 25Theo Nguyễn Văn Tuấn (2007), phương pháp nghiên cứu lý thuyết là tổ hợp các phương pháp nhận thức khoa học bằng con đường suy luận (các thao tác tư duy) dựa trên các tài liệu lý thuyết (văn bản, tài liệu) đã được thu thập từ các nguồn khác nhau
Người nghiên cứu đã thu thập tài liệu bằng cách đọc sách, báo, tạp chí, internet, báo cáo khoa học,… sau đó phân tích, tổng hợp, nhận xét, tóm tắt, trích dẫn tài liệu tham khảo Thu thập tài liệu có tác dụng ở mọi giai đoạn nghiên cứu, từ khâu lựa chọn
đề tài đến xử lý tài liệu
3.2 Phương pháp thực nghiệm
Theo Vũ Minh Hùng (2003), phương pháp thực nghiệm là phương pháp chủ động để đối tượng nghiên cứu trong điều kiện được khống chế, nhằm gây những biến đổi mong muốn ở chúng về mặt định lượng cũng như mặt định tính
Người nghiên cứu tiến hành dạy thử nghiệm ba lớp 10, 11 và 12 tại trường THPT Nguyễn Hữu Huân để đánh giá hiệu quả của phương pháp này
3.2.1 Đối tượng và cách chọn đối tượng để dạy thử nghiệm
Dạy thử nghiệm 3 bài tại các lớp 10, 11 và 12 tại trường THPT
Chọn 3 lớp tại trường THPT có tính chất đồng đều về học lực và hạnh kiểm để dạy thử nghiệm
3.2.2 Phạm vi, thời gian
Phạm vi: Trong điều kiện và thời gian cho phép thì người nghiên cứu chỉ thiết
kế 3 bài giảng có sử dụng sơ đồ tư duy để dạy thử nghiệm
Thời gian: Thời gian tiến hành từ tháng 1 đến cuối tháng 3 năm 2011
Trang 2618
3.2.3 Thiết kế bài giảng có sử dụng sơ đồ tư duy
3.2.3.1 Những căn cứ lựa chọn sơ đồ tư duy trong bài giảng
Khi sử dụng sơ đồ tư duy cho bài giảng, người nghiên cứu căn cứ vào những điểm sau:
Bài giảng có bố cục rõ ràng
Bài giảng có mục tiêu là củng cố kiến thức của học sinh sau một khoảng thời gian học
Bài giảng có nhiều nội dung mở rộng ra thực tế
3.2.3.2 Các bước hoạt động thiết kế sơ đồ tư duy cho bài học
Giáo án có thể soạn theo mẫu giáo án một cách bình thường tùy nội dung bài học
Thiết kế từng bước sử dụng sơ đồ tư duy, các bước thực hiện như sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học
Mục tiêu bài học là những yêu cầu đặt ra đối với học sinh khi thực hiện bài học Có nhiều yếu tố tác động đến việc xác định mục tiêu bài học, trong đó đáng chú ý nhất là các yếu tố: Nội dung bài học, khả năng nhận thức của học sinh, năng lực của giáo viên
Bước 2: Xác định các hoạt động
Xác định các hoạt động trong một bài học có thể dựa vào sơ đồ tư duy của bài học hoặc việc phân tích cấu trúc nội dung Mỗi hoạt động tương ứng với một đơn vị kiến thức chủ chốt
Bước 3: Xác định các thao tác cho mỗi hoạt động
Trong mỗi hoạt động, chúng ta cần xác định các thao tác chính để đạt được mục tiêu của hoạt động
Bước 4: Lập sơ đồ tư duy phù hợp cho bài học sau khi đã xác định được các hoạt động cụ thể Nhằm đạt được tính thẩm mỹ, các sơ đồ tư duy được vẽ bằng chương trình iMindmap 4.1.2
Trang 2719
3.2.3.3 Cách tổ chức giảng dạy bằng sơ đồ tư duy
Khi tiến hành dạy thử nghiệm, người nghiên cứu tổ chức giảng dạy bằng sơ đồ
tư duy theo phương pháp “tổ chức dạy học song song với việc cho học sinh thấy nội dung của phần đang học trên sơ đồ tư duy”
a Đặc điểm:
+ Giáo viên giảng giải kiến thức như các phương pháp thông thường + Giáo viên phát trước sơ đồ tư duy của bài học cho học sinh hoặc trình chiếu bằng máy chiếu các nội dung tương ứng của sơ đồ với nội dung bài dạy
+ Học sinh nghe giảng kết hợp với quan sát các mối quan hệ giữa nội dung giảng giải của giáo viên và nội dung của sơ đồ tư duy
b Cách thực hiện:
+ Giáo viên lập sơ đồ tư duy của một bài học
+ Học sinh nghe giảng và quan sát sơ đồ tư duy, qua đó lĩnh hội kiến thức
3.3 Phương pháp quan sát
Theo Vũ Minh Hùng (2003), quan sát khoa học là phương pháp sử dụng có mục đích, có kế hoạch các giác quan (có khi dùng cả phương tiện kỹ thuật như máy ảnh, máy quay phim,…) để ghi nhận, thu thập những biểu hiện của các sự vật hiện tượng, nhằm khai thác những thông tin cần thiết phục vụ cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp tương ứng hoặc kiểm chứng cho giả thuyết khoa học về đối tượng nghiên cứu
Người nghiên cứu quan sát bằng mắt, quan sát các biểu hiện về hứng thú học tập của học sinh trong giờ học Ngoài ra người nghiên cứu có sử dụng phương tiện kỹ thuật (máy quay phim) để xem lại bài giảng và đánh giá tiết dạy
Trang 2820
Kế hoạch quay video như sau:
1 11A1 Bài 22: Thân máy và nắp
máy
Thứ 5 ngày 3/3/2011
Tiết 2 từ 13g25 đến 14g10
2 12A10 Bài 26: Động cơ không
đồng bộ ba pha
Thứ 3 ngày 15/3/2011
Tiết 3 từ 8g45 đến 9g30
3 10D12 Bài 48: Chế biến sản phẩm
cây công nghiệp và lâm sản
Thứ 7 ngày 19/3/2011
Tiết 1 từ 12g30 đến 13g15
3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu
Phân tích định tính: Sử dụng trong phân tích đoạn phim từ video để đánh giá tác động của phương pháp của phương pháp dạy học có sử dụng sơ đồ tư duy đến học sinh Các đoạn video được xem lại và chia ra thành từng đoạn để tiện cho việc đánh giá, phân tích
Phân tích định lượng: Khác với phương pháp phân tích định tính, phương pháp phân tích định lượng thường được sử dụng cho các câu hỏi đóng Người nghiên cứu sau khi khảo sát một vấn đề nào đó thường tổng kết và thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel Từ đó, có thể đưa ra những kết luận nghiên cứu Trong đề tài này, người nghiên cứu không sử dụng phương pháp phân tích định lượng
Trang 3022
Sơ đồ 4.2 Sơ đồ tư duy của bài 48 – Công nghệ 10: Phần một số sản phẩm chế biến từ
lâm sản
Trang 3123
Sơ đồ 4.3 Sơ đồ tư duy của bài 20 – Công nghệ 11: Khái quát về động cơ đốt trong
Trang 3224
Sơ đồ 4.4 Sơ đồ tư duy của bài 22 – Công nghệ 11: Thân máy và nắp máy
Trang 3325
Sơ đồ 4.5 Sơ đồ tư duy của bài 13 – Công nghệ 12: Khái niệm về mạch điện tử điều
khiển
Trang 3426
Sơ đồ 4.6 Sơ đồ tư duy của bài 26 – Công nghệ 12: Động cơ không đồng bộ ba pha
Trang 3527
4.2 Các bước thiết kế sơ đồ tư duy cho bài học và bài giảng sử dụng sơ đồ tư duy
Qua quá trình thiết kế và dạy thử nghiệm ba bài học, người nghiên cứu đã rút ra được các bước để thiết kế sơ đồ tư duy và bài giảng sử dụng sơ đồ tư duy Các bước này này giúp người nghiên cứu trả lời được câu hỏi nghiên cứu 1 đã nêu ở chương 1 Các bước tiến hành thiết kế như sau:
Bước 1: Nghiên cứu nội dung bài học
GV cần nghiên cứu kỹ nội dung, xác định rõ mục tiêu của bài học Bên cạnh
đó, GV cần phân tích tính logic của bài học để chuẩn bị thiết kế sơ đồ tư duy
Bước 2: Phát thảo sơ đồ tư duy trên giấy
Sau khi đã nghiên cứu kỹ nội dung của bài học, GV phác thảo một sơ đồ tư duy trên giấy dựa theo cách vẽ sơ đồ tư duy Trong đó, GV cần mô phỏng lại câu chữ bằng hình ảnh và ghi chú lại các hình ảnh cần thiết cho sơ đồ tư duy trong máy tính
Bước 3: Tìm kiếm các hình ảnh cần thiết cho sơ đồ
Dựa theo sơ đồ tư duy trên giấy, GV tìm kiếm các hình ảnh cần thiết trong
sơ đồ trên internet Đối với những hình ảnh mô phỏng mà GV không tìm được, GV có thể tự thiết kế hình ảnh này hoặc ghi lại nội dung của ý này bằng câu chữ
Bước 4: Thiết kế sơ đồ bằng máy tính
Dựa theo sơ đồ tư duy trên giấy, GV tiến hành thiết kế sơ đồ tư duy trên máy tính bằng cách sử dụng phần mềm iMindMap v4.1.2 Trong quá trình thiết kế, người nghiên cứu nên điều chỉnh các hình ảnh đã tìm được để chúng đẹp hơn, tập trung vào nội dung muốn biểu thị hơn Sau đó, GV đưa những hình ảnh này vào sơ đồ tư duy
Bước 5: Soạn giáo án cho bài học
Giáo án là một phần rất qua trọng trong việc giảng dạy Trước khi thiết kế bài giảng điện tử, GV cần soạn giáo án để xác định rõ các hoạt động dạy học sẽ diễn ra trong tiết dạy Điều này sẽ giúp bài giảng điện tử được thiết
kế phù hợp với các hoạt động dạy học sẽ diễn ra trên lớp Giáo án này được
Trang 3628
soạn dựa trên nội dung sách giáo khoa và cách trình bày sơ đồ tư duy trên lớp của giáo viên
Bước 6: Thiết kế bài giảng điện tử có sử dụng sơ đồ tư duy
Dựa trên giáo án đã soạn và sơ đồ tư duy trên máy tính, GV tiến hành thiết
kế bài giảng điện tử GV sử dụng công cụ cắt hình ảnh của chương trình Microsoft PowerPoint để tách phần cần thiết cho slide bài giảng trên sơ đồ
tư duy Sau đó, GV thiết kế slide dựa theo các hoạt động học tập đã nêu trong giáo án
4.3 Thiết kế một số bài giảng sử dụng sơ đồ tƣ duy
Bảng 4.1 Thống kê các bài giảng được thiết kế để ứng dụng sơ đồ tư duy vào trong giảng dạy
sơ đồ tƣ duy vào giảng dạy
1 Công nghệ 10 – Bài 17: Phòng trừ
tổng hợp dịch hại cây trồng
Sử dụng sơ đồ tƣ duy để tổng hợp
cả bài học, sau đó dùng để củng cố nội dung của bài
2 Công nghệ 10 – Bài 48: Chế biến
sản phẩm cây công nghiệp và lâm
sản
Sử dụng sơ đồ tƣ duy để phân loại các sản phẩm từ lâm sản, sau đó giảng dạy
3 Công nghệ 11 – Bài 20: Khái quát
về động cơ đốt trong
Sử dụng sơ đồ tƣ duy để tổng hợp
cả bài học, sau đó dùng để củng cố nội dung của bài
4 Công nghệ 11 – Bài 22: Thân máy
và nắp máy
Sử dụng sơ đồ tƣ duy để tổng hợp
cả bài học, sau đó giảng dạy
5 Công nghệ 12 – Bài 13: Khái niệm
về mạch điện tử điều kiển
Sử dụng sơ đồ tƣ duy để tổng hợp
cả bài học, sau đó dùng để củng cố nội dung của bài
6 Công nghệ 12 – Bài 26: Động cơ
không đồng bộ ba pha
Sử dụng sơ đồ tƣ duy để tổng hợp
cả bài học, sau đó giảng dạy
Trang 3729
4.4 Các slide bài giảng điện tử có sử dụng sơ đồ tƣ duy
Hình 4.1 Slide bài giảng sơ đồ tư duy một số sản phẩm chế biến từ lâm sản
Trang 3830
Hình 4.2 Một số slide bài giảng có sơ đồ tư duy trong bài 22 – Công nghệ 11
Trang 3931
Hình 4.3 Một số slide bài giảng có sơ đồ tư duy trong bài 22 – Công nghệ 11
Hình 4.4 Một số slide bài giảng có sơ đồ tư duy trong bài 26 – Công nghệ 12
Trang 4032
Hình 4.5 Một số slide bài giảng có sơ đồ tư duy trong bài 26 – Công nghệ 12