1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA CHẤT DẪN DỤ OL4 LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN CỦA CÁ RÔ PHI VẰN (Oreochromis niloticus)

83 276 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thí nghiệm được chia làm hai giai đoạn; giai đoạn 1 cá được nuôi trong các bể composite với thể tích 500 lít/bể và được cho ăn 2 lần mỗi ngày với lượng thỏa mãn bằng các công thức thức ă

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA TH ỦY SẢN

TĂNG TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN CỦA

CÁ RÔ PHI V ẰN (Oreochromis niloticus)

H ọ và tên sinh viên: TRẦN MINH HIỂN Ngành: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Niên khóa: 2009 – 2011

Tháng 07/2011

Trang 2

NGHIÊN C ỨU TÁC DỤNG CỦA CHẤT DẪN DỤ OL4 LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN CỦA CÁ RÔ PHI VẰN

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin chân thành cảm ơn:

Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh;

Cùng quý thầy cô Khoa Thủy Sản đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến với:

Thầy Nguyễn Văn Tư đã hướng dẫn cho tôi những bước đầu trong việc chuẩn

bị đề tài

Thầy Lê Thanh Hùng, cô Võ Thị Thanh Bình đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các anh chị, ở Trại Thực Nghiệm Thủy Sản

trực thuộc Khoa Thủy Sản Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, cùng các bạn sinh viên trong và ngoài lớp đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Trang 4

TÓM T ẮT

Đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất dẫn dụ OL4 lên tăng trưởng và hiệu quả

sử dụng thức ăn của cá rô phi vằn Oreochromis niloticus” được tiến hành tại trại thực

nghiệm trực thuộc Khoa Thủy Sản Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 09 – 04 – 2011 đến ngày 07 – 06 – 2011

Nội dung nghiên cứu bao gồm một thí nghiệm với 5 nghiệm thức và 4 lần lặp

lại ở mỗi nghiệm thức và được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên

-NTA: thức ăn có 5% bột cá

-NTB: thức ăn không có bột cá

-NTC: thức ăn không có bột cá + 3% OL4 trộn sẵn

-NTD: thức ăn chứa 5% bột cá + 3% OL4 phun bên ngoài viên thức ăn OL4 -NTE: thức ăn không có bột cá + 3% OL4 phun bên ngoài viên thức ăn OL4 Thí nghiệm được chia làm hai giai đoạn; giai đoạn 1 cá được nuôi trong các bể composite với thể tích 500 lít/bể và được cho ăn 2 lần mỗi ngày với lượng thỏa mãn bằng các công thức thức ăn thí nghiệm để đánh giá các chỉ tiêu về tăng trọng, hiệu quả

sử dụng thức ăn và tỷ lệ sống; giai đoạn 2, cá sau khi kết thúc thí nghiệm được gây sốc

bằng dung dịch ammonia tổng số để đánh giá khả năng chống chịu của cá đối với sự bất lợi của điều kiện môi trường Kết quả thu được như sau:

-Tỷ lệ sống của cá sau khi kết thúc thí nghiệm: tỷ lệ sống trung bình giữa các nghiệm thức A, B, C, D và E lần lượt là 95,83%, 94,17%, 90,83%, 96,67% và 98,33%

-Kết quả về tăng trưởng: trọng lượng trung bình của cá ở các nghiệm thức lần lượt là: NTA đạt 108,03 g, NTB đạt 100,21 g, NTC đạt 92,12 g, NTD đạt 102,67 g và NTE đạt 99,17 g Về hệ số tăng trưởng đặc biệt: NTA đạt 3,52 %/ngày, NTB đạt 3,39

%/ngày, NTC đạt 3,23 %/ngày, NTC đạt 3,44 %/ngày, NTE đạt 3,37 %/ngày

-Hiệu quả sử dụng thức ăn: hệ số chuyển đổi thức ăn của cá ở các nghiệm thức

A, B, C, D và E theo thứ tự lần lượt là: 1,39, 1,48, 1,54, 1,46 và 1,49 Lượng ăn tuyệt đối của các nghiệm thức A, B, C, D và E khi kết thúc thí nghiệm lần lượt là: 2,11 g/cá/ngày, 1,94 g/cá/ngày, 1,80 g/cá/ngày, 2,02 g/cá/ngày, 2,00 g/cá/ngày Hiệu quả sử

Trang 5

dụng protein: NTA đạt 2,30, NTB đạt 2,18, NTC đạt 2,00, NTD đạt 2,22 và NTE đạt 2,10

-Tỷ lệ sống trung bình của cá rô phi vằn khi gây sốc bằng dung dịch ammonia

tổng số là: NTA đạt 20%, NTB đạt 60%, NTC đạt 55%, NTD đạt 70% và NTE đạt 37,50%

Không có sự khác biệt về mặt ý nghĩa thống kê (P > 0,05) về hiệu quả sử dụng

thức ăn và tăng trọng của cá rô phi vằn thí nghiệm giữa nghiệm thức có bổ sung chất

dẫn dụ OL4 và nghiệm thức không có bổ sung chất dẫn dụ

Trang 7

2.4.2 Nhóm yếu tố thức ăn 17 2.5 Chất dẫn dụ

2.5.1 Vai trò của chất dẫn dụ trong thức ăn cho thức ăn động vật

3.4.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá ảnh hưởng của chất dẫn dụ bổ sung vào

thức ăn lên tỷ lệ sống, sự tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá

3.4.2 Thí nghiệm 2: Đánh giá ảnh hưởng của chất dẫn dụ OL4 lên

khả năng chịu stress của cá rô phi vằn khi gây sốc bằng dung dịch

có nồng độ amonia tổng cộng (TAN) là 100 ppm (Oreochromis niloticus) 26

4.3 Kết quả ảnh hưởng của chất dẫn dụ OL4 lên tỷ lệ sống, sự tăng tưởng

và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) 34

4.3.2 Tăng trưởng của cá thí nghiệm

Trang 8

4.3.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn 38 4.4 Ảnh hưởng của chất dẫn dụ OL4 lên khả năng chịu đựng của

cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) khi gây sốc bằng dung dịch

Trang 9

DANH SÁCH CÁC CH Ữ VIẾT TẮT

Trang 10

SD Standard Deviation

BFAR NFFTC Bureau of Fisheries and Aquaculture Resource National Fresh

water Fisheries Tecnology Center

Trang 11

DANH SÁCH CÁC B ẢNG

Bảng 2.1: Ngưỡng giới hạn và thích hợp các chỉ tiêu

Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng của cá rô phi vằn trong cùng điều kiện nuôi 9

Bảng 2.4: Hàm lượng protein cần thiết cho cá rô phi (các nhóm loài và tuổi) 12

Bảng 2.7: Các nguyên tố muối khoáng cần thiết

Bảng 3.2: Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng

Bảng 4.3: Trọng lượng ban đầu của cá rô phi khi bố trí thí nghiệm 35

Bảng 4.5: Hệ số tăng trưởng đặc biệt của cá rô phi vằn thí nghiệm 37

Trang 12

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình ảnh

Đồ thị

Đồ thị 2.1: Sản lượng và giá trị của cá rô phi từ năm 1998 đến 2007 3

Đồ thị 4.1: Biến động DO (mg/L) vào buổi sáng

Đồ thị 4.2: Biến động DO (mg/L) vào buổi chiều

Đồ thị 4.3: Biến động pH vào buổi sáng trong quá trình thí nghiệm 30

Đồ thị 4.5 Biến động nhiệt độ buổi sáng (oC) trong quá trình thí nghiệm 32

Đồ thị 4.6: Biến động nhiệt độ buổi chiều (o

C) trong quá trình thí nghiệm 32

Đồ thị 4.7: Biến động hàm lượng ammonia (ppm)

Đồ thị 4.9: Tỷ lệ sống của cá rô phi vằn thí nghiệm theo thời gian

Trang 13

Chương 1

GI ỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Nuôi trồng thủy sản phát triển ngày càng nhanh hơn các ngành sản xuất thực phẩm khác, với mức tăng trưởng hằng năm là 8,8%/năm vào năm 1970 So với chỉ 1,2% đối với ngành khai thác thủy sản và 2,8% đối với các hệ thống chăn nuôi trên

mặt đất (Nguyễn Như Trí, 2008) Sản lượng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản năm 2009 đạt 145 triệu tấn trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 55,1 triệu tấn chiếm khoảng 46%

tổng sản lượng cá sử dụng làm thực phẩm được cung cấp; ước tính cung cấp 17 kg (trọng lương sống) bình quân đầu người Xét về một cách toàn cầu, thì cá nói chung là nguồn cung cấp protein cho gần 1,5 tỷ người, sử dụng khoảng 20% nguồn đạm có từ

động vật và 3 tỷ người sử dụng khoảng 15%, bình quân đầu người (FAO, 2010)

Về khía cạnh thương mại, cá rô phi được xét là nhóm cá quan trọng đứng sau nhóm cá chép với sản lượng cá rô phi đánh bắt toàn cầu là 769.936 tấn năm 2007 (FAO, 2009) Ngoài ra, Cá rô phi được nuôi với sản lượng tăng vào những năm 1990

và được xếp hạng thứ 8 trên toàn thế giới về nhóm cá được nuôi phổ biến, với sản lượng nuôi đạt 2,5 triệu tấn năm 2007 đạt giá trị khoảng 3,3 tỷ USD Năm 2008, cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) được xếp hạng 5 trong những loài được nuôi nhiều

nhất trên toàn thế giới, với sản lượng nuôi khoảng 2,3 triệu tấn (FAO, 2009) Cá rô phi

vằn chiếm khoảng 84% tổng sản lượng cá rô phi xuất khẩu (FAO, 2009) Năm 2010 sản lượng cá rô phi vằn xuất khẩu được dự báo là sẽ đạt khoảng 2,5 triệu tấn đạt giá trị khoảng 5 tỷ USD (FAO, 2010)

Do có phẩm chất thịt trắng, ít xương dăm,… Nên tại thị trường Hoa Kỳ, Cá rô phi trở thành món ăn hải sản phổ biến đối với người tiêu dùng Hoa Kỳ Cá rô phi được

xếp vào trong tốp 10 món ăn hải sản lần đầu tiên vào năm 2002 Năm 2008 cá rô phi giành được vị trí thứ 5 về những món hải sản được ưa chuộng chỉ đứng sau tôm, cá thu, cá hồi và cá pollark (NFI, 2010)

Trang 14

Đối với mô hình nuôi thâm canh thì thức ăn công nghiệp là điều cần thiết cho thành công cho vụ nuôi Trước đây, bột cá được sử dụng như nguồn đạm chủ yếu để

sản xuất thức ăn chăn nuôi Bài toán về tìm ra nguồn cung và giá cả thích hợp cho nhu

cầu sử dụng một số lượng lớn bột cá vẫn chưa giải được Nhiều công trình nghiên cứu được xây dựng để đánh giá khả năng thay thế của các nguồn đạm thực vật và động vật đối với bột cá trong xây dựng khẩu phần thức ăn cho cá rô phi Trong những nguồn đạm này, bột đậu nành là một trong những nguồn nguyên liệu thay thế tốt nhất (Nguyễn Như Trí, 2008) Tuy nhiên, thức ăn được chế biến từ các nguồn đạm thực vật thường có mùi vị không hấp dẫn đối với cá nuôi; điều này cũng ảnh hưởng đáng kể đến lượng ăn và tăng trọng của cá Để giải quyết vấn đề này thì các chất dẫn dụ đã được sử dụng để kích thích tính bắt mồi của cá từ đó góp phần cải thiện lượng ăn của

cá nuôi

Do vậy, để đánh giá hiệu quả của sản phẩm OL4 chúng tôi đã thực hiện đề tài

“Nghiên cứu tác dụng của chất dẫn dụ OL4 lên sự tăng trưởng và hiệu quả sử dụng

thức ăn của cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus)”

1.2 Mục tiêu đề tài

Đánh giá hiệu quả của chất dẫn dụ OL4 khi được bổ sung vào thức ăn lên:

- Tỷ lệ sống, sự tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá rô phi vằn

(Oreochromis niloticus)

- Khả năng chịu stress của cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) khi gây sốc bằng

dung dịch có nồng độ ammonia tổng cộng (TAN) 100 ppm

Trang 15

cá rô phi năm 2007 tăng gần 24,8% so với năm 2006

Năm 2008 sản lượng cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) trên thế giới đạt

khoảng 2,3 triệu tấn (FAO, 2009) Sản lượng cá rô phi vằn xuất khẩu chiếm khoảng 84% tổng sản lượng cá rô phi xuất khẩu (FAO, 2009; trích bởi Kamal Mjoun và ctv, 2010)

Trung Quốc đứng nhất về sản lượng cá rô phi xuất khẩu (chiếm 46 % sản lượng

cá rô phi toàn cầu), với sản lượng ước tính khoảng 1,15 triệu tấn năm 2009 từ 1,13 triệu tấn năm 2007 ( FAO, 2010) Những quốc gia sản xuất cá rô phi chính (từ năm

2003 – 2004) là Ai Cập (290.000 tấn), Indonesia (206.000 tấn), Philippines (241.000

tấn), Thái Lan (180.000 tấn), và Brazil (100.000 tấn) (FAO, 2010) Dự báo trong thập niên tới Brazil là đối thủ cạnh tranh lớn nhất đối với Trung Quốc (FAO, 2010)

Trang 16

Trong khi Trung Quốc là nước đứng nhất về xuất khẩu cá rô phi thì Mỹ là thị trường nhập khẩu cá rô phi lớn nhất Theo Kamal Mjoun và ctv (2010), Hoa Kỳ nhập

khẩu khoảng 183,295 tấn sản phẩm cá rô phi năm 2009, ước tính giá trị khoảng 696,1 triệu USD (ERS, 2010) Trung Quốc là nước xuất khẩu sản phẩm cá rô phi vào Hoa kỳ lớn nhất (70% tổng sản lượng cá rô phi nhập khẩu) Về sản lượng cá rô phi nhập khẩu vào Hoa Kỳ, có 158.937 tấn sản phẩm đông lạnh và 24,358 tấn sản phẩm phi lê Trung

Quốc cung cấp 82% tổng sản lượng cá rô phi đông lạnh nhập khẩu vào Hoa Kỳ (nguyên con và phi lê), trong khi Ecuador, Honduras, và Costa Rica chiếm khoảng 87% về sản phẩm cá phi lê năm 2009 (FAO, 2009)

2.2 Một vài đặc điểm sinh học của cá rô phi

Loài: Oreochromis niloticus (Linnaeus)

Tên tiếng Anh: Nile tilapia

Tên tiếng Việt: cá rô phi vằn, cá rô phi Đài Loan

(Nguồn: Lê Hoàng Yến, 2006)

2.2.2 Nguồn gốc và sự phân bố

Cá rô phi thuộc họ Cichlidae, bộ cá vược Perciformes Cho đến năm 1964, người ta mới biết khoảng 30 loài cá rô phi, hiện nay con số đó khoảng 100 loài, trong

đó khoảng 10 loài có giá trị kinh tế (FAO, 2009)

Cá rô phi sống ở nhiều môi trường sống nước ngọt bao gồm cả dòng suối cạn,

ao, sông và hồ Trong lịch sử, cá rô phi đã có tầm quan trọng trong đánh bắt cá nhỏ ở châu Phi Theo Freyer và Iles (1972) cho rằng những hóa thạch còn sót lại của cá rô phi được tìm thấy ở châu Phi xác định khoảng 18 triệu năm tuổi

Trang 17

Hình 2.1: Bản đồ khu vực phân bố tự nhiên của cá rô phi

Những loài được nuôi phổ biến là cá rô phi vằn, rô phi xanh, rô phi đỏ và rô phi

đen trong đó loài nuôi phổ biên nhất là cá rô phi vằn (http://agriviet.com)

Ngày nay cá rô phi không những được nuôi ở châu Phi mà đã được phát tán và nuôi ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Trong vài chục năm trở lại đây, chúng mới thực sự trở thành loài cá nuôi công nghiệp, sản lượng lớn và giá trị kinh tế cao (http://agriviet.com)

Cá rô phi vằn có tên khoa học là Oreochromis niloticus, là loài cá có thịt ngon,

giá trị thương phẩm cao, nhanh lớn và dễ nuôi ở các mô hình nuôi khác nhau Kết quả nghiên cứu những năm gần đây cho thấy nuôi đơn cá rô phi hay nuôi ghép với các loài

cá khác, cá sinh trưởng nhanh và rất ít khi bị bệnh Cá rô phi có khả năng chống chịu tốt với các môi trường sống khác nhau và cho hiệu quả kinh tế cao (http://agriviet.com)

Ba giống cá rô phi phổ biến là Oreochromis, Tilapia và Sarotherodon; trong đó

cá rô phi vằn thuộc giống Oreochromis Loài cá này phân bố tự nhiên ở Palestine,

sông Nile cũng như là hầu hết các vùng sông và hồ ở châu Phi Cá rô phi được giới thiệu vào Philipines vào vào 1972 Số lượng chúng ngày càng tăng lên do chúng sở hữu khả năng kháng bệnh tốt, dễ đẻ, tăng trưởng tốt, phẩm chất thịt ngon, có khả năng thích nghi với khoảng rộng các điều kiện môi trường bao gồm nhiệt độ và độ mặn (http://www.bfar.gov.ph)

Trang 18

2.2.3 Một vài đặc điểm hình thái một số giống cá rô phi nuôi phổ biến

Hình 2.2: Hình dạng ngoài cá rô phi

Loài cá rô phi vằn Oreochromis niloticus: Toàn thân phủ vẩy, ở phần lưng có

màu xám nhạt, phần bụng có màu trắng ngà hoặc xanh nhạt Trên thân có từ 7 - 9 vạch chạy từ phía lưng xuống bụng Các vạch đậm dọc theo vây đuôi ở từ phía lưng xuống bụng rất rõ Cá rô phi vằn là loài có kích cỡ thương phẩm lớn, tăng trưởng nhanh và đẻ thưa hơn cá rô phi đen Ðây là loài được nuôi phổ biến nhất trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay (http://agriviet.com)

Loài cá rô phi đen Oreochromis mossambicus: Toàn thân phủ vẩy, vẩy ở lưng

có màu xám tro đậm hoặc xanh đến hơi nhạt Phần bụng có màu trắng xám hoặc xám ngà Trên thân và vây đuôi không có các sọc chạy từ phía lưng xuống bụng như ở cá rô phi vằn Cá rô phi đen (còn cọi là cá rô phi cỏ, rô phi sẻ) là loài lớn chậm, kích cỡ thương phẩm nhỏ, đẻ mau nên không được ưa chuộng (http://agriviet.com) Ngoài ra, còn một số giống cá rô phi khác như cá rô phi đỏ (cá diêu hồng) cũng được nuôi khá phổ biến hiện nay, đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long (http://agriviet.com)

Trang 19

2.2.4 Môi trường sống

Cá rô phi có thể chịu được độ biến động lớn của các thông số môi trường bao gồm các chỉ tiêu như độ mặn, hàm lượng oxy hòa tan, pH, nhiệt độ, và nồng độ ammonia hơn các loài cá nước ngọt được nuôi khác

2.2.4.1 Độ mặn

Nhìn chung, đa số các loài cá rô phi đều có khả năng thích nghi với độ mặn cao mặc dù mức độ thích nghi với độ mặn khác nhau thì tùy thuộc vào từng loài Cá rô phi vằn là loài có khả năng chịu độ mặn thấp nhất (18o

/oo; khi chuyển trực tiếp) Cá rô phi

sẻ (Tilapia zillii) là giống có khả năng chịu độ mặn cao nhất (EL – Sayed, 2006),

những loài cá rô phi khác có khả năng phát triển và sinh sản bình thường ở độ mặn tới

36o/oo Nhưng điều kiện thuận lợi cho cho cá rô phi (tăng trưởng và sinh sản) đo được

là ở độ mặn 19o

/oo (El – Sayed, 2006)

2.2.4.2 Hàm lượng oxy hòa tan (DO)

Cá rô phi có thể sống trong điều kiện mà môi trường nước có hàm lượng oxy hòa tan thấp, thậm chí có thể đến 0,1mg/L (Magid và Babiker, 1975); nhưng hàm lượng oxy hòa tan tối hảo cho sự phát triển là trên 3 mg/L (Ross, 2000)

2.2.4.3 Nhiệt độ

Nhiệt độ là nhân tố chính ảnh hưởng đến khả năng chuyển hóa của cá Nhiệt độ tối hảo cho sự phát triển của cá nằm trong khoảng 22o

C và 29oC; việc đẻ trứng diễn ra bình thường khi nhiệt độ cao hơn 22oC Hầu hết các loài cá rô phi có thể sống khi nhiệt

độ xuống thấp 10oC, và tăng trưởng chậm khi nhiệt độ xuống dưới 20o

C Đối với rô phi xanh là loài có khả năng chịu lạnh cao nhất, cá có thể sống khi nhiệt đô xuống 8o

C, trong khi những loài cá rô phi khác có thể chịu được nhiệt độ cao lên tới 42o

C (Sarig, 1969; Caulton, 1982; Mires, 1995)

2.2.4.4 pH và ammonia

Những chỉ tiêu chất lượng nước khác ảnh hưởng đến cá rô phi bao gồm pH và ammonia Nhìn chung, cá rô phi có thể chịu được pH trong phạm vi từ 3,7 - 11, nhưng

khoảng pH thích hợp cho sự phát triển trong khoảng từ 7 đến 9 (Ross, 2000)

Ammonia gây độc khi đạt nồng độ 2,5 và 7,1 mg/L (đây là nồng độ ammonia không phân li) đối với cá rô phi xanh và cá rô phi vằn theo thứ tự lần lượt (Redner và

, 2008) và cá giảm lượng ăn, tăng trưởng khi

Trang 20

ammonia ở 0,1mg/L (El – Sherif và ctv, 2008) Khoảng ammonia thích hợp cho sự phát triển của cá là khoảng dưới 0,05mg/L (El – Sherif và ctv, 2008)

Bảng 2.1: Ngưỡng giới hạn và thích hợp các chỉ tiêu chất lượng nước đối với cá rô

2.2.5 Đặc điểm sinh trưởng

Tốc độ lớn của cá rô phi phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, thức ăn, mật độ thả

và kỹ thuật chăm sóc Khi nuôi thâm canh, cá lớn nhanh hơn khi nuôi bán thâm canh hay nuôi ghép (http://agriviet.com)

Giai đoạn cá hương, trong ao nuôi cá từ hương lên giống, cá rô phi vằn có tốc

độ sinh trưởng khá nhanh từ 15 – 20 g/tháng Từ tháng nuôi thứ 2 đến tháng nuôi thứ 6 tăng trưởng bình quân có thể đạt 2,8 – 3,2 g/con/ngày Cá rô phi vằn có thể đạt trọng lượng bình quân trên 500 g/con sau 5 – 6 tháng nuôi (http://agriviet.com)

Trang 21

Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng của cá rô phi vằn trong cùng điều kiên nuôi

Thời gian nuôi Trọng lượng trung bình Ghi chú

Trong điều kiện ao nuôi cá rô phi thành thục sinh dục vào tháng thứ 3, 4 khi cá

có trọng lượng thông thường là 100 – 150 g/con (cá cái) Tuy vậy, kích thước thành thục sinh dục của cá rô phi phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc, điều kiện nhiệt độ và độ tuổi Cá nuôi trong mô hình thâm canh năng suất cao, cá cái tham gia sinh sản lần đầu sinh sản khi trọng lượng đạt trên 200 g trong khi đó ở điều kiện nuôi kém, cá cái bắt đầu đẻ khi trọng lượng cơ thể khoảng 100 g (http://agriviet.com)

2.2.6.2 Chu kỳ sinh sản của cá rô phi

Hầu hết các loài cá rô phi thuộc giống Oreochromis đều tham gia sinh sản

nhiều lần trong một năm Trong điều kiện khí hậu ấm áp, cá rô phi đẻ quanh năm (từ

10 – 11 lứa ở các tỉnh phía nam; 5 – 7 lứa ở các tỉnh phía Bắc) Quan sát buồng trứng

cá rô phi cho thấy: trong buồng trứng lúc nào cũng có trứng ở các giai đoạn khác nhau

Vì vậy, trong tự nhiên ở các ao nuôi cá rô phi chúng ta gặp rất nhiều cá con ở các cỡ khác nhau (trừ ao nuôi cá rô phi đơn tính) Số lượng trứng mỗi lần đẻ từ vài trăm trứng đến khoảng 2000 trứng Chu kỳ sinh sản của cá rô phi thường kéo dài từ 3 – 4 tuần (http://agriviet.com)

2.2.6.3 Tập tính sinh sản

Ðến thời kỳ thành thục, vào mùa sinh sản các đặc điểm sinh sản thứ cấp của cá

rô phi rất rõ Cá đực có màu hồng hoặc hơi đỏ ở dưới cằm, viền vây ngực, vây lưng và

Trang 22

vây đuôi, khi đó ở con cái có màu hơi vàng Ngoài ra, con cái có xoang miệng hơi chễ xuống (Bảng 2.3) (http://agriviet.com)

Bảng 2.3: Phân biệt cá đực và cá cái rô phi

trứng và con

Lỗ niệu và lỗ sinh dục 2 lỗ: Lỗ niệu sinh dục và lỗ hậu

- Ở nhiệt độ 28oC thời gian ấp khoảng 4 ngày

- Ở nhiệt độ 30oC thời gian ấp khoảng 2-3 ngày

- Ở nhiệt độ 20oC thời gian ấp khoảng 6 ngày

Cá sau khi nở lượng noãn hoàng lớn, cá rất yếu, cá mẹ tiếp tục ấp trong miệng

từ 4 – 6 ngày, cá mẹ “nhả” con và vẫn tiếp tục bảo vệ ở phía dưới trong 1 – 2 ngày đầu Cá bột khi còn nhỏ thường bơi thành đàn xung quanh ao, có thể quan sát được vào lúc sáng sớm (http://agriviet.com)

2.2.7 Đặc điểm dinh dưỡng

Saha và ctv (2006) cho rằng cá rô phi có thể sử dụng thức ăn có hàm lượng chất

xơ và carbohydrates cao hơn các loài cá khác

Tính ăn của cá rô phi thay đổi theo giai đoạn phát triển và môi trường nuôi Cá

rô phi là loài cá ăn tạp thiên về thực vật, thức ăn chủ yếu là tảo và một phần thực vật bậc cao và mùn bã hữu cơ Ở giai đoạn cá con, từ cá bột lên cá hương, thức ăn chủ yếu

Trang 23

là động vật phù du Từ giai đoạn cá hương đến cá trưởng thành, thức ăn chủ yếu là mùn bã hữu cơ và thực vật phù du Cá rô phi có khả năng tiêu hoá các loài tảo xanh, tảo lục mà một số loài cá khác không có khả năng tiêu hoá (http://agriviet.com)

Ðặc biệt cá rô phi có thể sử dụng rất có hiệu quả thức ăn tinh như: cám gạo, bột ngô, khô dầu lạc, đỗ tương, bột cá và các phụ phẩm nông nghiệp khác Trong nuôi thâm canh nên cho cá ăn thức ăn có hàm lượng đạm cao (18 – 35% Protein) (http://agriviet.com)

Trần Văn Vỹ (2005) cho rằng cá rô phi có nhu cầu dinh dưỡng gần giống với cá chép về thành phần tinh bột (dưới 40%), canxi (1,5 - 2%), P (1 - 1,5%), K, Na chỉ có một điều khác là thức ăn của cá rô phi yêu cầu về hàm lượng đạm thấp hơn Ðiều này rất có ý nghĩa khi chế biến thức ăn công nghiệp cho cá rô phi

2.3 Nhu c ầu dinh dưỡng của cá rô phi

Do nhu cầu về dinh dưỡng thấp và có tập tính ăn tạp của cá rô phi đã làm cho chúng trở thành loài cá dễ nuôi, không như những loài cá khác như cá hồi, khẩu phần

ăn đòi hỏi hàm lượng protein và lipid rất cao dựa trên nguồn đạm đắt tiền như bột cá Hơn thế nữa, cá rô phi có thể sử dụng tốt chất xơ và carbohydrates trong thức ăn hơn

những loài cá nuôi khác Để đảm bảo cá tăng trưởng nhanh, đạt năng suất cao mà giá thành sản xuất thấp thì khẩu phần thức ăn được cân đối các thành phần dinh dưỡng là nền tảng cho việc thành công trong nuôi cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) Nhu

cầu dinh dưỡng biến động nhẹ giữa các loài cá rô phi, nhưng yếu tố ảnh hưởng lớn

nhất là phụ thuộc vào kích cỡ cá nuôi (Kamal Mjoun và ctv, 2010)

Trang 24

2.3.1 Nhu c ầu protein của cá

Theo Kamal Mjoun và ctv (2010), cá không có nhu cầu cụ thể đối với hàm lượng protein thô, mà đúng hơn là chúng cần sự kết hợp các acid amin thiết yếu Protein được cá sử dụng một cách liên tục cho hoạt động duy trì, tăng trưởng và cho chức năng sinh sản Khi dược cho ăn vượt ngưỡng, protein có thể được sử dụng như là nguồn cung cấp năng lượng; tuy nhiên, chức năng này không được xem trọng vì chi phí cao của các nguồn protein Nhu cầu protein của cá rô phi giảm theo tuổi cá và kích thước cơ thể (Bảng 2.4), hàm lượng protein cao trong khẩu phần thức ăn cá bột (30 – 56%) và (30 – 40%) đối với cá rô phi con tuy nhiên đối với cá rô phi trưởng thành cần hàm lượng protein thấp hơn (28 – 30%) (Winfree và Stickney, 1981; Jauncey, 1982;

Al Hafedh, 1999; Siddiqui; trích bởi Kama Mjoun và ctv, 2010) Cũng như những loài

cá sống ở nước ấm, cá rô phi cần 10 loại acid amin thiết yếu cần được cung cấp từ nguồn thức ăn (Bảng 2.5) Có thể tạo được thức ăn có đủ thành phần acid amin thiết yếu bằng cách kết hợp nguồn đạm từ thực vật và động vật, nếu cần thiết có thể bổ sung thêm các acid amin tổng hợp để tạo công thức hoàn chỉnh

Bảng 2.4: Hàm lượng protein cần thiết cho cá rô phi (các nhóm loài và tuổi)

Trang 25

Bảng 2.5: Các acid amin thiết yếu

2,82 1,05 2,01 3,40 3,78 0,99 2,50 2,93 0,43 2,20

a

2010)

2.3.2 Nhu c ầu lipid

Lipid là hợp chất hữu cơ có thành phần hóa học khác nhau, được ly trích từ động và thực vật, nhờ các dung môi hữu cơ như ether hay acetone Người ta phân biệt lipid với các chất khác dựa vào đặc tính hòa tan (một tính chất vật lý hơn là tính chất hóa học) Lipid bao gồm nhiều nhóm hóa học và chưa có sự thống nhất trong sự phân

loại các lipid Theo MacDonald và ctv (1988), lipid được xếp thành hai nhóm khác nhau dựa vào đặc tính chứa và không chứa gốc glycerol Trong nhóm chứa glycerol, lipid được xếp vào nhóm đơn giản và nhóm phức tạp Lipid đơn giản là ester của các acid béo với glycerol Trong khi lipid phức tạp bao gồm nhiều nhóm khác (Lê Thanh Hùng, 2008)

Lipid trong khẩu phần ăn là nguồn cung cấp năng lượng chính, là dung môi hòa tan các vitamin trong dầu, có vai trò quan trọng trong cấu trúc màng tế bào, vai trò như

tiền thân của các hormone có bản chất là steroid, và là nguồn cung cấp các acid béo thiết yếu Winfree và Stickney (1981), đã tìm ra lượng lipid cần cho cá rô phi 2,5 g là 5,2%, giảm còn 4,4% khi cá đạt 7,5 g Jauncey (2000), đề nghị rằng hàm lượng lipid

Trang 26

cần thiết cho cá nên khoảng từ 8 đến 12% cho cá rô phi từ nhỏ đến 25 g, và từ 6 đến 8% cho cá lớn hơn Cũng như các loài cá khác, cá rô phi rô phi cần acid béo họ n6 (linoleic), và acid béo họ n3 (linolenic) với mức độ thấp hơn Khẩu phần lipid nên cung cấp ít nhất là 1% acid béo họ n6 (Teshima và ctv, 1982)

2.3.3 Nhu cầu carbohydrates

Cá không có một nhu cầu cụ thể đối với carbohydrates, bởi vì các amino acid hay các tiền thân acid béo có thể cung cấp hàm lượng glucose cần thiết qua quá trình Neoglucogenesis Điều này không có nghĩa là carbohydrates không cần thiết trong

khẩu phần ăn của cá Tuy nhiên, carbohydrates là nguồn cung cấp năng lượng rẻ tiền hơn protein và sự hiện diện của carbohydrates có thể cải thiện chất lượng thức ăn Cá

rô phi có thể sử dụng hiệu quả carbohydrates lên tới 30 – 40% trong khẩu phần ăn, hơn

cả các loài cá được nuôi khác (Anderson và ctv, 1984; Teshima và ctv, 1985) Chất xơ thường được xem như không tiêu hóa được, cá rô phi cũng không có sở hữu enzyme giúp tiêu hóa chất xơ (mặt dù một số enzyme cellulaze được sản xuất từ các vi sinh vật

được tìm thấy trong ruột của O mossambica) (Saha và ctv, 2006) Vì lý do này, và

cũng nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng tối đa thì hàm lượng chất xơ trong thức ăn của cá không được vượt quá 5% (Anderson và ctv, 1984) Bên cạnh đó, cũng theo Lê Thanh Hùng (2008) thì đối với một số loài cá, đặc biệt là cá ăn tạp dùng carbohydrates trong thức ăn, sẽ giúp cá tăng trưởng tốt hơn và sử dụng protein tốt hơn

2.3.4 Nhu c ầu vitamin

Theo Lê Thanh Hùng (2008), vitamin là nhóm chất hữu cơ hiện diện trong thức

ăn với một lượng rất nhỏ mà cơ thể sinh vật không tổng hợp được hay tổng hợp không

đủ cho nhu cầu Chất hữu cơ này không phải là các amino acid hay các acid béo thiết yếu, chúng giữ một vai trò rất quan trọng trong dinh dưỡng và sự thiếu hụt lâu dài các dưỡng chất này sẽ dẫn đến sự xuất hiện các triệu chứng bệnh

Trang 27

Bảng 2.6: Nhu cầu vitamin cho tăng trưởng của cá rô phi vằn

2.3.5 Nhu cầu muối khoáng

Phân tích sinh hóa cho thấy: có trên 40 nguyên tố muối khoáng hiện diện trong trong tế bào động vật trên cạn cũng như động vật thủy sinh Trong đó, chỉ một số muối khoáng giữ vai trò cần thiết cho sự dinh dưỡng Muối khoáng có thể chia ra làm hai nhóm theo tỷ lệ hiện diện trong cơ thể sinh vật (Lê Thanh Hùng, 2008)

Nguyên tố vi lượng bao gồm các muối khoáng hiện diện trong cơ thể sinh vật với tỷ lệ thấp hơn 1:20.000 như Fe, Cu, Mn Nó thường được tính theo phần triệu (ppm) (Lê Thanh Hùng, 2008)

Nguyên tố đa lượng bao gồm 7 muối khoáng cần cho thức ăn của động vật, chúng chiếm tỷ lệ cao hơn 1:20.000 và thường được tính theo phần trăm trọng lượng khô cơ thể sinh vật như: calcium (canxi: Ca), phosphorus (phospho: P), cloride (clor: Cl), magnesium (magne: Mg), potassiun (kali: K), sodium ( natri: Na) và sulfur (lưu huỳnh: S) (Lê Thanh Hùng, 2008)

Trang 28

B ảng 2.7: Các nguyên tố muối khoáng cần thiết cho dinh dưỡng thủy sản và động vật

Trên động vật trên

cạn

Nhôm (Al)

Lê Thanh Hùng (2008) cho rằng do có khả năng hấp thụ muối khoáng khác với động vật trên cạn, nhu cầu muối kháng của cá và động vật thủy sản thường thấp hơn so

với các động vật trên cạn Ví dụ như một số muối khoáng cần thiết cho động vật trên cạn như: sodium, chlorine và lưu huỳnh Tuy nhiên, động vật thủy sản lại không cần cung cấp các muối khoáng này trong thức ăn, do chúng có thể hấp thụ từ môi trường nước Mặt khác, cũng theo Lê Thanh Hùng (2008), do cá sống trong môi trường nước ngọt, thường xuyên phải đối diện với sự mất muối khoáng, do áp lực thẩm thấu; trong khi với cá biển lại luôn mất nước Để duy trì áp lực thẩm thấu các tế bào chloride ở mang và ở thận sẽ tăng cường khả năng hấp thụ hay loại thải muối khoáng để duy trì

áp lực thẩm thấu Do đó, cá và động vật thủy sản có khả năng hấp thụ một lượng lớn

muối khoáng từ môi trường để thỏa mãn nhu cầu sinh lý Muối khoáng là thành phần

cấu tạo các mô cứng của cơ thể (xương, răng, vây, vẩy) Một số muối khoáng có tác dụng hoạt hóa các phản ứng sinh hóa như một co-enzyme trong hoat động biến dưỡng

của cơ thể

Ngoài các nguyên tố đa lượng thì các nguyên tố vi lượng cũng góp phần không

nhỏ trong hoạt động biến dưỡng của cá, tuy nhiên nhu cầu về lượng các nguyên tố này

rất ít Lê Thanh Hùng (2008) cho rằng các nguyên tố vi lượng tuy có nhu cầu thấp

Trang 29

nhưng đóng vai trò quan trọng trong biến dưỡng, do thành phần co-enzyme của các phản ứng sinh hóa như kẽm (Zn) hoạt hóa enzyme alkaline phosphatase, trong biến dưỡng tinh bột Ngoài ra, còn tham gia cấu tạo cơ thể Nhiều nguyên tố tuy cần thiết nhưng nếu hiện diện với hàm lượng cao trong thức ăn có thể gây độc hại và làm chết sinh vật Do đó, việc bổ sung chất khoáng vào thức ăn cần cẩn thận và việc sử dụng các nguyên tố vi lượng cũng cần thiết (Lê Thanh Hùng, 2008)

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến lượng ăn của cá

Lượng thức ăn cá sử dụng tối đa, thay đổi tùy theo nhiều yếu tố, liên quan đến

chất lượng thức ăn, môi trường nuôi và tập tính của từng giống loài Mỗi nhóm yếu tố

có liên quan lẫn nhau và thay đổi tùy theo loài cá

2.4.1 Nhóm yếu tố môi trường

Do là động vật biến nhiệt nên thủy sản chịu ảnh hưởng rất lớn đối với sự thay đổi của các yếu tố môi trường Theo Lê Thanh Hùng (2008), yếu tố môi trường ảnh hưởng rất lớn và rõ nhất lên lượng thức ăn cá sử dụng trong ngày Theo nguyên lý ở nhiệt độ tối ưu cho tăng trưởng, cá ăn mạnh nhất Khi nhiệt độ tăng lên mức tối ưu, cá còn giữ mức ăn, nhưng sau đó lượng ăn giảm đi, khi nhiệt độ tăng cao hơn mức tối ưu Trái lại, khi nhiệt độ hạ thấp cá sẽ giảm ăn đến mức ngừng ăn

Ngoài yếu tố nhiệt độ thì các yếu tố chất lượng nước khác như DO, pH, ammonia cũng ảnh hưởng đến lượng ăn của cá Lê Thanh Hùng (2008) cho rằng trên

cá rô phi, khi oxy hòa tan thấp hơn 2mg/L, lượng thức ăn tiêu thụ giảm thấp hơn khi oxy bão hòa Ngoài ra, khi hàm lượng ammonia tăng cũng làm giảm lượng ăn của cá

2.4.2 Nhóm yếu tố thức ăn

Nhiều thí nghiệm cho thấy rằng một số loài cá, có khả năng phân biệt hai loại thức ăn Ví dụ cá có thể phân biệt thức ăn có chứa methionine hay không chứa methionine Tuy nhiên, không phải tất cả các loại cá có khả năng này (Lê Thanh Hùng, 2008) Đối với thức ăn có năng lượng thấp, lượng ăn của cá sẽ tăng lên nhằm thỏa mãn nhu cầu năng lượng Ngược lại, đối với thức ăn có năng lượng cao cá sẽ giảm lượng thức ăn lấy vào

Ngoài ra, chất dẫn dụ trong thức ăn cũng có tác dụng làm gia tăng lượng thức

ăn ăn vào Nhiều thí nghiệm cho thấy các acid amin tự do, các peptide hay các dịch

Trang 30

thủy phân từ cá và giáp xác, có tác dụng làm gia tăng lượng thức ăn cá lấy vào (Lê Thanh Hùng, 2008)

2.5 Chất dẫn dụ

2.5.1 Vai trò c ủa chất dẫn dụ trong thức ăn cho thức ăn động vật thủy sản

Chất dẫn dụ là những chất được cho vào thức ăn nhằm kích thích khả năng ăn

mồi của động vật thủy sản Một khẩu phần thức ăn đầy đủ dinh dưỡng vẫn không mang lại hiệu quả về tăng trưởng kinh tế, nếu không được tôm cá ăn hết Chất dẫn dụ đóng vai trò quan trọng trong việc tổ hợp khẩu phần, làm cho thức ăn chế biến hợp

khẩu vị từng giống loài

Tập tính tìm mồi và ăn mồi của động vật thủy sản do cơ quan khứu giác và vị giác điều khiển, với những thụ thể hóa học phân bố ở râu, càng, môi… cơ quan vị giác đóng vai trò quan trọng hơn khứu giác, trong tìm mồi và ăn mồi Khả năng khứu giác

của tôm cá khác nhau tùy loài và nhạy hơn khứu giác của người khoảng 2.500 lần Tôm, cá nhận biết thức ăn và cảm giác ngon thông qua những thành phần hóa học hòa tan, tác dụng lên các thụ thể hóa học Nhờ đó, tôm cá phát hiện thức ăn xa và đánh giá thức ăn ngon hay dở quá trình săn tìm và lấy thức ăn của tôm cá gồm các bước sau:

- Nhận biết sự hiện diện của thức ăn

- Định hướng và tìm đến chỗ thức ăn

- Tiêu thụ và đánh giá thức ăn, thông qua việc ăn nhiều hay ăn ít

Trong thức ăn viên tổng hợp mà chủ yếu các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật nên không hấp dẫn cá nên vai trò của chất dẫn dụ trong thức ăn rất quan trọng (Lê Thanh Hùng, 2008)

Trang 31

- Các phân tử peptide trong quá trình thủy phân protein cũng có tính chất dẫn

dụ tốt Dung dịch thủy phân cá và nhuyễn thể được bổ sung vào thức ăn với tỉ lệ sử

dụng trung bình là 1 – 5%, phụ thuộc vào đối tượng và nguyên liệu

- Các thành phần chất béo của thức ăn cũng có tác dụng dẫn dụ trên tôm cá Phospholipid và các dẫn xuất của chúng có tác dụng như chất dẫn dụ trên cá tráp đuôi

đỏ và bào ngư (Haliotis.sp) Sử dụng dầu cá hay dầu gan mực đều dẫn dụ được tôm sú

- Một số hợp chất nitơ có tính dẫn dụ như trimethylamin, taurine… cũng như một số đường đơn có tính dẫn dụ tốt

Trang 32

3.2 Nội dung nghiên cứu

Khảo sát ảnh hưởng của chất dẫn dụ OL4 lên sự tăng trưởng và hiệu quả sử

dụng thức ăn của cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus)

Đánh giá vai trò của chất dẫn dụ OL4 lên khả năng chịu đựng stress của cá khi gây sốc bằng dung dịch có nồng độ ammonia tổng cộng (TAN) 100 ppm

3.3 Vật liệu nghiên cứu

3.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Cá rô phi vằn được lấy từ trại cá tại quận Củ Chi Tp HCM

Kích cỡ cá giống:

- Chiều dài trung bình 9 cm

- Trọng lượng trung bình 14,99 g

Tổng số cá thí nghiệm 600 con

3.3.2 Dụng cụ và vật liệu sử dụng trong quá trình nghiên cứu

- Hệ thống bể bằng vật liệu composite với dung tích mỗi bể là 500 lít

- Hệ thống sục khí với 2 đá bọt mỗi bể

- Máy trộn thức ăn, máy phun thức ăn

- Cân điện tử hiệu Excell SI - 132, cân được tối đa 3000 g

- Máy đo pH và nhiệt độ Milwakee SM102 (2-16 pH; 5-70o

C)

- Máy đo hàm lượng oxy hòa tan hiệu Milwakee SM600

- Máy đo bước sóng hiệu spectro UV – VIS auto

- Thau, vợt vớt cá

- Thước đo với độ chính xác là 1mm, giấy kẻ ô ly

Trang 33

3.3.3 Thức ăn cho cá thí nghiệm

Thức ăn được cung cấp bởi Công ty thức ăn Gò Đàn Vĩnh Long với kích cỡ một viên thức ăn là 2 mm Với thành phần chính bao gồm mì sắn, bột cá, bột đậu nành, cám gạo với tỷ lệ như sau:

NTC: thức ăn không có bột cá + 3% OL4 trộn sẵn

NTD: thức ăn chứa 5% bột cá + 3% OL4 phun bên ngoài viên thức ăn

NTE: thức ăn không có bột cá + 3% OL4 phun bên ngoài viên thức ăn

Đối với nghiệm thức D và E chất dẫn dụ OL4 sẽ được phun vào thức ăn bằng máy phun

Trang 34

Bảng 3.1: Thành phần thức ăn sử dụng trong thí nghiệm tính toán

Trang 35

Hình 3.1: Viên thức ăn thí nghiệm

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá ảnh hưởng của chất dẫn dụ bổ sung vào thức ăn lên

tỷ lệ sống, sự tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá rô phi vằn

(Oreochromis niloticus)

3.4.1.1 Chuẩn bị cá thí nghiệm

Cá rô phi giống cỡ 5 g/con được vận chuyển từ trại sản xuất giống đến khu vực thí nghiệm Sau đó được ương lên cỡ 15 g/con và cho cá thích nghi dần với khu vực thí nghiệm trong vòng hai tuần Trong khoảng thời gian này cá sẽ được cho ăn 2 lần/tuần với thức ăn thương mại và cho ăn đến lượng thỏa mãn

Thí nghiệm được thực hiện trong 20 bể composite 500 lít Mỗi bể chứa 30 cá cỡ

15 g

Trang 37

3.4.1.2 Phương pháp cho ăn

Cá sẽ được thí nghiệm trong 8 tuần và theo chế độ cho ăn 2 lần/ngày; vào lúc 8 giờ sáng và 4 giờ chiều với lượng ăn thỏa mãn Hai giờ đồng hồ sau khi cho ăn, thức

ăn còn dư lại sẽ được thu và đếm số lượng từ đó tính ra lượng thức ăn cá sử dụng thông qua việc tính số lượng viên thức ăn còn dư lại và trọng lượng trung bình mỗi viên thức ăn Lượng thức ăn cá ăn sẽ được ghi nhận lại mỗi ngày để so sánh sự khác

nhau giữa các nghiệm thức

3.4.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá

- Tăng trọng của cá sau thí nghiệm (Weight Gain – WG) (g)

WG = W2 – W1 Trong đó:

W1 (g) trọng lượng cá trung bình lúc bắt đầu thí nghiệm

W2 (g) trọng lượng cá trung bình cá kết thúc thí nghiệm

-Hệ số tăng trưởng đặc biệt (Specific Growth Rates – SGR) ( %/ngày)

Để so sánh sự tăng trưởng, trọng lượng cá sẽ được ghi nhận vào ngày đầu tiên Trong lượng cá sẽ được cân mỗi 2 tuần một lần Số liệu của lần cân cuối cùng sẽ được

sử dụng để đánh giá tốc độ tăng trưởng

SGR = [(lnW2 –l nW1) / (T2 – T1)] * 100 Trong đó:

W1(g) trọng lượng cá trung bình lúc bắt đầu thí nghiệm

W2 (g) trọng lượng cá trung bình cá kết thúc thí nghiệm

T2 – T1 (ngày) khoảng thời gian thí nghiệm

- Lượng thức ăn tiêu thụ (Feed Intake - FI) (g/cá/ngày)

Để đánh giá hiệu quả của sản phẩm OL4 đối với lượng ăn của cá Lượng ăn cá

sử dụng sẽ được tổng kết sau mỗi tuần Lượng thức ăn tiêu thụ sẽ được tính như sau:

FI = tổng lượng thức ăn tiêu thụ /[tổng số cá * (T2 – T1)]

Trong đó:

T2 –T1 (ngày) khoảng thời gian thí nghiệm

Trang 38

- Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR)

FCR = lượng thức ăn cá sử dụng / tăng trọng của cá (W2 - W1) W1(g) trọng lượng cá trung bình lúc bắt đầu thí nghiệm

W2 (g) trọng lượng cá trung bình cá kết thúc thí nghiệm

-Tỷ lệ sống (TLS) (%)

Tỷ lệ sống = N / N0 * 100 (%) Trong đó:

N0: số lượng cá lúc bắt đầu thí nghiệm

N: số lượng cá khi kết thúc thí nghiệm

-Hiệu quả sử dụng protein (Protein Efficiency Ratio-PER)

PER = (W2 – W1) / (% protein trong thức ăn * lượng ăn sử dụng) Trong đó:

W1(g) trọng lượng trung bình cá bắt đầu thí nghiệm

W2 (g) trọng lượng trung bình cá khi kết thúc thí nghiệm

- Các chỉ tiêu chất lượng nước cần theo dõi

Trong suốt thời gian thí nghiệm các chỉ tiêu được theo dõi:

-Hàm lượng oxygen hòa tan và pH trong 20 bể theo định kì 2 lần/tuần vào buổi sáng và buổi chiều trước khi cho ăn

-Hàm lượng ammonia tổng cộng trong mỗi bể mỗi tuần một lần

-Nhiệt độ đo vào buổi sáng và buổi chiều 2 lần/ngày

3.4.2.Thí nghiệm 2: đánh giá ảnh hưởng của chất dẫn dụ OL4 lên khả năng chịu

stress của cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) khi gây sốc bằng dung dịch có

nồng độ ammonia tổng cộng (TAN) là 100 ppm

3.4.2.1 Cách pha dung dịch thử:

Hóa chất dùng để pha dung dịch thử gồm có chất tan là ammonium chloride (NH4Cl) và chất đệm pH sodium bicarbonate (NaHCO3) Đầu tiên, pha chất đệm pH

là NaHCO3 với lượng pha là 270 mg NaHCO3/L nước ta được dung dịch (1)

Ammonium chloride (NH4Cl), có phân tử lượng là 53,5 được pha với dung dịch (1) thành dung dịch NH4+ - N 1000 ppm (coi như bằng nồng độ amnia tổng số, kí hiệu

là TAN) bằng cách hòa tan 2,93g NH4Cl và 1 lít dung dịch (1), thành dung dịch (2) (Võ Thị Thanh Bình, 2008) Pha dung dịch (1) và dung dịch (2) với tỷ lệ thích hợp ta

Trang 39

sẽ được dung dich thử Như vậy để tạo ra một lít dung dịch thử có nồng độ 100 ppm cần 0,9 lít dung dịch (1) và 0,1 lít dung dung dịch (2) tương ứng với cần 0,27 g NaHCO3 và 0,293 g NH4Cl

12 giờ, trong vòng 48 giờ pH được giữ ở mức 7,8 và nhiệt độ nước sẽ được ghi nhận

cứ sau mỗi 12 giờ

Nồng độ ammonia không phân ly được tính dựa vào bảng hệ số (Claude và ctv, 2006) /100 * nồng độ ammonia tổng số Như vậy với nồng độ ammonia tổng số là 100 ppm ta được nồng độ ammonia không phân ly tại pH = 7,8 và nhiệt độ 29o

C là 4,82 mg/L

3.5 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học trên phần mềm Minitab 15.21 và MS - EXCEL 2007 Phân tích phương sai twoway – ANOVA và trắc nghiệm Turkey được sử dụng để kiểm định sự sai khác giữa các chỉ tiêu của các nghiệm thức với mức ý nghĩa (P ≤ 0,05)

Trang 40

và đảm bảo các chỉ tiêu về chất lượng môi trường luôn nằm trong phạm vi thích hợp

cho sự phát triển của cá

4.1.1 Hàm lượng ôxy hòa tan

Một trong những dấu hiệu của một vùng nước trong sạch được biểu hiện bằng hàm lượng ôxy hòa tan cao Khi hàm lượng ôxy hòa tan thấp có thể dẫn đến kìm hãm tốc độ tăng trưởng của vật nuôi và thúc đẩy sự xuất hiện độc tố với thủy sinh vật Ôxy

là một trong những yếu tố thiết yếu cho sự sống đối với tất cả các sinh vật nói chung

và động vật thủy sản nói riêng Khác với các động vật trên cạn, đa số các loài cá (trừ những loài có cơ quan hô hấp phụ) đều phải hô hấp qua việc sử dụng ôxy hòa tan trong nước Trong môi trường nước, hàm lượng ôxy hòa tan phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố

như nhiệt độ, độ mặn, mật độ các phiêu sinh thực vật trong nước

Ngày đăng: 10/06/2018, 09:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm