iii Đề tài “Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thâm canh cá tra tại Công ty Cổ Phần Thủy Sản Kiên Giang” được chúng tôi thực hiện từ ngày 28/02/2011 đến ngày 28/05/2011 nhằm tìm hiểu kỹ thuật nuôi
Trang 1i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TÌM HI ỂU KỸ THUẬT NUÔI THÂM CANH CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878) T ẠI CÔNG TY
C Ổ PHẦN THỦY SẢN KIÊN GIANG
H ọ và tên sinh viên: NGUYỄN TUẤN KIỆT Ngành: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Chuyên ngành: NGƯ Y Niên khóa: 2007 – 2011
Tháng 8/ 2011
Trang 2NGUYỄN TUẤN KIỆT
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư Nuôi trồng Thủy sản
chuyên ngành Ngư Y
Giáo viên hướng dẫn
NGÔ VĂN NGỌC
Tháng 8 năm 2011
Trang 3ii
Để có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ
rất nhiều từ phía gia đình, nhà trường, bạn bè Nhân đây chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến:
Ba Mẹ đã hết lòng ủng hộ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
Ban chủ nhiệm Khoa Thủy Sản cùng tất cả thầy cô Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
Thầy Ngô Văn Ngọc, giảng viên trực tiếp hướng dẫn chúng tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Ban giám đốc Công ty Cổ Phần Thủy Sản Kiên Giang đã tạo điều kiện cho chúng tôi có cơ hội được học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Xin gửi lời cảm ơn đến các cô, chú, anh, chị đang làm việc tại khu nuôi cá thương phẩm của Công ty Cổ Phần Thủy Sản Kiên Giang tại ấp Kinh 9A, xã Thạnh Đông, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang
Cảm ơn tất cả các bạn lớp DH07NY đã hết lòng giúp đỡ và động viên chúng tôi trong thời gian học tập và làm khóa luận tốt nghiệp
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng bài viết của chúng tôi vẫn có nhiều thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn
Trang 4iii
Đề tài “Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thâm canh cá tra tại Công ty Cổ Phần Thủy
Sản Kiên Giang” được chúng tôi thực hiện từ ngày 28/02/2011 đến ngày 28/05/2011
nhằm tìm hiểu kỹ thuật nuôi thâm canh cá tra trong ao tại khu nuôi cá tra thương phẩm
của Công ty Cổ Phần Thủy Sản Kiên Giang
Nội dung đề tài bao gồm: Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thâm canh cá tra, theo dõi các
chỉ tiêu chất lượng nước, theo dõi tăng trưởng của cá nuôi, tìm ra những thuận lợi và khó khăn của nghề nuôi cá tra hiện nay và tìm ra hướng giải pháp để nghề nuôi cá tra phát triển bền vững
Kết quả đạt được:
Nắm được kỹ thuật nuôi thâm canh cá tra trong ao tại Công ty, gồm các khâu: Chuẩn bị ao, kỹ thuật thả giống, kỹ thuật cho ăn, chăm sóc quản lý và thu hoạch vận chuyển
Các chỉ tiêu chất lượng nước được theo dõi như sau: pH dao động trong khoảng
từ 6,5 – 8,5; NH3 dao động trong khoảng từ 0,01 - 0,3 mg/L; nhiệt độ từ 28,5 – 35,50C; DO dao động trong khoảng 2 – 6 mg/L Tất cả các chỉ tiêu chất lượng nước đều phù hợp với quá trình phát triển của cá nuôi
Trang 6v
Trang 7vi
4.5 Hướng giải pháp để nghề nuôi cá tra phát triển bền vững 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8vii
CPTS: Cổ Phần Thủy Sản
ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
FAO: Food and Agriculture Organization
GAP: Good Aquaculture practices
Lđ: Chiều dài lần đo đầu
Lc: Chiều dài lần đo cuối
Pđ: Trọng lượng lần đo đầu
Pc: Trọng lượng lần đo cuối
FCR: Feed Conversion Ratio
SQF: Safe Quality Food
BMP: Better Management Practices
NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
HACCP: Hazard Analysis Critical Control Points
Trang 9Hình 4: Khu nuôi cá thương phẩm Công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang 12
Hình 12: Một số loại thuốc & hóa chất sử dụng trong quá trình nuôi 27
Trang 10ix
Bảng 4.6: Sự tăng trưởng về trọng lượng của cá ở hai ao nuôi 41
DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ
Trang 11khẩu trong cả nước Trong tất cả các loài cá nuôi, cá tra (Pangasianodon
nuôi loài cá này rất lớn và còn tiếp tục phát triển cao hơn nữa Cá tra được xác định là đối tượng chiến lược cho xuất khẩu thủy sản sang các nước Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước Châu Âu
Theo đánh giá của tổ chức Nông Lương Thế Giới (FAO, 2009), Việt Nam là
một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thủy sản nhanh nhất thế giới với tốc độ tăng giá trị trung bình giai đoạn 1998 – 2008 là 18% Đóng góp vào thành tích đó phải nói tới nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL Năm 2008, sản lượng cá tra đạt khoảng 1,2 triệu tấn, bằng 24% tổng sản lượng thủy sản của cả nước, chiếm tới hơn 50% sản lượng thủy sản nuôi trồng, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 1,2 tỷ USD, chiếm 27% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu ngành thủy sản (trích bởi Dương Tiến Thể, 2009)
Hiện nay, với hình thức nuôi thâm canh mật độ cao thì vấn đề quản lý chất lượng nước, vấn đề dịch bệnh, áp lực giảm giá thành sản phẩm và nâng cao sản lượng trong nuôi cá thương phẩm đang rất được quan tâm Tất cả những vấn đề này có thể
giải quyết được, khi những kiến thức khoa học về kỹ thuật nuôi cá tra được phổ biến
rộng rãi cho người nuôi
Từ thực tế trên, được sự đồng ý của Khoa Thủy Sản Trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, đề tài “Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thâm canh cá tra tại Công
ty Cổ Phần Thủy Sản Kiên Giang” được chúng tôi thực hiện nhằm đúc kết kinh
nghiệm nuôi thâm canh cá tra, giúp nghề nuôi phát triển bền vững
Trang 122
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu kỹ thuật nuôi thâm canh cá tra tại Công ty
- Đánh giá các chỉ tiêu chất lượng nước và sự tăng trưởng của cá
- Tìm hiểu thuận lợi và khó khăn trong nghề nuôi cá tra hiện nay tại Công ty
Từ đó, đề xuất những giải pháp kỹ thuật nuôi phù hợp nhằm góp phần đảm bảo tính
bền vững cho nghề nuôi cá tra
- Kết quả nghiên cứu giúp người nuôi hiểu rõ hơn các yếu tố kỹ thuật cần quan tâm nhằm giảm thiểu hao hụt, giảm chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận cho người nuôi
Trang 133
Chương 2
T ỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình Hình Nuôi Cá Tra
Những năm gần đây, cá tra là loài cá nước ngọt được nuôi và xuất khẩu nhiều
nhất so với các đối tượng thủy sản nước ngọt khác; rất nhiều địa phương đã chuyển từ hình thức nuôi cá tra bằng lồng bè sang nuôi ao, hầm với mật độ cao (30 - 40 con/m2
)
nhằm tránh gây ô nhiễm dòng sông, tăng năng suất nuôi và dễ quản lý chăm sóc Hầu
hết các nhà máy đông lạnh cũng đã xây dựng riêng một dây chuyền sản xuất cá tra nhằm thay đổi cơ cấu mặt hàng, duy trì và phát triển sản xuất, tăng kim ngạch xuất
khẩu và tăng lợi nhuận
Tuy nhiên, hai năm trở lại đây đã có nhiều dấu hiệu bất ổn xuất hiện trong quá trình nuôi và tiêu thụ cá tra mà dấu hiệu rõ nét nhất là sự sụt giảm diện tích nuôi và tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu Theo báo cáo của Cục Nuôi Trồng Thủy Sản - Bộ NN&PTNN về tình hình nuôi trồng thủy sản năm 2009 của các tỉnh phía Nam (từ Đà Nẵng đến Kiên Giang) thì:
- Diện tích nuôi: Trong năm 2009, tổng diện tích nuôi cá tra tính từ Nam Trung
bộ trở vào chỉ đạt 6.788 ha, (trong đó, riêng miền Tây Nam bộ là 6.756 ha) chỉ đạt 97% so với kế hoạch
- Năng suất: Năm 2009 chỉ đạt bình quân 230 tấn/ha thấp hơn năng suất năm
2008 (260 tấn/ha) Năng suất cao nhất là tỉnh Tiền Giang (312 tấn/ha), năng suất nuôi thấp nhất là tỉnh Bến Tre (195 tấn/ha)
- Kim ngạch xuất khẩu: Theo Cục Chế biến, Thương Mại Nông Lâm Thủy Sản
và Nghề Muối, tổng kim ngạch xuất khẩu cá tra cả nước tính từ đầu năm đến 15/11/2009 đạt gần 1,171 tỷ USD, giảm 10% so với cùng kỳ Ước tính 1/2 tháng 11 và
cả tháng 12 đạt 100 triệu USD, đưa tổng kim ngạch lên gần 1,3 tỷ USD, nhưng cũng vẫn giảm 10% so với cùng kỳ
Trang 144
Điều này có thể nhìn thấy trong năm 2009 đã có những nguyên nhân gây khó khăn cho người nuôi như: Chất lượng giống cá tra ngày một giảm; người nuôi thiếu thông tin nhu cầu nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu; chưa liên kết hợp tác sản xuất; chưa hợp đồng tiêu thụ sản phẩm khi nuôi nên giá bán sản phẩm luôn bấp bênh và bất
ổn đầu ra; gặp khó khăn trong việc vay vốn tái sản xuất… Từ đó, nhiều nông dân đã treo ao, không sản xuất vụ 2, hoặc chuyển sang nuôi đối tượng khác
Theo góc độ quản lý nhà nước, thực tế trên là do các nguyên nhân cơ bản sau:
- Về sản xuất giống: Nhu cầu giống cần từ 1,5 - 2 tỷ con/năm, trong khi toàn vùng có 116 trại sinh sản nhân tạo và > 4.000 hộ ương nuôi cá giống/diện tích 2.135
ha Tuy nhiên, chất lượng cá giống lại thấp do sức ép từ nhu cầu giống nên nhiều cơ sở chọn đàn cá bố mẹ có chất lượng thấp và điều kiện ương dưỡng không đảm bảo kỹ thuật
Trước đây, cá giống được bắt từ tự nhiên về nuôi đến 2,5 - 3 năm tuổi mới thành thục sinh dục; còn cá giống hiện nay được sinh sản nhân tạo và chỉ cần nuôi từ
10 - 12 tháng tuổi là đã thành thục Nhằm giảm chi phí, nhiều cơ sở sản xuất giống đã
sử dụng đàn cá bố mẹ này, đồng thời giảm dinh dưỡng trong quá trình nuôi vỗ và lạm dụng kích dục tố để tăng cường độ sinh sản (5 - 6 lứa/năm) nên chất lượng đàn cá bột rất thấp
Trong ương nuôi cá giống, chỉ có khoảng 1/4 cơ sở có đăng ký kinh doanh và sản xuất thường xuyên với diện tích lớn; còn lại hầu hết là các cơ sở có quy mô nhỏ, sản xuất không ổn định (hoạt động khi giá cá giống cao và ngưng khi giá giảm) Những cơ sở này không bảo đảm điều kiện kỹ thuật và an toàn vệ sinh, nguồn nước bị động không thể thay nước thường xuyên, sử dụng thức ăn tự chế với những loại tươi sống làm nước nhanh bẩn gây ô nhiễm và tiềm ẩn các loại bệnh và ký sinh trùng; từ đó cho ra đàn giống chất lượng rất thấp
- Về thức ăn và giá bán: Thức ăn cho cá tra khoảng 1,8 triệu tấn và giá bán trong nước năm 2009 cũng tương đối ổn định so với năm 2008 Tuy nhiên, đến quý IV/2009 thì giá đã có sự biến động, cụ thể mỗi ký thức ăn đã tăng thêm 1.000 đồng Đặc biệt, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như: Cargill, Grobest, Uni-President, CP tăng giá đã kéo theo các doanh nghiệp nhỏ khác tăng giá theo
Trang 155
Giá bán thức ăn nuôi cá tra của một số doanh nghiệp là: Grobest từ 8.000 đến 9.200 đồng/kg; UP 8.000 đến 9.300 đồng/kg; CP 8.000 đến 9.100 đồng/kg Dự báo trong quý I/2010 giá bán sẽ còn tăng do giá các loại nguyên liệu chế biến thức ăn đang tăng
- Về giá bán nguyên liệu: Vào cuối tháng 11/2009 giá cá tra nguyên liệu tại một
số địa phương như sau:
- Tại Châu Đốc (An Giang): Thịt trắng 14.500 - 14.800 đồng/kg, thịt vàng 12.000 - 12.500 đồng/kg
- Tại Cần Thơ: Thương lái mua tại ao 14.500 - 14.800đ/kg; nhà máy mua tại ao
là 14.000 - 14.500đ/kg
- Tại Đồng Tháp: Thịt trắng (0,9 - 1,05 kg/con) 14.800 - 15.000 đồng/kg, thịt trắng cỡ lớn (> 1,1 kg/con) 14.000 - 14.300 đồng/kg
Như vậy, nếu giá thức ăn không tăng như từ quý III/2009 trở về trước thì giá thành 1 kg cá nguyên liệu sẽ là 13.600 - 13.800 đồng, nông dân có lời Nếu thức ăn tăng giá (1.000 đồng/kg) hoặc mua nhằm giống cá không đạt chất lượng, hoặc thịt cá không trắng thì nông dân lỗ
- Tình hình xuất khẩu: Giá xuất khẩu bình quân năm 2009 là 2,1 USD/kg, thấp hơn năm 2008 (2,27 USD) Nguyên nhân là do: - Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, kéo theo sự bất ổn của các thị trường nhập khẩu cá tra; - Các thông tin bôi xấu
về chất lượng cá tra của Việt Nam tại các nước như Nga, Tây Ban Nha, Ai Cập, điều này cũng thể hiện rõ khi các doanh nghiệp trong nước để tránh lỗ khi giá xuất thấp, đã tăng tỷ lệ mạ băng làm giảm chất lượng; - Thiếu ổn định nguồn nguyên liệu trong nước, thiếu nguồn cá vừa, thừa nguồn cá quá lứa (xuất sang thị trường Đông Âu); - Sự cạnh tranh không lành mạnh, thiếu phối hợp giữa các doanh nghiệp nhập khẩu nên đẩy giá cá tra xuống thấp
Theo thông tin từ Hiệp hội xuất khẩu thủy sản Việt Nam, hiện nay một số nước châu Âu đang có sự vận động để kiện bán phá giá vì lượng tiêu thụ cá tra của ta quá lớn đã làm ảnh hưởng đến việc tiêu thụ cá Tuyết của họ
Trên đây là diễn biến của tình hình nuôi cá tra của nước ta trong năm 2009; để
có thể duy trì, phát triển ngành nuôi và xuất khẩu cá tra, chính phủ cần có những giải pháp căn cơ trong điều hành nhằm giúp nông dân mạnh dạn đầu tư nuôi, tăng năng
Trang 16Loài: Pangasianodon hypophthalmus
Hình 1: Hình thái bên ngoài cá tra 2.2.2 Đặc điểm hình thái và phân bố
Cá tra có thân dài, dẹp bên về phía đuôi, đầu và mõm hơi dẹp bằng Mắt nằm hai bên ở nửa trước đầu Cá có hai đôi râu Vây lưng và vây ngực có gai cứng mang răng cưa ở mặt sau, vây mỡ nhỏ, vây đuôi phân thùy nông, mút đuôi nhọn và tương đương nhau Thân màu xám, phần lưng thẫm hơn phần bụng (Nguyễn Văn Hảo, 2005)
Theo Nguyễn Văn Hảo (2005), cá tra là loài đặc trưng và phổ biến ở lưu vực sông Mêkông Ở Việt Nam, cá tra phân bố trên Sông Tiền, Sông Hậu thuộc vùng ĐBSCL Trên thế giới cá tra phân bố ở Indonexia, Malaixia, Thái Lan, Lào và Campuchia Cá phân bố ở các tầng nước, nhưng thường sống ở tầng đáy
Trang 177
2.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng
Cá tra có dạ dày phình to có dạng hình chữ U và co giãn được Ruột cá tra
ngắn, không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục Dạ dày to và ruột ngắn là đặc điểm của cá ăn tạp thiên về động vật
Cá tra là loài háu ăn Ở giai đoạn cá bột và cá hương thì cá tra thích ăn mồi
sống
Khi nuôi trong ao, hay nuôi trong bè, cá tra có thể thích nghi với nhiều loại thức
ăn có hàm lượng protein thấp do con người cung cấp như: Cám vụn, ngô, thức ăn chế
biến, phân lợn, gà, vịt Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc nuôi thương
phẩm
Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, giai đoạn nhỏ cá tăng trưởng nhanh về chiều dài Cá ương trong ao sau 1 tháng, đạt 4 – 6 cm, sau 2 tháng đã đạt chiều dài 10 – 12 cm (14 – 15 g)
Giai đoạn trưởng thành cá đạt từ 0,8 – 1 kg/con sau 1 năm, từ 2,5 kg trở lên,
mức tăng trọng lượng nhanh hơn so với chiều dài cơ thể Ngoài tự nhiên, cá tra có thể sống trên 20 năm Thiếu thức ăn, cá sẽ ăn thịt lẫn nhau
Tốc độ tăng trưởng của con đực và con cái không đều nhau, con đực lớn nhanh hơn con cái (Phòng Khuyến Ngư, Trung Tâm Khuyến Ngư và Giống Thủy Sản An Giang, 2006)
2.2.4 Đặc điểm sinh sản
Tuổi thành thục của cá đực là 2 tuổi và cá cái 3 tuổi, trọng lượng cá thành thục lần đầu từ 2,5 - 3 kg Trong tự nhiên chỉ gặp cá thành thục trên sông ở địa phận của Campuchia và Lào
Mùa vụ thành thục của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5 - 6 dương lịch Cá
có tập tính di cư ngược dòng sông Mekong sang Campuchia để sinh sản, không đẻ tự nhiên ở phần sông của Việt Nam
Trong điều kiện nuôi vỗ nhân tạo, cá có thể thành thục sớm và đẻ sớm hơn trong tự nhiên Cá tra có thể tái phát dục 1 - 3 lần/năm
Qua khảo sát những đàn cá tra trong tự nhiên, hệ số thành thục của cá tra cái từ 1,76 - 12,94%, của cá tra đực là từ 0,83 - 2,1% (Nguyễn Văn Trọng, 1989)
Trang 188
Trong ao nuôi vỗ, hệ số thành thục cá tra cái có thể đạt tới 19,5% Sức sinh sản tương đối có thể tới 135.000 trứng/kg cá cái Kích thước của trứng cá tra tương đối nhỏ và có tính dính
Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ (sinh dục thứ cấp), nên nếu chỉ nhìn hình dáng bên ngoài thì khó phân biệt được cá đực, cái
Khi cá thành thục sinh dục, cơ quan sinh dục phụ của cá đực hơi lồi ra so với cơ quan sinh dục phụ của cá cái
2.3 Một Số Bệnh Thường Gặp trên Cá Tra
2.3.1 B ệnh nhiễm khuẩn
2.3.1.1 Bệnh gan thận mủ
Nguyên nhân
Do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra trên cá tra ở giai đoạn còn nhỏ là chủ
yếu Bệnh tác động đến cơ quan nội tạng của cá như: gan, thận, lách, túi mật
3µm, chuyển động nhờ vành tiêm mao
Bệnh thường gặp trong các ao nuôi thâm canh với mật độ cao, các yếu tố môi trường thay đổi, cá bị stress và có sự hiện diện của vi khuẩn này trong ao
D ấu hiệu bệnh lý
Cá bơi lờ đờ, tập trung gần bờ, cá tách đàn, bụng phình to, vài ngày sau thì cá
chết Khi cá bị bệnh nặng, cá bơi xoay vòng liên tục, mất định hướng, đôi khi cá nhảy lên khỏi mặt nước sau đó chìm xuống đáy ao hoặc tấp vào bờ rồi chết Cá chết phần bụng nổi lên trên mặt nước
Cá bệnh có biểu hiện gan và thận có những đốm trắng nhỏ li ti, gan sưng to, dần chuyển sang màu trắng Túi mật chuyển sang màu sậm, lá lách cũng có đốm mủ nhỏ li
ti Cá bệnh nặng thường kèm theo trắng mang và xuất huyết
Bệnh xảy ra nhanh, mức độ lây lan cao, tỉ lệ chết cao nếu không điều trị kịp thời Bệnh xảy ra chủ yếu vào mùa mưa, cần phát hiện sớm và ngăn chặn kịp thời
Bệnh lây lan rất nhanh nếu môi trường nước xấu
Trang 19thuộc loại gram dương, không di động
hơi tròn, có một tiêm mao, gram âm, di động Chúng phát triển tốt trong môi trường
Trang 20nặng trông lờ đờ, đảo lộn vài vòng, chìm xuống đáy rồi chết Trùng bánh xe ký sinh chủ yếu trên da, mang và các gốc vây Bệnh thường xuất hiện ở các nơi ương nuôi với
mật độ dày và môi trường nước quá bẩn
2.3.2.2 Bệnh trùng quả dưa
Ký sinh trùng thường ký sinh trên da, mang và các vây của cá Trùng bám thành các hạt lấm tấm rất nhỏ, đường kính lớn nhất bằng 0,5 - 1mm, có thể thấy được bằng
mắt thường Da và mang cá tiết nhiều nhớt, màu sắc nhợt nhạt
Cá bệnh nổi đầu từng đàn trên mặt nước, bơi lờ đờ do trùng bám nhiều trên mang, phá hoại nhiều mô mang và làm cá ngạt thở Bệnh thường gặp và chủ yếu làm chết cá giống
Trang 212.3.2.4 Bệnh do giun sán nội ký sinh
Nguyên nhân: Do giun đầu móc (Ancanthocephala), sán dây (Bothricephalus), giun tròn (Philometra) gây ra
Dấu hiệu bệnh lý: Giun sán ký sinh nhiều làm cá chậm lớn, gầy yếu, đoạn ruột
có giun sán ký sinh phình to Giun sán ký sinh thường không gây thành dịch, bệnh không làm chết cá hàng loạt nhưng ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá Nếu ký sinh với
số lượng nhiều sẽ gây tắc ruột, có thể đâm thủng ruột tạo điều kiện cho các loài vi khuẩn khác phát triển và gây bệnh cho cá Đối với giun tròn có thể gây tắc ống dẫn
mật hoặc tắc ruột
Trang 2212
2.4 Gi ới Thiệu về Khu Nuôi Cá Tra Công ty CPTS Kiên Giang
Hình 4: Khu nuôi cá thương phẩm Công ty CPTS Kiên Giang
2.4.1 Lịch sử hình thành
Kiên Giang là tỉnh có thế mạnh về chế biến và xuất khẩu thủy hải sản Ngoài nguồn lợi khai thác tự nhiên, Kiên Giang còn có tiềm năng nuôi trồng thủy sản rất lớn Theo quy hoạch đất dành cho nuôi trồng thủy sản của tỉnh có khoảng 128.218 ha, trong đó diện tích nuôi cá nước ngọt khoảng 10.000 ha nhằm tạo nguồn nguyên liệu ổn định, có chất lượng phục vụ tốt cho ngành chế biến và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao
của thị trường nhập khẩu
Nhằm góp phần phát triển nghề nuôi trồng thủy sản theo các vùng đã được quy
hoạch để có thể khai thác hợp lý và hiệu quả tiềm năng mặt nước, phát triển nuôi thủy sản luôn gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo nghề nuôi thủy sản phát triển
bền vững của tỉnh nhà Hơn nữa nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng quy trình sản xuất khép kín từ sản xuất con giống, thức ăn, nuôi cá thương phẩm và sản xuất sản phẩm cung cấp cho khách hàng với chất lượng tốt nhất đảm bảo an toàn và đúng luật định
Công ty CPTS Kiên Giang ngoài việc đầu tư nâng cấp nhà máy sản xuất thủy
sản đông lạnh thành nhà máy sản xuất cá tra, basa đông lạnh xuất khẩu với công suất thiết kế 120.000 tấn nguyên liệu/ngày, nhà máy sản xuất thức ăn phục vụ cho nuôi
trồng thủy sản, Công ty đã quy hoạch khu nuôi cá tra, basa tại địa chỉ Ấp Kinh 9A, xã
Trang 2313
Thạnh Đông - huyện Tân Hiệp - tỉnh Kiên Giang, khi vùng nuôi vận hành có hiệu quả
sẽ đáp ứng nguồn nguyên liệu ổn định chất lượng cao đảm bảo sản xuất ổn định, phát triển bền vững
Khu nuôi cá thương phẩm được quy hoạch trên tổng diện tích 21 ha, nơi đây có địa thế thuận lợi và phù hợp cho việc triển khai chương trình nuôi cá tra thương phẩm theo GAP Phía tây Nam tiếp giáp với kênh 9A và lộ giao thông, rất thuận tiện cho
việc vận chuyển cá, thức ăn, nguyên nhiên liệu phục vụ cho quá trình nuôi Kênh 9A
có thể cung cấp nước ngọt quanh năm, các chỉ tiêu thủy lý hóa thích hợp cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản, đáp ứng được yêu cầu theo luật định
Phía đông Bắc tiếp giáp với kênh 8 Ngàn, là kênh thoát đảm bảo nguồn nước cấp và thoát riêng biệt không bị lây nhiễm trong quá trình nuôi Khu nuôi được quy
hoạch trên vùng đất sản xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa, mật độ dân cư thưa thớt, dự án không ảnh hưởng đến môi trường và sinh thái
2.4.2 Sơ đồ khu nuôi
Hệ thống ao nuôi thương phẩm được phân bố theo sơ đồ trình bày ở Hình 5:
Hình 5: Sơ đồ khu nuôi Khu nuôi có tổng cộng 14 ao Trong đó, 12 ao được sử dụng để nuôi cá thương phẩm, mỗi ao có diện tích 7.000 m2 và độ sâu 3,5 mét; 1 ao dùng làm ao lắng để dự trữ nước cấp cho khu nuôi có diện tích 7.000 m2
với độ sâu là 4,5 mét; 1 ao chứa bùn có
diện tích 7.000 m2
với độ sâu là 4,5 mét
Trang 2414
Ngoài hệ thống ao nuôi, Công ty còn có một văn phòng làm việc, một phòng để dụng cụ và đồ bảo hộ lao động, một trạm bơm, một kho chứa thức ăn, một kho chứa thuốc và hóa chất, một kho chứa vôi và muối, một kho chứa bao bì sau khi sử dụng và
một nhà ăn dành cho cán bộ công nhân viên của Công ty
Trang 2515
Chương 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Th ời Gian và Địa Điểm
Đề tài được thực hiện từ 28/02/2011 đến 28/05/2011 tại khu nuôi cá thương
phẩm Công ty CPTS Kiên Giang
3.2 Phương Pháp Nghiên Cứu
3.2.1 Phương pháp tìm hiểu kỹ thuật nuôi
Quan sát, tham gia trực tiếp và ghi nhận lại quy trình nuôi, bao gồm tất cả các khâu: Chuẩn bị ao nuôi, kỹ thuật thả giống, kỹ thuật cho ăn, chăm sóc- quản lý, thu
hoạch - vận chuyển
3.2 2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu chất lượng nước
Cách thu mẫu nước: Sử dụng một chai nhựa 500 mL được gắn một nắp gỗ có dây giật Dùng một cây sào dài 5 mét để đưa chai xuống đáy ao (lưu ý: gốc cấy sào cách đáy ao khoảng 50 cm) Khi gốc cây sào chạm đáy, giật nắp gỗ cho nước tràn vào, khi nước đầy chai, rút cây sào lên để thu mẫu nước
Các chỉ tiêu chất lượng nước được theo dõi 2 ngày 1 lần, cụ thể như sau:
- Nhiệt độ nước: Được đo 2 lần/ngày vào lúc 6 giờ sáng và 16 giờ chiều bằng nhiệt kế thủy ngân
- pH: Được đo 2 lần/ngày vào lúc 6 giờ sáng và 16 giờ chiều bằng Sera pH Test Kit – Germany
- DO: Được đo 2 lần/ngày vào lúc 6 giờ sáng và 16 giờ chiều bằng Sera O2 Test Kit – Germany
- NH3: Được đo 1 lần/ngày vào lúc 16 giờ chiều bằng Sera NH3/NH4+ Test Kit – Germany
Trang 2616
3.2 3 Phương pháp xác định tăng trọng của cá
Tiến hành kiểm tra chiều dài và trọng lượng của cá 2 tuần/lần bằng cách dùng chài để thu mẫu, bắt ngẫu nhiên 20 con cá sau đó đo chiều dài và trọng lượng của từng con Sử dụng cân đồng hồ 2 kg để cân trọng lượng cá và dùng thước đo 50 cm để đo chiều dài
3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Excel để thống kê số liệu và vẽ đồ thị minh họa
Sử dụng phần mềm Minitab để tính độ lệch chuẩn của các giá trị trung bình, bao gồm: nhiệt độ trung bình, trọng lượng và chiều dài trung bình của cá
Trang 2717
Chương 4
K ẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 K ỹ thuật nuôi thâm canh cá tra tại Công ty
4.1.1 Giai đoạn chuẩn bị
4.1.1.1 Xây dựng ao nuôi
- Chọn vị trí ao nuôi:
Việc chọn vị trí ao nuôi là rất quan trọng Đây là một trong những yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của trại nuôi Chọn vị trí ao nuôi thích hợp sẽ thuận lợi trong việc vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm đồng thời đảm bảo được nguồn nước cung cấp cho ao nuôi không bị ô nhiễm vượt mức qui định về các chỉ tiêu: Dư lượng kháng sinh, hóa chất, thuốc trừ sâu và không nhiễm mầm bệnh về các loại vi khuẩn, virus
Ao nuôi cá tra thương phẩm phải được xây dựng trong vùng nuôi đã được quy hoạch Đối với các ao nuôi nằm ngoài vùng quy hoạch phải đáp ứng các tiêu chí sau:
+ Gần sông rạch lớn, thuận lợi cho việc giao thông đường thủy
+ Nguồn nước cung cấp cho ao nuôi không bị ô nhiễm vượt mức quy định + Đảm bảo đủ nguồn nước cấp, thoát đồng thời bảo vệ được cá nuôi trong mùa mưa lũ
+ Khảo sát kết cấu và chất lượng đất để có phương án phù hợp trong thiết kế, xây dựng và cải tạo ao nuôi
+ Khảo sát cộng đồng xung quanh để có kế hoạch chuẩn bị nguồn nhân lực, vật lực phục vụ sản xuất
- Thiết kế và xây dựng ao nuôi:
Ao nuôi cá tra có diện tích từ 1.000 m2
trở lên Độ sâu nước > 2 mét, bờ ao chắc chắn và cao hơn mức nước cao nhất trong năm Cần thiết kế cống để chủ động cấp thoát nước dễ dàng cho ao
Trang 2818
Ao nên gần nguồn nước sạch như: Sông, kênh, mương lớn để có nước chủ động Nơi cấp nước cho ao phải xa các cống thải nước sinh hoạt, nước thải công nghiệp các chỉ tiêu môi trường nước nằm trong giới hạn cho phép:
- Khu nuôi được xây dựng ở khu vực có hệ thống sông ngòi bao quanh:
Phía Tây Nam giáp với Kinh 9 là nguồn cung cấp nước dồi dào cho khu nuôi, điều kiện thủy lý hóa nơi đây rất thuận lợi cho sự phát triển bình thường của cá và đây cũng là đường giao thông thủy phục vụ cho việc vận chuyển mua bán cá tra trương
phẩm cũng như các nguyên vật liệu cung cấp cho khu nuôi
Phía Đông Bắc tiếp giáp với kênh cuối Ngàn là kênh thoát rất thuận tiện, kênh
cuối Ngàn được xây dựng để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của huyện, nên lượng nước mà khu nuôi thoát ra được nông dân sử dụng tưới cho lúa nên không ảnh hưởng
gì đến môi trường sinh thái và nước sinh hoạt của nhân dân xung quanh khu vực nuôi
cá Nước thải được đưa vào mương xử lý trước khi xã ra kênh thoát, mương xử lý được xây dựng dọc theo hệ thống ao nuôi theo sơ đồ được trình bày ở Hình 5
- Về mặt thiết kế:
Khu nuôi có 14 ao, trong đó có một ao dùng làm ao lắng, một ao để chứa bùn các ao còn lại được sử dụng để nuôi cá Mỗi ao có diện tích 7.000 m2; độ sâu 3,5 mét; cống cấp và cống thoát được xây dựng kiên cố ở hai đầu mỗi ao; đáy ao hơi nghiên về phía cống thoát; bờ ao được gia công chắc chắn và đảm bảo cao hơn mức nước cao nhất trong năm
Trang 2919
- Các chỉ tiêu chất lượng nước ở đây được xác định là:
+ Nhiệt độ nước dao động: 28 – 35,50
Sau khi thu hoạch xong vụ trước chúng tôi tiến hành cải tạo ao như sau:
- Tiến hành hút hết bùn đáy để loại khỏi ao nuôi những loài sinh vật có hại cũng như các chất thải, chất độc hại tồn đọng dưới đáy ao nuôi gây ảnh hưởng xấu đến vụ nuôi tiếp theo
- Làm cỏ, dọn gác, lắp hang, lỗ mọi xung quanh ao và đáy ao, đồng thời gia cố
lại bờ ao tránh sạt lở
- Rải vôi khắp ao với liều 100 - 150 kg/1.000 m2, để sát trùng ao nuôi và ngăn
ngừa hiện tượng xì phèn (tùy vào mức độ nhiễm phèn của mỗi ao mà ta tăng hoặc
giảm lượng vôi sử dụng cho hợp lý)
- Sau khi rải vôi tiến hành phơi ao từ 3 - 5 ngày để tiêu diệt tất cả những loài địch hại còn tồn tại trong ao và làm tăng hiệu quả hoạt động của hóa chất sử dụng cải
tạo ao
- Cho nước vào ao nuôi khoảng 50%, sau 2 - 3 ngày tiến hành thả cá giống, sau
đó cung cấp đầy đủ nước cho ao nuôi (Lưu ý: phải lọc nước thật kỹ trước khi cho vào
ao nuôi)
Hình 6: Cải tạo ao
Trang 3020
4.1.1.3 Lấy nước vào ao
Sau cùng cho nước từ từ vào ao qua cống có chắn lưới lọc để ngăn cá dữ và địch hại lọt vào ao, sau khi cấp nước vào ao 2 - 3 ngày thì tiến hành thả cá giống
Sau khi thả giống, chúng tôi kiểm tra lại các chỉ tiêu chất lượng nước để có thể điều chỉnh kịp thời đáp ứng nhu cầu phát triển bình thường của cá
Hình 7: Hệ thống cấp nước cho ao nuôi
4.1.2 Chọn và thả giống
- Mùa vụ thả nuôi:
Trước đây do nguồn giống phụ thuộc tự nhiên nên Công ty thường nuôi hai vụ chính, vụ 1 từ tháng 4 - 6, vụ 2 từ tháng 11 - 12, thu hoạch cá thịt vào tháng 5 - 6 hoặc tháng 12 - 01 năm sau đó
Hiện nay, Công ty đã chủ động sinh sản nhân tạo nên mùa vụ thả giống có thể tiến hành quanh năm
- Chọn giống:
Chọn và thả giống là một trong những khâu quan trọng của nguyên tắc thực hành quản lý nuôi tốt, mang tính quyết định đến năng suất, chất lượng an toàn của sản
phẩm nuôi Vì vậy, khi chọn và thả giống cần thực hiện các vấn đề sau:
+ Cá giống cần được chọn lựa và kiểm tra cẩn thận đảm bảo phẩm chất giống
để cá tăng trưởng tốt trong quá trình nuôi
+ Đảm bảo không có kháng sinh cấm trong cá giống
Trang 31Cá thả nuôi phải có quy cỡ đồng đều, không thả lẫn lộn cá quá lớn với cá quá
nhỏ dẫn đến tình trạng cá lớn tranh mồi ăn với cá nhỏ làm cho chênh lệch đàn cá nuôi khi thu hoạch
Hình 8: Cá giống thả nuôi
- Kỹ thuật thả giống:
Cá giống được vận chuyển bằng ghe đục từ khu ương giống đến khu nuôi nên khi thả giống chúng tôi tiến hành như sau:
- Dùng lưới với mắc lưới nhỏ để kéo cá, thao tác từ từ, nhẹ nhàng
- Sử dụng Iodis (0,3 – 0,5 ppm) tắm cho cá trước khi chuyển cá ra ao
- Dùng phuy nhựa để chứa cá
- Chuyển cá ra ao bằng xe máy
- Thả cá ra ao từ từ để cá thích nghi với môi trường mới
Trang 3222
Sau khi thả cá, tiến hành xử lý diệt khuẩn cho ao nuôi bằng Iodis (0,2 - 0,25 lít/1.000 m3)
4.1.3 Chăm sóc và quản lý
4.1 3.1 Quản lý thức ăn và cho ăn
Việc chọn thức ăn phù hợp là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự tăng trưởng của cá, có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế của trại nuôi
Thức ăn nhập về phải có hóa đơn đồng thời phải kiểm tra thời gian sử dụng, nhãn và bao bì thức ăn còn nguyên vẹn
Bảo quản thức ăn trong môi trường khô ráo, sạch sẽ tránh ẩm mốc
Tùy theo giai đoạn phát triển của cá, chọn kích cỡ viên thức ăn và thành phần đạm, lượng thức ăn, số lần cho ăn trong ngày hợp lý:
+ Trong 2 tháng đầu mới thả nuôi, cho ăn loại thức ăn có hàm lượng đạm 28 - 30%
+ Các tháng tiếp theo giảm dần hàm lượng đạm còn 24 - 26%
+ Hai tháng cuối cùng sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm 22 - 24%
Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần, sáng từ 7 - 9 giờ, chiều từ 16 - 18 giờ Khẩu phần thức ăn từ 1 - 7% trọng lượng thân tuỳ theo giai đoạn nuôi
Quan sát hoạt động bắt mồi, theo dõi tình hình ăn và kiểm tra tăng trọng của cá
để tính toán điều chỉnh lượng thức ăn cho hợp lý, không để cá ăn nhiều hoặc dư thừa
thức ăn
Trong quá trình nuôi, tùy vào giai đoạn (cá nhỏ thì tỷ lệ % cho ăn nhiều hơn cá lớn), thời tiết (trời lạnh cá ăn ít hơn trời nóng), và tình trạng sức khỏe của cá (cá bệnh thì ăn ít hơn bình thường) mà điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp
Liều lượng và kích cỡ thức ăn cho cá ăn được sử dụng theo Bảng 3.1:
Bảng 3.1: Lượng và cỡ thức ăn cho cá
Cỡ cá (g) Cỡ thức ăn (mm) % cho ăn Số lần cho ăn