Chính vì vậy việc điều tra thu thập thông tin và so sánh để đánh giá tổng quan về khu vực nuôi chuyên tôm và tôm lúa ở 03 tỉnh: Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu, và để biết được tình hình nuô
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT VÀ SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ NUÔI TÔM
SVTH: TRỊNH XUÂN HIẾU
Ngành: NGƯ Y
Niên khóa: 2007 - 2011
Tháng 6/2011
Trang 2KHẢO SÁT VÀ SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ NUÔI TÔM SÚ (Penaeus
QUẢNG CANH CẢI TIẾN NĂNG SUẤT CAO Ở BA TỈNH SÓC TRĂNG,
Giáo viên hướng dẫn ThS Nguyễn Thanh Tâm ThS Phan Thanh Lâm
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06/2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
- Xin cảm ơn gia đình, người thân đã ủng hộ về vật chất và tinh thần để tôi hoàn thành đề tài này
- Ban Giám Hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản cùng các thầy cô đã tận tình truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
- Thầy Nguyễn Thanh Tâm, anh Phan Thanh Lâm và anh Trần Quốc Chương
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp
- Bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt những năm tháng học tập
- Các chủ trại nuôi chuyên tôm và tôm lúa ở Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau đã nhiệt tình cung cấp số liệu, thông tin cho tôi trong quá trình điều tra
- Do có những hạn chế về thời gian và kiến thức có hạn nên đề tài không tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được các ý kiến đóng góp, sửa chữa của quý thầy
cô và các bạn để đề tài được hoàn chỉnh hơn
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “Khảo sát và so sánh hiệu quả kinh tế nuôi tôm sú của mô hình tôm lúa
và chuyên tôm ở 03 tỉnh: Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau” được thực hiện từ ngày 15/11/2010 đến ngày 12/05/2011, bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp chủ hộ và cán bộ kỹ thuật của các hộ nuôi tôm lúa và chuyên tôm tại địa bàn 03 tỉnh Một số kết quả chính từ quá trình khảo sát thực tế 80 hộ (gồm: 40 hộ tôm lúa và 40 hộ chuyên tôm):
- Về kinh tế xã hội: Số lao động trung bình tham gia nuôi tôm là khoảng 2 người/hộ Đa số là những người lớn tuổi Trình độ học vấn còn hạn chế
- Về kỹ thuật nuôi: Diện tích nuôi tôm cuả nông hộ ở mô hình chuyên tôm (2,44 ha) lớn hơn diện tích mô hình tôm lúa (1,24 ha), nhìn chung diện tích 2 mô hình tương đối lớn, trung bình đạt 1,84 ha/hộ Người dân có kinh nhiệm nuôi từ nhiều năm Dịch bệnh thường xảy ra vào tháng 3, với bệnh đầu vàng, đốm trắng và mềm thân xuất hiện nhiều nhất (Đầu vàng: 12,5%, đốm trắng: 6,25%, mềm thân: 6,25%)
- Về hiệu quả kinh tế: Năng suất nuôi tôm trung bình của mỗi nông hộ đạt khoảng 756 kg/ha/vụ, trong đó mô hình tôm lúa đạt 657,21 kg/ha/vụ, chuyên tôm đạt 820,42 kg/ha/vụ Cả 2 mô hình nuôi tôm đều đem lại lợi nhuận tương đối khá cho người dân Mức chi phí đầu tư bình quân cho 1 ha nuôi tôm khoảng 63.558.000 đồng, lợi nhuận cho 1 ha nuôi tôm là khoảng 24.287.000 đồng (tôm lúa khoảng 17.959.000 đồng, chuyên tôm khoảng 30.615.000 đồng)
Trang 5M ỤC LỤC
ĐỀ MỤC TRANG
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH ix
DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ x
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Sơ lược về tôm sú 3
2.1.1 Phân loại 3
2.1.2 Phân bố 4
2.1.3 Đặc điểm sinh học của tôm sú 4
2.2 Tình hình nghiên cứu mô hình tôm lúa trên thế giới 6
2.2.1 Giới thiệu mô hình tôm-lúa 6
2.2.2 Điều kiện áp dụng và mùa vụ của mô hình tôm-lúa 7
2.2.3 Giống loài 7
2.2.4 Năng suất 8
2.3 Tình hình nghiên cứu mô hình tôm lúa và chuyên tôm ở ĐBSCL 8
2.3.1 Giới thiệu chung về ĐBSCL 8
2.3.2 Tình hình nuôi tôm sú ở ĐBSCL 10
2.3.3 Thực trạng tình hình nghiên cứu và sản xuất của mô hình luân canh tôm-lúa ở ĐBSCL ……….11
Trang 6Chương 3 18
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 18
3.2 Phương pháp nghiên cứu 19
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 19
3.2.2 Xử lý và phân tích số liệu 19
Chương 4 22
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Hiện trạng kinh tế xã hội 22
4.1.1 Kích cỡ nông hộ và lao động (LĐ) 22
4.1.2 Tuổi và trình độ học vấn của nông hộ 23
4.1.3 Kinh nghiệm nuôi và nguồn kỹ thuật nuôi tôm 26
4.1.4 Ngành nghề sản xuất khác của nông hộ 27
4.1.5 Diện tích sản xuất của nông hộ 28
4.1.6 Nguồn vốn sản xuất của nông hộ 29
4.2 Hiện trạng nuôi tôm của nông hộ 30
4.2.1 Chuẩn bị ao (% số hộ điều tra) 30
4.2.2 Nguồn giống của nông hộ 31
4.2.3 Chăm sóc và quản lý 31
4.2.4 Quản lý môi trường nước của nông hộ 35
4.3 So sánh hiệu quả kinh tế 02 mô hình 38
4.3.1 Chi phí khấu hao (KH) của nuôi tôm 38
4.3.2 Chi phí biến đổi (BĐ) của nông hộ 39
4.3.3 Hiệu quả sản xuất nuôi tôm của nông hộ 40
4.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất nuôi 41
Chương 5 44
Trang 7KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 445.1 Kết luận 445.2 Đề nghị 45TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1 BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN NGƯỜI NUÔI TÔM
PHỤ LỤC 2 THÔNG TIN KHẢO SÁT
PHỤ LỤC 3.TƯƠNG QUAN NĂNG SUẤT TÔM VỚI MỘT SỐ YẾU TỐ
PHỤ LỤC 4 SO SÁNH CÁC GIÁ TRỊ TRUNG BÌNH
PHỤ LỤC 5 MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
NỘI DUNG TRANG
Bảng 4.1 Kích cỡ nông hộ và lao động 23
Bảng 4.2 Tuổi của chủ hộ 24
Bảng 4.3 Kinh nghiệm nuôi tôm 26
Bảng 4.4 Ngành nghề sản xuất của nông hộ 28
Bảng 4.5 Diện tích sản xuất của nông hộ 29
Bảng 4.6 Nguồn vốn sản xuất của nông hộ 30
Bảng 4.7 Chuẩn bị ao 30
Bảng 4.8 Mật độ thả nuôi 31
Bảng 4.9 Bệnh tôm 34
Bảng 4.10 Quản lý môi trường nước 36
Bảng 4.11 Chi phí khấu hao 39
Bảng 4.12 Chi phí biến đổi 39
Bảng 4.13 Hiệu quả kinh tế về nuôi tôm của 2 mô hình/ ha/ vụ 41
Bảng 4.14 Tương quan đa biến giữa các biến và năng suất tôm nuôi trung bình/ha của nông hộ 42
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH
NỘI DUNG TRANG
Hình 2.1 Tôm sú 3
Hình 2.2 Cơ quan sinh dục phụ tôm Sú 4
Hình 2.3 Mô hình luân canh tôm – lúa 13
Hình 3.1 Bản đồ vùng thu mẫu 18
Trang 11DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ
NỘI DUNG TRANG
Biểu đồ 4.1 Phân bố lao động gia đình 23
Biểu đồ 4.2 Phân bố tuổi chủ hộ 25
Biểu đồ 4.3 Trình độ học vấn của chủ hộ 25
Biểu đồ 4.4 Nguồn kỹ thuật nuôi 27
Biểu đồ 4.5 Tỷ lệ nguồn gốc giống của nông hộ 31
Biểu đồ 4.6 Thời gian xuất hiện bệnh 35
Trang 12Chương 1
MỞ ĐẦU1.1 Đặt vấn đề
Vài năm trở lại đây, trong nuôi trồng thủy sản (NTTS) ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nghề nuôi tôm sú đã trở thành nghề sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao, làm thay đổi cơ cấu kinh tế, góp phần giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo cho người dân nông thôn Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), năm 2010, diện tích nuôi tôm sú cả nước đạt 613.718 ha, tổng sản lượng gần 333.000 tấn (http://www.vbard.com/31/834/tin-tuc/thi-truong-nong-nghiep/2011/ 01/3119/lan-dau-tien-viet-nam-xuat-khau-tom-vuot-2 ty-usd.aspx)
Trước tình hình đó, xu hướng phát triển ngành nuôi tôm công nghiệp ngày càng được chú trọng và đầu tư rộng rãi trong cả nước Tuy nhiên, với nhu cầu phát triển và
mở rộng nhanh chóng, nghề nuôi tôm đã từng bước cải tiến nhưng vẫn gặp nhiều khó
khăn về vốn, kỹ thuật nuôi, quản lý môi trường, con giống và dịch bệnh…
Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP v/v cho phép chuyển đổi diện tích đất nhiễm mặn sản xuất kém hiệu quả sang nuôi tôm sú đã góp phần thúc đẩy sự gia tăng diện tích nuôi tôm ĐBSCL trong giai đoạn vừa qua Việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp sang nuôi trồng thuỷ sản diễn ra mạnh nhất ở khu vực ĐBSCL Đối tượng được nhân dân lựa chọn nuôi trồng là tôm sú nuôi nước lợ đối với các tỉnh ven biển Đến năm 2010, diện tích nuôi tôm-lúa chiếm 29%tổng diện tích nuôi toàn vùng ĐBSCL, trong khi mô hình chuyên tôm là 59% 02 mô hình này chiếm tỷ trọng khá cao trong
cơ cấu diện tích nuôi tôm sú ở ĐBSCL, và cũng góp phần lớn trong việc tạo việc làm
và thu nhập cho người dân vùng ĐBSCL (Phan Thanh Lâm & ctv, 2011) Những năm gần đây, nông dân các địa phương ven biển ĐBSCL trúng đậm mô hình “con tôm ôm cây lúa” và mô hình chuyên tôm trên nền đất lúa chuyển đổi cũng phát triển mạnh mẽ
Vì hiệu quả cao của các mô hình nuôi tôm này mấy năm qua dẫn đến diện tích tăng đột biến, vượt xa quy hoạch, quản lý và khả năng đáp ứng của hệ thống thủy lợi
Trang 13Chính vì vậy việc điều tra thu thập thông tin và so sánh để đánh giá tổng quan
về khu vực nuôi chuyên tôm và tôm lúa ở 03 tỉnh: Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu, và để biết được tình hình nuôi thực tế của các nông hộ, từ đó đề xuất một số biện pháp phát triển một cách hiệu quả, điều đó là rất cần thiết cho định hướng phát triển lâu dài Từ mục đích trên, được sự phân công của Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm TP
Hồ Chí Minh, đồng thời được sự chấp thuận của Ban quản lý dự án “Nghiên cứu biến động giá tôm nước lợ Việt Nam, giai đoạn 3” do NACA và Viện Nghiên cứu NTTS2
thực hiện, chúng tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát và so sánh hiệu quả kinh tế nuôi
tôm sú của mô hình nuôi tôm lúa và mô hình chuyên tôm quảng canh cải tiến năng suất cao ở ba tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau”
1.2 Mục tiêu của đề tài
Đánh giá điều kiện kinh tế xã hội, kỹ thuật nuôi, so sánh hiệu quả kinh tế và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất của 2 mô hình nuôi tôm – lúa và chuyên tôm
Trang 14Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược về tôm sú
2.1.1 Phân loại
Tên khoa học : Penaeus monodon
Ngành: Arthopoda (Chân khớp)
Lớp: Crustacea (Giáp xác)
Lớp phụ: Malacostraca
Bộ: Decapoda (Mười chân)
Bộ phụ: Macrura natantia (Bơi lội)
Họ: Penaeidae (Tôm he)
Giống: Penaeus Loài: Penaeus monodon (Fabricus, 1798)
Hình 2.1 Tôm sú
Trang 152.1.3 Đặc điểm sinh học của tôm sú
Solid (1988) cho biết tôm sú thường lột xác vào ban đêm Tôm càng lớn thời gian lột xác càng dài ra Giai đoạn còn nhỏ thì tốc độ tăng trưởng nhanh, càng về sau tốc độ tôm tăng trưởng càng chậm
Kích thước tối đa của tôm sú đực có chiều dài thân: 24,7 cm; tôm cái chiều dài thân: 26,6 cm Tuổi thọ của con đực là 1,5 năm, con cái 2,0 năm P monodon có thể
đạt kích cỡ thương phẩm 25 – 30 g/con trong vòng 3 – 4 tháng sau khi thả PL vào ao nuôi (Rosenberry, 1997)
Tôm thành thục sau 8 tháng Tôm đực có cơ quan sinh dục phụ là Petasma nằm giữa gốc đôi chân bò thứ nhất, tôm cái có cơ quan sinh dục phụ là Thelycum nằm ở gốc đuôi chân bò thứ 5
Hình 2.2 Cơ quan sinh dục phụ tôm Sú (Nguồn: Phạm Bá Vũ Tùng và ctv, 2008)
Trang 16Tập tính ăn và loại thức ăn của tôm sú khác nhau theo giai đoạn sinh trưởng Giai đọan ấu trùng Nauplius tiêu hóa noãn hoàng Giai đoạn ấu trùng Zoea lớn hơn tôm bắt mồi thụ động bằng các phụ bộ với các loại thức ăn phù hợp với cỡ miệng, đặc
biệt ăn thực vật phù du với 2 giống tảo Silic thích hợp là Chaetoceros và Skeletonema
(Apud, 1984) Ở giai đoạn Mysis tôm chuyển sang ăn một số loài động vật phù du, luân trùng và ấu trùng Nauplius của Artermia Giai đoạn PL tôm ăn giun nhiều tơ, ấu trùng tôm, cua, nhuyễn thể, mùn bã hữu cơ Hall (1962) tôm Sú trưởng thành có tập tính ăn tạp
Điều kiện môi trường sống tự nhiên:
- Nhiệt độ: Trong khoảng nhiệt độ 18 – 33 °C Nhiệt độ tối ưu cho tôm sú sống
và tăng trưởng trong khoảng 28 – 31 °C (Lester và ctv, 1992)
- Độ mặn: Tôm sú có khả năng chịu đựng độ mặn từ 1 – 57%o Tôm sú sống và phát triển tốt ở độ mặn 10 – 35%o, với độ mặn tối ưu cho tôm sú là 26 – 28,5%o (Chen, 1990)
- Hàm lượng oxy hoà tan trong nước: Tôm sú có thể phát triển bình thường trong khoảng oxy hòa tan 3,5 – 9 mg/lít Tôm sú PL có thể chịu đựng nồng độ oxy hòa tan thấp đến 2 ppm; Tôm ấu niên (0,2 – 0,5 gr) có thể chịu đựng ở nồng độ oxy hòa tan 2,2 ppm và bắt đầu chết khi ở nồng độ oxy 0,5 – 1,2 ppm chỉ trong vòng 30 phút, và chết ngay nếu ở nồng độ oxy 0,4 – 0,7 ppm (Chiu-Liao,1992)
- Độ pH : Theo Boyd (1992) tôm sẽ không sống được nếu pH <4 hay pH >10 Khoảng pH từ 7 – 9 được xem là bình thường trong ao nuôi tôm Theo các tác giả khác thì pH tối ưu cho tôm Sú nuôi là 7,5 – 8,5 và biến động trong ngày <0,5
- Độ kiềm: Mặt nước có lượng kiềm tổng cộng 80 – 200 mg/l thì thích hợp cho
sự phát triển của tôm sú
- Ammonia (NH3): NH3 làm giảm tăng trưởng tôm 1 – 2 % ở nồng độ 0,1 ppm
và pH 8 (Wickens, 1976) Vì vậy nước nuôi tôm nên có NH3 < 0,1 ppm Mức độ độc
Trang 17của ammonia tăng lên khi nồng độ oxy hòa tan thấp Gây tôm chết ở nồng độ cao (>4 mg/Lít)
- Nitrite (NO2) / Nitrate (NO3-) : Ở nồng độ >1 ppm, NO2 gây stress cho tôm
PL và ấu niên và có thể gây chết nếu độ mặn thấp Khi nồng độ tăng từ 1 đến 2 ppm,
NO2 gây chết PL10 ở độ mặn 1 – 3 %o (Boker, 1996) Theo Boyd (1992) nồng độ
2.2 Tình hình nghiên cứu mô hình tôm lúa trên thế giới
2.2.1 Giới thiệu mô hình tôm-lúa
Nuôi tôm nước lợ luân canh trong ruộng lúa có từ rất sớm tại Bengal của Ấn Độ được miêu tả bởi Pillay và Bose (1957) và Jhingran (1975) Nhiều vùng đất trồng lúa không hiệu quả, chuyển sang mô hình nuôi tôm và luân canh lúa đã mang lại hiệu quả
và tăng thu nhập cho người nuôi Các giống loài tôm và giống lúa rất đa dạng và phụ thuộc vào từng vùng khác nhau Mô hình tôm-lúa được áp dụng ở ĐBSCL từ 30 đến
40 năm trước (Preston và ctv, 2003) Việc xâm nhập mặn đã làm cho diện tích trồng lúa bị thu hẹp dần và việc trồng lúa chỉ tiến hành một vụ trong mùa mưa trong năm ở vùng ven biển (Preston và ctv, 2003)
So với độc canh con tôm, luân canh tôm-lúa có tính bền vững sinh thái cao hơn Tuy nhiên, ảnh hưởng môi trường lớn nhất đó là vấn đề lắng đọng bùn gắn liền với hình thức nuôi tôm tự nhiên dựa vào trao đổi nước Mô hình nuôi thả tôm giống cho thấy tính bền vững về môi trường nhưng còn gặp rủi ro với dịch bệnh và nguồn giống
Trang 18Đây là những kết quả nghiên cứu mới được công bố của trường đại học Sydney, Australia (http://vietbao.vn/Kinh-te/Tom-lua-la-mo-hinh-ben-vung/20014618/87/)
2.2.2 Điều kiện áp dụng và mùa vụ của mô hình tôm-lúa
Theo FAO (1987), hiện nay các vùng nuôi tôm-lúa phổ biến trên thế giới có cùng điều kiện nước triều dâng và xâm nhập mặn vào đồng ruộng, vụ trồng lúa diễn ra vào mùa mưa và vụ nuôi tôm vào mùa khô Những giống lúa được quan tâm trồng luân canh với nuôi tôm trong mùa mưa độ mặn thấp phải đạt các điều kiện chịu phèn
và chịu mặn cũng như lũ
Ở Ấn Độ, hệ thống canh tác có vị trí nằm kế hệ thống thuỷ lợi, được duy trì ở
độ sâu trong ruộng là 30 cm, lúa được cấy khi nước hạ độ mặn thấp vào mùa mưa Xung quanh ruộng được đào mương và thả cá hay tôm để nuôi (Pillay và Bose, 1957; Jhingran, 1975) Mùa trồng lúa tập trung vào mùa mưa trung bình vào thời gian từ tháng 7 đến tháng 9, khi đó nước lợ bao xung quanh có độ mặn thấp Mùa khô, từ tháng 4 – 8 thả giống tôm nước lợ (Raman và Menon, 1963)
Ở Bangladesh, tại vùng nuôi phía Tây Nam với 80% sản phẩm tôm sú (Penaeus
tháng 8) người ta cũng áp dụng mô hình nuôi tôm trong mùa khô mang lại thu nhập cho người dân nông thôn, và mùa mưa từ giữa tháng 8 đến tháng 9 độ mặn giảm nên được thay thế bằng trồng lúa (Islam và ctv, 2005)
Đánh giá môi trường biến động trong hệ thống canh tác tôm-lúa được xác định tại Bangladesh Độ sâu mực nước từ 15 – 25 cm, nhiệt độ 26 – 28 °C, và độ mặn từ 0 – 2%0, pH từ 7,5 – 8, oxy hoà tan 4 – 4,5 mg/L, PO4 – P 2,5-3,7 µg-at/l, và NO3 – N = 2,2 – 5,8 µg-at/l (Ghosh và ctv, 1985; Islam và ctv, 1998) Độ mặn trong đất và nước cao về mùa khô và giảm dần trong mùa mưa (thấp hơn 2%0 trong suốt mùa mưa), mức
độ nhiễm mặn này không ảnh hưởng đến năng suất lúa (Mondal và ctv, 2006)
2.2.3 Giống loài
Các giống loài tôm cá được nuôi trong mô hình rất đa dạng Chúng chịu được
độ mặn thấp như Mugil parsia, M tade, Rhinomugil corsula, Lates calecrifer, Mystus
Trang 19gulio, Prawns-Palaemon carcinus, Macrobrachium rude, Metapenaeus monoceros, M
như 80% sản lượng là tôm nuôi trong hệ thống canh tác này với các loài như Penaeus indicus, P semisulcatus, Metapanaeus monoceros, M dobsoni, Macrobrachium spp., Palaemon styliferus, Caridina gracilirostris và Acetes sp Mullets (Mugil parsia, M tade, M cephalus) và pearl spot và chromide (Etroplus suratensis; E maculatus - cihlids) (Raman và Menon, 1963)
2.2.4 Năng suất
Hiên nay người nuôi tôm tại Ấn Độ đã sử dụng phương pháp bón phân và thức
ăn cho kết quả tốt hơn so với những năm trước khi không bổ sung thức ăn và phân bón Trong hệ thống canh tác luân canh tôm, cá và lúa, năng suất lúa đạt 5.000 tấn trên 10.000 acres (Raman, 1968) (1 acres = 0,4 ha)
Mô hình canh tác tôm-lúa ở Bangladesh được đánh giá không bền vững, năng suất nuôi tôm rất thấp, dao động từ 29 – 277 kg/ha/năm, và xuất hiện bệnh virus càng ngày càng tăng trong hệ thống canh tác tôm-lúa (Islam và ctv, 2005) Năng suất lúa trồng trong hệ thống canh tác này được đánh giá là thấp, từ 1 – 3 tấn/ha (Karim, 2006) Các nhà chuyên môn đánh giá rằng những thành công này quá khiêm tốn so với
tiềm năng hiện có của khu vực (Mondal et al., 2006) Để giảm tính rủi ro do bệnh
virus gây ra, người ta đã nghiên cứu thêm đối tượng cá rô phi dòng GIFT và tôm càng xanh nuôi chung trong hệ thống trồng lúa trong mùa mưa nhằm tăng thêm thu nhập của người dân trong vụ trồng lúa (Hazrat và ctv, 2003; Alam và ctv, 2007)
2.3 Tình hình nghiên cứu mô hình tôm lúa và chuyên tôm ở ĐBSCL
2.3.1 Giới thiệu chung về ĐBSCL
ĐBSCL có diện tích tự nhiên là 3,96 triệu ha, chiếm 12% diện tích cả nước trong đó đất sản xuất nông nghiệp khoảng 2,9 triệu ha, đất sản xuất lâm nghiệp là 430.770 ha, đất khác chiếm 277.000 ha và đất chuyên dùng khoảng 262.682 ha (Nguyễn Ngọc Anh, 2005)
Trang 20Nhiệt độ trung bình hằng năm trên 27 – 28 °C, tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 12 và tháng 1 (25 – 26 °C), tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4 và tháng 5 (28 – 29 °C) Lượng mưa trung bình hàng năm toàn vùng là 1.520 – 1.800 mm, phân bố không đều theo thời gian và không gian Suốt mùa mưa (tháng 05 đến tháng 10) lượng mưa chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm, và lượng mưa rất ít
trong mùa khô (tháng 11 đến tháng 4)
ĐBSCL bị chia cắt bởi hệ thống sông tự nhiên kết hợp với hệ thống sông ngòi chằng chịt đã tạo thành hệ thống thủy lợi cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, rửa mặn và cũng là hệ thống đường thủy vận chuyển tốt, rất thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá, nông sản Mùa lũ thường kéo dài 5 tháng với lượng nước chiếm khoảng 3/4 tổng lượng nước cả năm, và 7 tháng mùa khô cạn, lượng nước còn lại rất ít Do đó, thủy triều có ảnh hưởng rất lớn đến phần lớn vùng hạ lưu sông Mê kông, toàn bộ ĐBSCL của Việt Nam Do ảnh hưởng của thủy triều, nước mặn từ biển thường tràn vào sâu trong đất liền vào mùa khô Mức độ xâm nhập mặn tùy thuộc vào sự xâm nhập của nước biển, và tùy vào mùa trong năm, cao điểm vào các tháng có lượng mưa thấp, khoảng tháng 3 – 4 ĐBSCL có khoảng 1,8 – 2,1 triệu ha đất tự nhiên chịu ảnh hưởng của mặn, tập trung ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng và Kiên Giang, phần lớn là đất bị nhiễm mặn kết hợp với phèn, ngập nước (Lê Sâm, 2003)
Theo Bộ Nông Nghiệp và PTNT (2001), ĐBSCL được chia ra làm 06 vùng sinh thái: vùng ven và giữa sông Tiền và sông Hậu, vùng Đồng Tháp Mười, vùng Tây sông Hậu, vùng Tứ giác Long Xuyên, vùng Bán đảo Cà Mau, vùng ven biển Đông Trong
đó các vùng bị ảnh hưởng mặn chính là vùng Bán đảo Cà Mau với diện tích tự nhiên 946.000 ha Diện tích hiện đang sử dụng 676.000 ha, gồm các loại đất mặn và đất phèn mặn Yếu tố chính ảnh hưởng đến sản xuất của vùng là thiếu nước ngọt và ảnh hưởng mặn
Diện tích nuôi thủy sản nước mặn, lợ chỉ tập trung ở 8 tỉnh ven biển vùng ĐBSCL là Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang Năm 2005, diện tích thả tôm đạt 564.650 ha, tăng 142.458 ha so với năm
Trang 212001 (diện tích năm 2001: 422.192 ha) và đến năm 2010 đạt: 567.000 ha, tăng 2.350
ha so với năm 2005 (Nguyễn Ngọc Anh, 2005) Trong giai đoạn 2005-2010, diện tích nuôi bắt đầu ổn định, sự thay đổi lớn là xu hướng chuyển đổi từ mô hình nuôi mức độ thấp (QC, QCCT) sang mô hình thâm canh (BTC và TC) (Phan Thanh Lâm và ctv, 2011)
2.3.2 Tình hình nuôi tôm sú ở ĐBSCL
Theo Lê Quang Trí và ctv (2004), tại khu vực ĐBSCL xu thế chuyển đổi cơ cấu sản xuất, hệ thống canh tác từ năm 2000 đến nay đã biến động rất mạnh, chủ yếu từ đất nông nghiệp sang các hệ thống canh tác trong đó nuôi trồng thủy sản lợ mặn là chủ lực
do tác động bởi Nghị quyết 09 Sự phát triển này đã góp phần trong việc gia tăng tốc
độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập người sản xuất và cải thiện cuộc sống trong những năm đầu Tuy nhiên trong quá trình phát triển các hệ thống canh tác này cũng phát sinh các vấn đề thiếu đồng bộ về phát triển giữa các khu vực kinh tế, giữa sản xuất với cơ
sở hạ tầng và nguồn nhân lực, đồng thời gây chuyển đổi mạnh về đời sống xã hội và biến động về tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái, các vấn đề môi trường
Tính đến năm 2006, diện tích nuôi tôm sú của Việt Nam lên đến 670,8 ngàn ha với tổng sản lượng lên đến 346 ngàn tấn (Bộ Thủy sản 2007), trong đó diện tích nuôi khu vực ĐBSCL chiếm gần 90% của cả nước Mặc dù còn nhiều vấn đề trở ngại cần giải quyết cho sự phát triển ổn định của nghề nuôi tôm sú Việt Nam, diện tích và sản lượng nuôi tôm sú vẫn tiếp tục gia tăng trong những năm trở lai đây (Phạm Bá Vũ Tùng và ctv, 2008)
Năng suất tôm sú nuôi bình quân có xu hướng tăng theo thời gian từ 0,35 tấn/ha lên đến 1,06 tấn/ha năm 2008, đưa tốc độ tăng năng suất bình quân đạt 12,5%/năm (Lê Tiêu La và ctv, 2009)
Theo dự kiến, trong năm 2011, diện tích nuôi tôm nước lợ cả nước sẽ đạt 640.000 ha, sản lượng đạt 460.000 tấn, trong đó sản lượng tôm sú đạt 320.000 ha và tôm chân trắng đạt 140.000 ha Diện tích nuôi tôm nước lợ cả nước trong năm 2010 đạt trên 639.000 ha, sản lượng đạt gần 470.000 tấn Sản xuất tôm giống tuy còn nhiều
Trang 22bất cập nhưng nhìn chung chất lượng giống tôm nước lợ trong năm 2010 được kiểm soát khá chặt chẽ, sản xuất giống tôm sú, tôm thẻ chân trắng đạt 43 tỷ con, cung cấp tại chỗ ở các tỉnh có điều kiện tự nhiên, môi trường phù hợp Theo Tổng cục Thủy sản, năm 2010 diện tích nuôi tôm nước lợ trong cả nước bị thiệt hại hơn 60.000 ha, trong
đó diện tích tôm bị bệnh là 26.000 ha chiếm hơn 4% diện tích nuôi cả nước.(http://www.baomoi.com/San-luong-tom-nuoc-lo-huong-den-moc-460000tan/45/ 5581742.epi)
Theo VASEP (2010) con tôm là một trong những mặt hàng xuất khẩu thủy sản chủ lực của Việt Nam và đã cạnh tranh được với một số thị trường xuất khẩu thế giới; kim ngạch xuất khẩu tôm đạt gần 2 tỷ USD, tăng 23,47% so năm 2009 Tôm sú đạt tổng sản lượng gần 335.000 tấn (http://www.baomoi.com/Phat-trien-ben-vung-nghe-nuoi-tom-o-dong-bang-song-Cuu-Long/45/5936007.epi)
2.3.3 Thực trạng tình hình nghiên cứu và sản xuất của mô hình luân canh lúa ở ĐBSCL
tôm-Mô hình nuôi tôm luân canh trong ruộng lúa được chính thức quan tâm khi công nghệ sinh sản tôm biển tại Việt Nam thành công cung ứng hàng loạt cho người nuôi Các tỉnh đồng bằng có điệu kiện xâm nhập mặn trong thời gian 6 tháng nước ngọt và 6 tháng nước mặn trong năm đã linh hoạt trong quy hoạch vùng nuôi tôm luân canh mang lại cho người dân thu nhập đáng kể từ năm 1980 đến nay Người dân đầu
tư nhiều hơn như thả thêm con giống, cung cấp thêm thức ăn hoặc các đầu tư khác (Preston và ctv, 2003) Các cuộc điều tra cho thấy, lợi nhuận trên mô hình nuôi tôm luân canh với trồng lúa mang lại lợi ích cao so với trồng một vụ lúa tại Mỹ Xuyên-Sóc Trăng và huyện Giá Rai-Bạc Liêu, từ đó cũng dẫn đến diện tích trồng lúa thu hẹp đáng
kể, người dân trông chờ vào vụ nuôi tôm để tăng thu nhập Tâm lý này gây cho người nuôi thờ ơ với ruộng lúa ảnh hưởng đến an ninh lương thực quốc gia và khu vực
Mô hình luân canh tôm-lúa đạt hiệu quả thấp là do nhiều nguyên nhân Hệ thống thuỷ lợi phục vụ nuôi tôm chưa được đầu tư đúng mức, còn khá mỏng, không đồng bộ Hàng loạt các yếu tố về môi sinh, nuôi trồng thuỷ sản khác gây ô nhiễm môi trường nước dẫn đến tôm sú chết hàng loạt trên diện rộng Khoa học công nghệ, con giống, công tác khuyến ngư còn yếu kém (Đỗ Khắc Thịnh và ctv, 1997) Phần lớn
Trang 23nông dân được sử dụng hệ thống thuỷ lợi nội đồng phục vụ trồng lúa trước đây hoặc tự đào, xẻ kênh mương không theo quy trình thiết kế kỹ thuật, dẫn đến không đảm bảo yêu cầu cấp thoát nước ao đầm vuông nuôi tôm Nông dân thả nhiều vụ tôm trong năm, không cách ly được với mầm bệnh Để nâng mô hình tôm-lúa đúng với tiềm năng của nó còn nhiều việc phải làm Ngoài ra, sản xuất tôm sú giống tại địa phương hiện nay chỉ mới đáp ứng được 25 – 30% so với nhu cầu
Năm 2003, mô hình lúa-tôm ở Sóc Trăng, Cà Mau bị thiệt hại nặng Tại huyện
Mỹ Xuyên (Sóc Trăng) có đến gần 10.000 ha lúa chết và cũng không thu hoạch được tôm Trên địa bàn tỉnh Cà Mau, ngay cả mô hình của các nhà khoa học trình diễn nhằm nhân rộng cũng không thành công Trong khi đó, tại hai huyện Phước Long, Hồng Dân của tỉnh Bạc Liêu mô hình luân canh lúa tôm lại gặt hái những thành công nhất định Theo Sở Thủy sản Bạc Liêu cũ (nay là Sở NN – PTNT), năm 2003 mô hình luân canh tôm-lúa đã đem lại hiệu quả mỗi ha lãi từ 25 – 30 triệu đồng (Minh và ctv, 2003) Đến năm 2008, theo báo cáo của Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau, đây là năm sản xuất một vụ lúa trên đất nuôi tôm thành công nhất từ khi chuyển dịch đến nay Với tổng diện tích gieo cấy là 43.415 ha, đạt 166,98% so kế hoạch (26.000 ha) và tăng 11.685 ha so với năm 2007 Tổng diện tích lúa tôm thu hoạch 42.272 ha, đạt 97,34% so với diện tích gieo cấy và tăng 11.343 ha so với năm 2007 (tăng 36,6%) Năng suất bình quân đạt 3,5 tấn/ha, tăng 0,2 tấn/ha so với năm 2007
Tại Cà Mau, vào thời điểm năm 1999 – 2000, tỉnh có chủ trương chuyển dịch
cơ cấu sản xuất trên diện rộng theo hướng phát triển mô hình nuôi thuỷ sản, Mô hình nuôi luân canh tôm-lúa cũng được thực hiện chủ yếu tại Cái Nước có năng suất từ 200 – 300 kg/ha không bổ sung thức ăn vào ruộng(Cao Phương Nam, 2003) Diện tích tôm- lúa của Bạc Liêu đến nay khoảng 29.000 ha, năng suất tôm nuôi khoảng 250-300kg/ha (Sở Nông nghiệp &PTNT Bạc Liêu, 2008)
Kiên Giang là tỉnh có diện tích chuyển đổi sang tôm - lúa lớn nhất, đến nay diện tích tôm lúa của tỉnh là 60.000 ha và năng suất nuôi cũng tương đương năng suất của tỉnh Bạc Liêu (Sở Nông nghiệp &PTNT Kiên Giang, 2008)
Trang 24Nuôi tôm-lúa đang được xem là mô hình canh tác thích hợp cho vùng nhiễm mặn theo mùa và bước đầu được đánh giá là có tính bền vững và được sự chấp thuận rộng rãi của nông dân do tính hiệu quả về mô hình Các tác động tiêu cực của việc nuôi tôm đến chất lượng đất và sản lượng vụ trồng lúa tiếp theo cho đến nay vẫn chưa
có nghiên cứu nào khẳng định Thực tế phát triển mô hình tôm-lúa thời gian qua ở ĐBSCL cũng chưa cho thấy những tác động tiêu cực này (Phan Thanh Lâm và ctv, 2009)
Hình 2.3 Mô hình luân canh tôm – lúa
2.3.3.1 M ùa vụ thả giống tôm
Theo thống kê từ 1997 đến nay, người dân trong vùng nuôi tôm theo mô hình luân canh tôm-lúa, thời gian thả giống khác nhau phụ thuộc vào điều kiện khí hậu của vùng nuôi mức độ và thời gian xâm nhập, chu kỳ nuôi và yếu tố tài chính trong lúc đó Thế nhưng người dân thường thả giống từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, nhưng tập trung vào tháng 1 hàng năm (Preston và ctv, 2003) Bình quân chu kỳ nuôi của các hộ
từ 3 – 6 tháng tuỳ theo mật độ thả và phương thức thu hoạch của nông hộ và thời gian ngọt hoá của vùng Đa số người nuôi ít quan tâm đến vụ trồng lúa, chỉ tập trung vào tôm nuôi trong ruộng kết quả không trồng lúa để nuôi luân canh vì lợi nhuận nuôi tôm phá vỡ sinh thái, mô hình điển hình một số hộ dân ở Mỹ Xuyên-Sóc Trăng và huyện Giá Rai-Bạc Liêu
Tại vùng nuôi luân canh tôm-lúa ở Cà Mau, thời gian thả nuôi tôm vào mùa khô dao động từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau và thu hoạch từ tháng 5 – 6 và vụ trồng lúa diễn ra vào mùa mưa bắt đầu từ tháng 7 – 8 thu hoạch từ tháng 10 – 12
Trang 252.3.3.2 Về mật độ thả nuôi và năng suất tôm nuôi
Mật độ thả nuôi trên đối tượng tôm sú là chủ yếu được ghi nhận trong mô hình nuôi tôm-lúa luân canh biến động khác nhau tuỳ thuộc vào kinh nghiệm của người nuôi, vùng nuôi và khả năng tài chính đầu tư cho mô hình Các nghiên cứu điều tra và thực hiện mô hình nuôi tôm sú luân canh trong ruộng lúa cho thấy dao động từ 0,5 –
10 con/m2 Kết quả điều tra của Preston và ctv (2003) cho thấy rằng người nuôi thả giống tăng mật độ theo từng năm điển hình bình quân mật độ thả năm 1997, mật độ thả trung bình 1,4 PL/m2
, 1,7 PL/m2 (năm 1999) Trong đó các vùng khảo sát cho thấy
Mỹ Xuyên – Sóc Trăng người dân nuôi mật độ cao hơn so với vùng Bạc Liêu và Cái Nước - Cà Mau
Tỷ lệ sống của tôm nuôi trong mô hình tôm lúa là 83 – 94%, trung bình 89% ở Bạc Liêu và Cái Nước – Cà Mau (Preston và ctv, 2003; Cao Phương Nam, 2003) Năng suất nuôi tôm mô hình luân canh được đánh giá còn thấp dao động từ 80 – 392 kg/ha/vụ vào những năm 1997 – 1999 (Preston và ctv, 2003)
Điểm đặc trưng của mô hình QCCT tại khu vực Đầm Dơi là việc xuống giống
và thu hoạch được tiến hành song song và hầu như quanh năm Có trên 94% các nông
hộ thả giống 1 lần/tháng và số ít còn lại thả 2 lần trong 1 tháng Mật độ thả giống trung bình của các nông hộ được điều tra là 1,5 ± 0,935 con/m2 và khá ổn định Trung bình
có đến 79,41% số hộ có thu hoạch tôm hằng tháng, và tỷ lệ số hộ có thu hoạch tôm khá
ổn định trong suốt 12 tháng điều tra Năng suất thu hoạch tôm trung bình của các hộ tương đối ổn định là 20 kg/tháng (240 kg/năm) Kích cỡ tôm thu hoạch trung bình khá lớn 30 con/kg Tuy nhiên, để nâng cao năng suất cho loại hình nuôi này từ năng suất
240 kg/ha lên 350 kg/ha hay 500 kg/ha đòi hỏi chúng ta phải có các chiến lược thả giống về quy cỡ, mật độ, mùa vụ và các giải pháp thu hoạch hợp lý cần được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn nhằm góp phần nâng cao tính bền vững của mô hình (Ngô Văn Hải và ctv, 2011)
2.3.3.3 Sự biến động môi trường trong suốt quá trình nuôi tôm trong ruộng lúa
Với mô hình nuôi trong hệ thống canh tác tôm-lúa với độ sâu mực nước 0,6 – 0,8 m Yếu tố môi trường trong ao nuôi luân canh biến động rất lớn theo mùa và theo
Trang 26thời gian trong ngày Trong đó nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn và thay đổi từ 5,2 – 5,5
oC/ngày, pH nước biến động từ 0,6 – 0,75 đơn vị/ngày (Preston và ctv, 2003), rõ ràng bất lợi cho tôm nuôi trong hệ thống canh tác đối với tôm nuôi bán thâm canh và thâm canh (Nguyễn Văn Hảo, 2000) Nhiệt độ trung bình trong hệ thống canh tác tôm-lúa
34 – 37 oC Nhiệt độ ban ngày trên trảng là 33 oC (Preston và ctv, 2003) cao hơn 10 o
C
so với nhiệt độ thích hợp cho sự tăng trưởng của tôm (Chen và Chen, 1999) Trong khi nhiệt độ ở mương bao xung quanh và các yếu tố môi trường khác thì thích hợp cho sự phát triển của tôm (Preston và ctv, 2003)
Oxy hoà tan trong hệ thống canh tác dao động ít trong suốt thời gian nuôi trong mùa khô, nhưng dao động giữa sáng (3 – 5 mg/L) và chiều (6 – 15 mg/L) thích ứng cho tôm sú sinh trưởng và phát triển (Nguyễn Văn Hảo, 2001)
Hàm lượng nitrate và nitrite dao động trong hệ thống 0,01 – 0,1 mg/L thuận lợi cho tôm nuôi phát triển Độ mặn của nước được thay đổi theo thời gian và cả không gian Độ mặn nước trong ruộng nuôi phù thuộc rất nhiều vào tần suất thay nước cho hệ thống nuôi, lượng mưa và cả độ mặn của hệ thống thủy lợi xung quanh (Preston và ctv, 2003)
2.3.4 Những khó khăn và thuận lợi trong mô hình canh tác tôm-lúa
2.3.4.1 Nuôi tôm trong mùa khô
Thuận lợi
Người dân có kinh nghiệm về kỹ thuật nuôi từ nhiều năm, nên tiếp thu dễ dàng Công trình xây dựng đơn giản và chi phí đầu tư cho mô hình nuôi thấp so với các phương thức nuôi khác
Các chỉ tiêu chất lượng nước cũng như nền đáy ruộng được đánh giá thích hợp cho sinh lý sinh trưởng của tôm
Chất lượng giống ngày càng được nâng cao, ở các vùng nuôi tôm lúa có đủ khả năng đáp ứng thức ăn và hóa chất trong nuôi tôm
Trang 27Kết cấu ao nuôi còn khá thô sơ, phần lớn được cải tạo lại từ các ruộng trồng lúa nhưng hoàn toàn chưa có các cải thiện về mặt công trình trong suốt giai đoạn 2001 đến nay
Việc sử dụng vôi và hóa chất của các nông hộ nuôi tôm chưa được quan tâm Các biện pháp cải tạo ruộng nuôi, quản lý môi trường ao nuôi, chăm sóc tôm nuôi và vấn đề dịch bệnh vẫn chưa theo các quy trình nuôi tiến bộ Theo Nguyễn Văn Hảo (2006), việc quản lý môi trường ao nuôi hoàn toàn dựa vào điều kiện tự nhiên
2.3.4.2 Vụ trồng lúa trong mùa mưa
Thuận lợi
Một số tỉnh vùng ĐBSCL có vị trí địa lý giáp biển, nước lợ tràn sâu vào đất liền, thuận lợi phát triển thủy sản nói chung và nuôi tôm trong mô hình luân canh tôm lúa nói riêng
Các nghiên cứu lúa chịu mặn trong thời gian gần đây phát triển mạnh, đặc biệt
là sự phát hiện nhóm gen Saltol 1, điều khiển tính chịu mặn của lúa Viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) phát triển nhiều giống lúa cao sản ngắn ngày, có khả năng chịu mặn tốt như giống lúa Pokkali ở độ nhiễm mặn 0,6% Viện lúa ĐBSCL trong những
Trang 28năm gần đây đã tập chung nhiều cho việc lai tạo giống lúa chịu mặn cao hơn từ nhiều nguồn giống lúa chịu mặn tốt trong và ngoài nước (Ngô Văn Hải và ctv, 2011)
Trang 29Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 5 năm 2011 tại 3 tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau
Hình 3.1 Bản đồ vùng thu mẫu
Trang 303.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu sơ cấp:
Thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp chủ hộ và người phụ trách kỹ thuật/quản lý – các hộ điều tra được chọn ngẫu nhiên phân theo khu vực nuôi: 40 hộ nuôi tôm lúa ở Sóc Trăng (Mô hình luân canh 1 vụ tôm trong mùa khô và 1 vụ lúa trong mùa mưa); 40 hộ nuôi chuyên tôm (20 hộ ở Bạc Liêu, 20 hộ ở Cà Mau: mô hình nuôi tôm chuyên quanh năm trên ruộng lúa nhưng không trồng lại lúa), khảo sát 2 mô hình nuôi để có những thông tin về: Sản lượng, kỹ thuật nuôi, hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi,… theo biểu mẫu điều tra đã được soạn sẵn (phụ lục 1)
Cách thức thiết kế bảng câu hỏi: trước hết xem mục đích của việc điều tra là gì, những số liệu thu thập phải có liên quan tới đề tài, những thông tin đó phải đầy đủ, thiết kế phải đơn giản, sát với thực tế Bộ câu hỏi được chuẩn hóa thông qua khảo sát thử nghiệm trước khi tiến hành đi điều tra thực địa
Số liệu thứ cấp:
Thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp về tình hình nuôi và kinh tế xã hội của 3 tỉnh từ các nguồn dữ liệu của xã, huyện, tỉnh và các ban ngành liên quan:
- Sở NN&PTNT 3 tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau
- Báo cáo tổng kết năm của địa phương
- Báo cáo quy hoạch của địa phương
- Một số kết quả nghiên cứu của Viện, Trường tại 3 tỉnh điều tra
3.2.2 Xử lý và phân tích số liệu
Áp dụng phần mềm Excel, MiniTAB13 để xử lý và phân tích số liệu, tính các chỉ số thống kê mô tả đơn giản như: độ lệch chuẩn, số trung bình, tỷ lệ %, sai số của số trung bình được dùng đề mô tả sản lượng trung bình, tần suất, kinh nghiệm nuôi, các đặc trưng kinh tế xã hội của nông hộ… Dựa trên các chỉ số này tiến hành so sánh, phân tích và rút ra các nhận xét
• Tổng doanh thu = Tổng sản lượng x giá bán sản phẩm
Trang 31• Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí
• Tổng chi phí = Tổng biến phí + Chi phí cơ hội + Chi phí khấu hao
• Chi phí biến đổi = Chi phí giống + Chi phí lao động chuẩn bị ao + Chi phí lao động trong sản xuất + Chi phí lao động cho thu hoạch + Chi phí thuốc, hóa chất + Chi phí vôi, phân bón + Chi phí thức ăn + Chi phí điện, nhiên liệu
• Lượng tiền trả cho đại lý = Lãi suất của đại lý * (Chi phí thức ăn + Chi phí thuốc hóa chất)
• Chi phí khấu hao (KH) = KH xây dựng hệ thống + KH nâng cấp hệ thống + KH máy móc + KH chòi canh + Các KH khác
• Tỷ suất lợi nhuận = Lợi nhuận / Tổng chi phí
Áp dụng mô hình hồi quy đa biến được vận dụng để nghiên cứu các yếu tố xác định hiệu quả năng suất nuôi trung bình/ha/vụ của nông hộ Kết quả được rút ra từ hàm sản xuất Cobb-Douglas cho phép xác định mức độ tác động của từng nhân tố đầu vào ảnh hưởng đến năng suất trung bình/ha/vụ của nông hộ
Hàm sản xuất Cobb-Douglas được trình bày cụ thể như sau:
X2 : Kinh nghiệm nuôi (số năm)
X3: Chi phí thức ăn (đồng/ha/vụ)
Trang 32X4: Mật độ thả nuôi(con/ha/vụ)
X5 :Diện tích mặt nước (ha)
Xn : Các biến khác …
- D: biến giả (1 Mô hình tôm lúa; 0 Mô hình chuyên tôm)
- A : hằng số (Ln ao), với ao là các yếu tố sinh học khác
- α, β, … δ: Các hệ số tương quan tương ứng giữa từng Xi với Y
Trang 33Số nhân khẩu trung bình trong mỗi nông hộ khoảng 4 người, dao động trong khoảng 2 – 10 người Số người lao động trong gia đình trung bình khoảng 3 người và chiếm 68,54% số nhân khẩu trong gia đình Lao động tham gia nuôi tôm trung bình khoảng 2 người và chiếm 43,3% lao động gia đình Đối với mô hình chuyên tôm, có số nhân khẩu trung bình khoảng 5 người, dao động từ 2 – 8 người, số người lao động của mỗi gia đình khoảng khoảng 3 người chiếm 71,11% số nhân khẩu trong gia đình và số
lao động tham gia nuôi tôm khoảng 2 người chiếm 45,6% số người lao động trong gia đình Đối với mô hình tôm lúa, số nhân khẩu trung bình trong mỗi nông hộ khoảng 4 người, dao động từ 2 – 10 người, số người trong lao động của mỗi gia đình khoảng 3 người chiếm 65,91% số người trong gia đình, và số lao động tham gia nuôi tôm khoảng 2 người chiếm 40,9% số người lao động trong gia đình Như vậy, nuôi tôm đã đóng góp phần khá quan trọng đối với giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, và cũng đã trở thành nghề chính của vùng khảo sát
Trang 34Bảng 4.1 Kích cỡ nông hộ và lao động
Chuyên tôm (N=40)
Tôm lúa (N=40)
Tổng thể (N=80)
Phần trăm LĐ tham gia nuôi tôm/ gia
Tỷ lệ tham gia lao động của nam cao hơn so với nữ ở cả 2 mô hình, chuyên tôm
(Trong đó nam: 50%, nữ: 50%), tôm lúa (Trong đó nam: 50,86%, nữ: 49,14%)
50.00 50.00
50.86
49.14
48.0048.5049.0049.5050.0050.5051.00
Biểu đồ 4.1 Phân bố lao động gia đình
4.1.2 Tuổi và trình độ học vấn của nông hộ
Từ kết quả điều tra cho thấy độ tuổi trung bình tổng thể của chủ hộ là 47 tuổi,
mô hình tôm lúa là 47 tuổi, mô hình chuyên tôm là 46 tuổi Chủ hộ của 2 mô hình có
Trang 35độ tuổi dao động từ 25 – 66 tuổi, trong đó của mô hình tôm lúa là từ 25 – 60 tuổi, mô hình chuyên tôm từ 28 – 66 tuổi
Bảng 4.2 Tuổi của chủ hộ
Chuyên tôm (N=40)
Tôm lúa (N=40)
Tổng thể (N=80)
Qua biểu đồ 4.2, chủ hộ có độ tuổi lớn hơn 50 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất ở cả 2
mô hình (Tôm lúa: 45%, chuyên tôm: 43%) Cho thấy hiện nay nhân lực tham gia nuôi tôm chủ yếu là các lao động lớn tuổi điều này cho thấy một sự thuận lợi trong việc nuôi tôm vì người nuôi lâu năm sẽ giảm thiểu được những rủi ro trong nuôi tôm, còn các lao động trẻ thì tham gia các hoạt động khác, hoặc đi khỏi địa phương để sinh sống Đây là điều đáng quan tâm, vì lao động trẻ sẽ làm việc có năng suất hơn, và ham tìm tòi những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới để áp dụng vào sản xuất, đồng thời làm giảm tính bền vững của mô hình khi lớp trẻ không thực sự quan tâm và tận dụng tiềm năng vốn có của vùng Sau vài năm nữa khi mà những lao động lớn tuổi này không còn đủ năng lực để nuôi tôm, nếu lúc đó không có nguồn nhân lực thay thế, thì nghề nuôi tôm trong vùng không còn ổn định nữa
Trang 3620.035.045.0
0.010.020.030.040.050.0
Biểu đồ 4.2 Phân bố tuổi chủ hộ
Kết quả điều tra cũng cho thấy đa số người dân ở các vùng này có trình độ từ cấp 2 đến cấp 3, cấp 2: tôm lúa chiếm 52,5% số hộ điều tra xác nhận, chuyên tôm chiếm 35%, cấp 3: tôm lúa chiếm 40%, chuyên tôm chiếm 35% Còn một số hộ đã qua các khóa dạy nghề chiếm tỷ lệ thấp ở mô hình tôm lúa (7,5%), ở mô hình chuyên tôm chiếm tỷ lệ tương đối cao hơn mô hình tôm lúa (20%) Nhìn chung người dân ở mô hình tôm lúa có trình độ cấp 3 và dạy nghề chiếm tỷ lệ thấp hơn so với mô hình chuyên tôm, vì vậy việc truyền đạt các tài liệu tập huấn về các kỹ thuật nuôi cho các
hộ nuôi chuyên tôm cũng thuận lợi hơn so với mô hình tôm lúa
3545
20
52.540
7.5
0102030405060
Biểu đồ 4.3 Trình độ học vấn của chủ hộ
Trang 374.1.3 Kinh nghiệm nuôi và nguồn kỹ thuật nuôi tôm
Theo điều tra cho thấy kinh nghiệm nuôi trung bình của tổng thể là 12 năm, dao động trong khoảng 2 – 24 năm, các hộ mới bắt đầu nuôi chiếm rất ít, trong đó chủ hộ nuôi chuyên tôm có kinh nghiệm trung bình thấp hơn hộ nuôi tôm lúa (Chuyên tôm:
10 năm, tôm lúa: 15 năm) Đa số là những người nuôi lâu năm nên có nhiều thuận lợi hơn, tích lũy được nhiều kinh nghiệm từ các vụ nuôi trước và hạn chế được những mối nguy trong nuôi tôm
Bảng 4.3 Kinh nghiệm nuôi tôm của chủ hộ
Chuyên tôm (N=40)
Tôm lúa (N=40)
Tổng thể (N=80)
Nguồn kỹ thuật nuôi có từ kinh nghiệm gia đình và tham gia các lớp tập huấn chiếm tỷ lệ cao ở cả 2 mô hình Kinh nghiệm gia đình: Tôm lúa chiếm 50,0% số hộ điều tra, chuyên tôm chiếm 50,6% số hộ điều tra Tham gia các lớp tập huấn: Tôm lúa chiếm 50,0%, chuyên tôm chiếm 48,1% Cao đẳng dạy nghề chiếm tỷ lệ thấp ở mô hình chuyên tôm (1,3%) và hầu như không có ở mô hình tôm lúa Nếu xét nguồn kỹ thuật nuôi giữa 2 mô hình thì thấy không chênh lệch nhiều Các hộ nuôi tôm vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm gia đình và tham gia các lớp tập huấn cho nên đa số kinh nghiệm nuôi của họ là từ thực tế
Trang 38Chuyên tôm Tôm lúa Mô hình
Kinh nghiệm giađình
Tham gia các lớptập huấn
Dạy nghề +caođẳng
Biểu đồ 4.4 Nguồn kỹ thuật nuôi
4.1.4 Ngành nghề sản xuất khác của nông hộ
Ngoài thủy sản, những người trong gia đình cũng tham gia một số ngành nghề sản xuất khác như nông nghiệp, chăn nuôi, buôn bán, công nhân…nhìn chung, kinh tế của vùng phát triển chưa vững chắc, phụ thuộc nhiều vào ngư - nông - lâm - nghiệp nên thiếu ổn định, thiếu bền vững và tiềm ẩn nhiều rủi ro do ảnh hưởng của thiên nhiên và thời tiết Nghề nuôi thủy sản những năm gần đây phát triển mạnh, thu hút nhiều nông dân tham gia sản xuất Có nhiều lý do mà người dân trong vùng chuyển từ trồng trọt và chăn nuôi gia súc sang nuôi thủy sản do giá vật tư nông nghiệp ngày càng tăng, chăn nuôi gia súc và gia cầm có nhiều rủi ro do nhiều loại bệnh, có thể gây thiệt hại lớn
Ở mô hình tôm lúa, nông nghiệp giữ vai trò quan trọng (100%) trong ngành nghề sản xuất của nông hộ, ngoài ra còn có chăn nuôi (25%) Ở mô hình chuyên tôm, chăn nuôi (42,5%) chiếm tỷ lệ cao nhất trong các ngành nghề khác của nông hộ, kế
đến là buôn bán (32,5%)
Trang 39Bảng 4.4 Ngành nghề sản xuất khác của nông hộ
(% số hộ điều tra)
Chuyên tôm (N=40)
Tôm lúa (N=40)
Tổng thể (N=80)
4.1.5 Diện tích sản xuất của nông hộ
Tổng diện tích của mỗi nông hộ trung bình là 2,32 ha, dao động trong khoảng 0,25 – 13,61 ha Qua bảng số liệu ta thấy diện tích nông hộ của mô hình chuyên tôm (3,08 ha) lớn hơn so với mô hình tôm lúa (1,56 ha) Đây có thể là do cơ cấu diện tích đất sản xuất của người dân vùng chuyên tôm cao hơn so với vùng tôm – lúa
Diện tích mặt nước nuôi tôm trung bình theo khảo sát là 1,84 ha, dao động trong khoảng 0,2 – 10,8 ha, diện tích mặt nước của mô hình chuyên tôm (2,44 ha) cũng lớn hơn so với mô hình tôm lúa (1,24 ha) Với tiềm năng mặt nước rộng lớn và
đa dạng như thế sẽ thuận lợi cho việc chủ động đầu tư, tận dụng được nguồn tài nguyên sẵn có
Theo bảng số liệu cho thấy diện tích mặt nước của tổng thể chiếm 79,3% tổng diện tích sản xuất của nông hộ, phần trăm diện tích mặt nước/ tổng diện tích sản xuất của mô hình tôm lúa và chuyên tôm không chênh lệch nhiều Tỷ lệ mặt nước của 2 mô hình là tương đối lớn, thuận lợi cho việc nuôi tôm ở qui mô như hiện nay (QCCT)
Trang 40
Bảng 4.5 Diện tích sản xuất của nông hộ
4.1.6 Nguồn vốn sản xuất của nông hộ
Tỷ lệ nông hộ vay vốn ngân hàng của 2 mô hình chiếm 23,75% số hộ điều tra, của mô hình tôm lúa và chuyên tôm cũng không cao (chuyên tôm 22,5%, tôm lúa 25%) Lãi xuất từ 1,45 – 1,7%/ tháng Tỷ lệ có sử dụng vốn vay ngân hàng thấp là do nhiều người dân nuôi tôm không có tài sản thế chấp hoặc có nhưng hiện vẫn còn đặt ở
ngân hàng do vay mượn trước đây chưa hoàn trả lại Hiện nay, nhu cầu của hộ nuôi tôm về vay vốn là rất lớn, tuy nhiên cần phải có những giải pháp quản lý thích hợp để đảm bảo các bên đều có lợi và tránh được rủi ro
Người dân mua chịu thuốc thú y, thủy sản từ đại lý thông thường là từ tháng thứ
3 của quá trình nuôi mới được đại lý chấp nhận hoặc người dân có thể mua chịu đại lý ngay từ đầu (Hộ có quan hệ lâu dài với đại lý) Đại lý tính lãi bắt đầu từ thời điểm mua chịu sản phẩm, có thể tính lãi theo thỏa thuận giữa đại lý và người dân, lãi suất là 2%
vụ nuôi/ tháng và thường cao hơn lãi ngân hàng, hoặc đại lý kê giá bán cao hơn (Giá này đã bao gồm lãi suất tính đến cuối vụ khi người dân bán tôm và trả hết cho đại lý)