1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG CÁM GẠO LÊN SỰ SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG, MÀU SẮC CƠ THỊT VÀ SỰ THAY ĐỔI HÌNH THÁI GAN CỦA CÁ RÔ PHI (Oreochromis niloticus)

66 128 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG CÁM GẠO LÊN SỰ SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG, MÀU SẮC CƠ THỊT VÀ SỰ THAY ĐỔI HÌNH THÁI GAN CỦA CÁ RÔ PHI (Oreochromis niloticus)

Trang 1

KHOA THỦY SẢN

HÌNH THÁI GAN CỦA CÁ RÔ PHI

(Oreochromis niloticus)

NGÀNH: THỦY SẢN

KHOÁ: 2002 – 2006

SINH VIÊN THỰC HIỆN: ĐOÀN THỊ HẰNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-2006-

Trang 2

THÁI GAN CỦA CÁ RÔ PHI (Oreochromis niloticus)

Thực hiện bởi

Đoàn Thị Hằng

Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn: Lê Thanh Hùng

Trần Ngọc Thiên Kim

Thành Phố Hồ Chí Minh

Tháng 8/2006

Trang 3

-i

TÓM TẮT

Đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng chất lượng cám gạo đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống,

màu sắc cơ thịt và sự thay đổi hình thái gan của cá rô phi (Oreochromis niloticus), được

tiến hành tại trại thực nghiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2006

Để nghiên cứu ảnh hưởng chất lượng cám gạo, chúng tôi bố trí thí nghiệm trong đó tỷ lệ cám gạo cũ và mới thay đổi theo nghiệm thức như sau:

Nghiệm thức C0: 0% cám gạo cũ + 100% cám gạo mới Nghiệm thức C25: 25% cám gạo cũ + 75% cám gạo mới Nghiệm thức C50: 25% cám gạo cũ + 50% cám gạo mới Nghiệm thức C75: 25% cám gạo cũ + 25% cám gạo mới Nghiệm thức C100: 100% cám gạo cũ + 0% cám gạo mới Kết quả cho thấy:

Hàm lượng chất dinh dưỡng của các nghiệm thức thức ăn không khác nhau, tuy nhiên hàm lượng peroxide (chỉ tiêu đánh giá độ oxy hoá lipid) tăng lên với tỷ lệ cám gạo cũ tăng lên

Sự sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá thí nghiệm không khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê giữa các nghiệm thức (P>0,05) Do đó, việc bổ sung cám gạo cũ vào khẩu phần thức ăn không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá thí nghiệm

Tuy nhiên, sử dụng cám cũ vào khẩu phần thức ăn đã ảnh hưởng đến màu sắc, mùi vị thịt cá Cá ăn cám gạo cũ nhiều làm màu cơ thịt bị vàng và mùi khó chịu

Tỷ lệ trọng lượng gan/thân cũng tăng theo tỷ lệ cám cũ Chứng tỏ việc bổ sung cám gạo cũ đã làm gan cá to hơn bình thường

Trang 4

ii

ABTRACT

The subject: “Study on the affect of rice bran quality to growth performances, survival rate, muscle coloration and liver weight of Tilapia” The experiment was carried out at the Experiment Farm for Aquaculture of the University of Agriculture and Forestry during March to May in 2006

In the experiment, old and fresh rice bran were used at different proportims as follows:

Treatment C0: 0% old rice bran + 100% fresh rice bran

Treatment C25: 25% old rice bran + 75% fresh rice bran

Treatment C50: 50% old rice bran + 50% fresh rice bran

Treatment C75: 75% old rice bran + 25% fresh rice bran

Treatment C100: 100% old rice bran + 0% fresh rice bran

The result of the study shows that:

The nutrient composition of five diets are similar; except the peroxide index (indication for the oxidized lipid) increased with increased level of old rice bran inclusion in diets

Growth performences and survival rates of Tilapia were not significantly different among treatments (P > 0,05) Thus, old rice bran inclusion did not affect to survival rates and growth of Tilapia

Old rice bran inclusion to the diets had an impact on muscle coloration and flavor of fish fillet of Tilapia

The rate liver weight also increased with old rice bran inclusion rates That means hight peroxide in old rice bran enlarged the liver of Tilapia

Trang 5

iii

CẢM TẠ

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn

Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

Ban chủ nhiệm Khoa Thủy Sản cùng toàn thể quí thầy cô trong và ngoài Khoa đã tận tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức quí báu cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Lòng biết ơn sâu sắc gửi đến: Thầy LÊ THANH HÙNG và cô TRẦN NGỌC THIÊN KIM đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi

hoàn thành đề tài nghiên cứu này

Nhân đây chúng tôi cũng xin cảm ơn gia đình, các anh chị, các bạn sinh viên trong và ngoài lớp đã động viên giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện đề tài

Do thời gian thực hiện đề tài còn hạn chế nên không tránh khỏi thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quí thầy cô và các bạn

Trang 6

iv

MỤC LỤC

TÓM TẮT TIẾNG VIỆT ii

TÓM TẮT TIẾNG ANH iii

DANH SÁCH CÁC BẢNG viii

DANH SÁCH ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH ix

2.1 Đặc Điểm Sinh Học Cá Rô Phi 2

2.1.1 Vị trí phân loại 2

2.1.3 Đặc điểm hình thái 2

2.1.4 Phân biệt cá đực, cá cái 3

2.1.5 Môi trường sống 3

2.1.6 Đặc điểm dinh dưỡng 4

2.1.7 Đặc điểm về sinh trưởng 5

2.1.8 Đặc điểm về sinh sản 5

2.1.9 Tập tính sinh sản 6

2.2.1 Tính chất của cám gạo 6

2.2.2 Giá trị của cám gạo đối với cá 9

2.2.3 Hạn chế của cám gạo 9

2.2.4 Tiêu chuẩn cám gạo trên thị trường 10

2.3 Quá Trình Ôi Của Cám Gạo 11

2.4 Một Số Chất Chống Oxy Hoá Tổng Hợp 13

2.5 Tác Hại Của Dầu Mỡ Bị Oxy Hoá 14

3.1 Thời Gian Và Địa Điểm 15

3.2 Vật Liệu Và Trang Thiết Bị 15

Trang 7

v

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 15

3.2.2 Dụng cụ và nguyên liệu thí nghiệm 15

3.2.4 Nguyên liệu làm thức ăn 15

3.3 Bố Trí Thí Nghiệm 18

3.4 Chăm Sóc Và Quản Lý 19

3.5 Các Chỉ Tiêu Theo Dõi 19

3.6 Phương Pháp Xử Lý Thống Kê 21

4.1 Các Yếu Tố Môi Trường 22

4.1.3 Hàm lượng oxygen hoà tan 24

4.2 Thành Phần Hoá Học Của Các Nghiệm Thức Thức Ăn 25

4.3 Tăng Trưởng Và Tỷ Lệ Sống Của Cá Thí Nghiệm 26

4.3.2 Tăng trọng và lượng thức ăn sử dụng 27

4.4 Hiệu Quả Sử Dụng Thức Ăn Của Cá Thí Nghiệm 29

4.5 Hệ Số Gan/Thể Trọng (HIS) Và Màu Sắc Gan 30

4.6 Cảm Quan Màu Và Mùi Thịt Cá 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Kết quả thí nghiệm

Phụ lục 2: Kết quả xử lý thống kê

Trang 8

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Phân biệt đực, cái trên cá rô phi 3

Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng của cá rô phi vằn (O.niloticus) 5

trong điều kiện sử dụng thức ăn công nghiệp Bảng 2.3 Độ tiêu hoá của cám gạo (%) 8

Bảng 2.4 Thành phần dinh dưỡng của gạo và các phụ phẩm của

cám gạo (%vật chất khô) Bảng 2.5 Các amino acid thiết yếu của các phụ phẩm từ gạo 9

Bảng 2.6 Tỷ lệ sử dụng tối ưu cám gạo và tấm trong thức ăn 10

Bảng 2.7 Tiêu chuẩn cám gạo của Thái Lan trên thị trường 11

Bảng 2.8 Tiêu chuẩn phụ phẩm thóc quy định bởi luật lệ về 11

thực liệu ở Đức Bảng 2.9 Ảnh hưởng chất chống oxy hoá đến sự phân hủy 14

các Vitamin A và E Bảng 3.1 Thành phần hoá học của nguyên liệu làm thức ăn 17

(% vật chất khô) Bảng 3.2 Công thức tổ hợp của 5 nghiệm thức thức ăn 17

(%vật chất khô) Bảng 4.1 Thành phần hoá học của các nguyên liệu làm thức ăn 26

Bảng 4.2 Tăng trưởng cá thí nghiệm 27

Bảng 4.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn của cá thí nghiệm 29

Bảng 4.4 Hệ số gan/thể trọng và cảm quan gan 31

Bảng 4.5 Kết quả cảm quan cơ 33

Bảng 4.7 Kết quả cảm quan mô gan 36

Trang 9

DANH SÁCH ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH

Đồ thị 4.1a Biến động nhiệt độ nước trong bể ximăng vào buổi sáng 22

Đồ thị 4.1b Biến động nhiệt độ nước trong bể ximăng vào buổi chiều 23

Đồ thị 4.2a Biến động pH nước trong bể ximăng vào buổi sáng 23

Đồ thị 4.2b Biến động pH nước trong bể ximăng vào buổi chiều 24

Đồ thị 4.3a Biến động DO nước trong bể ximăng vào buổi sáng 24

Đồ thị 4.3a Biến động DO nước trong bể ximăng vào buổi chiều 25

Đồ thị 4.4 Tăng trọng của cá thí nghiệm 27

Đồ thị 4.5 Hệ số biến đổi thức ăn (FCR) 29

Đồ thị 4.6 Tăng trọng trung bình trên mỗi nghiệm thức 30

Đồ thị 4.7 Hệ số gan/thể trọng 31

Đồ thị 4.8 Cảm quan gan 32

Đồ thị 4.9 Cảm quan màu sắc cơ thịt (philê khi cá tươi) 33

Đồ thị 4.10 Cảm quan màu sắc cơ thịt (sau khi đã nấu sơ) 34

Đồ thị 4.11 Cảm quan mùi cơ thịt cá 35

Đồ thị 4.12 Cảm quan mô gan 36

Hình 2.1 Hình dạng ngoài cá rô phi 3

Hình 2.2 Cấu tạo hạt thóc 6

Hình 3.1 Hệ thống bể ximăng bố trí thí nghiệm 23

Hình 3.2 Máy ép viên thức ăn 25

Hình 3.3 Tủ sấy thức ăn 26

Hình 4.1 Cá rô phi trong 5 nghiệm thức sau 42 ngày nuôi 31

Hình 4.2 Cơ thịt và gan cá thí nghiệm 35

Hình 4.3 Cơ thịt cá thí nghiệm (khi còn tươi) 34

Hình 4.4 Cơ thịt cá thí nghiệm (sau khi nấu sơ) 35

Hình 4.5 Mô gan cá thí nghiệm ở nghiệm thức C0 37

Hình 4.6 Mô gan cá thí nghiệm ở nghiệm thức C25 37

Hình 4.7 Mô gan cá thí nghiệm ở nghiệm thức C50 38

Hình 4.8 Mô gan cá thí nghiệm ở nghiệm thức C75 38

Hình 4.9 Mô gan cá thí nghiệm ở nghiệm thức C100 39

Trang 10

I GIỚI THIỆU

1.1 Đặt Vấn Đề

Cám gạo là một phụ phẩm giàu năng lượng có được từ quá trình xay xát gạo, là vật liệu phong phú và rẻ tiền ở các nước trồng lúa, từ lâu đã được xem là nguồn nguyên liệu thức ăn truyền thống trong nuôi trồng thủy sản Sản lượng cám gạo toàn cầu mỗi năm thường chiếm từ 10 – 12% khối lượng gạo chưa xay xát, vào khoảng 40 – 45 triệu tấn Nguồn nguyên liệu này sẵn có ở khắp mọi nơi từ các nhà máy xay xát, nhất là ở Châu Á, nơi trồng 90% lúa gạo trên thế giới

Việt Nam, nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới chỉ sau Thái Lan, lại có diện tích mặt nước thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản thì cám gạo là nguồn thức ăn dồi dào để phục vụ cho nuôi tôm cá Tuy nhiên, việc trữ và sử dụng cám gạo làm thức ăn cho tôm cá có một số hạn chế, một trong những hạn chế đó là thành phần chất béo tương đối cao (10 –14%) và có nhiều acid béo chưa no (70%) nên cám gạo rất dễ bị oxy hoá và nhanh chóng trở nên ôi chua

Ở nước ta mặc dù lượng cám gạo được sản xuất mỗi năm lớn nhưng cũng chỉ tập trung vào vụ mùa và vụ chiêm, nên không phải lúc nào cũng có sẵn cám gạo mới xay xát để sử dụng Do tính chất thời vụ này của cám gạo mà việc trữ cám gạo để sử dụng là không thể tránh khỏi Trong thời gian trữ này đã xảy ra những phản ứng hoá học gây lên sự ôi chua của cám gạo

Hiện nay trên thị trường có nhiều chất chống oxy hoá tổng hợp để trộn vào cám gạo nhằm hạn chế quá trình ôi chua xảy ra, nhưng công việc này cũng chỉ hạn chế được một phần và các chất chống oxy hoá cũng chỉ có tác dụng trong một khoảng thời gian nhất định

Vậy thì cám gạo để để lâu dùng nuôi tôm cá có tác hại gì và tôm cá ăn phải cám gạo bị ôi dầu sẽ ảnh hưởng gì đến chất lượng thịt Xuất phát từ những suy nghĩ trên,

chúng tôi tiến hành đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng chất lượng cám gạo đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, màu sắc cơ thịt và sự thay đổi hình thái gan của cá rô phi

(Oreochromis niloticus)

1.2 Mục Tiêu Đề Tài

Khảo sát tác động của cám gạo cũ ở các nồng độ khác nhau lên sự sinh trưởng, tỷ lệ sống, màu sắc cơ thịt và hình thái gan của cá rô phi

Đánh giá tỷ lệ cám gạo bị peroxide hoá có thể chấp nhận được khi sử dụng chúng vào khẩu phần thức ăn của cá rô phi

Trang 11

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Đặc Điểm Sinh Học Cá Rô Phi

2.1.1 Vị trí phân loại

Có 80 loài cá được gọi tên chung là cá rô phi (Tilapia).Vị trí phân loại của cá rô phi được nuôi chủ yếu ở Việt Nam

Lớp: Osteichthyes Lớp phụ: Actinopterygii Bộ: Perciformes Bộ phụ: Percoidei Họ: Cichlidae

Giống: Oreochromis Loài: Oreochromis niloticus

Tên Việt Nam: rô phi vằn, rô phi Đài Loan

2.2.2 Phân bố

Cá rô phi phân bố tự nhiên ở Châu Phi, chúng chỉ không hiện diện ở Đông Nam Châu Phi Vào khoảng 1924, cá rô phi được nuôi đầu tiên ở Kenya, sau đó lan rộng khắp Châu Phi

Ngày nay việc giới thiệu và di nhập cá rô phi nhằm mục đích thương mại hay thí nghiệm nên cá rô phi hầu như phân bố khắp thế giới (Nguyễn Văn Tư, 2000)

2.1.3 Đặc điểm hình thái

Cá rô phi có thân hình màu hơi tím, vảy sáng bóng, có 9 -12 sọc đậm song song nhau từ lưng xuống bụng Vi đuôi có màu sọc đen đậm song song từ phía trên xuống phía dưới và phân bố khắp vi đuôi Vi lưng có những sọc trắng chạy song song trên nền xám đen Viền vi lưng và vi đuôi có màu hồng nhạt

Trang 12

Hình 2.1 Hình dạng ngoài của cá rô phi

2.1.4 Phân biệt cá đực, cá cái

Bảng 2.1 Phân biệt đực cái trên cá rô phi

Đặc điểm phân biệt Cá đực Cá cái

Đầu - To và nhô cao - Nhỏ, hàm dưới trề do

ngậm trứng và con Màu sắc - Vi lưng và vi đuôi sặc sỡ - Màu nhạt hơn

Lỗ liệu sinh dục - 2 lỗ: lỗ liệu sinh dục và lỗ

hậu môn - 3 lỗ: lỗ niệu, lỗ sinh dục và lỗ hậu môn Theo Khuyến Ngư Kiên Giang (2006)

2.1.5 Môi trường sống

Các loài cá rô phi hiện nay nuôi có đặc điểm sinh thái gần giống nhau

2.1.5.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ cần thiết cho sự phát triển của cá rô phi từ 20-310C, thích hợp nhất là 29-310C, khả năng chịu đựng với biến đổi nhiệt độ cũng rất cao từ 8-420C, cá chết rét ở 5,50C và bắt đầu chết nóng ở 420C Nhiệt độ càng thấp thì cá càng giảm ăn, ức chế sự tăng trưởng và tăng khả năng nhiễm bệnh (Phạm Thị Tuyết Hoa, 2005)

2.1.5.2 Độ mặn

Cá rô phi là loài cá nước ngọt, được thừa nhận một cách tổng quan là đã phát triển từ một tổ tiên nước biển (Kirk, 1972; trích bởi Phạm Ngọc Tịnh, 2005)

Trang 13

Có nhiều loài cá rô phi là loài rọâng muối, có khả năng sống được trong môi trường nước sông, suối, đập tràn, hồ ao nước ngọt, nước lợ và nước mặn có độ mặn từ 0

- 40000 Trong môi trường nước lợ (độ mặn 10 - 25000) cá tăng trưởng nhanh, mình dày, thịt thơm ngon (Chen, 1976; trích bởi Ngô Nguyễn Thanh Nhàn, Lê Cao Ngọc Trân, 2005)

2.1.5.3 Hàm lượng oxy hoà tan (DO)

Cá rô phi sống được trong ao, đìa có màu nước đậm, mật độ tảo dày, có hàm lượng chất hữu cơ cao, thiếu oxy Yêu cầu hàm lượng oxy hòa tan trong nước của cá rô phi ở mức thấp hơn 5 - 10 lần so với tôm sú

Hàm lượng DO thấp nhất mà cá rô phi có thể tồn tại là 0,1 mg/l, kể cả cá rô phi đen và cá rô phi vằn (Ballarin và Haller, 1982)

Tuy nhiên sự chuyển hoá thức ăn của cá rô phi đen và cá rô phi vằn giảm khi oxy hòa tan nhỏ hơn 2-3 mg/l và ngưng ăn khi oxy hòa tan nhỏ hơn 1,5 mg/l và chết khi hàm lượng oxy hòa tan của ao 0,3 mg/l (Nguyễn Thị Bích Tuyền, 2004)

2.1.5.5 Ammonia (NH 3 /NH4 + )

Ammonia rất độc cho cá nhưng cá rô phi có thể chịu đựng ammonia tốt hơn các loài cá khác, dưới 20 mg/l (Ballarin và Haller, 1982)

2.1.6 Đặc điểm dinh dưỡng

Khi còn nhỏ (5 ngày tuổi) cá rô phi ăn phiêu sinh động (Zooplankton) nhỏ như Moina Daphnia, Cyclops (Mai Đình Yên và ctv, 1992) Tỷ lệ phiêu sinh thực tăng dần theo sự sinh trưởng

Cá 20 ngày tuổi (kích thước khoảng 18 mm) ăn thức ăn như cá trưởng thành là mùn bã hữu cơ, các loại tảo, tảo đáy, các sinh vật nhỏ và thực vật thủy sinh (Moriarty, Le-Roux, Bowen, 1973; trích bởi Phạm Ngọc Tịnh, 2005)

Trang 14

Tuy nhiên trong nuôi công nghiệp cá cũng ăn các loại thức ăn chế biến từ cá tạp, cua ghẹ, ốc, bột cá khô, bột bắp, bột khoai mỳ, khoai lang, bột lúa, cám mịn, bã đậu nành, bã đậu phộng Trong thiên nhiên cá thường ăn tầng đáy có mức sâu từ 1-2 m

2.1.7 Đặc điểm về sinh trưởng

Trứng cá rô phi thụ tinh được ấp trong miệng cá mẹ ở 280C sẽ nở sau 4 ngày Cá mẹ chăm sóc và bảo vệ cá bột còn noãn hoàng cho đến khi cá con có khả năng sống độc lập (Ballarin và Haller, 1982)

Khoảng 10 - 20 ngày sau khi nở, cá bột sống hoàn toàn độc lập và xuất hiện hiện tượng ăn thịt lẫn nhau, nghiêm trọng nhất là giữa 10 - 30 ngày sau khi cá ăn ngoài

Cá bột thích sống vùng nước nông và ấm do đó cá bột tăng trưởng tốt ở ao cạn có diện tích bề mặt rộng

Loài cá rô phi vằn (O.niloticus) thích hợp cho nuôi thịt do cá tăng trưởng nhanh

và có khả năng sử dụng tốt thức ăn tự nhiên và bổ sung

Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng của cá rô phi vằn (O.niloticus) trong điều kiện sử dụng

thức ăn công nghiệp

Thời gian nuôi tuần 2 tháng 1 tháng 2 tháng 3 tháng 4 tháng 5 tháng 6 Trọng lượng

(g) 8 40 145 240 330 470 585

Theo Ballarin và Haller (1982), O.niloticus có cá đực tăng trưởng nhanh hơn cá

cái, cá đực tăng 150 - 350 g/năm ở nước ngọt và tăng 450 g/năm ở môi trường nước mặn

2.1.8 Đặc điểm về sinh sản

So với các loài cá nước ngọt khác, cá rô phi thành thục sớm Đối với cá rô phi

đen (O.mossambicus) bắt đầu sinh sản là 3 tháng tuổi, cá rô phi vằn (O.niloticus) và cá rô phi xanh (O.aureus) thành thục lần đầu tiên là 5 - 6 tháng tuổi và tái phát dục 22 - 35

ngày (Nguyễn Văn Tư, 2004)

Trứng cá rô phi nở sau 4 ngày ở nhiệt độ 280C, thời gian phát triển phụ thuộc mạnh mẽ vào nhiệt độ và có thể biến động từ 3-6 ngày với nhiệt độ 30 - 200C Cá bột sau khi nở còn noãn hoàng, hoạt động yếu nên được cá mẹ bảo vệ trong miệng

Trang 15

Cá rô phi có thể đẻ 10 - 12 lần/năm tuỳ theo loài Sức sinh sản của cá rô phi vằn 6,49 trứng/g cá cái, của cá rô phi đen 10,86 trứng/g cá cái và của con lai của cá rô phi đen và cá rô phi vằn là 9,52 - 11,20 trứng/g cá cái (Nguyễn Văn Tư, 2004)

2.1.9 Tập tính sinh sản

Bãi đẻ thích hợp nhất là nơi đáy ít bùn, nước sâu khoảng 0,3 - 0,6 m, con đực thường dùng miệng đào hố hình chảo ở đáy ao, hố to hay hỏ, nông hay sâu là tùy theo cơ thể mà có sự khác nhau

Đến giai đoạn sinh sản cá cái bơi đi tìm nơi thích hợp để đẻ, khi cá cái phóng trứng xuống lỗ thì cá đực cũng phóng tinh trùng theo đám trứng Sự thụ tinh xảy ra ngoài

cơ thể và trực tiếp trong môi trường nước (Mai Đình Yên, 1992)

Sau khi đẻ trứng cá mẹ hút toàn bộ trứng vào miệng và ấp từ 4 - 5 ngày thì nở Trong thời gian ấp, trứng được thông khí bởi hoạt động của miệng và mang con cái Con cái sẽ loại đi những trứng hư bằng cách phun toàn bộ trứng ra ngoài loại đi trứng hư và hút ngược trở lại trứng đã được thụ tinh vào miệng (Nguyễn Tường An, 1988; trích bởi Nguyễn Thị Bích Tuyền, 2004)

Sau khi nở cá con bơi ra ngoài miệng và bơi xung quanh cá mẹ, khi có dấu hiệu nguy hiểm thì cá mẹ tìm cách báo động để cá con bơi vào trong miệng cá mẹ (Mai Đình Yên, 1992)

2.2 Cám gạo

Cám gạo là 1 trong 3 loại phụ phẩm chính của hạt thóc (vỏ trấu, cám gạo và tấm) thu được khi xay xát, thường chiếm tỷ lệ trên dưới 10% so với trọng lượng lúa Cám gạo là loại bột khá mịn màu vàng nhạt, không lẫn vỏ trấu và vật lạ, phần lớn có mùi thơm và có ít tấm gạo Cám gạo chà thường mịn màu vàng sáng, có mùi thơm, không lẫn vỏ trấu, những mảnh gạo nhỏ và những vật liệu khác (Lã Văn Kính, 2003)

Trang 16

Hình 2.2 Cấu tạo hạt thóc

2.2.1 Tính chất của cám gạo

2.2.1.1 Tính chất vật lý

Cám gạo không khử dầu có 2.760 Kcal/kg (11,5 MJ/kg) năng lượng thô Cám gạo thường sử dụng trong các khẩu phần của cá ăn tạp và cá ăn thực nhiều hơn là cá ăn động vật Cám gạo là loại nguyên liệu rẻ tiền có thể dùng cho việc nuôi các loại cá như

rô phi (Oreochromis niloticus), cá tra và cá basa (P bocourti, P hypothalmus)…

Độ tiêu hóa cám gạo của cá chép (Cyprinus carpio) tốt hơn cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idella) Cá lăng (Mytus nemurus) sử dụng protein cám gạo hiệu quả hơn cá da trơn Mỹ (Ictalurus punctatus)

Độ tiêu hóa các thành phần vật chất khô của cám gạo ở tôm thẻ chân trắng

(Penaeus vannamei) là 40% và độ tiêu hóa protein là 76,4% Trong khi đó độ tiêu hóa

amino acid trong khoảng 73 – 85%

Hạt thóc

Trấu Hạt gạo Cám gạo Mầm

Trang 17

Bảng 2.3 Độ tiêu hoá của cám gạo (%)

Cá chép Trắm cỏ Da trơn Mỹ Cá lăng chân trắng Tôm thẻ Vật chất khô

-

- 21,5

-

-

-

- 85,1 82,6 73,4 74,9 81,0 74,9 73,2 75,9 Theo Joachim W.Hertrampf và Felicitas Piedad-Pascual (2000)

2.2.1.2 Tính chất hoá học

Tính chất hoá học và giá trị dinh dưỡng của cám gạo ở nước ta biến động rất lớn, chủ yếu phụ thuộc vào kỹ thuật xay xát gạo ta thu được cám gạo mịn có giá trị dinh dưỡng tương đối cao, giàu protein, béo và ít xơ (Dương Thanh Liêm, 2002)

Cám gạo sau khi chiết tách dầu mỡ có thể bảo quản được lâu hơn và làm gia tăng lượng các chất dinh dưỡng khoảng 20%, hàm lượng chất béo trong cám gạo giảm còn 1 - 2%

Bảng 2.4 Thành phần dinh dưỡng của gạo và các phụ phẩm từ gạo (% vật chất khô)

Cám gạo Thành phần

Khử dầu Không khử dầu Tấm gạo Gạo Trấu Protein thô

Chất béo thô

Tro

Xơ thô

NFE

15,1 1,7 16,7 13,7 52,8

9,0 7,4 24,7 17,9 41,0

8,1 0,6 0,7 0,4 90,2

13,6 14,5 8,3 4,2 59,4

3,1 1,0 17,4 44,3 34,2 Theo Joachim W.Hertrampf và Felicitas Piedad-Pascual (2000)

Thành phần amino acid thiết yếu trong cám gạo không cân đối so với nhu cầu của các loài cá sử dụng cám gạo như cá rô phi, cá chéo và cá da trơn Những amino acid

Trang 18

thiết yếu thiếu nhiều nhất trong cám gạo thường là Lysine, Methionine, Threonine Nên trong thức ăn cần phải chú ý bổ sung những amino acid này bằng những amino acid tổng hợp

Bảng 2.5 Các amino acid thiết yếu của các phụ phẩm từ gạo (g/16g N)

Cám gạo Khử dầu Không khử dầu Tấm gạo Gạo Arginine

0,9 0,3 0,5 0,9 0,6 0,3 0,5 0,5 0,1 0,7

0,6 0,2 0,4 0,7 0,3 0,2 0,4 0,3 0,1 0,5

0,6 0,2 0,4 0,8 0,5 0,2 0,5 0,4 0,1 0,8 Theo Joachim W.Hertrampf và Felicitas Piedad-Pascual (2000)

Cám gạo chứa một lượng lớn phosphorus dưới dạng phytate từ 3 - 5% Hàm lượng phosphorus chiếm khoảng 0,79% trong cám gạo khử dầu và chỉ có 25% có giá trị

sử dụng đối với cá chép (Cyprinus carpio) và 19% đối với cá hồi (Salmo gairgneri) Cám

gạo khử dầu và không khử dầu có liên quan đến kẽm, sắt và đặc biệt cả hai đều rất giàu vitamine

2.2.2 Giá trị của cám gạo đối với cá

Cám gạo thường được sử dụng trong khẩu phần của cá ăn thực vật và cá ăn tạp nhiều hơn cá ăn động vật Chúng là nguồn nguyên liệu không đắt tiền có thể dùng cho

việc nuôi các loại cá đơn giản như cá rô phi (O.niloticus), cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idella), cá vàng (Carassius auratus)…

Cám gạo thường được dùng trong các khẩu phần thí nghiệm với hàm lượng từ 70% Cá chép được dùng cám với hàm lượng cao nhất, cá măng biển và cá đối xám có hàm lượng cám gạo thấp nhất

10-2.2.3 Hạn chế của cám gạo

Một điều cần lưu ý trong sử dụng cám gạo là lượng chất béo trong cám gạo rất cao (12-14%), chúng nhanh chóng tạo thành các acid béo tự do do sự gia tăng hoạt lực của enzyme lypolytic có sẵn trong cám gạo Các acid béo trong dầu cám phần lớn là không no, nên dễ bị oxy hoá, làm giảm giá trị dinh dưỡng và tính ngon miệng của gia súc, do vậy không nên dự trữ cám gạo quá lâu (không nên quá 15 ngày) Có thể hạn

Trang 19

chế quá trình biến đổi trên bằng cách xử lý nhiệt (2000C trong 10 phút) để giảm bớt hoạt lực enzyme, hoặc làm giảm độ ẩm trong cám gạo xuống dưới 4% Cám gạo sau khi chiết tách dầu mỡ có thể bảo quản được lâu hơn (Dương Thanh Liêm, 2002)

Cám gạo có hàm lượng chất béo khá cao nhưng do hàm lượng xơ thô cũng cao nên cám có hàm lượng trao đổi chất thấp hơn so với bắp mặc dù đạm thô cao hơn Không nên dùng quá 30% trong khẩu phần vì lượng phospho dưới dạng phytin cao sẽ ức chế tiêu hoá các dưỡng chất như protein, acid amin và các loại vi khoáng như kẽm Ngay cả khi sử dụng cám gạo ít hơn 30% trong khẩu phần, phospho dạng phytin cũng có thể là một trở ngại về mặt dinh dưỡng cho vật nuôi Hạn chế này có thể khắc phục bằng việc đưa vào sử dụng enzyme phytase trong thức ăn

Một hạn chế khác không phải của riêng cám gạo mà còn có ở hầu hết các thức ăn có nguồn gốc thực vật là các chất đường không phải tinh bột (Non Starch Polysaccharides – NSP)

Đôi khi người ta sử dụng lúa nguyên hạt (cả vỏ trấu) nghiền mịn dùng trong thức ăn chăn nuôi Tuy nhiên trong lúa nghiền có nhiều mảnh vỏ trấu có thành phần chủ yếu là silic rất cứng, không thể tiêu hoá mà còn có thể gây tổn thương niêm mạc đường tiêu hoá khi thú ăn vào

Bảng 2.6 Tỷ lệ sử dụng tối ưu cám gạo và tấm trong thức ăn thủy sản

Các loài cá Cám gạo (10%) Gạo/tấm (%)

Cá ăn động vật

Cá ăn tạp

Cá ăn thực vật

2.2.4 Tiêu chuẩn cám gạo trên thị trường

Thái Lan, nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới đã có những tiêu chuẩn về các loại cám gạo như sau

Trang 20

Bảng 2.7 Tiêu chuẩn cám gạo của Thái Lan trên thị trường

Loại cám Độ ẩm tối đa tối thiểu Protein Chất béo tối đa Chất xơ tối đa tối đa Tro Cám gạo tốt (cám y)

Cám gạo thô

Cám gạo trích béo

Ở Đức còn nghiêm khắc hơn với các điều luật về các phụ phẩm của thóc và không hề đề cập đến vỏ trấu như là một thực liệu Việc sử dụng chúng là bất hợp pháp, kể cả trộn chung với khoáng chất

Bảng 2.8 Tiêu chuẩn của phụ phẩm thóc quy định bởi luật lệ về thực liệu ở Đức

Độ ẩm Protein thô Chất béo Xơ thô Tro Vỏ CaCO3

Loại cám

Max Min Min Max Max Max Max Cám gạo vàng

Cám gạo vàng (nồng

độ đá vôi thấp)

Cám gạo

Cám gạo khử dầu

Cám gạo trắng

Cám gạo trắng (nồng

độ đá vôi cao)

13,0 13,0 13,0 13,0

12,0 13,0 13,0 13,0

- 23,0

- 12,5 8,0

-

- 4,0 4,0 5,0

1,7 1,7

1,251,7 0,6 1,2

2,0 4,0 1,0 2,0

1,0 1,5 1,0 1,0

- 3,0

-

-

- 23,0

-

-

-

- Theo Joachim W.Hertrampf và Felicitas Piedad-Pascual (2000)

2.3 Quá trình ôi của cám gạo

Theo Metzlen D.E, 1997; trích bởi Thái Thị Loan, 2004 thì quá trình ôi của cám gạo xảy ra theo qui trình sau

Trang 21

Dưới tác dụng của bức xạ tử ngoại, các ion kim loại có giá trị thay đổi như Cu++,

Fe++, …một số phân tử hữu cơ biến thành gốc tự do (đây là những phân tử có mang điện tử độc thân) (phản ứng 1)

Trang 22

Gốc tự do được tạo thành sẽ tác kích lên phân tử cơ chất ở vị trí carbon kề với carbon mang nối đôi, lấy đi một nguyên tử hydro để được ổn định ở dạng ban đầu (RH), phân tử cơ chất bị mất đi một nguyên tử hydro hình thành gốc tự do mới (phản ứng 2)

Đến đây một phân tử oxy sẽ tác kích vào gốc tự do vừa tạo thành để cho ra một peroxide (phản ứng 3)

Peroxide mới được hình thành tự ổn định bằng cách lấy một nguyên tử hydro của một phân tử hữu cơ khác để cho ra hydro peroxide (phản ứng 4)

Đồng thời một gốc tự do mới được tái tạo, gốc tự do này tiếp tục tác kích vào cơ chất để lấy một nguyên tử hydro (quá trình này quay trở lại phản ứng 1)

Các hydro peroxide được tạo thành (phản ứng 4) về mặt cơ cấu phân tử thì không bền vững nên có khuynh hướng tự sắp xếp lại các nhóm nguyên tử của nó để đạt được

cơ cấu bền hơn, vì thế aldehyde và alcol được tạo thành (phản ứng 5) Các alcol sau đó cũng bị oxy hoá để cho aldehyde (phản ứng 6)

2.4 Một số chất chống oxy hoá tổng hợp

Theo Thái Thị Loan (2004), các chất chống oxy hoá (antioxidant) có tác dụng vô hiệu hoá các gốc tự do bằng cách ngăn cản quá trình tái tạo nó Phần lớn các chất này đếu có cấu tạo gồm một nhân thơm với nhiều nối đôi tiếp cách, đồng thời có mang một nhóm hydroxy hoạt động, điển hình cho loại chất này là BHA (Butyl hydroxy anisol) và

cơ chế tác động chống oxy hoá của nó như sau

BHA phản ứng với gốc tự do R để ổn định ở dạng phân tử RH Đồng thời, chính BHA trở thành gốc tự do (phân tử mang một điện tử cô lập) Tuy nhiên, điện tử cô lập này lại không linh động như những gốc tự do khác nhờ cơ cấu các vân đạo pi của nhân thơm Do đó, nó không thể tham gia vào phản ứng oxy hoá bình thường như gốc tự do R nên sự oxy hoá bị gián đoạn

Tất cả các chất chống oxy hoá tự nhiên hay tổng hợp đều có cơ chế tác động tương tự như thế

Như chúng ta đã biết hầu hết các chất chống oxy hóa (BHA, BHT, Ethoxyquin, vitamine E,…) đều là những chất kỵ nước (hydrophobic) Trong khi những gốc tự do là

Trang 23

những chất ưa nước (hydrophilic) và để cho hai nhóm chất này có thể phản ứng được với nhau, một chất tác dụng bề mặt (surfactant) sẽ giúp giải quyết vấn đề này

Chẳng hạn trong chế phẩm của một chất chống oxy hóa thương mại của hãng Kemin có tên endox có cấu tạo gồm một hạt Calcium silicate đóng vai trò của một chất mang, bên ngoài được áo bởi một lớp hóa chất chống oxy hóa nhân tạo như BHA, BHT, Ethoxyquin, chất tạo phức EDTA và mono, doglycerides đóng vai trò chất hoạt động bề mặt

Bảng 2.9 Ảnh hưởng chất chống oxy hóa đến sự phân hủy các vitamine A và E

Tỷ lệ (%) vitamine hao hụt hàng tháng Không có antioxidant Có antioxidant Premix khoáng – Vitamine

Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh 15-20 10 10-12 3

Theo Christopher E.Nelson (2001)

2.5 Tác hại của dầu mỡ bị oxy hoá

Khi dầu mỡ bị oxy hóa hình thành các peroxide và aldehyde gây mùi ôi khét Chính các mùi này gây giảm tính ngon miệng của vật nuôi đối với thức ăn

Giảm giá trị dinh dưỡng thức ăn Trước hết làm giảm giá trị của acid béo không bão hòa mức độ cao (PUFA) như 22:3n3, 22:5n3, acid béo thiết yếu, Lysine, Vitamine

Trang 24

Mang bị phù

Cá giảm ăn, chậm tăng trưởng, tỷ lệ tử vong cao

Cá chép ăn dầu mỡ bị ôi dầu dẫn đến bệnh “sekoke” với biểu hiện tăng trưởng chậm, cơ thoái hoá và tỷ lệ chết rất cao (Watanabe và ctv., 1966), trên cá hồi tỷ lệ chết này có thể lên đến 70%

Cá ăn dầu mỡ bị ôi dầu để lại mùi khó chịu trên thịt cá do đó làm giảm giá trị của sản phẩm

Trang 25

III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

3.1 Thời Gian Và Địa Điểm Nghiên Cứu

Đề tài được tiến hành từ 31/3/2006 đến 14/5/2006 Đề tài được thực hiện tại Trại thực nghiệm Khoa Thủy Sản, Trường ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

Thí nghiệm nghiên cứu chất lượng cám gạo bị ôi dầu đến sự sinh trưởng, tỷ lệ

sống, màu sắc cơ thịt và hình thái gan của cá rô phi (Oreochromis niloticus)

3.2 Vật Liệu Và Trang Thiết Bị

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Cá rô phi (Oreochromis niloticus) được vận chuyển từ trại sản xuất giống Bình

An (Đồng Nai) với số lượng 1000 con Cá được thả vào bể ximăng nuôi dưỡng trước khi tiến hành thí nghiệm, và được cho ăn cùng một loại thức ăn để cá thích nghi với điều kiện môi trường và ổn định Sau đó chọn cá có chất lượng tốt và kích cỡ đồng đều để bố trí thí nghiệm

3.2.2 Dụng cụ và nguyên liệu thí nghiệm

Hệ thống bể ximăng

Cá rô phi giống có trọng lượng trung bình 0,7-0,9 gram

Nguyên liệu làm thức ăn: cám gạo, bột cá, bánh dầu đậu nành…

Máy ép, tủ sấy thức ăn

Bộ test NH4+/NH3, máy đo DO, máy đo pH và nhiệt độ

Cân điện tử

Thuốc gây mê, thau nhựa, hũ đựng thức ăn, vợt vớt cá, ống siphon

Và một số dụng cụ khác

3.2.3 Nguồn nước

Nước sử dụng cho thí nghiệm được cung cấp từ nguồn nước máy sinh hoạt, được bơm vào hồ chứa cho lượng Clor bay hơi hết trước khi bơm vào hệ thống bể thí nghiệm, đồng thời góp phần cho nước được ấm tạo nhiệt độ tốt cho cá nuôi, thúc đẩy tảo phát triển, một phần làm thức ăn cho cá và tạo màu nước làm cho cá bớt nhát

3.2.4 Nguyên liệu làm thức ăn

Nguyên liệu làm thức ăn thí nghiệm gồm: Cám gạo cũ, cám gạo mới, bột cá, bánh dầu đậu nành, tinh bột khoai mỳ

Trang 26

Công thức thức ăn được thiết kế trên phần mềm Excel, do mục đích khảo sát ảnh hưởng của cám gạo bị ôi dầu nên tỷ lệ cám gạo chiếm gần 50%, bột cá được khống chế trong khoảng 5%

Ngoài ra các công thức đều được bổ sung thêm dầu đậu nành, vitamin C, khoáng premix để đảm bảo thành phần dinh dưỡng và Carboxyl methyl cellulose (CMC) được sử dụng như là một chất kết dính cho các thành phần của thức ăn, làm thức ăn lâu tan và bền lâu trong nước

Bảng 3.1 Thành phần hoá học của nguyên liệu làm thức ăn (%VCK)

Thành phần hoá học Bột cá Bánh dầu đậu nành Cám gạo khoai mỳ Tinh bột Protein (%)

44,40 1,40 33,33 6,67 3,40 10,80 2,99 0,58

13,30 9,40 60,30 6,70 1,20 9,10 0,54 0,26

0,19 0,66 85,24 0,19 0,19 13,53 0,00 0,00

*NFE (Nitrogen Free Extract): chất trích không đạm

** Ước tính theo số liệu của Lovell, 1998

Bảng 3.2 Công thức tổ hợp của 5 nghiệm thức thức ăn (% vật chất khô)

Nguyên liệu C0 C25 C50 C75 C100

Cám gạo cũ

Cám gạo mới

Bột cá

Bánh dầu đậu nành

Tinh bột khoai mỳ

12,37 37,09 5,00 36,04 5,00 0,50 0,50 1,00 0,20 1,00 1,00

24,73 24,73 5,00 36,04 5,00 0,50 0,50 1,00 0,20 1,00 1,00

37,09 12,37 5,00 36,04 5,00 0,50 0,50 1,00 0,20 1,00 1,00

49,46 0,00 5,00 36,04 5,00 0,50 0,50 1,00 0,20 1,00 1,00 Nguyên liệu của 5 công thức được phối trộn, ép viên và sấy khô ở nhiệt độ khoảng 600C bằng máy sấy trong 24 giờ

Trang 27

3.3 Bố Trí Thí Nghiệm

Thí nghiệm được thực hiện với năm nghiệm thức khác nhau, mỗi nghiệm thức lặp lại ba lần và bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trong tất cả 15 bể ximăng Các nghiệm thức được ký hiệu là

C0 có tỷ lệ cám cũ là 0%

C25 có tỷ lệ cám cũ là 25%

C50 có tỷ lệ cám cũ là 50%

C75 có tỷ lệ cám cũ là 75%

C100 có tỷ lệ cám cũ là 100%

Tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên vị trí bể bố trí thí nghiệm, sau đó chúng tôi chọn ngẫu nhiên 30 con cá có trọng lượng tăng trọng 20 – 27 g

Sơ đồ bố trí thí nghiệm

C100-3 C50-1 C25-2 C50-2 C0-3 C100-2 C0-2 C25-3 C25-1 C75-3 C100-1 C50-3 C75-1 C0-1 C75-2

3.4 Chăm Sóc Và Quản Lý Các Thí Nghiệm

Cho cá ăn mỗi ngày 3 lần vào lúc 7 giờ, 12 giờ và 16 giờ 30 Thay nước 3 ngày/lần và tiến hành siphon để loại bỏ chất thải

Cho cá ăn lượng thức ăn tối đa mỗi ngày Khi tiến hành, chúng tôi cho cá ăn khi nào thấy cá có biểu hiện ngừng ăn thì dừng lại

3.5 Các Chỉ Tiêu Theo Dõi

Đo các chỉ tiêu pH, nhiệt độ, NH4+/NH3, DO mỗi tuần 1 lần, mỗi lần đo vào buổi sáng lúc 7giờ 30 và buổi chiều lúc 16 giờ 30

Cân cá và lượng thức ăn sử dụng 2 tuần/lần để tính tăng trọng và hệ số thức ăn

Trang 28

- Tỷ lệ sống (%)

Số lượng cá thu hoạch Tỷ lệ sống =

Số lượng cá ban đầu x100%

- Tăng trọng

Tăng trọng (g)

W = Wt – W0

W0: Trọng lượng cá đầu thí nghiệm

Wt: Trọng lượng cá sau thí nghiệm

t: Thời gian thí nghiệm

Tỷ lệ tăng trọng (%) - Percentage weight gain

Wt – W0

PWG =

W0 x 100Tốc độ tăng trưởng (mg/ngày) – Day weight gain

Wt – W0

DWG =

t x 1000Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (%/ngày) - Specific growth rate

- Hiệu quả sử dụng thức ăn

Hệ số biến đổi thức ăn - Food conversion ratio

Tổng thức ăn sử dụng FCR =

Tổng trọng lượng cá thu – tổng trọng lượng cá thả Hiệu quả sử dụng protein – Protein efficiency ratio

PER = (Wt – W0)/Protein trong thức ăn

- Hình thái cơ và gan

Trang 29

Cấu trúc và màu sắc gan sau thí nghiệm được tính dựa theo công thức sau

Hệ số gan/thể trọng (Hepato somatic index)

HIS = Trọng lượng gan/trọng lượng thân

3.6 Phương Pháp Xử Lý Thống Kê

Các số liệu về tăng trọng, hệ số biến đổi thức ăn, trọng lượng gan… của cá thí nghiệm được phân tích bằng Excel và phần mềm SPSS để so sánh sự khác nếu có của các nghiệm thức

Hình 3.1 Hệ thống bể ximăng bố trí thí nghiệm

Trang 30

Hình 3.2 Máy ép viên thức ăn

Hình 3.3 Tủ sấy thức ăn

Trang 31

IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Các Yếu Tố Môi Trường

4.1.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng, nó ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của động vật Cá là động vật biến nhiệt nên ảnh hưởng của nhiệt độ càng lớn

Sự biến đổi nhiệt độ trong quá trình nuôi trong bể ximăng từ 27 - 300C Theo Nguyễn Văn Tư (2004) cá rô có giới hạn nhiệt độ trong khoảng 12 - 420C Trong khoảng biến động nhiệt độ này thì thích hợp cho sự sinh trưởng của cá rô phi, nên không ảnh hưởng bất lợi đến sự tăng trưởng của chúng

20 22 24 26 28 30 32

Trang 32

20 22 24 26 28 30 32

Đồ thị 4.1b Biến động nhiệt độ nước trong bể ximăng vào buổi chiều

Nhiệt độ trong quá trình nuôi tương đối ổn định Có sự biến đổi của nhiệt độ là

do thời tiết (mưa) nhưng sự thay đổi này vẫn thích hợp cho sự phát triển của cá

6 6,5 7 7,5 8

Trang 33

6 6,5

7 7,5

8

Đồ thị 4.2b Biến động pH trong bể ximăng vào buổi chiều

4.1.3 Hàm lượng oxygen hoà tan

Oxy hoà tan là yếu tố quan trọng trong việc duy trì sự sống của cá, là một trong những yếu tố quyết định sự tăng trưởng của cá Ảnh hưởng của oxy hoà tan trong nước còn phụ thuộc vào nhiệt độ, sự thích ứng của cá, sự tiêu thụ oxygen trong nước để oxy hoá các chất…

Hàm lượng DO trong bể ximăng dao động từ 0,9 – 3,3 Khoảng DO này hoàn toàn phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá rô phi

0123

Ngày đăng: 10/06/2018, 08:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w