1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÂY DỰNG DANH MỤC CÁC LOÀI CÁ CẢNH NƯỚC NGỌT ĐANG ĐƯỢC KINH DOANH PHỔ BIẾN TRÊN THỊ TRƯỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

102 193 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 2,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

XÂY DỰNG DANH MỤC CÁC LOÀI CÁ CẢNH NƯỚC NGỌT ĐANG ĐƯỢC KINH DOANH PHỔ BIẾN TRÊN THỊ TRƯỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

XÂY DỰNG DANH MỤC CÁC LOÀI CÁ CẢNH NƯỚC NGỌT ĐANG ĐƯỢC KINH DOANH PHỔ BIẾN TRÊN THỊ TRƯỜNG THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH

NGÀNH : NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

KHÓA : 2002 - 2006

SINH VIÊN THỰC HIỆN : MAI ANH TUẤN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THÁNG 8-2006

Trang 2

XÂY DỰNG DANH MỤC CÁC LOÀI CÁ CẢNH NƯỚC NGỌT ĐANG ĐƯỢC KINH DOANH PHỔ BIẾN TRÊN THỊ TRƯỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thực hiện bởi

Mai Anh Tuấn

Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn: - Vũ Cẩm Lương

- Nguyễn Phúc Thưởng

Thành Phố Hồ Chí Minh

Tháng 8-2006

Trang 3

TÓM TẮT

Đề tài “Xây dựng danh mục các loài cá cảnh nước ngọt đang được kinh doanh phổ biến trên thị trường Thành Phố Hồ Chí Minh” được thực hiện từ ngày 15-3-2006 đến 20-7-2006 Qua khảo sát thực tế tại 35 cửa hàng kinh doanh cá cảnh nước ngọt chúng tôi thu được những kết quả điều tra như sau:

Có 80 loài cá cảnh (với trên 80 kiểu hình) được bày bán trong các cửa hàng được khảo sát, trong đó có 25 loài sản xuất nội địa chiếm tỉ lệ 31%, 12 loài khai thác tự nhiên được thuần dưỡng làm cá cảnh chiếm 15% và 43 loài nhập khẩu từ các nước chiếm 54%

Qua định danh tên khoa học và sắp xếp theo hệ thống phân loại, 80 loài trên được xếp vào 11 Bộ và 26 Họ

Từ kết quả thống kê và chọn lọc, chúng tôi tiến hành xây dựng poster 42 loài cá cảnh nước ngọt (với 46 kiểu hình khác nhau) trên thị trường TP HCM bao gồm:

- Nhóm cá sản xuất nội địa gồm có: Cá Cánh Buồm, Cá Vàng, Cá Chép Nhật, Cá Tứ Vân, Cá Tỳ Bà, Cá Hắc Bố Lũy, Cá Bảy Màu, Cá Hòa Lan, Cá Hồng Kim, Cá Dĩa, Cá Kim Cương, Cá Ông Tiên, Cá Tai Tượng Châu Phi, Cá Hoàng Kim, Cá La Hán, Cá Phượng Hoàng, Cá Xiêm, Cá Sặc Cẩm Thạch, Cá Sặc Gấm

- Nhóm cá khai thác tự nhiên gồm có: Cá Nàng Hai, Cá Hỏa Tiễn, Cá Thủy

Tinh, Cá Mập Nước Ngọt, Cá Thái Hổ Vằn, Cá Thái Hổ, Cá Mang Rổ, Cá Chim Dơi Bốn Sọc, Cá Nâu, Cá Nóc Da Beo

- Nhóm cá nhập bao gồm: Cá Ngân Long, Cá Hồng Long, Cá Kim Long, Cá Neon, Cá Vệ Sinh Trắng Đuôi Đỏ, Cá Sấu Hỏa Tiễn, Cá Hồng Két, Cá Lông Gà, Cá Aly, Cá Phát Tài, Cá Trường Giang Hổ, Cá Hồng Vỹ Mỏ Vịt, Cá Chuột Trắng, Cá Chuột Nâu.

Trang 4

- It is including 11 Orders and 26 Families

A popular ornamental fish poster had been constructed including:

- In the first group: Black Tetra, Gold Fish, Koi Carp, Tiger Barb, Sucker Catfish, Balloon Molly, Guppy, Sword Tail, Platy, Discus, Golden Cichlid, Flower Horn Fish, Blue Acara, Angel Fish, Oscar, Ramirez Dwarf Cichlid, Fighting Fish, Dwarf Gouramy, Blue Gouramy

- In the second group: Silver Clown Knife, Burnt Tail Fish, Ghost Catfish, Iridescent Shark Catfish, Siamese Tigerfish, Barred Tigerfish, Archer Fish, African Moony, Spotted Scat, Puffer Fish

- In the third group: Silver Arowana, Red Arowana, Golden Arowana, Neon Tetra, Black Ghost Knife Fish, Alligator Gar, Red Fin Shark, Hi-Fin Banded Shark, Albino Corydoras, Bronze Corydoras, Red Tail Catfish, Ahli, Blood Parrot Cichlid, Albino Giant Gourami

Trang 5

LỜI CẢM TẠ

Tác giả xin chân thành cảm tạ đến:

- Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Thủy sản Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em có thể thực hiện đề tài

- Quý thầy cô cùng các cán bộ công nhân viên Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM đã tận tình dạy bảo, giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

- Cô Lê Hoàng Yến là người đã tận tình hướng dẫn em trong môn ngư loại học phục vụ cho việc thực hiện đề tài

- Thầy Nguyễn Phúc Thưởng đã nhiệt tình hướng dẫn, đóng góp những ý kiến thiết thực và động viên giúp em hoàn thành đề tài

Đặc biệt, em xin chân thành cám ơn sâu sắc đến thầy Vũ Cẩm Lương, người đã rất quan tâm, tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em để có thể hoàn thành đề tài này

Cám ơn sự hợp tác, giúp đỡ của các chủ cơ sở kinh doanh cá cảnh, các anh chị

em lao động tại cửa hàng

Cám ơn các chủ cơ sở sản xuất cá cảnh trên địa bàn Thành Phố, đã nhiệt tình giúp đỡ và đóng góp những ý kiến, tư liệu hữu ích để em có thể hoàn tất đề tài

Cám ơn các tác giả của những tài liệu mà em đã sử dụng trong suốt quá trình thực hiện LVTN này

Xin cám ơn gia đình đã động viên, chia sẽ giúp đỡ tạo mọi điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần trong những năm tháng học tập trên giảng đường Đại học cũng như suốt quá trình làm đề tài tốt nghiệp Cám ơn các bạn lớp NTTS-28 đã cùng tôi chia sẻ những năm tháng quý báo suốt những năm học tập và đã động viên giúp đỡ tôi trong thời gian qua

Do có những hạn chế về mặt thời gian và kiến thức có hạn nên đề tài không thể tránh khỏi những sai sót, khuyết điểm Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô cùng các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Trang 6

MỤC LỤC

ĐỀ MỤC

TÊN ĐỀ TÀI

TÓM TẮT TIẾNG VIỆT

TÓM TẮT TIẾNG ANH

CẢM TẠ MỤC LỤC

DANH SÁCH CÁC BẢNG

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH

I GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

1.2 Mục tiêu đề tài

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Lịch sử ngành nuôi cá cảnh trên thế giới 2.2 Khái quát ngành nuôi cá cảnh ở Việt Nam

2.3 Hiện trạng kinh doanh cá cảnh nước ngọt ở Tp.HCM

2.4 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của Tp.HCM

2.4.1 Giới thiệu tổng quan về Tp.HCM

2.4.2 Đặc điểm khí tượng khí hậu

2.4.3 Hệ thống sông ngòi kênh rạch

TRANG

1

2

3

4

5

8

9

10

11

12

15

15

17

17

17

18

18

Trang 7

2.4.4 Nguồn nước

2.4.5 Điều kiện kinh tế xã hội

2.5 Một số thông tin và tài liệu về cá cảnh nước ngọt ở

Việt Nam

2.6 Các chỉ tiêu đánh giá cá cảnh

2.6.1 Đánh giá cỡ

2.6.2 Đánh giá thân

2.6.3 Đánh giá vây

2.6.4 Đánh giá màu sắc

2.6.5 Đánh giá thể trạng của cá

2.6.6 Đánh giá tập tính của cá

III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài

3.1.1 Thời gian

3.1.2 Địa điểm

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Số liệu thứ cấp

3.2.2 Số liệu sơ cấp

3.2.3 Một số chỉ tiêu phân tích

3.2.4 Xử lý liệu

IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thông tin chung về các cửa hàng cá cảnh nước ngọt ở

Trang 8

4.2 Sự đa dạng về chủng loài cá cảnh ở các cửa hàng được

khảo sát

4.3 Các loài cá cảnh nước ngọt được kinh doanh trên thị

trường Tp.HCM

4.4 Xây dựng hệ thống phân loại các loài cá cảnh nước

ngọt được khảo sát

4.5 Những đặc điểm sinh học cơ bản của các loài cá cảnh

được khảo sát

4.6 Các loài cá cảnh nước ngọt khác ở Tp.HCM

V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

5.1 Kết luận

5.2 Đề nghị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Phiếu điều tra

Phụ lục 2 Tổng hợp số liệu điều tra

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thu nhập bình quân hàng tháng tại Tp.HCM 20 Bảng 4.1 Thời gian kinh doanh của các cửa hàng cá cảnh 26

Bảng 4.2 Sự đa dạng về các chủng loài cá cảnh ở các cửa hàng

Bảng 4.3 Số lượng loài của ba nhóm cá cảnh nước ngọt chủ yếu 28 Bảng 4.4 Hiện trạng kinh doanh các loài cá cảnh sản xuất nội địa 29

Bảng 4.5 Hiện trạng kinh doanh các loài cá cảnh khai thác tự

Bảng 4.6 Hiện trạng kinh doanh các loài cá cảnh nhập 32

Bảng 4.7 Danh sách phân loại các loài cá cảnh nước ngọt được

khảo sát

34

Bảng 4.8 Danh sách các loài cá cảnh nước ngọt khác được liệt kê

trong danh mục của Bộ Thủy sản (theo dự thảo thông

qua tháng 7-2006)

68

Bảng 4.9 Danh sách các loài cá cảnh đã được khảo sát ở

Tp.HCM nhưng không có trong danh mục cá cảnh của

Bộ Thủy sản (theo dự thảo thông qua tháng 7-2006)

69

Trang 10

Đồ Thị

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ

Đồ thị 4.1 Tỉ lệ về số lượng loài giữa ba nhóm cá cảnh nước ngọt

chủ yếu được kinh doanh tại cửa hàng 28

Đồ thị 4.2 Tỉ lệ xuất hiện tại cửa hàng của các loài cá cảnh sản

Đồ thị 4.3 Tỉ lệ xuất hiện tại cửa hàng của các loài cá cảnh khai

Đồ thị 4.4 Tỉ lệ xuất hiện tại cửa hàng của các loài cá cảnh nhập

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH

Cá nàng hai Cá cánh buồm Cá hồng nhung Cá neon Cá neon đen Cá mũi đỏ Cá hồng câu Cá thanh tử quang Cá phi phương Cá lông gà Cá vàng Cá chép Nhật Cá hắc bạc Cá hỏa tiễn Cá tứ vân Cá tứ vân vàng Cá kim sơn Cá kim ngân Cá vệ sinh trắng đuôi đỏ Cá vệ sinh đen

Cá ngựa vằn Cá đuôi kéo Cá tam giác Cá trường giang hổ Cá chuột ba sọc Cá cầu vồng Cá thiên thanh Cá ram bo Cá thủy tinh

Trang 12

DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH

Cá dĩa Cá hoàng kim Cá la hán Cá hồng két Cá kim thơm bảy màu Cá hoàng đế

Cá kim thơm Cá sọc ngựa Cá kim cương Cá ông tiên Cá hồng bửu xẹt Cá huyết trung hồng Cá tai tượng Châu Phi Cá phượng hoàng Cá quan đao Cá kì lân Cá hoàng tử Phi Châu Cá tuyết điêu

Trang 13

DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH

Trang 14

I GIỚI THIỆU

1.1 Đặt Vấn Đề

Sau một ngày lao động mệt mỏi, đầu óc nặng trĩu vì lo toan cho cuộc sống, không ít người đã chọn cho mình hình thức thư giãn giải trí thân thiện với môi trường tự nhiên như nuôi cá cảnh Nhưng đó không chỉ là niềm đam mê, là trò giải trí đơn thuần Ngày nay, nghề nuôi cá cảnh còn là một nghề kinh doanh mang lại nguồn thu nhập hấp dẫn Đây cũng là hoạt động kinh tế được khuyến khích nhân rộng ở TP.HCM Theo những người am hiểu trong làng cá cảnh thì nghề nuôi, sản xuất cá cảnh ở TP.HCM đã có từ rất lâu Trước những năm 1975 thì nghề này đã từng giữ vai trò nhất định ở khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên sau ngày giải phóng, do điều kiện kinh tế khó khăn nên nghề nuôi và sản xuất cá cảnh dần dần bị giảm sút, hoạt động cầm chừng

Từ năm 2000 trở lại đây, phong trào chơi cá cảnh đã phát triển trở lại cùng với mức sống ngày càng cao của người dân Một thực tế không thể phủ nhận là trong những năm qua ngành cá cảnh phát triển song chưa mạnh, phần lớn những hộ nuôi cá cảnh vẫn mang tính tự phát, qui mô gia đình, chưa có qui hoạch, định hướng rõ rệt nhất là thiếu vốn đầu tư và kỹ thuật lai tạo còn thấp… Đặc biệt đầu ra của cá cảnh hoàn toàn do người nuôi tự lo, khách hàng khi có nhu cầu cũng chỉ thu mua theo phương thức thu gom… Nguồn cá cảnh của chúng ta ngày càng lạc hậu do con giống nhập về chưa quan tâm đến vấn đề bổ sung nguồn giống trong nước mà chỉ là do nhu cầu và thị hiếu Chúng ta chưa quan tâm nắm bắt thông tin và nhu cầu của thị trường cá cảnh thế giới luôn thay đổi, đó là những nguyên nhân làm hạn chế ngành cá cảnh của chúng ta phát triển mạnh theo qui mô công nghiệp Mặt khác, hiện nay thông tin cập nhật về các giống loài cá cảnh còn thiếu và không đầy đủ

Chính từ thực trạng trên, việc khảo sát trên cơ sở khoa học các loài cá cảnh đang được kinh doanh trên thị trường TP.HCM là cần thiết để làm cơ sở cho kênh thông tin trao đổi đánh giá thị hiếu, nhu cầu của thị trường và những định hướng đúng cho sự phát triển của ngành công nghiệp cá cảnh Việt Nam nói chung, TP HCM nói riêng

Được sự phân công của Khoa Thủy sản Trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của Thầy Vũ Cẩm Lương và Thầy Nguyễn Phúc

Thưởng, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “XÂY DỰNG DANH MỤC CÁC LOÀI CÁ CẢNH NƯỚC NGỌT ĐANG ĐƯỢC KINH DOANH PHỔ BIẾN TRÊN THỊ TRƯỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”

1.2 Mục Tiêu Đề Tài

Trang 15

Các mục tiêu cụ thể của đề tài bao gồm:

- Khảo sát và nhận diện các loài cá cảnh nước ngọt đang được kinh doanh ở một số cửa hàng trên địa bàn Thành Phố

- Đánh giá mức độ phổ biến và xu hướng ưa chuộng đối với các loài

- Xây dựng poster các loài cá cảnh nước ngọt phổ biến trên thị trường TP.HCM

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Trang 16

2.1 Lịch Sử Ngành Nuôi Cá Cảnh trên Thế Giới

Thú chơi cá cảnh đã có lịch sử khoảng 2.500 năm Từ Trung Quốc nó được truyền sang các nước Đông Nam Á Cho tới thế kỉ XVII, cá cảnh mới được đưa sang Châu Âu rồi Châu Mỹ… bắt đầu từ con cá Diếc và con cá Chép của lục địa Âu - Á, là những loài cá được nuôi lâu đời nhất Người ta đã lợi dụng sự đột biến của chúng để tạo

ra những nòi lạ về hình dáng và đẹp về màu sắc, có giá trị thẩm mỹ Từ việc thưởng ngoạn những loài đã nuôi được, người ta tìm kiếm khắp đó đây những loài cá đẹp có trong thiên nhiên không chỉ ở Châu Á mà cả ở các nước nhiệt đới ở Châu Phi rồi Nam Mỹ Nhiều loài trong số đó đã được lựa chọn phù hợp với việc nuôi dưỡng và thưởng

ngoạn (theo Cá Cảnh - Võ Văn Chi - NXB khoa học kỹ thuật- 1993)

Nhiều loài cá đẹp mới đã được tìm tòi, những hình dạng kì lạ được tạo ra từ sự lai tạo giữa các cá đẹp Các loài cá từ ao hồ, sông suối đã được tuyển chọn vào nuôi trong các lọ thuỷ tinh, bể cạn đặt trong nhà và vườn cảnh Tùy theo đặc điểm của vùng địa lí, mà người ta chọn nuôi những loài thích hợp Người Ai Cập cổ đã tạo ra những bình chứa lớn bằng thuỷ tinh dùng để trang trí, nhưng chính ở Viễn Đông, các bình thủy tinh này được tăng thêm giá trị từ việc dùng để nuôi các loài cá đẹp

Lúc đầu để làm nhiệt độ nước nóng lên cho phù hợp với sự sống của cá, người ta đặt những cái đèn dầu hỏa hay khí đốt trực tiếp dưới bể nuôi Nhưng chính nhờ sự đăng quang của điện vào thế kỉ XX, người ta mới điều chỉnh được nhiệt độ của nước và đảm bảo được sự thông khí cho từng loài Đó chính là bước đột phá ban đầu giúp đưa nghề

nuôi cá cảnh lên một tầm mới và liên tục phát triển cho đến ngày nay (theo Kỹ Thuật Nuôi Cá Cảnh - Dick Mills)

2.2 Khái Quát Ngành Nuôi Cá Cảnh ở Việt Nam

Việt Nam thuộc một trong ba khu vực có cá cảnh đẹp nhất thế giới gồm Nam Mỹ, Châu Phi và Đông Nam Á Nước ta hiện có rất nhiều lợi thế và tiềm năng để nuôi cá cảnh xuất khẩu, có nhiều loại cá cảnh phù hợp với nhiều loại môi trường nước (mặn-lợ-ngọt) và thời tiết (nóng-lạnh) Theo những người am hiểu trong làng cá cảnh, thì nghề nuôi và sản xuất cá cảnh ở Việt Nam đã có từ lâu Trước năm 1975, nghề này đã từng giữ vai trò nhất định ở Đông Nam Á Đề cập đến ưu thế của Việt Nam, không thể không kể đến một sự kiện gây chấn động giới cá cảnh thế giới khi Việt Nam giật một lúc bảy giải trong tổng số mười ba giải thưởng tại Cuộc thi cá cảnh quốc tế Aquarama

’95 tại Singapore Bốn con cá Dĩa của một cơ sở tại TP.HCM đoạt một lúc năm giải, trong đó có một giải đặc biệt (là giải thưởng lớn nhất cuộc thi) kiêm giải nhất, ba con kia đoạt nhất, nhì, ba Cũng tại cuộc thi này, hai con cá của một người Singapore cũng đoạt hai giải thưởng, người này cũng đã công khai loan báo hai con cá này cũng được

mua của Việt Nam (theo Thanh Niên 31/3/05)

Trang 17

Hiện nay hầu như khắp các địa phương trên cả nước điều có người nuôi cá cảnh Những trung tâm cá cảnh lớn là Quảng Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Nha Trang, Đà Nẵng, Vũng Tàu… Tuy nhiên theo đánh giá của Bộ Thủy Sản, nơi dẫn đầu trong phong trào nuôi và kinh doanh cá cảnh vẫn là TP.HCM

Kim ngạch xuất khẩu cá cảnh của Việt Nam hiện nay đã có chiều hướng tăng trưởng, theo Thứ trưởng Bộ Thủy sản Nguyễn Hồng Minh, từ năm 2001 hoạt động xuất khẩu cá cảnh nước ta bắt đầu tăng mạnh, riêng năm 2004 giá trị kim ngạch xuất khẩu cá cảnh cả nước đã đạt 10 triệu USD so với hai năm trước là 5 triệu USD Thị trường xuất khẩu cá cảnh được rải khắp các nước như: Pháp, Đức, Anh, Thụy Sỹ, Đan Mạch, Canada, Mỹ, Braxin, Nhật Bản, Đài Loan EU là thị trường nhập khẩu cá cảnh lớn nhất của Việt Nam, chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu cá cảnh cả nước (theo

TTXVN) Các loài đang được xuất khẩu gồm: Dĩa, Bảy Màu, Chép Nhật, Thủy Tinh, Nóc Beo, Cánh Buồm, Hồng Kim… Trong đó cá Dĩa và Bảy Màu là hai loài rất được ưa

chuộng

Tuy nhiên theo các chuyên gia ngành Thủy sản, khó khăn hiện nay của người sản xuất cá cảnh là chưa đủ nguồn giống Từ trước tới nay, người nuôi thường phải nhập cá giống về từ nước ngoài, chịu thuế suất khá cao tới 30% Mặc khác, cá cảnh Việt Nam được nuôi “hỗn giao”, không theo dõi lý lịch, không tạo ra được một dòng cá Trong khi một con cá quý bán ra từ các trại cá nổi tiếng trên thế giới điều có “lí lịch”, thậm chí được gắn một con chíp để theo dõi, do đó cá của họ đẻ ra hơn 90% giống bố mẹ, còn cá của ta giống bố mẹ chỉ chiếm 3-5% Việc sản xuất và kinh doanh cá cảnh trong nước mang nặng tính tự phát theo phương thức “cha truyền con nối”, nhiều bí quyết kinh nghiệm được giữ kín, chưa có sự giao lưu, trao đổi học hỏi kinh nghiệm, chưa cập nhật kịp thời nhu cầu và xu hướng cá cảnh thế giới Chính vì thế điều nan giải của Việt Nam hiện nay là tạo được “thương hiệu” cho cá cảnh nhằm tìm cho mình một chổ đứng trong thị trường cá cảnh thế giới Nắm bắt được những nhu cầu bức thiết trên, ngày 26/9/2005, UBND TP.HCM đã cho phép thành lập hội cá cảnh Thành Phố Đây là tổ chức tự nguyện của các cá nhân, tập thể, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nuôi, tiêu thụ cá cảnh và có liên quan đến cá cảnh nhằm tập hợp, hỗ trợ giúp đỡ nhau góp phần phát triển ngành cá cảnh UBND TP cũng đã phê duyệt dự án xuất khẩu hoa kiểng, cá cảnh đến năm 2010 với tổng trị giá 14,2 tỉ đồng, trong đó xác định phải đưa xuất khẩu cá cảnh trở thành mũi nhọn của ngành Thủy sản Theo đó, trong giai đoạn sắp tới, người nuôi cá ở TP sẽ được hỗ trợ lãi suất vay vốn và được miễn thuế nhập khẩu cá giống Đây là một động lực lớn tiếp sức cho phong trào nuôi cá cảnh ở TP.HCM và cả nước nói chung Đồng thời, UBND TP cũng có chủ trương xây một trung tâm nhân giống cá cảnh rộng hơn 20 ha tại xã Phú Hoà Đông (Huyện Củ Chi) nhằm đưa hoạt động nuôi và kinh doanh cá cảnh trở nên chuyên nghiệp và công nghiệp

hơn (theo SGGP)

2.3 Hiện Trạng Kinh Doanh Cá Cảnh Nước Ngọt ở TP.HCM

Trang 18

Trên địa bàn Thành Phố có khoảng trên 120 cửa hàng kinh doanh cá cảnh Ngoài cá cảnh, nhiều vật tư trang thiết bị phụ trợ cũng được các chủ cửa hàng đưa vào danh mục kinh doanh để phục vụ nhu cầu trang trí và chăm sóc cá của người nuôi Ngoài ra, một số cửa hàng chọn hình thức kinh doanh chính là thiết kế và trang trí hồ cá với nhiều kích cỡ và giá cả tuỳ theo nhu cầu của khách hàng Những địa chỉ khá quen thuộc mà những người có kinh nghiệm chơi cá cảnh khi muốn tìm mua những loài

cá lạ, đẹp, hoặc có giá trị như: Cá Dĩa, Cá Rồng, Cao Xạ… luôn nghĩ đến đó là chợ cá

cảnh Lưu Xuân Tín ởû Quận 5 và Nguyễn Thông ở Quận 3 Tuy nhiên nơi đây cũng

cung cấp rất đầy đủ các chủng loại cá bình dân và quen thuộc như: Bảy Màu, Chép, Hồng Kim… Ngoài ra, rải rác khắp các quận huyện trong Thành Phố, trong những con

hẻm, khu vực đông dân cư… chúng ta vẫn có thể tìm thấy tiệm bán cá cảnh, đối tượng kinh doanh ở đây chủ yếu là những loài quen thuộc và bình dân, nhưng ở một số tiệm

do người mua có nhu cầu nên chủ cửa hàng vẫn cung cấp một số loài có giá trị cao như:

Ngân Long, Kim Long, Dĩa… Vì đặc trưng của việc kinh doanh cá cảnh là cần nhiều lao

động nên trong một cửa hàng, tùy theo mức độ kinh doanh mà luôn có từ hai đến sáu hoặc bảy lao động, vừa có lao động là người nhà vừa thuê mướn những người từ các tỉnh lên tìm việc

2.4 Điều Kiện Tự Nhiên và Kinh Tế Xã Hội của TP.HCM

2.4.1 Giới thiệu tổng quan về TP.HCM

Nằm ở vị trí địa lí đặc biệt với những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, từ xưa, TP.HCM luôn là vùng kinh tế chiến lược và trọng điểm phía nam, là một Thành Phố đông dân phồn vinh và là một điểm du lịch, giao lưu văn hóa của khách nước ngoài

TP.HCM (trước đây gọi là Sài Gòn) là một TP duyên dáng và năng động, với

những con người thân thiện, nền văn hóa phong phú, lôi cuốn và hội đủ tiện nghi của một TP hiện đại Năng động và đầy tiềm năng, TP.HCM có tốc độ phát triển nhanh nhất và ổn định nhất Đông Nam Á Với sự phát triển kinh tế, nền dân trí cao và tiện nghi hiện đại, nơi đây được xem là trung tâm văn hóa khoa học kỹ thuật của cả nước

Tổng diện tích của TP là 2.056 km2 Vùng đô thị với 140 km2 Vùng nông thôn rộng lớn với 1.916 km2 Khoảng cách từ trung tâm TP đến biển là 50 km theo đường chim bay và cách thủ đô Hà Nội khoảng 1.730 km đường bộ, phía nam giáp biển Đông, phía bắc giáp Tây Ninh, phía tây giáp Long An và Sông Bé, Đồng Nai ở phía đông Độ cao trung bình hơn sáu mét so với mực nước biển Bề mặt địa hình ở phía Bắc và Đông cao hơn ở vùng phía Nam và Tây Nam

2.4.2 Đặc điểm khí tượng khí hậu

Trang 19

TP nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất cận xích đạo Lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 149 kcal/cm2/năm, nắng trung bình khoảng 6,8 giờ/ngày Nhiệt độ trung bình toàn năm khoảng 27,42 0C (thay đổi trong khoảng 25-

29 0C), nóng nhất vào tháng 4 và lạnh nhất vào tháng 12 Độ ẩm trung bình hằng năm là 77,5% Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm thấp là điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển của động thực vật Ngoài ra, TP còn có thuận lợi là không trực tiếp chịu ảnh hưởng của bão lụt nên việc phát triển nông nghiệp nhìn chung có thuận lợi

Lượng mưa thay đổi theo từng khu vực Mưa nhiều ở khu vực nội thành (trung bình 2.100 mm) Vùng Củ Chi, Bình Chánh, Bắc Cần Giờ, Nhà Bè có lượng mưa trung bình 1.500-1.700 mm Lượng mưa chủ yếu tập trung vào tháng 5 đến tháng 11, lớn nhất thường xảy ra vào tháng 9 hoặc tháng 10

Lượng mưa phân bố nhiều trong mùa mưa cũng ảnh hưởng ít nhiều đến môi trường TP: nước mưa làm quá tải khả năng thu nước của hệ thống cống rãnh và thoát nước, gây hiện tượng ngập lụt trong một số khu vực sau cơn mưa dài, gia tăng mức độ ô nhiễm nước do nước mưa hòa lẫn với nước thải từ các cống rãnh

2.4.3 Hệ thống sông ngòi kênh rạch

TP nằm giữa hai sông lớn là sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông và chịu ảnh hưởng lớn của sông Đồng Nai Tại địa phận huyện Thủ Đức, có nơi lòng sông rộng 400-600 m Lòng sông không sâu so với các sông khác, độ sâu trung bình từ 12-15 m, dòng chảy trung bình 500 m3/s Sông Đồng Nai nối sông Sài Gòn bằng hệ thống kênh Rạch Chiết Do sông rộng, không sâu và có lưu lượng lớn nên đẩy được nước mặn Hệ thống kênh rạch TP có hai hệ thống chính Hệ thống các kênh rạch đổ vào sông Sài Gòn với hai nhánh chính là: rạch Bến Cát và kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè Hệ thống các kênh rạch đổ vào sông Bến Lức và kênh Đôi, kênh Tẻ như rạch Tân Kiên, rạch Bà Hom, rạch Tân Hóa–Lò Gốm… Đặc điểm của kênh rạch này là chúng đều độc lập, có một phần chảy trọng lực và bắt nguồn từ vùng đất cao Gò Vấp

2.4.4 Nguồn nước

Sông Đồng Nai là nguồn nước ngọt chính của TP với diện tích lưu vực khoảng 45.000 km2, hằng năm cung cấp 15 tỉ m3 nước Trong thời gian qua, một số các công trình thủy lợi, thủy điện được xây dựng chỉ làm thay đổi lượng nước theo mùa nhưng không thay đổi về tổng lượng nói chung

TP nằm trong khu vực hạ lưu sông Đồng Nai - Sài Gòn, giáp với biển Đông, nên nguồn nước ngọt của sông Đồng Nai đóng vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển kinh tế Ngoài ra đây cũng là con sông chủ yếu cung cấp nước sinh hoạt cho hơn 8 triệu dân của TP

Trang 20

Nước ngầm cũng tham gia một vai trò đáng kể trong việc phát triển kinh tế xã hội của nơi đây Nước ngầm phân bố khá rộng song do bị nhiễm mặn nên khả năng khai thác sử dụng hạn chế Nước ngầm ngọt phân bố chủ yếu ở các tầng chứa nước Pleitoxen ở độ sâu 100-300 m có nơi 20-50 m; phổ biến ở phía bắc, các huyện Củ Chi, Hóc Môn, bắc Bình Chánh, các quận Tân Bình, Gò Vấp… trữ lượng khai thác ước tính 300-400 m3/ngày Trên địa bàn TP, nước ngầm đã được khai thác đầu từ thế kỉ, đến năm 1995 khai thác đạt 250.000 m3/ngày song do bị nhiễm mặn nên việc khai thác bị hạn chế, sau đó có nhà máy nước Thủ Đức khai thác nước mặt từ sông Đồng Nai nên qui mô khai thác giảm dần Trong những năm gần đây một số gia đình và cơ sở sản xuất nhỏ đã khoan giếng để sử dụng Những giếng này chủ yếu tập trung ở các quận Tân Bình, Gò Vấp, Bình Chánh Ngoài ra TP còn xây dựng một nhà máy nước ngầm ở Hóc Môn với công suất 50.000 m3/ngày đêm, giải quyết phần nào khó khăn về nước sinh hoạt cho người dân

2.4.5 Điều kiện kinh tế xã hội

Theo tổng cục thống kê, số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và số người ngoài độ tuổi lao động tham gia làm việc của TP sẽ tăng dần, cụ thể: 61,86% (năm 1995); 65,19% (năm 2000); 68,68% (năm 2005); 69,94 (năm 2010)

Diện tích đất nông lâm nghiệp có xu hướng giảm, vấn đề cơ giới hóa trong lĩnh vực này sẽ được áp dụng mạnh mẽ trong những năm sắp tới Do đó số người làm việc trong nhóm ngành này có xu hướng giảm về tỉ trọng trong cơ cấu lao động có việc làm, đồng thời giảm cả về mặt số tuyệt đối trong những năm tới

Trong ngành Thủy sản, diện tích mặt nước nuôi trồng Thủy sản tăng từ 1.853 ha (năm 1995) lên 3.000 ha (năm 2000) và sẽ đạt con số 5.300 ha (năm 2010), do đó số lao động trong ngành này sẽ tăng thêm

Thu nhập bình quân của người dân TP tăng rõ rệt, thể hiện qua tốc độ tăng trưởng kinh tế các năm qua GDP bình quân đầu người đạt 950 USD năm 1995 Trong giai đoạn 2001-2005, tốc độ tăng bình quân hằng năm của GDP là 14,50%

Do tác động của nền kinh tế thị trường nên mức thu nhập của các tầng lớp dân

cư ngày càng có sự cách biệt Thu nhập của những người trong các ngành buôn bán, dịch vụ cao hơn nhiều so với lĩnh vực sản xuất Những người làm trong các ngành y tế, giáo dục, lực lượng vũ trang do có phụ cấp nên thu nhập khá hơn Tuy nhiên đối với cán bộ công nhân viên khu vực hành chính sự nghiệp, các đối tượng chính sách, đời sống vẫn chậm được cải thiện mặc dù chế độ tiền lương mới đã được thực hiện Trên cơ sở đó, dự kiến một số chỉ tiêu về mức sống của dân cư TP như sau:

Trang 21

- Về cơ cấu chi tiêu bình quân đầu người: chi cho ăn uống có xu hướng giảm;

chi phí cho ăn mặc, đi lại, học hành, y tế, bảo vệ sức khỏe, vui chơi giải trí và chi phí

khác sẽ tăng lên

- Nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần, tỉ lệ hộ

mua sắm các tiện nghi sinh hoạt gia đình có xu hướng ngày càng gia tăng

Theo số liệu điều tra, nguồn Omnibus 2002-2005 (do ACNielsen Vietnam cung

cấp), thì thu nhập bình quân hàng tháng của người dân Thành Phố Hồ Chí Minh giai

đoạn 2002-2005 cụ thể như sau:

Bảng 2.1 Thu nhập bình quân hàng tháng tại TP.HCM

Thu nhập bình quân hàng tháng của hộ gia đình 3,12 3,36 3,81 4,12

Thu nhập bình quân hàng tháng của cá nhân 1,11 1,12 1,32 1,40

Chi tiêu bình quân hàng tháng của cá nhân 0,47 0,55 0,73 0,76

Chi tiêu bình quân hàng tháng của hộ gia đình 2,16 2,11 2,58 2,68

2.5 Một Số Thông Tin và Tài Liệu về Cá Cảnh Nước Ngọt ở Việt Nam

Hiện nay nhu cầu tìm hiểu về các giống loài cá cảnh là có thực, nó cần thiết

giúp cho người mới chơi và chơi cá cảnh lâu năm có thể trang bị những hiểu biết cơ bản

và củng cố vốn hiểu biết của mình nhằm có thể chăm sóc những chú cá do mình mua

về Rất nhiều tác giả với những nghiên cứu và kinh nghiệm của bản thân đã cho xuất

bản những tài liệu liên quan đến cá cảnh Trong giới hạn của đề tài, chúng tôi cũng cố

gắng tìm hiểu về một vài trong rất nhiều những tài liệu trên

Một số tài liệu thì có cái nhìn khá chuyên sâu về riêng một đối tượng nhất định,

nhưng chúng lại là đối tượng được nhiều người quan tâm và có giá trị, như tài liệu: Cá

Vàng, Cá Dĩa - Vĩnh Khang - NXB TP.HCM-1996 Nội dung tài liệu cung cấp những

kiến thức về phân loại, đặc điểm sinh học, sinh sản và phòng trị bệnh, những phương

pháp chăm sóc cho cá

Một số sách khác thì đối tượng được đề cập tới rộng hơn, đến trên chục loài Đó

là những đối tượng cũng khá phổ biến như: Bảy Màu, Hồng Kim, Xiêm, Tai Tượng Châu

Trang 22

Phi… Tác giả cũng đi mô tả chi tiết từng loài như cuốn: Cá Cảnh Thưởng Thức và Nuôi Dưỡng - NXB Đà Nẵng; Cá Kiểng Nuôi và Ép - NXB TP.HCM-1993; Nghệ Thuật Chơi Cá Cảnh - NXB Trẻ-1993; Kỹ Thuật Nuôi Cá Cảnh - NXB Nông Nghiệp -

2000… Trong sách, tác giả cũng cung cấp những kiến thức về thiết kế, bố trí trưng bày hồ cá… rất sinh động

Với mức độ chuyên sâu hơn chúng tôi tìm thấy ở cuốn Cá Cảnh - Võ Văn Chi -

NXB khoa học kỹ thuật Hà Nội -1993, đây là cuốn sách được khá nhiều người biết đến khi nói về sách cá cảnh, với những kiến thức khá phong phú về hàng trăm loài Dựa vào một số tài liệu nước ngoài, tác giả cũng đi vào phân loại từng loài rất hữu ích cho việc định danh trong mục tiêu đề tài

Có thể nói chúng tôi thật sự thú vị khi tìm hiểu tài liệu: Kỹ Thuật Nuôi Cá Cảnh, do Phan Hạnh dịch từ bản tiếng Pháp của tác giả Dick Mills Cuốn sách cung

cấp hết sức đầy đủ về những kiến thức liên quan đến cá cảnh, ngoài ra ta còn tìm thấy những hiểu biết khá mới lạ mà những sách trước đây chưa được biết như cách thực hiện việc tổ chức triển lãm và thi cá cảnh, cách thức chụp ảnh bể cá cảnh…

2.6 Các Chỉ Tiêu Đánh Giá Cá Cảnh

Việc đánh giá những giá trị của một con cá có thể xuất hiện những phương pháp tiến hành chủ quan: “một con cá với người này là tuyệt đẹp nhưng lại là tầm thường so với người kia” Làm sao tiến hành một cách đánh giá đúng? Về việc có liên quan đến các cuộc triển lãm, một số tổ chức có liên quan đã giải quyết vấn đề đó bằng cách thiết lập những tiêu chuẩn, căn cứ theo đó mà giám khảo đánh giá từng con cá dự thi

Một hệ thống rất phổ biến để cho điểm một con cá với tổng số điểm là 100, trên nguyên tắc tổng điểm này chia ra làm năm nhóm điểm, mỗi nhóm liên quan đến một đặc tính của loài mà người đánh giá phải cân nhắc

2.6.1 Đánh giá cỡ

Điểm được cho theo cỡ của cá dự thi được so sánh với cỡ tối ưu được tính như chuẩn, tối đa là 20 điểm

Điểm cho tăng dần so với cỡ của cá trưởng thành tối đa, cá càng lớn thì điểm càng cao, vì để nuôi được con cá đạt phân nửa cỡ qui định thì ai cũng có thể làm được

2.6.2 Đánh giá thân cá

Người ta cho điểm theo hình dạng của thân cá dựa vào một thân hình được xem là chuẩn cho mỗi loài Thân hình càng lớn thì điểm càng cao

Sẽ trừ điểm nếu như thân hình bị biến dạng hoặc mất cân đối

Trang 23

Sẽ trừ điểm đối với mọi sai lệch so với chuẩn đòi hỏi đối với một loài cá nào đó

Ví dụ: không có râu xung quanh miệng cá He đỏ

2.6.3 Đánh giá các vây

Sẽ trừ điểm nếu cá thiếu vây, các vây không nguyên vẹn, rách tưa

Sẽ trừ điểm đối với mọi sai lệch so với chuẩn Vì vậy, ở một số loài cá nuôi như cá Vàng đuôi voan, hay cá Chọi, các vây phải ở vị trí chính xác, hoặc phải cân xứng với nhau, hoặc phải đạt một tỉ lệ nào đó so với thân

2.6.4 Đánh giá màu sắc

Sẽ trừ điểm nếu màu sắc của cá khác hẳn so với màu sắc tự nhiên, hoặc so với màu chuẩn được thiết lập đối với các loài cá nuôi trong bể kính

Sẽ trừ điểm nếu màu sắc mờ, phân bố không hài hòa

Sẽ trừ điểm nếu các màu chủ đạo của loại cá nuôi không sắc nét

Sẽ trừ điểm khi các màu được tăng cường không phải do chủ cá chăm sóc mà nhờ vào các kích thích tố đặc biệt

2.6.5 Đánh giá thể trạng của cá

Cá sẽ bị trừ rất nhiều điểm hoặc bị loại nếu bị bệnh

Sẽ trừ điểm nếu cá cái đẻ con trong khi triển lãm

2.6.6 Đánh giá tập tính của cá

Cá sẽ được cộng điểm nếu tỏ ra tự nhiên và không sợ sệt

Sẽ trừ điểm nếu cá thay vì bơi lội lại nép mình vào một góc

Sẽ trừ điểm nếu cá không hoạt động theo trạng thái tự nhiên của nó

III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 24

3.1 Thời Gian và Địa Điểm

3.2 Phương Pháp Nghiên Cứu

3.2.1 Số liệu thứ cấp

Chúng tôi có được những thông tin tài liệu liên quan từ Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Thành Phố HCM; Chi Cục Quản Lí và Bảo Vệ Nguồn Lợi Thủy Sản

Thành Phố; danh mục cá cảnh của Bộ Thủy sản (dự thảo tháng 7-2006); từ internet…

Dựa vào bài giảng tóm tắt: Môn ngư loại học (phần phân loại cá) của Lê Hoàng Yến - 2001, 83 trang và bài giảng tóm tắt: Môn ngư loại học (phần phân loại cá) của Lê Hoàng Yến - 2006, 82 trang, bổ sung cho bài giảng tóm tắt năm 2001 Những thông tin bổ sung cho bài giảng môn ngư loại học năm 2001 dựa trên tài liệu của FAO (1983-

1992); Species Catalogue: William N, Eschmeyer (1998)

Sách Cá Cảnh - Võ Văn Chi - NXB khoa học kỹ thuật Hà Nội -1993

Một số Atlats cá cảnh nước ngọt tổng hợp:

* Herbert R and Warren E, Axelrod’s, ATLATS OF FRESHWATER AQUARIUM FISH

* Baensch, AQUARIUM ATLATS 3

* Arne Schiotz/ Preben Dahlstrom, GUIDE DE I’AQUARIUM poissons

et plantes

Tài liệu tiếng Anh: AQUARIUM FISH- Dick Mills

Trang 25

Những trang web có liên quan đến phân loại:

3.2.2 Số liệu sơ cấp

Đây là những thông tin chi tiết thu thập được qua quan sát thực tế tại các cơ sở kinh doanh và phỏng vấn trực tiếp các chủ cửa hàng tại 35 cơ sở trên địa bàn Thành Phố bằng bảng câu hỏi (trong phần phụ lục) Bênh cạnh đó, các nghệ nhân, chủ cơ sở sản xuất cá cảnh cũng được chúng tôi tham khảo ý kiến

3.2.4 Một số chỉ tiêu phân tích

3.2.3.1 Nhóm cá

Chỉ tiêu này chia các loài cá cảnh nước ngọt ra làm ba nhóm chính đó là:

- Nhóm cá sản xuất nội địa: những đối tượng thuộc nhóm này trước đây được

nhập từ các nước hoặc có trong nước, sau một thời gian chúng ta đã cho sản xuất giống được và cung cấp cho thị trường cá cảnh

- Nhóm cá khai thác tự nhiên: trong nhóm này chúng tôi lại chia ra làm hai

nhóm nhỏ đó là nhóm cá khai thác tự nhiên đã có sản xuất giống và nhóm khai thác tự nhiên chưa sản xuất giống

- Nhóm cá nhập: những loài thuộc nhóm này hiện nay phải nhập từ các nước,

chúng ta chưa tự sản xuất giống được

Chúng tôi dựa trên sự so sánh đối chiếu ý kiến của các chủ cửa hàng với sách tài liệu, các nghệ nhân và những người có chuyên môn để rút ra được kết quả sau cùng

Trang 26

3.2.3.2 Giá trị kinh doanh

Thực tế cho thấy các cơ sở cá cảnh kinh doanh một số loài cá cảnh có kích cỡ khác nhau Vì thế giá trị của loài cũng có sự dao động, chúng tôi chỉ đưa ra giá trị của loài dao động từ kích thước nhỏ nhất đến lớn nhất, mà thực tế điều tra chúng tôi ghi nhận được

3.2.4 Xử lý số liệu

Số liệu thu thập được xử lý bằng chương trình Excel, qua thống kê phân tích tỉ lệ (tần suất) xuất hiện tại cửa hàng của các đối tượng cá cảnh, sau khi thực hiện việc khảo sát thực tế, giúp đưa ra những nhận xét đánh giá

Các tư liệu liên quan đến việc nhận dạng loài như ảnh chụp từ quá trình khảo sát, được tham khảo tra cứu với những tài liệu liên quan như Atlats cá cảnh nước ngọt, tài liệu phân loại, các nguồn từ internet… Song song đó, chúng tôi tiếp tụïc tham khảo ý kiến từ một số nghệ nhân, chủ cơ sở kinh doanh và cuối cùng là sự kiểm định từ các giáo viên có chuyên môn về ngư loại của Khoa Thủy sản

IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Trang 27

4.1 Thông Tin Chung về Các Cửa Hàng Cá Cảnh Nước Ngọt ở TP.HCM

Qua điều tra thực tế tại 35 cửa hàng cá cảnh, trong tổng số trên 120 cửa hàng trên toàn địa bàn TP, chúng tôi nhận thấy đa số các chủ cơ sở đều lựa chọn hình thức kinh doanh đa dạng các dịch vụ liên quan đến cá cảnh, chứ không chỉ kinh doanh đơn thuần là cá cảnh Đa số các cơ sở đều chọn phương thức cả bán lẻ và bán sỉ, tùy theo nhu cầu của khách hàng Nhưng nếu muốn mua cá cảnh với số lượng lớn, người mua thường đến chợ cá cảnh Lưu Xuân Tín ở Q.5 Qua thống kê từ những số liệu điều tra, chúng tôi được biết số lao động trung bình ở mỗi cửa hàng là ba người, kể cả chủ cơ sở, trong đó số lao động ít nhất tại một cửa hàng là hai người và cao nhất là bảy người Số cửa hàng có thời gian kinh doanh trên 10 năm chiếm 43% (15 trong tổng số 35 cửa hàng), từ 5-10 năm chiếm gần 37% (13 trong tổng số 35 cửa hàng), số còn lại có thời gian kinh doanh dưới 5 năm chiếm 20% (7 trong tổng số 35 cửa hàng)

Bảng 4.1 Thời gian kinh doanh của các cửa hàng cá cảnh

Thời Gian Kinh

4.2 Sự Đa Dạng về Chủng Loài Cá Cảnh ở Các Cửa Hàng Được Khảo Sát

Bảng 4.2 Sự đa dạng về các chủng loài cá cảnh ở các cửa hàng được khảo sát

Số Loài (loàiù/cửa hàng)

Số Cửa Hàng Tỉ Lệ (%)

nhiên vì đây là loài hiện nay rất phổ biến nên chúng tôi cũng đề cập những đặc trưng

cơ bản như sau: đây là loài cá vùng Nam Mỹ họ Cichlidae rất hung hăng và mang tính hoang dã Chúng không thể cùng sống chung với nhau Theo một số thông tin chúng tôi

chọn lọc được thì một con cá La Hán đẹp thì cần đạt được những tiêu chí sau:

Trang 28

- Hình dáng: phần này nên dày và có hình oval Vài biến thể của nó có dạng gần như hình tròn Bụng đầy đặn và không có nếp gấp

- Màu sắc: đa phần La Hán có màu đỏ nổi bật từ má đến vùng bụng Tuy nhiên

chúng có thêm màu nền gần như đỏ rực

- Vảy: hạt trai, đa phần có màu xanh Đốm ngang màu đen Đốm đen đậm dày nói lên sự khỏe mạnh của cá

- Đầu: không liên quan đến kích cỡ màu sắc, đầu gù là loài cá được ưa chuộng nhất, nhưng nó cần cân đối với hình dáng kích cỡ của cá

- Mắt: tròn và hai mí lanh lợi

- Vây và đuôi: thường xuyên ở vị trí thẳng đứng

Gần đây xu hướng chơi cá La Hán cũng có giảm sút, theo ông Nguyễn Văn

Lãng, chủ tịch hội cá cảnh TP.HCM sau khi trở về từ hội chợ cá cảnh quốc tế 2005 thì

trên thế giới cá La Hán không còn được ưa chuộng như trước

Về cá Xiêm, chúng tôi được biết hiện có vài kiểu hình đuôi tương tối đặc trưng

và được người chơi quan tâm sưu tầm dù giá khá cao (trên 100.000 VNĐ/con) đó là: Delta Tail; Haftmoon; Kingcrown Tail; Doublecrown Tail; Crown Tail; Twin Tail

Những cửa hàng có số đối tượng kinh doanh trên 15 loài chiếm tỉ lệ đa số (với

26 trên 35 cửa hàng) và chủ yếu tập trung ở hai khu cá cảnh lớn ở Q.5 và Q.3 Tại các

cửa hàng này, chủng loại rất phong phú từ những loài khá quen thuộc như: Bảy Màu, Hồng Kim, Hòa Lan, La Hán, Xiêm… đến những loài quí hiếm có giá trị cao như: Hồng Long, Kim Long, Ngân Long… hay các loài khai thác tự nhiên: Thái Hổ, Mang Rổ, Thủy Tinh… Điều đó có thể khẳng định khách hàng tại đây rất đa dạng và thị hiếu cũng rất

phong phú Chính từ yếu tố đa dạng về chủng loài cũng là một trong những nhân tố thu hút người chơi cá cảnh tìm đến với cửa hàng

Qua thực tế khảo sát, chúng tôi nhận thấy các cửa hàng cá cảnh ở những nơi dân

cư lao động thu nhập không cao chỉ chọn bán các loài tương đối quen thuộc, dễ chăm sóc và không quá đắt tiền, với số lượng loài khá hạn chế 4 -15 loài

4.3 Các Loài Cá Cảnh Nước Ngọt Được Kinh Doanh trên Thị Trường

TP.HCM

Trang 29

Theo thống kê của Sở NN & PTNT TP, thì số lượng các cửa hàng kinh doanh

cá cảnh nước ngọt trên địa bàn TP là rất lớn Trong khi đó số lượng cơ sở mà chúng tôi

điều tra thực tế có giới hạn do những hạn chế nhất định, mặt khác do số lượng loài cá

cảnh nước ngọt trên thị trường rất cao và được nhập về thường xuyên từ nhiều nguồn

khác nhau, theo mùa vụ, thị hiếu… chính vì thế chúng tôi chỉ thống kê được một số loài

như sau:

Có tổng số 80 loài, trong đó có 25 loài sản xuất nội địa, 12 loài khai thác tự

nhiên thuần dưỡng làm cá cảnh và 43 loài nhập khẩu từ các nước

Bảng 4.3 Số lượng loài của ba nhóm cá cảnh nước ngọt chủ yếu

Nhóm Cá Cảnh Số Loài Tỉ Lệ (%)

Nhóm cá sản xuất nội địa 31%

Đồ thị 4.1 Tỉ lệ về số lượng loài giữa ba nhóm cá cảnh nước ngọt chủ yếu được kinh

doanh tại cửa hàng

Trong nhóm cá cảnh sản xuất nội địa, chúng tôi đã thống kê được các loài phổ

biến nhất, trong đó các đối tượng như: Cá Vàng, Cá Ông Tiên, Cá La Hán, Cá Dĩa, Cá

Xiêm, Cá Bảy Màu là những loài rất đa dạng về màu sắc và hình dạng mà thực tế hiện

nay các chủ kinh doanh vẫn nhập về những kiểu hình mới đẹp làm đa dạng thêm cho

thị trường cá cảnh, nhưng do giới hạn của đề tài nên chúng tôi chưa thể trình bày cụ thể

tất cả các chủng loài

Bảng 4.4 Hiện trạng kinh doanh các loài cá cảnh sản xuất nội địa

Trang 30

STT Tên Việt Nam Số Cửa Hàng Bán

cửa hàng tỉ lệ (%)

Trang 31

Tưù vaân

Tai tượng Châu Ph

i

Hoøa lan

con cá Thái Hổ nếu bán tại cửa hàng giá khoảng 80 -120 ngàn VNĐ, nhưng cùng kích

cỡ đó nếu được xuất khẩu có thể đạt 300 - 400 ngàn VNĐ (đây chỉ là so sánh mang tính tương đối) Chính vì những nguyên nhân trên, nếu các đối tượng này đạt yêu cầu thì sẽ được xuất khẩu đi các nước

Trong số những loài thuộc nhóm này, người chơi thường chọn một số đối tượng

như: Thủy Tinh, Hỏa Tiễn, Nâu, Mang Rổ, Thái Hổ, Nóc Da Beo đây cũng là những loài

tương đối phổ biến tại cửa hàng trong nhóm cá khai thác tự nhiên

Trang 32

Bảng 4.5 Hiện trạng kinh doanh các loài cá cảnh khai thác tự nhiên

6 Cá thái hổ vằn/Hường

vện

8 23 30-40

Kim sơn Nóc da

beo

Nànghai

Thái hổvằn

Trang 33

đến trên chục triệu đồng Đây cũng là nhóm cá cảnh luôn nhập về thường xuyên, rất khó kiểm soát và cũng rất đa dạng về hình dạng, màu sắc Có thể nói, đây là nhóm đang tạo nên bộ mặt của thị trường cá cảnh nước ngọt của TP hiện nay, điều đó cũng chứng tỏ thị hiếu và xu hướng chơi cá cảnh hiện nay luôn thay đổi

Một số loài thuộc nhóm này qua khảo sát được xem là đang rất được người mua

ưa thích và khá phổ biến tại một số cửa hàng chuyên bán những loài cá nhập như: Ngân Long, Vệ Sinh Trắng Đuôi Đỏ, Vệ Sinh Đen, Hồng Két, Aly, Hoàng Tử Phi Châu, Trường Giang Hổ, Phát Tài, Neon, Hồng Vỹ Mỏ Vịt, Sấu Hỏa Tiễn

Bảng 4.6 Hiện trạng kinh doanh các loài cá cảnh nhập

Số Cửa Hàng Bán STT Tên Việt Nam

cửa hàng tỉ lệ (%)

Giá Bán

1.000 VNĐ/con

Trang 34

Số Cửa Hàng Bán STT Tên Việt Nam

cửa hàng tỉ lệ (%)

Giá Bán

1.000 VNĐ/con

Veä si

nh traéng đu

ôi đỏ

Veä si

nh đen Neon

Trươøng gia

ng hổSấu ho

ûa tiễn

Loâng

gaø

Phát tài

Trang 35

Trong nhóm này, chúng tôi cũng nêu lên một loài khá tiêu biểu đó là cá Rồng vì ngoài nét đẹp cao quý, sự quí hiếm, chúng còn mang một ý nghĩa về mặt tinh thần Theo “DFI History and Type of Arowana” xuất bản 1997, thì cá Rồng gồm ba nhóm chính: Rồng Châu Á - Rồng Nam Mỹ - Rồng Châu Úc - Rồng Châu Phi Nét đẹp độc đáo của hình dáng, miệng rộng và vẩy sáng đã làm cho cá Rồng trở nên đặc biệt Với tất cả các Hoa kiều trên toàn thế giới điều tin tưởng cá Rồng là tượng trưng cho sự may mắn, phát lộc phát tài và đem lại hạnh phúc do đó đây là loài được nuôi trong gia đình

để làm cho phong thủy được tốt hơn Theo tương truyền hồ cá rồng là phong, nước trong hồ là thủy, cá Rồng là tài, ba chữ này hợp lại thành Đại Phúc Do vậy ngoài việc

thưởng thức vẻ đẹp hiếm thấy của cá Rồng, các chủ nhân còn xem cá Rồng tượng trưng cho sự phú quý của mình

4.4 Xây Dựng Hệ Thống Phân Loại Các Loài Cá Cảnh Nước Ngọt Được

Khảo Sát

Từ những tư liệu thu được qua thực tế khảo sát, chúng tôi tiến hành nhận diện, phân loại và có được kết quả như sau:

Có tổng số 80 loài được sắp xếp vào 11 Bộ và 26 Họ

Bảng 4.7 Danh sách phân loại các loài cá cảnh nước ngọt được khảo sát

Stt Tên

Khoa Học

Tên Việt Nam

Tên Tiếng Anh

I

1

Polypteriformes (Bộ cá nhiều

vây)

* Polypteridae (Họ cá nhiều vây)

- Polypterus weeksii Cá khủng long bông

II

3

Lepisosteiformes (Bộ cá mõm

dài)

* Lepisosteidae (Họ cá mõm dài)

- Lepisosteus spp Cá sấu hỏa tiễn Alligator Gar

Cá ngân long/Rồng

Trang 36

5 - Scleropages formosus var

(Schlegel & Miiller, 1844)

Cá hồng long Red Arowana

6 - Scleropages formosus var

(Schlegel & Miiller, 1844)

Cá kim long hồng vỹ

Trang 37

VI

VI.1

18

Cypriniformes (Bộ cá chép)

* Cyprinidae (Họ cá chép)

- Carassius auratus

Linnaeus, 1758 Cá vàng /Ba đuôi/Tàu Gold Fish

19 - Cyprinus carpio var

Linnaeus, 1758 Cá chép Nhật Koi Carp

22 - Systomus tetrazona var

(Bleeker, 1855) Cá tứ vân/Xê can Tiger Barb

23 - Systomus tetrazona var

(Bleeker, 1855) Cá tứ vân vàng

24 - Barbodes schwanenfeldi var

(Bleeker, 1853) Cá kim sơn/He đỏ Tinfoil Barb

25 - Barbodes schwanenfeldi var

(Bleeker, 1853) Cá kim ngân

26 - Epalzeorhynchos frenatum var

Cá vệ sinh trắng đuôi đỏ

Red Fin Shark

27 - Epalzeorhynchos frenetum var

Trang 38

Atheriniformes (Bộ cá suốt)

* Atherinidae (Họ cá suốt)

Siluriformes (Bộ cá nheo)

* Siluridae (Họ cá nheo)

Cá mập nước ngọt/

Tra yêu Iridescent Shark Catfish

39 * Loricariidae (Họ cá tỳ bà)

- Hypostomus spp Cá tỳ bà các loại Sucker

Catfish

VIII.5

40 * Callichthyidae

- Corydoras aeneus var

(Gill, 1858) Cá chuột trắng Albino Corydoras

41 - Corydoras aeneus var

(Gill, 1858) Cá chuột nâu/Chuột cà fê Bronze Corydoras

Trang 39

IX

IX.1

44

Cyprinodontiformes (Bộ cá sóc)

* Cyprinodontidae (Họ cá sóc)

45 * Poeciliidae (Họ cá khổng tước)

- Poecilia reticulata var

(Peters, 1859) Cá bảy màu/Khổng tước Guppy

48 - Xyphophorus helleri var

Heckel, 1848

Cá hồng kim/Kiếm Sword Tail

49 - Xyphophorus maculatus var

(Gunther, 1866) Cá hòa lan/Mún Platy

X

X.1

50

Perciformes (Bộ cá vược)

* Coiidae (Họ cá hường vện)

- Datnioides quadrifasciatus

(Sevastianov, 1809)

Cá thái hổ vằn/

Hường vện Siamese Tigerfish

Trang 40

X.4

54 * Cichlidae (Họ cá rô phi)

- Sciaenochromis ahli

56 - Cichlasoma aureum

(Gunther,1862) Cá hoàng kim Golden Cichlid

57 - Cichlasoma spp Cá la hán các loại Flower Horn

Bloch & Schneider Cá hoàng đế Peacock Cichlid

62 - Cichlasoma spilurus

Gunther, 1862 Cá sọc ngựa/Hòa thượng

63 - Aequidens pulcher

(Gill, 1858) Cá kim cương/Đầu lân kim tuyến Blue Acara

64 - Plerophyllum scalare var

(Lichtenstein, 1823) Cá ông tiên/Thần tiên Angelfish

65 - Hemichromis lifalili

Loiselle, 1979 Cá hồng bửu xẹt/Kim cương đỏ

66 - Maylandia zebra

(Boulenger, 1899) Cá huyết trung hồng Zebra Mbuna

67 - Astronotus ocellatus var

(Cuvier, 1829) Cá tai tượng Châu Phi/Heo lửa Oscar

68 - Apistogramma ramirezi

Myers & Harry, 1948 Cá phượng hoàng Ramirez Dwarf Cichlid

Ngày đăng: 10/06/2018, 09:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w