1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU TÌNH HÌNH STRESS HỌC ĐƯỜNG TỪ ĐÓ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÕNG VÀ GIẢM STRESS Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

82 419 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu đã nghiên cứu và làm rõ stress trong học tập là sự tương tác đặc biệt giữa chủ thể học sinh với môi trường sống và học tập trong trường THPT..  Stress ở HS thường được

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM KHOA NGOẠI NGỮ- SƯ PHẠM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÌM HIỂU TÌNH HÌNH STRESS HỌC ĐƯỜNG

TỪ ĐÓ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÕNG VÀ GIẢM STRESS Ở HỌC SINH

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Ngành: SƯ PHẠM KỸ THUẬT CÔNG NÔNG NGHIỆP GVHD: HÀ THỊ NGỌC THƯƠNG

SVTH: DIỆP THỊ NHƯ PHỤNG MSSV: 07158120

Niên khóa: 2007- 2011

Tp.HCM, tháng 5/2011

Trang 2

Cảm ơn các em đã luôn ở bên chia sẽ và giúp đỡ chị những lúc khó khăn, vui buồn trong cuộc sống cũng như trong học tập

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô bộ môn Sư Phạm Kĩ Thuật đã tận tình giảng dạy cũng như giúp đỡ em trong học tập

Cảm ơn cô Hà Thị Ngọc Thương đã hướng dẫn và giúp em hoàn thành tốt đề tài Cảm ơn tập thể lớp DH07SK đã luôn ở bên giúp đỡ Phụng, đã cho Phụng nhiều

kỹ niệm đẹp về thời sinh viên đáng quý

Cảm ơn Ban Giám Hiệu, quí thầy cô, các phòng ban, thư viện trường Đại học Nông Lâm TP.HCM đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em học tập và làm việc tại trường

TP Hồ Chí Minh , ngày tháng năm 2011

Diệp Thị Như Phụng

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

1 Nội dung

2 Phương pháp nghiên cứu

3 Kết luận đề tài

…, ngày….tháng….năm… Giáo viên hướng dẫn

Ký tên

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

1 Nội dung

2 Phương pháp nghiên cứu

3 Kết luận đề tài

…, ngày….tháng….năm… Giáo viên phản biện

Ký tên

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CNH- HĐH: Công nghiệp hóa- hiện đại hóa THPT: Trung học phổ thông

HS: Học sinh GVHD: Giáo viên hướng dẫn SVTH: Sinh viên thực hiện NXB: Nhà xuất bản PGS.TS: Phó giáo sư Tiến sỹ TS: Tiến sỹ

F: Tần số NNC: Người nghiên cứu

Trang 6

TÓM TẮT

Xã hội ngày càng phát triển , áp lực lên mỗi người ngày càng tăng , nhất là đối với HS THPT Chính vì vậ y HS THPT rất dễ bị stress và nếu không được phòng và giãm stress kịp thời thì sẽ gây ra nhiều thiệt hại cho HS, gia đình, nhà trường và xã hội Vì vậy , ngườ i nghiên cứu thực hiê ̣n đề tài “ TÌM HIỂU TÌNH HÌNH STRESS HỌC ĐƯỜNG TỪ ĐÓ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ GIẢM STRESS CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG”, vớ i mục đích đề ra phương hướng giải tỏa và cách thức ngăn ngừa stress ở lứa tuổi HS, giúp quá trình giáo dục đạt hiệu quả và hoàn thiện hơn

Thời gian: tháng 9/2010 đến tháng 5/2011

Phương pháp nghiên cứu : Trong quá trình thực hiê ̣n đề tài người nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học sau : Phương pháp nghiên cứu tài liê ̣u , phương pháp so sánh, phương pháp điều tra khảo sát , phương pháp thống kê, xử lí số liê ̣u

Đề tài nghiên cứu đã nghiên cứu và làm rõ stress trong học tập là sự tương tác đặc biệt giữa chủ thể (học sinh) với môi trường sống và học tập trong trường THPT Trong đó, chủ thể nhận thức, đánh giá sự kiện (kích thích) từ môi trường (căng thẳng, nặng nhọc, sự nguy hiểm), và huy động nguồn lực ứng phó nhằm duy trì sự cân bằng, thích ứng với môi trường luôn thay đổi

Kết quả thu được:

 Hầu hết HS THPT đươ ̣c khảo sát đều bị stress với các mức đô ̣ khác nhau

 Nguyên nhân stress của HS THPT thường xoay quanh các vấn đề : Quan hệ với gia đình , học tập, lí tưởng nghề nghiệp tương lai , quan hê ̣ với ba ̣n bè , quan hê ̣ với thầy cô , sức khoẻ, giới tính… Và các em thườ ng giải quyết stress bằng cách thay đổi nhận thức, giải tỏa cảm xúc, thay đổi hoạt động cá nhân Nên sau khi giả i quyết stress các em chưa thật sự hài lòng , và một số rơi vào trạng thái sợ hãi và bế tắc

Trang 7

 Stress ở HS thường được biểu hiện bằng tâm trạng lo âu, bất an, khó tập trung suy nghĩ, dễ cáu, hay mệt mỏi, mất ngủ…

Đề tài nghiên cứu đã đưa ra được các giải pháp ứng phó với stress cho HS nhằm giúp HS có thể ứng phó tốt nhất với stress trong học tập Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu người nghiên cứu đã đưa ra các kết luận và kiến nghị cho các cơ sở đào tạo, gia đình, nhà trường, xã hội và HS nhằm hạn chế các nguyên nhân gây stress trong học tập nâng cao hiệu quả giáo dục-đào tạo trong nhà trường

Trang 8

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Mức độ stress ở học sinh THPT 31

Bảng 4.2: Nguyên nhân stress ở học sinh THPT 34

Bảng 4.3: Nguyên nhân stress trong học tập ở học sinh THPT 36

Bảng 4.4: Nguyên nhân stress trong môi trường gia đình ở học sinh THPT 37

Bảng 4.5: Nguyên nhân stress trong môi trường xã hội ở học sinh THPT 39

Bảng 4.6: Nguyên nhân stress ở bản thân của học sinh THPT 41

Bảng 4.7: Nhận thức của học sinh THPT về kỳ thi sắp diễn ra 43

Bảng 4.8: Ứng phó của học sinh THPT về kỳ thi sắp diễn ra 45

Bảng 4.9: Nhận thức của học sinh THPT về một ngày học tập và làm việc 47

Bảng 4.10: Nhận thức của học sinh THPT khi gặp khó khăn trong học tập 49

Bảng 4.11: Ảnh hưởng của stress đến đời sống và học tập ở học sinh THPT 50

Bảng 4.12: Nhận thức của học sinh THPT về tầm quan trọng của việc phòng và giảm stress 52

Bảng 4.13: Thực tế về phòng và giảm stress cho học sinh tại trường THPT hiện nay 54

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1: Mức độ stress ở học sinh THPT hiện nay 31 Biểu đồ 4.2: So sánh mức độ stress ở học sinh THPT Thủ Đức và Tôn Đức Thắng 32 Biểu đồ 4.3: So sánh mức độ stress giữa nam và nữ học sinh THPT 33 Biểu đồ 4.4: So sánh nguyên nhân stress ở học sinh THPT Thủ Đức và Tôn Đức Thắng 35 Biểu đồ 4.5: So sánh nguyên nhân stress trong học tập ở học sinh THPT Thủ Đức

và Tôn Đức Thắng 36 Biểu đồ 4.6: So sánh nguyên nhân stress trong môi trường gia đình ở học sinh THPT Thủ Đức và Tôn Đức Thắng 38 Biểu đồ 4.7: So sánh nguyên nhân stress trong môi trường xã hội ở học sinh THPT Thủ Đức và Tôn Đức Thắng 40 Biểu đồ 4.8: So sánh nguyên nhân stress trong bản thân của học sinh THPT Thủ Đức và Tôn Đức Thắng 41 Biểu đồ 4.9: So sánh nhận thức về kì thi sắp diễn ra của học sinh THPT Thủ Đức

và Tôn Đức Thắng 43 Biểu đồ 4.10: So sánh hành vi ứng phó với kì thi sắp diễn ra của học sinh THPT Thủ Đức và Tôn Đức Thắng 46 Biểu đồ 4.11: So sánh hành nhận thức về một ngày học tập và làm việc của học sinh THPT Thủ Đức và Tôn Đức Thắng 47 Biểu đồ 4.12: So sánh hành nhận thức của học sinh khi gặp khó khăn trong học tập ở học sinh THPT Thủ Đức và Tôn Đức Thắng 49 Biểu đồ 4.13: So sánh sự ảnh hưởng của stress đến đời sống và học tập ở học sinh THPT Thủ Đức và Tôn Đức Thắng 51 Biểu đồ 4.14: So sánh nhận thức của học sinh THPT Thủ Đức và Tôn Đức Thắng

về tầm quan trọng của việc phòng và giảm stress cho học sinh THPT 53 Biểu đồ 4.15: So sánh thực tế việc phòng và giảm stress cho học sinh tại trường THPT Thủ Đức và Tôn Đức Thắng hiện nay 54

Trang 10

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục từ viết tắt iv

Tóm tắt v

Danh sách các bảng vii

Danh sách các biểu đồ viii

Mục lục ix

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lí do chọn đề tài 1

1.2 Mục đích của đề tài nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Khách thể nghiên cứu 3

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

1.6 Giả thuyết nghiên cứu 4

1.7 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu 4

1.8 Hướng phát triển của đề tài 4

1.9 Cấu trúc luận văn 5

1.10 Kế hoạch nghiên cứu 6

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN 7

2.1 Lược khảo những nghiên cứu trước đây 7

2.2 Định nghĩa 10

2.2.1 Định nghĩa stress? 10

Trang 11

2.2.2 Định nghĩa học sinh? 13

2.2.3 Định nghĩa ứng phó? 13

2.3 Nghiên cứu về stress dưới góc độ tâm lý học 14

2.3.1 Nguồn gốc và các giai đoạn của stress 14

2.3.2 Hai mặt của stress 16

2.3.3 Biểu hiện của stress 17

2.3.4 Tác động của stress 19

2.4 Đặc điểm của học sinh THPT 22

2.5 Stress ở lứa tuổi học sinh 24

2.5.1 Biểu hiện stress ở học sinh 24

2.5.2 Nguyên nhân stress ở học sinh 24

2.5.3 Tác động của stress đến học sinh 25

2.5.4 Biện pháp phòng và giảm stress cho học sinh 25

2.6 Vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc phòng và giảm stress cho học sinh 26

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 27

3.2 Phương pháp điều tra, khảo sát 27

3.3 Phương pháp phân tích định lượng 28

3.4 Phương pháp phân tích định tính 28

3.5 Phương pháp so sánh 29

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

4.1 Giới thiệu sơ lược về 2 trường THPT được NNC khảo sát 30

4.2 Kết quả khảo sát ý kiến học sinh 31

4.2.1 Mức độ stress ở HS THPT hiện nay 32

4.2.2 Nguyên nhân stress ở HS THPT 36

Trang 12

4.2.3 Ứng phó với stress 45

4.2.4 Ảnh hưởng của stress đến đời sống và học tập của HS THPT 52

4.2.5 Tầm quan trọng của việc phòng và giảm stress cho HS THPT 54

4.2.6 Thực tế phòng và giảm stress cho HS tại trường THPT hiện nay 56

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59

5.1 Kết luận 59

5.1.1 Tình hình stress học đường ở các trường THPT hiện nay như thế nào? 59

5.1.2 Nguyên nhân, biểu hiện và cách ứng phó với stress ở HS là gì? 59

5.1.3 Stress ảnh hưởng như thế nào đến quá trình học tập cũng như chất lượng cuộc sống của HS? 60

5.2 Kiến nghị 61

5.3 Hướng mới cho nghiên cứu tiếp tục phát triển 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 14

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lí do chọn đề tài

Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) với mục tiêu đến năm 2120 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp

về cơ bản trở thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế (Bộ Giáo

Dục và Đào Tạo, 2006) Sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, sự thách thức của quá

trình hội nhập kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải có nguồn nhân lực, người lao động có

đủ năng lực và phẩm chất đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới Người

lao động phải có khả năng đáp ứng, khả năng thu nhận và vận dụng linh hoạt, sáng

tạo tri thức của nhân loại vào điều kiện hoàn cảnh thực tế, tạo ra những sản phẩm

đáp ứng yêu cầu xã hội

Vừa qua sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức

Thương Mại Quốc Tế WTO đã đánh dấu một bước ngoặc lớn trong tiến trình hội

nhập với nền kinh tế quốc tế, mở ra những cơ hội lớn cho sự phát triển nền kinh tế

của đất nước nhưng cũng đưa ra những nhu cầu cấp thiết về nguồn lực con người

Theo Ths Bạch Thị Thu Nhi (2010) thì giáo dục chính là nền tảng của sự phát

triển, hay theo GS.VS Phạm Thị Hạc (2009): “Giáo dục (bao gồm cả đào tạo) được

coi là nhân tố cực kì quan trọng quyết định sự trường tồn của quốc gia- dân tộc”

Từ những năm cuối thế kỉ XX, kinh tế tri thức xuất hiện thì vai trò của tri thức trong

canh tranh lại càng có tầm quan trong đặc biệt Chính giáo dục đảm nhận trọng

trách trang bị tri thức cho con người (Trần Kiểm, trang 15) Điều đó cho thấy giáo

dục có vai trò hết sức quan trọng, là nền tảng cho việc hoàn thiện con người và tăng

trưởng kinh tế của đất nước Đầu tư vào chất xám sẽ là cách đầu tư hiệu quả nhất

cho sự hưng thịnh của một quốc gia Vì vậy, giáo dục và đào tạo được xem là quốc

sách hàng đầu trong chủ trương, đường lối của Đảng ta Đổi mới phương pháp dạy – học là một trong những chủ trương, đường lối của Đảng đặt ra cho ngành giáo

dục và đào tạo Người thầy từ việc truyền đạt kiến thức thành người hướng dẫn học

sinh tìm đến kiến thức, rèn luyện cho học sinh có thói tư duy sáng tạo Xu hướng

dạy học “lấy người thầy làm trung tâm” giai đoạn hiện nay không còn phù hợp nữa

Trang 15

và đang được chuyển thành “lấy người học làm trung tâm” Khuyến khích và phát triển khả năng tự học của học sinh Vì vậy, vai trò của người học là rất quan trọng đối với ngành giáo dục và đào tạo Thế nhưng, hiện nay vì để đáp ứng được yêu cầu tri thức của xã hội và kì vọng của gia đình thì hầu hết các em học sinh đặc biệt là những học sinh ở thành phố phải học cả ngày, không còn thời gian giải trí Việc học quá nhiều dễ dẫn đến tình trạng quá tải, stress cho học sinh đặc biệt là học sinh cuối cấp Stress làm giảm khả năng học tập, ảnh hưởng đến sức khỏe và dẫn đến những biệu hiện hành vi bất thường của học sinh như: đập phá, bỏ học, vô cảm… Và tình trạng stress học đường hiện nay không ngừng gia tăng, gây nên nhiều tổn thất cho nhà trường, gia đình và xã hội

Xuất phát từ những vấn đề trên, với vai rò là một sinh viên ngành sư phạm nói chung và của Bộ môn Sư phạm kĩ thuật nói riêng, tôi quyết định thực hiện đề tài:

“TÌM HIỂU TÌNH HÌNH STRESS HỌC ĐƯỜNG TỪ ĐÓ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ GIẢM STRESS CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG” nhằm giúp các giáo viên cũng như nhà trường đánh giá đúng tình trạng stress ở học sinh từ đó áp dụng các biện pháp phòng và giảm stress thích hợp cho học sinh Thông qua đó, tôi cũng rút được nhiều kinh nghiệm cho bản thân trong việc tìm hiểu và giúp đỡ học sinh sau này

Trang 16

1.2 Mục đích của đề tài nghiên cứu

Tìm hiểu tình trạng stress học đường từ đó đề xuất một số biện pháp phòng và giảm stress ở học sinh Đề tài nhằm:

 Góp phần vào việc hỗ trợ cho giáo viên hiểu rỏ về stress từ đó đánh giá đúng tình trạng stress ở học sinh để áp dụng các biện pháp phòng và giảm stress thích hợp đối với học sinh

 Góp phần vào việc nâng cao hiệu quả học tập và chất lượng cuộc sống của học sinh

1.3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tình hình stress học đường và một số biện pháp phòng và giảm stress ở học sinh trường THPT

1.3.2 Khách thể nghiên cứu

 300 HS trường THPT Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh

 300 HS trường Tôn Đức Thắng, Tỉnh Ninh Thuận

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Tình hình stress học đường ở các trường THPT hiện nay như thế nào?

Câu hỏi 2: Nguyên nhân, biểu hiện và cách ứng phó với stress ở học sinh là gì? Câu hỏi 3: Stress ảnh hưởng như thế nào đến quá trình học tập cũng như chất lượng cuộc sống của học sinh?

Trang 17

1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận về stress Nhằm làm rõ câu hỏi nghiên cứu 1

 Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu thực trạng biểu hiện stress ở học sinh, xác định những yếu tố gây ra stress ở học sinh, đặc điểm tâm lí của HS THPT Nhằm phục

vụ câu hỏi nghiên cứu 2, 3

 Nhiệm vụ 3: Tiến hành phân tích, đánh giá và so sánh số liệu từ kết quả điều tra, khảo sát Nhằm phục vụ câu hỏi nghiên cứu 1, 2, 3

 Nhiệm vụ 4: Đề ra phương hướng phòng và giảm stress ở lứa tuổi học sinh

1.6 Giả thuyết nghiên cứu

1.6.1 Stress ở học sinh có nhiều biểu hiện và nguyên nhân khác nhau

1.6.2 Các yếu tố: địa bàn sinh sống, hoàn cảnh kinh tế gia đình, lối sống, chế

độ dinh dưỡng …có ảnh hưởng đến mức độ stress ở học sinh THPT

1.7 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu

Do khả năng của người nghiên cứu và giới hạn thời gian thực hiện luận văn, đề tài chỉ khảo sát mỗi trường 300 HS

Đề tài nghiên cứu những biểu hiện stress, nguyên nhân gây stress, mức độ stress, các biện pháp ứng phó với stress ở lứa tuổi học sinh

1.8 Hướng phát triển của đề tài

Đề tài cần được tiếp tục phát triển theo hướng:

 Thiết kế các buổi ngoại khóa giải stress cho học sinh

 Tập huấn tìm hiểu về stress để phòng và giảm stress cho giáo viên

Trang 18

1.9 Cấu trúc luận văn

Khoá luận gồm 4 chương:

Chương 1: Giới thiệu sơ lược về vấn đề nghiên cứu như: lí do chọn đề tài, mục đích, đối tượng và khách thể nghiên cứu, câu hỏi, nhiệm vụ, giả thuyết, phạm vi và giới hạn nghiên cứu và hướng phát triển đề tài

Chương 2: Trình bày những lí thuyết cơ bản mà người nghiên cứu dựa vào để tiến hành nghiên cứu, cụ thể về:

 Stress, học sinh, ứng phó là gì?

 Nguồn gốc, đặc điểm của stress

 Đặc điểm của học sinh THPT

 Stress ở lứa tuổi học sinh

Chương 3: Người nghiên cứu sẽ mô tả một số phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài

Chương 4: Người nghiên cứu sẽ trình bày số lượng nghiên cứu và phân tích kết quả thu được

Chương 5: Rút ra kết luận từ vấn đề nghiên cứu và đưa ra những ý kiến thảo luận, bàn bạc mở rộng

Trang 19

1.10 Kế hoạch nghiên cứu

Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu : Từ tháng 9/2010 đến tháng 5/2011

STT THỜI GIAN HOẠT ĐỘNG NGƯỜI THỰC

HIỆN

GHI CHÚ

1 Tháng 9/2010

Đăng ký đề tài, tập huấn

về NCKH và Khóa luận tốt nghiệp

Người nghiên cứu

2 Tháng 9-10/2010 Thu thập tài liệu, viết đề

cương Người nghiên cứu

3 Tháng 10/2010 Trình bày đề cương,

chỉnh sửa đề cương Người nghiên cứu

4

Tháng10-11/2010 Viết Cơ sở lý luận, thực

hiện nghiên cứu Người nghiên cứu Tháng 12/2010-

6 Tháng 5/2011 Bảo vệ đề tài Người nghiên cứu

Trang 20

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN 2.1 Lược khảo những nghiên cứu trước đây

Tô Như Khuê là người đầu tiên nghiên cứu stress ở Việt Nam dưới góc độ sinh

lý học và y học Năm 1976 ông đã tiến hành nghiên cứu vấn đề “Phòng chống trạng thái căng thẳng (stress) trong đời sống và lao động” Là một người lính, Tô Như Khuê đã hết sức quan tâm đến các yếu tố tâm lý của việc tuyển dụng, huấn luyện và tăng cường sức chiến đấu cho bộ đội Sau chiến tranh ông tâm nhiều hơn tới vấn đề stress trong huấn luyện của bộ đội ở các binh chủng đặc biệt và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc Theo ông stress là sự phản ứng của cơ thể đối với các tác nhân từ bên ngoài, nhằm thích nghi với môi trường luôn thay đổi

Phạm Ngọc Giao và Nguyễn Hữu Nghiêm đã nghiên cứu stress trong đời sống

xã hội và cho xuất bản tác phẩn “Stress trong thời đại văn minh” Theo hai tác giả trên, stress là một hiện tượng tâm-sinh lý hết sức phức tạp ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả công việc và cuộc sống của con người Con người có thể ứng phó có hiệu quả với stress bằng việc điều chỉnh lối sống và luyện tập các phương pháp giải toả stress

Nguyễn Khắc Viện và Đặng Phương Kiệt là những người nghiên cứu stress theo hướng tiếp cận Tâm lý lâm sàng Các nghiên cứu của họ được thực hiện trên trẻ em vào những năm 1990 Kết quả các công trình nghiên cứu của hai tác giả trên được tập hợp và xuất bản thành các bài giảng tại Trung tâm Nghiên cứu Tâm lý Trẻ em

và tác phẩm “Tâm lý học và đời sống‟‟ Đặng Phương Kiệt là người có nhiều tâm huyết trong việc nghiên cứu, phổ biến tri thức về stress và cách thức ứng phó với stress ở Việt Nam Ông cùng đồng nghiệp đã cho xuất bản bốn ấn phẩm về stress và cách phòng chống stress Thứ nhất “Chung sống với stress” (2003), thứ hai “Stress

và đời sống” (2003), thứ ba “Stress và sức khoẻ” (2003), thứ tư “Phòng chống stress” (2006) Theo ông stress là “Một lực nào đó (vật lý hay tâm lý) tác động vào

hệ thống tạo ra sự căng thẳng hay làm sai lệch hệ thống, hoặc làm hỏng hệ thống đó nếu nó quá mạnh” Như vậy, ông hiểu stress rất rộng nó liên quan tới toàn bộ hoạt động và ứng xử của con người trong cuộc sống

Trang 21

Năm 1997, Hội nghị khoa học về “Những rối loạn có liên quan đến stress ở trẻ

em và thanh thiếu niên” đã được tổ chức tại Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai Hội nghị đã có sự tham gia của nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau Các tham luận đã mô tả vấn đề stress ở trẻ em và thanh thiếu niên, coi

đó là vấn đề hết sức nóng hổi Trong hội thảo này đã có một số tham luận đề cập đến stress ở sinh viên các trường đại học

Nguyễn Thu Hà và đồng nghiệp (Viện Y học Lao động và Vệ sinh môi trường)

đã nghiên cứu đề tài “Điều tra stress nghề nghiệp ở nhân viên y tế” (2006) Tác giả

đã điều tra trên 527 nhân viên y tế của bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Phụ Sản và Bệnh viện Hữu Nghị bằng các công cụ như: đánh giá mức độ stress theo điểm (dành cho người châu Á), trắc nghiệm lo âu của Zung, trắc nghiệm trầm cảm của Beck và điều tra bằng bảng hỏi Kết quả điều tra cho thấy, 8.4% bị stress ở mức cao, 33% bị stress ở mức trung bình và 58.6% ở mức độ thấp Theo kết quả nghiên cứu một số yếu tố từ môi trường làm việc gây stress nghề nghiệp là: công việc quá tải, cường

độ làm việc lớn, thời gian làm việc kéo dài, tính trách nhiệm công việc cao, sự căng thẳng khi tiếp xúc với bệnh nhân và người nhà của họ

Đặng Viết Lương và đồng nghiệp (Viện Y học Lao động và Vệ sinh môi trường)

đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đánh giá trạng thái stress của nhân viên vận hành ngành điện lực” (2006) Tác giả đã nghiên cứu trên 184 khách thể với sự

hỗ trợ của các phương tiện đo chỉ số tâm-sinh lý như: thời gian phản xạ (thị giác, thính giác, xúc giác…), trí nhớ, nhịp tim, huyết áp và các trắc nghiệm đánh giá trạng thái trầm cảm và lo âu Kết quả cho thấy stress của nhân viên vận hành ngành điện lực biểu hiện qua các triệu chứng sau: tâm trạng căng thẳng; rối loạn thần kinh thực vật; giảm trí nhớ; tăng huyết áp Kết quả nghiên cứu còn cho thấy: có 61% chức năng hệ tim mạch không ổn định; 44% biểu hiện trạng thái căng thẳng và rối loạn hệ thần kinh thực vật; 26% tăng huyết áp Các yếu tố ảnh hưởng tới stress là: mức độ tiếng ồn, điện trường nơi làm việc cao, thiếu không khí trong sạch nơi làm việc, yêu cầu công việc cao (tập trung chú ý, ra quyết định nhanh, thao tác thận trọng, chính xác)

Trang 22

Nguyễn Thành Khải (2001) đã nghiên cứu stress của cán bộ quản lý ở một số cơ quan và tổ chức chính quyền địa phương Kết quả nghiên cứu cho thấy: phần lớn (99,41%) cán bộ quản lý đều bị stress công việc, trong đó có 15,94% ở mức độ nặng (rất căng thẳng) và 83.47% mức độ vừa (căng thẳng) Kết quả nghiên cứu còn chỉ ra nguyên nhân stress của cán bộ quản lý là: công việc căng thẳng, mâu thuẫn trong quan hệ “dọc” và “ngang”, nội bộ mất đoàn kết, môi trường làm việc không thuận lợi

Các công trình nghiên cứu stress ở học sinh, sinh viên là hướng nghiên cứu thứ hai về stress ở Việt Nam Trong hướng nghiên cứu này nổi bật lên các công trình nghiên cứu của các tác giả sau

Nguyễn Mai Anh “Nghiên cứu ảnh hưởng của stress tới sinh viên trong hoạt động học tập” (2001) Nghiên cứu này đã chỉ rõ stress đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng bài thi của sinh viên Nguyên nhân của hiện tượng này là do stress đã ảnh hưởng trực tiếp tới tư duy học tập và hậu quả là sinh viên có mức độ stress càng cao thì kết quả bài thi càng kém

Phạm Thanh Bình nghiên cứu “Biểu hiện stress trong học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông Yên Mô Ninh Bình” (2005) với khách thể là 150 học sinh của trường Tác giả đã sử dụng các phương pháp sau: trắc nghiệm đánh giá mức độ stress (Soli-Bensabal), điều tra nguyên nhân stress và thực nghiệm can thiệp nhằm làm giảm stress trong học tập Kết quả của nghiên cứu cho thấy: học sinh nữ có mức

độ stress cao hơn ở học sinh nam (nữ 69,58 điểm, nam 65,12 điểm) Học sinh có học lực khá có mức độ stress cao hơn học sinh có học lực trung bình và xu hướng mức độ stress tăng dần từ năm lớp 10 đến năm lớp 12

Lại Thế Luyện (2006) đã nghiên cứu đề tài “Biểu hiện stress của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh” với khách thể là 500 sinh viên

hệ đại học chính quy của trường Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là: điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu Kết quả nghiên cứu cho thấy: có 10.8% sinh viên rất căng thẳng (mức độ 1), 49.8% sinh viên khá căng thẳng (mức độ 2), 33.8% sinh viên ở mức độ nhẹ-ít căng thẳng (mức độ 3) và 5.6% không bị stress Kết quả nghiên cứu còn cho thấy; sinh viên bị tress nặng biểu hiện những dấu hiệu

Trang 23

sau: nét mặt căng thẳng; chú ý bị phân tán, lãng phí thời gian, trì hoãn công việc, hiệu quả làm việc kém và kết quả học tập giảm sút Theo tác giả nguyên nhân cơ bản gây ra stress ở sinh viên là: chương trình học tập căng thẳng và sức ép của kỳ thi quá lớn Các biện pháp ứng phó mà sinh viên thường sử dụng để đối phó với stress trong học tập là tự điều chỉnh nhận thức

Qua lược khảo nghiên cứu trên, người nghiên cứu đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm cho nghiên cứu của mình

2.2 Định nghĩa

2.2.1 Định nghĩa stress?

Trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn có rất nhiều định nghĩa và khái niệm khác nhau về stress Tuỳ theo từng cách nhìn vấn đề của mỗi tác giả mà họ đưa ra những quan niệm khác nhau :

Năm 1950 Hans Selye xem stress là sự tương tác giữa tác nhân kích thích và phản ứng của cơ thể đối với tác nhân đó Sau nhiều năm nghiên cứu stress Hans Selye đã đưa ra kết luận sau: stress là nhịp sống luôn có mặt trong sự tồn tại của chúng ta Mỗi tác động đến một cơ quan nào đó trên cơ thể đều gây ra stress Stress không phải lúc nào cũng là kết quả của sự tổn thương, trên thực tế có hai loại stress khác nhau, đối lập nhau là: (1) stress bình thường, khỏe mạnh-eustress và (2) stress độc hại hay, tiêu cực-dystress Quan điểm của Hans Selye về stress cho thấy; stress

là một hiện sẵn có ở con người, là sự tương tác giữa tác nhân kích thích và phản ứng của cơ thể, giúp cơ thể thích nghi với môi trường Một số nhà nghiên cứu cho rằng quan điểm của H Selye nghiêng về mặt sinh học của stress, coi stress như một phản ứng sinh học

Thập niên 80 L A Kitaepmưx đã tổng kết các quan điểm, công trình nghiên cứu khác nhau về stress Theo ông có ba quan điểm chính về stress như sau: (1) Stress là những tác động mạnh ảnh hưởng không tốt, tiêu cực đến cơ thể Quan điểm này tồn tại trong một thời gian dài trong lịch sử nghiên cứu stress, nhưng stress được dùng ở đây lại trùng với khái niệm tác nhân gây stress; (2) Stress là những phản ứng mạnh không tốt đối với cơ thể (sinh lý hoặc tâm lý) do tác động của tác nhân gây stress;

Trang 24

(3) Stress là những phản ứng mạnh (có lợi và có hại) đối với cơ thể, trường hợp stress là những tác động mạnh có lợi, thì tạo ra tính tích cực, giúp cơ thể thích nghi tốt hơn Trương hợp stress là các tác động có hại sẽ tạo ra sự lo lắng, hoảng sợ làm giảm đi khả năng thích nghi của cơ thể đối với môi trường Nhiều nhà nghiên cứu

đã phê phán quan điểm của Kitaepmưx về stress, vì nó chỉ mới phản ánh được một mặt của hiện tượng stress ở con người, mà chưa phản ánh được bản chất của nó Những năm 1990 R Lazarus và đồng nghiệp đã đưa ra một cách nhìn hoàn toàn mới về stress Theo ông “Stress như một quá trình tương tác đặc biệt giữa con người với môi trường Trong đó, chủ thể nhận thức sự kiện từ môi trường như là sự thử thách, sự hẫng hụt hoặc như một đòi hỏi mà chủ thể không thể ứng phó được-chủ thể phải đối mặt với nguy hiểm" Theo ông phản ứng stress là kết quả của sự mất cân đối giữa nhận thức về tình huống với khả năng ứng phó của cá nhân đối với tình huống đó

(Nguyễn Minh Tiến, 2007) Các nhà khoa học Việt Nam khi nghiên cứu stress đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau Tô Như Khuê cho rằng: “Stress là những phản ứng tâm lý không đặc hiệu, phổ biến đối với các tình huống mà con người cho là bất lợi hoặc bị đe doạ (chủ quan), ở đây vai trò quyết định không phải do tác nhân kích thích, mà do đánh giá chủ quan về tác nhân đó” (Tô Như Khuê, 1976)

Nhóm tác giả Nguyễn Văn Nhận, Nguyễn Bá Dương, Nguyễn Sinh Phúc đã khẳng định “Khái niệm stress vừa để chỉ tác nhân kích thích, vừa để chỉ phản ứng của cơ thể trước các tác nhân đó” Ở đây, stress mới chỉ được hiểu như là phản ứng sinh lý của cơ thể, những biểu hiện tâm lý của stress và những tác nhân kích thích (yếu tố gây nên stress) còn chưa được đề cập đến

Nhóm tác giả Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp và Trần Thị Lộc đưa ra khái niệm stress theo cách tiếp cận sinh học Theo họ “Stress là một trạng thái của cơ thể với những triệu chứng đặc thù, bao gồm tất cả những biến đổi không đặc hiệu xảy

ra trong hệ thống sinh học”

Trang 25

Phạm Minh Hạc và cộng sự lại nhấn mạnh tới những tình huống, hoàn cảnh khi nói tới stress Ông coi tình huống (hoàn cảnh) là nguyên nhân gây ra stress và cho rằng; “Stress là những xúc cảm nảy sinh trong những tình huống nguy hiểm, hẫng hụt, hay phải chịu đựng những nặng nhọc về thể chất và tinh thần hoặc trong những điều kiện phải quyết định hành động nhanh chóng và trọng yếu”

Theo bác sĩ Nguyễn Khắc Viện stress tiếng Anh có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất một mối kích động đánh mạnh vào con người, nghĩa thứ hai chỉ phản ứng sinh lý - tâm lý của con người ấy Mối kích động có thể là tác nhân vật lý, hoá chất, một vi khuẩn hoặc một tác nhân tâm lý xã hội, nói chung là một tình huống căng thẳng đột xuất đòi hỏi con người huy động tiềm năng thích ứng vá phản ứng lại, phản ứng gồm hai mặt: Phản ứng đặc thù riêng cho từng loại kích động và phản ứng chung tương tự cho từng loại kích động Khái niệm stress của Nguyễn Khắc Viện cho chúng ta hiểu được những hiện tượng tâm thể và một số triệu chứng tâm bệnh

(Nguyễn Khắc Viện, 2001) Trong bản dịch “Stress từ bệnh học tâm thần đến cách tiếp cận trong trị liệu" của Giáo sư Nguyễn Việt khái niệm stress của Giáo sư Ferreri được hiểu là mối liên quan giữa con người và môi trường xung quanh Stress vừa chỉ tác nhân công kích vừa chỉ phản ứng của cơ thể trước tác nhân đó Do đó, stress là mối tương tác giữa tác nhân công kích và phản ứng của cơ thể

Từ những điều đã trình bày trên, có thể nói rằng có ba nhóm quan điểm khác nhau về stress là: (1) stress được hiểu như một tác nhân đến từ môi trường; (2) stress là phản ứng tâm-sinh lý và (3) stress là sự tương tác giữa những tác nhân đến

từ môi trường với những phản ứng tâm-sinh lý xảy ra ở bên trong cá nhân

Quan điểm thứ nhất, stress được xem như là tác nhân đến từ môi trường gây nên phản ứng tâm-sinh lý ở chủ thể Khi nói đến stress là nói đến stress trong công việc, stress trong học tập, stress trong gia đình, stress trong cuộc sống

Quan điểm thứ hai, xem stress như là các phản ứng tâm-sinh lý Ở đây, nhấn mạnh đến những phản ứng tâm-sinh lý của cơ thể trước sự tác động của môi trường

Trang 26

xung quanh Nói đến stress là muốn nói đến các trạng thái tâm lý căng thẳng, đau khổ liên quan đến những trải nghiệm, hẫng hụt, bất hạnh của chính họ

Quan điểm thứ ba, là sự kết hợp giữa hai cách hiểu trên, coi stress là tương tác giữa tác nhân khích thích từ môi trường với những phản ứng của cơ thể đối với các kích thích đó Đây là phương pháp, cách tiếp cận mềm dẻo, linh hoạt và đúng nhất

về stress Trong khái niệm này toàn bộ những yếu tố thuộc về cá nhân và môi trường đều được nhấn mạnh và nó phản ảnh được hai quan điểm đã tồn tại trước đó trong nghiên cứu stress

Trong đề tài nghiên cứu này NNC cho rằng “Stress là sự tương tác đặc biệt giữa chủ thể và môi trường sống Trong đó, chủ thể nhận thức, đánh giá sự kiện (kích thích) từ môi trường (có hại, nguy hiểm, nặng nhọc, hẫng hụt ) nhằm huy động các nguồn lực ứng phó đảm bảo sự cân bằng, thích nghi với môi trường luôn thay đổi” Trong điều kiện bình thường, stress là một phản ứng thích nghi về mặt tâm-sinh

lý và tâm lý xã hội với môi trường xung quanh

2.2.2 Định nghĩa học sinh?

Theo từ điển “Oxford Advanced Learner‟s Dictionary”, từ “học sinh” được định nghĩa là “một người mà đang đi học ở một ngôi trường, đặc biệt là trường cấp hai” (a person who is studying at a school, especially a secondary school)

Còn theo từ điển Tiếng Việt do Thái Xuân Đệ và Lê Dân biên soạn, “học sinh” được hiểu một cách đơn giản là người học ở nhà trường Hai soạn giả này còn nói đến từ “học trò”, là người kế tục học thuyết của người khác hoặc được người khác trực tiếp giáo dục và rèn luyện (Từ điển Tiếng Việt, 2007)

Trong đề tài này, từ “học sinh” được hiểu là những người đang theo học ở trường THPT

2.2.3 Định nghĩa ứng phó?

Trong tiếng Anh cope (ứng phó) có nghĩa là đương đầu đối mặt với những tình huống bất thường

Trang 27

Theo nghĩa rộng, ứng phó bao gồm tất cả các dạng tương tác của chủ thể với những yêu cầu của thế giới bên ngoài và nội tâm - nắm bắt làm chủ hay làm suy giảm, làm quen hay lảng tránh khỏi những yêu cầu của hoàn cảnh có vấn đề Những điều kiện bên ngoài - yêu cầu của hoàn cảnh, hay bên trong - đặc điểm tâm lý của chủ thể, tạo nên nội dung của cách ứng phó, làm chúng hoàn toàn khác biệt với với

sự thích ứng đơn giản

Ý nghĩa tâm lý của ứng phó là ở chỗ làm thế nào để con người thích ứng nhanh chóng với những yêu cầu của hoàn cảnh, cho phép họ nắm bắt và làm chủ chúng, làm những yêu cầu của hoàn cảnh trở nên suy yếu, làm cho con người cố gắng thoát khỏi hoặc làm quen với chúng và bằng cách đó cải hoá được những tác động gây stress của hoàn cảnh Nhiệm vụ chủ yếu của ứng phó là cung cấp và ủng hộ sự bền vững của con người, sức khoẻ thể chất cũng như tâm lý, làm thoả mãn các quan hệ

xã hội của cá nhân Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học

lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010 213

2.3 Nghiên cứu về stress dưới góc độ tâm lý học

2.3.1 Nguồn gốc và các giai đoạn của stress

2.3.1.1 Nguồn gốc

Một số nhà nghiên cứu nhìn nhận stress là hậu quả do ảnh hưởng của những thay đổi hoặc những sự kiện quan trọng trong cuộc sống Đôi khi người ta có thể hấp thụ stress và chung sống với nó Những phản ứng của con người tùy thuộc vào các nguồn lực của họ và các bối cảnh trong đó diễn ra stress

Nhìn chung, stress được hình thành từ hai nguồn chính: môi trường và bản thân Nhưng nguyên nhân xuất phát từ chính bản thân mỗi người là nguyên nhân quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến mức độ stress

2.3.1.1.1 Từ môi trường bên ngoài

 Cuộc sống gia đình: những tác nhân stress từ phía gia đình là thường gặp nhất trong những tác nhân stress Đó là những vấn đề liên quan đến yếu tố kinh tế

và tình cảm, nhiều khi hai yếu tố này thường kết hợp với nhau Lúc đầu có thể do yếu tố kinh tế nhưng về sau dẫn tới yếu tố tình cảm hoặc ngược lại Yếu tố kinh tế

Trang 28

như là gia đình gặp khó khăn nghèo túng Yếu tố tình cảm như sự bất hoà trong gia đình, , người thân chết

 Cuộc sống nghề nghiệp: đó là những yếu tố liên quan đến nghề nghiệp và mối quan hệ trong công việc với lãnh đạo hoặc với đồng nghiệp Thường gặp những tác nhân stress trong cuộc sống nghề nghiệp như bị sa thải, thất nghiệp, công việc không phù hợp, về hưu, xung đột với đồng nghiệp

 Cuộc sống xã hội: đó là những yếu tố liên quan đến môi trường sống, như thay đổi chỗ ở (di cư), bất hoà với hàng xóm, thiên tai, tiếng ồn, ô nhiễm môi trường sống , thay đổi chế dộ chính trị

(Nguyễn Thành Khải, 1983)

2.3.1.2 Các giai đoạn của stress

Khi một người bị tress, người đó sẽ trãi qua 3 giai đoạn: báo động, chống đỡ và kiệt sức

 Giai đoạn báo động : là phản ứng báo động, đặc điểm chính là có biến đổi sinh lý chuẩn bị cho cơ thể đối phó với hoàn cảnh mới làm cho cơ thể lâm vào tình trạng tăng cảnh giới, gây lo lắng Ví dụ như các quá trình tập trung, ghi nhớ, phán đoán trong cơ thể triển khai những phán đoán đến trước đối vối một tác động có thể xảy ra thể hiện bầng tăng huyết áp, tăng nhịp tim, tăng nhịp thở, tăng lực cơ bắp

 Giai đoạn chống đỡ: đặc trưng bởi việc huy động các đáp ứng khác nhau trong khuôn khổ chiến lược đã được đề ra và có khả năng thích nghi mềm dẻo theo quá trình triển khai các đáp ứng thích hợp nhằm giúp cơ thể làm chủ được tình

Trang 29

huống stress và có được một sự cân bằng mới đối với chính bản thân người đó cũng như đối với môi trường xung quanh

 Giai đoạn kiệt sức: (lúc này gọi là Stress bệnh lý) do stress quá mức hoặc kéo dài làm cho cơ thể mất khả năng bù trừ, cơ thể trở nên suy sụp, khả năng thích nghi

bị rối loạn, xuất hiện các rối loạn tâm lý (đa số là lo âu trầm cảm)

Ngoài ra chính ảnh hưởng của stress đã làm cho nhân cách có những phản ứng theo chiều hướng đáp ứng thích nghi tốt hơn, nghĩa là nhân cách phát triển ngày càng hoàn thiện hơn Như ngạn ngữ có câu “ai nên khôn chẳng dại một đôi lần‟‟ hay “thất bại là mẹ thành công”

Theo I Levi và H SLey ( 1970), “cuộc sống không thể thiếu stress, nếu không

có nó thì có thể dẫn tới chết” Chính H Seley đã nói: “stress là một chất muối làm cho cuộc đời thêm thi vị, thiếu nó không có cuộc sống Cuộc sống không có stress

sẽ chẳng có thách thức gì, chẳng có trở ngại nào phải vượt qua, chẳng có địa hạt mới nào để chiếm lĩnh, chẳng có lý do gì để trau dồi trí tuệ hoặc nâng cao năng lực Nhưng điều tai hại gây chết người là trong nhiều tình huống, nó buộc ta dùng quá mặn‟‟

Những trải nghiệm tích luỹ trong cuộc sống là một trong những yếu tố điều kiện hoá những phản ứng của chúng ta đối với stress

(Nguyễn Hữu Đức, 2009)

Trang 30

Mặt này sẽ được đề cập nhiều hơn ở những chương sau

2.3.3 Biểu hiện của stress

 Phản ứng giác quan quá mức nhất là tai có cảm giác khó chịu trước những tiếng động thường ngày

 Trong các rối loạn trí tuệ chủ yếu là việc khó tập trung suy nghĩ kèm theo tư duy

bị nhiễu do nhớ lại các tình huống stress trong khi trí nhớ về các sự kiện còn sắc bén

 Thường xuất hiện tính dễ cáu trên cơ sở cảm giác bất an có thể đưa đến những rối loạn trong hành vi nhất là trạng thái kích động nhẹ kèm theo khó khăn trong quan hệ với xung quanh

 Một trạng thái lo âu lan rộng kèm theo sự sợ hãi mơ hồ thấm vào toàn bộ các triệu chứng và đôi khi nổi nên hàng đầu trong bệnh cảnh lâm sàng

(Bùi Quang Huy, 2007)

Trang 31

2.3.3.2 Các phản ứng cảm xúc cấp xảy ra chậm

Một số rối loạn xuất hiện chậm, chủ thể có vẻ như chịu đựng và chống đỡ được tình huống nhưng tự cho rằng đã bị các biểu tượng của tình huống gây stress xâm chiếm Giai đoạn chống đỡ tiếp diễn nhưng chỉ tạo ra một cân bằng không bền vững kéo dài trong vài ngày hay vài giờ Sau đó đột nhiên xuất hiện một phản ứng stress cấp xảy ra chậm, biểu hiện và tiến triển giống như một phản ứng cấp tức thì, chứng

tỏ chủ thể không còn khả năng giàn xếp được tình huống stress về mặt tâm lý nữa Chủ thể bị suy sụp và mất bù một cách chậm chạp

2.3.3.3 Các biểu hiện tâm thần

Các triệu chứng tâm thâm thần thường được tạo nên bởi các yếu tố chung nhẹ hay trầm trọng với sự vượt trội của một vài triệu chứng tuỳ theo thực tế của tình huống stress Chúng bao gồm các biểu hiện:

 Phản ứng quá mức với hoàn cảnh xung quanh là triệu chứng trội nhất nó đi kèm với tính dễ cáu, cảm giác khó chịu, căng thẳng tâm lý, mệt mỏi về trí tuệ không thể

thư giãn

 Rối loạn giấc ngủ thường đi đôi với chứng khó ngủ hay thức giấc và có cảm giác

không thấy hồi phục sau khi ngủ

Những rối loạn này tuỳ theo bối cảnh, tính chất cũng như mức độ lặp lại của tình huống stress có thể tiến triển thành: một sự chờ đợi trên nền tảng bi quan tập trung vào tình huống stress, một sự cảnh tỉnh quá độ đặt người bệnh vào tình trạng nghe

ngóng thường xuyên và làm căng thẳng nội tâm và tính dễ cáu

 Những biểu hiện lo âu, ám ảnh sợ: đặc điểm là trên nền tảng một lo âu dai dẳng xuất hiện cơn lo lắng ở những nơi có tình huống stress (môi trường hành nghề, gia

đình, nhớ lại tình huống stress)

(Sidney Block, 2003)

Trang 32

2.3.3.4 Các biểu hiện cơ thể

Một số biểu hiện cơ thể thường gặp khi bị stress là :

 Các rối loạn thần kinh thực vật vừa phải : Chúng thường tăng lên khi hồi tưởng lại các tình huống stress, hay khi phải đương đầu với với các tình huống đó Chúng thường xuất hiện cùng với các rối loạn tâm thần và thường biểu lộ trong lời than phiền về các rối loạn chức năng cơ thể nổi bật

 Trạng thái suy nhược kéo dài, đây là trạng thái thường gặp nhất khi bị stress

 Căng thẳng cơ bắp

 Chứng run, đổ mồ hôi

 Nhức đầu do căng thẳng, đau nửa đầu kéo dài, đau cột sống dai dẳng

 Đánh trống ngực, đau vùng trước tim, tăng huyết áp ở các biểu hiện giống rối loạn tim tâm căn

họ lại coi đó là động lực để làm việc hết mình

Một yếu tố nữa góp phần gây căng thẳng là việc không dự đoán trước được những thay đổi Ví dụ một tiếng động đột ngột có thể gây cho chúng ta giật mình, nhưng nếu biết trước sẽ có tiếng động đó thì ta không cảm thấy giật mình Những người có “khả năng hạn chế căng thẳng” là những người có được mạng lưới hỗ trợ

xã hội, tình trạng sức khoẻ tốt và tự tin Họ sẽ đối phó tốt với những căng thẳng trong cuộc sống

(Phạm Thanh Hương, 2006)

Trang 33

2.3.4.2 Phản ứng sinh lý

Những phản ứng mang tính tinh thần, tình cảm, hành vi của cá nhân đối với những sự kiện hay tình huống được mô tả ở trên là yếu tố chủ chốt trong việc xác định một loạt những thay đổi sinh lý diễn ra trong cơ thể để chuẩn bị cho cơ thể đáp ứng với những sự kiện hay tình huống đó Sự phản ứng về sinh lý ở cơ thể người cũng giống như ở cơ thể động vật Phản ứng này diễn ra rất tự nhiên khi cá nhân phải đối mặt với tình huống thực sự khó khăn, hoặc khi cá nhân tự đánh giá đó là tình huống khó khăn Chỉ trong một tíc tắc, hệ thống thần kinh giao cảm hoạt động

và tuyến yên tiết ra một số hoóc môn Điều này dẫn tới sự giải phóng một loạt adrenalin và cortison, có tác dụng hoạt hóa sự hoạt động của bộ não và cơ thể như làm tim đập nhanh hơn, huyết áp tăng, máu chảy nhiều hơn đến các cơ lớn và não,

mỡ từ các mô dự trữ được chuyển hoá thành các axít béo để làm năng lượng cho sự hoạt động của cơ

Khi đối mặt với những tình huống thực sự nguy hiểm như trong đám cháy, các đáp ứng và thay đổi trên diễn ra nhanh và mạnh mẽ hơn nhiều Trong khi khó mà nhẫm lẫn những dấu hiệu như tim đập dồn dập, tay vã mồ hôi khi đối mặt tình huống nguy hiểm, phản ứng sinh lý đối với những căng thẳng về thần kinh hoặc những căng thẳng lặp lại thường xuyên thường khó nhận biết hơn nhưng còn có thể nguy hiểm hơn đến sức khoẻ hơn

(Phạm Thanh Hương, 2006)

2.3.4.3 Stress và sự phát triển của bệnh tim

Những căng thẳng thần kinh (stress) thường gặp trong cuộc sống hiện đại và nó khác với những căng thẳng mang tính thể chất Những căng thẳng này thường không giảm đi, mà lại thường xuyên tăng lên và kéo dài liên tục Phản ứng với những căng thẳng này đòi hỏi lượng hoóc môn và năng lượng từ chất béo ít hơn nhưng lại liên tục

Tuy nhiên cơ thể phản ứng trước các căng thẳng về tinh thần hay thể chất là như nhau Do đó, lượng hoóc môn và chất béo được huy động trong những căng thẳng thần kinh không được tiêu thụ hết và dẫn tới tình trạng tăng huyết áp, nhịp tim quá

Trang 34

mức cần thiết Điều này sẽ dẫn tới sự rối loạn về huyết động, làm áp lực tại thành động mạch tăng lên, đặc biệt có thể xảy ra ở mạch vành - mạch máu nuôi cho tim Khi rối loạn huyết động tăng và các hoóc môn do căng thẳng gây ra lưu hành liên tục trong máu sẽ làm tổn thương nội mạc thành mạch Được huy động bởi các hoóc môn này, các tiểu cầu trong máu vận chuyển đến và bám dính tại thành mạch với mục đích làm giảm quá trình tổn thương Nhưng không may là chính quá trình này lại làm cho thành mạch dày lên và dẫn đến nguy cơ tắc mạch

Bên cạnh đó cholesterol tỷ trọng thấp (LDL) cũng được sản xuất ra từ các tế bào

mỡ trong quá trình phản ứng với căng thẳng Theo thời gian, những thay đổi này sẽ dẫn đến quá trình xơ vữa ở động mạch vành

(Phạm Mạnh Hùng, 2006)

2.3.4.4 Stress có thể gây ra nhiều căn bệnh khác

 Bệnh tâm thần kinh: mất ngủ, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn phiền, cáu gắt, loạn trí nhớ, trầm cảm

 Bệnh tim mạch: tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, loạn nhịp tim, hồi hộp đánh trống ngực

 Bệnh tiêu hóa: viêm loét dạ dày- tá tràng, chảy máu tiêu hóa, thủng dạ dày, tiêu chảy, khô miệng, chán ăn, ăn không tiêu, hơi thở hôi, rối loạn chức năng đại tràng

 Bệnh tình dục: giảm ham muốn, di tinh, mộng tinh, giao hợp đau

 Bệnh phụ khoa: rối loạn kinh nguyệt, rối loạn nội tiết

 Bệnh cơ khớp: co cứng cơ, đau lưng, đau khớp, cảm giác kiến bò ở ngón tay, nháy mắt, chuột rút, run rẩy

 Toàn thân: suy sụp, mệt mỏi, dễ mắc các bệnh dị ứng hay bệnh truyền nhiễm

(Đặng Phương Kiệt, 2001)

Trang 35

2.4 Đặc điểm của học sinh THPT

Sau khi tham khảo một số tài liệu về đặc điểm tâm lý của HS THPT của các tác giả như: Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (1998), Bùi Ngọc Oánh, Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh (1996), Bùi Văn Huệ (2002), NNC tóm tắt lại một số đặc điểm tâm lý của HS THPT như sau:

Lứa tuổi HS THPT (còn gọi là lứa tuổi đầu thanh niên) là lứa tuổi bao gồm các

em từ khoảng 15, 16 tuổi đến 17, 18 tuổi Đây là lứa tuổi có nhiều nét khác biệt với tuổi thanh niên

 Đặc điểm nhận thức và tình cảm:

+ Về nhận thức, cảm giác tri giác đạt tới mức độ khá cao có thể có cảm giác tinh tế, quan sát nhạy bén Hoạt động ghi nhớ có ý nghĩa và có chủ định chiếm ưu thế Trí tưởng tượng phong phú, mạnh mẽ và phù hợp với hiện thực hơn Khả năng

tư duy, nhất là khả năng trừu tượng ở mức cao, có thể giải quyết vấn đề một cách sâu sắc, đúng đắn,…Có thể nói rằng tuổi đầu thanh niên có trí tuệ linh hoạt, có óc nhạy bén, có khả năng lập luận logic, có ngôn ngữ khá mạch lạc, rõ ràng, đủ sức diễn đạt một cách chính xác tư tưởng của mình

+ Về tình cảm, các em có tình cảm phong phú, sâu sắc, bền vững Tình bạn của các em sâu sắc có cơ sở, bền chặt, có sự thẳng thắn giúp nhau cùng tiến bộ Ở lứa tuổi này, các em xuất hiện tình cảm đặc biệt đối với bạn khác giới Đó là một trạng thái mới mẻ, nhưng rất tự nhiên trong đời sống tình cảm của các em Các em có giữ được sự trong sạch cần thiết trong mối tình đầu hay không và có là bạn tốt của nhau không, trước hết phụ thuộc vào giáo dục của gia đình, nhà trường

 Những đặc điểm nổi bật khác về nhân cách:

+ Thế giới quan và lý tưởng

Tuổi HS THPT là giai đoạn hình thành thế giới quan Trong thế giới quan các

em quan tâm nhiều đến những vấn đề cá nhân và xã hội, giữa cống hiến và hưởng thụ, tình cảm và nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm,…Nếu được giáo dục tốt, các

Trang 36

em sẽ giải quyết tốt các mối quan hệ một cách hài hòa, phù hợp, đẹp đẽ nhất theo lợi ích của dân tộc, xã hội

Tuy vậy, ở một số HS ít nhiều còn chịu nhiều ảnh hưởng của thế giới quan lạc hậu như: thái độ xem thường phụ nữ, xem thường lao động chân tay, thích hưởng thụ, xa hoa, lãng phí

+ Hoạt động lao động và sự lựa chọn nghề

Hoạt động lao động tập thể có vai trò lớn trong sự hình thành nhân cách thanh niên mới lớn Hoạt động lao động được tổ chức đúng đắn sẽ giúp các em hình thành tinh thần tập thể, lòng yêu lao động, tôn trọng lao động, người lao động và thành quả lao động, đặc biệt có nhu cầu và nguyện vọng lao động

Hiện nay, thanh niên học sinh còn định hướng một cách phiến diện vào việc học tập ở Đại học Đại đa số cấc em hướng dần vào các trường Đại học (hơn là học nghề) Tâm thế chuẩn bị bước vào Đại học như thế sẽ dễ có ảnh hưởng tiêu cực đối với các em, nếu dự định của các em không được thực hiện Điều đó cho thấy các em (hoặc vô tình, hoặc cố ý) không ý đến nhu cầu xã hội đối với các ngành nghề khác nhau và mức độ đào tạo của các nghề trong khi quyết định đường đời Những điều

đó phần lớn là do công tác hướng nghiệp của nhà trường và đoàn thể còn thiếu sót

(Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng, 1998) Tóm lại, lứa tuổi HS THPT là thời kì đặc biệt quan trọng đối với cuộc đời con người Đây là thời kì kết thúc về căn bản của một quá trình trưởng thành và phát triển lâu dài của đứa trẻ, về sinh lí cũng như tâm lý Đây là thời kì phát triển cân đối, hài hòa, đẹp đẽ của con người, là thời kì mà năng lực trí tuệ, thế giới quan và toàn bộ nhân cách của con người biến đổi lớn về chất lượng làm cho các em sẵn sàng và có đủ khả năng để trưởng thành, để bước vào đời Chúng ta cần căn cứ vào những đặc điểm tâm lý, sinh lý của các em để đề ra những nội dung, phương pháp giáo dục thích hợp, có hiệu quả, nhằm làm cho các em trở thành con người mới xã hội chủ nghĩa, có đức có tài, kế vị sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân

Trang 37

2.5 Stress ở lứa tuổi học sinh

2.5.1 Biểu hiện stress ở học sinh

Trầm cảm và có hành vi cố ý tự gây thương tích cho bản thân

Căng thẳng thần kinh có thể biểu hiện bằng một số triệu chứng thể chất như thở nhanh, tim đập nhanh, đau bụng, đau đầu

Biểu hiện khó ngủ, đái dầm, buồn bực, hay bị nhức đầu,lên cơn sốt, nói nhảm,

la hét, mất ý thức

Trẻ có vẻ hiếu động, mệt mỏi hoặc trẻ có vẻ trầm cảm, dễ cau có, không thích các sinh hoạt thường ngày, ít quan tâm đến những sinh hoạt quan trọng và thích ở nhà hơn là tiếp xúc với bạn bè; việc học sa sút, không thích đi học và không thích làm bài, học bài

Có hành vi chống đối: như nói láo, trộm cắp, quên hoặc từ chối làm những việc lặt vặt và có vẻ lệ thuộc cha mẹ hơn trước

Các biểu hiện quá đáng của sự càn quấy và bắt nạt, sự độc ác đối với súc vật và những người khác

- Sự phá hoại nặng nề tài sản của người khác

- Hành vi gây cháy, trộm cắp, nói dối nhiều lần, trốn học và bỏ nhà

- Những cơn giận dữ trầm trọng bất thường, tác phong khiêu khích, bướng bỉnh, không vâng lời trầm trọng và dai dẳng

2.5.2 Nguyên nhân stress ở học sinh

Theo bác sĩ chuyên khoa tâm thần Lê Quốc Nam, quá tải trong học tập là nguyên nhân thường gặp dẫn đến stress cho lứa tuổi học trò

Theo bác sĩ Phạm Thị Ngọc Tuyết, bệnh viện Nhi Đồng 2 TP.HCM, đa số học sinh bị stress có liên quan đến sang chấn tâm lý trong gia đình và học đường

Trang 38

Gia đình thường gặp là trẻ bị cha mẹ rầy la, cãi nhau với anh chị em, bị cha mẹ

bỏ bê, cha mẹ ly dị Nhiều gia đình bố mẹ mải kiếm tiền, không để ý đến con cái, hoặc nuông chiều thái quá, con xin gì cũng cho, hoặc là đánh đập con cái khiến chúng ức chế và trút giận lên bạn bè Cha mẹ kỳ vọng ở con cao quá khả năng của trẻ, bắt trẻ học quá nhiều Phân biệt đối xử của ông bà, cha mẹ thậm chí định kiến bất bình đẳng về giới cũng có tác động đến ứng xử của trẻ

Áp lực học tập, cha mẹ hoặc thầy cô, bạn bè chửi mắng, đánh đập, bị bạn từ chối chơi, do không làm được bài tập ở nhà, không được ăn mặc theo sở thích, thấy sự thay đổi trong cơ thể ở tuổi dậy thì, do thấp hơn các bạn đồng trang lứa, không hạp với thầy cô giáo, quá cân nặng so với bạn, đổi nhà, đổi trường Hình thức kỷ luật không phù hợp trong nhà trường đã gây ra ảnh hưởng tâm lý rất nặng nề cho trẻ Thiếu và yếu trong hoạt động đoàn, đội

(http://www.toitim.net)

2.5.3 Tác động của stress đến học sinh

Những rối loạn cảm xúc như lo âu, trầm cảm làm giảm sút đáng kể sự phát triển

và khả năng học của học sinh Các rối loạn hành vi ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển về mặt xã hội và có thể dẫn tới mắc các chứng bệnh tâm thần về lâu dài

2.5.4 Biện pháp phòng và giảm stress cho học sinh

Bác sĩ Quốc Nam cho biết tùy nguyên nhân xác định, trẻ bị stress cần được hỗ trợ khác nhau Chẳng hạn nguyên nhân từ học tập, chuyên gia có thể trao đổi với giáo viên tìm cách giảm tải cho trẻ Nếu nguyên nhân từ gia đình, chuyên gia sẽ trao đổi với cha mẹ để tháo gỡ những khúc mắc, tạo ra bầu không khí thân yêu

Với áp lực học tập và nhịp sống bận rộn như hiện nay, rất nhiều học sinh bị suy nhược thần kinh Nếu không được điều trị đúng cách, có khi tiền hết mà bệnh vẫn còn Trẻ cần được lập một kế hoạch học tập khoa học, thư giãn hợp lý Khi trẻ bị stress, cần giảm thời gian học và tăng thời gian thư giãn; cho trẻ luyện tập thường xuyên môn thể thao mà trẻ thích hoặc cho trẻ đi chơi ở những vùng quê khi có thể Không gian yên tĩnh, trong lành giúp tâm trí trẻ thoải mái, không còn căng thẳng

Trang 39

Không nên gò ép bản thân vào việc học Khi cảm thấy không thể tiếp tục học, hãy chuyển sang việc khác

Khi trẻ có những triệu chứng stress, người nhà cần đưa trẻ đến khám tại những chuyên khoa thần kinh, trung tâm sức khỏe tâm thần để có hướng điều trị đúng, tránh trường hợp phải chi phí cao nhưng sức khỏe vẫn không cải thiện

Tổ chức tập huấn gia đình 6 tháng một lần và các gia đình có cơ hội chia sẻ và học tập kinh nghiệm lẫn nhau Các nhà tâm lý và bác sĩ chuyên khoa sẽ cung cấp dịch vụ tư vấn cho các gia đình có con gặp trục trặc về sức khỏe tâm thần

Trang 40

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài, người nghiên cứu sử dụng các phương pháp sau đây:

3.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Phương pháp nghiên cứu lí thuyết là tìm hiểu, nghiên cứu điều người khác đã nói,

đã làm và đã hiểu biết về vấn đề định nghiên cứu (Châu Kim Lang 2002 Phương pháp nghiên cứu khoa học Lưu hành nô ̣i bô ̣)

Người nghiên cứu tìm đọc các sách, báo, tạp chí, internet liên quan đến vấn đề nghiên cứu Cụ thể là tìm đọc các tài liệu liên quan đến đến stress và stress ở lứa tuổi học sinh, tâm lí của HS THPT để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài

3.2 Phương pháp điều tra, khảo sát

Đây là phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong các công trình nghiên cứu giáo dục

Phương pháp điều tra, khảo sát là phương pháp sử dụng phiếu câu hỏi nhằm thu thập ý kiến của một số đông người về vấn đề nghiên cứu Phương pháp này được dùng để nắm bắt các quan điểm, thái độ, ý kiến, suy nghĩ của khách thể nghiên cứu về vấn đề nghiên cứu theo một khung cấu trúc nào đó mà không có sự tiếp xúc trực tiếp mă ̣t đối mă ̣t giữa người nghiên cứu và khách thể nghiên cứu (Dương Thiê ̣u Tống 2002)

Bao gồm các bước:

1 Xây dựng kế hoạch điều tra: Người nghiên cứu lên kế hoạch điều tra vấn đề

gì, ở đâu, thời gian nào, cách tiến hành ra sao

2 Xây dựng phiếu điều tra: Dựa trên cơ sở lí luận, người nghiên cứu đưa ra các câu hỏi điều tra, nội dung xoay quanh vấn đề cần nghiên cứu

Bảng câu hỏi phiếu điều tra xin xem phụ lục 2

3 Chọn mẫu điều tra:

Phát 300 phiếu điều tra cho HS trường THPT Thủ Đức

Phát 300 phiếu điều tra cho HS trường THPT Thủ Đức

Ngày đăng: 10/06/2018, 09:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w