1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC GIÁ KHÁC NHAU CỦA HAI SẢN PHẨM TÔM SÚ, CÁ RÔ PHI TRONG GIAI ĐOẠN 2007 2010

83 235 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, trong cơ cấu 5 loại sản phẩm thủy sản chủ yếu xuất khẩu từ Việt Nam vào thị trường Mỹ, thị phần tôm là cao nhất và phần lớn bị ảnh hưởng ở mức độ trung bình khi có sự thay đổi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC GIÁ KHÁC NHAU

CỦA HAI SẢN PHẨM TÔM SÚ, CÁ RÔ PHI

TRONG GIAI ĐOẠN 2007 - 2010

Họ và tên sinh viên: HUỲNH VĂN DƯ Ngành: CHẾ BIẾN THỦY SẢN

Niên khóa: 2007 – 2011

Tháng 7/2011

Trang 2

i

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC GIÁ KHÁC NHAU

CỦA HAI SẢN PHẨM TÔM SÚ, CÁ RÔ PHI

TRONG GIAI ĐOẠN 2007 - 2010

Tác giả HUỲNH VĂN DƯ

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu

cấp bằng Kỹ sư ngành Chế Biến Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn

TS NGUYỄN MINH ĐỨC

Tháng 7 năm 2011

Trang 3

ii

LỜI CẢM TẠ

Trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của quý thầy cô, cha mẹ, người thân, bạn bè và từ các cơ quan tổ chức

Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cha mẹ, cha mẹ là nguồn động viên, là điểm tựa vững chắc đã hỗ trợ và tạo cho tôi nghị lực để vượt qua khó khăn và hoàn thành nhiệm vụ trong suốt quá trình học tập

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Minh Đức đã dành nhiều thời gian hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong giai đoạn học tại trường và đặc biệt là trong quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Phòng Đào Tạo, khoa Thủy Sản, Phòng Công Tác Sinh Viên, Văn Phòng Đoàn Trường – Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM đã tận tình giúp đỡ và truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian theo học tại trường

Xin chân thành cảm ơn các cô, chú, anh, chị làm việc trong Sở NN &PTNT tỉnh Bến Tre, Sở NN&PTNT tỉnh Đồng Tháp, văn phòng Hiệp Hội Chế Biến Và Xuất Khẩu Thủy Sản Việt Nam, BQL chợ Bình Điền TP.HCM đã nhiệt tình giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Dù rất cố gắng nhưng do hạn chế về mặt thời gian cũng như về mặt kiến thức nên luận văn khó tránh khỏi thiếu sót Tôi xin đón nhận những ý kiến đóng góp của quý thầy cô

và các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

iii

TÓM TẮT

Đề tài “phân tích mối quan hệ giữa các giá khác nhau của hai sản phẩm tôm sú và

cá rô phi trong giai đoạn 2007 – 2011” đã được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 6 năm

2011 với nguồn số liệu chính được thu thập từ văn phòng Hiệp Hội Chế Biến Và Xuất

Khẩu Thủy Sản Việt Nam, Sở NN &PTNT tỉnh Bến Tre, Sở NN&PTNT tỉnh Đồng

Tháp và BQL chợ Bình Điền TP.HCM

Trước tiên, chúng tôi đã tập trung vào tìm hiểu sự thay đổi các loại giá của tôm sú

và cá rô phi qua các năm 2007 - 2010 Sau đó, đề tài sử dụng mô hình hồi quy đa biến với mục đích chủ yếu để phân tích sự tương tác giữa các giá của hai mặt hàng tôm sú

và cá rô phi dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 – 2009 Bên cạnh đó, đề tài còn tìm hiểu sự ảnh hưởng của giá cả các loại sản phẩm thủy sản khác lên thị phần của hai loại sản phẩm tôm và cá rô phi trên thị trường Mỹ trong giai đoạn 2007 - 2010

Kết quả quá trình thực hiện khóa luận có thể tóm tắt như sau:

Phần lớn các giá tôm sú và cá rô phi có tương tác với nhau theo chiều hướng tỷ lệ thuận Trong đó, mức độ tương tác giữa các giá tôm sú chỉ ở mức trung bình, ngược lại mức độ tương tác giữa các giá cá rô phi thì khá cao Ngoài ra, trong cơ cấu 5 loại sản phẩm thủy sản chủ yếu xuất khẩu từ Việt Nam vào thị trường Mỹ, thị phần tôm là cao nhất và phần lớn bị ảnh hưởng ở mức độ trung bình khi có sự thay đổi giá của 5 loại sản phẩm đang khảo sát hay mức chi tiêu chung của người tiêu dùng Mỹ Ngược lại,

cá rô phi chiếm một thị phần rất thấp nên giá của 5 loại sản phẩm đang khảo sát và mức chi tiêu chung của người tiêu dùng Mỹ không làm ảnh hưởng đến thị phần của sản phẩm này

Trang 5

iv

MỤC LỤC

TRANG

Trang tựa i

Lời cảm tạ ii

Tóm tắt iii

Mục lục iv

Danh sách bảng viết tắt và ký hiệu vi

Danh sách các bảng viii

Danh sách các biểu đồ, sơ đồ và hình ix

C HƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Một số khái niệm cơ bản 3

2.1.1 Khái niệm giá cả: 3

2.1.2 Khái niệm thị trường 4

2.1.3 Các hình thức xuất khẩu 6

2.2 Tổng quan về ngành thủy sản 6

2.2.1 Tình hình thủy sản thế giới 6

2.2.2 Tình hình thủy sản Việt Nam 10

2.3 Tổng quan về ngành sản xuất tôm sú và cá rô phi 16

2.3.1 Ngành sản xuất tôm sú 16

2.3.2 Ngành sản xuất cá rô phi 18

2.4 Giới thiệu về thị trường thủy sản VN 19

2.4.1 Thị trường thủy sản nội địa 19

2.4.2 Thị trường thủy sản xuất khẩu 20

2.5 Sự tác động của cung cầu đến giá cả sản phẩm thủy sản 28

CHƯƠNG 3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 Cơ sở lý luận 31

3.1.1 Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản 32

3.2 Phương pháp nghiên cứu 32

Trang 6

v

3.2.1 Mô tả số liệu 32

3.2.2 Phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính 32

3.3 Thời gian và phương pháp nghiên cứu 33

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Sự thay đổi giá của tôm sú, cá rô phi trên các thị trường từ năm 2007 đến năm 2010 35 4.2 Sự tương tác giữa các giá trên các thị trường khác nhau và tác dụng của cuộc khủng hoảng năm 2008 - 2009 đối với từng mặt hàng tôm sú, cá rô phi 38

4.3 Thị phần tôm, cá rô phi trong cơ cấu 5 loại sản phẩm thủy sản chính nhập khẩu từ Việt Nam 45

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47

5.1 Kết kuận 48

5.2 Đề nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

PHỤ LỤC 53

Trang 7

(Tổ chức Thương Mại Thế Giới) FAO Food anh Agriculture Organization

(Tổ chức Lương Nông Thế Giới) VASEP Vietnam Association of Seafood Exporters and Producers

(Hiệp Hội Chế Biến VÀ Xuất Khẩu Việt Nam)

ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm

NN & PTNT Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn

Trang 9

viii

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Cơ cấu doanh nghiệp thủy sản VN năm 2009 13 Bảng 2.2: Xuất khẩu thủy sản VN sang các thị trường EU năm 2010 21 Bảng 4.1: Bảng phân tích mối quan hệ giữa các giá tôm sú và tác dụng của cuộc khủng hoảng 39 Bảng 4.2: Bảng phân tích mối quan hệ giữa các giá cá rô phi và tác dụng của cuộc khủng hoảng 42 Bảng 4.3: Bảng phân tích mối quan hệ giữa chi tiêu của người tiêu dùng Mỹ đối với 2 sản phẩm tôm sú và cá rô phi VN với các sản phẩm thủy sản khác và tác dụng của cuộc khủng hoảng 46

Trang 10

ix

DANH SÁCH CÁC B IỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH

Bản đồ 2.1: Mức tiêu thụ thủy sản bình quân trên đầu người năm 2006 8

Biểu đồ 2.1: Sản lượng thủy sản thế giới qua các năm 2000 - 2010 7

Biểu đồ 2.2: Sản lượng thủy sản Việt Nam năm 2000 - 2010 11

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu nguồn cung nguyên liệu theo khu vực ở Việt Nam năm 2008 12

Biểu đồ 2.4: Quy mô xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm 2007 - 2010 14

Biểu đồ 2.5: Xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm 2000 - 2010 14

Biểu đồ 2.6: Cơ cấu thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam năm 2010 15

Biểu đồ 2.7: Cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất khẩu tháng1/1 đến 15/12/2010 16

Biểu đồ 2.8: Sản lượng và diện tích nuôi tôm năm 2000 - 2010 16

Biểu đồ 2.9: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu tôm VN giai đoạn 2000 - 2010 17

Biểu đồ 2.10: Cơ cấu xuất khẩu tôm Việt Nam từ ngày 1/1 đến 15/122010 17

Biểu đồ 2.11: Cơ cấu nhập khẩu cá rô phi của Mỹ.2007 - 2010 18

Biểu đồ 2.12: Xuất khẩu cá rô phi VN vào thị trường Mỹ giai đoạn 2007 - 2010 19

Biểu đồ 2.13 : Tình hình tiêu thụ sản phẩm thủy sản ở VN 19

Biểu đồ 2.14: Tình hình nhập khẩu thủy sản VN vào EU 21

Biểu đồ 2.15: Xuất khẩu thủy sản VN sang Mỹ giai đoạn 2000-2010 24

Biểu đồ 2.16: Xuất khẩu thủy sản VN sang Nhật giai đoạn 2000 – 2010 25

Biểu đồ 4.1: Giá tôm sú VN theo tháng từ năm 2007 đến năm 2010 35

Biểu đồ 4.2: Giá cá rô phi VN theo tháng từ năm 2007 – 2010 37

Hình 2.1: Sự dịch chuyển của đường cầu 28

Hình 2.2: Sự dịch chuyển của đường cung 29

Hình 2.3: Sự hình thành giá cân bằng trên thị trường 29

Sơ đồ 2.1: Mối quan hệ giữa các nhóm chủ thể thị trường thủy sản 5

Sơ đồ 3.1: Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản 32

Trang 11

tế Việt Nam Ngoài ra, ngành sản xuất cá nước ngọt trong 10 năm trở lại đây cũng tăng trưởng đáng kể và đã đóng góp không nhỏ cho ngành thủy sản nước ta Trong nhóm ngành này, cá tra luôn giữ ở vị trí số 1 nhưng bên cạnh đó ngành sản xuất cá

rô phi cũng có rất nhiều tiềm năng Cá rô phi là một trong những loài thủy sản nuôi

có sản lượng tăng trưởng nhanh nhất thế giới (từ 1,58 triệu tấn năm 2003 lên 3,2 triệu tấn vào năm 2010) và với nhu cầu ngày càng được gia tăng, đặc biệt là trên thị trường Mỹ, Mexico và EU Vì vậy, việc làm thế nào để phát triển đối với hai đối tượng này luôn là vấn đề ưu tiên được đặt ra cho ngành thủy sản Việt Nam trong giai đoạn hiện tại và tương lai

Trong lĩnh vực kinh tế, bất kỳ một loại hàng hóa nào thì giá cả luôn là một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển của hàng hóa đó trên thị trường cả

về mặt sản lượng lẫn giá trị Hơn thế nữa, cùng với sản lượng tiêu thụ, giá cả hàng hóa còn nói lên nhu cầu của xã hội đối với từng loại hàng hóa đó Thế nhưng để giá

cả hàng hóa được hình thành trên thị trường thì không đơn thuần là dựa vào các yếu tố đầu vào, chi phí sản xuất ra một đơn vị sản phẩm mà còn phải dựa vào yếu

Trang 12

2

tố cung cầu đối với từng loại sản phẩm đó trên từng thị trường cụ thể Ngoài mối quan hệ giữa chi phí sản xuất, yếu tố cung cầu đến giá cả hàng hóa đã lần lượt được xác định một cách rõ ràng qua quy luật giá trị và quy luật cung cầu thì giá cả của từng hàng hóa ở giữa các thị trường còn có thể tác động trực tiếp với nhau

Vì vậy, sau khi được sự đồng ý của khoa Thủy Sản trường ĐH Nông Lâm TP.HCM và dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Minh Đức, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC GIÁ KHÁC NHAU CỦA HAI SẢN PHẨM TỐM SÚ VÀ CÁ RÔ PHI TRONG GIAI ĐOẠN

2007 - 2010”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu sự thay đổi các giá của 2 mặt hàng thủy sản tôm sú, cá rô phi ở tại trại nuôi, thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu trong 4 năm từ 2007 đến 2010

- Tìm hiểu sự tương tác giữa giá tại trại nuôi, giá ở thị trường nội đia và giá ở thị trường xuất khẩu đối với hai đối tượng tôm sú, cá rô phi

- Xác định thị phần và các yếu tố ảnh hưởng đến thị phần của 2 sản phẩm tôm và

cá rô phi trên thị trường Mỹ trong cơ cấu 5 sản phẩm thủy sản nhập khẩu chủ yếu

từ Việt Nam

Trang 13

3

Chương 2

2.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1 Khái niệm giá cả:

Nhìn từ nhiều góc độ khác nhau thì có rất nhiều quan điểm khác nhau về giá

- Theo học thuyết giá trị của chủ nghĩa Mác – LêNin, thì giá là biểu hiện bằng tiền

của giá trị hàng hoá, đồng thời biểu hiện nhiều mối quan hệ lớn trong nền kinh tế

- Theo quan niệm của người mua thì giá cả là số lượng tiền mà họ phải trả để nhận được một số lượng hàng hoá hay dịch vụ nhất định để có thể sử dụng hay chiếm hữu hàng hoá hay dịch vụ đó (Nguyễn Minh Đức, 2009)

- Theo quan điểm của người bán thì giá cả là phần thu nhập hay doanh thu mà họ

nhận được khi tiêu thụ một đơn vị hay số lượng sản phẩm nhất định (Nguyễn Minh Đức, 2009)

Dựa vào chuỗi giá trị hàng hóa ta có giá bán buôn và giá bán lẻ (Lê xuân Sinh, 2010)

- Giá bán buôn: là mức giá quy định cho mỗi đơn vị hàng hóa dựa trên số lượng lớn hàng hóa được trao đổi, buôn bán giữa người bán và người mua Nhóm người tham gia

là các nhà kinh doanh nhỏ, các đại lý, các nhà phân phối

- Giá bán lẻ: là mức giá quy định cho mỗi đơn vị hàng hóa thông qua việc buôn bán

trực tiếp giữa người bán và người tiêu dùng với số lượng ít Loại giá này được thể hiện tiêu biểu ở các siêu thị, các cửa hàng, các chợ Qua đó sản phẩm được trao đổi trực tiếp giữa người bán và người mua không thông qua bất cứ một hợp đồng kinh tế nào

* Tầm quan trọng của giá

- Giá là một yếu tố cơ bản và là một trong bốn biến số quan trọng của mixf (sản phẩm, giá, phân phối, hổ trợ bán hàng) mang lại thu nhập trong khi tất cả các yếu tố khác chỉ sinh ra đầu tư và chi phí

Trang 14

marketing-4

- Biến số giá sẽ gây ra những phản ứng tức thì hơn những biến số khác của marketing-mix đối với người tiêu dùng cũng như đối với đối thủ cạnh tranh

- Đối với người tiêu dùng, giá cả có tác dụng mạnh mẽ đến chi tiêu do đó nó thường

là tiêu chuẩn quan trọng của việc mua và lựa chọn đối với họ

- Đối với nhà doanh nghiệp, giá cả là yếu tố quyết định về mức độ lẫn khả năng bù đắp chi phí sản xuất và có thể đạt đến mức độ lợi nhuận nhất định Giá cả là căn cứ quan trọng để giúp cho doanh nghiệp có phương án kinh doanh và là một tái hiện quan

trọng giúp cho doanh nghiệp nhận biết và đánh giá các cơ hội kinh doanh

2.1.2 Khái niệm thị trường

Thị trường là nơi mà người mua, người bán tác động qua lại với nhau để xác định giá cả và sản lượng hàng hóa mua bán Như vậy thị trường là tổng thể các quan hệ về lưu thông hàng hóa, lưu thông tiền tệ và các giao dịch mua bán hàng hóa dịch vụ Trên thị trường, giá bán của sản phẩm hàng hóa sẽ được thiết lập trên sự cân bằng giữa cung

và cầu (Nguyễn Minh Đức, 2009)

Dựa vào phạm vi lưu thông của sản phẩm hàng hóa và tiền tệ, ta có thể phân thị trường gồm: thị trường ngoài nước và thị trường trong nước

* Thị trường ngoài nước (thị trường xuất khẩu)

Là phạm vi, khu vực diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa trên mức

độ giữa các quốc gia với nhau Đặc trưng cơ bản cho thị trường này là thông qua hoạt động ngoại thương với các đặc điểm sau:

- Số lượng hàng hóa cho xuất khẩu sang các quốc gia không phải tùy thuộc vào ý muốn của con người mà phụ thuộc nhiều vào các yếu tố đầu vào để tạo ra hàng hóa như nguyên liệu, chi phí, điều kiện tự nhiên, xã hội và chính sách của nhà nước

- Việc tạo ra hàng hóa xuất khẩu trực tiếp ảnh hưởng đến vấn đề tạo ra công ăn việc làm cho người dân, mang lại nguồn thu nhập lớn cho quốc gia Do đó chính phủ các nước thường có chính sách tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thương mại hàng hóa

- Thương mại hàng hóa không chỉ tuân thủ các quy định trong nước mà còn phải tuân thủ các quy định khác nhau từ các quốc gia khác nhau, vì vậy để gia tăng quy mô kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thì việc sản xuất phải đảm bảo được chất lượng của hàng hóa phù hợp với yêu cầu của từng quốc gia

Trang 15

5

- Xuất khẩu hàng hóa không chỉ phụ thuộc vào các sản phẩm có trong nước, những lợi thế về điều kiện sản xuất mà còn phụ thuộc nhiều vào nhu cầu về hàng hóa của nước ngoài

- Ngoài rào cản thuế quan thì thương mại hàng hóa còn chịu ảnh hưởng nhiều của các biện pháp phi thuế quan, các biện pháp liên quan đến chất lượng của hàng hóa

* Thị trường trong nước (thị trường nội địa)

Là phạm vi, khu vực diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa trên mức độ ở từng quốc gia Hàng hóa, tiền tệ trao đổi giữa người mua và người bán sẽ được lưu thông nội bộ trong từng quốc gia đó

Thị trường thủy sản bao gồm những nhóm chủ thể kinh tế có chức năng nhất định trong mối quan hệ với nhau thông qua sơ đồ:

Sơ đồ 2.1: Mối quan hệ giữa các nhóm chủ thể trên thị trường thủy sản (Nguồn: Lê

- Người chế biến

Những người thực hiện công việc mua, gom sản phẩm thủy sản sơ chế từ những người bán buôn, sau đó đem chế biến sản phẩm thủy sản này thành những sản phẩm có tính công nghiệp phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của con người

Trang 16

6

- Người bán lẻ: Là những người có nhiệm vụ cung cấp hàng tiêu dùng thủy sản từ những đơn vị chế biến hoặc các đại lý tới tay người tiêu dùng cuối cùng

- Người tiêu dùng:

Người tiêu dùng là tất cả các thành viên trong xã hội có nhu cầu tiêu dùng sản

phẩm thuỷ sản Họ có trách nhiệm thanh toán tất cả các chi phí từ khi khai thác, chế

biến, lưu thông hay nói khác đi là từ khâu sản xuất tới lúc tiêu dùng

2.1.3 Các hình thức xuất khẩu

* Xuất khẩu trực tiếp

Là một hình thức xuất khẩu mà trong đó các nhà sản xuất, các công ty trực tiếp ký kết hợp đồng bán hàng cung cấp dịch vụ cho các công ty cá nhân nước ngoài Với hình thức này, các công ty trực tiếp liên hệ với khách hàng và bạn hàng, thực hiện việc bán hàng hoá ra nước ngoài không qua bất kì một tổ chức trung gian nào Để thực hiện hoạt động xuất khẩu trực tiếp, công ty phải đảm bảo một số điều kiện như: có khối lượng hàng hoá lớn, có thị trường ổn định, có năng lực thực hiện xuất khẩu…

* Xuất khẩu gián tiếp:

Là hoạt động bán hàng hoá và dịch vụ ra nước ngoài thông qua trung gian (thông qua người thứ ba), các trung gian mua bán không chiếm hữu hàng hoá của công ty mà trợ giúp công ty xuất khẩu hàng hoá sang thị trường nước ngoài

Các trung gian xuất khẩu như: đại lý, công ty quản lý xuất nhập khẩu và công ty kinh doanh xuất nhập khẩu

sự cải tiến kỹ thuật cho phép gia tăng năng suất nuôi trồng Năm 2010, mảng nuôi trồng thủy sản đóng góp 38,9% tổng sản lượng, tăng đều từ mức 26% năm 2000

Trang 17

7

Biểu đồ 2.1: Sản lượng thủy sản thế giới giai đoạn 2000 - 2010 (Nguồn: FAO, 2010)

* Nhu cầu tiêu thụ và các yếu tố ảnh hưởng

Theo số liệu thống kê của FAO cho thấy, sản lượng thủy sản thế giới có sự gia tăng đáng kể từ 126 triệu tấn vào năm 2000 lên 147 triệu tấn vào năm 2010 mà phần lớn là xuất phát từ hoạt động nuôi trồng thủy sản Trong đó, khu vực Châu Á chiếm ưu thế, cung cấp trên 60% sản lượng thủy sản hàng năm

Trong những năm vừa qua, mức tiêu thụ thủy sản theo đầu người liên tục tăng từ

11,5 kg vào năm 1970 lên 14,4 kg những năm 1990; 16,7 kg năm 2006 và theo dự báo của FAO vào năm 2011 lượng tiêu thụ thuỷ sản cho mỗi người ước tính là 17,4 kg/người Trong đó, lượng tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản từ hoạt động khai thác là 8,8 kg/người, thuỷ sản từ hoạt động nuôi trồng là 8,6 kg/người Ngoài ra, mức độ ATVSTP của sản phẩm thủy sản cao hơn các loại thịt khác, trong khi dịch bệnh gia súc, gia cầm có chiều hướng gia tăng ở châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á càng làm cho nhu cầu thủy sản trên thế giới gia tăng mạnh Tăng trưởng tiêu dùng thủy sản không những diễn ra mạnh mẽ ở các nước phát triển, mà còn ở các nước đang phát triển Cùng với xu hướng tiêu thụ này thì việc trao đổi, XNK thủy sản giữa các quốc gia được đẩy mạnh và Việt Nam cũng nằm trong xu thế này

Theo bản đồ nghiên cứu của tổ chức Lương Nông thế giới (FAO) năm 2007 cho thấy, hầu hết các nước Bắc Âu, Châu Đại Dương và một số nước ven biển ở Châu Âu

có mức tiêu thụ thủy sản trên đầu người cao nhất (>20 kg/người/năm) Nga và một vài nước ven biển ở Châu Phi có mức tiêu thụ khá cao (10 đến 20 kg/người/năm) Trong

Trang 18

Một nghiên cứu khác của FAO vào năm 2007 cho biết, mức tiêu dùng thủy hải sản

ở các quốc gia rất khác nhau và không có mối liên hệ chặt chẽ với mức sống và khả năng chi trả của người dân Một số quốc gia có thu nhập trung bình lại có mức tiêu thụ thủy sản/người/năm tương đối cao như Malaysia (55,4 kg), Tonga (53,1 kg)… trong khi đó, dân cư các khu vực có mức sống cao như EU, Mỹ thì tiêu dùng thủy sản khá thấp Các nước như Iceland (90,5 kg), Nhật Bản (63,2 kg) lại nằm trong trường hợp mức sống và tiêu thụ đều tốt Vì vậy có thể thấy rằng, khả năng tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người phụ thuộc nhiều hơn vào các yếu tố như tập quán ẩm thực, vị trí địa lý

(gần biển) và thường ít có sự đột biến

Tiêu thụ thủy sản của các nước đang phát triển tăng với nhịp độ cao hơn là do sự gia tăng nhanh hơn về dân số và thu nhập Đối với các nước phát triển những yếu tố hạn chế nhịp độ tăng sản lượng chính là nhịp độ tăng dân số thấp hơn và mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người đã ở mức cao Do kết quả của việc cải cách hệ thống phân phối hàng thủy sản và do nhiều nguyên nhân khác, ở các nước sẽ có xu hướng tăng tiêu thụ sản phẩm thủy sản tại gia đình bên cạnh hệ thống dịch vụ ăn uống công cộng, các nhà hàng, khách sạn… Thị phần của kênh tiêu thụ gia đình sẽ tăng lên trong

tổng tiêu thụ thủy sản của một khu vực thị trường

Trang 19

9

* Một số sự kiện lớn ảnh hưởng đến ngành thủy sản thế giới

- Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới

Quá trình khủng hoảng tài chính thế giới bắt đầu diễn ra vào tháng 7/2007, xuất phát từ khủng hoảng nhà ở tại Mỹ (khi tổ chức tín dụng New Century Financial Corporation làm thủ tục xin phá sản) sau đó lan rộng sang EU, Nhật và cả thế giới Đến tháng 3/2009 nền kinh tế thế giới đã bắt đầu có dấu hiệu tăng trưởng trở lại đánh dấu thời kỳ thoát khỏi cuộc khủng hoảng (Lê Hồng Giang, 2010) Cuộc khủng hoảng tài chính này đã làm cho giá cả hàng hóa trên thị trường tăng cao, hậu quả là đã gây ảnh hưởng nặng nề đến hầu hết các ngành kinh tế ở các nước Cuộc khủng hoảng đã làm ảnh hưởng đến hầu hết các quốc gia tuy nhiên với các mức độ khác nhau Trong

đó, Mỹ, Nhật Bản là hai quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất kế đến là các quốc gia

EU, các quốc gia khác bị ảnh hưởng với mức độ tương đối thấp hơn

- Sự cố tràn dầu Vịnh Mexico

Theo số liệu của Chính phủ Mỹ, kể từ khi xảy ra sự cố nổ giàn khoan Deeperwater Horizon ngày 20/4/2010 cho tới khi giếng bị rò rỉ được đóng lại vào ngày 15/7, ước tính có khoảng 4,9 triệu thùng dầu đã tràn ra tạo thành vệt dầu loang rộng đe dọa nghiêm trọng môi trường và đời sống của người dân ven vịnh Mexico, đặc biệt đã gây thiệt hại lớn cho hoạt động đánh bắt tôm và hàu, hai loại thủy sản đánh bắt chính của

Mỹ tại vùng này và gây ra một thảm họa sinh thái nghiêm trọng cho khu vực rộng hơn 1.500 km2, ảnh hưởng tới việc kinh doanh của hàng loạt ngành kinh tế biển Đến tháng 6/2010, 32% diện tích các vùng nước đánh bắt tôm tại vùng vịnh Mexico đã bị cấm do các nhà chức trách lo ngại dầu lan làm ảnh hưởng đến chất lượng vệ sinh của tôm đánh bắt Lệnh cấm đã khiến cho nguồn cung tôm biển đánh bắt tại vùng vịnh giảm sút nghiêm trọng, đẩy giá tôm lên cao Đến đầu tháng 6/2010, giá tôm các loại từ vịnh Mexico đã tăng từ 40 – 45% so với thời điểm tháng 1 và khoảng 30% so với thời điểm

tháng 4, khi sự cố tràn dầu xảy ra (Nguồn: Vasep, 2010)

- Thảm họa động đất, sống thần ở Nhật Bản

Ngày 11/3/2011, thảm họa động đất, sóng thần diễn ra bất ngờ, đã tàn phá khu vực Đông Bắc Nhật Bản Cảng cá lâu đời của Nhật Bản là Hakodate, nằm tại mũi nam đảo Hokkaido đã bị phá hủy hoàn toàn Tại quận Miyagi, cảng cá Kessanuma – cảng cá thu

Trang 20

10

Thái Bình Dương lớn của Nhật Bản, bị thiệt hại nặng nề Hầu hết tàu cá, cơ sở chế biến thủy sản tại một loạt các Cảng (Hachinohe, Rikuzen-Takada, Kesennuma, Ofunato, Ishinomaki, Siogama, Shitigahama và Onahama) chưa thể hoạt động trở lại trong vòng nhiều tuần do thiếu nhân lực và thiết bị chế biến, cấp đông Hoạt động nuôi trồng tại Sanriku – khu vực cung cấp 20% nguồn cung thủy sản Nhật Bản, chuyên sản xuất cá hồi, sò và tảo biển, chịu thiệt hại rất nặng Hoạt động nuôi trồng và đánh bắt cá ngừ là phần ít chịu ảnh hưởng nhất trong ngành thủy sản Nhật Bản do khu vực sản

xuất chủ chốt đặt tại phía nam nước này (Nguồn: Vasep, 2011)

Ngoài ra, còn hàng loạt các sự kiện khác như: bùng phát các đợt dịch cúm trên gia súc, gia cầm, các trận động đất, lũ lụt … rãi rác ở nhiều nơi trên thế giới, đã thúc đẩy nhu

cầu của người tiêu dùng đối với mặt hàng thủy sản ngày càng tăng cao

2.2.2 Tình hình thủy sản Việt Nam

Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi, điều kiện tự nhiên ưu đãi với bờ biển dài 3260

km và hơn 3000 đảo và hòn đảo nằm rải rác ở ngoài khơi cộng với 2860 con sông và cửa sông đã tạo cơ hội lý tưởng cho sự phát triển đối với ngành thủy sản Tiềm năng lớn của thủy sản Việt Nam là với diện tích mặt nước khoảng 1.700.000 ha trong đó có

81170 ha diện tích nước ngọt, 635400 ha diện tích nước lợ, 125700 ha diện tích vùng vịnh và 300000 - 400000 ha vùng vực đất ngập nước có thể sử dụng để phát triển nuôi trồng thủy sản (Nguyễn Văn Trai, 2010)

Theo số liệu Tổng Cục Thống Kê Việt Nam năm 2010, dân số Việt Nam có thu nhập chính từ thủy sản chiếm 10% Lĩnh vực thủy sản và nuôi trồng thủy sản đã thu hút hàng triệu lao động Việt Nam và ngày càng gia tăng về số lượng Hơn thế nữa, ngành thủy sản Việt Nam đã giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, với tỷ lệ tăng trưởng trung bình 7,05 từ năm 1991 đến năm 2000 và 10,25% từ năm

2001 đến năm 2010 Trong năm 2010, sản xuất thủy sản đạt 5,2 triệu tấn đã mang lại hơn 5 triệu USD cho doanh thu xuất khẩu, đã trở thành hàng hóa xuất khẩu quan trọng của Việt Nam trên thị trường thế giới cùng với dầu thô, hàng dệt mai và dày da

* Nguồn cung nguyên liệu

Trong giai đoạn 1999 – 2009, sản lượng thủy sản Việt Nam gia tăng liên tục với tốc độ bình quân 9,5%/năm, trong đó sản lượng đánh bắt tăng 5%/năm và sản lượng

Trang 21

11

nuôi trồng tăng 18%/năm Từ năm 2008, tốc độ tăng trưởng có khuynh hướng chậm lại

do ảnh hưởng từ lĩnh vực nuôi trồng Năm 2010, tổng sản lượng thủy sản đạt 4,24 triệu tấn ~ tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2009, bao gồm 1,99 triệu tấn khai thác (tăng 4,6%) và 2,25 triệu tấn nuôi trồng (tăng 4,8%) Theo khuynh hướng chung của thế giới, hoạt động nuôi trồng ngày càng đóng góp nhiều vào nguồn cung nguyên liệu, ~ 53% tổng sản lượng từ năm 2008 Phần lớn sản phẩm thu hoạch là cá nguyên liệu (75%), tôm các loại (11%), còn lại là nhóm nhuyễn thể và giáp xác (Nguồn: Tổng Cục Thống Kê VN, 10M2010)

Biểu đồ 2.2: Sản lượng thủy sản Việt Nam năm 2000 - 2010 (Nguồn: Tổng Cục Thống

Kê VN, 2011)

- Nuôi trồng

Theo số liệu của Cục Thống Kê VN năm 2010, diện tích mặt nước đưa vào NTTS của

cả nước trong giai đoạn 2000 – 2009 đã tăng mạnh từ 641900 ha lên 1044700 ha, trong

đó có 339900 ha nước ngọt và 704800 ha nước mặn lợ đạt tốc độ tăng trưởng diện tích

5,7%/năm Từ năm 2005, NTTS đã hình thành nhiều vùng nuôi tập trung, tạo sản lượng hàng hóa lớn đáp ứng nhu cầu thị trường, tạo điều kiện quản lý tốt hơn về môi trường và dịch bệnh, phát huy thế mạnh của từng vùng sinh thái như vùng nuôi cá tra tập trung ở các tỉnh thuộc ĐBSCL, vùng nuôi tôm sú ở miền Trung và Tây Nam Bộ, vùng nuôi tôm chân trắng ở Bắc và Trung Bộ, vùng nuôi tôm sinh thái ở Cà Mau, vùng nuôi nghêu ở Bến Tre…

Tiến bộ về khoa học và công nghệ trong sản xuất giống đã liên tục đưa vào nuôi nhiều đối tượng mới, có giá trị và hiệu quả kinh tế cao với nhiều đối tượng nuôi chủ

Trang 22

12

lực và đã sản xuất được số lượng lớn giống đáp ứng nhu cầu nuôi đại trà trên quy mô công nghiệp và nông gia Đối tượng nuôi được mở rộng, nhiều loài nuôi mới phổ biến gồm tôm sú, tôm hùm, tôm càng xanh, cá tra, cá mú, cá rô phi, cá rô đầu vuông, cá bóng tượng, tôm chân trắng, cua biển, rong biển, cá giò, vem xanh, hàu…Tuy nhiên,

đối tượng chính để xuất khẩu vẫn tập trung vào tôm sú, cá tra

Năm 2010, sản lượng thủy sản của cả nước đạt 5,16 triệu tấn ~ 2.29 lần so với năm 2000, trong đó NTTS đạt 2,71 triệu tấn ~ 4,59 lần so với năm 2000 Tốc độ tăng trưởng trung bình về sản lượng NTTS trong những năm qua đạt 16,7%/ năm và về

diện tích trên 5,67/%/năm, trong đó, diện tích nuôi nước lợ trên 6,85%%/năm và diện tích nuôi nước ngọt 3,8%/năm Trong các đối tượng nuôi, tôm sú, cá tra là hai loài có giá trị kinh tế cao nhất, góp phần chính trong tổng doanh số XKTS của Việt Nam trong

những năm qua (Nguồn: Tổng Cục Thống Kê VN, 2010)

- Khai thác

Sản lượng khai thác hải sản tuy không tăng nhiều qua các năm, nhưng cơ cấu sản phẩm khai thác có sự thay đổi theo yêu cầu của thị trường nhất là cho xuất khẩu Ngư dân đã chuyển dần từ việc khai thác theo số lượng , khai thác ven bờ, hướng sang khai thác những đối tượng có giá trị xuất khẩu và khai thác xa bờ Bên cạnh đó, việc bảo quản sau thu hoạch cũng được quan tâm thêm một bước Nhiều nơi, ngư dân đã đầu tư tàu hậu cần dịch vụ cho tàu khai thác hải sản xa bờ bám biển dài ngày hơn, giảm chi

phí đi về, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành

- Cơ cấu nguồn cung cấp thủy sản

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu nguồn cung thủy sản nguyên liệu theo khu vực ở Việt Nam năm

2008 (Nguồn: Tổng Cục Thống Kê VN, 2009)

Trang 23

13

Với vị trị địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi và hơn nữa là mức độ quen thuộc, kinh nghiệm của người dân trong lĩnh vực thủy sản thì ĐBSCL, Bắc Trung Bộ & Duyên Hải Miền Trung và ĐBSH là những khu vực có tỷ trọng thủy sản lớn nhất cả

nước

* Lĩnh vực chế biến

Ngành công nghiệp chế biến thủy sản VN ngày một phát triển cả về công suất và công nghệ chế biến đã tạo được thế chủ động hơn về thị trường, nâng cao hiệu quả chế biến xuất khẩu thủy sản Các sản phẩm có giá trị gia tăng ngày càng được nâng cao với nhiều mẫu mã đẹp, đa dạng

Tuy nhiên, ở VN số nhà máy có khả năng chế biển sản phẩm GTGT xuất khẩu chiếm tỷ trọng không lớn, do yêu cầu đầu tư lớn về thiết bị, nhà xưởng, việc kiểm soát chất lượng sản phẩm nghiêm ngặt và phải có đội ngũ công nhân lành nghề Chỉ một số

ít doanh nghiệp có truyền thống sản xuất hàng chế biến sẵn và có bảo quản như Fimex, Seaprodex Minh Hải, Vietnam Fish – One, Kim Anh, Cafatex, SG Fiso … Hầu hết các nhà sản xuất thủy sản và nuôi trồng thủy sản có cơ sở riêng đặt gần cơ sở nuôi, cho phép họ nâng cao chất lượng sản phẩm và gia tăng giá trị

Bảng 2.1: Cơ cấu doanh nghiệp thủy sản năm 2009 (Nguồn: Bộ Công Thương VN,

Qua bảng 2.1 cho thấy, các doanh nghiệp thủy sản nước ta phần lớn vừa và nhỏ với giá trị xuất khẩu dưới 50 triệu USD Năm 2009, chỉ có 3 công ty: công ty cổ phần, tập đoàn thủy sản Minh Phú (MPC), công ty cổ phần Hùng Vương (HVG) và công ty cổ

Trang 24

cá tra, basa Năm 2010, xuất khẩu thủy sản đạt 1,35 triệu tấn ~ 5,03 tỷ USD , tăng 11,3% về lượng và 18,4% giá trị so với cùng kỳ năm 2009

Biểu đồ 2.5: Xuất khẩu thủy sản VN năm 2000 - 2010 (Nguồn: Vasep, 2011)

Trang 25

15

Trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, cá tra là mặt hàng tăng trọng nhanh nhất, từ một mặt hàng chưa có tên tuổi trên thị trường thế giới với khối lượng khiêm tốn 689 tấn, đạt 2,6 triệu USD (năm 2000) đến năm 2010 đạt 645000 tấn và 1,4

tỷ USD, tăng gấp hơn 900 lần về sản lượng và hơn 500 lần về giá trị

Trong các sản phẩm thủy sản xuất khẩu, tôm là mặt hàng đóng vai trò quan trọng nhất, luôn mang lại giá trị kim ngạch xuất khẩu cao hơn các mặt hàng khác Nhưng so với cá tra thì tốc độ tăng trưởng tôm thấp hơn mặc dù giá trị mang lại cao hơn do giá bán của mặt hàng tôm luôn cao hơn

Biểu đồ 2.6: Cơ cấu thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam năm 2010 (Nguồn:

Vasep, 2011)

Cơ cấu thị trường xuất khẩu thay đổi rõ nét kể từ năm 2000 đến nay, trước đây Mỹ

và Nhật là hai thị trường tiêu thụ thủy sản hàng đầu của Việt Nam, tiếp đó là thị trường

EU Sau đó do mức độ ảnh hưởng cuộc khủng hoảng tài chính thế giới trong đó Mỹ và

Nhật bị ảnh hưởng nặng nề nhất nên đã làm thay đổi vị trí tiêu thụ thủy sản Việt Nam

Trong cơ cấu nhập khẩu thủy sản Việt Nam hiện nay, thị trường EU đang dẫn đầu về tiêu thụ, tiếp theo là Mỹ, Nhật Bên cạnh đó, đã xuất hiện thêm các thị trường tiềm

năng mới có mức khá cao trong năm qua như Hàn Quốc, Trung Quốc

Tuy nhiên hiện nay, với thiên tai hằng năm đã gây ra nhiều tổn thất nghiêm trọng cho nghành thủy sản nước ta Tình trạng nguồn giống, thức ăn, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, sự tăng cao lãi suất ngân hàng cộng thêm sự đòi hỏi ngày càng khắc khe và các thủ đoạn cạnh tranh gay gắt trên thị trường đã gây ra cho ngành thủy sản nước ta rất nhiều vấn đề khó khăn Điển hình trong năm 2010, đầu năm là việc thực hiện quy định của EU về chứng nhận nguồn gốc sản phẩm khai thác, chống khai thác bất hợp pháp,

Trang 26

16

không báo cáo và không quản lý (IUU); đến giữa cuối năm, XK tôm sang thị trường Nhật Bản bị thách thức nghiêm trọng do có đến hơn 19 lô hàng thủy sản bị cảnh cáo nhiễm Chloramphenicol và có hơn 25 lô hàng thủy sản nhiễm Trifluralin và gần cuối năm, mặt hàng cá tra bị tổ chức WWF ở 6 nước EU đưa vào danh sách đỏ trong Cẩm Nang hướng dẫn tiêu dùng thủy sản năm 2010 - 2011 của họ (Nguồn: Vasep, 2011)

2.3 Tổng quan về ngành sản xuất tôm sú và cá rô phi

2.3.1 Ngành sản xuất tôm sú

Ngành sản xuất tôm sú ở Việt Nam đã xuất hiện từ rất sớm, với tốc độ tăng hàng

năm cao và đã giữ một vai trò quan trọng nhất trong cơ cấu của ngành thủy sản Việt

Nam, góp phần lớn làm gia tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc dân Trong cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất khẩu ngày 1/1 đến ngày 15/12/2010, tôm chỉ chiếm 18% theo sản lượng nhưng đã đóng góp 42% về giá trị

Biểu đồ 2.7: Cơ cấu xuất khẩu từ tháng1/1 đến 15/12/2010 (Nguồn: Vasep, 2011)

Biểu đồ 2.8: Sản lượng và diện tích nuôi tôm VN (Nguồn: Cục Thống Kê VN, 2011)

Trang 27

17

Từ năm 2000 đến 2010 ngành sản xuất tôm đã tăng gấp 5,02 lần về sản lượng với tốc độ tăng trưởng trung bình 18,7%/năm và 1,89 lần về diện tích với tốc độ tăng trưởng trung bình là 7,3%/năm Đặc biệt trong năm 2005 - 2006, dịch bệnh tôm bùng phát, nông dân thua lỗ nên hạn chế đầu tư cho nuôi tôm, dẫn đến diện tích nuôi tôm của cả nước giảm đáng kể Nhưng thay vào đó vụ nuôi năm 2006 lại đạt được năng suất cao nên làm cho sản lượng giảm không đáng kể

Từ nhiều năm nay, sản phẩm tôm của Việt Nam đã xuất khẩu ra thị trường thế giới với kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng lên Do đó, tôm là mặt hàng có vai trò đặc biệt quan trọng trong các mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, mang lại kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất khẩu của nước ta, trong

đó mặt hàng tôm đông lạnh đang chiếm tỷ trọng cao nhất Giá trị tôm xuất khẩu tăng đều hàng năm đạt mức độ tăng trưởng trung bình 135,3 triệu USD/năm

Biểu đồ 2.9: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu tôm VN (Nguồn: Vasep, 2011)

Biểu đồ 2.10: xuất khẩu tôm VN từ ngày 1/1 đến 15/122010 (Nguồn: Vasep, 2011)

Trang 28

18

Theo biểu đồ 3.9, 3.10 ta thấy: Xuất khẩu tôm cả nước năm 2010 đạt 241 nghìn tấn với kim ngạch đạt 2.08 tỷ USD, tăng lần lượt 15% về sản lượng và 24,2% về giá trị

so với năm 2009 Năm 2010, xuất khẩu tôm không những vẫn giữ được vị trí đầu bảng

mà còn gia tăng về tỷ trọng đạt 41,3% (so với 39,4% vào năm 2009) trong cơ cấu giá trị xuất khẩu của sản phẩm thủy sản Việt Nam Hiện nay, cả nước có 341 doanh nghiệp xuất khẩu tôm với 149 doanh nghiệp xuất khẩu tôm chân trắng và 163 doanh nghiệp xuất khẩu tôm sú, đến 92 thị trường trên thế giới trong đó Nhật, Mỹ là hai thị trường tiêu thụ chủ yếu sản (Nguồn: Vasep, 2011) Điều này càng khẳng định tầm

quan trọng của mặt hàng xuất khẩu tôm nước ta ở hiện tại cũng như trong tương lai 2.3.2 Ngành sản xuất cá rô phi

Cá rô phi hiện nay được nuôi trên 100 loài, các loài cá rô phi được nuôi phổ biến trên là cá rô phi vằn (O.niloticus), cá rô phi đen (O.mossamvipus) Châu Á là nơi nuôi nhiều cá rô phi nhất trên thế giới đã đóng góp hơn 75% sản lượng nuôi cá rô phi của thế giới, trong đó Trung Quốc là nước có sản lượng nuôi cá rô phi lớn nhất và được chủ yếu dùng để xuất khẩu Các nước Châu Á khác như Thái Lan, Philippine, Indonesia và Việt Nam là những nước có sản lượng nuôi cá rô phi khá cao nhưng phần lớn cá rô phi ở các nước này được dùng cho tiêu thụ nội địa và một ít dùng cho xuất khẩu Trong khi đó, Mỹ là thị trường nhập khẩu cá rô phi lớn nhất thế giới và không

ngừng gia tăng cho đến nay (Nguồn: FAO, 2010)

Biểu đồ 2.11: Cơ cấu nhập khẩu cá rô phi của Mỹ giai đoạn 2007–2010 (Nguồn:

NOAA FISHERIES, 2011)

Trang 29

19

Biểu đồ 2.12: Xuất khẩu cá rô phi VN vào thị trường Mỹ giai đoạn 2007 - 2010

(Nguồn: NOAA FISHERIES, 2011)

2.4 Giới thiệu về thị trường thủy sản VN

2.4.1 Thị trường thủy sản nội địa

Thị trường thủy sản nội địa Việt Nam là một thị trường đầy đa dạng và tiềm năng,

theo nghiên cứu của nhóm chuyên gia của FAO tiến hành tại Việt Nam từ cuối năm

2001 đã khẳng định thị trường trong nước cho sản phẩm thủy sản là rất lớn, cần được

Trang 30

20

* Thị trường miền trung

Do điều kiện địa lý tạo cho vùng một lợi thế lớn để phát triển thủy sản dẫn đến các thị trường thủy sản rất đa dạng Các chợ cá miền trung thường sôi động và mang nhiều nét riêng Bên cạnh những sản phẩm thủy sản nuôi trồng hoặc đánh bắt từ ngư dân trong vùng còn có các nguồn nguyên liệu được cung cấp cho thị trường nội địa từ các tàu thuyền ở các nơi khác Sản phẩm chủ yếu của thị trường miền trung phần lớn là từ thủy sản biển

* Thị trường miền nam

Đây là thị trường hết sức đa dạng và phong phú có thể nói là thị trường rộng và lớn nhất cả nước Người dân nơi đây có truyền thồng gần gủi với ngành nghề thủy sản nên nhu cầu thủy sản ở thị trường này là rất cao Sản phẩm thủy sản chủ yếu cho thị trường này là các loại cá, tôm nội đồng và hải sản biển

2.4.2 Thị trường thủy sản xuất khẩu

Lĩnh vực xuất khẩu sản phẩm thủy sản Việt Nam ngày càng thể hiện tính hiệu quả thông qua sự gia tăng mạnh mẽ về khối lượng và giá trị trên thị trường thế giới Cùng với đó là sự gia tăng nhanh chóng về số lượng thị trường nhập khẩu, từ 55 thị trường (năm 1998) cho đến nay đã lên đến hơn 162 quốc gia và vùng lãnh thổ nhập khẩu thủy sản Việt Nam Trong cơ cấu thị trường nhập khẩu, EU, Mỹ, Nhật luôn là khách hàng chính của thủy sản Việt Nam với tỷ trọng đóng góp rất ổn định trong cơ cấu xuất

khẩu qua các năm: EU ~ 27% - 30% sản lượng và 24% - 26% giá trị, Mỹ ~ 8% - 11%

sản lượng và 16% - 19% giá trị, Nhật ~ 10% - 12% về lượng và 18% giá trị

* Thị trường EU

Từ năm 2006, EU đã lần lượt vượt Mỹ và Nhật Bản trở thành nhà NK thủy sản lớn nhất của Việt Nam Từ thị phần NK chỉ chiếm 5,7 % tổng XK thủy sản của VN (năm 2003) đến nay thị phần của EU đã chiếm đến 23,5%, chứng tỏ EU đã có vị trí rất quan trọng trong việc giải quyết đầu ra cho thủy sản Việt Nam Mặc dù so với nhu cầu thủy sản của EU, giá trị cung cấp của Việt Nam còn rất hạn chế, chỉ chiếm khoảng gần 2,8% tổng giá trị nhập khẩu thủy sản của EU Tuy nhiên năm 2010 vừa qua đã là một năm thắng lợi của thủy sản Việt Nam trên thị trường EU, nhiều chỉ tiêu được cải thiện

sau một năm sụt giảm tương đối trước đó _ 2009

Trang 31

21

Biểu đồ 2.14: Tình hình xuất khẩu thủy sản VN vào EU (Nguồn: Vasep, 2010)

Bảng 2.2: Xuất khẩu thủy sản VN sang EU năm 2010 (Nguồn: Vasep, 2011)

Thị trường

Khối lượng (Nghìn Tấn)

Giá trị (Triệu USD) So với cùng kỳ 2009 (%)

Qua biểu đồ 2.14 và bảng 2.2 cho thấy, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu thủy sản vào

EU gia tăng mạnh mẽ đặc biệt là trong khoảng thời gian từ năm 2004 đến năm 2008 Sang năm 2009, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nên nhập khẩu thủy sản vào EU đã giảm cả về khối lượng và giá trị nhưng sau đó đã gia tăng mạnh

mẽ trở lại trong năm 2010 cũng như có nhiều khả quan trong năm 2011 Năm 2010,

Trang 32

Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang EU

Theo Hiệp Hội Thương Mại Và Chế Biến Thủy Sản Việt Nam thì hàng thủy sản

VN hiện đã xuất khẩu tới 27 quốc gia EU, gồm các mặt hàng sản phẩm chính: cá, tôm,

nhuyễn thể chân đầu

- Nhóm sản phẩm cá

Đây là nhóm sản phẩm chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào EU và cũng là mặt hàng có tốc độ phát triển cao nhất trên thị trường EU Nhóm sản phẩm này bao gồm các mặt hàng chính là cá ngừ tươi, cá tra, cá basa, cá rô phi, cá đông lạnh các loại Trong đó, sản phẩm cá tra được tiêu thụ đến

36% (511 triệu USD) trong tổng xuất khẩu cá tra VN năm 2010

- Nhóm sản phẩm tôm

Là nhóm sản phẩm quan trọng thứ 2 sau cá fillet trong cơ cấu xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào EU với chủ yếu là tôm đông lạnh Trong 3 năm gần đây, Việt Nam liên tục gia tăng xuất khẩu tôm sang EU với mức tăng trưởng khoảng 20%/năm Các nước NK nhiều nhất là Đức, Anh và Pháp Trong tháng 1/2011, EU tiếp tục thu hút khá mạnh đối với mặt hàng tôm của Việt Nam, đồng thời mức tăng về giá trị cao gần gấp 1,5 lần so với tốc độ tăng về khối lượng (93,5% về giá trị và 67,8% về khối lượng) chứng tỏ thị trường này đã nâng cấp nhu cầu (hàng chế biến GTGT và cỡ lớn hơn), trước đây chủ yếu là tôm cỡ nhỏ và trung Các thị trường Đức, Anh và Pháp phản ánh

rõ nhất xu hướng trên, vì vậy có thể thấy mặc dù giá cả thủy sản nói chung và giá tôm nói riêng đã nhích lên nhưng hầu như không gây tác động tiêu cực cho việc nhập khẩu mặt hàng này

Trang 33

23

- Nhóm sản phẩm nhuyễn thể chân đầu

Nhóm sản phẩm này được coi là tiêu thụ nhiều nhất ở thị trường EU Tuy nhiên, đến nay nhóm sản phẩm nhuyễn thể chân đầu cũng mới chỉ chiếm một tỷ lệ khoảng 5,24% lượng nhập khẩu của thị trường này, trong đó, Italia là nhà nhập khẩu đáng kể nhất các mặt hàng mực và bạch tuộc Đầu năm 2011, Italia tiếp tục NK rất mạnh mặt hàng này, tháng 1/2011 đạt tốc độ tăng trưởng đến 179% về giá trị và dự đoán thị trường Italia sẽ tiếp tục tiêu thụ tốt mặt hàng nhuyễn thể của Việt Nam trong thời gian

tới (Nguồn: Vasep, 2011)

Tuy nhiên, tình hình xuất khẩu sản phẩm thủy sản Việt Nam vào thị trường EU

hiện nay cũng gặp nhiều khó khăn, trước hết là quy định IUU về truy suất nguồn gốc

thủy sản khai thác có hiệu lực từ 1/1/2010 Ngoài ra, hiện tại nhiều tập đoàn bán lẻ lớn tại EU đã cam kết chỉ cung cấp các sản phẩm thủy sản đã đáp ứng tiêu chuẩn của

Hội đồng Quản Lý Biển (MSC) vào năm 2012 Vì vậy, để đảm bảo sản phẩm thủy sản của Việt Nam giữ vững vị thế của mình trên thị trường EU thì cần phải được định hướng theo mục tiêu phát triển nâng cao chất lượng ngay từ khu vực sản xuất nguyên liệu như là quản lý khai thác kết hợp bảo vệ nguồn lợi, quản lý chất lượng môi trường nuôi thủy sản theo các tiêu chuẩn quốc tế, nhất là đối với các sản phẩm XK chủ lực

của Việt Nam là tôm, cá tra và cá ngừ

* Thị trường Mỹ

Mỹ là một trong những thị trường nhập khẩu thủy sản hàng đầu của Việt Nam Năm 1997 thị trường Mỹ còn chiếm vị trí rất khiêm tốn trong danh sách thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam với tỷ trọng 5,1% (39 triệu USD) Đến năm 2002 Mỹ

đã vượt qua cả Nhật Bản và Trung Quốc lên vị trí đứng đầu chiếm 35,5% thị phần (666 triệu USD), nhờ sự tăng trưởng vượt bậc xuất khẩu các mặt hàng thủy sản chủ yếu là tôm, cá tra và cá biển Sau đó, Mỹ áp dụng thuế chống phá giá cho các sản phẩm tôm, cá tra và buộc các doanh nghiệp phải ký quỹ khi xuất khẩu vào thị trường này thì từ sau năm 2002, mặc dù giá trị tuyệt đối vẫn tăng nhưng tỷ trọng giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Mỹ giảm dần và đến năm 2008 chỉ còn chiếm 16,5 % tổng giá trị xuất khẩu thủy sản Nhưng trong hai năm gần đây xuất khẩu thủy sản sang thị trường Mỹ lại có dấu hiệu tăng trưởng mạnh trở lại và đã vượt qua Nhật trở thành

Trang 34

Các nhóm mặt hàng thủy sản chính của Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ là: Tôm, cá

thịt trắng như cá tra, cá rô phi… và nhóm cá biển gồm: cá ngừ, cá thu

- Sản phẩm Tôm

Năm 2010, trong các mặt hàng thủy sản ăn được của Việt Nam xuất khẩu vào Hoa

Kỳ, nhóm hàng tôm đông lạnh có kim ngạch cao nhất với kim ngạch xuất khẩu đạt 417 triệu USD, tăng 26,96% so với năm 2009, chiếm 12,36% tổng kim ngạch nhập khẩu

mặt hàng tôm đông lạnh của Hoa Kỳ

- Nhóm cá thịt trắng

Hiện nay, Mỹ là một trong những thị trường tiềm năng đối với sản phẩm cá tra

VN Năm 2010, sản lượng cá tra xuất sang Mỹ đạt gần 56 nghìn tấn, đạt kim ngạch hơn 176 triệu USD, chiếm gần 11% sản lượng và hơn 14% giá trị xuất khẩu cá tra của Việt Nam ra thị trường thế giới Việc giảm mức thuế chống bán phá giá đối với một số công ty xuất khẩu cá tra của Việt Nam xuống còn 0%, trước mắt được xem là điều kiện thuận lợi hơn để cá tra đi vào thị trường này và về lâu dài, việc giảm thuế chống bán phá giá sẽ tác động tích cực tới nghề nuôi, chế biến và xuất khẩu cá tra của Việt Nam

Nhu cầu nhập khẩu cá rô phi của các doanh nghiệp Mỹ những năm gần đây tăng khá mạnh Thống kê 5 năm gần đây, lượng tăng trung bình 13 nghìn tấn/năm Tổng

Trang 35

Trong nhóm này chủ yếu xuất khẩu qua thị trường Mỹ là cá ngừ Cơ cấu xuất khẩu

cá ngừ vào thị trường Mỹ ngày càng gia tăng tỷ trọng trong tổng giá trị xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam Cuối tháng 5 đầu tháng 6 năm 2010, Mỹ đã vượt qua EU trở thành thị trường nhập khẩu lớn và ổn định nhất cá ngừ VN Đến hết ngày 30/11/2010, Mỹ đã nhập khẩu trên 27 nghìn tấn cá ngừ từ Việt Nam, trị giá trên 120 triệu USD, tăng

54,6% về khối lượng và 94,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2009

* Thị trường Nhật

Nhật Bản là một trong những thị trường đem lại hiệu quả cao cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, tuy nhiên tỷ trọng giá trị thủy sản VN xuất khẩu sang Nhật Bản lại giảm dần từ năm 1997 đến năm 2010, từ 50,3% thị phần (39,1 triệu USD, năm 1997) xuống còn 17,8% (993,4 triệu USD) Thị phần của Nhật giảm chủ yếu do tỷ lệ xuất khẩu thủy sản sang các thị trường EU, Mỹ và các thị trường khác tăng lên Mặc dù vậy, hiện nay cùng với EU và Hoa Kỳ, Nhật Bản là thị trường tiêu thụ thủy sản chủ lực

của Việt Nam

Biểu đồ 3.16: Tình hình xuất khẩu thủy sản VN sang Nhật giai đoạn 2000 - 2010

(Nguồn: Vasep, 2011)

Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Nhật đạt 935,7 triệu USD, tăng gần 19% so năm 2009 Đặc biệt, Việt Nam trở thành nhà cung cấp tôm

Trang 36

26

đông lạnh hàng đầu chiếm 21% thị phần và là nhà cung cấp cá phile đông lạnh lớn thứ

8 chiếm 2,77% thị phần trên thị trường Nhật Bản Xuất khẩu thủy sản VN sang thị trường Nhật Bản có sự chuyển dịch tích cực, tương đồng với sự chuyển dịch cơ cấu sản phẩm xuất khẩu ở các thị trường khác, từ các sản phẩm sơ chế, có giá trị gia tăng thấp sang các sản phẩm chế biến, có giá trị gia tăng cao hơn Các sản phẩm thủy sản chính của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản bao gồm: chủ yếu là tôm, các

loại cá như: cá ngừ, cá tra… và nhuyễn thể

- Nhóm sản phẩm tôm (chủ yếu là tôm đông lạnh)

Đây là nhóm sản phẩm quan trọng nhất trong cơ cấu xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào Nhật Bản Mặc dù, Nhật có dấu hiệu giảm dần khối lượng và giá trị NK tôm trong 15 năm qua, tuy nhiên Nhật Bản vẫn là quốc gia có mức tiêu thụ thủy sản trên đầu người cao nhất thế giới (67 kg/người/năm) Năm 2010, Việt Nam xuất sang Nhật

62,614 tấn tôm với giá trị giá trên 581 triệu USD, tăng 16% về giá trị so với năm 2009, chiếm 27,6% tổng giá trị XK tôm của Việt Nam Trong đó, tôm chế biến là mặt hàng xuất khẩu sang Nhật Bản có tốc độ tăng trưởng ấn tượng nhất Với giá trị xuất khẩu

126 triệu USD, tôm chế biến từ Việt Nam vào thị trường Nhật đã tăng 17,4% so với năm 2009 và Việt Nam trở thành nhà cung cấp tôm chế biến lớn thứ 2 cho thị trường Nhật Bản, với thị phần chiếm 20,5% (Nguồn: Vasep, 2011)

Xuất khẩu tôm của Việt Nam tăng trưởng mạnh trong năm 2010 phần lớn là kết quả của việc một số nhà sản xuất tôm lớn trên thế giới như Inđônêxia, Ấn Độ và Mexico…, bị mất sản lượng do dịch bệnh và thời tiết bất thường cho nên nhập khẩu tôm từ Việt Nam được đẩy mạnh để bù đắp thiếu hụt từ các nguồn cung cấp trên Hiện nay Việt Nam đã vươn lên là nhà cung cấp tôm đông lạnh lớn nhất cho thị trường Nhật

Bản, tiếp đến là Inđônêxia, Thái Lan, Ấn Độ và Trung Quốc

- Nhóm sản phẩm nhuyễn thể

Trong nhóm này, đáng kể nhất là mực và bạch tuộc là nhóm mặt hàng NK lớn thứ hai từ Việt Nam của Nhật Bản Năm 2010, Việt Nam xuất 18,751 tấn nhuyễn thể, trị giá 113,7 triệu USD, tăng 5,8% về giá trị so với năm 2009, chiếm 23,3% tổng giá trị

XK nhuyễn thể của Việt Nam Nhóm mặt hàng này rất được ưa chuộng trên thị trường, tuy nhiên khối lượng XK phụ thuộc nhiều vào sản lượng khai thác theo mùa vụ trong

Trang 37

27

năm và quan trọng hơn là nguy cơ bị nhiễm kháng sinh cao trong bảo quản Đây là những trở ngại lớn nhất đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hải sản sang thị trường

này trong hiện tại tương lai

- Nhóm sản phẩm cá (bao gồm: cá ngừ, cá tra và một số loại cá khác)

+ Sản phẩm cá ngừ: Nhật Bản là thị trường tiêu thụ cá ngừ hàng đầu thế giới (chiếm khoảng 80% tổng sản lượng cá ngừ toàn cầu), bình quân 41 kg cá ngừ tươi và các sản phẩm từ cá ngừ/hộ gia đình/năm Sản phẩm cá ngừ là mặt hàng thủy sản Việt Nam có mức tăng trưởng XK sang Nhật Bản cao nhất (29,5% về giá trị) trong năm

2010 Mặc dù giá trị đạt được còn khiêm tốn với 22,1 triệu USD, nhưng Nhật Bản vẫn

là nhà NK cá ngừ lớn thứ 3 của Việt Nam Thực tế, khả năng cung cấp cá ngừ của Việt Nam cho Nhật bản có thể lớn hơn nhưng do một số nhà cung cấp trong khu vực như Thái Lan, Malaixia, Philippin… , hưởng mức thuế ưu đãi tốt hơn nên đã giảm khả năng cạnh tranh của mặt hàng này của Việt Nam

+ Sản phẩm cá tra: Mặt dù tỷ trọng sản phẩm cá tra của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản thấp hơn so với hai thị trường truyền thống lớn của sản phẩm này là Mỹ và

EU nhưng trong thời gian gần đây sản phẩm này lại có mức độ gia tăng khá nhanh Trong ba tháng đầu năm 2011, có 10 doanh nghiệp xuất khẩu cá tra sang Nhật Bản với khối lượng 141 tấn, trị giá 668,6 nghìn USD, tăng 1,2% về khối lượng và 35,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2010, trong đó sản phẩm chế biến giá trị gia tăng đạt 47 tấn, trị giá 347 nghìn USD tăng so với 11 tấn và 86 nghìn USD của cùng kỳ năm 2010 (Nguồn: Vasep, 2011)

Đợt thảm họa động đất, sóng thần xảy ra vào ngày 11/3/2011 ở Nhật Bản đã làm ảnh hưởng đến ngành thủy sản nội địa của nước này, sự hoang mang của người tiêu dùng

về khả năng nhiễm chất phóng xạ của thủy sản nội địa và đặc biệt là khả năng tài chính của người dân thì nhu cầu tiêu thụ với sản phẩm nhập khẩu thông thường sẽ được tăng lên trong thời gian tới trong đó có sản phẩm cá tra của Việt Nam

* Trung Quốc và Hồng Kông

Là những thị trường nhập khẩu thuỷ sản trung bình trên thế giới Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường này chủ yếu vẫn là mua bán qua biên giới, quy mô của các đơn vị nhập khẩu rất nhỏ nên chỉ phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 38

28

Đây là thị trường lớn, có tiềm năng song cạnh tranh ngày càng phức tạp, giá sản phẩm

có xu hướng giảm và khả năng tăng hiệu quả là khó khăn Trong tương lai, Trung Quốc sẽ là thị trường tiêu thụ thủy sản hàng đầu của khu vực châu Á, với đặc điểm tiêu thụ của thị trường này là vừa tiêu thụ cho dân cư bản địa, vừa là thị trường tái chế

và tái xuất

+ Nga

Thị trường thủy sản Nga đã có những bước tiến rất dài trong nhập khẩu thủy sản của Việt Nam mặc dù có thời gian gián đoạn nhưng đã có nhiều dấu hiệu tăng trưởng trở lại trong thời gian gần đây cho thấy thị trường này đầy khả quan trong tương lai cho ngành thủy sản VN

2.5 Sự tác động của cung cầu đến giá cả sản phẩm thủy sản

* Cầu và đường cầu

Nhu cầu được thể hiện ở số lượng của một loại sản phẩm mà người tiêu dùng muốn mua và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong điều kiện tất cả các yếu tố khác ảnh hưởng đến nhu cầu đều không đổi Mối quan hệ giữa lượng sản phẩm được

mua và giá sản phẩm thường là tỷ lệ nghịch, khi giá tăng nhu cầu sẽ giảm và ngược lại

* Cung và đường cung

Cung là lượng sản phẩm mà nhà sản xuất sẵn sàn sản xuất và bán ra thị trường ở các mức giá khác nhau Mối quan hệ giữa cung và giá luôn tỷ lệ thuận Cung thường tăng khi giá sản phẩm trên thị trường tăng Trên thị trường cạnh tranh giá của một loại sản phẩm luôn quy định độ lớn của cung và cầu

* Sự dịch chuyển của đường cầu

Trang 39

29

Qua hình 3.1 cho thấy, khi đường cầu dịch chuyên sang bên phải thì giá sản phẩm thủy sản không đổi nhưng lượng cầu sẽ tăng Ngược lại, khi đường cầu dịch chuyển sang bên trái thì giá sản phẩm thủy sản không đổi nhưng lượng cầu sẽ giảm

* Sự dịch chuyển của đường cung

Hình 2.2: Sự dịch chuyển của đường cung (Nguồn: Nguyễn Minh Đức, 2009)

Qua hình 3.2 cho thấy, khi đường cung dịch chuyển sang bên phải thì giá sản phẩm thủy sản không đổi nhưng lượng cung sẽ tăng Ngược lại, khi đường cung dịch chuyển sang bên trái thì giá sản phẩm thủy sản không đổi nhưng lượng cung sẽ giảm

* Sự tương tác cung cầu và hình thành giá cân bằng

Hình 2.3: Sự hình thành giá cân bằng (Nguồn: Nguyễn Minh Đức, 2009)

Qua hình 3.3 cho thấy xu hướng giá của sản phẩm thủy sản trong mối quan hệ giữa cung và cầu trên thị trường Khi đường cầu lớn hơn đường cung sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt trên thị trường nên giá sản phẩm thủy sản sẽ có xu hướng tăng Ngược lại, khi cầu nhỏ hơn cung sẽ làm cho giá có xu hướng giảm do tình trạng dư thừa trên thị trường và giá cân bằng của sản phẩm trên thị trường chỉ được tạo ra khi lượng cung và lượng cầu của sản phẩm bằng nhau

* Độ co giãn

- Độ co giãn của cầu theo giá

Độ co giãn của cầu theo giá thể hiện độ nhạy cảm của lượng cầu trước sự thay đổi

về giá của hàng hóa (Nguyễn Minh Đức, 2010)

Trang 40

khiến lượng cầu giảm mức nhỏ hơn 1% nếu cầu không co giãn

Bảng phân loại co giãn của cầu theo giá

- Độ co giãn chéo của cầu theo giá

Độ co giãn chéo của cầu theo giá thể hiện sự nhạy cảm của cầu một loại hàng hóa này đối với sự thay đổi giá cầu một hàng hóa khác Độ co giãn của cầu theo giá được

ký hiệu là Ec (Nguyễn Minh Đức, 2010)

Ví dụ: xét 2 hàng hóa tôm và cá tra, độ co giãn của lượng hàng hóa tôm (t) theo sự

thay đổi của giá hàng hóa cá tra (tr) được tính bởi:

Dấu của độ co giãn chéo của cầu theo giá cho chúng ta biết về bản chất mối quan

hệ giữa hàng hóa tôm và cá tra

Độ co giãn chéo Sự thay đổi của Q và P Kết quả

Ngày đăng: 10/06/2018, 09:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w