Hiện nay, thông qua tìm hiểu ở các tỉnh lân cận khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng, tạm thời vẫn chưa có đề tài nghiên cứu về xây dựng các tiêu chí đặc thù về văn hóa thể chất nông thônmới, mà chỉ áp dụng một số tiêu chí về thiết chế văn hóa theo bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới của quốc gia và của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành. Vì vậy, đề tài xác định nhiệm vụ đánh giá thực trạng hiệu quả ứng dụng các tiêu chí về Văn hóa của quốc gia trên địa bàn xã nông thôn mới tỉnh Vĩnh Long trong thời gian đến năm 2015, từ đó đề xuất xây dựng các tiêu chí đặc thùphù hợp với điều kiện kinh tế, thiên nhiên, môi trường, phát huy văn hóa truyền thống của địa phương để nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động văn hóa thể chất tại các xã điểm nông thôn mới của tỉnh Vĩnh Long trong thời gian tới, góp phần nâng cao mức hưởng thụ về văn hóa thể chất của nhân dân ở cơ sở tại tỉnh Vĩnh Long.
Trang 1NGUYỄN HUỲNH VŨ KHOA
“NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CÁC TIÊU CHÍ ĐẶC THÙ
ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
VĂN HÓA THỂ CHẤT TẠI CÁC XÃ ĐIỂM
NÔNG THÔN MỚI TỈNH VĨNH LONG”
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
TP Hồ Chí Minh, năm 2016
Trang 2NGUYỄN HUỲNH VŨ KHOA
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CÁC TIÊU CHÍ ĐẶC THÙ
ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
VĂN HÓA THỂ CHẤT TẠI CÁC XÃ ĐIỂM
NÔNG THÔN MỚI TỈNH VĨNH LONG
Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
Mã số: 60140103
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lâm Quang Thành
TP Hồ Chí Minh, năm 2016
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu, kết quảtrong luận văn là trung thực; phản ánh tình hình xây dựng và phát triển văn hóathể chất tại các xã điểm nông thôn mới của tỉnh Vĩnh Long đến năm 2015, chưađược ai nghiên cứu, công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nàokhác.
Vĩnh Long, ngày 16 tháng 6 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Huỳnh Vũ Khoa
Trang 4Giám hiệu Trường Đại học Thể dục Thể thao thành phố Hồ Chí Minh; quý thầy,
cô của trường Đại học Thể dục Thể thao và các trường Đại học khác tham giagiảng dạy trong chương trình học tập của khóa Cao học 19 (2014 – 2016) đãdành nhiều tâm huyết, truyền đạt những kiến thức quý báu trên các lĩnh vực liênquan đến chuyên ngành Giáo dục Thể chất, giúp tôi có cơ sở lý luận, ứng dụngnghiên cứu luận văn nầy
Đặc biệt, trân trọng cám ơn Phó Giáo sư – Tiến sĩ Lâm Quang Thành đãtậm tâm hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luậnvăn
Trân trọng cám ơn Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh VĩnhLong, các đồng chí trong Ban giám đốc Sở, lãnh đạo các phòng chức năng thuộcSở; phòng Văn hóa và Thông tin huyện, thị xã trong tỉnh Vĩnh Long và đồngnghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi, hợp tác, hỗ trợ tích cực cho tôi trong suốt quátrình học tập và nghiên cứuđề tài của luận văn
Đề tài được hoàn thành, tuy nhiên quá trình nghiên cứu không tránh khỏinhững hạn chế và sai sót, rất mong quý thầy, cô, đồng nghiệp thông cảm và góp
ý kiến để đề tài luận văn được hoàn chỉnh hơn
Trang 5CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về phát triển Văn hóa nói chung và văn hóa thể chất nói riêng 4
1.1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ phát triển Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập của đất nước 4
1.1.2 Phát triển văn hóa thể chất là một trong những nhiệm vụ để phát triển nền văn hóa Việt Nam 8
1.2 Một số khái niệm Văn hóa, văn hóa thể chất, thiết chế văn hóa 9
1.2.1Văn hóa 9
1.2.2 Khái niệm văn hóa thể chất và thể dục, thể thao 11
1.2.3 Thiết chế và thiết chế văn hóa 17
1.3 Cơ sở lý luận về văn hóa, văn hóa thể chất 19
1.3.1Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội 19
1.3.2 Nền văn hoá mà chúng ta đang xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 20
1.3.3 Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam 20
1.3.4 Văn hoá là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâu dài 21
1.3.5 Thể dục thể thao với chính trị, kinh tế và văn hóa 21
1.3.6 Chuẩn mực, tiêu chí, đặc thù, tiêu chí đặc thù 25
1.3.7 Tiêu chuẩn đánh giá hoạt động văn hóa thể chất và thiết chế văn hóa, thể thao 27
1.4 Quan điểm chỉ đạo của Tỉnh Ủy Vĩnh Long về phát triển Văn hóa thể chất ở cơ sở tỉnh Vĩnh Long thực hiện xây dựng nông thôn mới 28
Trang 6– 2020 28
1.4.3 Quy hoạch phát triển thể dục thể thao tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 29
1.5 Khái quát đặc điểm tỉnh Vĩnh Long hoạt động văn hóa thể chất 29
1.5.1 Vị trí địa lý, dân số, đơn vị hành chính 29
1.5.2 Truyền thống lịch sử Vĩnh Long 30
1.5.3 Hoạt động văn hóa thể chất 32
1.6 Các đề tài nghiên cứu có liên quan 38
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 42
2.1 Phương pháp nghiên cứu 42
2.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu 42
2.1.2 Phương pháp điều tra điều tra xã hội học 42
2.1.3 Phương pháp phân tích SWOT 43
2.1.4 Phương pháp toán học thống kê 43
2 2 Tổ chức nghiên cứu 44
2.2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 44
2.2.2 Khách thể nghiên cứu 44
2.2.3 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 45
2.2.4 Kế hoạch nghiên cứu 45
2.2.5 Đơn vị - cá nhân phối hợp 46
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 47
3.1 Thực trạng hoạt động văn hóa thể chất và xây dựng thiết thể thao ở xã điểm nông thôn mới tỉnh Vĩnh Long đến 2015 47
3.1.1 Thực trạng hoạt động văn hóa thể chất 47
3.1.2 Thực trạng đầu tư xây dựng thiết chế văn hóa,thể thao 61
Trang 73.2 Xây dựng nhóm các tiêu chí đặc thù về hoạt động văn hóa thể chất và xây
dựng thiết chế thể thao xã nông thôn mới tỉnh Vĩnh Long 73
3.2.1 Nhóm tiêu chí đặc thù về hoạt động văn hóa thể chất gồm 07 tiêu chí .73
3.2.2 Nhóm tiêu chí đặc thù về xây dựng thiết chế thể thao xã nông thôn mới gồm 04 tiêu chí 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
Kết luận 80
Kiến nghị 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8CBCCVC Cán bộ công chức, viên chức
Sở VH,TT & DL Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
TTVH-TT Trung tâm Văn hóa, Thể thao
NVH-KTT Nhà Văn hóa-Khu thể thao
Trang 9Tỷ lệ dân số tập luyện TDTT thường xuyên trên địa
bàn xãnông thôn mới tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011
– 2015
48
Bảng 3.2
Số người tập luyện TDTT thường xuyên và tỷ lệ % trên
dân số của 22 xã điểm nông thôn mới tỉnh Vĩnh Long
giai đoạn 2011 – 2015
49
Bảng 3.3
Tổng hợp số người tập luyện TDTT theo môn thể thao
ham thíchở 22 xã điểm nông thôn mới tỉnh Vĩnh Long
giai đoạn 2011 - 2015
51
Bảng 3.4
Thực trạng trình độ chuyên môn công chức văn hóa –
xã hội ở 22 xã điểm nông thôn mới tỉnh Vĩnh Long đến
năm 2015
56
Bảng 3.5
Số lượng hướng dẫn viên, cộng tác viên thể dục thể
thao ở 22 xã điểm nông thôn mới tỉnh Vĩnh Long đến
Trang 10Gia đình tập luyện
TDTT
Là những hộ gia đình có ít nhất 50% số người tronggia đình luyện tập TDTT thường xuyên
Giáo dục thể chất Là môn học chính khóa thuộc chương trình giáo dục
nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bảncho người học thông qua các bài tập và trò chơi vậnđộng, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàndiện
Câu lạc bộ TDTT cơ
sở
Là một tổ chức xã hội tự nguyện được thành lập tạicác cơ quan, tổ chức, đơn vị lực lượng vũ trang,trường học, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinhdoanh dịch vụ để tổ chức, hướng dẫn tập luyện thểdục thể thao cho người tập
Giải thể thao Là các cuộc thi đấu do các liên đoàn thể thao quốc
gia, quốc tế, ngành thể dục thể thao trung ương vàđịa phương tổ chức nhằm đánh giá, tuyển chọn vậnđộng viên và phát triển phong trào thể dục thể thao
Diện tích đất đai dành
cho TDTT
Là diện tích đất đã nằm trong quy hoạch được cấp
có thẩm quyền phê duyệt (tỉnh, thành phố)
Chi cho hoạt động sự
nghiệp TDTT
Là những khoản kinh phí từ ngân sách trung ương,địa phương, các khoản thu từ hoạt động thể dục thể
Trang 11hoạt động TDTT
Huấn luyện viên Là người trực tiếp giảng dạy, đào tạo và huấn luyện
vận động viên các môn thể thao từ năng khiếu trởlên, là người được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ,được chứng nhận về chuyên ngành thể dục, thể thao
từ bậc trung cấp trở lên hoặc có chứng chỉ chuyênmôn do Liên đoàn thể thao quốc gia, Liên đoàn thểthao quốc tế tương ứng cấp
Vận động viên Là những người tập luyện thường xuyên có hệ
thống về một hoặc nhiều môn thể thao để tham giathi đấu thể thao và được cơ quan quản lý nhà nước
về thể dục thể thao có thẩm quyền công nhận
Trọng tài Là những người điều khiển và xác định kết quả thi
đấu thể thao theo luật thi đấu của từng môn thể thao
và được cơ quan quản lý nhà nước về thể dục thểthao công nhận
Cộng tác viên TDTT Là người có trình độ chuyên môn thể dục, thể thao,
thực hiện nhiệm vụ vận động, tổ chức, hướng dẫnmọi người tập luyện thể dục, biểu diễn, thi đấu thểthao và tham gia hoạt động phát triển phong trào thểdục, thể thao ở cơ sở
Sân vận động Là sân thể thao cơ bản có đường chạy vòng khép
kín bao quanh sân bóng đá và một số sân xen kẽ(thường bố trí ở hai đầu sân bóng đá) phục vụ cácmôn thể thao khác: Nhảy xa, Nhảy cao, Ném đẩy…;
Trang 12Phòng trọng tài, Phòng huấn luyện viên, Phòng vậnđộng viên…
Nhà thi đấu thể thao Là công trình TDTT trong nhà (thường là công trình
có khán đài) phục vụ cho tập luyện và thi đấu TDTT
Bể bơi Là công trình TDTT chuyên dùng cho việc tập
luyện và thi đấu một số môn thể thao dưới nướcnhư: Bơi, lặn, bóng nước, nhảy cầu, bơi nghệthuật…
Hộ kinh doanh hoạt
động thể thao
Là do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặcnhóm người hoặc một bộ phận gia đình làm chủ,đăng ký kinh doanh hoạt động thể thao tại mộtđiểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có condấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản củamình đối với hoạt động kinh doanh thể thao
Đơn vị sự nghiệp thể
thao công lập
Là đơn vị do cơ quan nhà nước có thẩm quyềnquyết định thành lập, có dự toán độc lập, có con dấuriêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định củapháp luật
Trang 13LỜI MỞ ĐẦU
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Nghị quyết số 08-NQ/TW của BộChính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng tạo bước phát triển mạnh mẽ vềthể dục, thể thao đến năm 2020 đã đặt ra một trách nhiệm mới cho các cấp, cácngành và địa phương trong việc nâng cao đời sống và bộ mặt an ninh, chính trị,kinh tế, văn hóa của nông thôn Việt Nam trong giai đoạn mới
Triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ươngĐảng lần thứ 7 và Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị;Chính phủra Nghịquyết số 24/2008/NQ-CP ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghịquyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nôngnghiệp, nông dân, nông thôn và Nghị quyết số 16/2012/NQ-CP ban hànhChương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị
Chương trình đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ,lộ trình, tiêu chí và giải pháp; làm
cơ sở tiêu chuẩn để triển khai thực hiện phát triển mọi mặt đời sống chính trị,kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa phương.Cùng với các tiêu chí phát triển về kinh
tế, chính trị, xã hội thì tiêu chí phát triển về văn hóathể chất là một trong nhữngtiêu chí và là giải pháp quan trọng để xây dựng và đổi mới bộ mặt đời sống vănhóa, thể chất, tinh thần của nhân dân ở nông thôn trong quá trình xây dựng nôngthôn mới ở tỉnh Vĩnh Long
Sơ kết 5 năm của Tỉnh ủy Vĩnh Long (2011- 2015) đánh giá thực hiệnNghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X vềnông nghiệp, nông dân, nông thônvà sơ kết 3 năm (2011 – 2013) của Ban Tuyêngiáo Tỉnh ủy Vĩnh Longvề triển khai thực hiện Nghị quyết 08 của Bộ Chính trịtrên địa bàn tỉnh đã đánh giá:
“Bộ mặt Văn hóa nông thôn tỉnh Vĩnh Long từng bước được đổi mới, hệ thống cơ sở vật chất, hạ tầng được đầu tư xây dựng mới, thu nhập kinh tế hộ
Trang 14dân và đầu người tăng, các thiết chế văn hóa được hình thành, góp phần đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân Tuy nhiên, trong quá trình chỉ đạo, tổ chức, điều hành xây dựng thiết chế văn hóa của tỉnh thời gian qua bộc
lộ những vướng mắc, khó khăn và hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến phát triển bền vững Đặc biệt, trong chỉ đạo, điều hành phát triển các hoạt động văn hóa, thể chất còn nhiều lúng túng, bị động về phương pháp quản lý, tiêu chí tổ chức thực hiện, giải pháp điều hành, công tác huy động sức dân, vận động xã hội hóa còn bị động, tổ chức các loại hình hoạt động phong trào còn đơn điệu, chưa thu hút, kinh phí hoạt động, cơ sở vật chất trang thiết bị vừa thừa, vừa thiếu chưa đáp ứng nhu cầu.v.v ”
Trước những nhận định và yêu cầu đặt ra, việc nghiên cứu đánh giá mộtcách khoa học về thực trạng văn hóa thể chất tại các xã điểm nông thôn mới củatỉnh Vĩnh Long trong thời gian qua là cần thiết, nhằm tìm ra những ưu điểm, đặt
ra yêu cầu mới, xây dựng những tiêu chí đặc thù, phù hợp trình độ quản lý, điềukiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa phương đểgiúp lãnh đạo ngànhVăn hóa, Thể thao và Du lịch, lãnh đạo Uỷ ban nhân dân các cấp của tỉnh VĩnhLongtrong công tác chỉ đạo, tổ chức, quản lý, điều hành, phát triển hoạt độngvăn hóa thể chất tại các xã điểm nông thôn mới của tỉnh có chất lượng, đạt hiệuquả cao và phát triển bền vữngtrong thời gian tới; góp phần phát triển kinh tế,
xã hội, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân tỉnh Vĩnh Long và thực hiệnthắng lợi Nghị quyết Đảng trên phạm vi toàn quốc
Hiện nay, thông qua tìm hiểu ở các tỉnh lân cận khu vực Đồng bằng sôngCửu Long nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng, tạm thời vẫn chưa có đề tàinghiên cứu về xây dựng các tiêu chí đặc thù về văn hóa thể chất nông thônmới,
mà chỉ áp dụng một số tiêu chí về thiết chế văn hóa theo bộ tiêu chí xây dựngnông thôn mới của quốc gia và của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành
Vì vậy, đề tài xác định nhiệm vụ đánh giá thực trạng hiệu quả ứng dụng các tiêuchí về Văn hóa của quốc gia trên địa bàn xã nông thôn mới tỉnh Vĩnh Long trong
Trang 15thời gian đến năm 2015, từ đó đề xuất xây dựng các tiêu chí đặc thùphù hợp vớiđiều kiện kinh tế, thiên nhiên, môi trường, phát huy văn hóa truyền thống củađịa phương để nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động văn hóa thể chất tại các
xã điểm nông thôn mới của tỉnh Vĩnh Long trong thời gian tới, góp phần nângcao mức hưởng thụ về văn hóa thể chất của nhân dân ở cơ sở tại tỉnh Vĩnh Long
Trên cơ sở ý nghĩa và tầm quan trọng của những vấn đề trên, tôi xác định
chọn đề tài:“Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí đặc thù để nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động văn hóa thể chất tại các xã điểm nông thôn mới tỉnh Vĩnh Long”
Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng hoạt động văn hóa thể chất và xây dựng thiết chế thểthao nhằm xây dựng các tiêu chí đặc thù để nâng cao chất lượng hiệu quả hoạtđộng văn hóa thể chất tại các xã điểm nông thôn mới tỉnh Vĩnh Long, góp phầnnâng cao mức hưởng thụ về văn hóa thể chất của nhân dân ở cơ sở
Nhiệm vụ nghiên cứu
1 Nghiên cứu thực trạng hoạt động văn hóa thể chất và xây dựng thiếtchế thể thao ở xã điểm nông thôn mới tỉnh Vĩnh Long đến năm 2015
2 Xây dựng các tiêu chí đặc thù để nâng cao chất lượng hiệu quả hoạtđộng văn hóa thể chất các xã điểm nông thôn mới tỉnh Vĩnh Long
Trang 16CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về phát triển Văn hóa nói chung và văn hóa thể chất nói riêng
1.1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ phát triển Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập của đất nước
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (1998):“Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” là Nghị quyết có
ý nghĩa chiến lược, chỉ đạo quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa ởnước ta
Phương hướng chung của sự nghiệp văn hoá nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền
văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoánhân loại, làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội,vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư;tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa họcphát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêudân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
Quan điểm chỉ đạo cơ bản trong quá trình xây dựng và phát triển sựnghiệp phát triển văn hoá nước ta là: Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội,vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội; nền vănhoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; thống nhất mà đa dạng trong cộng đồngcác dân tộc Việt Nam; xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân
do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng; văn hoá làmột sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trìthận trọng
Nhiệm vụ và giải pháp là: Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn
Trang 17cách mạng mới Xây dựng môi trường văn hóa Phát triển sự nghiệp văn học,nghệ thuật Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa Phát triển sự nghiệp giáodục- đào tạo và khoa học công nghệ Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thốngthông tin đại chúng Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số.Chính sách văn hóa đối với tôn giáo Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa Củng
cố, xây dựng và hoàn thiện thiết chế văn hóa.Mở cuộc vận động giáo dục chủnghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và phong trào “Toàn dân đoàn kết xâydựng đời sống văn hóa” Xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách vănhóa Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hóa Nâng caohiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa
Kết luận của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ mười khóa IX
đã nhấn mạnh mục tiêu sau: Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh
tế là trọng tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nângcao văn hóa- nền tảng tinh thần xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnhvực trên chính là điều kiện quyết định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện vàbền vững của đất nước Trong quá trình mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế vàgiao lưu văn hóa, cùng với việc tập trung xây dựng những giá trị mới của vănhóa Việt Nam đương đại, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa, pháthuy các giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc và tiếp nhận có chọn lọctinh hoa văn hóa thế giới, bắt kịp sự phát triển của thời đại Vừa phát huy mạnh
mẽ tính đa dạng, bản sắc độc đáo của văn hóa các dân tộc anh em, làm phongphú nền văn hóa chung của cả nước, vừa kiên trì củng cố và nâng cao tính thốngnhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam, đấu tranh chống các khuynh hướnglợi dụng văn hóa để chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc Nghiên cứu, nắmbắt kịp thời những thành tựu của văn hóa- thông tin hiện đại, huy động mọitiềm lực xã hội cho sự nghiệp phát triển văn hóa, chăm lo các tài năng, chủđộng có kế hoạch, chính sách, cơ chế phù hợp để tạo điều kiện cho văn hóanước nhà phát triển vững chắc và đúng hướng trong thời kỳ mới
Trang 18- Văn kiện Đại hội X (2006) đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát triển sâu
rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”; đồng thời chỉ rõ: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hóa- nền tảng tinh thần của xã hội”1
- Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ
sung, phát triển 2011) được Đại hội XI của Đảng thông qua đã xác định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”.
- Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban chấp
hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn nhận
định: “Sau hơn 20 năm thực hiện đường đối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khá toàn diện và to lớn, bộ mặt nhiều vùng nông thôn thay đổi Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà
Nội, 2006, tr.213.
Trang 19vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc Những hạn chế, yếu kém trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan
là chính: một số chủ trương, chính sách không hợp lý, thiếu tính khả thi nhưng chậm được điều chỉnh, bổ sung kịp thời; đầu tư từ ngân sách nhà nước và các thành phần kinh tế vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; tổ chức chỉ đạo thực hiện và công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, yếu kém” đề ra quan điểm mục tiêu và giải pháp phát triển trong thời gian tới: “ Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoà thuận, dân chủ, có đời sống văn hoá phong phú, đàm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới với các tiêu chí cụ thể, phù hợp với đặc điểm từng vùng, chú ý các xã còn nhiều khó khăn Nâng cao chất lượng cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, thực hiện nếp sống mới ở nông thôn.” [20]
- Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09 tháng 6 năm 2014 của Ban chấp
hành Trung ương Đảng khóa XI:“Về xây dựng và phát triển Văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.Đảng tiếp tục khẳng định phát triển kinh tế song song với phát triển văn hóa, xem: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước Văn hóa phải được đặt ngang với kinh tế, chính trị, xã hội”.
Mục tiêu hướng đến là: “ Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển
Trang 20bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Nhiệm vụ là: Hoàn thiện thể chế, chế định pháp lý và thiết chế văn hóabảo đảm xây dựng và phát triển văn hóa, con người trong thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Nâng cao thể lực, tầm vóc conngười Việt Nam, gắn giáo dục thể chất với giáo dục tri thức, đạo đức, kỹ năngsống, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.1.2 Phát triển văn hóa thể chất là một trong những nhiệm vụ để phát triển nền văn hóa Việt Nam.
Phát triển Văn hóa thể chất là một trong những nhiệm vụ để phát triển nềnvăn hóa Việt Nam đã được Đảng ta xác định trong Nghị quyết Đại hội lần thứ
IX của Đảng đã xác định:“Phát triển thể dục thể thao là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta… phát triển thể dục thể thao là góp phần giáo dục đạo đức, nâng cao dân trí xã hội …, đáp ứng nhu cầu đời sống, sinh hoạt văn hóa cộng đồng Thể dục, thể thao là một bộ phận của nền Văn hóa, đầu tư cho phát triển thể dục thể thao, tức là đầu tư cho sự phát triển…”.
Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “ Xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam Đẩy mạnh phát triển thể dục thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao”, thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng về phát triển thể dục thể thao
nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực và nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần củanhân dân
Nghị quyết số 08 – NQ/TW, ngày 01 tháng 12 năm 2011, Ban chấp hànhTrung ương Đảng ban hành về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng tạo bước pháttriển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020; phát huy vai trò lãnh đạo củaĐảng đối với công tác thể dục, thể thao hay văn hóa thể chất nói chung với quan
điểm: “ Phát triển thể dục, thể thao là một yêu cầu khách quan của xã hội,
Trang 21nhằm góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực và chất lượng cuộc sống của nhân dân, chất lượng nguồn nhân lực; giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân,
mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế; đồng thời, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội và của mỗi người dân Các cấp ủy đảng có trách nhiệm thường xuyên lãnh đạo công tác thể dục, thể thao, bảo đảm cho sự nghiệp thể dục, thể thao ngày càng phát triển.Đầu tư cho thể dục thể thao là đầu tư cho con người, cho sự phát triển của đất nước Tăng
tỷ lệ chi ngân sách nhà nước, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở vật chất thể dục, thể thao và đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao; đồng thời phát huy các nguồn lực của xã hội để phát triển thể dục, thể thao, phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức xã hội trong quản lý, điều hành các hoạt động thể dục, thể thao Gìn giữ, tôn vinh những giá trị thể dục, thể thao dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, phát triển nền thể dục, thể thao nước ta mang tính dân tộc, khoa học, nhân dân và văn minh “
Trong đó đặc biệt nhấn mạnh: “ Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động thể dục thể thao quần chúng Nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, vận động và thu hút đông đảo nhân dân tham gia tập luyện thể dục, thể thao, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các hình thức tổ chức tập luyệnthể dục thể thao ở cơ sở Gắn việc chỉ đạo phát triển phong trào thể dục , thể thao với Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở” với Chương trình xây dựng nông thôn mới…”
1.2 Một số khái niệm Văn hóa, văn hóa thể chất, thiết chế văn hóa
1.2.1Văn hóa
Văn hóa là một khái niệm trừu tượng bao trùm lên mọi mặt của đời sống
xã hội Người ta thường nhìn nhận và đưa ra các định nghĩa tùy theo góc tiếpcận và mục tiêu cụ thể khi nghiên cứu
Trang 22Nhìn chung, các khái niệm, quan điểm về văn hóa đều có những lý lẽ
riêng Tuy nhiên phần lớn trong số đó là những định nghĩa miêu tả, chỉ bàn đếnmột số khía cạnh cụ thể của văn hóa, điển hình là định nghĩa của Tylor, ông viết:
“Văn hóa, hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng
và tập quán khác nhau mà con người có được với tư cách là một thành viên của
xã hội” [39].
Ở Việt Nam, theo Đào Duy Anh quan niệm:
Người ta thường cho rằng văn hóa chỉ là những học thuật tư tưởng củaloài người nhân thế mà xem văn hóa vốn có tính chất cao thượng đặc biệt.Thực ra không phải là như vậy Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm
vi của văn hóa, nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hộicùng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại là không phải ở trongphạm vi văn hóa hay sao? Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các
phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: “Văn hóa tức là sinh hoạt” [11].
Tại hội nghị quốc tế về văn hóa phi vật thể do UNESCO tổ chức vào
tháng 6 năm 2003, thuật ngữ văn hóa được thống nhất định nghĩa: “Là một tập hợp các đặc trưng về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của một xã hội hoặc nhóm xã hội, bao gồm văn học và nghệ thuật, lối sống, cung cách ứng xử,
hệ thống giá trị, truyền thống và niềm tin”(Nguồn Internet) Theo quan niệm
của UNESCO, văn hóa bao gồm hai phương diện: văn hóa vật thể và văn hóaphi vật thể Văn hóa vật thể như đình, đền, chùa, thành quách, lăng tẩm, cáccông trình kiến trúc dân dụng và nghệ thuật…Văn hóa phi vật thể bao gồm cácbiểu tượng, tri thức, kinh nghiệm, chuẩn mực và những giá trị tinh thần của đờisống…được lưu truyền và biến đổi theo thời gian gắn liền với quá trình sáng tạoliên tục của cộng đồng
Trang 23Theo Từ điển triết học, “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiển xã hội lịch sử…”
Giáo sư Trần Ngọc Thêm (2008), định nghĩa về Văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [40]; định nghĩa nhấn mạnh tính hệ
thống, tính giá trị (giá trị vật chất, giá trị tinh thần); cùng với chức năng tổ chức,điều chỉnh, giao tiếp, thông tin, nhận thức, cảm xúc…hoạt động văn hóa thỏamãn đáp ứng nhu cầu của con người, tạo mối liên kết nhân cách, điều chỉnhhành vi của bản thân và người khác; chính vì có chức năng điều chỉnh mà vănhóa trở thành mục tiêu và là động lực phát triển xã hội
Đặc tính của Văn hóa vừa là mục tiêu vươn tới vừa là động lực thúc đẩy
phát triển xã hội theo Nguyễn Đặng Duy (2004), thì: “Văn hóa là hệ thống những giá trị chuẩn mực xã hội biểu hiện ra trong mọi lối sống, nếp sống vật chất và tinh thần của một cộng đồng người hay một quốc gia”.[19]
Từ những khái niệm, quan điểm nêu trên và dựa vào vấn đề tiếp cận, đềtài luận văn cho rằng các giá trị truyền thống của hoạt động phong trào thể dụcthể thao ở xã điểm nông thôn mới tỉnh Vĩnh Long đã góp phần hình thành vănhóa thể chất nông thôn tỉnh Vĩnh Long trong thời gian qua
1.2.2 Khái niệm văn hóa thể chất và thể dục, thể thao
- Văn hóa thể chất
Nghiên cứu của các nhà khoa học thể dục, thể thao hàng đầu Việt Namgồm: Phó giáo sư – Tiến sĩ Lâm Quang Thành, Phó giáo sư – Tiến sĩ Đào MạnhHùng, Giáo sư – Tiến sĩ Dương Nghiệp Chí, Giáo sư – Tiến sĩ Lưu Quang Hiệp
và Phó giáo sư – Tiến sĩ Trần Đức Dũng (2014), đồng tác giả biên soạn giáotrình Văn hóa học thể dục, thể thao thì Văn hóa học thể dục, thể thao ứng dụng
là lý luận văn hóa và sự ứng dụng của văn hóa vào lĩnh vực thể dục thể thao;
trong đó, thực chất thể dục, thể thao là văn hóa thể chất hay còn gọi là giáo dục
Trang 24thể chất và thể thao; từ lâu đời nay, loài người đã xác định văn hóa học thể dục,thể thao là một phạm trù của văn hóa, một hình thức biểu hiện của văn hóa.[14]
Như vậy, hiểu Văn hóa thể chất là bộ phận của Văn hóa nói chung, là một
loại hình hoạt động đặc biệt, nhằm hoàn thành các tố chất thể lực, năng khiếu,tăng cường sức khỏe và khả năng làm việc Các yếu tố của hoạt động nầy là cácbài tập phát triển thể lực có liên quan chặt chẽ với quá trình hình thành và pháttriển nền văn hóa, giáo dục chung của loài người Văn hóa thể chất là tổng hợpgiá trị vật chất và tinh thần của xã hội loài người Sự phát triển rộng khắp phổbiến hiện nay của các môn thể thao khác nhau; nghệ thuật, dụng cụ, các trò chơivận động, xuất hiện đa dạng và phong phú; các bài tập thể chất đã làm giàu ýnghĩa của giá trị văn hóa chung của nhân loại thông qua các hình thức, cấu trúcmới của nền văn hóa thể chất
Văn hóa thể chất là một bộ phận hữu cơ của nền văn hóa xã hội, có nộidung cấu trúc đặc biệt qua việc sử dụng hợp lý sự vận động như một phươngtiện hiệu quả chuẩn bị thể lực nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế cuộc sống Điềuhòa và phát triển tình trạng sức khỏe của con người, bao gồm các hình thức vậnđộng có mục đích, sự tổng hợp các thành tựu khoa học xã hội, tự nhiên trongviệc hình thành hệ thống những phương tiện, phương pháp và điều kiện nhằmphát triển khả năng vận động của các thế hệ trong xã hội.Văn hóa thể chất là mộttrong những phương tiện hiệu quả phát triển toàn diện và hài hòa nhân cách, làyếu tố xã hội nhằm tiến tới hoàn thiện thể chất con người
Trang 25Cơ thể từ loài vượn thành người, bàn tay dùng để lao động, vỏ đại não để tư duy
và ngôn ngữ để giao tiếp đều từ lao động mà phát triển thành như ngày nay.Từthời cổ xưa, con người thường có những hoạt động tế lễ dùng những động tác cótính chất tượng trưng để biểu thị tình cảm, nỗi vui buồn, sự sùng bái thần linh
Vũ đạo ra đời từ đó Các động tác vật, giao đấu ra đời trong các cuộc xung độtgiữa các bộ lạc, người với dã thú Ngoài ra còn có các trò chơi vui thích tronglúc nhàn rỗi, giải trí và về sau còn thêm dần một số hoạt động rèn luyện thân thểkhác để phòng chữa một số bệnh Tất cả những điều này đã góp phần quan trọng
để phát triển thể dục, thể thao Sau này, do trình độ sản xuất, mức sống, khoahọc kỹ thuật, nhu cầu đào tạo và giáo dục ngày càng cao nên thể dục,thể thaodần trở thành một lĩnh vực tương đối độc lập, có một hệ thống khoa học choriêng mình
Muốn xem xét khái niệm TDTT cho đúng, đầy đủ, ít nhất cũng phải theobốn cách tiếp cận sau: Đây là một quá trình hoạt động nhằm tác động có chủđích, có tổ chức theo những nhucầu, lợi ích của con người (không phải ngẫunhiên, bẩm sinh, vô thức) Không có vận động sẽ không có sự sống Không cóhoạt động (trong đó có hoạt động tập luyện) sẽ không thể phát triển thể chất tốt,chưa nói tới tối ưu Đặc điểm cơ bản, chuyên biệt của hoạt động này là sự vậnđộng tích cực của con người nhằm chủ yếu giữ gìn và phát triển sức lực hoạtđộng của họ Nhưng nó chỉ đem lại hiệu quả tốt nếu tập luyện đúng, sinh hoạthợp lý và đảm bảo những điều kiện tối thiểu khác TDTT còn là một tổng thểnhững giá trị có tính đối tượng rõ, những thành tựu về vật chất, tinh thần và thểchất do xã hội tạo nên Ngày nay những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá trình
độ TDTT của mỗi nước là trình độ sức khoẻ và thể chất của nhân dân; tính phổcập của phong tràơ TDTT quần chúng, trình độ thể thao nói chung và kỷ lục thểthao nói riêng, các chủ trương, chính sách, chế độ về TDTT và sự thực hiện; cơ
sở trang thiết bị về TDTT Thể thao nâng cao và TDTT quần chúng nói chung
về cơ bản là thống nhất, hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau nhưng không phải là một, lúc
Trang 26nào cũng tương thích, cái này làm tốt thì tự nhiên cái kia sẽ tốt.TDTT gắn vớinhững giá trị nhất định nhưng không phải cái gì cứ có trong thực tiễn TDTT làđều có giá trị cả (như những biểu hiện tiêu cực trong thi đấu thể thao, nhữngcáchtập có hại ) Sự phân biệt nhưng giá trị về thể chất và phi thể chất (tinhthần, trí tuệ, kinh nghiệm ) trong đánh giá tác dụng, thành tựu của TDTT chỉ làtương đối Bởi vì trong thực tế chúng luôn gắn, “nằm” trong một thể thống nhất.Không có những cơ sở vật chất và tinh thần (trong đó có thể chế) nhất định,chúng ta không thể “làm” TDTT, chưa nói đến phát triển Tác dụng của TDTTchủ yếu mang tính chất nhân hoá, nhập nội (tác động ngay vàotrong bản thâncon người, biến thành thể lực, kỹ năng, ý chí, trí tuệ, niềm vui ) Đối tượng tácđộng chuyên biệt để đạt hiệu quả chính là thể chất của con người Tuy vậy, vẫnrất cần phối hợp tác động tốt với các bộ phận văn hoá, những mặt giáo dục kháctrong chiến lược đào tạo con người nói chung; không nên để chúng tách biệt,
"dẫm chân" nhau, thậm chí bài xích, đối nghịch nhau TDTT còn có tính lịch sử
rõ nét Quá trình phát sinh và phát triển lâu dài của TDTT từng địa phương,quốc gia, thế giới đều gắn với điều kiện lịch sử cụ thể, từ đó mà tạo nên truyềnthống, nét độc đáo riêng Tách rời điều kiện lịch sử cụ thể đó sẽ không lý giảiđược sự phát triển trong quá khứ cũng như dự đoán triển vọng
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể xác định được khái niệm TDTT khái niệm trung tâm rộng và quan trọng nhất của lý luận và phương pháp TDTT.TDTT là bộ phận của nền văn hoá xã hội, một loại hình hoạt động mà phươngtiện cơ bản là các bài tập thể lực (thể hiện cụ thể qua các cách thức rèn luyệnthân thể) nhằm tăng cường thể chất cho con người, nâng cao thành tích thể thao,góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hoá và giáo dục con người phát triển cânđối hợp lý)
Phong trào thể dục, thể thao
Đó là một trào lưu xã hội (tự phát, tự động hay có tổ chức, rộng hẹp theonhiều cấp độ khác nhau), bao gồm nhiều người hoạt động hợp tác với nhau,
Trang 27nhằm chủ yếu, trực tiếp sử dụng, phổ biến và nâng cao những giá trị của TDTT.Trong ngôn ngữ thông thường, từ này còn có nghĩa là tình hình phát triển TDTT
ở nơi nào đó Do nhu cầu và trình độ phát triểnTDTT nước ta và trên thế giới,ngày càng có nhiều phong trào đa dạng, với quy mô liên kết càng rộng lớn, đápứng những hứng thú, nhu cầu TDTT khác nhau, rộng mở hoặc tập trung hơn Ví
dụ, phong trào Olympic, "Thể thao vì mọi người", "Chạy vì sức khoẻ" hoặc
"Chạy,bơi, bắn, võ” trong thời kỳ chiến tranh chống đế quốc Mỹ hay “Rèn luyệnthân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” hiện nay ở nước ta Bản chất xã hội của mộtphong trào TDTT nào đó ở bất cứ nước nào bao giờ cũng phụ thuộc chính vàonhững đặc điểm về chính trị, kinh tế, xã hội, dân tộc của từng địa phương,quốc gia trong giai đoạn lịch sử cụ thể
- Thể chất và phát triển thể chất.
Thể chất chỉ chất lượng thân thể con người Đó là những đặc trưngtương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và pháttriển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (bao gồm cả giáo dục, rènluyện).TDTT gắn bó chặt chẽ với quá trình phát triển thể chất Đó là một quátrình hình thành, biến đổi tuần tự theo quy luật trong cuộc đời từng người (tươngđối lâu dài) về hình thái, chức năng và cả những tố chất thể lực và năng lực thểchất Chúng được hình thành “trên”và “trong” cái nền thân thể ấy.Thể chất baogồm thể hình, khả năng chức năng và khả năng thích ứng.Thể hình gồm hìnhthái, cấu trúc của cơ thể, bao gồm trình độ phát triển, những chỉ số tuyệt đối vềhình thái và tỷ lệ giữa chúng cùng tư thế Còn năng lực thể chất lại chủ yếu liênquan với những khả năng chức năng của các hệ thống, cơ quan trong cơ thể thểhiện chính qua hoạt động cơ bắp Nó bao gồm các tố chất thể lực (sức mạnh, sứcnhanh, sức bền, độ dẻo, sự khéo léo vận động…) và những năng lực vận động
cơ bản của con người (đi, chạy,nhảy, ném, leo trèo, bò, mang vác ) Khả năngthích ứng chỉ trình độ (năng lực) thích ứng chủ yếu về chức năng của cơ thể conngười với hoàn cảnh bên ngoài, bao gồm cả sức đề kháng với các bệnh tật Còn
Trang 28trạng thái thể chất chủ yếu nói về tình trạng cơ thể qua một số dấu hiệu về thểtạng, được xác định bằng các cách đo tương đối đơn giản về chiều cao, cânnặng, vòng ngực, dung tích sống, lực tay, chân, lưng trong một thời điểm nàođấy Đặc trưng của sự phát triển thể chất phụ thuộc nhiều vào các nguyên nhântạo thành (điều kiện bên trong và bên ngoài) và sự biến đổi của nó theo một sốquy luật về tính di truyền và khả biến, sự phát triển theo lứa tuổi và giới tính, sựthống nhất hữu cơ giữa cơ thể và môi trường, giữa hình thức - cấu tạo và chứcnăng của cơ thể.Từng người và xã hội không thể tuỳ ý thay bỏ hoặc làm ngượclại những quy luật khách quan này Chỉ có thể đạt hiệu quả phát triển thể chất tốtnếu hiểu ra được và vận dụng, tác động thích hợp theo nhưng phương hướng,mục đích nhất định, nhằm đáp ứng những nhu cầu và lợi ích của từng cá nhân và
xã hội Xét từ ý nghĩa ấy, TDTT là một nhân tố xã hội chuyên môn nhằm tácđộng có chủ đích và hợp lý đến quá trình phát triển thể chất của con người, chủyếu là về các tố chất vận động và những kỹ năng vận động quan trọng trong đờisống Liên quan với các khái niệm trên, sự hoàn thiện thể chất lại là mức tối ưu(tương đối vớimột giai đoạn lịch sử nhất định) của trình độ chuẩn bị thể lực toàndiện và phát triển thể chất cân đối, đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của lao động
và những hoạt động cần thiết khác trong đời sống, phát huy cao độ, đầy đủ năngkhiếu bẩm sinh về thể chất của từng người phù hợp với những quy luật pháttriển toàn diện nhân cách và giữ gìn, nâng cao sức khoẻ để hoạt động tích cực,bền lâu và có hiệu quả Bước đầu tiên, phổ cập, cơ bản về hoàn thiện thể chấtcho mọi người trong một số nước là tập luyện để đạt được các tiêu chuẩn rènluyện thân thể chung trong từng thời kỳ
-Giáo dục thể chất, giáo dưỡng thể chất và chuẩn bị thể lực
Thuật ngữ đầu có từ lâu trong ngôn ngữ nhiều nước Riêng ở nước ta, dobắt nguồn từ gốc Hán - Việt nên cũng có người gọi tắt giáo dục thể chất là thểdục theo nghĩa tương đối hẹp Vì theo nghĩa rộng của từ Hán - Việt cũ, thể dụccòn có nghĩa là TDTT Thông thường, người ta coi giáo dục thể chất là một bộ
Trang 29phận của TDTT Nhưng chính xác hơn, đó còn là một trong những hình thứchoạt động cơ bản có định hướng rõ của TDTT trong xã hội, một quá trình có tổchức để truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục -giáo dưỡng chung (chủ yếu trong các nhà trường) Mặt khác, phạm trù, lĩnh vựcchung hơn, tập hợp lớn hơn, bao gồm cả giáo dục thể chất, lại là giáo dục theonghĩa rộng của từ này Cũng như các hình thức giáo dục khác, thì giáo dục thểchất theo đặc trưng chung, cũng là một quá trình giáo dục với đầy đủ những dấuhiệu chung của nó (vai trò chủ đạo của nhà giáo dục trong quá trình dạy học, tổchức hoạt động theo những nguyên tắc sư phạm ) Nhưng đặc trưng cơ bản,chuyên biệt thứ nhất của giáo dục thể chất là dạy học vận động (qua các độngtác) Nói rõ và đầy đủ hơn, đó là truyền thụ và tiếp thu có hệ thống những cáchthức điều khiển hợp lý sự vận động của con người qua đó sẽ hình thành những
kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản cần thiết và những hiểu biết có liên quan Quátrình quán triệt đặc trưng chuyên biệt thức nhất trên là giáo dưỡng thể chất (9trong 2 nội dung chính của giáo dục thể chất)
Đặc trưng cơ bản thứ hai của giáo dục thể chất là sự tác động có chủ đíchđến sự phát triển theo định hướng các tố chất thể lực nhằm nâng cao sức lực vậnđộng của con người.Việc dạy học động tác và phát triển các tố chất vận động cóliên quan chặt chẽ, làm tiền đề cho nhau thậm chí có thể “chuyển” lẫn nhau.Nhưng chúng không bao giờ đồng nhất và quan hệ có khác biệt trong các giaiđoạn phát triển thể chất và giáo dục thể chất khác nhau
1.2.3 Thiết chế và thiết chế văn hóa
Trang 30tưởng….được xác lập rõ ràng bằng hệ thống tổ chức vận hành theo một thể chế
nhất định Thiết chế là sự định hình của thể chế và cơ chế thông qua ba yếu tố
cấu thành một thực thể tổ chức xã hội cụ thể, bao gồm: Đội ngũ nhân lực và bộmáy tổ chức quản lý để vận hành thực hiện nhiệm vụ với các chức danh, chứcnăng và sự phân công, phân cấp; cơ sở vật chất, kỹ thuật, tài chính và các hoạtđộng chuyên môn có tính kế hoạch
- Thiết chế văn hóa
Thiết chế văn hóa bao gồm 3 yếu tố cấu thành: Đội ngũ nhân lực và bộmáy tổ chức, cơ sở vật chất, kỹ thuật, tài chính và hoạt động chuyên môn
- Thiết chế văn hóa cơ sở
Theo Nghị quyết trung ương V khóa VIII: “Tạo ra ở các đơn vị cơ sở (gia đình, làng-bản, xã-phường, khu tập thể, cơ quan, xí nghiệp, nông trường, lâm trường, trường học, đơn vị bộ đội…)” Cho thấy việc xây dựng văn hóa cộng
đồng cần tập trung vào các yếu tố: Con người, giá trị, hoạt động, quan hệ và cơ
sở vật chất, kỹ thuật, sân bãi, tài chính ở cơ sở
Mục đích hoạt động của thiết chế văn hóa cơ sở nhằm đáp ứng nhu cầuhưởng thụ và sáng tạo giá trị văn hóa cho nhân dân, giử gìn và phát huy các giátrị văn hóa truyền thống, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc; góp phần thực hiện dân chủ, hạn chế tệ nạn xã hội, đấu tranh tưtưởng, ổn định chính trị, xây dựng môi trường tự nhiên và nhân văn tại cơ sở
Yêu cầu của hoạt động thiết chế văn hóa cơ sở nhằm giử gìn và phát huy
“bản sắc dân tộc” đặc biệt đứng trước quá trình hội nhập và phát triển, cơ chế thịtrường, giao lưu quốc tế để phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướccần tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, song phải luôn coi trọng những giá trịtruyền thống và bản sắc dân tộc, quyết không được tự đánh mất mình, trở thànhbóng mờ, bản sao chép của người khác; hiện đại hóa truyền thống và truyềnthống hóa cái hiện đại, để sao cho hiện đại nhưng vẫn giử được truyền thống vàtrong cái truyền thống phải có nhân tố hiện đại
Trang 31Đặc trưng hoạt động của thiết chế văn hóa cơ sở mang tính tự nguyện, cóthời gian rảnh rỗi, mang tính hưởng thụ vừa mang tính sáng tạo và tính xã hộicao nhằm giải quyết chủ yếu là nhu cầu tinh thần của người dân.
Nguyên tắc hoạt động của thiết chế văn hóa cơ sở bảo đảm định hướng xãhội chủ nghĩa, bình đẳng, dân chủ, vì con người và tiến bộ xã hội; bảo đảm tínhkhoa học – tiên tiến, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người tham gia; có nộidung phương pháp hoạt động phù hợp, vừa tầm và được sự đồng thuận cao củacộng đồng xã hội
Mô hình hoạt động đảm bảo tính hợp lý, khoa học, toàn diện, hệ thống,thiết thực và hiệu quả; do đó, không thể có mô hình chung cho thiết chế văn hóa
ở cơ sở, việc xây dựng mô hình cần dựa vào các yếu tố về điều kiện kinh tế xãhội ở địa phương, văn hóa truyền thống, nhu cầu hoạt động, không gian sinhhoạt, chính sách phát triển văn hóa của địa phương Thực hiện mô hình phảitheo quy định chung của pháp luật và phải mang tính xã hội hóa cao dưới hìnhthức nhà nước và nhân dân cùng làm
1.3 Cơ sở lý luận về văn hóa, văn hóa thể chất
1.3.1 Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa
là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội.
Quan điểm coi văn hoá là nguồn lực để phát triển kinh tế- xã hội là quanđiểm khoa học, hiện đại và mang tính thực tiễn cao, nhất là trong thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa gắn với kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế hiện nay.Chúng ta phải đặc biệt chú trọng nâng cao tầm nhìn, tầm văn hoá trong các chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở tất cả các lĩnh vực khác nhau Hiểubiết sâu sắc thời đại và dân tộc là điểm xuất phát quan trọng để chúng ta đề rađược chủ trương và hành động đúng
Trang 321.3.2 Nền văn hoá mà chúng ta đang xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nền văn hoá yêu nước vàtiến bộ mà nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên
cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đây là nền văn hoá mangtính dân chủ và nhân văn sâu sắc, tham gia tích cực vào sự nghiệp đổi mới vìmục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Bản sắcvăn hóa dân tộc không phải nhất thành bất biến mà nó mang tính lịch sử - cụ thể,luôn luôn tự đổi mới trên cơ sở loại bỏ những yếu tố tiêu cực và lạc hậu, sángtạo và xây dựng các giá trị văn hóa mới thích ứng với yêu cầu biến đổi của thờiđại Vì vậy, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc phải gắn liền với mở rộng giao lưuquốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộckhác Giữ gìn bản sắc phải đi liền với việc chống lạc hậu, lỗi thời trong phongtục tập quán, lề thói cũ
1.3.3 Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Quan điểm chỉ đạo này xác định tính thống nhất và đa dạng của nền vănhóa Hiện nay, hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị văn hóamang các sắc thái khác nhau Các giá trị và các sắc thái văn hóa đó bổ sung chonhau, làm phong phú cho nền văn hóa Việt Nam Mặt khác, các thành tựu vănhóa của các dân tộc anh em góp phần củng cố sự thống nhất dân tộc- cơ sở đểgiữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hóa của các dân tộc anh em
Sự thống nhất của nền văn hóa phải được thể hiện ở sự thống nhất về hệ tưtưởng chính trị, thống nhất về thể chế và thiết chế văn hóa Đồng thời, phải pháthuy tính đa dạng, cùng hợp tác và hỗ trợ nhau phát triển, chống các âm mưu lợidụng sự khác biệt văn hóa để gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc
Trang 331.3.4 Văn hoá là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâu dài.
Trong quan điểm này, Đảng ta tiếp tục khẳng định tư tưởng nổi bật của
Hồ Chí Minh: văn hóa là một mặt trận, đồng thời, nhấn mạnh tới đặc thù củaquá trình xây dựng và phát triển văn hóa so với các lĩnh vực khác Mặt trận vănhóa là nơi sự đoàn kết, thống nhất các lực lượng làm văn hóa và đoàn kết toàndân hướng vào thực hiện những mục tiêu và nhiệm vụ nhất định Đồng thời mặttrận cũng là nơi chiến đấu chống cái ác, cái xấu, cái giả để khẳng định và xâydựng cái đúng, cái tốt, cái đẹp, bảo vệ đời sống tinh thần lành mạnh của nhândân Đây là một quá trình cách mạng đầy khó khăn, phức tạp, đòi hỏi nhiều thờigian, tránh chủ quan, nóng vội Đồng thời cần phải kiên trì đấu tranh bài trừ các
hủ tục, các thói hư tật xấu, nâng cao tính chiến đấu, chống mọi mưu toan lợidụng văn hóa để thực hiện “diễn biến hòa bình”
1.3.5 Thể dục thể thao với chính trị, kinh tế và văn hóa
cụ thể để thực hiện sự điểu khiển Thể dục, Thể thao theo yêu cầu của giai cấp
thống trị Thể chế chính trị quy định thể chế Thể dục, Thể thao: Thể chế Thể
Trang 34dục, Thể thao là một bộ phận của thể chế chính trị, cũng có thể nói là hình ảnhthu nhỏ của chính trị Thể chế chính trị khác nhau sẽ hình thành thể chế Thể dục,Thể thao với các loại hình khác nhau Thể chế chính trị chủ nghĩa tư bản có đặctrưng của nền kinh tế thị trường TBCN, sẽ hình thành thể chế Thể dục, Thể thaotrên cơ sở tư nhân hoá là chính Ở các nước XHCN, Thể dục, Thể thao là một bộphận của sự nghiệp Nhà nước, là một bộ phận của kế hoạch Nhà nước, có thểchế công lập là chính, đồng thời khuyến khích hình thành thể chế bán công, dân
lập, tư nhân, khuyến khích tổ chức phát triển xã hội hoá Thể dục, Thể thao Ý thức tư tưởng chính trị ràng buộc quan niệm giá trị của TDTT: Phương Đông đề
cao chủ nghĩa tập thể, Phương Tây đề cao chủ nghĩa cá nhân, và cùng đề caochủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc Với các hình thức khác nhau, ý thức tưtưởng chính trị đều biểu hiện trong phong trào Thể dục, Thể thao Trong thời kỳđối lập giữa các giai cấp, ý thức chính trị tư tưởng khác nhau biểu hiện về quan
niệm giá trị trong Thể dục, Thể thao cũng khác nhau dễ phát sinh xung đột Thể dục, Thể thao có tác động mạnh đối với chính trị cả về hai mặt tích cực và tiêu cực: Tác dụng tích cực làm phấn chấn tinh thần dân tộc, tiến hành giáo dục chủ
nghĩa yêu nước Nâng cao địa vị quốc gia, thể hiện tính ưu việt của chế độ Nhànước.Thúc đẩy sự thống nhất chính trị trong nước và sự đoàn kết các dân tộc,tạo ra môi trường xã hội ổn định, có lợi cho sự vận hành tốt đẹp của xã hội.Đồng thời, phục vụ cho chính sách ngoại giao của Nhà nước, tạo dựng cầu nối
và biện pháp ngoại giao thông thoáng đặc biệt có lợi cho đất nước và dân tộc
Tình hình chính trị trong nước được ổn định sẽ là cơ sở, nền tảng vữngchắc để phát triển hoạt động TDTT, mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế, nâng cao
vị thế của quốc gia, dân tộc trên đấu trường quốc tế Kinh tế phát triển sẽ làđộng lực thúc đẩy phong trào thể thao quần chúng, công tác TDTT trường học,thể thao lực lượng vũ trang, công tác tuyển chọn, đào tạo VĐV thể thao thànhtích cao, phát triển công nghệ thông tin và truyền thông - ứng dụng khoa học
Trang 35công nghệ, tăng ngân sách tài chính đầu tư cơ sở vật chất đưa thể dục thể thaophát triển mạnh theo xu hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
1.3.5.2 Thể dục Thể thao với Kinh tế
Sự thay đổi sức sản xuất dẫn tới sự thay đổi phương thức sản xuất và thay đổi cấu trúc lao động.Do tiêu chí của sức sản xuất phản ánh ở công cụ sản xuất,
vì vậy công cụ sản xuất của một thời kỳ nhất định, phải đáp ứng được yêu cầuphát triển tương ứng sức lao động với nhân khẩu Nói cách khác, công cụ sảnxuất càng tiến bộ thì chuẩn mực tố chất thể lực của người lao động càng cao.Sức sản xuất càng phát triển, tỷ lệ những người lao động trí óc càng lớn trongtổng nhân khẩu của sức sản xuất, tuổi thọ càng cao Trong những năm đầu củathế kỷ 21, nền kinh tế của thế giới chuyển sang giai đoạn kinh tế tri thức, ứngdụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật hiện đại (quy trình công nghệ) cuộcchạy đua để phát triển nhanh, mạnh và bền vững giữa các quốc gia trong giaiđoạn hiện nay thực chất cuộc chạy đua là kinh tế, giáo dục và an ninh quốcphòng Do vậy, sự cạnh tranh về tài nguyên thiên nhiên, đào tạo nguồn nhân lực,phát triển kinh tế bền vững, chắc chắn cũng sẽ diễn ra với mức độ ngày càng gaygắt và quyết liệt, thuận lợi, thời cơ nhưng cũng nhiều thách thức Cùng với sựphát triển đó thì cấu trúc lao động trí óc và lao động chân tay cũng thay đổi Laođộng trí óc không ngừng tăng lên còn lao động chân tay giảm xuống dần ViệtNam nói chung, tỉnh Vĩnh Long nói riêng cũng không nằm ngoài quy luật nầy
Sự biến đổi nhân khẩu của sức lao động sẽ dẫn tới sự biến đổi về phương thứcsinh hoạt, từ đó ảnh hưởng to lớn tới sức khoẻ mọi người, làm cho Thể dục, Thểthao càng trở nên quan trọng Đi đôi với sự phát triển của sức sản xuất xã hội,dần dần chuyển hoá từ lao động thể lực ở trạng thái vận động sang lao động trí
óc ở trạng thái tĩnh tại Cũng vì thế làm cho người lao động xuất hiện hiện tượng
“đói vận động” điển hình của người lao động trí óc…
Trình độ phát triển của kinh tế với phong trào thể dục thể thao: Trình độ
sản xuất vật chất của xã hội trên cơ bản quyết định quy mô và tốc độ phát triển
Trang 36của Thể dục, Thể thao, cấu trúc sự nghiệp Thể dục, Thể thao Kinh tế trực tiếpràng buộc trình độ phát triển của thể dục, thể thao trong trường học, quy môphát triển Thể dục, Thể thao cho mọi người và ràng buộc trình độ của thể thaothành tích cao Một quốc gia có tổng giá trị thu nhập quốc dân (GDP) bình quânthu nhập trên đầu người và các chỉ tiêu cơ bản khác lớn là tiền đề của sự pháttriển Thể dục Thể thao Nhân tố tác động phát triển trực tiếp bao gồm: 1 Thểchế quản lý huấn luyện thể thao; 2 Đầu tư vật chất cho huấn luyện thể thao; 3.
Số lượng và chất lượng các môn thi đấu thể thao; 4 Trình độ huấn luyện và ứngdụng khoa học; 5 Quy mô của hệ thống hỗ trợ xã hội đối với công tác đào tạonhân tài Thể dục, Thể thao và lực lượng hậu bị; nhân tố gián tiếp gồm : 1 Trình
độ văn hoá giáo dục của xã hội; 2 Trạng thái thể chất của dân tộc; 3 Điều kiệnThể dục Thể thao, Y học, vệ sinh học và các yếu tố truyền thống di truyền củacộng đồng cư dân vv…
Tác dụng của Thể dục, Thể thao với phát triển kinh tế ngày càng đượcmọi người coi trọng Tác dụng này chủ yếu phản ánh ở việc nâng cao tố chất thểlực của người lao động, phát triển kinh tế thể thao ở các nước đã góp phần tăngtổng giá trị thu nhập quốc dân
1.3.5.3 Thể dục, Thể thao với Văn hoá
Văn hoá là cấu trúc quan trọng cấu thành xã hội Văn hoá và Xã hội là hai
hệ thống độc lập, nhưng giữa chúng lại tồn tại một mối quan hệ mật thiết Tinhthần văn hoá dân tộc gây ảnh hưởng và ràng buộc sự phát triển xã hội, còn chế
độ xã hội, quan hệ xã hội, sự biến động xã hội.vv… lại không ngừng cấu tạo nêntinh thần văn hoá dân tộc, sáng tạo nên văn hoá mới Thể dục Thể thao là một bộphận hợp thành quan trọng của văn hoá xã hội
Với xu thế toàn cầu hóa, quá trình phát triển các lĩnh vực thể thao đòi hỏiphải phát triển cân đối đồng bộ và hài hòa với các yếu tố về truyền thống vănhóa dân tộc, phát triển mạnh các môn thể thao đi đôi với việc bảo tồn các giá trịvăn hóa đặc trưng của dân tộc Sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước
Trang 37trong thời kỳ đổi mới đòi hỏi phải phát triển đồng bộ cả ba lĩnh vực này và mỗilĩnh vực đều có quan hệ hữu cơ với các lĩnh vực khác, tạo nên sự hợp lực bềnvững của phát triển, trong đó văn hóa là nền tảng tinh thần cho sự phát triển kinh
tế và là cơ sở của công tác xây dựng Đảng, củng cố hệ thống chính trị Khẳngđịnh tư tưởng quan trọng này trong đường lối văn hóa của Đảng, chúng ta cần
phải phê phán quan điểm “duy kinh tế” hoặc “duy chính trị” hoặc “duy văn hóa” trong phát triển Mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế, chính trị và văn hóa ngày càng chiếm vị trí đặc biệt trong đường lối xây dựng và phát triển đất nước, thể hiện tầm nhìn sáng suốt của Đảng về quá trình phát triển bền vững của
đất nước
Tóm lại,Trên cơ sở kế thừa các quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa
trong thời kỳ đổi mới vừa qua, Đại hội XI của Đảng đã nhấn mạnh một số chủtrương cần thực hiện là: Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, vừaphát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhânloại, xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa để văn hóa thực sự là nềntảng tinh thần của xã hội, là một động lực phát triển kinh tế - xã hội và hội nhậpquốc tế
1.3.6 Chuẩn mực, tiêu chí, đặc thù, tiêu chí đặc thù
Khi nói đến việc đạt được một chuẩn mực, người ta thường
ám chỉ đếnchất lượng mà người ta mong muốn Vì vậy, chấtlượng và chuẩn mực thường đi đôi với nhau Trong đánh giá,chuẩn mực được hiểu là nguyên tắc đã được thống nhấtgiữanhững người trong cùng một lĩnh vực đánh giá để đo lườnggiá trị hoặc chất luợng Trong kiểm định, chuẩn mực được hiểu
là mức độ yêu cầu nhấtđịnh cần phải đáp ứng để được cơ quanhoặc kiểm định công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định
Trang 381.3.6.2 Tiêu chí
Trong khi đó, tiêu chí lại được định nghĩa thông qua chuẩnmực Tiêu chí là chuẩn mực để kiểm định hoặc xác nhận mộtđơn vị, chương trình đạt tiêu chuẩn kiểm định Như vậy, chuẩnmực và tiêu chí như những từ đồng nghĩa Tiêu chí còn đượcxem như những điểm kiểm soát và là chuẩn để đánh giá chấtlượng.Trong thực tế chưa có sự khác biệt rõ ràng giữa chuẩnmực và tiêu chí, đôi khi tiêu chí được sử dụng như những yêucầu cụ thể so với chuẩn mực Vì vậy, nhiều người quan niệmrằng tiêu chí nằm trong chuẩn mực hay mỗi chuẩn mực có mộthay nhiều tiêu chí
Trong tiếng Việt, thuật ngữ standard thường được dùng làchuẩn mực, nhưng trong từ điển Anh – Việt thì standard là 1.Tiêu chuẩn, chuẩn, mẫu; 2.Mức độ phẩm chất đòi hỏi, mức độphẩm chất mong đợi, mức độ phẩm chất được chấp nhận; 3.Trình độ, mức; 4 Mức độ trung bình; 5 Mức cụ thể của chuyênmôn…
Trong các văn bản qui phạm pháp luật, thuật ngữ “tiêuchuẩn”được dùng thay cho các thuật ngữ “chuẩn mực” Vì vậy,tác giả cho rằng, chúng ta có thể dùng thuật ngữ “chuẩn mực”nhưng trong các văn bản qui phạm pháp luật nên dùng thuậtngữ “tiêu chuẩn”
Tiêu chí là các tiêu chuẩn dùng để kiểm định hay để đánh giá một đối
tượng, mà bao gồm các yêu cầu về chất lượng, mức độ, hiệu quả, khả năng, tuânthủ các qui tắc và qui định, kết quả cuối cùng và tính bền vững của kết quả đó
Trang 39- Đặc thù, theo từ điển Tiếng Việt là danh từ chỉ nét riêng
biệt làm cho sự vật nầy khác với sự vật cùng loại khác
- Tiêu chí đặc thù là tiêu chuẩn về chất lượng, mức độ, hiệu quả,
khả năng, tuân thủ các qui tắc và qui địnhcó tính riêng biệt dùng đểkiểm định hay để đánh giá sự khác nhau của đối tượng, sự vậtcùng một điều kiện, hoạt động
1.3.7 Tiêu chuẩn đánh giá hoạt động văn hóa thể chất và thiết chế văn hóa, thể thao
1.3.7.1 Tiêu chuẩn đánh giá phong trào thể dục thể thao quần chúng
Thông tư số 08/2012/TT-BVHTTDL, ngày10 tháng 9 năm 2012 Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch ban hành quy định nội dung đánh giá phát triển thểdục, thể thao; quy định về tiêu chuẩn đánh giá hoạt động thể dục thể thao quầnchúng cụ thể như sau:
- Người luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên là người mỗi tuần ít
nhất có 3 lần tập, mỗi lần tập luyện ít nhất 30 phút, với thời gian tối thiểu 9tháng/01 năm
- Gia đình luyện tập thể dục, thể thao là gia đình có ít nhất 50% số thành
viên trong gia đình là người luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên
- Trường học tổ chức tốt hoạt động thể thao ngoại khóa trong năm học là
trường có câu lạc bộ thể dục, thể thao cơ sở hoạt động thường xuyên, có độituyển thể thao của trường, đồng thời có tổ chức các hoạt động thể dục, thể thaocho cán bộ, giáo viên, học sinh và Hội khỏe Phù Đổng.”
- Đánh giá thể dục, thể thao quần chúng gồm các tiêu chuẩn: Tổng số
người luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên; tính tỷ lệ % với tổng số dân trênđịa bàn; tổng số gia đình luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên; tính tỷ lệ %
Trang 40với tổng số gia đình trên địa bàn Điều kiện đảm bảo: Tổ chức, cán bộ, cộng tácviên, cơ sở vật chất, sân bãi và kinh phí
1.3.7.2 Tiêu chuẩn thiết chế Trung tâm văn hóa – Thể thao xã
Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL, ngày 22 tháng 12 năm 2010 BộVăn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành quy định mẫu về tổ chức, hoạt động vàtiêu chí của Trung tâm Văn hóa – Thể thao xã (Phụ lục 3)
1.3.7.3 Tiêu chuẩn thiết chế Nhà văn hóa – Khu thể thao ấp
Thông tư số 06/2011/TT-BVHTTDL, ngày 08 tháng 3 năm 2011 Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch ban hành quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêuchí của Nhà văn hóa – Khu thể thao thôn (Phụ lục 4)
1.3.7.4 Tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục xét và công nhận Xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới
Thông tư số 17/2011/TT-BVHTTDL, ngày 12/02/2011 của Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục xét và công nhận “Xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới” (Phụ lục 5)
Đây là bộ tiêu chí đánh giá hoạt động văn hóa thể chất và xây dựng thiếtchế văn hóa thể thao tại 22 xã điểm nông thôn mới tỉnh Vĩnh Long đến năm2015
1.4 Quan điểm chỉ đạo của Tỉnh Ủy Vĩnh Long về phát triển Văn hóa thể chất ở cơ sở tỉnh Vĩnh Long thực hiện xây dựng nông thôn mới.
1.4.1 Đại hội đại biểu lần thứ IX Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long
Đại hội đại biểu tỉnh đảng bộ Vĩnh Long lần thứ IX đã tán thành nhữngnội dung cơ bản về đánh giá tình hình 5 năm 2005- 2010 Và chỉ rõ phương
hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm tới giai đoạn 2010 – 2015 là:“…Đẩy mạnh các hoạt động văn hóa nghệ thuật Xây dựng và tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao ở cơ sở Chú trọng công tác trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa Đẩy mạnh phong trào toàn dân rèn luyện sức khỏe, chú trọng phát triển các môn thể thao thành tích cao”.[17 ]