1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHAÛO SAÙT ÑAËC ÑIEÅM SINH HOÏC CON LAI GIÖÕA EÁCH ÑOÀNG VIEÄT NAM (Rana rugulosa Weigmanna, 1835) VAØ EÁCH THAÙI LAN (Rana tigerina tigrina Dubois, 1981)

78 160 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên trong quá trình nuôi, bên cạnh những ưu điểm của loài ếch này là có thể sinh sản nhân tạo, sử dụng tốt thức ăn công nghiệp, lớn nhanh, kích thước lớn,…thì chúng cũng xuất hiện

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM

KHOA THỦY SẢN -oOo -

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CON LAI

GIỮA ẾCH ĐỒNG VIỆT NAM (Rana rugulosa

Weigmanna, 1835) VÀ ẾCH THÁI LAN

(Rana tigerina tigrina Dubois, 1981)

NGÀNH : NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

KHÓA : 2002 – 2006

SINH VIÊN THỰC HIỆN: DIỆP THÀNH TOÀN

NHUYỄN VĂN MINH TUẤN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2006

Trang 2

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CON LAI

GIỮA ẾCH ĐỒNG VIỆT NAM (Rana rugulosa

Weigmanna, 1835) VÀ ẾCH THÁI LAN

(Rana tigerina tigrina Dubois, 1981)

Thực hiện bởi

Diệp Thành Toàn Nguyễn Văn Minh Tuấn

Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn: Lê Thanh Hùng

Thành Phố Hồ Chí Minh

-

Trang 3

2006-TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu “Khảo Sát Đặc Điểm Sinh Học Con Lai Giữa Ếch Đồng

Việt Nam (Rana rugulosa Weigmann, 1835) và Ếch Thái Lan (Rana tigerina tigrina

Dubois, 1981)” được thực hiện tại Trại Thực Nghiệm, Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh, thời gian tiến hành từ ngày 05/04/2006 đến ngày 31/07/2006

Đề tài tiến hành nhằm mục đích khảo sát khả năng lai tạo giữa hai loài ếch

đồng Việt Nam (Rana rugulosa) và ếch Thái Lan (Rana tigerina tigrina) Khảo sát

ảnh hưởng của hai loại thức ăn (thức ăn viên công nghiệp và thức ăn tươi sống) đến sự tăng trưởng của con lai Qua đó đánh giá khả năng tăng trưởng, thích nghi và sử dụng thức ăn viên công nghiệp của con lai Đồng thời khảo sát đặc điểm hình thái của con lai so với bố mẹ

Sau một tháng ương nuôi nòng nọc và ba tháng nuôi thịt ếch lai cho thấy khả năng sử dụng thức ăn viên công nghiệp và thức ăn tươi sống của ếch lai là rất kém Đây là nguyên nhân làm cho trọng lượng, tỷ lệ sống và tỷ lệ biến thái của ếch lai thấp hơn ếch Thái Lan

Dựa trên kết quả ghi nhận được về đặc điểm hình thái cho thấy ếch lai có hình dạng giống ếch đồng Việt Nam hơn ếch Thái Lan Ngoài ra, ở ếch lai còn có những điểm khác biệt về hình dạng với cả bố lẫn mẹ

Trang 4

ABSTRACT

A study: “ Evaluating the biological characteristics of hydrid of local frog

(Rana rugulosa Weigmann, 1835) and Thai frog (Rana tigerina tigrina Dubois,

1981)” was carried out at Experimental Farm for Aquaculture, Faculty of Fisheries, Nong Lam University from April 5th 2006 to July 31st 2006

The study was carried out to evaluate the hydridization of two frog species; influence of two feed types (pellet feed, live feed) on hydrid frogs’ growth; whereby evaluated growth ability, adjusted to environment and the capacity of hydrid frogs fed by pellet; and the study on morphology characteristics of hydrid frogs with their parents

After farming tadpoles in one month, and three month for frog let, the results show that: The capacity of hydrid frogs fed by pellet and live feed was weak That is the reason caused their lower weight, survival rate, metamorphic rate were lower than Thai frog

Their form is similar to local frog more than Thai frog Besides, they has different characteristics with their parents

Trang 5

CẢM TẠ

Chúng tôi xin chân thành cảm tạ:

Cha mẹ và gia đình đã luôn ở bên cạnh động viên và hỗ trợ về tinh thần lẫn vật chất cho con trong suốt những năm đi học cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để con hoàn thành luận văn này

Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản cùng toàn thể quý thầy cô Khoa Khoa Học và Khoa Thủy Sản đã tạo mọi điều kiện và tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho chúng tôi trong suốt khóa học

Chúng tôi xin gởi lòng cảm ơn sâu sắc đến thầy Lê Thanh Hùng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp

Đồng thời chúng tôi xin chân thành cám ơn anh Trần Văn Minh cùng với các anh chị nhân viên của Trại Thực Nghiệm Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh và Trung Tâm Thông Tin Khoa Học và Công Nghệ Tp Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ chúng tôi thực hiện nghiên cứu này

Chúng tôi xin gởi lời cám ơn đến các bạn sinh viên lớp Nuôi Trồng Thủy Sản

28 đã động viên, giúp đỡ chúng tôi trong thời gian học tập và quá trình làm đề tài

Do thời gian thực hiện đề tài còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn để luận văn này được hoàn chỉnh hơn

Trang 6

MỤC LỤC

ĐỀ MỤC

TRANG ĐỀ TÀI

TÓM TẮT TIẾNG VIỆT .ii

TÓM TẮT TIẾNG ANH iii

CẢM TẠ iv

MỤC LỤC v

DANH SÁCH CÁC BIỂU BẢNG vii

DANH SÁCH ĐỒ THỊ viii

DANH SÁCH HÌNH ẢNH ix

I GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt Vấn Đề 1

1.2 Mục Tiêu Đề Tài 2

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Đặc Điểm Sinh Học của Ếch Thái Lan và Ếch Đồng Việt Nam 3

2.1.1 Phân loại 3

2.1.2 Tên đồng danh 3

2.1.3 Phân bố và môi trường sống 4

2.1.4 Đặc điểm hình thái của ếch Thái Lan và ếch đồng 5

2.1.5 Cơ quan hô hấp 8

2.1.6 Hệ sinh dục và sinh sản 8

2.1.7 Vòng đời của ếch 9

2.1.8 Thức ăn và tập tính ăn của ếch 11

2.2 Tình Hình Nuôi Ếch 11

2.3 Tình Hình Lai Tạo Giống ở Nhóm Lưỡng Thê Trên Thế Giới 12

III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

3.1 Vật Liệu 14

3.1.1 Thời gian và địa điểm 14

3.1.2 Dụng cụ thí nghiệm 14

3.2 Phương Pháp Thí Nghiệm 15

3.2.1 Khảo sát đặc điểm hình thái của ếch Thái Lan, ếch đồng Việt Nam và ếch lai 15

3.2.2 Lai tạo của ếch Thái Lan và ếch đồng Việt Nam 16

Trang 7

3.2.3 Bố trí thí nghiệm so sánh tăng trưởng của ếch lai với ếch Thái Lan ở giai đoạn

nòng nọc 17

3.2.4 Bố trí thí nghiệm so sánh tăng trưởng của ếch lai với ếch Thái Lan giai đoạn nuôi ếch thịt 20

3.2.5 Chăm sóc và quản ly 20ù 3.3 Các Chỉ Tiêu Theo Dõi 21

3.4 Phương Pháp Xử Liù Số Liệu 21

IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22

4.1 Sản Xuất Giống Ếch Lai 22

4.2 Giai Đoạn Ương Nòng Nọc Ếch Lai và Ếch Thái Lan 23

4.2.1 Sự biến thái 23

4.2.2 Ương nuôi nòng nọc ếch Thái Lan 24

4.2.3 Ương nuôi nòng nọc ếch lai 1 27

4.2.4 Ương nuôi nòng nọc ếch lai 2 30

4.2.5 So sánh sự tăng trưởng của nòng nọc ếch lai với ếch Thái Lan 33

4.3 Giai Đoạn Nuôi Thịt Ếch Lai và Ếch Thái Lan 40

4.3.1 Nuôi thịt ếch Thái Lan 40

4.3.2 Nuôi thịt ếch lai 1 42

4.3.3 Nuôi thịt ếch lai 2 43

4.3.4 So sánh trọng lượng, tỷ lệ sống giữa ếch lai 1 và ếch Thái Lan nuôi trong giai treo trong ao đất 44

4.4 Khảo Sát Đặc Điểm Hình Thái của Ếch Đồng Việt Nam, Ếch Thái Lan và ếch lai 50

4.4.1 Giai đoạn nòng nọc 50

4.4.2 Giai đoạn ếch con và ếch trưởng thành 51

4.4.3 Hình dạng lưỡi 55

V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 66

5.1 Kết Luận 66

5.2 Đề Nghị 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tên đồng danh của ếch đồng Việt Nam và ếch Thái Lan 3 Bảng 4.1 Kết quả sinh sản giữa ếch đồng và ếch Thái Lan 22 Bảng 4.2 Sự biến thái của ếch lai và ếch Thái Lan 23 Bảng 4.3 Trọng lượng, tỷ lệ sống, tỷ lệ biến thái và độ lệch

chuẩn của nòng nọc ếch Thái Lan 25 Bảng 4.4 Trọng lượng, tỷ lệ sống, tỷ lệ biến thái và độ lệch

chuẩn của nòng nọc ếch lai 1 27 Bảng 4.5 Trọng lượng, tỷ lệ sống, tỷ lệ biến thái và độ lệch

chuẩn của nòng nọc ếch lai 2 30 Bảng 4.6 Sự phát triển của nòng nọc ếch lai và ếch Thái Lan

khi sử dụng thức ăn công nghiệp 33 Bảng 4.7 Sự phát triển của nòng nọc ếch lai và ếch Thái Lan khi

sử dụng thức ăn trùn chỉ 37 Bảng 4.8 So sánh tỷ lệ sống, trọng lượng và độ lệch chuẩn của ếch

Thái Lan với hai chế độ thức ăn khác nhau 41 Bảng 4.9 So sánh tỷ lệ sống, trọng lượng và độ lệch chuẩn của ếch lai 1

với hai chế độ thức ăn khác nhau 42 Bảng 4.10 So sánh trọng lượng, tỷ lệ sống và độ lệch chuẩn giữa ếch lai 1

và ếch Thái Lan theo thời gian nuôi 44 Bảng 4.11 So sánh trọng lượng, tỷ lệ sống và độ lệch chuẩn giữa ếch lai 1

và ếch Thái Lan theo thời gian nuôi 47 Bảng 4.12 Bảng so sánh đặc điểm hình thái nòng nọc ếch đồng, ếch Thái

Lan và ếch lai 50 Bảng 4.13 Một số chỉ tiêu của êùch Thái Lan, ếch đồng và ếch lai 52 Bảng 4.14 Hình thái của ếch lai so với ếch Thái Lan và ếch đồng 54

Trang 9

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ

Đồ thị 4.1 Sự tăng trưởng trọng lượng của nòng nọc ếch Thái Lan 26

Đồ thị 4.2 Sự tăng trưởng theo trọng lượng của nòng nọc ếch lai 1 29

Đồ thị 4.3 Sự tăng trưởng của nòng nọc ếch lai 2 32

Đồ thị 4.4 Sự tăng trưởng của nòng nọc khi sử dụng thức ăn công nghiệp 34

Đồ thị 4.5 Tỷ lệ sống của nòng nọc khi sử dụng thức ăn công nghiệp 35

Đồ thị 4.6 Tỷ lệ biến thái của ếch khi sử dụng thức ăn công nghiệp 36

Đồ thị 4.7 Sự tăng trưởng của nòng nọc khi sử dụng thức ăn trùn chỉ .38

Đồ thị 4.8 Tỷ lệ sống của nòng nọc khi sử dụng thức ăn trùn chỉ 39

Đồ thị 4.9 Tỷ lệ biến thái của ếch khi sử dụng thức ăn trùn chỉ 40

Đồ thị 4.10 Sự tăng trưởng của ếch khi sử dụng thức ăn công nghiệp 45

Đồ thị 4.11 Tỷ lệ sống của ếch khi sử dụng thức ăn công nghiệp 46

Đồ thị 4.12 Sự tăng trưởng của ếch khi sử dụng thức ăn cá tạp 48

Đồ thị 4.13 Tỷ lệ sống của ếch khi sử dụng thức ăn cá tạp 49

Trang 10

DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH

Hình 2.1 Hình thái ngoài của ếch Thái Lan 6

Hình 2.2 Hình dạng ngoài của ếch đồng Việt Nam 7

Hình 2.3 Thời gian biến thái của ếch đồng 10

Hình 2.4 Vòng đời của ếch 10

Hình 3.1 Bể Composite dùng cho sinh sản nhân tạo 17

Hình 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 19

Hình 4.1 Hình dạng nòng nọc vào giai đoạn mọc chân sau 56

Hình 4.2 Hình dạng nòng nọc vào giai đoạn mọc chân trước 56

Hình 4.3 Hình dạng ếch vào giai đoạn biến thái 57

Hình 4.4 Vị trí lỗ mũi ếch Thái Lan và ếch lai 1 57

Hình 4.5 Vị trí lỗ mũi ếch lai 2 và ếch Thái Lan 58

Hình 4.6 Vị trí lỗ mũi ếch Thái Lan và ếch đồng 58

Hình 4.7 Chiều dài đùi ếch đồng 59

Hình 4.8 Chiều dài đùi ếch lai 1 59

Hình 4.9 Chiều dài đùi ếch Thái Lan 60

Hình 4.10 Chiều dài đùi ếch lai 2 60

Hình 4.11 Hình dạng lưỡi ếch lai 1 và ếch lai 2 61

Hình 4.12 Hình dạng lưỡi each Thái Lan và ếch đồng 61

Hình 4.13 Vị trí xương lá mía của ếch lai 1 và ếch lai 1 62

Hình 4.14 Vị trí xương lá mía của ếch Thái Lan và ếch đồng 62

Hình 4.15 Đùi ếch lai 1 63

Hình 4.16 Đùi ếch lai 2 63

Hình 4.17 Đùi ếch đồng 64

Hình 4.18 Đùi ếch Thái Lan 64

Hình 4.19 Hình dạng đầu ngón chân ếch 65

PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Một số kết quả cân đo trọng lượng của ba loài ếch

Phụ lục 2 Bảng thống kê tóm tắt về trọng lượng của ba loài ếch

Phụ lục 3 Một số kết quả thống kê so sánh ba loài ếch

Trang 11

I GIỚI THIỆU

1.1 Đặt Vấn Đề

Trong những năm qua ngành thủy sản đã và đang phát triển mạnh mẽ Trong đó ngành nuôi các loài thủy sản nước ngọt góp phần không nhỏ trong vấn đề cung cấp thực phẩm cho nhân dân và xuất khẩu Trong các loài thủy sản nước ngọt được nuôi thì nuôi ếch là một nghề không mới lạ đối với đa số người nông dân Có điều nghề này xưa nay ít được mọi người coi trọng so với các loài thủy sản khác

Lẽ dễ hiểu, khi mà trước kia lượng ếch trong ruộng cũng như ngoài sông, suối còn dồi dào nên người dân chưa nghĩ đến việc đào ao, xây bể nuôi ếch như hiện nay

Trước đây, sản lượng ếch cung cấp cho thị trường vẫn chủ yếu dựa vào đánh bắt tự nhiên Nhưng gần đây, lượng thủy sản nói chung lượng ếch nói riêng không còn nhiều như trước nữa, do khắp đồng ruộng nông dân quá lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật để trừ sâu, rầy,…phá hoại mùa màng đã vô tình tiêu diệt luôn ếch (Cục Bảo Vệ Nguồn Lợi Thủy Sản) Bên cạnh đó do dân số ngày một gia tăng dẫn đến nhu cầu tiêu thụ các loài thủy sản trong đó có loài ếch ngày càng cao làm cho việc lạm thác loài này càng trở nên trầm trọng, nên việc nuôi đối tượng này đã được sự lưu ý và quan tâm của nhiều người

Tại nước ta, có nhiều cố gắng nuôi ếch đồng bằng phương pháp thủ công dân gian với con giống tại chỗ, với thức ăn tự nhiên, nhưng việc nuôi ếch đồng không phát triển vì tỷ lệ ếch nuôi chết khá cao, sản lượng thấp và không hiệu quả kinh tế Việc nuôi ếch thâm canh, sử dụng thức ăn công nghiệp nếu phát triển tốt, sẽ mở rộng khả năng cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thủy sản, cũng như giảm áp lực khai thác trong thiên nhiên

Ếch đồng Việt Nam (Rana rugulosa) là loài ếch phân bố phổ biến trên đồng

ruộng Việt Nam Con giống ếch đồng Việt Nam được thu chủ yếu từ tự nhiên đem về nuôi Hiện nay, chưa có cơ sở sản xuất giống ếch đồng do việc nuôi ếch đồng không đem lại hiệu quả kinh tế vì khả năng thích nghi của ếch kém với điều kiện nuôi giữ, và do tập tính ăn mồi động nên việc cho ăn thức ăn nhân tạo rất khó khăn dẫn đến ếch tăng trưởng kém và tỷ lệ sống thấp Trái lại, Thái Lan đã phát triển nghề nuôi

ếch trong những năm gần đây với loài ếch Thái (Rana tigerina tigrina), có khả năng

sử dụng tốt thức ăn nhân tạo

Với xu hướng đa dạng hóa vật nuôi và cây trồng để tăng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, việc đưa giống mới có giá trị kinh tế, phù hợp với môi trường là mục tiêu quan trọng của phát triển nông nghiệp và thủy sản Trong thời gian gần đây, ếch

Trang 12

Thái Lan du nhập vào nước ta được nuôi với hình thức công nghiệp nhằm thay thế nguồn ếch bản địa đang bị suy giảm nghiêm trọng Dựa vào tính tương đồng về các yếu tố khí hậu giữa Việt Nam và Thái Lan (cùng nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới nóng ẩm) chúng ta hy vọng loài ếch này sẽ thích nghi tốt với khí hậu nước ta

Tuy nhiên trong quá trình nuôi, bên cạnh những ưu điểm của loài ếch này là có thể sinh sản nhân tạo, sử dụng tốt thức ăn công nghiệp, lớn nhanh, kích thước lớn,…thì chúng cũng xuất hiện những nhược điểm như: có tập tính ăn nhau, bụng to, dễ bị bệnh,…vv

Để khắc phục những nhược điểm đó, cũng như đa dạng hoá vật nuôi, người ta đang cố gắng lai tạo giữa hai loài ếch đồng Việt Nam và ếch Thái Lan nhằm tạo ra những thế hệ con lai có được những phẩm chất tốt của bố mẹ Đối với ếch đồng Việt Nam, chúng có khả năng thích nghi tốt với môi trường vì đây là loài ếch bản địa và ếch Thái Lan thì lớn con, lớn nhanh nên có khả năng lai tạo giữa hai loài ếch này để có thể tập trung được những tính trạng tốt (ưu thế lai) như thích nghi tốt với môi trường, lớn nhanh và kích thước thương phẩm lớn hơn Chính vì lý do đó, được sự cho phép và phân công của Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài " Khảo Sát Đặc Điểm Sinh Học Con Lai Giữa

Ếch Đồng Việt Nam (Rana rugulosa Weigmann, 1835) Và Ếch Thái Lan (Rana tigerina tigrina Dubois, 1981)"

1.2 Mục Tiêu Đề Tài

Qua thực hiện đề tài, chúng tôi mong muốn đạt được những mục tiêu sau:

- Khảo sát khả năng lai tạo giữa hai loài ếch đồng Việt Nam và ếch Thái Lan

- Đánh giá khả năng tăng trưởng, thích nghi và khả năng sử dụng thức ăn công nghiệp của con lai

- Khảo sát đặc điểm hình thái của con lai so với bố mẹ

Trang 13

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Đặc Điểm Sinh Học của Ếch Thái Lan và Ếch Đồng Việt Nam

Loài: Rana rugulosa Weigmann, 1835 (ếch đồng Việt Nam)

Rana tigerina tigrina Dubois, 1981 (ếch Thái Lan)

2.1.2 Tên đồng danh

Việc phân loại ếch đồng và ếch Thái Lan khá phức tạp vì chúng có nhiều tên đồng danh và theo nhiều tác giả khác nhau theo như bảng 2.1 sau đây:

Bảng 2.1 Tên đồng danh của ếch đồng Việt Nam và ếch Thái Lan

Hydrostentor pantherinus Steindachner,

Rana tigirina var pantherina

Ran esculenta chinensis Wolterstorff, 1906 Rana picta Gravenhorst, 1829

Trang 14

Nguồn: Frogweb.Org – Species Synnonym Index

2.1.3 Phân bố và môi trường sống

2.1.3.1 Phân bố

Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của ếch Thái Lan là từ 25-300C, phân bố nhiều ở Thái Lan, Đài Loan,…Trên thế giới nhóm động vật ếch nhái có đến 2.000 loài (Phạm Văn Trang và Phạm Báu, 1999)

Theo Ngô Trọng Lư (1999; trích bởi Lê Thanh Hùng, 2005) họ Ranidae là một trong những họ lớn nhất của lớp ếch nhái, gồm 46 giống và 555 loài

Ở Việt Nam, có khoảng 82 loài ếch nhái như ếch đồng, ếch vạch, ếch gai, ếch cốm,…trong đó ếch đồng là loài có giá trị nhất và chúng thường tập trung ở các tỉnh phía Nam (Phạm Văn Trang và Phạm Báu, 1999)

2.1.3.2 Môi trường sống

Ếch thường tập trung sống nơi đồng ruộng, ao hồ, dọc sông, suối, những nơi ẩm ướt và có nguồn nước ngọt Ếch là động vật lưỡng cư, sống ở cả hai môi trường trên cạn và dưới nước Ếch sống khá thụ động, chỉ quanh quẩn gần nơi ở Ếch kém chịu lạnh và nóng, không ưa đất, nước chua mặn.

Rana tigerina var pantherina Boulenger,

Rana tigerina rugulosa Fang and Chang,

Rana tigerina pantherina Taylor and Elbel,

Euphlyctis tigerina rugulosa Poynton and

Tigerina rugulosa Fei, Ye and Huang,

1991

Rana tigrina Boulener, 1920

Hoplobatrachus chinensis Ohler, Swan and

Rana tigrina tigrina Merten, 1969

Trang 15

Do thích sống yên tĩnh và cũng nhằm trốn tránh kẻ thù, ếch thường kiếm hang để sống Thông thường chúng chiếm hang cua (cua đồng) để ở sau khi ăn thịt chủ nhà

2.1.4 Đặc điểm hình thái của ếch Thái Lan và ếch đồng

2.1.4.1 Đặc điểm hình thái của ếch Thái Lan

Đầu tương đối hẹp dần về phía mõm Miệng là một khe rộng đến mang tai nên ếch đớp và giữ mồi được dễ dàng Trước đầu mõm ở mặt lưng có một đôi lỗ mũi ngoài Mắt lớn và lồi ra có ba mí: mí trên phát triển, mí dưới không cử động, mí thứ

ba là một màng nhày ở góc mắt rất linh hoạt có thể phủ kín cả mắt Sau mắt là màng nhĩ tròn Tuy nhiên mắt ếch chỉ nhìn rõ những con vật di động (hoặc màu đỏ, màu xanh da trời) Còn những vật tĩnh, ếch lại phát hiện kém

Ở cá thể đực, thềm miệng có hai túi âm, túi âm thanh được cấu tạo bằng một màng mỏng có màu xám xanh hoặc đen Khi ếch kêu, hai túi âm thanh phồng lên, có tác dụng như một bộ phận cộng hưởng là tăng cường độ âm thanh Xương lá mía có hai hàng xiên rất lớn, viền trước của nó thấp hơn viền trước của lỗ mũi hầu

Hàm dưới có hai chỗ nhô lên giống như răng hàm rất phát triển ở trước mõm vừa khít với các lỗ ở hàm trên Lỗ mũi nằm lệch về phía mắt hơn so với chóp mõm

Ổ mắt hẹp hơn mí mắt trên, màng nhĩ dễ nhận thấy

Thân ếch phủ da trần, thường xuyên ẩm ướt Da ếch không dính liền với lớp

cơ bên dưới, dùng kẹp có thể nhấc da qua lại, tách hẳn với lớp cơ bên dưới Da chỉ gắn với lớp cơ bên dưới theo một vài đường nên tạo thành những xoang chứa đầy bạch huyết góp phần làm da ếch luôn ẩm ướt thích ứng với sự vận chuyển và hô hấp

Da ếch dày và sần sùi không trơn lán như ếch đồng Lưng có màu xám nâu với những vệt xám đen, trên lưng có những nếp da đứt đoạn chạy dọc, không có cơ quan đường bên Da bụng trắng, hai bên sườn đôi khi có màu vàng (tùy theo môi trường nước mà ếch sinh sống) Cuối thân có một lỗ gọi là lỗ huyệt (nơi bài tiết phân, nước tiểu và sản phẩm sinh dục)

Ếch Thái Lan là loại ếch có kích cỡ lớn, chiều dài cơ thể khoảng 8 – 15cm, trọng lượng trung bình khoảng 200 – 400g, có cá thể lên tới 500g Cơ thể ếch có thể chia làm 3 phần sau: đầu, thân (cuối thân có lỗ huyệt) và tứ chi gồm hai chi trước và hai chi sau

Trang 16

Hình 2.1 Hình thái ngoài của ếch Thái Lan (Rana tigerina tigrina)

Chi trước có bốn ngón, chi sau có năm ngón, gốc ngón thứ nhất (ngón hướng vào cơ thể ếch) hình thành một u lồi đã hóa sừng màu xanh đen, gọi là chai sinh dục, chai sinh dục phát triển to trong mùa sinh sản, có vai trò như cái mấu, khi đực ôm cái, hai cái cái mấu đó mắc vào cơ thể con cái làm cho động tác ôm con cái được chặt hơn, làm hai tay không bị tuột Ngón tay hình búp măng, không nở ra ở đầu, ngón thứ hai ngắn hơn ngón thứ nhất và bằng ngón thứ tư Các chi sau được nối với nhau bởi một màng bơi phát triển, nhờ đó ếch Thái Lan bơi lội giỏi trong nước

2.1.4.2 Đặc điểm hình thái của ếch đồng Việt Nam

Ếch đồng Việt Nam có tên khoa học là Rana rugulosa Weigmann, 1835 và

nhiều tên phân loại khác, người Kinh gọi là “ếch ruộng”, người Mường gọi là “ếch cum”, người Thái gọi là “tu kộp”, người Tày gọi là “tu cốp” Ếch đồng là loài ếch có kích cỡ trung bình, chiều dài cơ thể khoảng 8 – 13cm, trọng lượng trung bình khoảng 38-80g, có cá thể lên đến 180g Ếch đồng có thân ngắn và rộng, cổ không rõ ràng, nhìn chung cơ thể ếch có thể chia làm 3 phần sau: đầu, thân (cuối thân có lỗ huyệt) và tứ chi gồm hai chi trước và hai chi sau Trên mặt lưng có những nếp da đứt đoạn chạy dọc Lưng màu nâu đất đến xám nhạt pha những vệt xám đen Da bụng trắng, hai bên sườn đôi khi có màu vàng (Trần Kiên, 1996)

Tương tự như ếch Thái Lan, ếch đồng có đầu tương đối hẹp dần về phía mõm Miệng là một khe rộng đến mang tai nên ếch đớp và giữ mồi được dễ dàng Trước đầu mõm ở mặt lưng có một đôi lỗ mũi ngoài Mắt lớn và lồi ra có ba mí: mí trên phát triển, mí dưới không cử động, mí thứ ba là một màng nhày ở góc mắt rất linh hoạt có

Trang 17

thể phủ kín cả mắt Sau mắt là màng nhĩ tròn Ở cá thể đực, thềm miệng có hai túi âm, túi âm thanh được cấu tạo bằng một màng mỏng có màu đen Khi ếch kêu, hai túi âm thanh phồng lên, có tác dụng như một bộ phận cộng hưởng là tăng cường độ âm thanh (Trần Kiên, 1996)

Xương lá mía có hai hàng xiên rất lớn, viền trước của nó ngang bằng với viền trước của lỗ mũi hầu Hàm dưới có hai chỗ nhô lên giống như răng hàm rất phát triển

ở trước mõm vừa khít với các lỗ ở hàm trên Chiều rộng của đầu tại góc miệng ngang bằng với khoảng cách giữa chóp mõm và vị trí hai chân trước, mõm ngắn và tròn Lỗ mũi nằm giữa mắt và chóp mõm Ổ mắt hẹp hơn mí mắt trên, màng nhĩ dễ nhận thấy bằng 3/4 đường kính của mắt (Trần Kiên, 1996)

Thân ếch phủ da trần, thường xuyên ẩm ướt Da ếch không dính liền với lớp

cơ bên dưới, dùng kẹp có thể nhấc da qua lại, tách hẳn với lớp cơ bên dưới Da chỉ gắn với lớp cơ bên dưới theo một vài đường nên tạo thành những xoang chứa đầy bạch huyết góp phần làm da ếch luôn ẩm ướt thích ứng với sự vận chuyển và hô hấp

Da trên lưng có rất nhiều gờ nhỏ dài ngắn khác nhau rất dễ nhận thấy với nhiều nốt sần nhỏ, không có nếp gấp ngang và nếp gấp bên hông Trên lưng màu nâu với nhiều đốm đen hơi tròn, không có cơ quan đường bên Mặt dưới hơi trắng với những vân màu nâu ở cổ và ngực, bắp đùi có nhiều vân màu nâu Cuối thân có một lỗ gọi là lỗ huyệt (nơi bài tiết phân, nước tiểu và sản phẩm sinh dục) (Trần Kiên, 1996)

Hình 2.2 Hình dạng ngoài của ếch đồng Việt Nam (Rana rugulosa)

Tương tự như ếch Thái Lan, chi trước của ếch đồng cũng có bốn ngón, chi sau có năm ngón, gốc ngón thứ nhất (ngón hướng vào cơ thể ếch) có một mấu lồi có tên gọi là chai sinh dục, chai sinh dục phát triển to trong mùa sinh sản có vai trò như cái

Trang 18

mấu, khi đực ôm cái, hai cái mấu đó mắc vào cơ thể con cái làm cho động tác ôm cái được chặt hơn, làm hai tay không bị tuột Ngón tay hình búp măng, không nở ra ở đầu, ngón thứ hai ngắn hơn ngón thứ nhất và bằng ngón thứ tư Các chi sau được nối với nhau bởi một màng bơi phát triển, nhờ đó ếch đồng bơi lội giỏi trong nước Chi trước và chi sau ếch đồng không đủ sức đào hang (Trần Kiên, 1996)

2.1.5 Cơ quan hô hấp

Ếch là loài động vật lưỡng cư (vừa sống trên cạn vừa sống dưới nước) nên ngoài hô hấp bằng phổi, ếch còn hô hấp qua da để cung cấp oxy Da ếch có khả năng vận chuyển 51% O2 và 86% CO2 Trên da ếch có nhiều mao mạch, oxy trong không khí hòa tan vào chất nhầy trên da, thấm qua da và các mao mạch, còn CO2 thì theo con đường ngược lại để ra ngoài Do đó, nếu da ếch thiếu nước, bị khô thì ếch sẽ chết (Phạm Văn Trang và Phạm Báu, 1999)

2.1.6 Hệ sinh dục và sinh sản

Ếch đẻ rộ vào mùa mưa, những đêm mưa rào chúng gọi nhau ra các đồng lúa, đồng màu để đẻ Tiếng kêu vang dậy không gian, đó là những tiếng kêu tỏ tình của chúng trong đêm hội giao hoan To mồm và lắm lời nhất là lũ ếch đực Ếch đực kêu

to vang vọng là nhờ có hai túi kêu mỏng thông với xoang miệng như hai chiếc loa thùng khuếch đại âm thanh Những tiếng kêu là sự đấu khẩu giữa các con đực để giành bạn tình, khiến con cái hướng theo tiếng gọi to nhất, gợi cảm nhất mà tìm đến kết đôi Những con đực yếu thế đành bỏ cuộc đi tìm đối tượng khác Riêng con cái không có túi âm thanh nên chúng chỉ kêu nhỏ nhẹ và rời rạt (Phạm Văn Trang - Thông tin KHCN Thủy sản)

Bàn tay (chi trước) của ếch đực có chai sinh dục, chai này có sức truyền cảm giới tính, dùng để bám vào ếch cái khi cặp đôi Con cái bị kích thích sẽ đẻ trứng, con đực cũng kịp thời phóng tinh lên trên để thụ tinh cho trứng Đó là sự thụ tinh ngoài Trứng gặp tinh trùng thụ tinh và sau đó trương to lên dính vào nhau tạo thành đám nổi trên mặt nước Trứng ếch hình tròn, có hai phần trắng đen rõ rệt, một nửa màu đen hướng lên trên gọi là cực động vật, một nửa sau màu trắng nằm phía dưới gọi là cực thực vật (Phạm Văn Trang và Phạm Báu, 1999)

Ếch đồng một năm tuổi đẻ 2.500 – 3.000 trứng/năm, ếch 3-4 năm tuổi đẻ 4.000 – 5.000 trứng/năm ( Phạm Văn Trang và Phạm Báu, 1999)

Theo Lê Thanh Hùng (2005), ếch Thái Lan đẻ khoảng 6.700 – 12.000 trứng/kg ếch cái

Trang 19

2.1.7 Vòng đời của ếch

Nòng nọc mới nở và giai đoạn mang ngoài: khi mới nở nòng nọc ếch chưa hình thành đầy đủ, có đuôi đơn giản, đầu và thân chưa phân biệt rõ, miệng chưa hình thành chỉ có cơ quan bám hình chữ V hay hình bán nguyệt nhờ đó nòng nọc bám vào chất nhầy xung quanh trứng hoặc cây cỏ thủy sinh Sau đó, mang ngoài màu đỏ phân nhánh xuất hiện rõ ở hai bên cổ Khi đó, chúng bắt đầu bơi lội được như cá nhờ sự phát triển của vây đuôi (Trần Kiên, 1996)

Ở giai đoạn mang trong: mang ngoài tiêu biến xuất hiện hai nếp da phát triển về phía sau che lấp mang ngoài Sau cùng hai nếp da đó kết hợp với nhau để lộ ra lỗ thở nằm ở phía bên trái của đầu Dưới nếp da kể trên, trên các cung mang xuất hiện các lá mang Vì các lá mang không lộ ra ngoài mà bị che phủ bởi các nếp da, nên được gọi là mang trong Mang trong tồn tại đến giai đoạn cuối của sự biến thái Cơ quan bám ở giai đoạn này đã tiêu biến và thay thế vào đó là miệng hình phiểu có mỏ sừng và nhiều răng nhỏ ở môi gọi là răng môi Đuôi kéo dài và phát triển Lỗ hậu môn và mắt xuất hiện Ấu trùng bơi lội dễ dàng trong nước (Trần Kiên, 1996)

Ở giai đoạn xuất hiện chi sau: chi sau thoạt đầu chỉ là mấu lồi ở hai bên thân phía trước lỗ hậu môn Sau đó, chúng phát triển dần các phần của một chi hoàn chỉnh Thoạt đầu khi mới xuất hiện, chi sau chưa hoạt động Khoảng một tuần sau chúng mới hoạt động và giúp cho nòng nọc bò được trên nền đáy (Trần Kiên, 1996)

Ở giai đoạn xuất hiện chi trước: khác với chi sau, chi trước sau khi xuất hiện chúng hoạt động ngay Nòng nọc ở giai đoạn này có thể bò được ở trên bờ, song chúng chỉ loanh quanh bên bờ vực nước Sự xuất hiện chi trước gắn liền với sự thoái hoá vây đuôi, đồng thời có sự hình thành những cơ quan mới: mí mắt, lưỡi, phổi,…vv (Trần Kiên, 1996)

Trang 20

Theo Trần Kiên (1996), sự phát triển của nòng nọc ếch đồng qua các giai đoạn sau:

Hình 2.3 Thời gian biến thái của ếch đồng khoảng 40-50 ngày (Trần Kiên, 1996)

Hình 2.4 Vòng đời của ếch (Trần Kiên, 1996)

Đời sống lưỡng cư

Đời sống dưới nước

Nòng nọc hai chân sau (4 – 8 ngày)Ếch con

Nòng nọc mang trong (8 – 11 ngày)

Nòng nọc hai chân trước (4 – 8 ngày)

Nòng nọc mang ngoài (2 – 6 ngày)

Ếch trưởng thành

(7 – 8 giờ)

Trang 21

Ấu trùng nòng nọc ếch đồng Việt Nam có thể sau ba tuần thì nòng nọc biến thái thành ếch con Sau khoảng bốn đến sáu tháng nuôi thì ếch đạt kích cỡ thương phẩm 80-100 g/con (Trần Kiên, 1996) Với ếch Thái Lan, trứng thụ tinh sẽ nở sau 18-

38 giờ, nòng nọc biến thái trong khoảng 28-36 ngày thành ếch con và đạt kích cỡ thương phẩm 300-400 g/con sau 4-5 tháng nuôi (Putsatee và ctv.,1995)

2.1.8 Thức ăn và tập tính ăn của ếch

Ếch là loài động vật thích ăn mồi sống di động, bắt mồi có kích cỡ thích hợp Bằng cách nuốt mồi và với miệng rộng, ếch có thể nuốt những con mồi cỡ lớn như cua đồng hoặc những con mồi có cơ thể dài như giun đất Thức ăn của ếch trong tự nhiên bao gồm các sinh vật nhỏ di động như các loài: cánh cứng, cánh thẳng (châu chấu, cào cào, dế, chuồn chuồn); cánh vảy (bướm, đặc biệt là bướm đêm); nhiều chân (cuốn chiếu); giáp xác (tôm, cua); thân mềm (ốc); giun đất và sâu quy (Trần Kiên, 1996) Còn trong môi trường nuôi giữ thì đối với ếch Thái Lan chúng sử dụng được thức ăn công nghiệp, riêng đối với ếch đồng thì không sử dụng được, trong mô hình nuôi ếch đồng thì chúng được cho ăn thức ăn trộn giữa cám gạo, bột ngô, bột ngũ cốc với cá, tôm, tép…vv

Ếch là loài có khả năng nhảy xa, bơi lội giỏi, song thực chất chúng sống khá thụ động, chỉ quan quẩn gần nơi ở, ếch thường ngồi một chỗ để quan sát những con mồi di động, khi con mồi tiến lại gần, ếch ngóc đầu lên và phóng lưỡi ra như một tia chớp dính lấy con mồi, cuốn ngay vào miệng rồi dồn sức nhắm mắt nuốt chửng con mồi (Trần Kiên, 1996)

Trong điều kiện đã thuần hóa, nhu cầu dinh dưỡng của một số loài ếch đã được xác lập ở giai đoạn nòng nọc và ếch con Theo Claudia Carmona, Osalde và ctv (1995), thử nghiệm nuôi ếch với sáu mức độ protein khác nhau: 30%, 35%, 40%,

45%, 50% và 55% cho nòng nọc của ếch bò (Rana catesbeiana) để kiểm tra thời gian

biến thái Kết quả thí nghiệm cho thấy khẩu phần có hàm lượng protein 45%, 50%, 55% thì ếch biến thái đạt tỉ lệ hơn 50% ở tuần nuôi thứ sáu Khi khẩu phần có hàm lượng protein thấp còn 40% thì ếch biến thái khoảng 50% ở tuần nuôi thứ bảy và khi hàm lượng protein còn 30% và 35% thì ếch có tỉ lệ biến thái nhỏ hơn 50% ở tuần thứ

10 Kết quả trên cho thấy hàm lượng prtoein trong thức ăn của nòng nọc rất cao trung bình 45% Hàm lượng này ảnh hưởng rất lớn đến sự tăng trọng, biến thái, và tỷ lệ sống của nòng nọc

2.2 Tình Hình Nuôi Ếch

Trong những năm gần đây nước ta đã phát triển nghề nuôi ếch đồng, điển hình như ở Đông Anh (Hà Nội), Hiệp Hà, Yên Phong (Hà Bắc), Tử Lộc (Hải Hưng), Thanh Tất (Hà Tây) và một số tỉnh ở miền Nam Thông thường, người nông dân nuôi theo phương pháp thủ công dân gian, nguồn giống chủ yếu bắt ngoài tự nhiên Sử

Trang 22

dụng thức ăn là những loài côn trùng như sâu bọ, giun, bướm đêm… và các loài cá tạp Tuy nhiên trên thực tế, sản lượng ếch từ trước đến nay vẫn phụ thuộc chủ yếu vào bắt ngoài tự nhiên Việc nuôi thường không đem lại hiệu quả kinh tế cao do tỷ lệ sống thấp, sản lượng thấp và đặc biệt là vấn đề thức ăn của ếch (Lê Thanh Hùng, 2005)

Thái Lan đã phát triển nghề nuôi ếch trong những năm gần đây với loài ếch

Thái Lan (Rana tigerina tigrina) Trong năm 1995, Thái Lan đã có trên 300 trại nuôi

ếch với qui mô công nghiệp Ếch được nuôi chủ yếu trong các bể xi măng, mật độ

60-80 con/m2 Thức ăn viên nổi được sử dụng có hàm lượng protein từ 40% (nòng nọc) đến 25% (ếch lớn) Sau bốn đến năm tháng nuôi trọng lượng một con có thể đạt 300-400g (Putsatee và ctv.,1995)

2.3 Tình Hình Lai Tạo Giống ở Nhóm Lưỡng Thê Trên Thế Giới

Bộ có đuôi ở Châu Âu có thể lai tạo được trong tự nhiên Năm 1883, Héron

Royer mô tả sự lai tạo giữa hai họ Rana fusca và Pelobates fuscus, những tính trạng trội của cha, mẹ đã được thể hiện ở con cái Lai chéo giữa hai loài của Discoglossus và giữa hai loài của Bufo đã tạo ra con lai có những tính trạng của mẹ (Héron Royer, 1891; trích bởi Đỗ Ngọc Hải, 2005) Trong số các loài ếch được nghiên cứu, chỉ Rana arvalis (con cái) lai với Rana fusca (con đực) và Bufocommunis (con cái) lai với Bufo viridis (con đực) là phát triển thành con lai khoẻ mạnh Trong một vài trường hợp, việc lai chéo giữa Rana và Bufo đã tạo ra con lai thực sự nhưng phát triển không tốt

Thông thường, lai tạo giữa các giống hoặc họ, nếu thành công con lai cũng sẽ chết vì

chất nhân của con đực không được chuyển giao Điều này được thể hiện khi lai Bufo communis (con cái) với Pelobates fusca (con đực) thì nhân của tế bào soma chỉ có

kích cỡ bằng một nửa của cóc bình thường và do dó được gọi là thể đơn bội Tuy nhiên, trong trường hợp khác, chúng có kích cỡ bình thường gọi là thể lưỡng bội Kích cỡ nhân tương tự cũng có ở thế hệ con khi tinh trùng được chiếu xạ Những thí nghiệm trước đây đã chỉ ra rằng, tinh trùng không hoạt động thì số lượng nhiễm sắc thể của thể lưỡng bội có thể khôi phục bằng cách nhân đôi số lượng nhiễm sắc thể Sự hoàn lại số lượng của thể lưỡng bội tương tự cũng có thể xảy ra ở trứng trinh sản sau khi dùng kim tiêm lấy vật chất nhân (Parmenter, 1920; trích bởi Đỗ Ngọc Hải, 2005) Theo Hertwig (1918; trích bởi Đỗ Ngọc Hải, 2005) đã chỉ ra rằng, trong tất cả trường hợp lai giữa giống là những trường hợp tinh trùng hoạt hóa trứng mà không có sự kết hợp của tinh trùng Rõ ràng, vật chất nhân của những loài tách biệt thì không thể tương thích và không thể xâm nhập để tạo thành hợp tử Không có nhiều nghiên cứu về tổ chức để xác định sự kết hợp của gen như thế nào Thông thường các con lai của bộ có đuôi thường phát triển chậm và chết vào lúc tạo phôi vị Rõ ràng, vật chất nhân của tinh trùng vào trong trứng lạ thì không thể sử dụng noãn hoàng của trứng

này Kích thước tế bào có khác nhau ở những loài có quan hệ gần gũi như Bufo vulgaris và Bufo viridis Hertwig (1930; trích bởi Đỗ Ngọc Hải, 2005) cho rằng số

lượng vật chất nhân có thể là yếu tố điều hòa tốc độ tạo ra noãn hoàng Nếu nhân chuyển giao vật chất nhân của nó tỷ lệ với thể tích của nó, một trong những lý do

Trang 23

chính yếu của của con lai là sự phát triển có thể dừng lại do số lượng vật chất nhân và

noãn hoàng không tương đồng

Nghiên cứu về sự lai tạo có tầm quan trọng đối với nguồn gốc của loài Lai

hai loài sa giông Châu Âu Triturus cristatus và Triturus marmoratus tạo ra loài khác

biệt, Triturus blasii Loài này không được coi là loài riêng biệt trong một số hệ thống

phân loại Những thí nghiệm kiểm chứng còn thiếu nhưng chắc chắn rằng sự lai tạo

thường xảy ra trong tự nhiên ở những vùng mà hai loài có quan hệ rất gần Lai tạo có

thể kết hợp những tính trạng có lợi và nếu môi trường cho phép nhiều loài lai có thể

được phân lập nguồn giống và một loài mới bắt đầu (Noble, 1954; trích bởi Đỗ Ngọc

Hải, 2005)

Trang 24

III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật Liệu

3.1.1 Thời gian và địa điểm

- Thời gian thực hiện từ tháng 04/2006-07/2006

- Địa điểm thực hiện đề tài tại trại thực nghiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm

3.1.2 Dụng cụ thí nghiệm

Các dụng cụ dùng trong thí nghiệm bao gồm:

- Cân điện tử loại 200g có hai số lẻ

- Cân đồng hồ loại 1kg

- Thùng nhựa loại 80 lít

- Thuốc Chlorine dùng để khử trùng nước và dụng cụ

- Thước đo của Trung Quốc

- Dao, kéo

- Nhiệt kế

Và một số dụng cụ cần thiết khác

3.1.2.1 Nguồn ếch bố mẹ

a) Ếch Thái Lan

Ếch bố mẹ Thái Lan được tuyển chọn từ nguồn ếch bố mẹ có sẵn ở trại thực Nghiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh Ếch Thái Lan được nuôi hậu bị trong các bể xi măng với mật độ 100-120 con/m2, nuôi chung ếch đực và ếch cái Sau khi nuôi được 8-9 tháng, tách nuôi riêng ếch đực và ếch cái trong từng bể xi măng Ếch được nuôi vỗ với thức ăn viên 22-25% protein sử dụng cho cá da trơn Thỉnh thoảng bổ sung thêm vitamin và premix cũng như cho ăn

Trang 25

thêm cá tạp để giúp ếch có đầy đủ dinh dưỡng Sau thời gian nuôi 12 tháng tuổi, ếch có thể cho sinh sản được

Vào mùa sinh sản chọn ếch bố mẹ theo tiêu chuẩn ếch đực phải khỏe mạnh, có túi âm, có chai sinh dục ở gốc ngón tay thứ nhất của chi trước Chọn những con lớn nhất trong đàn, thường xuyên kêu “ ọp ọp” Con cái có bụng to, quan sát có dáng chậm chạp Do cấu tạo ống dẫn trứng của ếch rất khác với các loài cá, nên không thể dùng que thăm trứng để xác định sự thành thục của trứng để lựa chọn ếch cho đẻ Để đánh giá sự sẵn sàng tham gia sinh sản của ếch chỉ sử dụng phương pháp kích thích nước và lựa những con cái chịu bắt cặp để cho đẻ Ếch sau khi bắt cặp được cho vào từng bể composite có thể tích 500 lít để theo dõi kết quả sinh sản

b) Ếch đồng Việt Nam

Ếch được mua từ những người đi đặt lộp, đi soi ở tỉnh Long An Sau đó đem về bỏ vào trong các bể Composite từ một đến hai ngày cho chúng quen dần và tiến hành sinh sản ngay Một số khác dùng để đo một số chỉ tiêu như: chiều dài thân, chiều dài đùi, vòng bụng,…vv

3.1.2.2 Nguồn nước cấp

Nguồn nước cấp là nước sinh hoạt của Thành Phố (được trữ trong các bể có sục khí để bay hết Chlor) và nước từ hồ Đất bên cạnh trại thực nghiệm nuôi Thủy Sản

3.2 Phương Pháp Thí Nghiệm

3.2.1 Khảo sát đặc điểm hình thái của ếch Thái Lan, ếch đồng Việt Nam và ếch lai

Các chỉ tiêu được khảo sát:

Chiều dài thân

Chiều dài đùi

Vòng bụng

Khoảng cách từ mũi đến chóp mõm

Khoảng cách từ mũi đến mắt

Khoảng cách từ mũi đến giữa mắt

Trang 26

Hình dạng lưỡi

Hình dạng xương lá mía

Màng bơi

Mấu chân

Mấu bàn chân

Và một số chỉ tiêu khác

3.2.2 Lai tạo của ếch Thái Lan và ếch đồng Việt Nam

Ếch Thái Lan và ếch đồng được chuẩn bị cho sinh sản trong các bể Composite Mực nước cấp khoảng 15cm (tính từ đáy bể lên) Số lượng ếch cho sinh sản là tám cặp trong đó:

Hai cặp bố và mẹ đều là ếch đồng

Hai cặp ếch đực là ếch đồng và ếch cái là ếch Thái Lan

Hai cặp ếch đực là ếch Thái Lan và ếch cái là ếch đồng

Hai cặp bố và mẹ đều là ếch Thái Lan

Chất kích thích sinh sản là kích dục tố LH-RHa của Trung Quốc được sử dụng để tiêm cho ếch Với mỗi ống LH-RHa có chứa 200µg LH-RHa Đồng thời có sử dụng thêm thuốc Motilium (mỗi viên Motilium có chứa 10mg Domperidone)

Trang 27

Hình 3.1 Bể Composite dùng cho sinh sản nhân tạo ếch Thái Lan

Bể cho sinh sản là các bể Composite, được chà rửa sạch sẽ và cấp nước

khoảng 15cm Cho vào một ít cọng rau muống cho giống với môi trường tự nhiên Mỗi bể là một cặp ếch bố mẹ

3.2.3 Bố trí thí nghiệm so sánh tăng trưởng của ếch lai với ếch Thái Lan ở giai đoạn nòng nọc

Thí nghiệm so sánh khả năng tăng trưởng của nòng nọc ếch lai: ếch lai 1 (đực đồng lai với cái Thái Lan) và ếch lai 2 (đực Thái Lan lai với cái đồng) và ếch Thái Lan được thực hiện gồm sáu nghiệm thức với mỗi nghiệm thức được lặp lại ba lần như sau:

- Nghiệm thức nòng nọc ếch Thái Lan có sáu thùng nhựa (chia làm hai nghiệm thức), mỗi thùng chứa 30 lít nước Cho vào mỗi thùng 150 nòng nọc mới nở Sử dụng hai loại thức ăn khác nhau: ba thùng cho ăn thức ăn viên công nghiệp và ba thùng cho ăn thức ăn trùn chỉ (thùng 1-2-3 và 4-5-6)

- Nghiệm thức nòng nọc ếch lai 1 có sáu thùng nhựa (chia làm hai nghiệm thức), mỗi thùng chứa 30 lít nước Cho vào mỗi thùng 150 nòng nọc mới nở Sử dụng hai loại thức ăn khác nhau: ba thùng cho ăn thức ăn viên công nghiệp và ba thùng cho ăn thức ăn trùn chỉ (thùng 7-8-9 và 10-11-12)

- Nghiệm thức nòng nọc ếch lai 2 có sáu thùng nhựa (chia làm hai nghiệm thức), mỗi thùng chứa 30 lít nước Cho vào mỗi thùng 150 nòng nọc mới nở Sử dụng

Trang 28

hai loại thức ăn khác nhau: ba thùng cho ăn thức ăn viên công nghiệp và ba thùng cho ăn thức ăn trùn chỉ (thùng 13-14-15 và 16-17-18)

Thức ăn công nghiệp cho ếch có hàm lượng đạm từ 25-40%, thức ăn trùn chỉ có hàm lượng protein 67%

Vị trí đặt các thùng như sau:

Thùng1-2-3: ếch Thái Lan sử dụng thức ăn công nghiệp

Thùng4-5-6: ếch Thái Lan sử dụng thức ăn trùn chỉ

Thùng 7-8-9: ếch lai 1 sử dụng thức ăn công nghiệp

Thùng10-11-12: ếch lai 1 sử dụng thức ăn trùn chỉ

Thùng 13-14-15: ếch lai 2 sử dụng thức ăn công nghiệp

Thùng 16-17-18: ếch lai 2 sử dụng thức ăn trùn chỉ

Trang 29

Hình 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Ống chảy tràn

Ống cấp nước chính Van nước

Ống cấp nước phụ

Trang 30

3.2.4 Bố trí thí nghiệm so sánh tăng trưởng của ếch lai với ếch Thái Lan giai đoạn nuôi ếch thịt

Thí nghiệm so sánh khả năng tăng trưởng của ếch lai: ếch lai 1 (đực đồng lai với cái Thái Lan) và ếch lai 2 (đực Thái Lan lai với cái đồng) và ếch Thái Lan được thực hiện gồm 6 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 2 lần như sau:

- Nghiệm thức ếch Thái Lan có bốn giai (1m x 1m) (chia làm hai nghiệm thức), mỗi giai bố trí 50 con ếch một tháng tuổi Sử dụng hai loại thức ăn khác nhau: hai giai bố trí cho ăn thức ăn công nghiệp, hai giai cho ăn thức ăn tươi (là cá tạp) Các giai được treo dưới ao đất

- Nghiệm thức ếch lai 1 có bốn giai (1m x 1m) (chia làm hai nghiệm thức), mỗi giai bố trí 50 con ếch một tháng tuổi Sử dụng hai loại thức ăn khác nhau: hai giai bố trí cho ăn thức ăn công nghiệp, hai giai cho ăn thức ăn tươi (là cá tạp) Các giai được treo dưới ao đất

- Nghiệm thức ếch lai 2 có bốn giai (1m x 1m) (chia làm hai nghiệm thức), mỗi giai bố trí 50 con ếch một tháng tuổi Sử dụng hai loại thức ăn khác nhau: hai giai bố trí cho ăn thức ăn công nghiệp, hai giai cho ăn thức ăn tươi (là cá tạp) Các giai được treo dưới ao đất

3.2.5 Chăm sóc và quản lý

Sau khi ếch nở được một ngày thì tiến hành cho ăn trùn chỉ Mỗi ngày cho ăn hai lần, luôn đảm bảo là trong các thùng có trùn thừa Thay nước ngày hai lần vào sáng sớm và chiều trước lúc cho ăn Trước khi thay nước thì cọ rửa sạch chung quanh thùng và thay nước 100%

Tiến hành cân đo trọng lượng nòng nọc vào thời điểm xuất hiện chân sau, thời điểm chân trước và biến thái Các thời điểm được xác định khi 50% cá thể trong thí nghiệm có các đặc điểm biến thái Riêng thời điểm biến thái được xác định khi nòng nọc ếch được 30 ngày tuổi

Sau khi ếch được bố trí xuống giai, cho ăn mỗi ngày hai lần, lượng thức ăn cung cấp tối đa và có sự điều chỉnh cho phù hợp ở mỗi lần cho ăn, thức ăn được đặt trên tấm nhựa và cao su nổi

Tiến hành cân đo chiều dài, trọng lượng và khảo sát hình thái ếch sau ba tháng nuôi

Trang 31

3.3 Các Chỉ Tiêu Theo Dõi

trứngsốTổng

tinhthụtrứngSố

%tinh thụlệ

tinh thụtrứngsốTổng

nọcnòngsốTổng

%nởlệ

đầu banlượngSố

lạicònlượngSố

%sốnglệ

nọcnòngsốTổng

tháibiếnconếchlượngSố

%thái biếnlệ

¾

N

W-W(g)đốituyệt trọng

Wđ: trọng lượng ếch ban đầu (g)

Wc: trọng lượng ếch cuối (g)

N: thời gian nuôi (ngày)

3.4 Phương Pháp Xử Liù Số Liệu

Các số liệu về trọng lượng, tỷ lệ sống và tỷ lệ biến thái được phân tích với phần mềm Excel và trên chương trình Stagraphics 7.0 để so sánh sự khác nhau về mặt thống kê của các nghiệm thức

Trang 32

IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Sản Xuất Giống Ếch Lai

Trong tự nhiên, ếch thường đẻ vào những cơn mưa lớn đầu mùa Dựa vào tập tính này vào mùa sinh sản, ếch có thể cho sinh sản nhân tạo khi kích thích tạo mưa Ngoài ra để chủ động trong việc sản xuất, kích dục tố cũng được sử dụng để kích thích ếch đẻ Thông thường để đạt hiệu quả cao trong sản xuất, người ta kết hợp cả hai phương pháp này (Lê Thanh Hùng, 2005)

Theo Lê Thanh Hùng (2005), ếch đực sau khi chọn cho vào bể đẻ ngay Đối với ếch cái nên chọn vào lúc trời tối sậm mới chọn và đem vào bể đẻ để tránh làm ếch bị hoảng sợ và bị sốc Tỉ lệ ếch đực, ếch cái là 1:1

Kích thích sinh sản ếch đồng và ếch Thái Lan bằng cách tiêm kích dục tố và tạo mưa nhân tạo, được thực hiện với 2 đợt cho đẻ Mỗi đợt thực hiện với tám cặp ếch bố trí cho đẻ trong tám bể Composite tương ứng với bốn nghiệm thức cho đẻ khác nhau (ếch đồng lai với ếch đồng, ếch Thái Lan lai với ếch Thái Lan, ếch đực đồng lai với ếch cái Thái Lan và ếch cái đồng lai với ếch đực Thái Lan) Trong bể đẻ có đặt rau muống làm giá thể để tạo môi trường giống tự nhiên cho ếch bố mẹ bắt cặp và đẻ trứng bám vào Tạo mưa nhân tạo vào lúc 11 giờ tối, khoảng 30 phút ngưng mưa Kết quả chỉ có một đợt sinh sản thành công được trình bày qua bảng 4.1

Bảng4.1 Kết quả sinh sản giữa ếch đồng và ếch Thái Lan

Đợt Chỉ tiêu khảo sát Ếch đồng x

ếch Thái Lan

Ếch Thái Lan x ếch đồng

Ếch Thái Lan

Ếch đồng

ở t0= 300C 0

I

Thời gian nở 17 giờ

ở t0= 30,50C ở t14 giờ 0= 340C ở t17 giờ 0= 320C 0

II

Số lượng nòng nọc 3.025 con 2.182 con 5.297 con 0

Trang 33

Ở lần sinh sản đầu tiên, chỉ có nghiệm thức ếch Thái Lan cho kết quả đạt 100% ếch bố mẹ tham gia sinh sản, còn lại nghiệm thức ếch đồng và lai chéo giữa

hai loài Rana rugulosa và Rana tigerina tigrina đều cho kết quả không thành công Ở

đợt sinh sản lần hai, có ba nghiệm thức sinh sản cho kết quả khá thành công đó là

nghiệm thức ếch Thái Lan và nghiệm thức lai chéo giữa hai loài Rana rugulosa và Rana tigerina tigrina Riêng chỉ có nghiệm thức ếch đồng là sinh sản không thành

công (bảng 4.1) Từ kết quả trên có thể cho rằng ếch Thái Lan có khả năng cho sinh

sản nhân tạo tốt hơn ếch đồng Bên cạnh đó việc lai chéo giữa hai loài Rana rugulosa và Rana tigerina tigrina là rất khó khăn do sự chênh lệch về kích thước và trọng lượng giữa hai loài, ngoài ra còn do ếch đồng (Rana rugulosa) rất nhát

Qua bảng 4.1 cho thấy tỷ lệ thụ tinh của các nghiệm thức rất cao Ếch lai 2 có tỷ lệ thụ tinh cao nhất đến 90%, kế đến là ếch lai 1 với tỷ lệ sống là 88% và sau cùng là ếch Thái Lan 82% Tỷ lệ nở của các nghiệm thức cũng rất cao Ếch Thái Lan và ếch lai 1 có tỷ lệ nở cao nhất đến 100%, kế đến là ếch lai 2 là 97% Điều này cho thấy vật chất nhân của tinh trùng phù hợp với số lượng noãn hoàng của trứng

Số lượng trứng trung bình của ếch đồng vào khoảng 4.800 trứng/kg ếch cái, còn ếch Thái Lan khoảng 5.700-8.800 trứng/kg ếch cái

4.2 Giai Đoạn Ương Nòng Nọc Ếch Lai và Ếch Thái Lan

4.2.1 Sự biến thái

Bảng 4.2 Sự biến thái của ếch lai và ếch Thái Lan

Thời điểm biến thái

(ngày) Ếch đồng x ếch Thái Lan Ếch Thái Lanx ếch đồng Ếch Thái Lan

Theo Etkin (1935; trích bởi Đỗ Ngọc Hải, 2005) thì sự biến thái được hiểu là giai đoạn sau của sự phát triển phôi, có sự thay đổi hình thái ngoài mà nòng nọc thay đổi phương thức sống để chuyển thành dạng trưởng thành có sự khác nhau nhiều về tập tính sống Ở lưỡng thê, ngoại trừ một số loài có vòng đời đặc biệt, chúng bắt đầu vòng đời là sinh vật thủy sinh sống tự do trong nước được gọi là ấu trùng Sau đó, chúng thay đổi vào lúc biến thái để thành dạng trưởng thành sống trên cạn Bản chất của sự thay đổi này gắn liền với từng vùng sinh thái khác nhau Nhóm không đuôi có sự biệt hóa cao nhất trong lớp Amphibia đối với vùng sinh thái Ấu trùng của nó được gọi là nòng nọc khác biệt với dạng trưởng thành không những về tập tính hô hấp với môi trường khác nhau mà còn về tập tính di chuyển, tính ăn, cơ quan cảm giác,…Vì

Trang 34

vậy, sự biến thái của nhóm này liên quan đến sự thay đổi cơ bản nhất của các cơ quan

Theo ghi nhận của chúng tôi, ngày 05 tháng 04 năm 2006, là ngày mà nòng nọc vừa mới ra khỏi màng bọc Ngày hôm sau chúng tôi tiến hành cho ăn trùn chỉ, lượng ăn theo nhu cầu ếch đảm bảo là có trùn chỉ thừa trong thùng nhằm đảm bảo nòng nọc luôn có đủ thức ăn để tăng trọng tối đa Thời gian cho ăn là ba ngày

Thời điểm bố trí thí nghiệm là ngày 08 tháng 04 năm 2006 Đây là ngày nòng nọc được bốn ngày tuổi, trọng lượng trung bình là 0,02g Nòng nọc được bố trí sử dụng hai loại thức ăn khác nhau: thức ăn công nghiệp và thức ăn trùn chỉ

Ngày 18 tháng 04 năm 2006, chúng tôi ghi nhận là ngày mà nòng nọc ếch lai

1 và ếch lai 2 có con mọc chân sau Ngày hôm sau là ngày ếch Thái Lan có con mọc chân sau

Đến ngày 22 tháng 04 năm 2006, số lượng nòng nọc ếch lai 1 và ếch lai 2 mọc chân sau chiếm trên 50% tổng số cá thể Chúng tôi tiến hành cân trọng lượng của 30 cá thể, lặp lại ba lần ở từng nghiệm thức

Ngày 23 tháng 04 năm 2006, chúng tôi ghi nhận là ngày mà số lượng nòng nọc ếch Thái Lan có mọc chân sau chiếm trên 50% tổng số cá thể Chúng tôi tiến hành cân trọng lượng của 30 cá thể, lặp lại ba lần

Ngày 24 tháng 04 năm 2006, là ngày ếch Thái Lan và ếch lai có con mọc chân trước Đến ngày 29 tháng 04 năm 2006 thì nòng nọc ếch Thái Lan và ếch lai có trên 50% số cá thể có mọc chân trước

Như vậy nòng nọc ếch lai đã biến thái trước một ngày so với ếch Thái Lan vào giai đoạn mọc chân sau Tuy nhiên, nòng nọc ếch lai lại biến thái chậm hơn một ngày so với ếch Thái Lan vào giai đoạn chân trước Điều này cho thấy ở ếch lai có sự phát triển không ổn định vào các giai đoạn sau

4.2.2 Ương nuôi nòng nọc ếch Thái Lan

Ban đầu nòng nọc được ương ngay trong bể Composite Sau khi nở 24 giờ, ếch bắt đầu được cho ăn Thức ăn ban đầu thích hợp cho nòng nọc là trùn chỉ Nòng nọc sử dụng trùn chỉ ba ngày và sau đó được đưa đi bố trí vào các thùng nhựa (thùng 80 lít) Mật độ bố trí là 150 con/thùng Sử dụng hai loại thức ăn khác nhau là công nghiệp và trùn chỉ

Cuối tuần thứ ba nòng nọc xuất hiện hai chân trước Đầu tuần thứ tư nòng nọc bắt đầu biến thái thành ếch con Khi ếch bắt đầu xuất hiện hai chân trước, chúng tôi

Trang 35

cho vào thùng những tấm nhựa cao su để làm giá thể cho ếch bám lên Kết quả ương nuôi nòng nọc được trình bày theo bảng 4.3 như sau:

Bảng 4.3 Trọng lượng, tỷ lệ sống, tỷ lệ biến thái và độ lệch chuẩn của nòng nọc ếch Thái Lan theo thời gian nuôi ở hai loại thức ăn khác nhau

Ghi chú: Những giá trị trên cùng một hàng và cùng chỉ tiêu khảo sát nếu chứa những

kí tự giống nhau thì sai khác không có ý nghĩa, còn khác nhau thì sai khác có ý nghĩa

ở mức độ tin cậy 95%

TACN: thức ăn công nghiệp; TATC: thức ăn trùn chỉ

Theo bảng 4.3 chúng tôi nhận thấy tỷ lệ sống của nòng nọc khá cao, sau bốn tuần ương đạt 64,00% ở nghiệm thức cho ăn thức ăn công nghiệp và 55,78% ở nghiệm thức cho ăn trùn chỉ

Vào giai đoạn mọc chân sau, tỷ lệ sống giữa hai loại thức ăn của nòng nọc ếch Thái Lan là khác nhau, trong đó ếch được cho ăn thức ăn công nghiệp có tốc độ tăng trưởng đồng đều hơn (SD = 0,28) ếch được cho ăn trùn chỉ (SD = 0,31) nên có tỷ lệ sống cao hơn (74,44% so với 69,78%) Tuy nhiên sự sai khác này không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05) Nhưng nhìn chung, ở giai đoạn này tỷ lệ sống của nòng nọc giảm nhanh do lúc này có hiện tượng nòng nọc ăn thịt lẫn nhau khi có sự chênh lệch lớn về kích cỡ Mặt khác có thể do sự chuyển đổi tập tính ăn ở nghiệm thức cho ăn thức ăn công nghiệp cũng làm giảm tỷ lệ sống của nghiệm thức này

Từ giai đoạn mọc chân sau đến giai đoạn mọc chân trước, tỷ lệ sống giữa hai loại thức ăn của nòng nọc ếch Thái Lan là khác nhau có ý nghĩa thống kê (P < 0,05)

Ở thời kì này ếch được cho ăn thức ăn công nghiệp tiếp tục có tốc độ tăng trưởng đồng đều hơn ếch được cho ăn trùn chỉ (SD = 0,32 so với SD = 0,39) nên có tỷ lệ sống cao hơn (68,67% so với 57,11%) Tuy nhiên, so với giai đoạn trước thì sự chênh lệch về kích cỡ của nòng nọc ếch ở giai đoạn này cao hơn nên tạo điều kiện cho tập tính ăn nhau của ếch trổi dậy, những con lớn tấn công những con nhỏ hơn làm cho nòng nọc con bị xây sát và đây là cơ hội tốt cho các loại bệnh tấn công, nhất là bệnh lở loét Đây là một trong những nguyên nhân làm giảm tỷ lệ sống của ếch

Trang 36

Ở giai đoạn biến thái, tỷ lệ sống của nòng nọc ếch Thái Lan ở hai loại thức ăn là khác nhau có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) Vào giai đoạn này ếch được cho ăn trùn chỉ có tốc độ tăng trưởng đồng đều hơn ếch được cho ăn thức ăn công nghiệp (SD = 0,20 so với SD = 0,24) nên có tỷ lệ sống giảm thấp hơn (1,33% so với 4,67%) So với giai đoạn trước thì kích cỡ của nòng nọc ếch ở giai đoạn này đồng đều hơn Nguyên nhân là do những con có kích cỡ nhỏ, những con chậm biến thái, một mặt bị những con lớn ăn thịt, mặt khác do không cạnh tranh lại thức ăn nên bị chết Do đó, còn lại là những con lớn và có kích cỡ đồng đều

Biến tháiGiai đoạn

Theo đồ thị 4.1 cho thấy càng về sau thì tăng trọng của nòng nọc tăng nhanh Trong bốn tuần lễ trọng lượng trung bình của nòng nọc tăng từ 0,02g lên 1,73g (gấp

90 lần) ở nghiệm thức cho ăn thức ăn công nghiệp và từ 0,02g lên 1,81g (gấp 91 lần)

ở nghiệm thức cho ăn trùn chỉ Trọng lượng cao nhất là ở giai đoạn biến thái (1,73g ở nghiệm thức công nghiệp và 1,81g ở nghiệm thức trùn chỉ) Khoảng thời gian từ bố trí thí nghiệm đến khi ếch biến thái hoàn toàn là 27 ngày, như vậy trung bình mỗi ngày nòng nọc ở nghiệm thức sử dụng thức ăn công nghiệp tăng trọng được gần 0,063g và 0,066g ở nghiệm thức sử dụng thức ăn trùn chỉ Điều này chứng tỏ nòng nọc ếch Thái

Trang 37

Lan thích hợp với điều kiện ương nuôi, thức ăn được cung cấp phù hợp với nhu cầu

dinh dưỡng của chúng

Đầu tuần thứ tư, nòng nọc ếch Thái Lan bắt đầu biến thái, thời gian biến thái

trong vòng năm ngày của tuần lễ thứ tư Tỷ lệ biến thái là 88,24% ở nghiệm thức sử

dụng thức ăn công nghiệp và 89,35% ở nghiệm thức sử dụng thức ăn trùn chỉ Sự khác

nhau này không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05) Theo Lê Thanh Hùng (2005),

sự biến thái của nòng nọc ếch phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loài, môi trường,…đặc

biệt là nguồn dinh dưỡng cung cấp cho ếch Như vậy, ếch Thái Lan có khả năng sử

dụng tốt cả hai loại thức ăn, nên rút ngắn thời gian biến thái và có tỷ lệ biến thái cao

Với kết quả trên, cho thấy ếch Thái Lan chấp nhận thức ăn viên công nghiệp

dễ dàng nên trọng lượng tăng nhanh, tỷ lệ sống cao và có hiệu quả kinh tế hơn là

thức ăn trùn chỉ

4.2.3 Ương nuôi nòng nọc ếch lai 1

Tương tự như nòng nọc ếch Thái Lan, ban đầu nòng nọc ếch lai 1 được ương

ngay trong bể Composite Sau khi nở 24 giờ, ếch bắt đầu được cho ăn Thức ăn ban

đầu thích hợp cho nòng nọc là trùn chỉ Nòng nọc sử dụng trùn chỉ ba ngày và sau đó

được đưa đi bố trí vào các thùng nhựa (thùng 80 lít) Mật độ bố trí là 150 con/thùng

Sử dụng hai loại thức ăn khác nhau là công nghiệp và trùn chỉ

Cuối tuần thứ ba nòng nọc xuất hiện hai chân trước Đầu tuần thứ tư nòng nọc

bắt đầu biến thái thành ếch con Khi ếch bắt đầu xuất hiện hai chân trước, chúng tôi

cho vào thùng những tấm nhựa cao su để làm giá thể cho ếch bám lên Kết quả ương

nuôi nòng nọc được trình bày theo bảng 4.4 như sau:

Bảng 4.4 Trọng lượng, tỷ lệ sống, tỷ lệ biến thái và độ lệch chuẩn của nòng nọc ếch

lai 1 theo thời gian nuôi ở hai loại thức ăn khác nhau

Chỉ tiêu khảo

sát lượng(g/con) Trọng Tỷ lệ sống (%) Tỷ lệ biến thái (%) Độ lệch chuẩn

Mọc chân sau 1,17a 1,28a 88,44a 90,22a - - 0,28a 0,30aMọc chân trước 1,08a 1,17a 86,67a 86,67a - - 0,20a 0,28aBiến thái 1,01a 1,21b 47,11a 69,11b 84,09a 72,65a 0,22a 0,34b

Ghi chú: Những giá trị trên cùng một hàng và cùng chỉ tiêu khảo sát nếu chứa những

kí tự giống nhau thì sai khác không có ý nghĩa, còn khác nhau thì sai khác có ý nghĩa

ở mức độ tin cậy 95%

TACN: thức ăn công nghiệp; TATC: thức ăn trùn chỉ

Trang 38

Qua bảng 4.4 chúng tôi nhận thấy tỷ lệ sống của nòng nọc ếch lai 1 vào giai đoạn đầu rất cao, nhưng càng về sau thì giảm xuống nhanh chóng Sau bốn tuần ương đạt 47,11% ở nghiệm thức cho ăn thức ăn công nghiệp và 69,11% ở nghiệm thức sử dụng thức ăn trùn chỉ

Vào giai đoạn mọc chân sau, tỷ lệ sống giữa hai loại thức ăn của nòng nọc ếch lai 1 là khác nhau, trong đó ếch được cho ăn thức ăn công nghiệp có tốc độ tăng trưởng đồng đều hơn (SD = 0,28) ếch được cho ăn trùn chỉ (SD = 0,30) nhưng có tỷ lệ sống thấp hơn (88,44% so với 90,22%) Tuy nhiên sự sai khác này không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05) Vào giai đoạn mọc chân trước thì tỷ lệ sống của nòng nọc

ở hai nghiệm thức là như nhau Nhưng theo ghi nhận của chúng tôi, từ lúc ếch lai 1 được bố trí sử dụng hai loại thức ăn công nghiệp và trùn chỉ thì khả năng sử dụng thức ăn trùn chỉ của ếch lai 1 tốt hơn thức ăn viên công nghiệp

Từ sau giai mọc chân trước đến giai đoạn biến thái, tỷ lệ sống giữa hai loại thức ăn của nòng nọc ếch lai 1 giảm xuống nhanh chóng so với giai đoạn trước và khác nhau có nghĩa thống kê (P < 0,05) Ở thời kì này ếch được cho ăn thức ăn công nghiệp tiếp tục có kích cỡ đồng đều hơn ếch được cho ăn trùn chỉ (SD=0,22 so với SD

= 0,34) nhưng có tỷ lệ sống thấp hơn (47,11% so với 69,11%) Nguyên nhân là vào giai đoạn này nòng nọc ếch lai 1 sử dụng thức ăn viên công nghiệp rất kém dẫn đến chúng quay sang ăn thịt lẫn nhau Còn nòng nọc sử dụng thức ăn trùn chỉ ở giai đoạn này chúng cũng có hiện tượng ăn nhau do sự chênh lệch lớn về kích cỡ nên tạo điều kiện cho tập tính ăn nhau của ếch trổi dậy, những con lớn tấn công những con nhỏ hơn làm cho nòng nọc con bị xây sát và đây là cơ hội tốt cho các loại bệnh tấn công

Trang 39

Theo bảng 4.4 cho thấy từ giai đoạn mọc chân sau đến giai đoạn biến thái, nòng nọc ếch lai 1 sử dụng thức ăn trùn chỉ có trọng lượng cao hơn nòng nọc sử dụng thức ăn công nghiệp Tuy nhiên chỉ ở giai đoạn biến thái, sự sai khác này mới có ý nghĩa thống kê (P < 0,05)

Theo đồ thị 4.2 cho thấy càng về sau thì tăng trọng của nòng nọc càng giảm Trong giai đoạn đầu trọng lượng trung bình của nòng nọc tăng từ 0,02g lên 1,17g ở nghiệm thức cho ăn thức ăn công nghiệp và từ 0,02g lên 1,28g ở nghiệm thức cho ăn trùn chỉ Tuy nhiên vào giai đoạn mọc chân trước thì trọng lượng trung bình của nòng nọc ở cả hai loại thức ăn đều giảm so với giai đoạn trước Trong khoảng thời gian từ giai đoạn mọc chân sau đến giai đoạn mọc chân trước là bảy ngày thì mỗi ngày nòng nọc ếch lai 1 giảm 0,012g ở nghiệm thức sử dụng thức ăn công nghiệp và 0,016g ở nghiệm thức cho ăn trùn chỉ Đầu tuần thứ tư, nòng nọc ếch lai 1 bắt đầu biến thái Trong giai đoạn này trọng lượng của nòng nọc ếch lai 1 tiếp tục giảm ở nghiệm thức cho ăn thức ăn công nghiệp Thời gian biến thái diễn ra trong vòng năm ngày của tuần lễ thứ tư thì mỗi ngày nòng nọc ếch lai 1 giảm 0,014g Trong khi đó nòng nọc ếch lai 1 ở nghiệm thức sử dụng thức ăn trùn chỉ lại có trọng lượng tăng, trong năm ngày biến thái, mỗi ngày chúng tăng trọng được 0,008g Điều này cho thấy, càng về sau thì nòng nọc ếch lai 1 phát triển không ổn định

Theo bảng 4.4 thì tỷ lệ biến thái của nòng nọc ếch lai 1 ở nghiệm thức sử dụng thức ăn công nghiệp cao hơn ở nghiệm thức sử dụng thức ăn trùn chỉ (84,09% so với 72,65%) Tuy nhiên sự khác nhau này không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05) Theo chúng tôi hiện tượng ăn thịt lẫn nhau của nòng nọc là nguyên nhân làm cho tỷ lệ biến thái của nòng nọc ếch lai 1 cao

Theo Parmenter (1920; trích bởi Đỗ Ngọc Hải, 2005) thì việc lai tạo giữa các giống hoặc họ, nếu thành công thì con lai cũng sẽ chết hoặc phát triển không tốt Với kết quả trên, cho thấy khả năng sử dụng thức ăn viên công nghiệp của ếch lai 1 rất thấp nên trọng lượng giảm nhanh, tỷ lệ sống thấp hơn so với sử dụng trùn chỉ Có thể

do tập tính ăn mồi động của ếch đồng bố có ảnh hưởng nhiều đến thế hệ con lai

4.2.4 Ương nuôi nòng nọc ếch lai 2

Tương tự như nòng nọc ếch Thái Lan, ban đầu nòng nọc ếch lai 1 được ương ngay trong bể Composite Sau khi nở 24 giờ, ếch bắt đầu được cho ăn Thức ăn ban đầu thích hợp cho nòng nọc là trùn chỉ Nòng nọc sử dụng trùn chỉ ba ngày và sau đó được đưa đi bố trí vào các thùng nhựa (thùng 80 lít) Mật độ bố trí là 150 con/thùng Sử dụng hai loại thức ăn khác nhau là công nghiệp và trùn chỉ

Cuối tuần thứ ba nòng nọc xuất hiện hai chân trước Đầu tuần thứ tư nòng nọc bắt đầu biến thái thành ếch con Khi ếch bắt đầu xuất hiện hai chân trước, chúng tôi

Ngày đăng: 10/06/2018, 08:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w