Theo chủ trương của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo là đào tạo theo nhu cầu xã hội, gắn liền lý thuyết với thực tiễn, tạo điều kiện cho HS tự tìm hiểu về thực trạng nghề nghiệp NN
Trang 1KHOA NGOẠI NGỮ - SƯ PHẠM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
THIẾT KẾ VÀ DẠY THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BÀI GIẢNG MÔN CÔNG NGHỆ CÓ LỒNG GHÉP NỘI DUNG
GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Giáo viên hướng dẫn: LÊ THÚY HẰNG
Họ và tên sinh viên: ĐỖ VĂN MINH Ngành: SƯ PHẠM KỸ THUẬT CÔNG - NÔNG NGHIỆP Niên khóa: 2007 - 2011
Tp.Hồ Chí Minh, tháng 05/2011
Trang 2GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Tác giả
ĐỖ VĂN MINH
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng cử nhân
Sư Phạm Kỹ Thuật Công Nông Nghiệp
Giáo viên hướng dẫn
LÊ THÚY HẰNG
Tp.HCM, tháng 05/2011
Trang 3nên người, đã luôn ủng hộ, lo lắng, động viên trong suốt quãng đường học tập Cảm
ơn anh chị và các em đã giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi có thể hoàn thành tốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn!
Giảng viên Lê Thúy Hằng – Giảng viên Bộ môn Sư Phạm Kỹ Thuật trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp
Quý thầy cô trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM đã hết lòng giảng dạy em trong suốt thời gian học tập tại trường
Cảm ơn sự hổ trợ kịp thời và tận tình của quý thầy cô giảng viên Bộ môn Sư Phạm Kỹ Thuật trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM
Tập thể lớp DH07SK đã động viên, chia sẽ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp
Trang 4ghép nội dung Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông” được thực hiện trong thời gian từ 9/2010 đến tháng 5/2011 tại trường THPT Võ Thị Sáu – Quận Bình Thạnh – TP.HCM Đề tài đạt được kết quả như sau:
Trong quá trình thực hiện đề tài người nghiên cứu đã:
- Nghiên cứu nhiều tài liệu có liên quan đến công tác GDHN và dạy học môn
CN
- Thiết kế 4 giáo án môn CN có lồng ghép nội dung GDHN cụ thể như sau: + Bài 35 CN10: Điều kiện phát sinh, phát triển mầm bệnh ở vật nuôi
+ Bài 44 CN10: Chế biến lương thực, thực phẩm
+ Bài 19 CN11: Tự động hóa trong chế tạo cơ khí
+ Bài 20 CN11: Khái quát về động cơ đốt trong
- Thiết kế phiếu khảo sát ý kiến HS sau mỗi tiết dạy thực nghiệm
- Tiến hành dạy thực nghiệm 2 bài:
+ Lớp 10A8: Bài 35 CN10: Điều kiện phát sinh, phát triển mầm bệnh ở vật nuôi
+ Lớp 11A9: Bài 19 CN11: Tự động hóa trong chế tạo cơ khí
- Thực hiện việc đánh giá hiệu quả giảng dạy qua các kênh đánh giá sau: + Quay video: Thực hiện tại 2 lớp dạy thực nghiệm 10A8 và 11A9
+ Quan sát bằng mắt trong lúc đứng lớp dạy thực nghiệm
+ Phát phiếu khảo sát ý kiến HS sau mỗi tiết dạy thực nghiệm trên
- Đưa ra một số kinh nghiệm trong việc thiết kế giáo án và giảng dạy các bài giảng môn CN có lồng ghép nội dung GDHN
- Đế xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDHN và công tác dạy học môn CN ở trường THPT
* Kết quả chung của đề tài đạt được là:
- Việc lồng ghép nội dung GDHN vào dạy học môn CN là một phương pháp mới trong dạy học môn CN
Trang 5phần mở rộng thêm kiến thức môn CN, giúp HS dễ tiếp thu bài hơn do nội dung mang tính HN được lấy từ kiến thức thực tế và phù hợp với nội dung môn CN
- Việc lồng ghép nội dung GDHN vào dạy học môn CN dưới nhiều hình thức
đã tác động đến kỹ năng chọn nghề ở HS HS đã có được những ý niệm, suy nghĩ về những ngành, nghề mà GV cung cấp trong bài giảng Từ đó làm cơ sở cho việc lựa chọn NN tương lai ở bản thân mỗi em HS
- Tuy nhiên, việc lồng ghép nội dung GDHN vào dạy học môn CN vẫn còn một số hạn chế:
+ GV phải đầu tư nhiều thời gian để thiết kế giáo án, chuẩn bị hình ảnh, video, tìm kiếm thông tin kiến thức mang tính HN cho phù hợp với nội dung môn
CN, tránh lạm dụng trong việc giới thiệu nội dung HN mà gây ảnh hưởng đến kiến thức môn CN
+ Để áp dụng và nâng cao hiệu quả việc lồng ghép nội dung GDHN vào dạy học môn CN đòi hỏi phải có sự hợp tác từ nhiều phía, từ Bộ Giáo Dục và Đào Tạo cho đến trường THPT, GV và HS
Trang 6Trang tựa i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục v
Danh sách chữ viết tắt x
Danh sách các bảng xi
Danh sách các sơ đồ xii
Danh sách các hình ảnh xiii
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Vấn đề nghiên cứu 3
1 3 Mục đích nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
1.6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
1.7 Phạm vi nghiên cứu 4
1.8 Phương pháp nghiên cứu 5
1.9 Cấu trúc luận văn 5
1.10 Kế hoạch nghiên cứu 7
Chương 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN 9
2.1 Lược khảo lịch sử vấn đề nghiên cứu 9
2.2 Tổng quan về hướng nghiệp 11
2.2.1 Khái niệm hướng nghiệp 11
2.2.2 Nhiệm vụ của công tác hướng nghiệp 12
2.2.2.1 Giáo dục thái độ lao động và ý thức đúng đắn đối với nghề nghiệp 12 2.2.2.2 Giải thích, giới thiệu, tuyên truyền nghề 13
2.2.2.3 Tổ chức cho học sinh làm quen, thực tập với một số nghề cơ bản, nghề truyền thống của địa phương 13
Trang 72.2.4 Các hình thức tổ chức giáo dục hướng nghiệp 15
2.2.4.1 Hướng nghiệp qua các môn học 15
2.2.4.2 Hướng nghiệp qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp 16
2.2.4.3 Hướng nghiệp qua các hoạt động ngoại khóa 17
2.2.5 Thực trạng công tác giáo dục hướng nghiệp hiện nay 17
2.2.6 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác hướng nghiệp 20
2.3 Quá trình dạy học 21
2.3.1 Khái niệm dạy học 21
2.3.2 Cơ cấu của quá trình dạy học 22
2.3.3 Chức năng và nguyên tắc của quá trình dạy học 23
2.4 Những tiêu chuẩn khi thực hiện thiết kế bài giảng 24
2.4.1 Mục tiêu dạy học 24
2.4.2 Thiết kế nội dung bài học 25
2.4.3 Thiết kế các hoạt động người học 26
2.4.4 Cách tổ chức giảng dạy 26
2.5 Khái quát về lồng ghép giáo dục hướng nghiệp vào môn học 28
2.5.1 Khái niệm “lồng ghép” 28
2.5.2 Nguyên tắc lồng ghép giáo dục hướng nghiệp 28
2.5.3 Phương thức lồng ghép giáo dục hướng nghiệp vào môn học 29
2.5.4 Cách thiết kế bài giảng có lồng ghép nội dung giáo dục hướng nghiệp 29
2.6 Giới thiệu về môn Công nghệ bậc trung học phổ thông 30
2.6.1 Nội dung chính chương trình Công nghệ bậc trung học phổ thông 30
2.6.1.1 Chương trình Công nghệ 10 30
2.6.1.2 Chương trình Công nghệ 11 30
2.6.1.3 Chương trình Công nghệ 12 31
2.6.2 Tầm quan trọng của môn Công nghệ đến việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh trung học phổ thông 32
Trang 83.3 Phương pháp quan sát 36
3.4 Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi 37
3.5 Phương pháp thống kê 38
3.5.1 Phương pháp phân tích định lượng 38
3.5.2 Phương pháp phân tích định tính 38
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH 39
4.1 Thiết kế các bài giảng môn Công Nghệ có lồng ghép nội dung giáo dục hướng nghiệp 39
4.1.1 Thiết kế bài 35 Công nghệ 10: Điều kiện phát sinh, phát triển bệnh ở vật nuôi 39
4.1.1.1 Phân tích 39
4.1.1.2 Thiết kế chi tiết 42
4.1.2 Thiết kế bài 44 Công nghệ 10: Chế biến lương thực, thực phẩm 42
4 1.2.1 Phân tích 42
4 1.2.2 Thiết kế chi tiết 46
4.1.3 Thiết kế bài 19 Công nghệ 11: Tự động hóa trong sản xuất cơ khí 46
4.1.3.1 Phân tích 46
4.1.3.2 Thiết kế chi tiết 49
4.1.4 Thiết kế bài 20 Công nghệ 11: Khái quát về động cơ đốt trong 50
4.1.4.1 Phân tích 50
4.1.4.2 Thiết kế chi tiết 53
4.2 Sử dụng các bài giảng môn Công Nghệ có lồng ghép nội dung giáo dục hướng nghiệp vào dạy học ở trường Trung học phổ thông 53
4.2.1 Mô tả các hoạt động của bài giảng thực nghiệm .54
4.2.2 Kết quả khảo sát ý kiến học sinh sau các bài giảng thực nghiệm 62
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
5.1 Tóm tắt kết quả 67
Trang 9ghép nội dung giáo dục hướng nghiệp 68
5.2.2.1 Các phương pháp lồng ghép nội dung giáo dục hướng nghiệp vào dạy học môn Công nghệ 68
5.2.2.2 Các hình thức lồng ghép nội dung giáo dục hướng nghiệp vào dạy học môn Công nghệ 68
5.2.2.3 Các nguyên tắc cần thực hiện khi lồng ghép nội dung giáo dục hướng nghiệp vào dạy học môn Công nghệ 70
5.3 Thuận lợi và khó khăn 70
5.3.1 Thuận lợi 70
5.3.2 Khó khăn 71
5.4 Tác dụng của việc lồng ghép nội dung giáo dục hướng nghiệp vào dạy học môn Công nghệ đối với học sinh 72
5.4.1 Hứng thú học tập của học sinh 72
5.4.2 Phát triển các kỹ năng chọn nghề ở học sinh 74
5.4.3 Khả năng tiếp thu bài học của học sinh 76
5.5 Kiến nghị 77
5.5.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 78
5.5.2 Đối với trường phổ thông 78
5.5.3 Đối với bản thân giáo viên và sinh viên sư phạm 78
5.6 Hướng phát triển của đề tài 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Giáo án bài 35 Công Nghệ 10
Phụ lục 2: Giáo án bài 44 Công Nghệ 10
Phụ lục 3: Giáo án bài 19 Công Nghệ 11
Phụ lục 4: Giáo án bài 20 Công Nghệ 11
Phụ lục 5: File bài giảng Powerpoint bài 19 Công nghệ 11
Trang 12Bảng 1.1: Kế hoạch nghiên cứu 7 Bảng 3.1: Đối tượng dạy thực nghiệm 35 Bảng 3.2: Bố trí thời gian dạy thực nghiệm 35 Bảng 4.1: Hình thức tổ chức dạy học GDHN cho HS ở trường THPT Võ Thị Sáu 62 Bảng 4.2: Tác dụng của việc cung cấp thêm một số thông tin về ngành, nghề, thị trường lao động,… liên quan đến nội dung bài học môn CN 63 Bảng 4.3: Nhận định của HS về các thông tin ngành nghề được cung cấp trong bài học môn CN 64
Trang 13Sơ đồ 2.1: Tam giác HN và các hình thức HN (K.K Planonop) 15
Sơ đồ 2.2 Mối quan hệ giữa các thành tố trong quá trình dạy học (Nguyễn An,
1996) 22
Trang 14Hình 5.1: Video thực nghiệm 1 (đoạn 6): HS hứng thú khi được GV cung cấp
thông tin mang nội dung HN 73
Hình 5.2: Video thực nghiệm 2 (đoạn 2 và 3): HS hứng thú khi tham gia hoạt
Trang 15Chương 1: GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay, xã hội ta rơi vào tình trạng “Thừa thầy thiếu thợ”, học sinh luôn đặt quyết tâm thi vào đại học, cao đẳng cho dù ngành không thích và chưa biết gì về yêu cầu hay đặc điểm của ngành Thực tế cho thấy có những học sinh (HS) chỉ biết chọn ngành theo lời rủ rê hay độc lập dựa vào sở thích và đăng kí mà không cần biết mình có phù hợp với ngành đó hay không, khả năng kinh tế có đáp ứng được hay không Như vậy, công tác giáo dục hướng nghiệp (GDHN) là rất cần thiết cho HS,
mà thực tế công tác GDHN tại các trường trung học phổ thông (THPT) còn nhiều lơ
là, hạn chế, cần được hoàn thiện hơn
Theo chủ trương của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo là đào tạo theo nhu cầu xã hội, gắn liền lý thuyết với thực tiễn, tạo điều kiện cho HS tự tìm hiểu về thực trạng nghề nghiệp (NN), từ đó có cơ sở định hướng NN chính xác hơn cho tương lai, xây dựng sân chơi mang tính sáng tạo và thẩm mỹ cho HS, đồng thời
tổ chức thực hiện nội dung bộ môn hoạt động giáo dục trong nhà trường Nhưng đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam, GDHN và tư vấn hướng nghiệp (HN) vẫn còn chưa thật sự được chú trọng
Đề cập đến chất lượng giảng dạy nội dung HN, ông Lâm Văn Triệu – Phó hiệu trưởng trường THPT chuyên Lê Hồng Phong cho biết: “Chất lượng giảng dạy của mỗi tiết học, của mỗi giáo viên (GV) không đồng đều Chẳng hạn như chủ nhiệm là
GV môn khoa học tự nhiên thì tư vấn cho HS các ngành nghề về khoa học xã hội sẽ không sôi nổi bằng những GV của chính ngành học đó và ngược lại, hoặc có thầy
cô đầu tư nhiều công sức cho bài giảng, có thầy cô thì hờ hợt Nhưng chúng tôi cũng phải chấp nhận vì đó đâu phải chuyên môn của họ” Vì là môn học không đánh giá qua thang điểm nên GV và HS rất thờ ơ Chỉ HS lớp 12 may ra quan tâm
Đa số GV công nghệ (CN) khi được hỏi đều thẳng thắng: “Nhà trường phân công thì phải thực hiện chứ thật ra chúng tôi chẳng có ham thích giảng dạy nên cũng khó lòng thu hút HS Đó là chưa kể đến phải lo cho bộ môn chính của mình đâu còn
mấy thời gian sưu tầm tìm hiểu tài liệu HN sinh động” (Trích Định hướng nghề nghiệp trên lý thuyết!, tác giả Bích Thanh - báo Thanh Niên ra ngày 19/3/2009)
Trang 16Theo ông Phạm Ngọc Thanh, Phó Giám đốc Sở Giáo Dục và Đào Tạo TP HCM, cho rằng, công tác HN ở trường phổ thông hiện nay chưa sâu tới từng đối tượng học sinh Thêm nữa, cách triển khai các hoạt động HN cũng không đa dạng Hiện con đường học nghề qua các môn văn hóa hầu như không được các nhà trường quan tâm thực hiện Các kênh khác như HN qua dạy học môn CN, nghề phổ thông,
tổ chức lao động sản xuất, ngoại khóa… chưa được thực hiện, hiệu quả giờ lên lớp của hoạt động HN thấp
Nhà trường phổ thông của chúng ta chưa chú ý tạo những điều kiện thuận lợi
để HS ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường được phát triển hứng thú, năng lực kỹ thuật chọn NN cho bản thân các em Các em HS rất ít hiểu biết về ngành nghề trong
xã hội, về phương hướng phát triển kinh tế đất nước Mà môn CN 10, 11, 12 cung cấp cho HS THPT nhiều kiến thức thực tế trong cuộc sống như: nông, lâm, ngư nghiệp, tạo lập doanh nghiệp, vẽ kỹ thuật, chế tạo cơ khí, động cơ đốt trong, kỹ thuật điện mà người học có thể vận dụng vào thực tiễn Do đó, môn CN có ý nghĩa quan trọng trong quá trình GDHN
Giáo dục cần những bước đột phá, phát triển đặc biệt là ở nội dung dạy, học và phương pháp dạy học để HS có thể định hướng NN trong tương lai Trong đó, môn
CN 10, 11, 12 – một môn khoa học ứng dụng nên nó góp phần không nhỏ đối với việc định hướng NN của HS Quá trình vận dụng kiến thức từ lý thuyết vào thực tiễn có tác dụng đến việc định hướng NN cho tương lai của HS Vì vậy quá trình dạy học phải làm sao để phát huy khả năng nhận thức và tư duy của HS, tạo cho HS tính năng động và tự giác, để sau khi rời ghế nhà trường các em có thể định hướng cho mình một nghề nuôi sống bản thân
Tuy nhiên, trong thực tế cho thấy việc giảng dạy môn CN còn mang nặng tính
lí thuyết, thụ động, và chưa phù hợp với yêu cầu xã hội Những nghiên cứu khoa học, khóa luận trước đây chủ yếu tập trung vào vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy môn CN như: Ứng dụng Công nghệ thông tin, áp dụng bài giảng điện tử, sử dụng video clip, dạy học theo phương pháp dự án, dạy học theo phương pháp thảo luận nhóm Việc kết hợp, lồng ghép để mở rộng nội dung kiến thức, nâng cao tầm quan trọng môn CN chưa được quan tâm nhiều Xuất phát từ lý do trên đã thôi thúc
Trang 17người nghiên cứu đi vào nghiên cứu đề tài: “Thiết kế và dạy thử nghiệm một số bài
giảng môn Công nghệ có lồng ghép nội dung Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông”
Đề tài sau khi hoàn thành sẽ giúp cho GV có được hướng mới trong việc dạy
học môn CN và giúp HS ở các trường THPT vừa học môn CN vừa có thể tiếp thu các kiến thức về GDHN từ đó có thể định hướng tốt hơn cho NN tương lai của mình Bởi thông qua môn học CN, ngoài việc tiếp thu kiến thức môn học, còn xây dựng cho HS phương pháp và tác phong làm việc của người lao động Bên cạnh đó
là việc phát hiện năng khiếu, tài năng của HS qua các giờ học, trên cơ sở đó tiến hành trợ giúp, tư vấn, phát hiện năng lực NN cho HS Đồng thời đề tài là nền tảng
để cải thiện công tác GDHN ở các trường THPT
1.2 Vấn đề nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Thiết kế một số bài giảng môn CN bậc THPT có lồng ghép với nội dung GDHN
- Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát ý kiến của HS về hiệu quả các tiết dạy thực nghiệm môn CN có lồng ghép nội dung GDHN
- Sử dụng bài giảng có lồng ghép nội dung GDHN để tổ chức dạy học môn CN
- Giúp HS THPT say mê, hứng thú trong quá trình học môn CN
- Đề xuất ý kiến nhằm cải thiện công tác GDHN và nâng cao hiệu quả giảng dạy môn CN ở trường THPT
Trang 181.4 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Việc thiết kế bài giảng môn CN có lồng ghép nội dung GDHN
được tiến hành như thế nào?
Câu hỏi 2: Quá trình dạy thực nghiệm môn CN có lồng ghép với nội dung
GDHN ở trường THPT có những thuận lợi và khó khăn gì?
Câu hỏi 3: Hiệu quả của việc sử dụng bài giảng môn CN có lồng ghép nội
dung GDHN vào quá trình dạy học ở trường THPT ra sao?
1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lí luận về công tác GDHN, nội dung môn
CN THPT, thiết kế và dạy thực nghiệm bài giảng môn CN
- Nhiệm vụ 2: Thiết kế bài giảng môn CN bậc THPT có lồng ghép với nội
dung GDHN và bảng câu hỏi khảo sát ý kiến HS cho các tiết dạy thực nghiệm
- Nhiệm vụ 3: Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra hiệu quả việc sử dụng các
bài giảng môn CN có lồng ghép nội dung GDHN ở trường THPT
- Nhiệm vụ 4: Đưa ra kết luận chung về hiệu quả sử dụng các bài giảng môn
CN có lồng ghép nội dung GDHN, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy môn CN và công tác GDHN ở trường THPT
1.6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nội dung GDHN được lồng ghép vào bài giảng môn
- Thời gian nghiên cứu: Trong thời gian từ tháng 9/2010 đến tháng 5/2011
- Địa điểm nghiên cứu: Trường THPT Võ Thị Sáu – Quận Bình Thạnh – TP.HCM
Trang 19- Người nghiên cứu chỉ tiến hành thiết kế 2 bài giảng môn CN10 và 2 bài giảng môn CN11 có lồng ghép nội dung GDHN Dạy thực nghiệm 1 tiết môn CN10
và 1 tiết môn CN11 ở trường THPT Võ Thị Sáu – Quận Bình Thạnh – TP.HCM
1.8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu liên quan để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài như: Các sách, báo, luận văn, tiểu luận…có liên quan
về lĩnh vực của công tác GDHN, trong việc dạy học môn CN,…Các tài liệu chuyên ngành phương pháp dạy học, lí luận dạy học,…
- Phương pháp thực nghiệm: Dạy thử nghiệm 2 bài giảng môn CN10 và CN11 tại các lớp 10 và 11 tại trường THPT Võ Thị Sáu – Quận Bình Thạnh – TP.HCM
- Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp bằng mắt ở lớp dạy, quan sát đoạn video quay lại tiết dạy những biểu hiện về hứng thú học tập của HS trong giờ học
- Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi: Giúp thu thập được những ý kiến khách quan và chủ quan của HS về hiệu quả của tiết dạy thực nghiệm môn CN có lồng ghép nội dung GDHN
- Phương pháp thống kê:
+ Phương pháp phân tích định lượng: Giúp tóm tắt và thống kê các ý kiến của
HS sau mỗi tiết dạy thực nghiệm
+ Phương pháp phân tích định tính: Sử dụng trong phân tích đoạn video bao gồm: Thái độ, cử chỉ, hoạt động,…của HS
1.9 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 5 chương và phần phụ lục như sau:
1.9.1 Chương 1: Giới thiệu
- Sơ lược về lí do chọn đề tài
- Giới thiệu sơ lược về vấn đề nghiên cứu:
+ Vấn đề nghiên cứu
+ Mục đích nghiên cứu
+ Câu hỏi nghiên cứu
+ Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Trang 20+ Phạm vi nghiên cứu
+ Phương pháp nghiên cứu
- Giới thiệu cấu trúc luận văn
- Kế hoạch nghiên cứu
1.9.2 Chương 2: Cơ sở lý luận
- Tóm tắt ưu và nhược điểm của các đề tài nghiên cứu trước đây
- Những lý thuyết nền tảng cơ bản mà người nghiên cứu dựa vào để đặt giả thuyết, tiên đoán, lý giải vấn đề…
1.9.3 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Mô tả những phương pháp nghiên cứu, phương pháp phân tích dữ liệu người nghiên cứu đã sử dụng khi làm khóa luận
- Mô tả những giai đoạn, công việc, hoạt động, thời gian tiến hành, cách thiết
kế bảng hỏi điều tra
- Mô tả đối tượng và cách chọn đối tượng để nghiên cứu
- Mô tả cách thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu
1.9.4 Chương 4: Phân tích
- Tường thuật, trình bày, phân tích giáo án, bài giảng, dữ liệu đã được thực hiện
- Nhận định về kết quả thu được qua việc nghiên cứu
1.9.5 Chương 5: Kết luận và kiến nghị
- Kết luận cho vấn đề nghiên cứu
- Đưa ra kiến nghị về vấn đề nghiên cứu
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 211.10 Kế hoạch nghiên cứu
Bảng 1.1 Kế hoạch nghiên cứu
STT THỜI GIAN HOẠT ĐỘNG THỰC
HIỆN
GHI CHÚ
1 1/9/2010 đến
7/9/2010
Chọn và đăng
ký đề tài nghiên cứu
NNC
2 8/9/2010 đến
30/9/2010
Thu thập tài liệu, viết đề cương
NNC
3 1/10/2010 đến
30/11/2010
Chỉnh sửa đề cương
NNC và GVHD
4 30/11/2010 đến
8/12/2010
Viết lại đề cương NNC
5 8/12/2010 đến
16/12/2010
Hoàn chỉnh đề cương và cơ sở
lí luận
NNC và GVHD
6 16/12/2010 đến
26/12/2010
Thiết kế giáo
án và lập bảng câu hỏi khảo sát
NNC và GVHD
7 10/1/2011 đến
15/3/2011
Tiến hành dạy thực nghiệm và khảo sát kết quả đạt được
NNC
8 15/3/2011 đến
31/3/2011
Thu thập, phân tích, tổng hợp các video clip, phiếu khảo sát
NNC
Trang 229 1/4/2011 đến
30/4/2011
Hoàn chỉnh khóa luận NNC
10 2/5/2011 đến
4/6/2011
Nộp khóa luận
và báo cáo NNC
Trang 23Chương 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN 2.1 Lược khảo lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây có một số bài báo cáo, nghiên cứu khoa học về các hoạt động tư vấn HN, về tầm quan trọng của môn CN đến việc định hướng NN cho
HS, đặc biệt là việc thiết kế và thử nghiệm dạy các bài giảng môn CN theo nhiều phương pháp mới, theo cách kết hợp với việc tiếp cận kiến thức thực tế… cho HS các trường THPT trên phương diện lí luận, thực trạng và các giải pháp như:
- Luận văn Thạc Sĩ Quản Lí Giáo Dục của Lê Hồng Minh thuộc viện nghiên
cứu phát triển giáo dục (2001) Một số giải pháp tổ chức hoạt động tư vấn HN cho thanh thiếu niên trên địa bàn TP.HCM Luận văn đã đưa ra các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả của công tác GDHN, các hình thức tổ chức HN như HN qua công tác tư vấn, lồng ghép vào dạy văn hóa,… cho cả học sinh THPT nói riêng và thanh thiếu niên nói chung Các hình thức này có thể áp dụng cho công tác GDHN trong
cả nước và đã thu được hiệu quả nhất định
- Nghiên cứu của Dương Diệu Hoa – Đại học Sư phạm Hà Nội (2005) Giáo dục lao động và HN trong quá trình lựa chọn NN của HS THPT Nghiên cứu này
nhằm đánh giá mức độ và hiệu quả của hình thức GDHN trong nhà trường THPT và nhu cầu cần trang bị kiến thức NN của HS THPT, những đề nghị của GV và HS về công tác GDHN Kết quả cho thấy các hình thức HN hiện nay ở các trường THPT chưa thực sự phong phú và không được tổ chức thường xuyên nên nhu cầu tìm hiểu ngành nghề của HS gặp nhiều khó khăn Chủ yếu thông tin mà HS nhận được là từ bên ngoài, ngoài GV
- Luận văn tốt nghiệp ĐH Nông Lâm của Trần Thị Mỹ Hằng (2006) Tìm hiểu thực trạng HN và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả HN ở một số trường THPT Quận 9 - TP.HCM Nghiên cứu này đã trình bày những vấn đề cơ bản
trong công tác HN của một số trường THPT ở Quận 9 – TP.HCM và đưa ra một số định hướng NN nhằm nâng cao hiệu quả HN trong tương lai cho các trường này Kết quả nghiên cứu cho thấy việc HN ở các trường này chưa cao, nội dung chưa phong phú, hiệu quả công tác HN còn thấp và chưa được chú trọng
Trang 24- Luận văn tốt nghiệp Đại học Nông Lâm của Nguyễn Thanh Bằng (2007)
Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng GDHN ở một số trường THPT trên địa bàn Quận Thủ Đức – TP HCM Kết quả nghiên cứu đưa ra thực trạng GDHN ở
trường THPT, công tác GDHN hiện nay có hai hình thức chính dạy môn GDHN cho HS khối 10 và dạy nghề phổ thông cho HS khối 11, 12 Đồng thời đề xuất một
số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả GDHN cho các trường THPT trên địa bàn Quận Thủ Đức TP.HCM
- Luận văn tốt nghiệp Đại học Nông Lâm của Võ Thị Thanh Thảo (2010) Tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của môn CN đến việc định hướng NN của HS một số trường trên địa bàn quận Thủ Đức – TP.HCM Đề tài đã nghiên cứu được mức ảnh hướng
của môn CN đến việc định hướng NN cho HS THPT Mức độ ảnh hưởng này là không cao vì các em chưa thực sự thích thú học môn CN, đặc biệt là HS khối 10 và
11
- Luận văn tốt nghiệp Đại học Nông Lâm của Nguyễn Thị Quyên (2009) Thiết
kế một số hoạt động HN qua việc giảng dạy môn CN10 Đề tài này bước đầu đưa
một số hoạt động HN vào bài giảng môn CN10 Tuy nhiên, hiệu quả của việc thiết
kế hoạt động HN này là không cao… Người nghiên cứu chỉ tiến hành nhận định, thống kê kết quả dạy thử nghiệm theo phương pháp phân tích định tính, chủ quan bằng việc quan sát trực tiếp và thông qua video clip quay lại, chưa có sử dụng phiếu khảo sát thu thập ý kiến khách quan từ GV và HS Người nghiên cứu chưa xác định được cần phải sử dụng các phương pháp dạy học nào để đạt được hiệu quả cao nhất Nội dung nghiên cứu chỉ giới hạn ở môn CN10
- Luận văn tốt nghiệp Đại học Nông Lâm của Trịnh Thị Đào (2009) Thiết kế một số bài giảng CN10 theo hướng giúp HS ứng dụng kiến thức sinh, hóa Đề tài
này nhằm giúp HS vận dụng các kiến thức sinh, hóa trong việc học môn CN10
- Luận văn tốt nghiệp Đại học Nông Lâm của Lê Thị Thìn (2010) Thiết kế một
số giáo án môn CN bậc THPT theo hướng tiếp cận thực tế Đề tài là một hướng đi
mới trong việc giảng dạy môn CN, giúp học sinh dễ dàng tiếp thu nội dung kiến thức môn CN Tuy nhiên, hướng dạy này chỉ đạt được hiệu quả cao cho việc dạy
Trang 25môn CN10 ở vùng nông thôn khi các em HS được tiếp xúc với các lĩnh vực nông nghiệp Đối với môn CN11, CN12 thì hiệu quả đạt được là không cao
Trên cơ sở những thành quả của các công trình nghiên cứu trước đây, người nghiên cứu nhận thấy vấn đề thiết kế bài giảng môn CN bậc THPT có lồng ghép với nội dung GDHN chưa được nghiên cứu nhiều, chưa được quan tâm sâu sắc và áp dụng vào việc giảng dạy môn CN ở các trường THPT Do đó, người nghiên cứu tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Thiết kế và dạy thử nghiệm một số bài giảng môn Công
nghệ có lồng ghép nội dung Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông” nhằm giúp GV có một hướng mới trong việc giảng dạy môn CN, nâng cao
hơn hiệu quả dạy học Giúp HS thích thú hơn với quá trình học môn CN, đồng thời
HS có thể định hướng cho mình một ngành nghề trong tương lai Những công trình nghiên cứu trên là cơ sở, nền tảng lí luận để người nghiên cứu tham khảo, phát huy
và xây dựng đề tài nghiên cứu của mình được hoàn thiện hơn
2.2 Tổng quan về hướng nghiệp
2.2.1 Khái niệm hướng nghiệp
Thuật ngữ HN được xác định:
- Theo Châu Kim Lang (2002): “HN là công việc của nhà trường, gia đình và
xã hội giúp HS tìm hiểu khái quát cơ cấu nền kinh tế quốc dân, tìm hiểu các ngành nghề chủ yếu của đất nước, đặc biệt là các nghề địa phương; từ đó phát triển hứng thú và năng lực đối với một dạng lao động nhất định; hướng dẫn cho HS lựa chọn
có ý thức NN, hướng học tập về NN HN là hình thức giám định lao động cho HS nhằm điều chỉnh động cơ, hứng thú NN của cá nhân cho phù hợp với yêu cầu phát triển ngành nghề trong xã hội”
Theo Hồ Bá Thâm (2008): “HN không chỉ là đơn giản cung cấp thông tin mà phải chỉ ra được sự phát triển tất yếu của cá nhân trong tương quan với NN của người đó và với xã hội”
- Theo Từ điển Tiếng Việt, HN là: “Thi hành những biện pháp nhằm củng cố đảm bảo sự phân bố tối ưu (có chú ý đến năng khiếu, năng lực, thể lực) nhân dân theo ngành và theo loại lao động” hoặc được hiểu với nghĩa “Giúp đỡ lựa chọn đúng ngành nghề”
Trang 26Theo Dương Diệu Hoa (2005) thì định hướng NN được hiểu là hệ thống biện pháp tác động của xã hội (gia đình, nhà trường, xã hội) đến nhận thức, thái độ và hành vi lựa chọn nghề và trường đào tạo nghề của thanh niên Kết quả làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi chọn nghề (chọn trường học) của đối tượng theo chiều hướng phù hợp giữa sự lựa chọn của cá nhân với các yêu cầu của nghề được chọn Qua đó đảm bảo lợi ích tối đa của cá nhân và xã hội, khai thác và sử dụng triệt để khả năng, tiềm năng và ưu thế của cá nhân trong việc hành nghề trong suốt cuộc đời
và đảm bảo sự khai thác hợp lý nguồn nhân lực trong sự phát triển kinh tế của xã hội Hiểu theo nghĩa rộng hơn, tức là không chỉ tác động vào nhận thức của cá nhân đối với nghề định chọn mà còn làm cho cá nhân đó hiểu hệ giá trị của nghề, hình thành hứng thú, say mê nghề và tâm nguyện cống hiến cuộc đời cho nghề đã chọn
- Theo TS Võ Thị Xuân, HN là quá trình giáo dục nhằm giúp cho cá nhân tự hiểu biết về năng lực và sở thích của bản thân để lựa chọn một nghề thích hợp và chuẩn bị học nghề đó
- Theo nhà chuyên môn Phạm Tất Dong và Ctv (2006), GDHN là một hệ thống các biện pháp giáo dục nhằm chuẩn bị cho HS sớm có ý thức chọn ngành nghề với sự phân công lao động xã hội ngay từ khi còn học ở trường THPT
Tóm lại: GDHN là một hoạt động giáo dục rất quan trọng, nhằm cung cấp cho
HS những hiểu biết cơ bản về ngành nghề, cơ cấu lao động,… để HS lựa chọn hướng phát triển, lựa chọn nghề phù hợp với nguyện vọng của cá nhân, năng lực bản thân và phù hợp với nhu cầu xã hội
2.2.2 Nhiệm vụ của công tác hướng nghiệp
2.2.2.1 Giáo dục thái độ lao động và ý thức đúng đắn đối với nghề nghiệp
Theo Lê Hồng Minh (2003), hứng thú NN, lí tưởng NN phải được xây dựng trên cơ sở giáo dục thái độ đúng đắn đối với lao động Chỉ khi có thái độ đúng đắn đối với lao động HS mới có thái độ đúng đắn đối với NN Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác HN là giáo dục lòng yêu lao động, xây dựng niềm tin đối với lao động, bồi dưỡng thói quen lao động tốt như: Trật tự, ngăn nắp,
có tổ chức kỉ luật, tinh thần thi đua, tương trợ, trách nhiệm…Trên cơ sở đó giáo dục
HS có thái độ đúng đắn với NN, bồi dưỡng đạo đức NN Đồng thời giáo dục HS
Trang 27tình yêu quê hương đất nước, tình nguyện đi vào lĩnh vực sản xuất mà đất nước và địa phương đang cần
2.2.2.2 Giải thích, giới thiệu, tuyên truyền nghề
Một trong những nội dung cơ bản của công tác GDHN là thông tin về sự phát triển ngành nghề trong xã hội Giới thiệu và tuyên truyền nghề nhằm làm cho HS có hiểu biết khái quát về cơ cấu nền kinh tế quốc dân; vị trí, vai trò, nhiệm vụ của một
số ngành nghề chủ yếu và cơ bản của địa phương, đất nước; đặc điểm hoạt động của một số ngành nghề; những đòi hỏi của nghề đối với lao động (sức khỏe, trình độ văn hóa, năng lực, yêu cầu tâm sinh lí và những điều kiện cần tránh…); những nơi
và hệ thống đào tạo ngành nghề; triển vọng và quyền lợi của nghề…Vì lẽ đó, nhà trường phải nắm vững sự phát triển của địa phương, nhu cầu sử dụng và phát triển của ngành nghề, đòi hỏi của nghề…Trên cơ sở đó cung cấp cho HS những thông tin tương đối chính xác về các yêu cầu sử dụng đội ngũ
Theo Lê Hồng Minh (2003), giải thích, giới thiệu, tuyên truyền nghề cần chú ý các nguyên tắc sau:
- Định hướng chú ý của HS vào ngành nghề mà nhà nước, địa phương đang cần
- Kích thích HS tự giác tìm hiểu ngành nghề trong xã hội
- Kết hợp chặt chẽ với kế hoạch phát triển kinh tế, nhu cầu sử dụng nhân lực của địa phương
2.2.2.3 Tổ chức cho học sinh làm quen, thực tập với một số nghề cơ bản, nghề truyền thống của địa phương
Theo Lê Hồng Minh (2003), thông tin nghề chưa đủ để mỗi HS tự khẳng định chắc chắn hứng thú NN mà còn phải tổ chức cho HS làm quen và lao động trong nghề nhằm tạo điều kiện cho HS “thử sức” trong hành động nghề Nhờ đó, HS tự đánh giá năng lực của bản thân, biểu lộ hứng thú tiến tới ổn định hứng thú Vì vậy,
HN trong nhà trường THPT đòi hỏi phải tổ chức lao động sản xuất cho HS
Thực tế chứng tỏ rằng hứng thú NN của HS biến động theo lứa tuổi và thường
ổn định ở những lớp cuối cấp THPT Do đó, đối với HS THPT tham gia lao động
NN là điều kiện quan trọng để phát triển hứng thú NN, năng lực NN
Trang 282.2.2.4 Hướng dẫn cho học sinh đi vào những nghề, những nơi đang cần nhiều lao động trẻ tuổi có văn hóa
Theo Lê Hồng Minh (2003), hứng thú NN là động lực thúc đẩy HS tiếp thu tri thức, tích lũy kinh nghiệm sản xuất nhằm vươn tới nghề có dự kiến lựa chọn Do
đó, công tác GDHN có nhiệm vụ nghiên cứu cá nhân về các mặt: Tâm lí, xu hướng, tính cách, năng lực, khí chất, nguyện vọng, sở trường… làm cơ sở cho điều chỉnh động cơ hứng thú NN và cho HS lời khuyên khi chọn nghề
Trong điều kiện hiện nay của nước ta, những ngành nghề cần phát triển như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, tiểu thủ công…là lĩnh vực sản xuất mà HS ít hứng thú Vì vậy, cần giáo dục động viên, hướng dẫn HS giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, tự nguyện đi vào những ngành nghề
mà nhà nước, địa phương đang cần là nhiệm vụ cực kì quan trọng Nhà trường THPT, chính quyền địa phương, các lực lượng xã hội, các cơ sở sản xuất, phụ huynh HS chú ý đúng mức đến nhiệm vụ này, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân công lao động xã hội
Động cơ, hứng thú NN không chỉ phụ thuộc vào tâm lí cá nhân mà còn phụ thuộc đáng kể vào mức độ HN
Trang 292.2.3 Cấu trúc của công tác giáo dục hướng nghiệp
Cấu trúc của công tác HN được Giáo sư K.K Platonov thể hiện qua mô hình tam giác HN như sau:
Giáo dục nghề và tuyên truyền nghề
Các nghề và Thị trường
đặc điểm của chúng lao động và xã hội
Tư vấn nghề Tuyển chọn
Nhân cách và năng lực cá nhân
Sơ đồ 2.1: Tam giác HN và các hình thức HN (K.K Platonov)
Theo sơ đồ trên, ta thấy công tác HN bao gồm:
- Việc giới thiệu nghề, đặc điểm và yêu cầu của chúng
- Việc giới thiệu nhu cầu về nghề nghiệp của xã hội (thị trường lao động xã hội)
- Làm cho học sinh thấy rõ đặc điểm nhân cách, đặc điểm năng lực cá nhân để chọn nghề cho phù hợp (Trích dẫn bởi Bùi Ngọc Oánh, 1996)
2.2.4 Các hình thức tổ chức giáo dục hướng nghiệp
2.2.4.1 Hướng nghiệp qua các môn học
Thông qua các môn học nhằm khai thác mối quan hệ giữa chúng với các ngành nghề là một trong những biện pháp HN rất quan trọng Quá trình đó làm cho nội dung bài giảng gắn với cuộc cuộc sống, mở rộng kiến thức NN của HS, kích thích
HS hăng say học tập, góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy và học
HN qua các môn học, trước hết phải gắng việc truyền thụ tri thức cơ bản của các môn học với công tác giáo dục tư tưởng chính trị, bồi dưỡng phẩm chất đạo
Trang 30đức, lí tưởng NN cho thanh niên Tùy vào nội dung giảng dạy, các môn học phải có trách nhiệm hướng vào yêu cầu này, đặc biệt là các môn khoa học xã hội
Qua các môn học gắng việc truyền thụ tri thức cơ bản với việc giới thiệu các ngành nghề trong xã hội, làm cho HS có hiểu biết khái quát về cơ cấu của nền kinh
tế quốc dân HN qua các môn học đòi hỏi GV bộ môn phải thực hiện nghiêm chỉnh những tiết thực hành và tổ chức cho HS tham gia sản xuất Ý nghĩa HN qua các giờ thực hành và tham quan là ở chỗ rèn luyện kĩ năng thực hành làm cơ sở cho việc học nghề, sử dụng công cụ, làm quen tiếp xúc với nghề, tìm hiểu hoạt động sản xuất địa phương…
Tóm lại: HN qua các môn học trước hết phải dạy tốt văn hóa, khoa học cơ bản làm cho HS có những hiểu biết chắc chắn về những sự kiện, khái niệm, quy luật phát triển tư duy, có kĩ năng thực hành, có hiểu biết sơ bộ về ngành chủ yếu, nghề
cơ bản của đất nước liên quan trực tiếp tới các môn học và có ý thức sẵn sàng tham gia lao động sản xuất sau khi tốt nghiệp
2.2.4.2 Hướng nghiệp qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp
Để đảm bảo mục đích, nội dung của các môn học nên việc giới thiệu NN cho
HS thông qua các bài học và lao động sản xuất chỉ có thể kết hợp trong quá trình dạy những chương, bài có liên quan trực tiếp với các ngành nghề và việc thông tin
về nghề không thể kéo dài làm phân tán nội dung học chính Do đó, có các buổi sinh hoạt HN giới thiệu nghề cho HS sâu hơn và có hệ thống nhằm làm cho HS có hiểu biết về cơ cấu của nền kinh tế quốc dân, tổ chức sản xuất địa phương, vị trí, vai trò, nhiệm vụ của các ngành chủ yếu và nghề cơ bản của đất nước Trên cơ sở đó, hướng dẫn HS lựa chọn hướng học tập và NN phù hợp với năng lực cá nhân và đáp ứng những yêu cầu xã hội
HN là những giờ học chính khóa, theo quy định của thông tư 31 của Bộ Giáo Dục, các buổi sinh hoạt HN được tổ chức một buổi trong tháng, thời gian sinh hoạt
HN vào các giờ lao động Các buổi sinh hoạt HN được tiến hành từ lớp 8 đến lớp
12
Trang 312.2.4.3 Hướng nghiệp qua các hoạt động ngoại khóa
Theo Lê Hồng Minh (2003), hoạt động ngoại khóa phục vụ HN bao gồm những hình thức sau: Tổ chức hoạt động ngoại khóa bộ môn (sinh học, vật lí, hóa học, công nghệ…), tham quan sản xuất, tọa đàm nghề nghiệp Mỗi hình thức được tổ chức tốt có tác dụng giới thiệu nghề, phát triển hứng thú NN, hướng dẫn HS tìm hiểu ngành nghề, làm quen với các hoạt động lao động khác Trong các hình thức trên xây dựng và sử dụng phòng HN có tác dụng tích cực nhất Phòng HN trong nhà trường THPT có nhiệm vụ giáo dục thái độ đúng đắn đối với lao động, đối với NN, cung cấp cho HS những tri thức cần thiết và tối thiểu của một ngành nghề ở địa phương Phát triển hứng thú NN và tổ chức cho HS làm quen với lao động sản xuất Tóm lại: Các biện pháp HN trên được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau sẽ góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện, định hướng phần lớn số HS ra trường vào khu vực sản xuất tập thể và gia đình, chuẩn bị tích cực cho đào tạo nhân tài đất nước
2.2.5 Thực trạng công tác giáo dục hướng nghiệp hiện nay
Theo ông Hoàng Ngọc Vinh, Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2009), công tác HN trong những năm qua được thực hiện thông qua các hình thức dạy nghề trong trường phổ thông, qua hoạt động lao động sản xuất, qua giới thiệu các ngành nghề, qua hoạt động ngoại khóa Đồng thời Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ban hành các quy định khuyến khích HS tham gia học nghề phổ thông để được cộng điểm khi xét công nhận tốt nghiệp Trung học cơ sở, tuyển sinh THPT và thi tốt nghiệp THPT
Cho đến nay, cả nước có hơn 256 trung tâm kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp trên địa bàn cấp huyện, góp phần giáo dục định hướng NN và đào tạo nghề cho HS, đặc biệt là những HS ở vùng miền núi
Bên cạnh đó, bước đầu đã hình thành chính sách và cơ chế liên thông trong Giáo Dục – Đào Tạo, góp phần khuyến khích thanh niên vào học trong các cơ sở giáo dục NN
Tuy nhiên, còn có rất nhiều mặt chưa được trong công tác này Một số chính sách ban hành, khi được thể chế hoá thành các văn bản quy phạm pháp luật còn
Trang 32thiếu sự nghiên cứu thực tiễn, nặng về tư tưởng chủ quan duy ý chí khi đưa ra quyết định Ví dụ, việc xoá bỏ mô hình trường trung học nghề, trong khi đây là mô hình rất tốt, nhiều nơi áp dụng để phân luồng HS tốt nghiệp Trung học cơ sở như Hàn Quốc, Đài Loan…trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa đất nước
Thực trạng phân luồng HS sau THPT cho thấy, HS tốt nghiệp THPT thường tham dự thi đại học, cao đẳng nếu không đỗ những trường này mới quay sang học trung cấp chuyên nghiệp hoặc đi học nghề, một phần lớn còn lại có thể ở nhà ôn tập
và chờ để năm sau thi lại hoặc đi làm Có năm, nếu cộng cả số HS tốt nghiệp THPT chưa tiếp tục học với số HS bỏ học và trượt tốt nghiệp hằng năm thì con số này lên tới hàng trăm nghìn HS Nếu những HS này được học nghề từ sớm thì hiệu quả kinh
tế cao hơn nhiều
Nguyên nhân đầu tiên dẫn tới tình trạng phân luồng HS sau tốt nghiệp Trung học cơ sở hoặc THPT còn nhiều hạn chế như vậy là do yếu kém của công tác GDHN trong nhà trường phổ thông Những yếu kém này lại bắt nguồn từ những nguyên nhân khác như thiếu đội ngũ chuyên gia am hiểu về tâm lý học NN, thông tin thị trường lao động, am hiểu về thực tế ngành nghề xã hội, kinh tế học lao động; chương trình GDHN dạy nghề phổ thông được thiết kế thiếu kết cấu liền mạch phát triển con đường học nghề cho các em, tạo điều kiện liên thông ở cấp sau THPT Bên cạnh đó, động cơ tham gia các lớp học nghề của HS có những lệch lạc, nhiều trường chưa quan tâm đến chất lượng công tác GDHN, thiếu sự phối hợp với các doanh nghiệp trên địa bàn để đẩy mạnh GDHN
Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân đã có ý kiến chỉ đạo công tác nâng cao nhận thức có vai trò rất quan trọng trong việc HN cho HS Để làm tốt công tác này, cần phải có sự vào cuộc của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, gia đình, doanh nghiệp và phương tiện thông tin đại chúng
Trong công tác tuyên truyền làm thay đổi nhận thức của thanh niên đối với học nghề, Trung Ương Đoàn thanh niên cần là lực lượng nòng cốt, triển khai đề án “Hỗ trợ học nghề và tạo việc làm cho thanh niên” đã được Thủ tướng phê duyệt
Bên cạnh đó, cần phải đổi mới công tác giáo dục và tư vấn HN trong nhà trường phổ thông Cụ thể, thực hiện đào tạo và tuyển dụng vị trí cán bộ theo ngành
Trang 33công tác xã hội trong trường THPT làm công tác GDHN và tư vấn NN Hạn chế giáo viên làm công tác GDHN không được đào tạo hoặc đào tạo sai chuyên ngành Cần đào tạo cán bộ GDHN tốt nghiệp ở trình độ đại học để làm việc trong các trường phổ thông, dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp và cao đẳng
Phát triển mô hình dạy chữ và dạy nghề kết hợp trên cơ sở nghiên cứu sát nhập các trung tâm giáo dục thường xuyên, kỹ thuật tổng hợp - HN, dạy nghề hoặc thành lập trung tâm mới ở những huyện chưa có trung tâm nào Ưu tiên phát triển các trung tâm ở 62 huyện nghèo trong cả nước
Việc đổi mới chương trình, giáo trình và phương pháp GDHN cần được tiến hành khẩn trương trên cơ sở nghiên cứu đánh giá của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm của quốc gia khác
Theo ông Nguyễn Văn Học, Phó Giám đốc Trung tâm hỗ trợ đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo nhận định Khi học xong phổ thông, khả năng thực hành kỹ thuật và vận dụng kiến thức, kỹ năng nghề vào thực tế sản xuất, đời sống HS nhìn chung là yếu, đa số HS chưa có tâm thế sẵn sàng tham gia vào cuộc sống lao động nên khả năng sử dụng nghề đã học để tạo dựng cuộc sống, tìm công ăn việc làm rất hạn chế Hầu hết HS không tự đánh giá được năng lực của mình, không biết rõ mình thích môn gì, nghề gì, câu hỏi học ban nào, trường nào, làm nghề gì… thường là những câu hỏi gay cấn, khó giải đáp nhất Ngoài ra, một thông tin cũng đáng lưu ý cho hoạt động HN, theo khảo sát của Vụ Giáo dục chuyên nghiệp, có đến 85,4% các ý kiến đồng ý với nhận xét: Việc làm có sẵn là nguyên nhân ảnh hưởng tới phân luồng giáo dục Như vậy, công tác HN cần nắm bắt yếu tố này để HN cho HS
Theo Lê Hồng Minh (2003), hệ thống HN và sắp xếp việc làm có ba phần tử quan hệ với nhau đó là những người tìm việc làm (cung lao động: HS, sinh viên…), các việc làm (cầu lao động: cơ quan, công ty, xí nghiệp…) và các trung gian việc làm (gắn kết cung và cầu lại với nhau: trung tâm giới thiệu việc làm, tư vấn việc làm, HN…) Như vậy, thực tế đã chứng minh mối quan hệ này là đúng
Theo Nguyễn Đức Trí (2006), ở nước ta hiện nay đang tồn tại tình trạng “cầu việc làm” lớn hơn “cung việc làm” và “cầu học” lớn hơn “cung học” với tình trạng
Trang 34này đã dẫn đến tình trạng chất lượng cũng như hiệu quả đào tạo còn thấp Đây là vấn đề cấp bách cần có giải pháp đồng bộ giải quyết nhằm năng cao chất lượng nguồn lao động
Theo Phạm Mạnh Hà (2008) thì GDHN là một hoạt động tuy không còn mới
mẻ đối với nhà trường phổ thông, nhưng trong những năm qua việc thực hiện GDHN chưa thực sự hiệu quả, chưa thực sự đáp ứng được mục tiêu giáo dục Đa số các trường vẫn xem công tác này là phụ, không quan tâm sâu sắc gây nên sự chênh lệch cả về thời gian lẫn nội dung so với các môn văn hóa khác
Theo Nguyễn Thị Hằng (2004): “Sinh hoạt HN là con đường chủ yếu để thực hiện hoạt động GDHN ở trường THPT Song trên thực tế nội dung HN còn nghèo nàn, đơn điệu, chưa cập nhật dẫn đến chưa đáp ứng được nhu cầu hiểu biết của HS
về NN HN qua dạy các môn văn hóa là con đường có nhiều thuận lợi nhưng chưa được nhận thức đầy đủ và đồng bộ nên chất lượng hoạt động còn nhiều hạn chế
2.2.6 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác hướng nghiệp
Thời gian gần đây, HN được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm thể hiện qua các văn bản như sau:
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX trong chiến lược phát triển kinh tế
xã hội 2001-2010 đã đề ra: “Điều chỉnh hợp lí cơ cấu bậc học, cơ cấu ngành nghề,
cơ cấu vùng trong hệ thống GD và đào tạo phù hợp với yêu cầu học tập của nhân dân, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và các mục tiêu của chiến lược Chú trọng GDHN thiết thực trong trường THPT Mở rộng đào tạo công nhân, kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ theo nhiều trình độ…”
Nghị quyết hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX, về một số chủ trương, chính sách, giải pháp lớn nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng: “Khẩn trương triển khai đề án phát triển, nâng cao đội ngũ GV và cán bộ quản lí giáo dục; cơ cấu lại hệ thống đào tạo, hoàn thiện hệ thống đào tạo thực hành định hướng NN Khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, tạo cơ chế và điều kiện để các trường Đại học và các trường Dạy nghề chuyển mạnh sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm…”
Trang 35Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 (ban hành theo Quyết định số 201/2001/QĐ-TTG ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ) : “Giáo dục phổ thông: thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mỹ Cung cấp học vấn phổ thông cơ bản, hệ thống và có tính HN; tiếp cận trình độ các nước phát triển trong khu vực Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo; lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống…”
Ngoài ra vấn đề này cũng được xã hội quan tâm thể hiện qua các báo có dành trang HN cho các em HS chuẩn bị thi vào các trường Đại học, Cao đẳng; đài truyền hình TP.HCM cũng có chương trình HN, các trung tâm tư vấn HN, việc làm lần lượt xuất hiện ở TP.HCM…
2.3 Quá trình dạy học
2.3.1 Khái niệm quá trình dạy học
Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2005), “Quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng giữa 2 thành tố cơ bản trong quá trình dạy học – hoạt động dạy và hoạt động học”
Theo các tác giả Nguyễn An, Bùi Kim Phượng, Nguyễn Thị Bích, Ngô Đình Qua (1996): Quá trình dạy và học là sự tác động qua lại có chủ định được thay đổi một cách có trình tự giữa GV và HS nhằm thực hiện các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục cộng sản chủ nghĩa và phát triển toàn diện cho HS
Theo Lê Phước Lộc (2002), quá trình dạy học là sự phối hợp thống nhất các hoạt động chỉ đạo của thầy với hoạt động lĩnh hội, tự giác, tích cực, tự lực sáng tạo của trò nhằm đạt được mục đích dạy học
Như vậy, dạy và học là một quá trình diễn ra đồng thời 2 hoạt động chủ yếu: hoạt động dạy và hoạt động học Hoạt động dạy nhằm tạo ra tâm lí mới cho học, HS
do đó nó vận hành theo cơ chế sáng tạo, còn hoạt động học thì vận hành theo cơ chế lĩnh hội Hay nói cách khác, người dạy có chức năng tổ chức, điều khiển Người học
có chức năng hành động tích cực nhằm tạo ra sự phát triển tâm lí cho chính bản thân mình
Trang 362.3.2 Cơ cấu của quá trình dạy học
(Ghi chú: PP: phương pháp, PT: phương tiện, HTTC: hình thức tổ chức)
Sơ đồ 2.2 Mối quan hệ giữa các thành tố trong quá trình dạy học (Nguyễn An,
1996) Chu kỳ cụ thể của quá trình dạy học bắt đầu từ việc xác định mục tiêu bài học Điều này dựa trên yêu cầu của chương trình môn học và có căn cứ vào đặc điểm, trình độ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển hiện có của HS cũng như khả năng sư phạm của GV cùng với sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học Cũng theo tác giả, mục tiêu bài học là do xã hội quy định và được phản ánh vào nội dung của chương trình môn học
Căn cứ vào nhiệm vụ, mục tiêu đặt ra, GV sẽ cụ thể hóa nội dung từng bài học bằng cách thông qua các phương pháp, phương tiện và các hình thức tổ chức dạy học nhằm giúp HS lĩnh hội những vốn tri thức, kinh nghiệm xã hội rộng lớn của loài người
Song song với các hoạt động này, GV còn thực hiện các biện pháp kích thích
sự hứng thú, nhu cầu muốn giải quyết các nhiệm vụ học tập và giáo dục của HS Điều này đã tạo ra động cơ học tập tích cực ở HS
Thông qua quá trình kiểm tra của GV và tự HS kiểm tra nhằm đánh giá kết quả, GV và HS phát hiện ra nguyên nhân của những sai lệch, đề xuất hướng giải quyết nhằm sửa chữa những sai lệch về kiến thức và kỹ năng đã phát hiện Cụ thể
cơ
Kiểm tra
Điều tiết
Trang 37là, GV sẽ có sự điều tiết về nội dung, phương pháp dạy học,… và HS có sự điều chỉnh về phương pháp, thao tác, thái độ học tập của bản thân Tất cả những điều này
đã làm cho quá trình dạy học ngày càng được hoàn thiện hơn
2.3.3 Chức năng và nguyên tắc của quá trình dạy học
Theo Phan Trọng Ngọ (1999), các chức năng trong quá trình dạy học:
- Chức năng định hướng gồm việc xác định mục đích, mục tiêu dạy học và định hướng hành động học của HS trong quá trình dạy học cụ thể
- Chức năng ủy thác: GV phải tạo ra môi trường học tập để HS có thể tiếp nhận được trong các hình thức và tình huống học tập khác nhau, với các phương pháp và phương tiện phù hợp
- Chức năng kích thích động viên làm tăng hứng thú cho HS qua các hành động trao đổi, lắng nghe, chia sẻ, lôi cuốn HS
- Chức năng trợ giúp HS trong thời điểm ở một giới hạn nhất định khi học sinh không thể tự mình giải quyết mà phải có hướng dẫn của GV
Như vậy, trong quá trình dạy học GV cần phải thực hiện đầy đủ tất cả những chức năng trên thì tiết học mới thành công, HS có thể học tập tốt nhất
Theo Đặng Vũ Hoạt (1995), các nguyên tắc dạy học chỉ đạo việc lựa chọn và phối hợp nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học Các nguyên tắc dạy học bao gồm:
- Nguyên tắc thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong dạy học
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng trong dạy học
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vững chắc của tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo và tính mềm dẻo của tư duy trong dạy học
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và vừa sức riêng trong dạy học
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của người dạy và vai trò tự giác, tích cực, độc lập của người học
Trang 38Như vậy, có thể hiểu nguyên tắc dạy học là những luận điểm đặc trưng cho phương thức vận dụng những quy luật dạy học phù hợp với những mục đích giáo dục và trí dục
2.4 Những tiêu chuẩn khi thực hiện thiết kế bài giảng
Khi thiết kế bài giảng ở bất kì môn học nào thì việc thiết kế cũng phải đảm bảo thiết kế được các yếu tố sau:
2.4.1 Mục tiêu dạy học
Theo Trần Thị Thu (2005), khi người GV thiết kế bài giảng phải nêu rõ mục tiệu của bài học đồng thời phải mô tả chi tiết các mục tiêu đó, nêu rõ yêu cầu đối với GV và HS cần phải đạt tới những mục tiêu đã đề ra Như vậy theo ý kiến của tác giả thì việc thiết kế mục tiêu bài học là do GV tự đặt ra và yêu cầu HS phải đạt tới những mục tiêu đó Có thể thấy rằng đây là cách thiết kế chi tiết và dễ hiểu trong điều kiện hạn hẹp về thời gian
Còn theo Đặng Thành Hưng (2005) lại cho rằng: “Cá nhân người học thường không bao giờ đề ra mục tiêu bài học cho mình trùng khớp với mục tiêu mà GV thiết kế” Theo ý kiến của tác giả thì muốn thiết kế được nội dung bài học phù hợp cho cả GV và HS thì nhiệm vụ của người thiết kế là phải hiểu mục đích học tập của
HS để chuyển đổi nhịp nhàng giữa mục tiêu học tập của HS với mục tiêu mà GV thiết kế Có như vậy thì trong quá trình dạy và học của GV và HS mới thực sự đạt hiệu quả Đặc biệt khi thiết kế bài giảng có lồng ghép nội dung HN thì người thiết
kế cần phải tìm hiểu xem mục đích HN nào sẽ phù hợp với HS từ đó đưa ra mục tiêu học tập cần đạt tới Đối với bài học có nội dung HN thì mục tiêu đặt ra với GV quan trọng hơn với HS vì người GV cung cấp những kiến thức mới, thực tế nên không thể ép buộc HS phải hiểu toàn bộ
Theo Đặng Thành Hưng (2005), một số quy tắc cần tuân thủ khi thiết kế mục tiêu dạy học:
- Đảm bảo tính toàn vẹn của bài học như khái niệm, định nghĩa, quy trình,…
- Bao quát đủ 3 lĩnh vực chung của học tập đó là:
+ Nhận thức
+ Tình cảm và khả năng biểu cảm
Trang 39+ Năng lực hoạt động thực tiễn
- Mục tiêu có chức năng chỉ đạo việc thiết kế những giai đoạn tiếp sau của bài học Theo Phạm Quỳnh Trang (2008), để thực hiện chức năng chỉ đạo, trong mục tiêu cần sử dụng các thuật ngữ, mệnh đề thích hợp để phát biểu như: Nhớ lại, phân tích, mô tả, giải thích, đánh giá, thực hiện, thể hiện ý thức, hoàn thành công việc,… Như vậy, với những yêu cầu của việc thiết kế mục tiêu học tập người GV có thể tự thiết kế từng mục tiêu cụ thể của từng bài học phù hợp với từng HS Tùy vào nội dung của mỗi môn học đều có cách thiết kế riêng sao cho mục tiêu học tập đơn giản mà hiệu quả nhất
2.4.2 Thiết kế nội dung bài học
Theo PGS.TS Đặng Thành Hưng, (Tạp chí Phát triển giáo dục, số 107/2005, trang 13 - 16), nội dung học tập theo nguyên tắc hoạt động được hiểu là hình thái đối tượng hoá của mục tiêu, tức là sự diễn đạt mục tiêu dưới hình thức các đối tượng hoạt động (nhận thức, giao tiếp, quản lí, vận động thể chất, lao động, nghệ thuật, chơi, quan hệ xã hội…) Nói chung, nội dung học tập là đối tượng của hoạt động học tập Nếu mục tiêu là ý thức trong đầu GV và trong chương trình giáo dục thì nội dung là tồn tại khách quan bên ngoài GV và chương trình giáo dục Trong văn bản chương trình hay ngôn ngữ của GV chỉ có sự mô tả nội dung mà thôi, chứ không có nội dung thực sự Nếu chỉ lĩnh hội được sự mô tả này thì đó chính là học vẹt, vì lĩnh hội nội dung sự mô tả nội dung hoàn toàn chưa phải là lĩnh hội nội dung,
và tất nhiên cũng chưa phải là học
Nội dung học tập của bài học được mô tả và thiết kế theo một số quy tắc:
- Chỉ rõ thực chất của quá trình, sự vật hay sự kiện từ những khía cạnh có thể
có của chúng: Hình thức, cấu trúc, logic, chức năng, thực thể, đặc điểm, dấu hiệu, hành vi, động lực, xu thế… Thí dụ: Tính chất của tam giác vuông; quá trình sinh trưởng của lúa; cấu tạo và hoạt động của động cơ 4 thì; định luật Ohm trong đoạn mạch; qui luật cảm ứng điện tử; tính diện tích hình cầu… Từ lâu trong SGK đã thể hiện rõ quy tắc này qua cách đặt tên Chương, Bài và các mục của bài học
- Tổ chức có hệ thống những thành phần của khái niệm, trong toàn thể mạng
khái niệm chứa nó Thí dụ: tính chất của tam giác vuông nằm trong mạng Tứ giác –
Trang 40Hình chữ nhật - Tam giác – Tam giác vuông Thông thường văn bản sách giáo khoa
và sách giáo viên cũng trình bày và mô tả khái niệm theo logic nhất định, chẳng hạn theo con đường quy nạp hoặc diễn dịch Nhưng dù theo logic nào thì vẫn phải động chạm đến mạng khái niệm Không thể lĩnh hội được các định nghĩa khái niệm nếu không lĩnh hội nó trong tổng thể những định nghĩa gần gũi thuộc mạng khái niệm
- Dự kiến được cấu trúc và tính chất của các hoạt động mà người học phải thực
hiện Nói cách khác, các hoạt động là môi trường bên ngoài chứa nội dung học tập Hoặc có thể hiểu: Nội dung học tập là đối tượng của các hoạt động của người học Cách mô tả nội dung cần gợi ra được cấu trúc, cơ cấu, tính chất và cường độ của các hoạt động, nhưng không nhất thiết phải ấn định các hoạt động một cách cứng nhắc
- Cần cố gắng quy chuyển các thành phần nội dung trừu tượng thành sự mô tả hành động hoặc kĩ năng hành vi, hoặc đối tượng cảm tính Điều này đã được các nhà khoa học, kĩ thuật phân tích rất chu đáo khi trình bày các giáo trình chuyên môn hoặc sách chuyên khảo Để làm điều này phải có kĩ năng sử dụng các mô hình, biểu trưng, đồ hoạ, sơ đồ… và biết lựa chọn kiểu loại, số lượng những công cụ như thế nào để mô tả càng cụ thể càng tốt
2.4.3 Thiết kế các hoạt động người học
Đối với người học cần thiết kế được các yêu cầu sau:
- Hoạt động tìm tòi – phát hiện: Đối với những thông tin GV đưa ra HS phải tìm ra nội dung theo yêu cầu có thể sử dụng sách, báo,…
- Hoạt động xử lí, biến đổi và phát triển sự kiện, vấn đề: Từ những phát hiện mới HS xử lí thông tin, đây chính là điểm xuất phát để phát triển quá trình tư duy, cảm nhận, suy luận và khái quát