1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài thảo luận về tài chính tiền tệ

35 377 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 601,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình tổ chức và quản lý nền kinh tế ở Việt Nam, các chức năng đó đã nhận thức và vận dụng như thế nào?Trả lời: Tiền tệ có 3 chức năng chính: •Đơn vị đo lường giá trị •Phương

Trang 1

Bµi tËp th¶o luËn

GV: NguyÔn ChÝ

C«ng

Trang 2

I - LÝ THUYẾT : Câu 1: Phân tích chức năng của tiền tệ? Trong quá trình tổ chức và quản lý nền kinh tế ở Việt Nam, các chức năng đó đã nhận thức và vận dụng như thế nào?

Trả lời:

Tiền tệ có 3 chức năng chính:

•Đơn vị đo lường giá trị

•Phương tiện trao đổi

•Phương tiện dự trữ về mặt giá trị

- Tiền tệ là đơn vị đo lường giá trị nghĩa là nó được mang ra để đo lường giá trị của các hàng hóa, dịch vụ, cũng như chúng ta cân, đo, đong, đếm trọng lượng và

số lượng của hiện vật.

- Nếu thay vì tiền tệ mà chúng ta dùng hàng hóa này đánh giá giá trị của hàng hóa kia, nó sẽ gây rất nhiều sự bất tiện.

VD: khi ta muốn mua 1kg thịt bò, ta sẽ phải mnag 10kg gạo ra chợ để đổi lấy thứ mình cần.

- Còn với số tiền 160.000đ ta có thể dễ dàng mua 1kg thịt bò và mang về nhà.

- Khi hàng hóa đã được đo lường giá trị theo 1 vật ngang giá chung là tiền tệ, ta có thể dễ dàng so sánh giá trị của các mặt hàng, giúp chúng ta nhanh chóng đánh giá được giá trị của hàng hóa và trao đổi chúng 1 cách hợp lí, thuận lợi.

Trang 3

Ở Việt Nam tiền tệ đã trở thành 1 vật trung gian không thể thiếu trong quá trình buôn bán, trao đổi hàng hóa, là mốc để đặt giá cho tất cả các mặt hàng Tiền tệ trở thành 1 đơn vị đánh giá chung cho giá trị của hàng hóa Tất cả mọi mặt hàng đều được đạt giá để dễ dầng trong quá trình mua bán, trao đổi

-Tiền tệ là phương tiện để trao đổi hàng hóa là khi nó được dùng để mua bán hàng hóa, dịch vụ, hoặc thanh toán các khoản nợ cả trong và ngoài nước.

Việc trao đổi, mua bán hàng hóa diễn ra thường xuyên và liên tục và rất quan trọng trong nền kinh tế hiện nay Quá trình mua bán trao đổi diễn ra không chỉ với quy mô nhỏ, diễn ra cả trong và ngoài nước, và giữa các khu vực khác nhau trên toàn thế giới.

Nếu ta dùng hàng hóa để đổi lấy hàng hóa sẽ phát sinh rất nhiều chi phí như vận chuyển, thuế, thời gian, và những hao phí trong quá trình vận chuyển, trao đổi.

Với tiền tệ thì việc trao đổi sẽ diễn ra rất dễ dàng, nhanh chóng, và tiết kiệm được nhiều chi phí.

Ví dụ như chỉ với 1 thao tác chuyển khoản nhanh gọn ở Ngân hàng, chúng ta

đã thanh toán được 1 hóa đơn mua hàng từ nước ngoài cho 1 lượng hàng hóa lớn mà không phải tiêu tốn quá nhiều thời gian và chi phí như cách trao đổi thủ công: Hàng hóa với hàng hóa.

Trang 4

Ngay cả khi thanh toán trực tiếp cũng rất nhanh gọn, chúng ta có thể mua ngay thứ mà chúng ta cần mà không phải trao đổi quá nhiều lần để đạt được mục đích.

Hiện nay ở nước ta tiền tệ được sử dụng rộng dãi, để trao đổi, mua bán hàng hóa.

Nhờ có tiền tệ mà việc trao đổi hàng hóa diễn ra dễ dàng và hiệu quả hơn, nhanh hơn, với số lượng hàng hóa xuất-nhập lớn hơn, đem lại hiệu quả cho nền kinh tế trong thời mở cửa Ngoại thương phát triển, tạo điều kiện cho kinh tế Việt Nam phát triển Đối với người dân, họ sử dụng tiền tệ như 1 vật ngang giá để đổi lấy tất cả những hàng hóa cần thiết với họ, tiền tệ là 1 vật không thể thiếu khi trao đổi hàng hóa hay dịch vụ.

Nhận biết tầm quan trọng của tiền tệ chúng ta đã có những chính sách phát triển hợp lí, như tham gia Quỹ Tiền Tệ Thế Giới (IMF),

-Tiền tệ là phương tiện dự trữ về mặt giá trị là nơi chứa sức mua hàng hóa trong 1 thời gian nhất định nghĩa là:Số lượng hàng háo mà chủ đầu tư cso thể mua được, nhưng chưa cần thiết vào hiện tại, họ có thể cất trữ và mang ra sử dụng vào lúc cần thiết.

Trang 5

Đây là 1 chức năng rất quan trọng bởi nó giúp chúng ta có thể tính toán, chi tiêu, quản lí 1 cách hiệu quả, hợp lí Nó giúp chúng ta lưu trữ thành quả của mình thay vì sử dụng hết thu nhập ngay sau khi làm ra.

Với chức năng này chúng ta có thể tích vốn mở rộng kinh doanh, tích trữ và mua 1 món hàng có giá trị lớn, hay sử dụng vào 1 mục đích nào đó trong tương lai

Nhờ nó mà có nhiều nguồn vốn được hình thành và sử dụng đúng lúc cần thiết giúp nền kinh tế ngày càng thúc đẩy nhanh hơn nhờ những đầu tư hợp lí

có tầm cỡ, quy mô.

Ngoài ra có rất nhiều tải sản chứa đựng giá trị để lưu trữ Nhưng tiền tệ vẫn cso tính lỏng cao nhất, Nó dễ sử dụng, trao đổi, và lưu thông mọi lúc, mọi nơi

và trong mọi hoàn cảnh

Ngân sách nhà nước, tài sản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, Tất cả đều là nhờ

có chức năng tích trữ của tiền tệ Nước ta cũng có rất nhiều tài khoản được hình thành và lưu trữ như: Quỹ Hội chữ thập đỏ, Quỹ người khuyết tật, Ngân sách nhà nước, Tất cả đều rất quan trọng trong việc quản lí xã hội hay sự phát triển nền kinh tế của nhà nước.

Trang 6

Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp

Gắn liền với quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có các quan

hệ tài chính doanh nghiệp đa dạng phát sinh: quan hệ nộp, cấp phát giữa doanh nghiệp và nhà nước; quan hệ thanh toán với các chủ thể khác trong xã hội, với người lao động trong doanh nghiệp.

Sự vận động của các quỹ tiền tệ, vốn kinh doanh có những nét riêng biệt - Sự vận động của vốn kinh doanh luôn gắn liền với các yếu tố vật tư và lao động, ngoài phần tạo lập ban đầu chúng còn được bổ sung từ kết quả hoạt động kinh doanh, sự vận động của vốn kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận.

Vai trò của tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp là công cụ huy động đầy đủ và kịp thời các nguồn tài chính nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Tài chính doanh nghiệp có vai trò trong việc tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả.

Tài chính doanh nghiệp có vai trò là đòn bẩy kích thích và điều tiết sản xuất kinh doanh.

Tài chính doanh nghiệp là công cụ giám sát, kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Câu 2: Nội dung và yêu cầu quản lý tài chính trong doanh nghiệp Liên hệ.

Trang 7

-Nguyên tắc tổ chức tài chính doanh nghiệp

+Nguyên tắc tôn trọng pháp luật;

+Nguyên tắc hạch toán kinh doanh;

+Nguyên tắc giữ chữ tín;

+Nguyên tắc an toàn phòng ngừa rủi ro. 

Nền kinh tế nước ta đang vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.Trong cạnh tranh trên thương trường,doanh nghiệp phải vận dụng kiến thức quản lý mới,đặc biệt là Marketing hiện đại mà quảng cáo

là một công cụ quan trọng của nó.

Thực tiễn quá trình tổ chức và quản lý hoạt động quảng cáo của các doanh nghiệp ở nước ta đã và đang diễn ra rất phức tạp theo chiều hướng khác nhau và mang lại những kết quả khác nhau.Quá trình ấy đặt ra một loạt vấn đề đòi hỏi phải được nghiên cứu giải quyết nhằm khẳng định vị trí của

tổ chức và quản lý hoạt động quảng cáo trong tiến trình phát triển chung của doanh nghiệp và nhằm thực hiện tốt tổ chức và quản lý hoạt động

quảng cáo có luận chứng khoa học mang lại hiệu quả kinh tế xã hội thiết thực.

Trang 8

Ở nước ta,những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức quản lý hoạt động quảng cáo và phương pháp luận thực hiện nó đến nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện,đầy đủ có hệ thống khoa học.

Do dó việc chọn đề tài nghiên cứu có ý nghĩa thiét thực và bức xúc cả về lý luận và thực tiễn.

 Một điều mà các chủ doanh nghiệp luôn ghi nhớ là doanh nghiệp của họ tồn tại được dựa trên nhu cầu của thị trường Thị trường thì vô cùng biến động,

do đó cần phải có một công cụ ứng phó với sự biến động này Công cụ này phải

dự đoán được những thay đổi của thị trường cả theo chiều hướng tích cực, cả theo chiều hướng tiêu cực Đó chính là chiến lược kinh doanh - một công cụ hữu hiệu cung cấp cho nhà quản lý những thông tin tổng hợp về môi trường kinh doanh cũng như nội lực của doanh nghiệp Đây là căn cứ cho nhà quản lý tìm ra những cơ hội, những đe doạ đối với sự phát triển của doanh nghiệp Đồng thời chỉ rõ những mặt mạnh mặt yếu của chính doanh nghiệp mình nhằm tìm ra một đường đi đúng đắn và khoa học.

Trang 9

+Hoạt động quản lý hiện nay chủ yếu dựa trên kinh nghiệm.

+Nhận thức chưa đầy đủ về chiến lược kinh doanh.

+ Chi phi cho quản lý chiến lược.

+ Hoạch định chiến lược đã khó nhưng tổ chức thực hiện còn khó hơn + Từ khi thực hiện chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung

sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định

hướng xã hội chủ nghĩa, với chủ trương mở cửa bên ngoài cho phép chủ nghĩa tư bản  nước ngoài vào kinh doanh, xây dựng ở Việt Nam, nhất là đầu thập kỷ 90 này Thể thức đấu thầu theo thông lệ quốc tế đã được khởi sự tại Việt Nam.

+Tuy nhiên hoạt động đấu thầu các công trình xây dựng vẫn là một lĩnh vực mới mẽ Do đó để thực hiện tốt công tác này đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng được một quy chế đấu thầu hoàn chỉnh, đồng thời các nhà thầu xây dựng phải am hiểu quy chế đấu thầu này và các lĩnh vực khác có liên quan.

+Một công cụ quan trọng như vậy nhưng tiếc thay hiện nay chưa được các doanh nghiệp quan tâm một cách thích đáng, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng trên.

Trang 10

Câu 3: Các giải pháp khơi tăng nguồn vốn cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Trong điều kiện kinh tế thị trường: các phương thức huy động vốn cho doanh nghiệp được đa dạng hóa, giải phóng các nguồn tài chính trong nền kinh tế, thúc đẩy sự thu hút vốn vào các doanh nghiệp.

Nguồn vốn tự có của các cho doanh nghiệp: trong công ty tư nhân chủ doanh nghiệp phải có đủ số vốn pháp định cần thiết.

Vốn tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại: nguồn vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đối với sự phân tích của bản thân các doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Sự hoạt động và phân tích của các công ty, các doanh nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn tín dụng

Có thể nói rằng không một công ty nào có thể hoạt động tốt mà không vay vốn ngân hàng hoặc tín dụng thương mại nếu công ty đó muốn tồn tại vững chắc trên thị trường Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốn cho các dự án hoạt động hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp.

Trang 11

• Nguồn vốn tín dụng thương mại là một phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng

và linh hoạt trong kinh doanh; mặt khác nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền Các điều kiện ràng buộc cụ thể có thể được ấn định khi hai bên ký hợp đồng mua bán hay hợp đồng kinh doanh nói chung Tuy nhiên phải cần nhận thấy tính chất rủi ro của quan hệ tín dụng thương mại khi quy mô tại trợ vượt quá giới hạn an toàn.

• Chi phí của việc sử dụng các nguồn vốn tín dụng thể hiện qua lãi suất của

khoản vay, đó là chi phí lãi vay, sẽ được tính vào giá thành sản phẩm hay dịch vụ khi mua bán hàng hóa trả chậm chi phí này có thể “ẩn” dưới hình thức thay đổi mức giá, tùy thuộc quan hệ và thỏa thuận cụ thể giữa các bên Trong xu hướng hiện nay ở VN cũng như trên thế giới, các hình thức tín dụng ngày càng đa dạng hóa và linh hoạt hơ, với tính chất cạnh tranh hơn, do đó các doanh nghiệp cũng có nhiều cơ hội để lựa chọn nguồn vốn tài trợ cho các hoạt động của các doanh nghiệp.

Trang 12

Nguồn vốn phát hành cổ phiếu là một kênh rất quan trọng để huy động vốn dài hạn cho công ty một cách rộng rãi thông qua mối liên hệ với thị trường chứng khoán Trong các nước công ngiệp phát triển thị trường chứng khoán

là nơi hội tụ những hoạt động tài chính sôi động nhất của nền kinh tế để hiểu

đó những khía cạnh chủ yếu của việc phát hành cổ phiếu cần hiểu rõ các loại

cổ phiếu khác nhau.

Các công ty cổ phần trong nước cần chú ý đến việc chống thôn tín bảo vệ trước sự xâm thực của các công ty khác trong khi huy động vốn phát hành cổ phiếu phải tính toán để duy trì giữ vững công ty.

•Phát hành trái phiếu (trái khoán)công ty: để huy động vốn trên thị trường

bằng trái phiếu phải lựa chọn trái phiếu thích hợp có liên quan đến chi phí, cách thức trả lãi khả năng lưu hành, hấp dẫn của trái phiếu để mang lại những lợi ích của công ty.

•Nguồn vốn nội bộ: là công ty dùng chính cái lợi nhuận để lại để tăng nguồn

vốn đầu tư phát triển khi đó các cổ đông không được nhận tiền lãi nhưng bù lại số vốn cổ phần họ sở hữu ngày càng tăng Giảm bớt sự phụ thuốc vào bên ngoài công ty sẽ phát huy từ nguồn lục của chính mình.

Trang 13

Câu 4: Vai trò của NSNN đối với sự phát triển kinh tế Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam ?

Trả lời:

1, Khái niệm ngân sách nhà nước (NSNN):

Là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước trong dự toán được cơ quan có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong 1 năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.

+Góp phần bình ổn giá cả và chống lạm phát ( điều chỉnh lĩnh vực thị trường )

Trang 14

Trong nền kinh tế thị trường giá cả phụ thuộc vào cung, cầu Để bình ổn giá cả Nhà Nước có thể tác động vào cung hoặc cầu hàng hóa thông qua các chính sách và thuế.Đẩy lùi lạm phát hư tăng thuế tiêu dùng hạn chế cầu, kích thích sản xuất để tăng cung

2, Chi tiêu Ngân Sách: (chia theo tính chất kinh tế)

+ Chi thường xuyên là các khoản không có trong khu vực đầu tư và có tính chất thường xuyên để tài trợ cho hoạt động của cơ quan nhà nước.

Vd: Chi chủ quyền quốc gia,chi phí liên quan đến duy trì hoạt động của các cơ quan nhà nước, chi phí các sự căn thiệp của nhà nước vào cải thiện đời sống nhân dân như trợ cấp , hỗ trợ bảo hiểm xã hội,

+ Chi đầu tư phát triển : làm tăng thêm tài sản quốc gia

chi phí mua các máy móc , thiết bị dụng cụ

xây dựng công trình công cộng , tu bổ vật chất.

Chi phí chuyển nhượng đầu tư

Trang 15

3, Thực trạng chi ngân sánh nhà nước Việt nam

3.1 Thực trạng:

Trong những năm đầu thập niên 90 diễn biến ngân sách nhà nước khá thất thường Tổng chi ngân sách chiếm 20,5% GDP năm 90 đã giảm xuống còn 15,9% năm 92 sau đó tăng lên 29,4% năm 93 năm 94 giảm từ 29 xuống còn 22,7% Tương ứng với việc cắt giảm 1/5 tổng chi ngân sách nhà nước nhưng bình quân giai đoạn 91-95 đạt 24,5% GDP và khoảng 24,1% GDP giai đoạn 96-2011 tăng mạnh so với mức bình quân 19,7% , giai đoạn 86-90, giai đoạn 91-2011 chi ngân sách được kết cấu theo chi cả 3 lĩnh vực , chi đầu tư , chi thường xuyên và chi trả nợ , trong đó chi đầu tư tăng nhất là chi đầu tư xây dựng mặc dù chii thường xuyên vẫn chiếm tỉ trọng lớn bình quân 63,5% tổng chi , nhưng tỉ trọng chi đầu tư tăng đã vươn lên đạt 25%, chi viện trợ và trả

nợ chiếm hơn 11% tổng chi Đầu năm 2003 các khoản chi mới phát sinh như chi phòng chống dịch SARS, chi công tác chuẩn bị Segame và Asiaparagame , chi bổ sung khắc phục hậu quả thiên tai dẫn đến chi 2003 tăng 6,1% so với dự toán ban đầu và chiếm 27,3% so với GDP trong đó chi đầu tư tăng bằng 7,8% GDP , chi thường xuyên 15,5% GDP

-Theo nghị quyết dự toán về ngân sách nhà nước tổng thu cân đối ngân sách năm 2009: 289.900 tỷ đồng bằng 21,5% GDP , tổng chi ngân sách nhà nước

2009 là 491.300 tỷ đồng bội chi ( số lớn nhất ) được quốc hội cho phép là 87.300 tỷ

Trang 16

+ Tiêu cực tham nhũng ở khắp nơi, mọi công trình gây lãng phí.

+Quản lý kém hiệu quả.

-Công khai dân chủ thực sự trong việc quản lý ngân sách

-Đưa các khoản chi tiêu công khai trên các phương tiện thông tin

Trang 17

Câu 5: Vai trò của thuế đối với sự phát triển KT Thực trạng và giải pháp khắc phục

những hạn chế của thuế ở Việt Nam.

Bài làm

 Trước tiên ta tìm hiểu khái niệm về thuế.

• Thuế là khoản nộp bắt buộc mà các cá nhân và tổ chức có nghĩa vụ phải nộp

trước nhà nước.

• Thuế là một hiện tượng xã hội do chính con người tạo ra gắn với phạm trù nhà

nước và pháp luật.

 Phân loại:

 Căn cứ vào nguồn tài chính động viên vào ngân sách Thuế được chia làm 2 loại:

• Thuế gián thu: chỉ thu của nhà sản xuất nhằm động viên thu nhập người tiêu

dùng ( VD: Thuế GTGT, thuế xuất,nhập khẩu…)

• Thuế trực thu: Thu trực tiếp các cá nhân hoặc tổ chức giúp điều tiết thu nhập

của người chịu thuế (VD: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế với ngươi có thu nhập cao…)

 Căn cứ vào đối tượng đánh thuế:

• Thuế đánh vào sản xuất kinh doanh, dịch vụ ( GTGT)

• Thuế đánh vào sản phẩm hàng hóa( thuế xuất, nhập khẩu)

• Thuế đánh vào thu nhập( thuế doanh nghiệp , người có thu nhập cao)

Ngày đăng: 10/06/2018, 06:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w