KHẢO SÁT QUI TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG NHÂN TẠO CÁ MÚ ĐEN CHẤM ĐỎ (Epinephelus coioides Hamilton, 1882) TẠI TRUNG TÂM QUỐC GIA GIỐNG HẢI SẢN NAM BO
Trang 1(Epinephelus coioides Hamilton, 1882)
TẠI TRUNG TÂM QUỐC GIA GIỐNG
HẢI SẢN NAM BỘ
NGÀNH: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
KHOÁ: 2002 – 2006
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN QUANG HẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2
-2006-NHÂN TẠO CÁ MÚ ĐEN CHẤM ĐỎ
(Epinephelus coioides Hamilton, 1882)
TẠI TRUNG TÂM QUỐC GIA GIỐNG
HẢI SẢN NAM BỘ
thực hiện bởi
Nguyễn Quang Hạnh
Luận văn được đệ trình để yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Nuôi Trồng Thủy Sản
Giáo viên hướng dẫn: Trần Văn Phát
Thành Phố Hồ Chí Minh
Trang 3
-2006-ii
TÓM TẮT
Khảo sát qui trình sản xuất giống nhân tạo cá mú đen chấm đỏ E coioides
Được tiến hành từ tháng 2/2006 - 6/2006, tại Trung Tâm Quốc Gia Giống Hải Sản Nam Bộ
Cá bố mẹ được thu mua từ bè nuôi ở Long Sơn - Vũng Tàu
Từ tháng 2/2006 -6/2006: Kiểm tra cá cái và cá đực kết quả thành thục 100%
Thức ăn cho cá bố mẹ chủ yếu là cá tạp với khẩu phần 1 - 3% trọng lượng cơ thể
Kích thích cá bố mẹ sinh sản bằng cách thay nước mới và tạo dòng chảy vào thời điểm trước kì trăng non hay trước kì trăng tròn
Trong quá trình thực tập chúng tôi cho tiến hành cho đẻ 2 đợt:
Đợt 1: Có 3 cá cái và 2 cá đực tham gia sinh sản, tỉ lệ cá cái sinh sản 66,67% Đợt 2: Có 2 cá cái và có 2 cá đực tham gia sinh sản, tỉ lệ cá cái sinh sản 100% Tỷ lệ thụ tinh đợt 1 là 60%, đợt 2 là 52%
Tỷ lệ nở đợt 1 là 70%, đợt 2 là 60%
Thời gian nở 18 - 20 giờ ở nhiệt độ 28 - 290C
Thức ăn trong quá trình ương nuôi ấu trùng bao gồm: Tảo, luân trùng, artemia, trùn chỉ, thức ăn tổng hợp, cá tạp
Mật độ ương nuôi 10 – 15 con/lít
Tỷ lệ sống đợt 1 là 5,52% và đợt 2 là 4,34%, chiều dài 2,7 - 3 cm sau 60 ngày tuổi
Trang 4iii
ABSTRACT
A survey on antificial breeding procedure of green grouper (E coioides) was
carried out from 2/2006 - 6/2006, at Southern breeding Center for Marine
Brood stock were stimulated by changing water on the early of moon month
On our survey brood stock were spawned two time:
Fisrst time: spawning, fertiling and hatching rate were 66,67%; 60%; 70% respectively
Second time: spowning, fertiling and hatching rate ware 100%, 52%, 60% respectively
Latency time last from18-20 hours at 28-290C
Feed for larvae consisted: algae, rotifer, artemia, tubifex, commercial feed, trash fish
Larval seary density was: 10-15 larval/lit
Survival rate gained 5,52% and 4,34% respectively, total length of 60 days old juvenile were 2,7-3 cm respectively
Trang 5iv
CẢM TẠ
Chúng tôi xin chân thành cảm tạ:
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản
Cùng toàn thể quí thầy cô Khoa Khoa Học, Khoa Thủy Sản đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt khóa học
Trung Tâm Quốc Gia Giống Hải Sản Nam Bộ
Đặt biệt biết ơn sâu sắc xin gửi đến thầy Trần Văn Phát đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp
Đồng thời xin gửi lời cảm ơn đến các anh công nhân và kỹ sư của Trung Tâm Quốc Gia Giống Hải Sản Nam Bộ tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập
Xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên Thủy Sản 28 đã động viên giúp đỡ tôi trong những năm học vừa qua và thời gian thực hiện đề tài
Do hạn chế về thời gian cũng như về mặt kiến thức nên quyển luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong đón nhận những ý kiến đóng gớp của quí thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Trang 6v
MỤC LỤC
DANH SÁCH ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH ix
3.1 Thời Gian và Địa Điểm Thực Hiện Đề Tài 6
3.2 Vật Liệu và Trang Thiết Bị Dùng Trong Nghiên Cứu 6
3.3.2 Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản 6
3.3.3.3 Phương pháp kích thích cá bố mẹ sinh sản 8
Trang 7vi
4.2 Kỹ Thuật Sinh Sản Nhân Tạo Cá Mú Đen Chấm Đỏ 19
4.2.2 Hệ số thành thục của cá mú đen chấm đỏ 22 4.2.3 Phương pháp kiểm tra độ thành thục cá bố mẹ 22 4.2.4 Kích thích cá đẻ tự nhiên bằng cách thay nước 23
4.4 Quản Lý và Chăm Sóc Ấu Trùng 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8vii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Thông số điều kiện môi trường nuôi cấy tảo 18 Bảng 4.2 Thành phần các chất môi trường Walne (Laing, 1991) 19 Bảng 4.3 Thành phần môi trường phân vô cơ
Bảng 4.5 Chế độ cho ăn và quản lý nước ương cá bột lên cá giống 28 Bảng 4.6 Kết quả ương từ cá bột lên cá giống qua 02 đợt ương 28 Bảng 4.7 Chiều dài ấu trùng cá mú E coioides 30 Bảng 4.8 So sánh tỷ lệ sống của cá mú bột của một số tác giả 32
Trang 9viii
DANH SÁCH ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH
Đồ thị 4.1 Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở qua 2 đợt sinh sản 26
Đồ thị 4.2 Chiều dài cá bột từ ngày 0 đến 50 ngày tuổi 30
Hình 3.1 Lỗ sinh dục cá cái 8
Hình 4.1 Nhân sinh khối tảo ở thể tích 1 lít trong phòng thí nghiệm 14 Hình 4.2 Sinh khối Platymonas sp ở thể tích 10 lít 14
Hình 4.3 Bể nuôi sinh khối tảo 15 Hình 4.4 Rotor giữ giống luân trùng 17
Hình 4.5 Bể nuôi sinh khối luân trùng 17 Hình 4.6 Thu luân trùng 19
Hình 4.7 Thức ăn cho cá bố mẹ 20 Hình 4.8 Bể nuôi vỗ cá bố mẹ 21
Hình 4.9 Kiểm tra độ thành thục cá cái 22 Hình 4.10 Kiểm tra độ thành thục cá đực 23 Hình 4.11 Bố trí bể ương 26 Hình 4.12 Ấu trùng 2 ngày tuổi 27
Hình 1.13 Cá mú giống (60 ngày tuổi) 30
Trang 10
I GIỚI THIỆU
1.1 Đặt Vấn Đề
Cùng với sự phát triển chung của ngành nuôi trồng thủy sản, nghề nuôi tôm
thương phẩm hiện đối mặt với vấn đề dịch bệnh và ô nhiễm môi trường Vì vậy,
nghiên cứu những đối tượng nuôi thủy sản khác là cần thiết Trong những năm gần
đây, nghề nuôi cá mú đã có những bước phát triển vượt bậc về kỹ thuật ương và nuôi
ở nhiều quốc gia Châu Á
Ương nuôi một số loài có giá trị cao như: Cromileptes altivelis (38-160
uSD/kg) Epinephelus fuscoguttatus (8 USD/kg), Epinephelus coioides và Epinephelus
malabaricus (3,5 USD/kg) Tuy nhiên, phát triển ngành công nghiệp cá mú gặp khó
khăn do nghề nuôi phụ thuộc nhiều vào con giống tự nhiên Gần đây, cùng với sự
phát triển ồ ạt thiếu qui hoạch dẫn đến thiệt hại về kinh tế và rủi ro cho người nông
dân (Sugama, 2001)
Hiện nay, nhu cầu về con giống và thịt cá mú rất cao nhưng nguồn giống hoàn
toàn phụ thuộc vào nguồn cá giống tự nhiên hoặc nhập khẩu từ Đài Loan Nên việc
sản xuất giống nhân tạo cá mú đen chấm đỏ là rất cần thiết hiện nay
Trước thực trạng đó được sự chấp thuận của Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học
Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh và Trung Tâm Quốc Gia Giống Nam Bộ, Viện
Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II Chúng tôi thực hiện đề tài “KHẢO SÁT QUI
TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG NHÂN TẠO CÁ MÚ ĐEN CHẤM ĐỎ (Epinephelus
coioides Hamilton, 1882)”, tại Trung Tâm Quốc Gia Giống Hải Sản Nam Bộ
1.2 Mục Tiêu Đề Tài
Đề tài được thực hiện với mục tiêu sau:
Xác định các thông số kỹ thuật về thức ăn tự nhiên và ương nuôi cá mú đen
chấm đỏ
Khảo sát qui trình sản xuất giống nhân tạo cá mú đen chấm đỏ để đưa vào
thực tiễn sản xuất trên qui mô rộng nhằm đa dạng hoá đối tượng nuôi
Trang 11II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc Điểm Sinh Học Cá Mú
2.1.1 Phân loại
Ngành: Chordata (có dây sống)
Ngành phụ: Vertebrata (có xương sống)
Bộ: Perciformes Họ: Serranidae
Giống: Epinephelus Loài: Epinephelus coioides Hamilton, 1882
Tên Việt Nam: Cá mú đen chấm đỏ
Tên Tiếng Anh: Orange Spotted Grouper, Green Grouper
Cá mú đen chấm đỏ E coioides (Hamilton, 1882) thường phân bố ở vùng nhiệt
đới và cận nhiệt đới, từ phía Nam của biển đỏ xuống đến Matal ở vùng phía Tây Ấn Độ Dương và phía Tây của Thái Bình Dương, xung quanh đảo Ryukyu (Nhật Bản) đến phía Nam của xứ Wales Chúng còn được tìm thấy ở phía Đông của Đại Dương từ Palau ở phía Bắc, đến phía Nam của đảo Fiji Chúng thường sống ở rạng san hô, đá ngầm và đôi khi ở những vùng nước lợ cửa sông (Toledo, 2001)
Ở Việt Nam, chúng phân bố từ vịnh Bắc Bộ đến vịnh Thái Lan, tập trung nhiều ở vùng biển Miền Trung Hầu hết các loài cá mú đều sinh sản ở vùng biển sâu
Ấu trùng mới nở sống ở tầng nước mặt, khi lớn lên chúng di chuyển đến tầng nước giữa phát triển ở đó một thời gian và sau đó di chuyển đến vùng nước nông hơn, nơi có nguồn thức ăn phong phú khi biến thái hoàn toàn chúng sống đáy và bắt đầu sử dụng những loài cá nhỏ làm thức ăn (Toledo và ctv, 1993, 2001)
Trang 122.1.3 Đặc điểm hình thái
Cá mú E coioides có hình thái ngoài dễ nhận dạng với những chấm màu vàng
hoặc nâu hơi đỏ phân bố trên toàn thân và không có những đốm nâu màu trắng
Cá có kích thước càng lớn thì màu sắc của các chấm này càng nhạt dần và khó phân biệt Đường bên của cá có dạng lược, sần sùi
Loài E coioides có thể phân biệt bởi các đặc điểm như: chiều dài chuẩn gấp
2,3 - 2,6 lần chiều dài đầu, chiều dài hàm trên bằng 17 - 20% và chiều rộng xương hàm trên từ 4,2 - 5,5% so với chiều dài chuẩn
Vây ngực có 20 tia vây, vây lưng có 11 tia vây cứng và có từ 14 - 16 tia mềm (Hamilton, 1882)
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Mathews (1986) đã nghiên cứu về tuổi, sự phát triển và tập tính ăn của E
coioides, ông cho rằng cá mú là động vật ăn thịt cơ hội, thức ăn hầu như là cá, giáp
sát lớn và động vật thân mềm
Chúng thường nấp ở các hóc đá, rạng san hô hoặc nằm bất động trên giá thể cho đến khi con mồi xuất hiện
Cá mú bố mẹ có thể sử dụng thức ăn ở tất cả các thời điểm trong ngày nhưng có khuynh hướng cao nhất vào lúc bình minh hoặc hoàng hôn (Ruangpanit, 1993; Toledo, 2001)
Cho ăn 4 - 5 lần tuần Nếu cho ăn nhiều quá làm ảnh hưởng đến gan là chức năng quan trọng để hình thành trứng (Sugama và ctv, 2001)
2.1.5 Đặc điểm sinh sản
Theo Nguyễn Tuần (2002, 2004) thì mùa vụ sinh sản cá mú E coioides hầu
như quanh năm
Sức sinh sản của E coioides: 600.000 - 1.900.000 trứng/kg cá cái có trọng
lượng 3,5 - 5 kg số lượng trứng từ 2,3 - 3,9 triệu (Quinitio, 1998)
Sức sinh sản của cá cao nhất vào thời gian đầu của chu kì sinh sản trước kì trăng non hoặc kì trăng muộn
Cũng như các loài cá mú khác cá mú đen chấm đỏ là cá lưỡng tính cái trước
Trang 13Cá cái thành thục khi đạt trọng lượng 3 - 5 kg và những con đực từ 6 - 12 kg (Toledo, 1999) Tuy nhiên, tại trung tâm có những con có trọng lượng 5 - 6 kg vẫn là cá cái do chúng không chuyển giới tính, có lẽ là do điều kiện nuôi nhốt
sớm của ấu trùng cá mú E coioides Kết quả chứng minh rằng với tốc độ sục khí
0,62 - 1,25 mL/phút/Lít, ở độ mặn 16 - 24‰, cường độ ánh sáng 500 - 700 Lux cho tỉ
lệ sống cao
Toledo, 1993 Theo dõi thời gian đẻ trứng của cá mú, trong bể và vớt trứng trôi
nổi Một cá cái E coioides thành thục (5,3 kg) cặp đôi với 2 cá đực có tinh (6,0 và 6,5
kg) đẻ thành công từ 5 - 10 lần trong 1 tháng từ tháng 7 - 10 năm 1990, 6 cá cái thành thục (3,5 - 5,0 kg) và 4 cá đực (7 - 12 kg) thành thục giữ trong bể 50 m3, đã đẻ thành công từ 5 - 17 lần/tháng trong hầu hết một năm, ngoại trừ tháng 5 - 1991
Toledo, 2001 Nghiên cứu đặc điểm sinh học cá mú, đặc điểm sinh sản và chăm sóc ấu trùng cá mú Chúng thường sống ở những nơi có rạng san hô, đá ngầm và đôi khi ở những vùng nước lợ cửa sông Hầu hết các loài cá mú đều có thể sinh sản tự nhiên ở vùng biển sâu Ấu trùng mới nở sống ở tầng nước mặt, khi lớn lên chúng di chuyển đến tầng nước giữa phát triển ở đó một thời gian và sau đó di chuyển dần đến những vùng nước nông hơn, nơi có nguồn thức ăn phong phú Khi biến thái hoàn toàn chúng chuyển sang sống đáy và bắt đầu sử dụng những loại cá nhỏ làm thức ăn
Ruangpanit, 1993 Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống cá mú Ông cho rằng thức ăn là cá mòi tươi với khẩu phần ăn hàng ngày 1 - 2%/kg thể trọng, có bổ sung vitamin C, Premix và dầu gan cá ở dạng viên nhét vào cơ cá mòi với tỷ lệ tương ứng là 0,4; 0,3 và 0,35g, vitamin E 400 mg/kg thức ăn cho ăn 4 - 5 lần/tuần đã thúc đẩy sự
thành thục của cá mú bố mẹ Loài E malabaricus, nhiệt độ 26 - 29oC trứng nở trong thời gian 17 - 19 giờ
2.2.2 Trong nước
Đào Mạnh Sơn, 1998 Nghiên cứu đặt điểm sinh học, nuôi và sản xuất giống cá song ở miền bắc Việt Nam
Trang 14Việt Nam đã cho đẻ tự nhiên thành công đầu tiên loài cá mú E malabaricus ở
Lạch Miễu - Quảng Ninh nhưng tỉ lệ sống ấu trùng còn rất thấp (Đào Mạnh Sơn, 1998)
Nguyễn Tuần và ctv, 2002 Nghiên cứu kết quả bước đầu sinh sản nhân tạo cá
mú E.coioides thành công và tỉ lệ sống 13%
Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I có chương trình nghiên cứu nuôi giữ cá
bố mẹ và cho sinh sản loài E tauvina ở Cát Bà - Hải Phòng (Lê Xân, 2000)
Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản II trong năm 2001 đã nghiên cứu qui trình nuôi vỗ cá bố mẹ trong bể xi măng tương đối ổn định và cho đẻ thành công loài cá mú đen chấm đỏ
Trang 15III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời Gian và Địa Điểm Thực Hiện Đề Tài
Thời gian: Từ tháng 2/2006 - 6/2006
Địa điểm: Trung Tâm Quốc Gia Giống Hải Sản Nam Bộ
3.2 Vật Liệu và Trang Thiết Bị Dùng Trong Nghiên Cứu
Bể nuôi cá bố mẹ: bể xi măng 100 m3 Bể ương cá bột: bể composite (1 -
5m3) Bể ương tảo và luân trùng (1 - 5m3)
Một số dụng cụ dùng cho thí nghiệm: lưới, vợt, ống xi phông, van, khí, dụng
cụ thu trứng, cân, kính hiển vi…
Dụng cụ kiểm tra môi trường như: nhiệt kế, pH kế, khúc xạ kế, DO meter và
máy quang phổ DR2010 để đo nitric và ammonia
Hoá chất sử dụng như: iodine, oxytetracyline, chlorine, formol,
ethyetylenglycol, sodium thiosulphate
3.3 Phương Pháp Nghiên Cứu
3.3.1 Nguồn gốc cá bố mẹ
Cá mú đen chấm đỏ E coioides được thu mua từ bè nuôi ở Long Sơn - Vũng
Tàu về tại Trung Tâm Quốc Gia Giống Nam Bộ Cá được vận chuyển gây mê bằng
cách hạ nhiệt độ Cá được thuần dưỡng và nuôi vỗ ở trong bể xi măng 100 m3
3.3.2 Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu một vài thông số kỹ thuật: tỷ lệ sinh sản, tỷ lệ
thụ tinh, tỷ lệ nở, tỷ lệ sống và được xác định theo công thức sau:
100
×
=
sản sinh gia tham cái cá Số
trứngđẻcáicáSố
(%)sản sinh
lệ
Tỷ
trứng đẻ cái cá lượng Trong
rađẻtrứngSố
(trứng/g)tế
thực sản sinh
Trang 16
×
=
rađẻ được trứngSố
tinhthụtrứngSố(%)tinh thụ
nởmới bột cáSố(%)nở
lạicòncáSố(%)sống
lệ
Tỷ
3.3.3 Kỹ thuật sinh sản nhân tạo
3.3.3.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ
Cho ăn: sử dụng cá tươi (cá Thu, Mực, cá Nục, cá Ngân …), cho ăn hàng ngày vào lúc 16 - 17 giờ, lượng thức ăn từ 1 - 3% trọng lượng thân, hàng tuần bổ sung thêm dầu cá, vitamin E (400 mg/kg thức ăn)
Nguồn nước sử dụng: nước biển có độ mặn 30 - 33o/oo được bơm vào bể để lắng từ 2 - 3 ngày, lọc cơ học, xử lý ozon sau đó cấp vào bể nuôi
Mức nước bể nuôi là 1,7 - 2,0 m
Quản lý nước: bể được che bằng lưới đen để giảm bớt cường độ ánh sáng
Thay nước từ 50 - 80% vào buổi chiều, bể nuôi được sục khí liên tục, đảm bảo hàm lượng DO trên 4 mg/L Vệ sinh thành bể và đáy bể 1 lần/tuần
Mẫu trứng được lấy bằng ống thăm trứng có đường kính đạt từ 0,4 mm trở lên thì cá cái đã đạt độ thành thục
Cá đực: vuốt nhẹ ở mặt bụng thấy có sẹ màu trắng sữa chảy ra thì đã sẵn sàng tham gia sinh sản
3.3.3.2 Chọn cá bố mẹ
Cá đực: chọn cá khoẻ mạnh, không dị tật, vuốt nhẹ ở mặt bụng thấy có sẹ màu trắng sữa chảy ra thì đã sẵn sàn tham gia sinh sản
Cá cái: chọn những con có ngoại hình đẹp, không dị hình dị tật, khoẻ mạnh lỗ sinh dục có mầu hơi hồng, bụng to mềm đều mẫu trứng được lấy bằng ống thăm trứng có đường kính đạt từ 0,4 mm trở lên thì cá cái đã đạt độ thành thục
Trang 173.3.3.3 Phương pháp kích thích cá bố mẹ sinh sản
Kích thích cá bố mẹ sinh sản bằng cách thay nước mới và tạo dòng chảy vào thời điểm trước kì trăng non hay trước kì trăng tròn
3.3.3.4 Thu và ấp trứng
Thu trứng bằng lưới kéo (kích thước 300 µm), vào lúc 7 giờ sáng
Trứng được ấp trong bể composite, cho nước chảy tràn để tạo dòng chảy
Đo đường kính trứng bằng kính hiển vi Đơn vị là mm
Xác định tỷ lệ nở
3.3.4 Thức ăn tự nhiên
3.3.4.1 Tảo
Phương pháp nuôi giữ giống và nuôi sinh khối:
Giữ giống: tảo giống được giữ trên môi trường Walne có 1,5% agar/lít (thạch
nghiêng) Sau 3 tháng, tảo giống được thay một lần hoặc giữ giống ở dạng môi trường Hình 3.1 Lỗ sinh dục cá cái
Trang 18Walne lỏng nuôi trong tủ ổn nhiệt 4 - 10oC có chiếu sáng, 1 tháng thay giống một
lần
Nhân sinh khối: nuôi tảo sinh khối trong phòng thí nghiệm ở các thể tích 1 lít,
5 lít, 10 lít và nuôi ngoài trời bằng môi trường phân vô cơ ở các thể tích 100 lít, 2 m3,
5 m3 và 30 m3
3.3.4.2 Luân trùng
Giữ giống: trứng luân trùng ấp trong falcon (50 mL), mật độ 100 trứng/mL,
sau 48 giờ thu luân trùng cấy lại mật độ 20 cá thể/mL trong 20 mL (falcon 50 mL),
với các điều kiện thức ăn bao gồm tảo Platymonas và Nannochloropsis, nhiệt độ
phòng, độ mặn 25‰, đặt trên rotor quay 4 vòng/phút Mỗi ngày cho ăn bằng tảo
Nhân sinh khố: Rotifer trong falcon sau 4 ngày được cấy chuyền sang thể tích
lớn hơn: từ 1 lít, 5 lít và 10 lít với mật độ từ 50 - 100 cá thể/mL, sau 4 ngày chuyển ra
nuôi sinh khối ngoài trời, với thể tích từ 50 - 500 lít
Từ 500 lít Rotifer giống, tiếp tục nhân lên ở thể tích 2 m3 và 10 m3 hoặc bể xi măng 30 m3
3.3.5 Ương nuôi cá bột
Ương nuôi bể composite, lượng nước 2/3 bể
Cá nở sau 18 - 20 giờ ở nhiệt độ 29OC
Xác định thời gian cá tiêu hết noãn hoàng và tỷ lệ sống
Mật độ ương từ 10 - 15 con/lít
Chế độ dinh dưỡng: sử dụng tảo Platymonas làm thức ăn cho luân trùng Tảo
Nannochloropsis (300.000 tb/mL) để bổ sung vào bể ương từ ngày thứ 2 - 30 vào sáng
sớm trước khi mở đèn hoặc trước khi mặt trời mọc
Ngày 2 - 10: cho ăn luân trùng đã làm giàu và lọc qua lưới 120 µm, chọn kích
thước nhỏ, mật độ 5 - 10 cá thể/mL
Ngày 5 - 30: cho ăn luân trùng có kích thước lớn hơn đã làu giàu, mật độ 10
cá thể/mL Cho ăn lúc 9 giờ và 14 giờ Duy trì mật độ luân trùng trong bểø từ 5 - 8
cá thể/mL Luân trùng được làm giàu bằng Super Selco nồng độ 200 ppm trong
4 - 6 giờ
Trang 19Ngày 15 - 25: bổ sung Artemia mới nở (mật độ 0,5 - 5 cá thể/mL)
Ngày 26 - 50: Phân loại kích cỡ cá Cá nhỏ tiếp tục cho ăn luân trùng lớn (mật
độ 10 cá thể/mL) cho đến ngày 30 Cho ăn Artemia làm giàu 12 giờ (400 ppm trong 6
- 12 giờ), mật độ 5 - 10 cá thể/mL, cho ăn 2 - 3 lần/ngày Artemia trưởng thành 1 tuần
tuổi đã làm giàu 12 giờ (cho ăn lúc 07 giờ và 14 giờ)
Ngày 50 - 60: Artemia trưởng thành 2 tuần tuổi đã làm giàu 24 giờ, cá băm cho
ăn khi thấy trong bể cá hết thức ăn, cách 2 - 3 giờ cho ăn
Trang 20IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thức ăn tự nhiên
4.1.1 Tảo
Nước trước khi đưa vào nuôi được xử lý như sau:
Nuớc biển - lắng trong bằng KMnO4 0,5 ppm - khử trùng bằng Chlorine 30 ppm, đảo đều sau 18 giờ - 24 giờ trung hòa lượng Chlorine thừa bằng thiosulfate
20 ppm
Riêng nước nuôi dùng tại phòng thí nghiệm nên dùng nước có độ mặn 250/00
và phải đun sôi, hoặc hấp khử trùng ở 1210C, 1 atm trong 15 phút bằng nồi hấp
Một số yếu tố thủy lý hóa
Các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của tảo là cường độ ánh sáng, pH, độ mặn và nhiệt độ nước nuôi
Bảng 4.1 Thông số điều kiện môi trường nuôi cấy tảo
(phụ thuộc thể tích và nhiệt độ) 2500 - 5000
Ánh sáng
Tất cả thực vật đều dùng ánh sáng để quang hợp và tích lũy carbon vô cơ chuyển thành hữu cơ Cường độ ánh sáng phụ thuộc vào mật độ tảo và độ sâu của bể nuôi, 1000 lux thích hợp cho thể tích nhỏ như bình Erleneyer, 5000 - 10000 lux cần cho thể tích lớn hơn Aùnh sáng có thể là tự nhiên hay nhân tạo Tránh cường độ ánh sáng quá cao như ánh sáng trực tiếp mặt trời, đặt gần ánh sáng nhân tạo
Thời gian chiếu sáng khoảng 18 giờ trong ngày đêm hay liên lục
Yếu tố pH
Trang 21Khoảng pH thích hợp cho tảo phát triển 7 - 9 với khoảng tối ưu 8,2 - 8,7
Nhiệt độ
Nhiệt độ thích hợp cho nuôi cấy tảo nằm trong khoảng 20 - 24oC Nếu nhiệt độ thấp hơn 16 oC làm giảm sự phát triển của tảo Ngược lại, ở nhiệt độ trên 35 oC làm chết tảo
Nồng độ muối
Phytoplankton sống ở nước mặn chịu được khoảng dao động nồng độ muối
rộng Nồng độ muối thích hợp cho đa số các loài tảo là 20 - 24%o
Sục khí
Cần có sục khí 24/24 giờ để tránh tảo lắng, bảo đảm cho tế bào tảo tiếp xúc nhiều với ánh sáng, tránh phân tầng nhiệt độ
a/ Kỹ thuật giữ giống và nhân sinh khối các loài tảo
Các loài tảo đơn bào được lưu giữ và nhân sinh khối làm thức ăn cho Rotifer
và ương nuôi ấu trùng tại Trung Tâm Quốc Gia Giống Nam Bộ là Chlorella,
Platymonas sp., Nannochloropsis oculata
Nuôi lưu giữ giống trong phòng thí nghiệm (các dụng cụ, nước và phân bón
đều trong điều kiện vô trùng)
- Tảo được giữ và cấy chuyền sinh khối trong phòng thí nghiệm ở các bình có thể tích từ 250 mL, 500 mL, 1 lít, 2 lít, 5 lít và 10 lít
- Sử dụng môi trường dinh dưỡng Walne (bảng 2) cho các thể tích nuôi nhỏ, liều lượng sử dụng là 1 mL/lít thể tích nước nuôi
- Nhiệt độ nước nuôi tảo duy trì ổn định ở 250C bằng máy điều hòa
- Ánh sáng được duy trì 24/24 giờ ở cường độ 6.000 - 10.000 lux bằng đèn Neon (2 cái, đèn dài 2 m)
- pH nước nuôi dao động trong khoảng 7,5 - 8
- Sục khí liên tục 24/24 giờ
Bảng 4.2 Thành phần các chất môi trường Walne (Laing, 1991)
Trang 22Thành phần Số lượng(g)
EDTA 45 NaH2PO4.2H2O/
Tất cả pha đến 100 mL nước ngọt
Sau khi pha xong các môi trường trên
- Ta cho dung dịch B vào dung dịch A liều lượng 1 mL/1lít dung dịch A
- Trộn tiếp dung dịch C vào dung dịch A với số lượng vitamin
(B1:1 ống/1ít dung dịch A, B12: 5 ống/1ít dung dịch A)
- Cuối cùng ta có dung dịch A tổng hợp dùng để bón cho tảo Liều lượng dùng ở phòng thí nghiệm là 1 mL/1lít tảo nuôi, nuôi ở ngoài trời dùng 1 - 2 mL/10 lít tảo nuôi
Mật độ tảo giống ban đầu tùy thuộc vào mật độ cực đại của mỗi loài, từ
700.0000 tb/mL - 1.000.000 tb/mL đối với Chlorella sp và Nannochloropsis oculata nhưng chỉ khoảng 50.000 tb/mL đối với Platymonas sp Sau 3 ngày nuôi Chlorella sp
có thể đạt mật độ 10x106 tb/mL, Nannochloropsis oculata: 16x106 tb/mL và
Platymonas sp là 0.5x106 tb/mL Các loài tảo đơn bào này có thể đạt mật độ cao hơn
ở ngày thứ 4, thứ 5 nhưng thường được làm giống để cấy chuyền cho thể tích lớn hơn vào ngày thứ 3 vì thời điểm này tảo đang ở pha tăng trưởng
Các Erleneyer, bình thủy tinh… sau mỗi đợt cấy chuyền được ngâm 24 giờ trong nước Chlorine 100 ppm, sau đó rửa sạch bằng xà phòng, rửa lại bằng nước
Trang 23ngọt, cuối cùng sấy khô (đối với Erleneyer) hay phơi nắng (đối với bình thủy tinh
10 lít) trước khi sử dụng trở lại
Hình 4.1 Nhân sinh khối 1 lít tong phòng thí nghiệm
Hình 4.2 Sinh khối platymonas ở thể tích 10 lít