Ngoài ra đề tài được tiến hành nhằm đánh giá sự tương tác qua lại của giá cá tra, giá nghêu ở các thị trường trại nuôi, bán lẻ ở chợ, xuất khẩu vào Mỹ, xuất khẩu tại Việt Nam cũng như sự
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ VỀ GIÁ GIỮA CÁC THỊ TRƯỜNG KHÁC NHAU CỦA HAI SẢN PHẨM
Trang 2PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ VỀ GIÁ GIỮA CÁC THỊ TRƯỜNG KHÁC
NHAU CỦA HAI SẢN PHẨM CÁ TRA VÀ NGHÊU
Tác giả ĐẶNG THỊ KHÁNH NGỌC
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng
Kỹ sư Ngành Chế Biến Thủy Sản
Giáo viên hướng dẫn:
TS NGUYỄN MINH ĐỨC
Tháng 06/ 2011
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành đề tài hôm nay, tôi xin được gửi lời tri ân đến toàn thể thầy cô Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Cảm ơn thầy cô Khoa Thủy Sản đã truyền đạt những kiến thức chuyên môn, những kinh nghiệm hết sức quý báu và tạo cho tôi những điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu học tập
Đặc biệt, với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cám ơn thầy Nguyễn Minh Đức đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong thời gian qua
Tôi xin chân thành cám ơn các cô, chú, anh, chị ở Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre, các Hợp tác xã tỉnh Bến Tre, Sở NN&PTNT tỉnh Vĩnh Long, Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư tỉnh Đồng Tháp và Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy Sản Việt Nam (VASEP) tại TP HCM đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành tốt đề tài này Cám ơn gia đình, những người thân đã luôn gắn bó, động viên và giúp đỡ tôi khi tôi gặp khó khăn, vất vả
Xin được gởi lời tri ân của tôi đến tất cả mọi người!
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “Phân tích mối quan hệ về giá giữa các thị trường khác nhau của hai sản phẩm cá tra và nghêu“ được thực hiện nhằm đánh giá sự chênh lệch giá cả của hai sản phẩm trên ở các thị trường khác nhau, qua đó nhằm đánh giá tầm quan trọng của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân, đồng thời thấy được nguyên nhân của sự chênh lệch đó Đề tài được thực hiện từ tháng 2/2011 đến tháng 7/2011
Ngày nay giá cả đang là yếu tố quan trọng trong việc chọn lựa mua thực phẩm thủy sản của người tiêu dùng, nhất là những người có thu nhập thấp Ngược lại giá cả
sẽ không là trở ngại cho những đối tượng tiêu dùng có thu nhập cao và quan tâm đến vấn đề sức khỏe nhất là khi các dịch bệnh trên gia súc gia cầm ngày càng gia tăng Do
đó, giá cả đang là mối quan tâm từ người tiêu dùng đến các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu thủy sản
Ngoài ra đề tài được tiến hành nhằm đánh giá sự tương tác qua lại của giá cá tra, giá nghêu ở các thị trường trại nuôi, bán lẻ ở chợ, xuất khẩu vào Mỹ, xuất khẩu tại Việt Nam cũng như sự cạnh tranh về giá giữa các loại thủy sản cá tra, nghêu, tôm và
cá điêu hồng ở thị trường Mỹ từ đó có thể dự đoán cơ chế vận động và hình thành giá thủy sản trên thị trường trong quá khứ, hiện tại và ngay cả ở tương lai
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm tạ ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh sách các chữ viết tắt và ký hiệu vii
Danh sách các biểu đồ viii
Danh sách các bảng ix
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Sự cần thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Cấu trúc luận văn 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Các khái niệm về giá cả 3
2.1.1 Theo góc độ kinh tế 3
2.1.2 Theo góc độ marketing 3
2.1.3 Tầm quan trọng của giá 3
2.1.4 Các cách định giá 4
2.2 Khái niệm về xuất khẩu 4
2.2.1 Các khái niệm về xuất khẩu 4
2.2.2 Vai trò của xuất khẩu 5
2.2.3 Động lực tăng trưởng xuất khẩu thủy sản 5
2.3 Khái niệm thị trường, các đặc tính của thị trường thủy sản 6
2.3.1 Khái niệm thị trường 6
2.3.2 Phân loại thị trường 6
2.3.3 Cơ cấu thị trường 7
2.3.4 Đặc điểm của thị trường thủy sản 8
2.4 Tổng quan chung ngành thủy sản Việt Nam 10
2.4.1 Tình hình thủy sản Việt Nam 10
Trang 62.4.2 Lợi thế để phát triển ngành thủy sản 12
2.4.3 Thách thức của ngành thủy sản 13
2.5 Giới thiệu về thị trường thủy sản Việt Nam 14
2.5.1 Đặc điểm thị trường nội địa và các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường nội địa 14
2.5.2 Vai trò của ngành thủy sản đối với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam 15
2.6 Những sự kiện, yếu tố tác động đến giá các mặt hàng thủy sản Việt Nam trong những năm gần đây 17
2.6.1 Tác động của vụ kiện bán phá giá cá tra đến giá mặt hàng thủy sản 17
2.6.2 Tác động của việc gia nhập WTO và chứng chỉ MSC đến giá các mặt hàng thủy sản 18
2.6.3 Tác động của các dịch bệnh trên gia súc, gia cầm đến giá các mặt hàng thủy sản 20
2.6.4 Tác động của các yếu tố cung, cầu trên thị trường đến giá các mặt hàng thủy sản 21
2.6.5 Tác động của lạm phát, tỷ giá và sự suy thoái kinh tế đến giá các mặt hàng thủy sản 21
Chương 3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Cơ sở lý luận 26
3.1.1 Các yếu tố ngoài giá tác động lên cầu của sản phẩm 26
3.1.2 Các yếu tố ngoài giá tác động lên cung của sản phẩm 26
3.2 Phương pháp nghiên cứu 27
3.2.1 Phạm vi nghiên cứu 27
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 27
3.2.3 Phương pháp mô tả số liệu 27
3.2.4 Chuỗi giá trị các sản phẩm thủy sản 28
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Giá cá tra và giá nghêu ở các thị trường khác nhau 29
4.1.1 Giá cá tra ở các thị trường khác nhau 29
4.1.2 Giá nghêu ở các thị trường khác nhau 31
4.2 Sự tương tác giá cá tra và giá nghêu tại trại nuôi với giá ở các thị trường khác 32
4.2.1 Sự tương tác qua lại giữa giá cá tra tại trại nuôi so với các thị trường khác 33
Trang 74.2.1.1 Sự tương tác giữa giá cá tra ở các thị trường khác với giá cá tra tại trại nuôi 34
4.2.1.2 Sự tương tác giữa giá cá tra ở các thị trường khác với giá cá tra bán lẻ ở chợ.34
4.2.1.3 Sự tương tác giữa giá cá tra ở các thị trường khác với giá cá tra xuất khẩu vào
Mỹ 35
4.2.1.4 Sự tương tác giữa giá cá tra ở các thị trường khác với giá cá tra xuất khẩu tại Việt Nam 36
4.2.2 Sự tương tác qua lại giữa giá nghêu tại trại nuôi so với các thị trường khác 40
4.2.2.1 Sự tương tác giữa giá nghêu ở các thị trường khác với giá nghêu tại trại nuôi 40 4.2.2.2 Sự tương tác giữa giá nghêu ở các thị trường khác với giá nghêu bán lẻ ở chợ.41 4.2.2.3 Sự tương tác giữa giá nghêu ở các thị trường khác với giá nghêu xuất khẩu vào Mỹ 42
4.2.2.4 Sự tương tác giữa giá nghêu ở các thị trường khác với giá nghêu xuất khẩu tại Việt Nam 43
4.3 Tác động của giá các loại thủy sản cá tra, nghêu, tôm, cá điêu hồng đối với thị phần cá tra và nghêu ở thị trường Mỹ 46
4.3.1 Mô tả thị phần và giá các loại sản phẩm cá tra, nghêu, tôm và cá rô phi trên thị trường Mỹ 47
4.3.2 Tác động của giá các sản phẩm thủy sản Việt Nam đối với cá tra trên thị trường Mỹ 47
4.3.3 Tác động của giá các sản phẩm thủy sản Việt Nam đối với nghêu trên thị trường Mỹ 48
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.1.1 Đối với cá tra 50
5.1.2 Đối với nghêu 50
5.2 Kiến nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
PHỤ LỤC 55
Trang 8
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
FAO (Food and Agriculture Organization of The United Nations): Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
WTO (World Trade Organization): Tổ chức Thương mại Thế Giới
DOC (United States Deparment of Commerce): Bộ Thương mại Mỹ
VASEP: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy Sản Việt Nam
EU (Eropean Union): Liên minh Châu Âu
GDP (Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm quốc nội
MSC (Marine Stewardship Council – MSC): Hội đồng bảo tồn biển quốc tế
Sở NN&PTNT: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
VND: Việt Nam đồng
Trang 9DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Trang Biểu đồ 4.1: Giá cá tra từng tháng giai đoạn 2007-2010 29 Biểu đồ 4.2: Giá nghêu từng tháng giai đoạn 2007-2010 31
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang Bảng 4.1: Tác động qua lại giữa Ln giá cá tra ở trại nuôi so giá ở các thị trường khác33 Bảng 4.2: Mô hình tương tác giá cá tra ở các thị trường khác với giá cá tra tại trại
Bảng 4.5: Mô hình tương tác của giá cá tra ở các thị trường khác với giá cá tra xuất
khẩu tại Việt Nam 36
Bảng 4.6: Tác động qua lại giữa dLn giá cá tra tại trại nuôi so với giá ở các thị trường
Bảng 4.13: Mô hình tương tác giá nghêu ở các thị trường khác với giá nghêu xuất
khẩu tại Việt Nam 43
Bảng 4.14: Tác động qua lại giữa dLn giá nghêu tại trại nuôi so với giá ở các thị
trường khác 44
Trang 11Bảng 4.15: Mô hình tương tác giá nghêu ở các thị trường khác với giá nghêu bán lẻ ở
chợ 45
Bảng 4.16: Mô hình tương tác giá nghêu ở các thị trường khác với giá nghêu xuất khẩu vào Mỹ 45
Bảng 4.17: Thị phần và giá sản phẩm thủy sản 47
Bảng 4.18: Thị phần tiêu dùng của cá tra trên thị trường Mỹ 47
Bảng 4.19: Thị phần tiêu dùng của nghêu trên thị trường Mỹ 49
Trang 12Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Sự cần thiết của đề tài
Động vật thủy sản là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng phổ biến trên thế giới Đối với tất cả các loài thủy sản thì cá tra và nghêu là hai loại sản phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng không chỉ vì giá trị dinh dưỡng mà còn là vì giá cả phải chăng Với đặc tính cơ bản dễ ươn, chóng hỏng thủy sản Việt Nam luôn gặp rất nhiều khó khăn khi thu hoạch, vận chuyển và bảo quản Đó là một trong những nguyên nhân khiến cho thủy sản luôn ở tình trạng bấp bênh, thiếu ổn định lúc thừa lúc thiếu, lúc giá cao lúc giá thấp…
Song trong môi trường cạnh tranh cao như hiện nay, dư âm của cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu vẫn còn đó nên bên cạnh việc nâng cao chất lượng và khối lượng sản phẩm cũng cần phải quan tâm đúng mức đến giá cả của chúng trên tất
cả thị trường vì giá cả là vấn đề quan trọng nhất không chỉ quyết định nhu cầu mà còn tác động rất lớn đến tình hình sản xuất và việc làm của cả một ngành sản xuất Trong khi đó, các nhà sản xuất thủy sản Việt Nam vẫn đang hàng ngày đối mặt với vấn đề
“được mùa mất giá, được giá mất mùa” và luôn mong muốn có những thông tin về giá
cả Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, giá thủy sản tại trại nuôi không chỉ lệ thuộc vào giá bán lẻ hay bán buôn ở thị trường nội địa mà còn bị ảnh hưởng từ giá thủy sản chế biến được xuất ra thị trường thế giới Do đó, đề tài “PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ VỀ GIÁ GIỮA CÁC THỊ TRƯỜNG KHÁC NHAU CỦA HAI SẢN PHẨM CÁ TRA VÀ NGHÊU” được thực hiện với mục đích phân tích và làm rõ những tác động của giá cả của hai sản phẩm cá tra và nghêu từ thị trường nội địa hay thị trường xuất khẩu đến giá tại trại nuôi, đồng thời thông qua giá cả có thể phân tích sức ảnh hưởng lẫn nhau giữa các thị trường với nhau, đối với hai sản phẩm này
Trang 131.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Cung cấp một cái nhìn tổng thể hơn về tình hình tiêu thụ cá tra và nghêu hay thủy sản nói chung trong những năm gần đây
- Tìm hiểu và phân tích sự biến động giá, mối quan hệ về giá của sản phẩm thủy sản Việt Nam ở các thị trường tiêu thụ khác nhau
- Phân tích sự cạnh tranh thị phần của một số sản phẩm thủy sản tại thị trường Hoa
Chương II: Tổng quan tài liệu
Trình bày các khái niệm và giới thiệu các vấn đề có liên quan mà đề tài đã sử dụng nhằm đạt được mục tiêu đề ra
Tổng quan và vai trò của ngành thủy sản đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam
Các phân tích có liên quan tác động đến giá thủy sản Việt Nam trong những năm gần đây
Chương III: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Các yếu tố ngoài giá tác động lên cầu và cung của các sản phẩm nói chung và thủy sản nói riêng qua các mô hình của MS Excel
Chương IV: Kết quả nghiên cứu và phân tích:
Các kết quả đạt được trong quá trình thực hiện đề tài và phân tích các kết quả đó Chương V: Kết luận và kiến nghị
Tóm tắt ngắn gọn các kết quả mà đề tài đã đạt được và rút ra các ý nghĩa làm cơ sở
đề xuất các kiến nghị có liên quan
Trang 14Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Các khái niệm về giá cả
2.1.1 Theo góc độ kinh tế
Giá dựa trên số lượng lao động tạo ra hàng hóa bao gồm cả các khoản chi phí
bổ sung như chi phí phân phối Giá cả là khoản chi phí mà người mua sẵn sàng trả để
có được hàng hóa, đồng thời phụ thuộc vào ước muốn sở hữu hàng hóa đó của họ và mức chi tiêu để thỏa mãn ước muốn đó Nhưng khái niệm này lại chưa nói đến sự thay đổi về qui mô doanh nghiệp, sự đa dạng hóa sản phẩm và sự xuất hiện của quảng cáo hay có tính đến nhưng chỉ coi đó là những thay đổi đặc biệt và chưa đề cập đến vai trò
của cạnh tranh độc quyền (nguồn: http://tailieu.vn)
2.1.3 Tầm quan trọng của giá
Giá thể hiện giá trị của sản phẩm, dịch vụ trong hoạt động trao đổi Vì vậy, không thể thiếu giá ở bất kì một hoạt động trao đổi nào Giá còn là chi phí bằng tiền
mà người mua phải bỏ ra để có được những lợi ích mà họ tìm kiếm ở hàng hóa và dịch
vụ nên giá được đánh giá là chỉ số quan trọng được sử dụng trong quá trình lựa chọn
và mua sắm sản phẩm, người mua có tác dụng vừa là phanh hãm vừa là công cụ kích cầu sản phẩm
Nói cách khác giá là hình thức, là hiện tượng của giá trị, là yếu tố quyết định lượng tiền trong lưu thông và có ảnh hưởng đến tốc độ lưu thông của tiền tệ Giá sẽ quyết định sức mua của tiền tệ và ngược lại tiền tệ cũng ảnh hưởng rất lớn đến giá
Giá cả không những biểu hiện bằng giá trị tiền mà còn phản ánh giá trị sử dụng của hàng hóa mà còn phản ánh tính thay thế lẫn nhau trong sản xuất và tiêu dùng, phản
Trang 15ánh tổng hợp và đồng bộ các mối quan hệ kinh tế-chính tế-xã hội Sự hình thành và sự vận động của giá sẽ điều tiết các mối quan hệ: cung và cầu hàng hóa, tích lũy và tiêu dùng, công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, thị trường trong nước và thị trường thế giới (nguồn: http://tailieu.vn)
2.1.4 Các cách định giá:
Giá cả là một biến số rất phức tạp và đầy mâu thuẫn trong hệ thống marketing- mix Do đó, các doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh đều phải tiến hành khâu định giá bán lần đầu tiên cho sản phẩm của mình Việc định giá ban đầu thường có 6 bước
cơ bản sau:
2.2 Khái niệm về xuất khẩu
2.2.1 Các khái niệm về xuất khẩu
Xuất khẩu là việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán Hoạt động xuất khẩu là hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá
và khi sản xuất phát triển và trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi, hoạt động này không còn hạn hẹp trong nước mà nay đã được mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của quốc gia Ngày nay, xuất khẩu là một hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương Vì vậy dù là loại hàng hóa của bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào đều có thể xuất khẩu được, thủy sản là một trong những ngành có hoạt động thương mại diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu và thực sự xuất khẩu thủy sản đã thu về rất nhiều ngoại tệ, làm tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao cơ cấu kinh tế cho Việt Nam
Trang 162.2.2 Vai trò của xuất khẩu
Xuất khẩu không chỉ tạo ra nguồn vốn cho nhập khẩu, tích lũy và phát triển cho sản xuất, phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mà còn góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển
Xuất khẩu còn là điều kiện để các ngành sản xuất nguyên liệu, chế biến thực phẩm như: bông, đay, gạo, cà phê có cơ hội phát triển và hội nhập thị trường thuận lợi hơn, góp phần làm tăng tính ổn định và kích thích sự phát triển của sản xuất Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu còn là tiền đề cho việc thu hút các nguồn vốn từ khắp nơi phục vụ cho hoạt động sản xuất trong nước
Ngoài ra, xuất khẩu có tác động tích cực trong việc đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất, giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân Nên có thể nói rằng nó là cơ sở cho việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của ta
2.2.3 Động lực tăng trưởng xuất khẩu thủy sản
Ngày nay, con người càng có xu hướng tăng nhu cầu tiêu thụ thủy sản thay thế cho các nguồn đạm động vật khác như thịt heo, bò, gà Nguyên nhân của sự gia tăng tiêu thụ thủy sản có thể là do điều kiện thuận lợi của tự nhiên, do dân số thế giới tăng nhanh, do kinh tế toàn cầu và mức sống của dân chúng tăng, đặc biệt do con người ngày càng có ý thức hơn vấn đề sức khỏe
Trong những năm qua, nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh đảm bảo lượng cung cầu cho thị trường Đối với các nước đang phát triển ở khu vực châu Á–Thái Bình Dương đã đóng góp gần 90% khối lượng và gần 75% giá trị, tức nuôi trồng thủy sản
đã mang về cho sản lượng từ mức 1 triệu tấn vào những năm 1950 lên đến hơn 50 triệu tấn hiện nay Nên có thể nói một phần của xuất khẩu tăng mạnh có liên quan đến nuôi trồng thủy sản (theo VASEP, 2010)
Theo kết quả nghiên cứu mới đây của FAO (Food and Agriculture Organization
of The United Nations: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc) cho thấy lượng tiêu thụ bình quân đầu người mỗi năm mặt hàng thủy sản hiện đang ở mức
16 kg và sẽ tăng lên 19 kg vào đầu năm 2015 Lượng tiêu thụ thủy sản tăng một phần
là do thị hiếu tiêu dùng tăng Trong thời buổi kinh tế khó khăn, thắt chặt chi tiêu như hiện nay thì thủy sản, một sản phẩm được đánh giá là bổ dưỡng, thơm ngon, giá cả
Trang 17hợp lí và nhiều đặc điểm ưu việt khác Sản phẩm thủy sản ngày càng có mặt thường xuyên hơn trong các bữa cơm gia đình từ giàu có đến nghèo khó
Sự xuất hiện hàng loạt các dịch bệnh trên bò, heo và gia cầm cũng đã làm thay đổi thói quen tiêu dùng thực phẩm của người dân vì thủy sản có những ưu điểm sau:
− Cung cấp năng lượng, các vitamin A, D, B12, và các chất khoáng vi lượng cần thiết khác cho cơ thể loài người
− Hàm lượng protein cao nhưng mức cholesterole thấp hơn so với các nguồn đạm động vật khác, đặc tính tốt cho sức khỏe con người
Trở thành thành viên chính thức của WTO (World Trade Organization - Tổ chức Thương mại Thế Giới) vào ngày 7/11/2006, Việt Nam đã có nhiều cơ hội tiếp cận nền khoa học kỹ thuật hiện đại của thế giới, đồng thời trình độ quản lý kinh tế vĩ
mô của nước ta đã đổi thay nhanh chóng, ngày càng phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường hơn Những chính sách kiềm chế lạm phát, bình ổn giá thực phẩm hay ổn định giá trị đồng tiền đã giúp Việt Nam từng bước trở thành một trong những gương mặt sáng giá của khu vực và trên thế giới, tạo sức hút tốt đối với các nhà đầu tư nước ngoài
2.3 Khái niệm thị trường, các đặc tính của thị trường thủy sản
2.3.1 Khái niệm thị trường: Theo Lê Xuân Sinh (2010), có hai định nghĩa chủ yếu
2.3.2 Phân loại thị trường
− Thị trường xuất khẩu: có thể là nhiều quốc gia hoặc ở nhiều khu vực khác nhau cùng tham gia trao đổi, mua bán sản phẩm
− Thị trường nội địa: có thể là nhiều nhóm khách hàng theo nhiều địa phương khác nhau tham gia trao đổi, mua bán sản phẩm
• Thị trường bán sỉ: là nơi sản phẩm được trao đổi, mua bán trực tiếp với người tiêu dùng thường là các đại lý lớn, bán với số lượng lớn
Trang 18• Thị trường bán lẻ: là nơi sản phẩm được trao đổi, mua bán trực tiếp với người tiêu dùng thường là ở chợ, số lượng sản phẩm ít
• Thị trường tại ao: là nơi sản phẩm được trao đổi, mua bán ngay tại ao nuôi
2.3.3 Cơ cấu thị trường
Có thể hiểu cơ cấu thị trường thông qua mối quan hệ mắt xích giữa các nhóm chủ thể trong dây chuyền Marketing sau: Người sản xuất - Người buôn bán - Người chế biến - Người bán lẻ - Người tiêu dùng Đối với mỗi mắt xích hay mỗi nhóm chủ thể trong dây chuyền đều có một chức năng riêng biệt trong hệ thống thị trường của
nó
Nông dân: có thể là các doanh nghiệp, công ty sản xuất, hợp tác xã, hộ gia đình hay trang trại đều có chức năng tạo ra sản phẩm trên cơ sở sử dụng các yếu tố đầu vào của sản xuất và tạo ra giá trị mới bổ sung vào giá trị cũ được chuyển từ các yếu tố đầu vào
Người bán buôn: là các doanh nghiệp thương mại, hợp tác xã thương mại hay
hộ gia đình đều có chức năng đưa sản phẩm từ người sản xuất đến người chế biến, đặc biệt do cơ chế thu gom, sơ chế, bảo quản… góp phần tạo thêm nguồn giá trị mới bổ sung vào sản phẩm làm tăng giá trị sản phẩm
Người chế biến: bao gồm các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình có chức
năng chế biến sản phẩm từ dạng thô sang sản phẩm có tính chất công ngiệp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trường, nhưng vì phải chi thêm cho chi phí chế biến nên giá trị sản phẩm cũng được tăng thêm
Người bán lẻ: là những doanh nghiệp, đơn vị tập thể hay tư nhân có chức năng
đưa sản phẩm từ nơi chế biến đến người tiêu dùng cuối cùng Khi sản phẩm được đến tay người tiêu dùng cuối cùng thì giá trị sản phẩm bao giờ cũng được đảm bảo vì trong quá trình hoạt động thì chủ thể này đã phải mất nhiều chi phí cho hoạt động thương mại
Người tiêu dùng: là tất cả các thành viên trong xã hội có chức năng hoàn trả
toàn bộ chi phí từ khâu sản xuất đến khâu dịch vụ cuối cùng của quá trình sản xuất và tiêu dùng
Trang 19Qua cơ cấu trên có thể phân loại lại thị trường hiện nay như sau: thị trường các yếu tố đầu vào hay còn gọi là thị trường nguyên liệu sản xuất và thị trường sản phẩm hay còn gọi là thị trường hàng tiêu dùng (nguồn: http://tailieu.vn)
2.3.4 Đặc điểm của thị trường thủy sản
Đối với bất kì sản phẩm thủy sản nào dù là tươi sống hay đã qua chế biến đều phải đáp ứng những đòi hỏi của thị trường từ cơ bản cho đến phức tạp, có thể là: thời gian, không gian, chất lượng, số lượng, giá cả, hay cả những vấn đề khắt khe hơn Do vậy, trước tiên khi các chủ thể kinh tế tham gia dây chuyền marketing đều cần nên bỏ
ra những chi phí nhất định với mục đích thỏa mãn những yêu cầu của thị trường và sau
đó những chi phí này sẽ được phản ánh vào giá cả Tuy nhiên, khi thị trường đã chấp nhận giá (gồm cả giá sản phẩm thủy sản thô cộng với chi phí chế biến, chi phí marketing) thì sẽ có sự chênh lệch giữa giá đó với giá ở cấp thị trường trước đó và đó được gọi là độ cận biên thị trường Độ cận biên thị trường là điểm thể hiện trạng thái cân bằng ở mỗi cấp thị trường (nguồn: http://tailieu.vn)
− Độ cận biên của thị trường và giá cả sản phẩm thủy sản
Độ cận biên của thị trường là một khái niệm thể hiện giá trị đổi ra ở mỗi mắt xích nào đó trên dây truyền marketing sản phẩm Với trình độ phát triển kinh tế ngày nay thì thủy sản là một trong những ngành có sản lượng sản phẩm chế biến chưa được người tiêu dùng sử dụng nhiều vì đa phần người nông dân quen với việc sử dụng sản phẩm thủy sản ở dạng tươi sống là chủ yếu, bởi vì đó là sản phẩm mà họ tự tay đánh bắt hay nuôi trồng mới có được Khác với người tiêu dùng thành thị họ ưa thích các sản phẩm đã qua chế biến sẵn Kết quả là trong cơ cấu giá mua các loại sản phẩm thủy sản thô, sơ chế có chiều hướng giảm xuống so với sản phẩm chế biến và độ cận biên thị trường sẽ tăng lên, khi đó độ cận biên thị trường giữa giá bán lẻ và giá tại các cơ sở đánh bắt và nuôi trồng lại chính là sự chênh lệch giữa giá bán lẻ cuối cùng cho người tiêu dùng cuối cùng với giá mà người sản xuất nhận được khi bán sản phẩm ở dạng sơ chế Nên có thể nhận thấy rằng, giá của sản phẩm thủy sản ở cấp độ thị trường bán lẻ được thành lập khi đường cung và đường cầu của người tiêu dùng và sản xuất gặp nhau
(nguồn: http://tailieu.vn)
Trang 20− Sự hình thành giá cả theo mùa vụ
Từ xưa đến nay ngành nông nghiệp nói chung và thủy sản nói riêng, cả hai đều
là ngành sản xuất vật chất phụ thuộc vào tính mùa vụ khá cao Tính mùa vụ thể hiện rõ
ở sự biến động giá cả thị trường, đặc biệt là tính không ổn định về giá ở thị trường đầu
ra
Mang đặc tính là ngành sản xuất kinh doanh dựa trên các qui luật sinh học động thực vật thủy sinh nên tính mùa vụ sẽ là điểm cho giá cả thủy sản trong giai đoạn hình thành, thời điểm quan hệ cung cầu của người sản xuất và người tiêu dùng được thỏa thuận vào đúng mùa vụ Ngược lại, vào thời điểm trái mùa khi nhu cầu của người tiêu dùng không thay đổi nhưng người sản xuất không cung ứng được do khan hiếm nguyên liệu hay chi phí sản xuất cao hoặc chi phí cho dự trữ cao chẳng hạn, vào lúc này thì mặt bằng giá cả thủy sản trên thị trường sẽ tăng lên, và phải lớn hơn chi phí mà người sản xuất đã bỏ ra để dự trữ sản phẩm dễ hư hỏng này Nên giá cả sản phẩm thủy sản thay đổi rất lớn theo tính mùa vụ và thời gian
− Tính độc quyền của thị trường thủy sản
Mặc dù trình độ sản xuất chưa cao nhưng thủy sản Việt mang đậm tính chất độc quyền, nhưng chỉ là độc quyền nhất thời Thị trường mang tính độc quyền nhất thời vì
so với trước đây tuy có ruộng đất để canh tác thủy sản nhưng điều quan trọng vẫn là máy móc, kỹ thuật nên những ai có đủ phương tiện kỹ thuật sẽ làm chủ thị trường nên hàng hóa chỉ có thể độc quyền trong nước, nhất thời là ở chổ đó Nhưng khi trình độ phát triển của nền kinh tế cao hơn, sự trang bị cho ngành thủy sản cũng hiện đại hơn
về trình độ sản xuất, đánh bắt và chế biến, thu mua, dự trữ được hình thành nhiều hơn thì tình trạng độc quyền trước đây mất đi, đồng thời việc ép giá của người mua và người sản xuất đối với người nuôi sẽ không còn nữa để tiến đến một thị trường cạnh tranh hoàn hảo hơn cho sản phẩm thủy sản Việt Nam
− Thị trường sản phẩm trong nước còn tính nhỏ, lẻ
Việt Nam, nơi có nhiều phù sa, đất đai màu mỡ, hệ thống sông ngòi, kênh, rạch dày đặc là điều kiện thuận lợi cho nhiều cơ sở sản xuất thủy sản mọc lên khắp nước Tuy nhiên, trình độ phát triển chưa cao nên thị trường sản phẩm trong nước còn mang đậm tính chất nhỏ và lẻ Trong nước, sản phẩm thủy sản đươc bán tại các chợ ở địa phương với qui mô vừa và nhỏ, còn các khu chế biến cung ứng sản phẩm thủy sản lớn
Trang 21thì chưa hoặc chỉ đang manh nha ló dạng với số lượng không đáng kể Vì thế, việc hình thành một mạng lưới hệ thống thị trường nhỏ và lẻ phân bố rộng trên các vùng trong cả nước là đều không tránh khỏi (nguồn: http://tailieu.vn)
− Đặc điểm sản phẩm thủy sản
Tổng sản lượng thường lớn, nhưng lại được sản xuất ở qui mô sản xuất nhỏ và phân tán nên tập trung một số lượng lớn nhiều sản phẩm tại một thời điểm hay địa điểm nhất định thường gặp nhiều khó khăn
Mức tiêu thụ trong năm tương đối ổn định, đáp ứng nhu cầu thực phẩm là chủ yếu Nghĩa là ta khó có thể thay đổi được mức cầu của một sản phẩm thủy sản nào đó trong một thời gian ngắn
Mang tính mùa vụ cao, thời gian thu hoạch ngắn, chi phí tồn trữ, vận chuyển và bán cao Do vậy, để thay đổi mức cung trong một thời gian ngắn là việc rất khó có thể xảy ra trong điều kiện thiếu thốn
Thường thì chất lượng và số lượng không được tiêu chuẩn hóa, chi phí cho việc phân loại và kiểm soát chất lượng thì lại quá cao đã liên tiếp tạo ra sự khó khăn trong quản lý chất lượng và giá cả của sản phẩm Mặt khác, thủy sản là loại thực phẩm dễ hư hỏng nếu được kết hợp với đặc điểm thứ nhất sẽ làm tăng thêm tính khó khăn trong vận chuyển, bảo quản, chế biến và tiêu thụ
Những năm gần đây thị trường tiêu thụ thủy sản chưa được tổ chức tốt, mức
độ cạnh tranh của các sản phẩm có khả năng thay thế cho nhau cao nên rất khó cho việc kiểm soát, quản lý thị trường sản phẩm thủy sản (Lê Xuân Sinh, 2010)
2.4 Tổng quan chung ngành Thủy Sản Việt Nam
2.4.1 Tình hình thủy sản Việt Nam
Theo kết luận của dự án nghiên cứu thị trường và tín dụng nghề cá Việt Nam (FAO, 2003) cho thấy nhu cầu tiêu thụ thủy sản của các hộ gia đình tại Việt Nam ngày càng tăng, trung bình 35,6 kg/người/năm Theo thói quen người Việt Nam đặc biệt ưa thích các sản phẩm thủy sản hay thủy sản nói chung, do đó nhu cầu về thủy sản ở Việt Nam trong tương lai sẽ còn tăng cao hơn nữa theo mức tăng trưởng kinh tế của cả nước Ngày nay, thủy sản là một trong những thế mạnh của Việt Nam, một ngành sản xuất hàng hóa thống nhất, có tính cạnh tranh cao, có tỷ trọng đóng góp hàng đầu trong
cơ cấu GDP (Tổng sản phẩm quốc nội) các ngành nông – lâm – ngư nghiệp và trong
Trang 22nền kinh tế quốc dân hiện nay Ngành thủy sản đã đóng góp 4% cho GDP, 8% cho giá trị hàng hóa xuất khẩu và 10% việc làm trên cả nước
Theo dự báo của FAO (2009), thị trường thủy sản thế giới đang tăng trưởng rất nhanh với 38% sản lượng thủy sản được giao dịch quốc tế, trong đó đối với các nước đang phát triển tiếp tục khẳng định vị trí của mình trong ngành thủy sản, chiếm 50% sản lượng thương mại thủy sản toàn cầu, chiếm 27% giá trị Tuy nhiên, hiện nay trước
sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, nhu cầu nhập khẩu thủy sản ở các thị trường chính của nước ta như Nhật Bản, EU, Mỹ, Hàn Quốc… đều sụt giảm và thủy sản nói chung đều phải chịu sức ép giảm giá do nhu cầu tiêu dùng trên tất cả các thị trường đều giảm Theo số liệu của Tổng Cục Hải quan Việt Nam cho biết giá xuất khẩu trung bình thủy sản Việt Nam có dấu hiệu sụt giảm liên tục cụ thể là năm 2007 là 4,06 USD/kg, năm 2008 (tháng 1 đến 20/12) là 3,66 USD/kg và năm 2009 (9 tháng đầu năm) là 3,62 USD/kg, đặc biệt năm 2010 là năm mà thủy sản gặt hái được nhiều thành công nhất vì nền kinh tế thế giới đang dần được khôi phục nhanh chóng và giá xuất khẩu trung bình là 3,71 USD/kg (nguồn: VASEP, 2010)
Trước những rủi ro và thách thức thì toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế là cơ hội thuận lợi cho thủy sản Việt Nam gia nhập vào thị trường xuất khẩu thế giới Theo Fishnet (2008), ngành thủy sản đóng góp một phần rất quan trọng cho việc đảm bảo an ninh lương thực, nguồn chất dinh dưỡng, sinh kế, tạo thu nhập và công ăn việc làm cho người dân nông thôn nhưng dưới sức ép của nền kinh tế quốc tế cạnh tranh thủy sản Việt Nam năm 2010 lại đứng trước những khó khăn mới, những rào cản kỹ thuật
từ phía các nhà nhâp khẩu Vấn đề đặt ra là nếu trước đây thủy sản Việt Nam luôn gặp trở ngại bởi các rào cản thương mại (chống bán phá giá, an toàn vệ sinh thực phẩm…) thì nay phải đối mặt với các luật mới về kỹ thuật, đặc biệt là luật IUU (Quy định về hoạt động đánh bắt bất hợp pháp, không có báo cáo và cũng không có quy định nào) bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2010 Theo luật này, các sản phẩm nhập khẩu vào EU phải có giấy chứng nhận đánh bắt, phù hợp với quy định của pháp luật và các quy định quốc tế về quản lý và bảo tồn nguồn lợi thủy sản
Về thị trường xuất khẩu thì EU, Mỹ, Nhật Bản, Nga vẫn là 4 thị trường truyền thống của nước ta Theo Vietlinh (2010), thủy sản có tốc độ tăng trưởng mạnh, đặc biệt là với lĩnh vực xuất khẩu, ưu tiên đầu tư cho các sản phẩm chủ lực như: cá tra,
Trang 23nhuyễn thể, tôm… Theo số liệu của Tổng cục hải quan Việt Nam, EU là thị trường đầu
ra lớn nhất cho cá tra với tổng kim ngạch nhập khẩu là 531 triệu USD chiếm tỷ trọng
37,1% và giá xuất khẩu trung bình 8 tháng đầu năm 2010 ở mức 2,8 USD/kg do giá nguyên liệu trong nước đã lên đến 17.500-18.000 đồng/kg, tuy nhiên nếu là thị trường riêng lẻ thì Mỹ lại nước nhập khẩu cá tra lớn nhất đối với Việt Nam, giá xuất khẩu bình quân tháng 11/2010 đạt 3,24 USD/kg, thấp hơn so với 3,26 USD/kg của tháng 11/2009 Còn đối với nhuyễn thể thì giá xuất khẩu trung bình có xu hướng ngày càng gia tăng Với các thị trường chính: EU, Hàn Quốc, Nhật thì giá xuất khẩu trung bình lần lượt là 3,3; 4,08; 5,88 USD/kg, cao hơn 2,78; 3,30; 5,68 USD/kg so với cùng kỳ năm 2009 Riêng năm 2011 giá xuất khẩu 4 tháng đầu năm sang các thị trường có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó Thụy Sĩ là nước nhập khẩu có giá trung bình cao nhất 4,43 USD/kg, tiếp đến là Nhật Bản 4,25 USD/kg và Châu âu là 2,6 USD/kg… Ngược lại, tháng 4/2011 giá xuất khẩu trung bình của nhuyễn thể (nghêu) sang các thị trường vẫn tiếp tục tăng trưởng âm ở 2,66 USD/kg
Tuy nhiên dư âm của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, tác động của lạm phát vẫn còn đó Để tìm đầu ra cho các sản phẩm của mình các doanh nghiệp quay trở lại tìm kiếm cơ hội ở thị trường nội địa Lợi dụng sự quan tâm của người dân về an toàn
vệ sinh thực phẩm, giá trị dinh dưỡng và vấn đề sức khỏe thì việc ăn sản phẩm nào để giảm bớt nguy cơ các bệnh về tim mạch, béo phì, cao huyết áp…là mục tiêu để các doanh nghiệp quay về với thị trường nội địa nhưng thị trường nội địa vẫn chưa được các doanh nghiệp đầu tư đúng mức, thị hiếu tiêu dung vẫn chưa được khảo sát cụ thể
và rõ ràng
2.4.2 Lợi thế để phát triển ngành thủy sản
Ở vị trí trung tâm khu vực Đông Nam Á Việt Nam nổi lên với hình dáng uốn cong, được sự bao bọc của biển Đông hùng vĩ và dãy đất liền rộng 330.991 km2
, khoảng 1 triệu km2 trải dài ở các tỉnh thành ven biển là phần lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của đất nước Đồng thời với hơn 1,4 triệu ha mặt nước nội địa là tài sản
có thể khai thác và nuôi trồng thủy sản Việt Nam có trên 3.260 km bờ biển, 12 đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa sông, lạch và hơn 3.000 hòn đảo và đảo nhỏ nằm rải rác ngoài khơi Hệ thống sông ngòi nội địa là kênh rạch chằng chịt, nhiều hồ thủy lợi, thủy điện tạo tiềm năng lớn về mặt nước khoảng 1.700.000 ha, trong đó có 811.700 ha mặt
Trang 24nước ngọt, 635.400 ha mặt nước lợ cửa sông ven biển và 125.700 ha eo vịnh có khả năng phát triển thủy sản, chưa kể mặt nước các sông và khoảng 300.000 – 400.000 ha đầm phá ven biển có thể sử dụng vào nuôi trồng thủy sản chưa được quy hoạch
Hiện nay, có thể ước tính có đến xấp xỉ 2.000 loài thủy hải sản, trong đó có khoảng 130 loài có giá trị kinh tế cao thuộc chủ quyền mặt nước của ta Đặc biệt nhất
là 2 vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long rất thuận lợi cho đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Riêng đồng bằng sông Cửu Long là vùng có nhiều ao hồ tự nhiên, hệ thống kênh, rạch dày đặc và là một trong những khu vực thủy sản mang lại hiệu quả nhất Bên cạnh đó, hàng năm mưa bão, lũ lụt, hạn hán vẫn thường xuyên xảy ra tạo ra nhiều hạn chế cho ngành Công nghiệp thủy sản Tiềm năng phát triển của ngành thủy sản Việt Nam là rất lớn không chỉ về kinh tế, môi trường mà cả về an ninh lương thưc
và an ninh xã hội Hàng năm sản xuất thủy sản tăng trưởng trung bình 7,05% 2000) và 10,25% (2001-2010), sự tăng trưởng này chủ yếu là do diện tích nuôi trồng thủy sản ngày càng được mở rộng và thị trường nội địa đang dần được cải thiện theo
(1991-sự tăng dân số, nhu cầu và mức sống của người dân tăng lên
Gia nhập WTO, Việt Nam đã mở rộng được thị trường xuất khẩu hơn, làm quen
và thích nghi hơn với luật thương mại của các nước Với cơ cấu dân số trẻ, thủy sản Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào
Các dịch bệnh xảy ra trên heo (dịch tai xanh), gà (cúm H5N1, H1N1), bò (lở mồm long móng) khiến người tiêu dùng e ngại sử dụng các loại thực phẩm này và chuyển sang sử dụng các sản phẩm từ thủy sản Các dịch bệnh trên đã làm tăng mức tiêu thụ thủy sản
2.4.3 Thách thức của ngành thủy sản
Dù có nhiều tiềm năng lớn cho tăng trưởng thủy sản nhưng hiệu quả lại chưa cao
vì ngành thủy sản Việt Nam vẫn đang trong tình trạng quy hoạch nhỏ lẻ, tự phát, thiếu tính chiến lược dẫn đến “khủng hoảng” nguyên liệu lúc thừa lúc thiếu và thiếu tính cạnh tranh trên thị trường
Việc gia nhập WTO sẽ mang lại nhiều cơ hội cho thủy sản Việt Nam thâm nhập thị trường quốc tế nhưng điều này cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam xuất khẩu thủy sản sẽ đối đầu với những rào cản kỹ thuật mới khắt khe hơn về an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn về môi trường tương tự như các vụ kiện chống bán phá giá trước đây
Trang 25Ngoài sự thiếu liên kết trong kinh doanh giữa các nhà nuôi trồng, nhà kỹ thuật, nhà doanh nghiệp… thì dịch bệnh xảy ra hàng loạt trên nhiều vùng nuôi thủy sản trọng điểm dẫn đến tình trạng thiếu nguyên liệu, người dân thì bỏ ao nuôi vì thua lỗ Tất cả những nguyên nhân trên đã làm cho giá cả nguyên liệu đầu vào, đầu ra không ổn định tạo nên sự chênh lệch, ảnh hưởng đến khả năng trong xuất khẩu nước ta ra thị trường thế giới Tuy nhiên, thủy sản Việt nam cũng rất khó khăn khi tiêu thụ trong nước vì thoái quen tiêu dùng thủy sản tươi sống do người dân tự đánh bắt được, hay sự lãng quên trong việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu đối với người tiêu dùng thủy sản
2.5 Giới thiệu về thị trường thủy sản Việt Nam
2.5.1 Đặc điểm thị trường nội địa và các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường nội địa
Ngày nay, nếu xét đến sự đóng góp của cơ cấu ngành nông nghiệp vào nền kinh
tế của đất nước thì ngành thủy sản có đóng góp tương đối cao gần 70% trong tổng GDP của đất nước Ngành có thể tạo ra với rất nhiều loại sản phẩm, thỏa mãn cho nhiều nhu cầu tiêu dùng ở các cấp độ khác nhau, thủy sản có thể thích hợp cho tiêu thụ nội địa và tiêu thụ xuất khẩu vì thủy sản là nguồn thực phẩm phong phú, hàm lượng dinh dưỡng cao
Đối với thị trường nội địa thì mối quan hệ giữa cung – cầu và giá cần được quan tâm nhiều hơn Đã từ lâu vì chạy theo lợi nhuận mà nhiều doanh nghiệp đã quay lưng
hờ hững với thị trường thủy sản trong nước, họ quên rằng với tốc độ tăng dân số hiện nay thì nhu cầu và mức sống của người dân cũng được nâng lên rất nhiều, với hơn 85 triệu người thì Việt Nam cũng là một thị trường tương đối Theo các nghiên cứu của FAO từ cuối năm 2001 cho đến nay thì lượng tiêu dùng thủy sản hàng năm của người tiêu dùng thủy sản nội địa ở 12 tỉnh, thành khác nhau là 70% có nghĩa là thị trường nội địa đang rất được quan tâm, đặc biệt là sản phẩm cá tra đông lạnh trở thành tâm điểm cho người tiêu TP.HCM Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây cho thấy người tiêu dùng Việt Nam đa số thích các sản phẩm cá tươi nhưng khi cuộc sống ngày càng bận rộn thì thực phẩm đông lạnh là một sự lựa chọn tốt cho những ai muốn tiết kiệm thời gian nấu nướng
Mặt khác với hàng nghìn chợ thủy sản lớn nhỏ trên thị trường nội địa rất đa dạng về loại hình như: chợ vùng nguyên liệu, chợ vùng tiêu thụ, các chợ đầu mối, các
Trang 26chợ bán sỉ, bán lẻ…thêm vào đó là giá cả hợp lý, giàu đạm, ít cholesterol tạo thành một mạng lưới tiêu thụ thủy hải sản, và người tiêu dùng Việt Nam
Những yếu tố ảnh hưởng đến thị trường nội địa
Để có được một ngành thủy sản vững mạnh và ổn định thì trước hết cần phải chú ý đến các yếu tố tự nhiên và khách quan, yếu tố này luôn tạo ra những bất ngờ và tai hại không thể lường trước được Mưa bão, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh đều là những nguy cơ có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối với thủy sản Do đó công tác chuẩn bị và dự đoán và phòng ngừa là rất cần thiết cho những ai quan tâm đến thủy sản vì một khi chúng xảy ra rồi thì sẽ rất khó khắc phục, thiệt hại mà chúng đem lại là vô cùng lớn,
nó có thể làm cho thủy sản mất đi tính ổn định về giá, sản lượng và cả về chất lượng Đặc tính dễ ươn dễ hỏng luôn là nỗi lo trong quá trình bảo quản, dự trữ Ngành thủy sản Việt Nam đi lên con đường hội nhập từ một nước nông nghiệp lạc hậu thì sự hạn chế về công nghệ khoa học, kỹ thuật bảo quản, chế biến, thu gom còn rất xa so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu và cũng đã tác động trực tiếp đến sự phát triển của thị trường trong nước Người tiêu dùng trong nước ngày càng thờ ơ với những sản phẩm thiếu công nghệ, thiếu sự tin tưởng vào sản phẩm và đặc biệt họ đòi hỏi rất cao về tính an toàn thực phẩm và sự mới lạ về sản phẩm cũng như đặc tính tiện dụng của chúng
Những biến động về kinh tế trong khu vực và thế giới trong thời gian qua làm cho sản phẩm thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới khó tiêu thụ nên thị trường trong nước trở thành cơ hội cho các doanh nghiệp muốn thu hồi vốn Nếu không xuất khẩu được thì một lượng lớn hàng hóa trong nước sẽ tăng lên và giá bán sẽ rẻ và gây ra biến động thị trường là điều không thể tránh khỏi
2.5.2 Vai trò của ngành thủy sản đối với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam
Ngoài việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm cho con người và thức ăn cho chăn nuôi Ngành còn có vai trò tạo thêm nguồn ngoại tệ mạnh cho công cuộc phát triển của đất nước vì đây ngành có đóng góp hàng đầu cho tổng kim ngạch sản phẩm nông nghiệp quốc gia, là ngành có tốc độ xuất khẩu cao nhất nước Sau đây là một vài đóng góp của ngành
Trang 27Đóng góp GDP vào nền kinh tế quốc gia
Theo Fishnet (2010), thủy sản liên tục vượt mức chỉ tiêu đề ra trong giai đoạn 2008-2010, đã vươn lên trở thành một trong ba mặt hàng của ngành nông nghiệp có xuất khẩu trên 1 tỷ USD Năm 2008 kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 4,509 tỷ USD
so với 4 tỷ USD đề ra cho năm 2010 Trong khi đó, năm 2010 tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước đạt 4,94 tỷ USD, vượt kế hoạch 6,5% và tăng 16,3% so với năm 2009 Nhìn chung, thủy sản luôn mang về nhiều bất ngờ và thú vị cho nền kinh tế nước ta, có thể nói xuất khẩu thủy sản năm 2010 về đích sớm hơn mong đợi
Mặc dù tỷ trọng của nông-lâm-ngư nghiệp trong GDP theo khuynh hướng chung ngày càng giảm khi giá trị thực của tổng sản lượng và tổng giá trị không ngừng gia tăng Nhưng riêng tỷ trọng của ngành thủy sản trong tổng GDP Việt Nam vẫn luôn theo chiều hướng gia tăng hàng năm Từ đó có thể nói rằng thủy sản luôn giữ vai trò quan trọng trong tổng GDP dù gặp nhiều thử thách trên thị trường
Mức độ giải quyết lao động
Bên cạnh tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động ngày một gia tăng của cả nước Hằng năm có khoảng 3,5-4 triệu lao động tham gia nghề cá, mà nuôi trồng thủy sản đã sử dụng khoảng 1 triệu lao động và hơn 1 triệu lao động khác tham gia các dịch
vụ trong toàn ngành Ngành đã từng bước cải thiện đời sống, vật chất và tinh thần cho nhân dân, với những bước đi mới ngành đã thực sự có những bước phát triển mới mẻ trong việc chủ động kết hợp giữa khai thác, nuôi trồng và chế biến để phục vụ cho tiêu dùng, làm tăng năng suất lao động nên sản lượng và chất lượng sản phẩm thủy sản cũng dần được cải thiện và nâng cao Với việc làm này ngành đã không những giải quyết thêm nhiều công ăn việc làm cho lao động nông thôn và ven biển mà còn tạo thu nhập cho những người lao dộng
Mức độ làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Ngày nay Việt Nam có đầy đủ các điều kiện để phát triển toàn diện một nền kinh
tế biển Nếu như trước đây việc lấn ra biển, ngăn chặn những ảnh hưởng của biển để
mở rộng đất đai canh tác là định hướng của một nền nông nghiệp lúa nước thì hiện nay việc tiến ra biển, kéo biển lại gần sẽ là định hướng khôn ngoan cho một nền kinh tế công nghiệp hóa và hiện đại hóa Trước đây, sự xâm nhập của nước mặn được coi là một thảm họa cho nền nông nghiệp canh tác lúa nước, nhưng ngày nay nó lại trở thành
Trang 28tiềm năng cho nuôi trồng thủy sản nước mặn và nước lợ vì hoạt động nuôi trồng thủy sản có thể cho hiệu quả canh tác gấp hàng chục lần hoạt động canh tác lúa nước Trong quá trình chuyển đổi kinh tế phần lớn diện tích canh tác nông ngiệp kém hiệu quả đã
được chuyển sang nuôi trồng thủy sản, giá thủy sản xuất khẩu trên thị trường những
năm gần đây tăng đột biến, ngược lại giá các loại nông sản xuất khẩu khác lại bị giảm sút liên tục nên nhu cầu chuyển đổi cơ cấu diện tích giữa nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp càng trở nên cấp bách và cần thiết Công cuộc chuyển đổi này mạnh mẽ vào các năm 2000 – 2002, tuy nhiên từ năm 2003 đến nay ở nhiều vùng vẫn tiếp tục
chuyển đổi mạnh, năm 2003 đạt 49.000 ha và năm 2004 đạt 65.400 ha Việc làm này
đã từng bước góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng ven biển, nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho nông dân
2.6 Những sự kiện, yếu tố tác động đến giá các mặt hàng thủy sản Việt Nam trong những năm gần đây
2.6.1 T ác động của vụ kiện bán phá giá cá tra đến giá mặt hàng thủy sản
Dù chỉ là một nước nhỏ, một nước đang phát triển đang trên đường tiến lên công nghiệp hóa - đại hóa đất nước mà thủy sản là một trong những nguồn động lực giúp ta thực hiện mục đích đó Vì thủy sản là ngành thu về ngoại tệ lớn cho đất nước Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới sẽ tạo nhiều cơ hội hơn nữa cho thủy sản Việt Nam trong con đường phát triển thị trường xuất khẩu nhưng đồng thời cũng có không ít những thách thức Khi Việt nam gia nhập WTO, bắt đầu hội nhập kinh tế cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận những nguyên tắc của thương mại quốc tế, nó có thể là vô số những hàng rào thương mại phi thuế quan ở các nước nhập khẩu nhằm bảo
hộ, hạn chế tự do thương mại dưới nhiều hình thức như: chống trợ cấp, tự vệ… và chống bán phá giá là một trong những hình thức phổ biến nhất mà xuất khẩu thủy sản Việt Nam hay gặp nhất Để nhập khẩu vào thị trường Mỹ cá tra Việt Nam không ngừng nổ lực nâng cao sản lượng cũng như chất lượng để đáp ứng đòi hỏi khắt khe của thị trường Nhưng khi đó không còn là trở ngại cho thủy sản Việt Nam thì một hình thức khác được coi là một trong những rào cản nhập khẩu được hình thành, đó là chống bán phá giá, đặc biệt xảy ra trên sản phẩm thủy sản chủ lực cá tra Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ đã sớm lo ngại về sự xâm nhập ngày càng lớn mạnh của cá tra Việt Nam ở Mỹ sẽ ức chế các sản phẩm cá nheo của họ có hình dạng tương tự cá
Trang 29tra Việt Nam nên họ đã gửi đơn kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá các sản phẩm này vào thị trường Mỹ Từ đó chống bán phá giá cá tra trên thị trường Mỹ được hình thành và trở thành rào cản nguy hiểm cho các sản phẩm thủy sản nhập khẩu vào
Mỹ Sau một thời gian đấu tranh cho sự thật nhưng kết quả cũng không có gì thay đổi
so với đơn kiện Theo kết quả của DOC (United States Department of Commerce: Bộ Thương mại Mỹ) về chống bán phá giá cá tra Việt Nam ở Mỹ thì giá cá tra, basa bị sụt giảm, hàng loạt sản phẩm cá tra không xuất khẩu được kéo theo thu nhập của công nhân và người lao động cũng bị giảm sút Trong nền kinh tế cạnh tranh quyết liệt những rào cản thương mại và kỹ thuật các doanh nghiệp thủy sản để tồn tại và chiếm lĩnh thị trường thì giá cả là một trong bốn công cụ giúp họ cạnh tranh với nhiều hình thức khác nhau đã nhiều ảnh hưởng cho đối thủ như các vụ kiện chống bán phá giá trong những năm gần đây cho thủy sản Việt Nam, đồng thời nó cũng là công cụ trực tiếp tạo ra doanh thu và lợi nhuận thực tế
2.6.2 T ác động của việc gia nhập WTO và chứng chỉ MSC đến giá các mặt hàng thủy sản
Tác động của việc gia nhập WTO:
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là tổ chức kế thừa Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) bắt đầu hoạt động từ 1/1/1995 nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho sự phát triển hệ thống thương mại đa biên, thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại quốc tế, đảm bảo cạnh tranh công bằng, lành mạnh, xoá bỏ dần các rào cản trong thương mại quốc tế Từ đó cho đến nay, WTO đã không ngừng mở rộng quy mô lẫn phạm vi hoạt động của mình nhằm tạo ra hệ thống những qui tắc thương mại, một hành lang pháp lý góp phần đẩy nhanh tiến hành tiến trình toàn cầu Tuy nhiên, quá trình hoạt động của WTO không phải lúc nào cũng có lợi, lúc nào cũng đảm bảo được
sự công bằng cho các nước thành viên, nhất là đối với các nước đang phát triển Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của WTO vào ngày 7/11/2006 Gia nhập WTO Việt Nam đã mở rộng được thị trường xuất khẩu, tiếp cận và thích nghi hơn với luật thương mại các nước Khi càng có nhiều thị trường thì thủy sản Việt Nam càng có nhều khả năng cho việc hình thành giá vì giá cả thị trường được hình thành trên cơ sở giá thị trường
Trang 30Về thuận lợi
Việc gia nhập WTO sẽ mang lại cơ hội cho sản phẩm thủy sản Việt Nam trong việc thâm nhập thị trường thế giới, bên cạnh nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường cũng nên quan tâm đến giá cả vì nó là yếu tố đánh giá sự hiểu biết của người mua về sản phẩm họ mua Sự ưu đãi hơn về thuế quan, xuất xứ hàng hoá, hàng rào phi thuế quan và những lợi ích kinh tế được đối xử công bằng, bình đẳng mà WTO mang lại đã tạo điều kiện cho thủy sản Việt Nam có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới
Về khó khăn:
Vì là nước đang phát triển, nên khả năng cạnh tranh của thủy sản Việt trên thị trường còn rất yếu, trình độ quản lý, trang thiết bị phục vụ cho sản xuất còn quá nhiều bất cập và thiếu thốn, những đòi hỏi của thị trường nhập khẩu thì ngày một khắt khe hơn Trong đó hàng rào về chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là mục tiêu cao nhất để các nhà nhập khẩu hình thành và chấp nhận giá
Sự mất cân đối giữa khu vực sản xuất nguyên liệu và khu vực chế biến xuất khẩu thì không nằm trong tầm kiểm soát của WTO nên việc thừa thiếu nguyên liệu cho sản xuất, thiếu nguồn cung cầu cho thị trường thì giá cả thay đổi theo thị trường như một nhu cầu tất yếu theo quy luật của thị trường
Vấn đề thương hiệu cũng được coi là một thách thức lớn cho thủy sản Việt Nam
vì hiện nay việc xuất khẩu các mặt hàng thủy sản Việt còn phụ thuộc rất nhiều vào thương hiệu Một thương hiệu mạnh là nền tảng căn bản cho các nhà nhập khẩu chú ý
và đầu tư Nếu không nâng cao được sức cạnh tranh và thương hiệu thì thủy sản Việt không những sẽ đuối sức trong cuộc đua xuất khẩu với những đối thủ mạnh của châu
Á và châu Mỹ, mà còn bị đánh bại ngay chính trên lãnh thổ
Chứng chỉ MSC
Trong bối cảnh xúc tiến thương mại thủy sản, Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn trong xuất khẩu thì chứng chỉ MSC ra đời vào đầu tháng 11/2009 có giá trị như một giấy thông hành, đảm bảo phát triển thủy sản an toàn và là thương hiệu bảo hộ cho các sản phẩm thủy sản Việt Nam Sản phẩm mang nhãn hiệu MSC, nghêu Bến Tre đã được người tiêu dùng thế giới rất ưa chuộng không chỉ bởi giá trị dinh dưỡng có trong nghêu mà còn bởi đây là sản phẩm sạch, đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm của
Trang 31EU - thị trường nghêu nhập khẩu lớn nhất Việt Nam Ngành nuôi và khai thác nghêu Bến Tre là ngành ngư nghiệp đầu tiên của Việt Nam và khu vực Đông nam Á được cấp chứng nhận MSC Trên Website của mình MSC đánh giá nghêu Bến Tre là loài thủy sản được khai thác hoàn toàn bằng tay và loại cào nhỏ bằng sắt với túi lưới để lược nghêu đúng kích cỡ, trả nghêu non, trở về với vùng đất bồi giàu phù sa ở các cửa
sông ven biển Bến Tre Với mục đích khuyến khích phát triển mô hình sinh thái bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học, MSC được xem xét vận dụng cho sự phát triển bền vững các đối tượng nuôi khác như tôm sú, cá tra…
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam từ 1/1 – 15/11/2009, xuất khẩu nghêu của cả nước đạt 17.624 tấn, trị giá trên 37,2 triệu USD, tăng 49,6% về khối lượng và 50,3% về giá trị so với cùng kì năm 2008 Giá xuất khẩu trung bình năm
2009 là 2,11 USD/kg và theo đà tăng trưởng dương Chỉ trong vòng 1 năm mà giá xuất khẩu nghêu đã tăng hơn 3 USD/kg
Ngày nay, khi nghề khai thác nghêu ở Bến Tre đánh giá theo tiêu chuẩn MSC thì giá bán của sản phẩm này đã tăng lên từ 25-30% Với nhãn hiệu sản phẩm sạch, an toàn vệ sinh thực phẩm đã không ngừng kích thích sự tăng giá của sản phẩm này trên thị trường, đồng thời cũng góp phần vào việc mở rộng thị trường tiêu thụ trên thế giới ( theo Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre, 2010)
2.6.3 Tác động của các dịch bệnh trên gia súc, gia cầm đến giá các mặt hàng thủy sản
Động vật thủy sản là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng, giàu đạm, là loại thực phẩm có đường tăng trưởng dương theo xu hướng tăng trưởng kinh tế và tăng dân số Ngày nay, mức sống của người dân đang dần được nâng lên thì vấn đề sức khỏe cũng được quan tâm nhiều hơn, đặc biệt khi các dịch bệnh trên heo (dịch heo tai xanh), gà (cúm H5N1, H1N1), bò (lở mồm long móng) người tiêu dùng trở nên e ngại sử dụng các sản phẩm trên Vì nhu cầu sức khỏe họ đã chuyển sang tiêu dùng thủy sản ngày càng nhiều hơn so với trước đây, từ đó nhu cầu tiêu dùng thủy sản trên thị trường đột biến tăng lên với mức giá cạnh tranh và gần như chiếm lĩnh thị trường
Trang 322.6.4 Tác động của các yếu tố cung, cầu trên thị trường đến giá các mặt hàng thủy sản
Qua thực tiễn sản xuất thuỷ sản Việt Nam luôn có những biểu hiện không hoàn toàn tuân theo quy luật cung-cầu thông thường như những hàng hóa khác Khi nguồn cung thiếu hụt sẽ khiến mức giá thủy sản tăng lên và sẽ tác động mạnh đối với những người tiêu dùng có mức thu nhập thấp Quy luật cung cầu sẽ quyết định trực tiếp mức giá hình thành trên thị trường Mức giá thị trường giữ chức năng cân đối cầu cung ở ngay thời điểm mua bán, đồng thời chỉ cho các nhà sản xuất biết cần phải giảm hoặc tăng khối lượng sản xuất, khối lượng hàng hóa cung ứng ra thị trường Xét về thời gian thì giá cả trên thị trường là cái có trước quan hệ cung-cầu
Sự gia tăng giá thành sản xuất chế biến là do tăng chi phí cho các hoạt động phục
vụ sản xuất và tăng giá lao động, những yếu tố này tiếp tục duy trì xu hướng gia tăng
về giá thủy sản Tuy nhiên, xu hướng tăng giá thủy sản sẽ không lớn do thủy sản là nhóm thực phẩm có khả năng thay thế cao giữa các loại thủy sản với nhau
Thực tế thì giá trung bình xuất khẩu thủy sản liên tục giảm qua các năm do tính cạnh tranh của thị trường Cạnh tranh là quy luật của nền kinh tế thị trường, hoạt động phổ biến trên thị trường Các doanh nghiệp vẫn lợi dụng giá như một vũ khí lợi hại để chiếm lĩnh thị trường và trong điều kiện thị trường có sức mua hạn chế thì giá cả là công cụ cạnh tranh quan trọng, là một trong những yếu tố linh động nhất của hệ thống marketing-mix vì giá có thể thay đổi nhanh chóng, không giống như tính chất của các sản phẩm, và giá cả còn là yếu tố quyết định mức độ lẫn khả năng bù đắp chi phí sản xuất và có thể đạt đến mức lợi nhuận nhất định
2.6.5 T ác động của lạm phát, tỷ giá và sự suy thoái kinh tế đến giá các mặt hàng thủy sản
Tác động của lạm phát
Sự mất cân bằng giữa cung và cầu nguyên nhân làm cho giá cả biến động mà sự biến động của giá cả sẽ phát sinh lạm phát Trong điều kiện bình thường của một nền kinh tế, giá cả là yếu tố quyết định lượng tiền tệ trong lưu thông và có ảnh hưởng đến tốc độ lưu thông tiền tệ Giá cả quyết định sức mua của tiền tệ và ngược lại tiền tệ cũng ảnh hưởng rất lớn đến giá cả Nếu số tiền giấy thực tế trong lưu thông không vượt quá yêu cầu cần thiết thì nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội tăng lên và
Trang 33lượng tiền trong lưu thông phải nhiều hơn khi sức mua thực của tiền tệ giảm sút Nên lượng tiền này làm cầu tăng lên và do đó làm giá tăng, nếu ngược lại giá cả sẽ giảm xuống Quan hệ này tạo thành vòng xoáy giá-tiền, tiền-giá, giá-giá và tất yếu dẫn đến lạm phát Các mối quan hệ này có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp đòi hỏi vốn hoạt động lớn, chu kỳ kinh doanh kéo dài…Nghiên cứu mối quan hệ giá cả-tiền tệ có thể giúp các doanh nghiệp
dự báo chính xác hơn sự biến động giá cả hàng hóa do mình sản xuất và những hàng hóa có liên quan
Hoạt động nuôi trồng, chế biến thủy sản là các hoạt động lớn, có chu kỳ kinh doanh dài thì quan hệ giá cả-tiền tệ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến giá cả thủy sản nên cần phải có chương trình quản lý giá cả hợp lý đòi hỏi phải sử dụng đồng bộ 2 phạm trù giá cả và tiền tệ
Thực tế sự mất giá liên tục của tiền Việt Nam trong những năm qua đã đạt tới mức khá cao 5,32% (2010) xét đến cùng là do lạm phát cao ở các năm để lại Lạm phát
ở các năm trước cao là do cung tiền ở các năm trước đó cao Vì thế, sự leo thang giá cả
ở Việt Nam năm 2010 vẫn cao, do mức cung tiền vẫn đang ở mức cao , do sự tích tụ của các mức cung tiền cao từ những năm trước đó mà biểu hiện là sự mất giá của tiền
tệ
Tóm lại sự thay đổi tăng giảm của giá cả là do ảnh hưởng một phần từ lạm phát Khi lạm phát ở mức cao sẽ dẫn đến sự mất giá của tiền tệ, điều này sẽ rất thuận lợi cho xuất khẩu nhưng bất lợi cho nhập khẩu Lạm phát xét về nguồn gốc là hậu quả tất yếu của một nền kinh tế mất cân đối với tình trạng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh
tế luôn ở mức thấp
Tác động của tỷ giá
Từ năm 2007 đến nay, thâm hụt thương mại của Việt Nam ngày càng gia tăng mang tính chất của một hệ thống Năm 2007 thâm hụt 10,36 tỷ và 12,28 tỷ USD (2008); 7,04 tỷ USD (2009) (Nguồn: Thống kê tài chính quốc tế của IMF, tính trên cơ
sở hàng xuất theo giá FOB, hàng nhập theo giá FOB) Điều này như là một gánh nặng đối với cán cân thanh toán quốc tế và làm cho tài khoản vãng lai rơi vào tình trạng thâm hụt
Trang 34Thủy sản Việt Nam là một trong những ngành xuất khẩu chủ yếu của quốc gia, đặc biệt khi nền kinh tế thị trường càng phát triển, càng sôi động thì 2 yếu tố giá trị của hàng hóa thủy sản và giá cả của tiền tệ có liên quan chặt chẽ với nhau trong giá cả hàng hóa thủy sản Để quản lý giá cả thị trường thủy sản thì không thể chỉ chú ý đến việc quản lý và điều tiết thị trường hàng hóa, mà còn cần chú ý cả việc quản lý và điều tiết thị trường tiền tệ hay nói cách khác là cần phải chú ý đến tỷ giá vì tỷ giá là tỉ lệ giữa đồng tiền trong nước với đồng tiền ngoại tệ
Việc quản lý giá cả hàng hóa (thủy sản) phải đặt trong mối quan hệ với việc quản lý giá cả của đồng tiền trong nước (nội tệ) Giá cả của đồng tiền được thể hiện ở lãi suất tiền gửi và tiền vay Trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát cao và siêu lạm phát, để thu hút tiền vào ngân hàng, Chính phủ thường quyết định lãi suất tiền gửi và tiền vay phải cao hơn tỷ lệ lạm phát (tốc độ tăng giá) và phải chấp nhận lãi suất tiền vay thấp hơn tiền gửi Trong điều kiện nền kinh tế phát triển bình thường hoặc có tỷ lệ lạm phát thấp, lãi suất tín dụng phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường tiền tệ, song phải đảm bảo lãi suất cho vay lớn hơn lãi suất tiền gửi và lớn hơn tốc độ tăng giá
để doanh nghiệp vay tiền kinh doanh vẫn có lãi Đây là biện pháp rất quan trọng để giữ giá đồng tiền và giá cả hàng hóa
Đồng thời để quản lý được giá hàng hóa cần phải quản lý được giá đồng ngoại
tệ (nhất là ngoại tệ mạnh) Trong nền kinh tế mở ngoại tệ vừa với tư cách là tiền tệ trong thanh toán quốc tế, vừa với tư cách là một loại hàng hóa (vàng) Giá vàng và ngoại tệ mạnh ảnh hưởng nhiều tới giá của các hàng hóa khác Vì việc xuất nhập khẩu phải sử dụng ngoại tệ, nên giá cả của ngoại tệ ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động xuất, nhập khẩu và giá cả các hàng hóa xuất, nhập khẩu…
Tuy nhiên, trên lý thuyết muốn duy trì tỷ giá ổn định phải cân đối được cung cầu ngoại tệ Nói cách khác điều hành tỷ giá phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cán cân thương mại, cán cân vốn và cán cân vãng lai Muốn điều hành tốt tỷ giá thì phải cân đối được nguồn vốn vào, nguồn vốn ra và tỷ giá phải được xác định theo cung-cầu thị trường và chịu sự điều tiết của Nhà nước (theo Thống đốc ngân hàng Nhà nước) Ngày 10/2/2010, ngân hàng nhà nước quyết định điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng từ mức 17,941 VND/USD lên mức 18,544 VND/USD, với lãi suất 1% nhằm mục đích cân đối
Trang 35cung cầu ngoại tệ, tạo điều kiện kiểm soát cung tiền, khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, góp phần ổn định nền kinh tế vĩ mô
Ngày nay có nhiều ý kiến cho rằng nên để đồng Việt Nam mất giá nhiều hơn nữa để khuyến khích xuất khẩu vì khi điều chỉnh tỷ giá sẽ đem lại lợi ích xuất khẩu, nhưng lại tạo áp lực lên nguồn cung nguyên liệu Điều chỉnh tỷ giá VND/USD của Ngân hàng Nhà nước mới đây sẽ giúp các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản được lợi
do thu về từ xuất khẩu bằng đồng USD Tuy nhiên, khi tỷ giá tăng sẽ làm cho nhập khẩu nguyên liệu gặp khó khăn, áp lực làm nguyên liệu đầu vào có xu hướng tăng giá, ảnh hưởng đến giá thành sản xuất, tức nội tệ bị mất giá ở mức cao do lạm phát ở mức cao Đối với Việt Nam việc phá giá tiền tệ mạnh liên quan đến 2 vấn đề, một là phá giá
có lợi cho xuất khẩu vì thu về ngoại tệ nhưng giá USD cao không có lợi cho nhập khẩu nhưng nhập khẩu giảm sẽ ảnh hưởng đến phát triển sản xuất và cơ cấu thương mại của Việt Nam quá phụ thuộc vào nhập khẩu, nhập khẩu giảm làm cho xuất khẩu giảm theo
Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu
Từ năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế bắt đầu hoạt động đã làm thu hẹp nhu cầu đối với hàng xuất khẩu của Việt nam, mà thủy sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đứng trước tình hình suy thoái kinh tế đang ảnh hưởng mạnh đến Việt Nam, các dòng vốn vào Việt Nam bị hạn chế, ngân hàng nhà nước đã chủ động điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng để tăng tính thanh khoản trên thị trường ngoại tệ, người tiêu dùng thì thay đổi thoái quen chi tiêu và chuyển sang các mặt hàng rẻ tiền hơn và mọi người sẽ giảm thiểu việc đi ăn bên ngoài Một cuộc khảo sát của Unilever, 2008 đối với 47.000 người tiêu dùng cho biết họ đã giảm thủy sản bán lẻ so với các mặt hàng khác, trước thực tế là các món ăn sẵn đông lạnh ế ẩm Khủng hoảng kinh tế đã tác động trực tiếp lên thói quen của người tiêu
dùng thủy sản Khi nền kinh tế khó khăn ai cũng thắt chặt chi tiêu và chuyển sang các loại thực phẩm rẻ tiền hơn so với thủy sản Ngày nay, các cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế đã được khắc phục, đời sống người dân cũng dần được nâng cao và ý thức về vấn đề sức khỏe, mọi người trở nên chủ động hơn trong vấn đề ăn uống, nhất
là các loại thủy sản từ tươi sống cho đến chế biến đông lạnh Phần lớn việc lựa chọn các loại thực phẩm thủy sản dựa vào sở thích và thói quen của từng người… và ngày nay các loại sản phẩm đông lạnh ngày càng được chú ý nhiều bởi tính năng an toàn,
Trang 36chế biến dễ và nhanh gọn rất thích hợp cho những ai không có đủ thời gian để chế biến, đặc biệt là nơi có nếp sống cao, những nơi đô thị
Trang 37Chương 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở lý luận
3.1.1 Các yếu tố ngoài giá tác động lên cầu của sản phẩm
Theo Lê Xuân Sinh (2010), cầu của một loại sản phẩm nào đó nhìn chung thường tuân theo định luật trong mối tương quan với giá, tuy nhiên còn có những ngoại lệ sau đây do tác động của các yếu tố ngoài giá:
− Các hợp phần khác ngoài giá có trong hàm cầu
− Tính mùa vụ của sản xuất như nhu cầu con giống, thức ăn theo các tháng trong năm
− Tâm lý sợ giá còn tiếp tục tăng (giảm) trong khi việc cung cấp sản phẩm thì thiếu (hoặc thừa)
− Các yếu tố tiếp thị có liên quan tới sản phẩm nghiên cứu (thông tin, khuyến mãi…)
3.1.2 Các yếu tố ngoài giá tác động lên cung của sản phẩm
Thông thường cung của một sản phẩm nào đó tuân theo định luật trong mối quan
hệ tương quan với giá, tuy nhiên còn có những ngoại lệ sau, đặc biệt là đối với nông lâm thủy sản (Lê Xuân Sinh, 2010)
− Các yếu tố ngoài giá như sự tiến bộ của công nghệ, giá của các yếu tố đầu vào
− Tính mùa vụ của sản xuất
− Tâm lý sợ giá còn tăng (giảm) nữa
− Chính sách điều tiết của nhà nước về thuế, bảo vệ môi trường…
Trang 383.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: từ tháng 2 đến tháng 7/2011
- Địa điểm: thu thập số liệu ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long gồm các tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long và Bến Tre cũng như ở TPHCM
- Giới hạn của đề tài: đề tài được thực hiện đối với hai sản phẩm cá tra và nghêu
là chủ yếu, dựa vào đó để đánh giá về mối quan hệ giá của thủy sản ở các thị trường
khác nhau giai đoạn 2007-2010
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
− Các loại số liệu được lấy theo từng tháng trong năm từ năm 2007 đến năm 2010
từ Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre và các Hợp tác xã Nuôi trồng thủy sản tỉnh Bến Tre,
Sở NN&PTNT tỉnh Vĩnh Long, Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư tỉnh Đồng Tháp
và Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam
− Tổng hợp các thông tin, số liệu thứ cấp trên các phương tiện thông tin đại chúng: thời báo kinh tế, các trang web có liên quan…
3.2.3 Phương pháp mô tả số liệu
− Số liệu được mô tả cụ thể theo từng tháng trong năm từ năm 2007 đến 2010
− Số liệu được xử lý bởi MS Excel 2003 với các mô hình sau đây:
Sự tương tác giá của các sản phẩm thủy sản theo mô hình Data Analysic
LnP it = θ 1 + θ 2 LnP jt +θ 3 LnP mt + θ 4 LnP nt + θ 5 LnP i(t-1) + θ 6 LnP i(t-6) + ε t (1)
dLnP it = θ 1 + θ 2 dLnP jt +θ 3 dLnP mt + θ 4 dLnP nt + θ 5 dLnP i(t-1) + θ 6 dLnP i(t-6) + ω t (2)
Trong đó:
P: Giá sản phẩm thủy sản trên thị trường
i, j, m, n: chỉ số thể hiện giá của từng loại sản phẩm trên thị trường (có giá trị: 1= trại nuôi, 2= chợ, 3= xuất khẩu vào Mỹ, 4= xuất khẩu tại Việt Nam và i ≠ j ≠ m ≠ n) ở thời điểm t
i= 5: chỉ số thể hiện giá của từng loại sản phẩm trên thị trường ở thời điểm t-1
i = 6: chỉ số thể hiện giá của từng loại sản phẩm trên thị trường ở thời điểm t-6
Trang 39: sai số ngẫu nhiên, thể hiện sự ảnh hưởng của các yếu tố khác lên giá bán tại
ao nuôi mà không được thể hiện trong phương trình
Sự cạnh tranh giá giữa các loại thủy sản theo mô hình LA_AIDS (The linear Approximate Almost Ideal Demand System) của Deaton và Muellbauer (1980)
∑
=
+ +
+
1
* ) ln(
ln
j
it t t i jt ij i
R α θ β ε (3)
Trong đó:
i = 1 4 với 1 = cá tra, 2 = nghêu, 3 = tôm, 4 = cá rô phi (điêu hồng),
Rit: thị phần tiêu dùng của sản phẩm nào đó tại thời gian t
Pjt: giá của sản phẩm nào đó tại thời gian t
Yt: tổng chỉ tiêu người tiêu dùng của 4 loại sản phẩm trên tại thời gian t
P*t chỉ số giá chung cho 4 sản phẩm trên
4
lnP *t= ∑Rit.lnPit
i =1
ln(Yt/P *t) = lnY*=lnP5
εit: sai số ngẫu nhiên
Để đánh giá thị phần tiêu dùng của cá tra và nghêu theo mô hình LA_AIDS phải dựa vào giá tôm (Bến Tre) và giá cá rô phi hay cá điêu hồng (Đồng Tháp) vì chúng là những đối tượng xuất khẩu chủ lực, dễ thu thập số liệu ở các tỉnh khảo sát
3.2.4 Chuỗi giá trị các sản phẩm thủy sản
Hình vẽ cho thấy chuỗi giá trị các sản phẩm thủy sản có mối quan hệ, ảnh hưởng lẫn nhau Nếu giá bán ở các ao nuôi cao sẽ ảnh hưởng đến giá của chúng ở các thị bán lẻ, bán sỉ đều có xu hướng gia tăng Đồng thời khi giá bán ở các ao nuôi cao cũng kích thích tăng giá sản phẩm ở các thị trường xuất khẩu trong và ngoài nước như một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, chuỗi giá trị này là chuỗi
Trang 40giá trị hai chiều nên có thể nói rằng giá cả thủy sản ở các thị trường bán lẻ, bán sỉ hay xuất khẩu cũng sẽ tác động ngược trở lại lên giá bán tại ao của người sản xuất.