i TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN ĐẾN MẬT ĐỘ VÀ KÍCH THƯỚC Moina sp Tác giả MAI THU HOÀI Khóa luận được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Nuôi Trồng Thủy Sản Chuyên Ngành Nuôi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN ĐẾN
MẬT ĐỘ VÀ KÍCH THƯỚC Moina sp
Chuyên ngành : NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Niên khóa : 2009 - 2011
Tháng 08/2011
Trang 2i
TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN ĐẾN
MẬT ĐỘ VÀ KÍCH THƯỚC Moina sp
Tác giả
MAI THU HOÀI
Khóa luận được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Nuôi Trồng Thủy Sản
Chuyên Ngành Nuôi Trồng Thủy Sản
Gảng viên hướng dẫn:
TS NGUYỄN PHÚ HÒA
Tháng 08/2011
Trang 3ii
TÓM TẮT
Đề tài “Tìm hiểu ảnh hưởng của thức ăn đến mật độ và kích thước Moina” được
tiến hành từ tháng 2 đến tháng 6 tại Trung Tâm thủy sản Long An_ Trại Giống Thủy
Sản Bình Cách Với mục tiêu tìm ra quy trình nuôi sinh khối Moina có tỷ lệ Moina
kích thước < 0,45 mm cao nhất, sinh khối lớn nhất
Tiến hành gây nuôi Moina trong bể composit ở thể tích nước 100 lít; mật độ
thả 8 con/L; bể đặt tại nơi có mái che và được sục khí liên tục
Kết quả thu được:
Ở thí nghiệm một: cám gạo cho mật độ Moina rất cao 19.770 con/L ở ngày thứ
11 khi cho ăn 0,3 g cám gạo/lít/ngày; men bánh mì cho mật độ Moina là 10.810 con/L
ở ngày thứ 10 khi cho ăn 0,3 g men bánh mì/lít/ngày Trong thí nghiệm hai: mật độ
Moina đạt được 13.010 con/L khi cho ăn 0,3 g cám gạo/lít/ngày ở ngày 11; và 9.507 con/L khi cho ăn 0,45 g cám gạo/lít/ngày ở ngày 10 Kết quả của thí nghiệm ba, môi
trường nuôi là cám gạo cho mật độ Moina là 12.690 con/L, tỷ lệ Moina kích thước <
0,45 mm chiếm hơn 80% ở ngày nuôi thứ 11; Bột huyết cho mật độ 7.053 con/L; cám
gạo và bột đậu nành cho mật độ Moina là 14.280 con/L, tỷ lệ Moina kích thước < 0,45
mm là 69%
Trang 4iii
LỜI CẢM TẠ
Chúng tôi kính gửi lòng biết ơn sâu sắc đến:
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản
Các cán bộ và nhân viên tại Trung Tâm Thủy Sản Long An_ Trại Giống Thủy Sản Bình Cách
Cùng toàn thể quý thầy cô trong trường, khoa đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo chúng tôi trong suốt thời gian học tại trường
Xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến cô Nguyễn Phú Hòa đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành tốt đề tài
Đồng kính gửi lời cảm ơn tới các anh chị và các bạn sinh viên đã giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn và hoàn thành tốt đề tài
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu tôi không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn
Xin chân thành cảm tạ
Mai Thu Hoài
Trang 5iv
MỤC LỤC
TÓM TẮT ii
LỜI CẢM TẠ iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt Vấn Đề 1
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Giới Thiệu Sơ Lược Về Moina sp 3
2.1.1 Phân Loại 3
2.1.2 Hình Thái Ngoài 3
2.2 Đặc Điểm Sinh Thái Của Moina 4
2.2.1 Đặc điểm phân bố và sự thích nghi 4
2.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng 6
2.2.3 Đặc điểm sinh sản 7
2.3 Thành Phần Dinh Dưỡng Của Moina 8
2.4 Tình Hình Nghiên Cứu Và Nuôi Moina Trong Và Ngoài Nước 9
2.4.1 Ngoài nước 9
2.4.2 Trong Nước 9
2.5 Sơ Nét Về Thức Ăn Sử Dụng Trong Các Thí Nghiệm 11
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.1 Thời Gian Và Địa Điểm 13
3.2 Phương Pháp Nghiên Cứu Và Bố Trí Thí Nghiệm 13
3.2.1 Vật liệu 13
3.2.2 Bố trí thí nghiệm 14
3.2.3 Một số chỉ tiêu khảo sát 16
3.2.3.1 Phương pháp xác định mật độ 16
Trang 6v
3.2.3.2 Phương pháp xác định kích thước Moina 17
3.2.4 Phương pháp xử lý thống kê 17
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18
4.1 Ảnh Hưởng Của Cám Gạo Và Men Bánh Mì Lên Mật Độ Và Kích Thước Của Moina 18
4.1.1 Ảnh hưởng của cám gạo và men bánh mì lên mật độ Moina 18
4.1.2 Ảnh hưởng của cám gạo và men bánh mì lên kích thước Moina 21
4.2 Ảnh Hưởng Của Hàm Lượng Cám Gạo Khác Nhau Lên Mật Độ và kích thước Moina 24
4.2.1 Ảnh hưởng của lượng cám gạo khác nhau lên mật độ Moina 25
4.2.2 Ảnh hưởng của lượng cám gạo khác nhau lên kích thước Moina 28
4.3 Ảnh Hưởng Của cám gạo và Các Loại Thức Ăn Khác Trong Thực Tế Sử Dụng Lên Mật Độ Và Kích Thước Của Moina 30
4.3.1 Ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau lên mật độ Moina 30
4.3.2 Ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau lên kích thước Moina 32
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 37
5.1 Kết Luận 37
5.2 Đề Nghị 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38 PHỤ LỤC
Trang 7vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Kết quả các chỉ tiêu môi trường của thí nghiệm một 18
Bảng 4.2 Sự biến động mật độ Moina (con/L) theo lượng cám gạo và men bánh mì
(trung bình ± SE) trong thời gian nuôi 19 Bảng 4.3 Kết quả các chỉ tiêu môi trường của thí nghiệm hai 25
Bảng 4.4 Sự biến động mật độ Moina (con/L) theo lượng cám gạo khác nhau (trung
bình ± SE) trong thời gian nuôi 26Bảng 4.5 Kết quả các chỉ tiêu môi trường của thí nghiệm ba 30
Bảng 4.6 Sự biến động mật độ Moina (con/L) theo các loại thức ăn khác nhau (trung
bình ± SE) trong thời gian nuôi 30
Bảng 4.7 Sự biến động mật độ Moina (con/L) có kích thước > 0,45 mm theo các loại
thức ăn khác nhau (trung bình ± SE) trong thời gian nuôi 33
Trang 8vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Moina sp 3
Hình 2.2 Ao nuôi Bobo của chị Thảo (Gò Vấp) 11
Hình 3.1 Túi vải lọc nước và vợt lưới 13
Hình 3.2 Cám gạo, men bánh mì bột huyết dử dụng trong thí nghiệm 14
Hình 3.3 Hệ thống sục khí và bố trí bể nuôi 15
Hình 4.1 Màu nước ở hai nghiệm thức 20
Hình 4.2 Moina mới nở (< 0,45 mm) và Moina mẹ (× 100) 21
Hình 4.3 Sự phát triển của trùng tiêm mao ở NT II (× 100) 27
Trang 9viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Sự biến động mật độ Moina theo lượng cám gạo và men bánh mì 19
Biểu đồ 4.2 Sự biến động kích thước Moina ở NT I (cám gạo) 22
Biểu đồ 4.3 Sự biến động kích thước Moina ở NT II (men bánh mì) 22
Biểu đồ 4.4 Sự biến động mật độ Moina theo lượng cám gạo khác nhau 25
Biểu đồ 4.5 Sự biến động kích thước Moina ở NT I (0,3 g cám gạo/L) 27
Biểu đồ 4.6 Sự biến động kích thước Moina ở NT II (0,45 g cám gạo/L) 28
Biểu đồ 4.7 Sự biến động mật độ Moina theo các loại thức ăn khác nhau 29
Biểu đồ 4.8 Sự biến động kích thước Moina ở NT II (bột huyết) 32
Biểu đồ 4.9 Sự biến động kích thước Moina ở NT I (cám gạo) 32
Biểu đồ 4.10 Sự biến động kích thước Moina ở NT III (cám gạo và đậu nành) 33
Trang 10Theo Rottmann (1992), Moina hay còn gọi là trứng nước, bobo là thức ăn lý tưởng cho nhiều loài cá sống trong môi trường nước ngọt nhờ vào đặc điểm có kích
thước nhỏ bé, giá trị dinh dưỡng cao Moina đã được sử dụng thành công trong việc
ương nuôi các loài cá vược, cá hồi, cá thác lác, cá tai tượng, cá trê, cá rô đồng,…và
nhiều loài cá cảnh nhiệt đới Việc thu vớt Moina ngoài tự nhiên ngày càng hạn chế
không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng, hơn nữa việc lây truyền mầm bệnh và địch hại cho
ấu trùng cá tương đối cao Để chủ động trong sản xuất, những biện pháp gây nuôi
Moina đã được tiến hành nhằm chủ động trong việc tạo nguồn thức ăn
Theo nghiên cứu của Phượng (2008), cho thấy vai trò của cám gạo trong việc tạo
ra quần đàn Moina có kích thước nhỏ
Xuất phát từ những mục tiêu trên và được sự phân công của Khoa Thủy Sản
Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, chúng tôi đã thực hiện đề tài “Tìm hiểu
ảnh hưởng của thức ăn đến mật độ và kích thước Moina” nhằm tìm ra điều kiện nuôi
hiệu quả phục vụ sản xuất
Trang 123
Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới Thiệu Sơ Lược Về Moina sp
Moina thuộc nhóm giáp xác bậc thấp, có kích thước nhỏ bé 0,7 - 1,6 mm Theo
Rottmann (2003), cơ thể Moina có hình bầu dục hoặc gần tròn, được bao bọc bởi lớp
vỏ giáp trong suốt và được chia làm hai phần nhờ ngấn phía sau cổ gồm phần đầu và phần thân Chúng tự lột vỏ này một cách định kỳ theo dinh dưỡng của môi trường Đầu mang một đôi mắt kếp kết hợp lại thành một mắt giữa nằm ở bên hông đầu, phần đầu còn mang 2 đôi râu dài bằng ½ chiều dài cơ thể hoặc hơn, mọc ở gần chủy Râu AI thường nhỏ, ngắn, không phân đốt, ở con cái ngắn và thẳng, con đực cong và dài giúp phân biệt đực cái Râu AII lớn hơn nằm ở hai bên đầu, là cơ quan chuyển động chủ yếu, gồm phần gốc và hai nhánh ngọn có phân đốt, trên các đốt râu có tơ dạng lông chim Khi di chuyển, râu AII đập mạnh tạo nên những bước nhảy ngắt quãng, giật cục Ngoài ra râu còn làm nhiệm vụ vận chuyển thức ăn và oxy đến miệng
và mang
Phần thân của vỏ giáp có chứa 4 - 6 đôi chân ngực phía trong Theo Bình (2000), phần thân vỏ giáp xác có thể phân biệt cạnh lưng, cạnh bụng và cạnh sau Cạnh sau
Trang 134
của con đực bằng, có thể phân biệt với cạng lưng và cạnh bụng, trong khi cạnh lưng
của con cái kéo dài liên tục tới cạnh bụng, phần bụng Moina kéo dài tạo thành đuôi
bụng Cạnh trên gốc đuôi bụng mang lỗ hậu môn Túi ấp trứng và ấu trùng phát triển nằm trên lưng con cái
Kích thước của Moina có sự khác biệt giữa các loài: Moina micrura (1,3 mm – Khalaf & Shihab, 1979); Moina brachiata (1,56 mm – Lazim & Faisal,1989); Moina
reticulate (1,6 mm – Hardy, 1989); Moina macrocopa (0,6 - 0,9 mm- Straus, 1982)
Theo Rottmann và ctv (2003), có sự khác biệt đáng kể giữa các chi, Moina có kích thức tối đa chỉ bằng một nửa Daphnia, Moina trưởng thành (0,7 - 1,6 mm) có kích thước gấp đôi ấu trùng Artemia (0,5 mm) và gấp 2 - 3 lần kích thước của Rotifer trưởng thành Tuy nhiên Moina mới nở (≤ 0,4 mm) gần bằng hay lớn hơn Rotifer trưởng thành và nhỏ hơn ấu trùng Artemia Thí nghiệm lọc Moina bằng mắt lưới
nhuyễn kích thước 0,5 mm tại UF/IFAS Tropical Aquaculture Laboratory cho kết quả không đáng kể Kích thước cũng là một trong những yếu tố nhằm phân biệt giới tính
của Moina, con đực có kích thước từ 0,6 - 0,9 mm và nhỏ hơn con cái 1 - 1,6 mm
(Tamaru và ctv, 2004, trích bởi Nguyên, 2007; Phượng 2008)
Màu sắc của Moina có được là do các loại thức ăn mà chúng sử dụng: màu xanh
là do chúng ăn tảo, nâu đen là màu của mùn bã hữu cơ….ta có thể căn cứ vào màu sắc
để kiểm tra sức khỏe Moina, cơ thể có màu đặc trưng của thức ăn, ruột đầy thức ăn, hoạt động linh hoạt là Moina khỏe mạnh Moina màu nhợt nhạt, bụng rỗng, hay Moina
đẻ trứng là dấu hiệu của môi trường kém chất lượng hay thiếu thức ăn (Rottmann, 2003)
2.2 Đặc Điểm Sinh Thái Của Moina
2.2.1 Đặc điểm phân bố và sự thích nghi
Chúng thường xuất hiện nhiều trong nước thải, những nơi môi trường bị ô nhiễm, đặc biệt là ở những ao, hồ vũng nước, dòng chảy chậm chứa nhiều chất hữu cơ đang phân hủy Chúng ta cũng có thể tìm thấy chúng tại những vũng nước, hố ở gần hay bên dưới các khu chung cư (Bellosillo, 1937)
Theo Rottmann và ctv (2003), Moina phân bố khắp nơi trên thế giới, chủ yếu trong các thủy vực nước ngọt, tập trung thành từng đám dày đặc màu đỏ ở ao, hồ vũng nước, cửa cống rãnh nơi có nhiều chất hữu cơ
Trang 145
Moina macrocopa là loài giáp xác râu ngành rộng nhiệt, và sống chủ yếu tại các vùng nước giàu chất hữu cơ, nơi nó thường tạo nên khoảng 90% sinh khối động vật phù du (Burak, 1997) Ở Đông Nam Á, loài này thường xuất hiện trong ao, ruộng lúa,
và được một số người dân nuôi cá nuôi và sử dụng như một loại thức ăn chất lượng
cao cho một số loài cá vược ở giai đoạn cá bột cho ăn ngay sau khi cho ăn Artemia và
trước khi ăn cá băm (Wong, 1997; Treeceb và Davis, 2000)
Moina rất nhạy cảm với ánh sáng và thường tập trung chủ yếu ở nơi có bóng râm, ven các bụi cây, cỏ ngập (Rottmann và ctv, 2003) Anh (1998), đã làm thí nghiệm
khảo sát ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng đến nuôi sinh khối Moina Kết quả Moina
được nuôi trong điều kiện che tối sẽ cho đỉnh sinh khối cao hơn trong điều kiện ánh sáng tự nhiên
Theo Ivleve (1973), Moina là sinh vật phù du phân bố rộng khắp, từ nước ngọt tới nước hơi lợ, có khả năng chịu được nhiệt độ từ 5 - 30oC, và pH trung tính đến hơi kiềm (6,5 - 8,5); nó có thể sống ở nơi có nồng độ oxy thấp và giàu chất hữu cơ Theo
Rottmann và ctv (2003) sở dĩ Moina có thể sống sót trong môi trường nghèo oxy là
nhờ khả năng tổng hợp hemoglobin, sự hình thành hemoglobin khi hàm lượng oxy lấy vào cơ thể thấp như khi hàm lượng oxy trong nước thấp, nhiệt độ cao oxy hòa tan
trong nước giảm hay khi mật độ Moina cao
Moina là loài giáp xác rộng nhiệt, chúng dễ dàng vượt qua biến đổi nhiệt độ trong ngày từ 5 - 31oC, nhiệt độ tối ưu của chúng là 24 - 31oC Chúng có thể chịu đựng nhiệt độ cao hơn 32oC trong thời gian ngắn Tuy nhiên nhiệt độ thấp khiến chúng sinh
sản chậm lại, do đó Rottmann và ctv khuyên rằng nên đặt bể nuôi Moina tại nơi có ánh
sáng khuyếch tán và bóng râm Môi trường có mái che bằng vải bạt giảm từ 50 - 80% cường độ chiếu sáng là phù hợp Bên cạnh đó bể cần được che mưa tạo sự ổn định cho môi trường nuôi
Moina rất nhạy cảm với hóa chất và kim loại nặng (đồng, kẽm, sắt, là những chất thường xuất hiện trong nước máy), bột giặt, chất tẩy và những chất độc khác trong nước,
do đó phải đảm bảo nguồn nước không bị nhiễm các chất độc trên (Rottmann và ctv, 2003)
Trang 156
2.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng
Moina là loài ăn lọc không chọn lọc (Ivleva, 1973)
Theo nghiên cứu của Ventura và Enderez (1980) đã làm thí nghiệm với Moina sp
và mô tả sự nở hoa của chúng trong ao nuôi sử dụng thức ăn là phân gà, góp phần
quan trọng trong sự phát triển kỹ thuật nuôi Moina Hanazato và Yasuno (1984) đã thành công lớn trong việc nuôi Moina macrocopa bằng tảo Chlorella sp và đã cho thấy
sự không phù hợp của, cyanobacteria (tảo lam) là nguồn thức ăn duy nhất Các thí
nghiệm về dinh dưỡng của Moina đều cho thấy Moina là loài ăn lọc không chọn lọc
loại thức ăn
Theo quan xát của Rottmann (2003), chân ngực Moina có dạng lá, phủ nhiều
lông tơ Khi chân ngực chuyển động, sẽ tạo nên dòng nước cuốn theo những phần tử thức ăn đến các phần phụ miệng, và được nghiền bởi hàm trên trước khi đưa vào trong miệng những chất không được tiêu hóa sẽ được đưa tới giữa hai hàm trên và bị đẩy ra
ngoài bởi các gai gốc chân ngực I Thức ăn của Moina là các loại vi khuẩn, men bia, vi tảo, và mùn bã hữu cơ,… Moina là một trong những sinh vật phù du có thể tiêu thụ tảo xanh Microcystis aeruginosa
Theo Vỹ (1995; trích bởi Anh, 1998), tốc độ lọc thức ăn của giáp xác phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mật độ, loại và kích thước thức ăn; phụ thuộc vào kích cỡ động vật ăn mồi; yếu tố môi trường như nhiệt độ, ánh sáng, pH của nước…; nhóm sinh vật cạnh tranh thức ăn,…
Bằng thực nghiệm người ta nhận thấy không phải cứ tạo ra nhiều thức ăn là tốt
mà phải tạo được mật độ thức ăn thích hợp Theo Nguyên (2007) đã làm thí nghiệm
nuôi sinh khối Moina với nhiều loại thức ăn khác nhau, kết quả cho thấy lượng cám gạo thích hợp để nuôi Moina là 0,3g/lít /ngày
Theo F.Gavlena (1955, trích bởi Anh, 1998) trong khoảng từ 6 - 22oC tốc độ lọc của giáp xác tăng lên hầu như tỷ lệ thuận với sự tăng của nhiệt độ
Trùng tiêm mao Paramecium caudatum là loài thường xuất hiện trong môi
trường sống của Moina, chúng có tác dụng làm sạch vi khuẩn và chất mùn trong bể
nuôi nhưng lại cạnh tranh thức ăn, đồng thời sinh ra những sản phẩm thừa trong quá trình trao đổi chất làm tăng lượng NO2 trong nước làm giảm pH nước gây hại cho
Moina
Trang 167
2.2.3 Đặc điểm sinh sản
Ở điều kiện tối ưu, Moina cái từ 4 - 7 ngày tuổi bắt đầu cho sinh sản với số lượng
từ 4 - 22 con cho một lần đẻ, mỗi lứa cách nhau 1,5 - 2 ngày, mỗi con cái đẻ từ 2 - 6 lần trong đời Hình thức sinh sản bình thường của chúng là trinh sản hay sinh sản đơn tính, con cái gồm hai buồng trứng mảnh, dài nằm dọc trên phần lưng và được nối với một buồng ấp thông qua ống dẫn trứng
Moina sinh sản bằng cách sinh sản đơn tính theo chu kỳ và đa phần đều là cái Trứng được sản xuất trong buồng trứng, liên kết với quá trình lột xác Sinh sản đơn tính trứng được sinh ra không qua quá trình giảm phân và kết quả là con cái, nhưng trong một số trường hợp con đực có thể xuất hiện Những quả trứng sinh sản đơn tính (số lượng có thể khác nhau phụ thuộc phần lớn vào kích thước con mẹ và dinh dưỡng của thức ăn) được đặt trong buồng ấp ngay sau khi lột xác của con mẹ và nở ngay trước quá trình lột xác tiếp theo Phôi phát triển trong buồng ấp và ấu trùng có hình dạng giống mẹ
Trong một số trường hợp, các giai đoạn phôi thai không tương ứng với thời gian của con mẹ, và điều này có nghĩa là ấu trùng được giữ lại trong buồng ấp ngay
cả sau khi thời kỳ phôi thai được hoàn thành, do quá trình lột xác bị hoãn (yếu tố môi trường) Đối với các loài khác nhau giai đoạn trưởng thành là khá thống nhất ở nhiệt
độ nhất định, từ 11 ngày ở 10°C để chỉ 2 ngày ở 25°C
Sự thay đổi nhiệt độ nước hoặc cắt giảm lượng thức ăn, có thể gây ra việc sản xuất của con đực và chúng chuyển sang sinh sản hữu tính cho ra trứng ở trạng thái tiềm sinh Trứng được thụ tinh chứa trong một túi nhỏ (ephippium), mỗi túi chứa từ 1 hoặc 2 trứng hay nhiều Trứng tiềm sinh có thể tồn tại trong môi trường khô hạn, điều kiện bất lợi, khi gặp điều kiện thuận lợi nó sẽ nở thành Moina kích thước < 0,45 mm Theo Hambright (2002; trích bởi Phượng) trứng nghỉ của giáp xác râu ngành phân bố rất rộng, có thể nằm trong ruột cá hoặc chim (ở dạng không tiêu hóa được) và
có thể bay phát tán theo gió đi xa, đặc biệt chúng có khả năng sống sót ở vùng đất khô cằn khoảng vài năm Với màu nâu sẫm hoặc đen của trứng cho phép cá và chim dễ dàng trông thấy chúng và những góc cạnh trên ephippirum giúp chúng gắn chặt vào cơ thể sinh vật, theo đó trứng nghỉ có mặt khắp mọi nơi, từ dưới nước cho tới cạn và cả trong không khí
Trang 178
2.3 Thành Phần Dinh Dưỡng Của Moina
Moina tuy là loài có kích thước nhỏ nhưng trong cơ thể lại chứa nhiều enzyme tiêu hóa như proteinases, peptidases, amylases, lipases và thậm chí cả cellulase, hàm lượng HUFA (Highly Unsaturated Fatty Acid) là những acid amine thiết yếu mà cơ thể
cá, tôm không tự tổng hợp được Khi được tiêu thụ vào, Moina sẽ cung cấp nhiều men
tiêu hóa rất có lợi cho hoạt động tiêu hóa của cơ thể tôm, cá (theo Rottmann và ctv, 2003)
Giá trị dinh dưỡng của Moina phụ thuộc vào độ tuổi và loại thức ăn mà chúng sử dụng Dù vậy, lượng protein ở Moina chiếm 50% khối lượng khô, Moina trưởng thành chứa nhiều chất béo hơn Moina con Lượng chất béo chiếm từ 20 - 27% khối lượng khô ở Moina cái trưởng thành và 4 - 6% ở Moina con (Rottmann, 2003)
Moina có thể trữ lâu dài bằng cách trữ lạnh trong nước muối có nồng độ thấp
(7ppt) hay trữ khô Cả hai phương phát đều làm chết Moina, vì vậy khi cho ăn cần sục khí liên tục nhằm giúp chúng lơ lửng trong nước để cá bột có thể ăn Moina đông lạnh
và Moina khô đều không bổ dưỡng bằng Moina tươi, hơn nữa cá con cũng không thích
ăn bằng Moina còn sống
Tuy nhiên, Moina đông lạnh và khô có thành phần dinh dưỡng thay đổi không nhiều, những chất dinh dưỡng không tan quá nhanh vào nước hầu hết enzyme hoạt động
bị phân hủy trong vòng 10 phút sau khi bỏ Moina vào trong môi trường nước Sau một
giờ, tất cả các acid amine tự do và acid amine thiết yếu đều bị phân hủy (Rottmann và ctv, 2003)
Moina là thức ăn có giá trị đối với cá hương, vì nó phù hợp cỡ miệng cá và khả
năng di chuyển thụ động của Moina sẽ kích thích tập tính bắt mồi của cá con Nếu so với Artemia thì Moina nhỏ hơn nhưng có giá trị protein cao hơn (Shirota, 1966; trích bới
Anh, 1998)
Trang 189
2.4 Tình Hình Nghiên Cứu Và Nuôi Moina Trong Và Ngoài Nước
2.4.1 Ngoài nước
Đã có nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sinh khối Moina
Cladocerans phản ứng nhanh chóng với sự thay đổi của chất lượng, hàm lượng thức
ăn, nhiệt độ, mật độ quần đàn, sinh vật cạnh tranh (Sommer, 1989; Dumont và ctv, 1990; Gulati và Demott, 1997)
Fernando và ctv (1991) đã nghiên cứu về sức sinh sản, khả năng sinh sản và tăng
trưởng của Moina macrocopa khi sử dụng tảo ở các mật độ tảo khác nhau
Yi Long Xi và ctv (2005), nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và nhiệt độ lên sinh
khối Moina macrocopa
bia kết hợp với tảo Chlorella và phân gia cầm (Nandy, 1997; trích bởi Phượng, 2008);
phân gia súc trộn với đất (Bellosillo, 1937); cây cỏ tươi ủ mục rã (Matsudaira, 1943)…
Ở Singapore, loài Moina micrura nuôi trong ao hồ chủ yếu bón bằng phân gà,
hay phân heo, được sử dụng làm thức ăn chính cho cá bột của các loài cá cảnh nhiệt đới, tỷ lệ sống bình quân cao lên đến 95 - 99% (Rottmann, 2003)
Đã có rất nhiều nghiên cứu về giá trị của Moina trong thực tế ứng dụng
Theo Servei Dorshov (trích bởi Shirota, 1966; Anh, 1998), Moina được sử dụng
làm thức ăn cho cá Vược (stripped bass) làm tăng sức khỏe của cá bột, cũng sử dụng
với ấu trùng tôm biển cho thấy: khi được cho ăn Moina trong một thời gian, giai đoạn
larver của ấu trùng tôm biển được rút ngắn 2/3 thời gian Còn James Mighell sử dụng
Moina làm thức ăn cho cá hồi, ông nhận thấy tỷ lệ sống của cá tăng trong suốt thời
gian cho ăn Moina
Alam và cộng sự (1983), sử dụng Moina micrura (Kurz) như là một thức ăn thay thế trực tiếp cho Artemia sp trong nuôi ấu trùng của tôm càng xanh
2.4 2 Trong Nước
Ỏ nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học cũng như các
biện pháp ương nuôi Moina như: ương nuôi Moina rectirostric bằng Chlorella và
sử dụng tảo Chlorella nuôi sinh khối Moina sp (Ngọc, 2009),…
Trong quá trình khảo sát thực tế chúng tôi nhận thấy:
Trang 1910
Moina được tiến hành nuôi trong ao ương cá bột: sử dụng cám gạo, bột đậu nành
hay bổ sung thêm phân gà, phân bò,…Tiến hành gây nuôi Moina trước 3 - 4 ngày trước khi thả bột Moina được gây nuôi và sử dụng trong thời gian ngắn, và khi cần thì
lại tiến hành gây nuôi lại mà không dự trữ
Trong sản xuất cá cảnh người ta thường tiến hành vớt Moina ngoài tự nhiên vào
sáng sớm chứ không gây nuôi
Moina bán trên thị trường thường được tiến hành thu vớt tại những nơi có nguồn nước ô nhiễm, có kích thước lớn và có màu đỏ sậm
Một số nông hộ ở Vợ chồng anh Nguyễn Văn Sỹ - chị Nguyễn Thị Hân (ở 147/1b Lê Đức Thọ - Q.Gò vấp); vợ chồng chị Huỳnh Ngọc Thảo và anh Lâm Thanh Tiền ở tổ 3, KP.2, P.Tân Thới Hiệp, Q.12,… nuôi bobo quy mô khá lớn Anh Tiền cho biếtthuê hai ao lớn có diện tích rộng 5.000 m2
Ba ngày trước khi thả bobo giống, cần dùng phân bò, phân heo bón lót dưới đáy một lớp khoảng 1 - 2 cm, giúp bobo giống có thức ăn sẵn Chọn bầy giống có màu nâu nhạt hay phớt xanh, còn những bầy có màu trắng nhợt thì rất yếu Nắp hồ phủ một tấm màn chống muỗi để muỗi, chuồn chuồn không vào đẻ trứng Tránh ánh nắng rọi trực tiếp vào hồ vì nhiệt độ cao sẽ làm bobo chết Sau khi thả mùn, phân hữu cơ khoảng bốn-năm ngày, trong hồ sẽ xuất hiện rất nhiều con bobo li ti, màu đỏ au Khi bobo sinh sản thì bổ sung thức ăn Dùng phân bò khô bóp nhuyễn, lọc qua một lớp lưới, hòa vào nước hồ; đầu cá cho vào túi lưới thả xuống ao và kéo xương lên hàng ngày để tránh ô nhiễm ao nuôi Có thể dùng một hồ khác để nuôi tảo lam cung cấp thức ăn cho bobo Nếu bobo chuyển sang màu nhợt là chúng thiếu thức ăn Hàng ngày thu hoạch từ 50 – 60 lon bobo, cao điểm 100 lon tùy theo nhu cầu thị trường Sau khi thu hoạch tiến hành thay nước cho ao từ 20 – 30 cm nước tùy theo chất lượng nước lấy vào Sau 2 - 3 tháng mới phải tẩy dọn ao một lần
Trang 2011
Hình 2.2 Ao nuôi Bobo của chị Thảo (Gò Vấp) Anh Lê Văn Thắng, ấp Khánh Bình, xã Khánh Hòa, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã dùng 3000 m2 ao để chứa nước thải từ 4 ao nuôi cá tra có tổng diện tích 1
hecta để nuôi Moina Ao sâu 1,2 m và chất lượng nước thải từ ao cá tra giàu nguồi phân đạm cũng như oxy, đáp ứng được nhu cầu môi trường nuôi cho Moina mỗi ngày anh thu được 60 - 70 kg Moina (Nguồn Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Tỉnh An
Giang, 2007)
2.5 Sơ Nét Về Thức Ăn Sử Dụng Trong Các Thí Nghiệm
Thành phần dinh dưỡng của bộ huyết khô: là sản phảm của lò mổ bao gồm máu, lông, và phần nội tạng của gia súc Bột máu có hàm lượng protein rất cao: 85 - 90%; 0,3 - 3% lipid; 2,5 % chất sơ và 6% muối khoáng Bột máu là nguồn cung cấp giàu lysin 9 - 11%
Bột đầu nành: hạt đậu nành xay mịn có protein của đậu nành khá cao 45% chứa tương đối đầy đủ các axit amine thiết yếu
Cám gạo sử dụng là loạicám to gồm có trấu, mài và mộng bột lúa cùng một ít vỏ ngoài hột gạo Loại cám này có hàm lượng protêin thô thấp (7,6 - 9,7%), ít chất bột đường (38,9 - 40,1%) và chất béo (5 - 8%), nhưng nhiều chất xơ (18 - 23%) và sinh tố nhóm B chúng tôi tiến hành lọc cám gạo qua lưới mịn (mắt lưới 50 µm), loại bỏ các hạt có kích thước lớn, và phần lớn trấu
Men bánh mì tươi là nấm tươi Saccharomyces cerevisiae: tế bào nấm có hình cầu
hay trứng, có kích thước nhỏ từ 5 – 6 đến 10 – 14 µm; chúng sinh sản bằng cách tạo
Trang 2213
Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời Gian Và Địa Điểm
Đề tài đã được thực hiện từ tháng 2 năm 2011 đến tháng 6 năm 2011 tại Trung Tâm Thủy Sản Long An_ Trại Giống Thủy Sản Bình Cách
3.2 Phương Pháp Nghiên Cứu Và Bố Trí Thí Nghiệm
3.2.1 Vật liệu
Bể composit: có đường kính 1 m và cao 0,5 m thể tích thực 500 lít Trong quá
trình thực hiện chúng tôi sử dụng 6 bể cho đợt thí nghiệm 1, thí nghiệm 2 và 9 bể cho thí nghiệm 3
Hệ thống sục khí: hệ thống sục khí được làm từ dây nhựa có đường kính 1 cm
gồm hai vòng dây: bán kính vòng ngoài là 30 cm trên đục 6 lỗ (đường kính là 0,1 cm)
và vòng trong là 10 cm trên đục 3 lỗ Hai vòng được quấn thông nhau và được cố định bởi 2 que tre nhỏ đặt ở nền đáy Dây dẫn khí 50 m (đường kính 1 cm) phân khí về các
bể
Vợt lưới : kích thước mắt lưới 50 µm dùng để sàng cám gạo và kiểm tra sức khỏe Moina
Túi vải lọc nước: nước được lấy từ hệ thống nước của trại cấp đầy vào bể chứa
(2 khối) trước 2 ngày sau đó lọc qua túi vải rồi cấp vào bể nuôi
Hình 3.1 Túi vải lọc nước và vợt lưới
Trang 2314
Trang thiết bị đo đạt: cân điện tử 2 số lẻ, kính hiển vi điện tử, nhiệt kế thủy ngân,
test đo pH và oxy trong nước Buồng đếm phiêu sinh động gồm 50 × 20 = 1000 ô vuông nhỏ; chiều dài 5 cm , rộng 2 cm Mỗi ô vuông có cạnh là 1mm, cạnh trong của ô vuông chỉ dài 0,6667 mm
Ngoài ra: chúng tôi sử dụng một số thiết bị hỗ trợ khác như: van nhựa ống xiphon, chén sứ, chậu nhựa, xô nhựa 20 lít và 100 lít, pipest nhựa 3 ml, máy sục khí, cốc đong 100 ml , formol,…
Moina sp: được mua tại chợ cá cảnh Lưu Xuân Tín, Quận 5, Tp Hồ Chí Minh, có kích thước lớn, đường ruột có màu nâu sậm Chúng tôi dùng lưới có kích thước mắt
lưới lớn 1 mm, lọc lấy Moina có kích thước lớn Tiến hành kiểm tra qua kính hiển vi
xác định quần đàn không nhiễm kí sinh trùng và được phân lập qua kiểu bơi và hình dạng trong quá trình chọn lọc quần đàn giống
Men bánh mì tươi: được mua ở chợ Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh và bảo quả lạnh
trong thời gian sử dụng
Cám gạo, bột huyết và bột đậu nành: mua tại chợ Tầm Vu, huyện Châu Thành,
tỉnh Long An
Hình 3.2 Cám gạo, men bánh mì bột huyết dử dụng trong thí nghiệm
3.2.2 Bố trí thí nghiệm
Các thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên và mỗi nghiệm thức đều được
lập lại 3 lần Moina được nuôi trong bể composite có hệ thống sục khí cung cấp oxy,
được để ở nơi thoáng mát, nơi có mái che hạn chế ảnh hưởng trực tiếp của ánh sáng mặt trời và tạo sự ổn định cho môi trường nuôi
Trang 2415
Mỗi bể composit được cấp 100 lít nước sạch và thả Moina với mật độ 8 con/L
vào chiều mát và tiến hành cho ăn vào sáng ngày hôm sau Hai ngày đầu không thay nước, từ ngày thứ 3, mỗi ngày thay 30% nước vào sáng sớm, thu mẫu để kiểm tra sức
khỏe, khảo sát sinh khối và kích thước của Moina, sau đó cho ăn ngày 1 lần
Cám gạo đã được sàng qua lưới mịn, hòa tan vào nước và cho ăn qua lưới lọc nhằm loại bỏ những hạt có kích thước to Men bánh mì, bột huyết, bột đậu nành cũng được hòa tan vào nước rồi cho ăn qua lưới mịn
Hình 3.3 Hệ thống sục khí và bố trí bể nuôi Các chỉ tiêu môi trường được theo dõi định kì: tiến hành đo pH bằng test, nhiệt
độ nước bằng nhiệt kế vào 2 giờ chiều, tiến hành đo 1 ngày/lần, sục khí liên tục
Thí nghiệm 1: khảo sát ảnh hưởng của cám gạo và men bánh mì lên mật độ và kích
thước của Moina trong điều kiện sục khí mạnh
Thí nghiệm được bố trí trong 6 bể composit: gồm 2 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần
NT 1: nuôi Moina bằng cám gạo với lượng thức ăn là 0,3 g/lít/ ngày
NT 2: nuôi Moina bằng men bánh mì với lượng thức ăn là 0,3 g/lít/ngày
Hàng ngày rút cặn bã vào sáng sớm bằng cách tắt sục khí, để lắng 15 phút khi đó phần cặn lắng xuống đáy ta dùng ống xiphon chúng ra ngoài, thay 30% nước mỗi ngày
và cấp lượng nước mới bằng với lượng đã lấy ra Tiến hành thu mẫu đếm từ ngày nuôi
Trang 25Với mục đích duy trì quần đàn Moina ở mật độ cao chúng tôi tiến hành tăng
lượng ăn lên nhằm cung cấp đầy đủ thức ăn giúp cho quần đàn khi chúng đạt mật độ cao nhằm duy trì mật độ nuôi cao
Thí nghiệm được bố trí trong 6 bể composit: gồm 2 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần
Lượng thức ăn tăng được tính dựa theo kết quả tốc độ phát triển của Moina ở đợt
một
Chúng tôi bắt đầu tăng lượng ăn lên khi quần đàn Moina đạt mật độ lớn hơn
2.000 con/L vào ngày nuôi thứ 7 Các yếu tố mật độ thả và môi trường cũng như điều kiện nuôi dưỡng được duy trì như ở thí nghiệm 1
Thí nghiệm 3: khảo sát ảnh hưởng của cám gạo và các loại thức ăn khác trong thực tế
đã ứng dụng lên mật độ và kích thước Moina
Thí nghiệm được bố trí trong 9 bể composit: gồm 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần
NT 1: nuôi Moina bằng cám gạo
NT 2: nuôi Moina bằng bột huyết
NT 3: nuôi Moina bằng (50% cám gạo + 50% bột đậu nành)
Lượng cám gạo cho ăn mỗi ngày được lấy từ kết quả tốt nhất của thí nghiệm 2
Tỷ lệ cám gạo và bột đậu nành được tham khảo từ thực tế sản xuất của người dân tại Long An Lượng cho ăn ở NT II và NT III được tham khảo theo lượng cám gạo Các yếu tố mật độ thả và môi trường cũng như điều kiện nuôi dưỡng được duy trì như ở thí nghiệm 1
3.2.3 Một số chỉ tiêu khảo sát
3.2.3.1 Phương pháp xác định mật độ
Moina có kích thước tương đối lớn có thể quan sát bằng mắt thường được nên chúng tôi tiến hành đếm mẫu bằng mắt thường
Trang 2617
Sau khi thay nước tiến hành thu 100 ml nước bằng cốc đong Trước khi thu tiến hành khuấy đảo đều nước trong bể nuôi rồi thu mẫu, thu 3 mẫu tại các vị trí khác nhau trong bể, mẫu được thu từ tầng đáy thu thẳng lên Để mẫu thu được vào các chén sứ
đã được chuẩn bị và đánh dấu riêng
Tiến hành đếm: dùng pipet nhựa 3 ml hút khoảng 2 ml Moina và nhỏ từng giọt
vào thìa nhỏ có độ rộng lớn (thìa có thể tích 5 ml) đếm và ghi lại số liệu liên tục trong quá trình đếm Tiến hành đếm hết 100 ml mẫu đã thu Những ngày nuôi đầu, mật độ còn thấp (< 10.000 con/L), chúng tôi tiến hành đếm hết 100 ml mẫu, xác định mật độ trong 100 ml từ đó tính mật độ của 1 lít Khi mật độ lên rất cao (> 10.000 con/L) chúng tôi tiến hành thu 50 ml mẫu để đếm
Số lượng Moina và tỷ lệ Moina có kích thước < 0,45 mm thu được là kết quả
tính trung bình của 3 đợt đếm
3.2.3.2 Phương pháp xác định kích thước Moina
Do điều kiện không có trắc vi thị kính nên chúng tôi ước lượng kích thước
kiểm tra kích thước
3.2.4 Phương pháp xử lý thống kê
Sử dụng phần mềm Excel 2003 để phân tích dữ liệu của các thí nghiệm
Trang 2718
Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Ảnh Hưởng Của Cám Gạo Và Men Bánh Mì Lên Mật Độ Và Kích Thước
Của Moina
Theo nghiên cứu của Phượng (2008), vai trò của cám gạo trong việc tạo ra quần
đàn Moina có kích thước nhỏ Để kiểm tra lại điều này trong thực tế, chúng tôi đã tiến hành nuôi Moina bằng cám gạo và men bánh mì ở thể tích nuôi lớn hơn
Chúng tôi tiến hành thí nghiệm với hai nghiệm thức: NT I (0,3 g cám gạo/lít), NT
II (0,3 g men bánh mì tươi/lít) với mật độ thả 8 con/L trong điều kiện sục khí mạnh và
có mái che bể Tiến hành theo dõi 2 chỉ tiêu là mật độ, kích thước Moina và thu được
Trang 2819
4.1.1 Ảnh hưởng của cám gạo và men bánh mì lên mật độ Moina
Bảng 4.2 Sự biến động mật độ Moina (con/L) theo lượng cám gạo và men bánh mì
(trung bình ± SE) trong thời gian nuôi
Ghi chú: các giá trị theo hàng ngang có kí tự giống nhau là không khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05)
Biểu đồ 4.1 Sự biến động mật độ Moina theo cám
gạo và men bánh mì
05.00010.00015.00020.00025.000
Qua bảng 4.1 và đồ thị 4.1 ta thấy, mật độ Moina đạt cao nhất ở nghiệm thức sử
dụng cám gạo làm thức ăn (NT I) là 19.770 con/L ở ngày thứ 11, còn nghiệm thức sử dụng men bánh mì (NT II) làm thức ăn chỉ đạt 10.810 con/L ở ngày thứ 10
Trang 2920
Mật độ Moina trong những ngày đầu ở các nghiệm thức thấp và chưa có sự khác
biệt về mặt thống kê (p > 0,05) Mật độ thả ban đầu thấp (8 con/L), quần đàn mất thời gian để thích nghi với môi trường sống nên ngày thứ 2 mật độ hầu như không tăng Tới ngày thứ 7 xuất hiện nhiều quần đàn Moina trong bể, và tăng vọt ở các ngày kế tiếp, có
sự khác biệt về mặt thống kê (p < 0,05) về mật độ giữa các nghiệm thức Điều này phù hợp với điều kiện nuôi: giai đoại đầu mật độ quần thể còn thấp, nguồn thức ăn phong phú vì vậy việc tập chung năng lượng cho quá trình sinh sản của quần thể cao Những
ngày nuôi đầu, Moina ở NT II sử dụng men bánh mì có sự tăng sinh khối cao hơn NT I, tới ngày thứ 10 thì mật độ Moina ở NT I có sự tăng vọt và đạt cao nhất vào ngày thứ 11
Ở đợt thí nghiệm này, thời tiết thường nắng vào ban ngày và mưa về chiều tối nên nhiệt dao động từ 25o
C - 29oC trong ngày, vẫn nằm trong khoảng thích hợp cho sự
phát triển của Moina (Rottmann và ctv, 2003) pH của nước từ 7 – 8 và oxy luôn được
đảm bảo nhờ hệ thống sục khí và thay nước định kỳ hàng ngày 30% Chúng tôi nhận thấy nước ở NT I có màu đục hơn NT II và nước ở NT II bắt đầu có mùi hôi khó chịu
ở ngày nuôi thứ 8 Do đặc tính của thức ăn: cám gạo có màu trắng đục do chứa nhiều tinh bột và quá trình phân hủy trong nước của chúng chậm, vì vậy làm cho nước có màu trắng đục; men bánh mì màu hơi vàng và chứa tới hơn 40% proterin Hệ thống
sục khí chỉ đảo đều Moina trong bể vì thế chúng tôi đã tiến hành khuấy đảo nền đáy
thường xuyên để tăng hiệu quả sử dụng thức ăn của chúng
Hình 4.1 Màu nước ở hai nghiệm thức
Trang 3021
Theo quan sát được của chúng tôi, mật độ Moina tăng cao thì lượng thức ăn được
chúng tiêu thụ cũng tăng cao Điều này được kiểm định thông qua lượng thức ăn dư thừa hàng ngày mà chúng tôi tiến hành xiphon ra ngày càng ít Khi kiểm tra sức khỏe
và mật độ Moina ở ngày thứ 10 chúng tôi nhận thấy ruột Moina không đầy thức ăn,
đồng thời nước có độ đục rất cao: do thời gian nuôi kéo dài chất thải từ các hoạt động
sống của Moina và cá hạt thức ăn chưa kịp được Moina tiêu thụ tạo thành những hạt lơ
lửng trong nước, chính những hạt lơ lửng này cản trở việc di chuyển cũng như khả năng bắt mồi và đặc biệt là quá trình lột xác của chúng Kết quả là quần đàn suy tàn nhanh chóng vào những ngày kế tiếp
Như vậy, cám gạo cho mật độ Moina rất cao 19.770 con/L ở ngày thứ 11 khi cho
ăn 0,3 g cám gạo/lít/ngày; men bánh mì cho mật độ Moina là 10.810 con/L ở ngày thứ
10 khi cho ăn 0,3 g men bánh mì/lít/ngày
4.1.2 Ảnh hưởng của cám gạo và men bánh mì lên kích thước Moina
Qua theo dõi quá trình phát triển của Moina, chúng tôi nhận thấy kích thước ở
giai đoạn mới nở của chúng là 0,37 mm - 0,45 mm chỉ lớn hơn rất ít so với kích thước trung bình của luân trùng trưởng thành 0,4 mm Điều này có ý nghĩ rất lớn trong công
tác sản xuất giống nếu chúng ta có được tỷ lệ Moina kích thước < 0,45 mm cao trong quần đàn Moina nuôi Việc phân cỡ Moina là rất khó vì thế chúng tôi chỉ chia ra 2 nhóm kích thước của Moina để theo dõi là nhỏ hơn 0,45 mm và lớn hơn 0,45 mm.
Hình 4.2 Moina mới nở (< 0,45 mm) và Moina mẹ ( × 100)