Bất kỳ một hình thái kinh tế nào, việc phát triển nền kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi thúc đẩy xã hội đó đi lên cũng như đảm bảo cho chế độ đó tồn tại là phát triển do vậy mục tiêu phát triển nền kinh tế là rất quan trọng (6/1986). Trong văn kiện Đại hội Đảng VI (6/1986) đã đề ra: "Giai đoạn này là giai đoạn phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN" và hàng loạt các văn bản pháp luật đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế đã được Nhà nước ta ban hành, trong đó có pháp luật HĐKT được Hội đồng Nhà nước ban hành (nay là UBTVQH) thông qua ngày 25/9/1989. Có hiệu lực từ ngày 19/9/1989. Có thể nói với tư cách là kiến trúc thượng tầng, pháp lệnh HĐKT năm 1989 đã có những đóng góp tích cực trong công cuộc xoá bỏ cơ chế kinh tế cũ thiết lập cơ chế kinh tế mới, là sự phát triển chung của nền kinh tế nước ta. Cho đến nay chúng ta đã đi qua một chặng đường phát triển hơn mười năm và đã có nhiều thay đổi trong nền kinh tế và hệ thống pháp luật. Mặt khác, các quan hệ kinh tế đang ngày càng trở nên đa dạng hoá và phức tạp khiến cho nhiều quy định pháp lệnh HĐKT và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành trở nên không còn phù hợp. Bên cạnh đó sự ra đời của nhiều văn bản pháp luật quan trọng đã xuất hiện nhiều điểm không thống nhất với nhau như Bộ Luật dân sự và Luật Thương mại. Nó làm giảm hiệu quả việc điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội và còn một số vấn đề mâu thuẫn trong HĐKT. Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống pháp luật nói chung mà trước hết là hệ thống pháp luật về kinh tế nói riêng có vai trò tạo ra khuôn khổ pháp lý nhất định và là hành lang cho các chủ thể kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh. Đồng thời pháp luật là công cụ để quản lý nền kinh tế.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Bất kỳ một hình thái kinh tế nào, việc phát triển nền kinh tế là một trongnhững vấn đề cốt lõi thúc đẩy xã hội đó đi lên cũng như đảm bảo cho chế độ đótồn tại là phát triển do vậy mục tiêu phát triển nền kinh tế là rất quan trọng(6/1986)
Trong văn kiện Đại hội Đảng VI (6/1986) đã đề ra: "Giai đoạn này là giaiđoạn phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thịtrường, có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN" và hàng loạt cácvăn bản pháp luật đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế đã được Nhà nước ta banhành, trong đó có pháp luật HĐKT được Hội đồng Nhà nước ban hành (nay làUBTVQH) thông qua ngày 25/9/1989 Có hiệu lực từ ngày 19/9/1989 Có thểnói với tư cách là kiến trúc thượng tầng, pháp lệnh HĐKT năm 1989 đã cónhững đóng góp tích cực trong công cuộc xoá bỏ cơ chế kinh tế cũ thiết lập cơchế kinh tế mới, là sự phát triển chung của nền kinh tế nước ta Cho đến naychúng ta đã đi qua một chặng đường phát triển hơn mười năm và đã có nhiềuthay đổi trong nền kinh tế và hệ thống pháp luật Mặt khác, các quan hệ kinh tếđang ngày càng trở nên đa dạng hoá và phức tạp khiến cho nhiều quy định pháplệnh HĐKT và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành trở nên không còn phùhợp Bên cạnh đó sự ra đời của nhiều văn bản pháp luật quan trọng đã xuất hiệnnhiều điểm không thống nhất với nhau như Bộ Luật dân sự và Luật Thương mại
Nó làm giảm hiệu quả việc điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội
và còn một số vấn đề mâu thuẫn trong HĐKT
Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống pháp luật nói chung mà trước hết là
hệ thống pháp luật về kinh tế nói riêng có vai trò tạo ra khuôn khổ pháp lý nhấtđịnh và là hành lang cho các chủ thể kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh.Đồng thời pháp luật là công cụ để quản lý nền kinh tế
Trang 2Với công cuộc đổi mới nền kinh tế như hiện nay cũng như đổi mới pháp
luật về HĐKT em đã chọn đề tài: "Hợp đồng kinh tế trong điều kiện cơ chế quản lý kinh tế hiện nay".
Bằng phương pháp luận CNXHKH, phương pháp duy vật biện chứng, duyvật lịch sử cùng với một số phương pháp nghiên cứu so sánh phân tích, sẽ cốgắng chỉ ra những quan điểm bất cập trong pháp luật HĐKT hiện hành và một
số kiến nghị đối với việc sửa đổi pháp luật về HĐKT
Trên cơ sở đó bản báo cáo này tập trung vào những vấn đề sau:
- Khái quát pháp luật về HĐKT;
- Yêu cầu đổi mới pháp luật về HĐKT;
- Đổi mới pháp luật về HĐKT
Tuy nhiên đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng đây làmột đề tài khó, đòi hỏi người nghiên cứu phải có trình độ hiểu biết rộng về mọilĩnh vực liên quan đến HĐKT Với trình độ còn hạn hẹp của một sinh viên, chắcchắn bản báo cáo này sẽ còn nhiều thiết sót, Vì vậy rất mong các thầy cô giáo
và các bạn sẽ bổ sung thêm ý kiến cùng tôi để hoàn thiện nội dung đề tài này
Trang 3Chương I KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG KINH TẾ
I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG KINH TẾ Ở NƯỚC TA
Pháp luật về HĐKT nói riêng hay hợp đồng nói chung không phải đươngnhiên mà có, mà nó phải trải qua một quá trình phát triển lâu dài của quan hệkinh tế Ban đầu, hợp đồng biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người giữhàng hoá tồn tại một cách khách quan, sau đó mối quan hệ kinh tế đó trở thànhmột quan hệ pháp luật khi được pháp luật tác động vào Do đó để tìm hiểu sự rađời của HĐKT cần tìm hiểu sự ra đời của hợp đồng nói chung (hay chính là Hợpđồng dân sự)
Hợp đồng không xuất hiện ngay từ khi có con người, mà phần lớn quanhững bước phát triển nhất định thì mới có đủ điều kiện cho sự ra đời của Hợpđồng
Mác nói: "Tự chúng hàng hoá không thể đi tới thị trường và trao đổi với nhau được Vậy chúng ta phải quay sang phía những người sử dụng hàng hoá, hàng hoá là những đồ vật cho nên đứng trước con người chúng không có cách
gì để chối lại được Nếu hàng hoá không muốn đi thì người ta có thể dùng tới sức mạnh tức là nắm lấy nó Muốn cho những vật đó quan hệ với nhau nhưng những hàng hoá phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó như thế nào để người này phải do ý chí của người kia tức là mỗi người trong 2 người đều phải nhờ vào một hành động tự nguyện chung đối với cả hai bên mới có thể chiếm hữu hàng hoá của người khác - cách nhượng lại hàng hoá của mình" Ý chí của những người giữ hàng hoá ở đây là tự nguyện, từ đó có
Trang 4nguyên tắc tự do khế ước, nghĩa là nếu không có tự cho ý chí thì không có hợpđồng.
Là một loại Hợp đồng chuyên biệt, HĐKT có nguồn gốc từ hợp đồng dân
sự, HĐKT chỉ xuất hiện trong chủ nghĩa xã hội khi có những điều kiện nhấtđịnh
Thứ nhất: Có sự trao đổi hàng hoá trên cơ sở sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Thứ hai: Có một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung.
Hai điều kiện này không còn đơn thuần mang tính dân sự và chúng đượcđiều chỉnh bằng một ngành luật mới đó là ngành luật kinh tế
Hợp đồng kinh tế ra đời sớm nhất ở Liên Xô, sau đó lan ra các nước XHCNkhác Ở nước ta HĐKT ra đời cùng với việc bắt đầu kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
1960 - 1965 xây dựng CNXH Có thể nói với tư cách là thượng tầng kiến trúc,pháp luật về HĐKT của nước ta đã luôn gắn liền và phản ánh được bước pháttriển khác nhau của nền kinh tế
Trong quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về HĐKT ở nước ta
có thể được chia làm hai thời kỳ Thời kỳ kế hoạch hoá tập trung và thời kỳ đổimới kinh tế
1 Thời kỳ kế hoạch hoá tập trung
Thời kỳ này kéo dài từ năm 1954 đến năm 1989 là thời kỳ đánh dấu cácbước phát triển của pháp luật về HĐKT đặc biệt là 3 văn bản sau:
- Điều lệ tạm thời về Hợp đồng kinh doanh ban hành kèm theo NĐ735/TTg (10/4/1957);
Trang 5- Điều lệ tạm thời về chế độ HĐKT ban hành kèm theo NĐ04/TTg(4/1/1960);
- Điều lệ về chế độ HĐKT ban hành kèm theo Nghị định 54/CP(10/3/1975)
Ở nước ta có thể nói: Bản pháp luật đầu tiên đề cập đến HĐKT đó là sắclệnh 97 - Sắc lệnh ngày 22/05/1950 của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoàban hành sửa đổi về dân sự xoá bỏ tuyệt đối hoá quyền dân sự tư nhân Điều 12
sắc lệnh này quy định "Khi lập khế ước mà có sự tổn thất do bóc lột của một bên vì điều kiện kinh tế của hai bên chênh lệch thì khế ước có thể coi là vô luận".
Bằng quy định này của Sắc lệnh, Nhà nước ta đã thừa nhận việc ký kết hợp đồngnói chung, trong đó có các Hợp đồng trong lĩnh vực kinh tế nói riêng, giữa tưnhân với nhau càng cần phải có sự can thiệp của Nhà nước
Vào cuối năm 1950 nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nhiều thànhphần Kinh tế quốc doanh tuy giữ vai trò chủ đạo nhưng chưa lớn mạnh kinh tếtập thể còn yếu Kinh tế tư bản còn ở trình độ thấp, kinh tế công - nông nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp còn rất rộng lớn Kinh tế tư bản và tư doanh vẫn còn tồntại để điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp thuộc các thànhphần kinh tế khác nhau Chính phủ đã ban hành điều lệ tạm thời về HĐKT kinhdoanh số 735 TTg 10/4/1957 Theo điều lệ này, HĐKT được ký kết nhằm mụcđích phát triển kinh doanh công thông nghiệp góp phần thực hiện kế hoạch Nhànước trên nguyên tắc tự nguyện hai bên cùng có lợi và có lợi cho kinh tế pháttriển quốc dân Như vậy, mặc dù tự do cá nhân trong giao kết hợp đồng được tôntrọng song nhưng vẫn luôn đề cao vai trò quản lý của mình, điều này được thể
hiện rõ trong quy định về đăng ký hợp đồng "Hợp đồng kinh doanh nếu ký kết giữa 2 đơn vị kinh tế Nhà nước với nhau thì hợp đồng phải được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền" cơ quan công thương tỉnh hoặc cơ quan hành
chính huyện
Trang 6Có thể nói điều lệ tạm thời về HĐKD là văn bản được đặt nền móng cho sự
ra đời của chế độ HĐKT Trong chừng mực nhất định việc ban hành văn bảnnày đã góp phần huy động khả năng của mọi thành phần kinh tế vào công cuộcphát triển kinh tế đất nước theo hướng thống nhất cũ tạo quan hệ sản xuất cũ,từng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới
Đến Hiến pháp năm 1959 đã xác định mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hộicủa nước ta Đại hội lần thứ 3 của Đảng cũng thông qua kế hoạch 5 năm lần thứnhất 1960 - 1965 để xây dựng công nghiệp hoá Bắt đầu công cuộc cải tạo cácthành phần kinh tế TBTN đã cơ bản hoàn thành kinh tế cá thể trong Nhà nước
đã chuyển hoá dần thành kinh tế tập thể thông qua phong trào hệ thống hoá Nhànước, nền kinh tế chỉ còn lại 2 thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh
và kinh tế tập thể
Các tiền đề cho sự ra đời của HĐKT đã có, hơn nữa Điều lệ tạm thời vềHĐKD với nguyên tắc ký kết hợp đồng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện đókhông còn phù hợp nữa Trong bối cảnh đó Thủ tướng Chính phủ đã ban hànhđiều lệ tạm thời về chế độ HĐKT kèm theo Nghị định 04 TTg ngày 4/1/1960.Theo điều lệ này: HĐKT có 2 đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất: HĐKT được xây dựng trên cơ sở kế hoạch Nhà nước, nhằm thực
hiện chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước
Thứ hai: Chủ thể của HĐKT bị hạn chế chỉ trong phạm vi các tổ chức kinh
tế quốc doanh và các cơ quan Nhà nước, trong đó đại diện các cơ quan Nhànước được ký hợp đồng dài hạn mang tính nguyên tắc đại diện tổ chức kinh tếquốc doanh ký HĐKT ngắn hạn cụ thể Điều này thể hiện một cơ chế quản lýchủ yếu theo chiến lệnh chỉ huy trém xuống, báo cáo dưới lên, lãi nộp Ngânsách, lỗ xin trên
Trang 7Việc xử lý vi phạm hợp đồng và các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụkhông được đề cập đến.
Lần đầu tiên khái niệm hợp đồng kinh tế được sử dụng trong bản điều lệnày có thể coi là thời điểm ra đời của HĐKT ở nước ta Mặc dù có tên gọi điều
lệ tạm thời, nhưng bản điều lệ này cũng đã được sử dụng trong 15 năm từ 1960
-1975 trong suốt thời gian đó chúng ta ở trong điều kiện chiến tranh không tậptrung vào việc xây dựng và hệ thống hoá pháp luật
Điều lệ về chế độ HĐKT ban hành kèm theo Nghị định 54/CP - 10/3/1975)
Ở giai đoạn này HĐKT đã trở thành công cụ pháp lý chủ yếu của Nhà nước
để quản lý nền kinh tế
HĐKT theo điều lệ này có 2 đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất: Việc ký kết Hợp đồng đã bắt buộc, là kỷ luật của Nhà nước Tính
bắt buộc này do tính pháp lệnh của kế hoạch Nhà nước quy định việc thay đổichỉ tiêu kế hoạch Nhà nước Vì vậy, các vi phạm HĐKT đều bị xử lý hết sứcnghiêm khắc
Thứ hai: Về thẩm quyền xử lý tranh chấp HĐKT, bản điều lệ này đã giao
cho hai cơ quan: Đó là cơ quan quản lý cấp trên của các đơn vị kinh tế là cơquan trọng tài kinh tế
Từ các đặc điểm trên ta có thể thấy HĐKT trong giai đoạn này mang tính
kế hoạch, hành chính, tập trung bao cấp rõ nét
2 Thời kỳ đổi mới kinh tế
Pháp lệnh về HĐKT do Hội đồng Nhà nước (nay là UBTVQH) thông quangày 25/9/1989 của Hiệu lực 29/9/1989
Trang 8Pháp lệnh về HĐKT ra đời trong bối cảnh đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
do Đại hội Đảng lần thứ VI đề ra Xây dựng một nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần theo định hướng XHCN
Pháp lệnh HĐKT điều chỉnh các quan hệ HĐKT được thiết lập giữa cácđơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế Theo pháp lệnh này, HĐKT được
ký kết nhằm mục đích kinh doanh và được xây dựng trên cơ sở sự thống nhất ýtrí giữa các bên Như vậy, về nguyên tắc, việc ký kết HĐKT trong thời kỳ nàykhông phải theo chỉ tiêu pháp lệnh, việc ký kết và thực hiện HĐKT theo chỉ tiêupháp lệnh tuân theo những quy định riêng Các chủ thể của HĐKT cũng được
mở rộng và các chế tài ít khắt khe hơn, nội dung của pháp lệnh này sẽ đượcnghiên cứu ở các phần sau
II KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG KINH TẾ
1 Khái niệm
Hiện nay, trong khoa học pháp lý khái niệm hợp đồng được hiểu theo hainghĩa chủ quan và khách quan
a Theo nghĩa khách quan (hay còn gọi là nghĩa rộng)
HĐKT là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ HĐKTgiữa các đơn vị kinh tế (còn gọi là chế độ pháp lý về HĐKT)
Trong đó quy định các nguyên tắc ký kết HĐKT, điều kiện chủ thể củaHĐKT, thủ tục trình tự ký kết HĐKT, các điều kiện và giải pháp hậu quả củaviệc thay đổi, huỷ bỏ, đình chỉ HĐKT, trách nhiệm vi phạm HĐKT
Như vậy, theo nghĩa khả quan này thì pháp luật nói chung là chế độ phápluật về HĐKT nói riêng luôn luôn phải có những thay đổi theo kịp và phù hợp
Trang 9với sự phát triển của quan hệ kinh tế hay chính xác hơn cũng phù hợp với sựphát triển của lực lượng sản xuất,
b Theo nghĩa chủ quan (hay gọi là nghĩa hẹp)
Điều 1: Pháp lệnh HĐKT ban hành ngày 25/9/1989 quy định:
"HĐKT là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất - trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng
và thực hiện kế hoạch của mình".
Như vậy theo nghĩa này thực chất HĐKT là quan hệ kinh tế giữa các chủthể ký kết, đó là mối quan hệ ý chí được xác lập một cách tự nguyện, bình đẳngthông qua các hình thức bằng văn bản trong tài liệu giao dịch giữa các bên nhưcông văn, đơn chào hàng, đơn đặt hàng, giấy chấp nhận Đây là một điểm khácvới hợp đồng dân sự Theo quy định tại điểm 400 BLDS (có hiệu lực từ ngày01/07/1996) thì hình thức của hợp đồng dân sự rất rộng, có thể giao kết bằng lờinói, bằng văn bản, bằng những hành vi cụ thể Khi pháp luật không quy địnhđối với các loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định
Vậy tài sản lại có sự khác nhau này? Như chúng ta đã biết nếu bất kỳ mộtloại hợp đồng nào khi được ký kết bằng văn bản nó đều có thể là căn cứ vào cácbên thực hiện hợp đồng và là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểmtra tư cách pháp nhân khi ký kết hợp đồng của các bên, đồng thời cũng là căn cứ
để cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp nếu có Mặt khác, đối với HĐKTthường có giá trị lớn và thậm chí rất lớn, cho nên, để tránh tình trạng các chủ thểlợi dụng việc ký kết để chiếm đoạt cho bản thân nên chúng ta phải quy địnhHĐKT được ký kết bằng các văn bản Hơn nữa, một HĐKT thường tương đốidài về mặt thực tế mà nói nếu không được thực hiện bằng các loại hình văn bản
Trang 10thì các chủ thể cũng có thể sẽ quên mất một trong một số những chi tiết nhỏ haynhững điều khoản nếu có trong Hợp đồng, gây thiệt hại cho các bên gặp khókhăn do việc thực hiện Hợp đồng dẫn đến những tranh chấp đáng tiếc.
Trang 11Chương II YÊU CẦU ĐỔI MỚI PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG KINH TẾ
I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬA ĐỔI PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG KINH TẾ
Cùng với sự ra đời và phát triển kinh tế các quan hệ xã hội vốn đang trởnên ngày càng đa dạng và phức tạp, nhiều quy định của pháp luật về hợp đồngkinh tế đã tỏ ra lạc hậu, không còn phù hợp nữa Đây là quy luật tất yếu trongquá trình phát triển của xí nghiệp Đã đến lúc phải sửa đổi pháp luật về HĐKTcho phù hợp với giai cấp thực tế, tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế phát triểnthuận lợi và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế
Pháp luật là một trong những bộ phận cơ bản kiến trúc thượng tầng xã hội
nó luôn luôn phù hợp với cơ sở hạ tầng của nền kinh tế Nếu pháp luật phù hợpvới các điều kiện kinh tế nó sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển và ngược lại
Tuy nhiên, ngoài việc phải phù hợp với các điều kiện kinh tế - cơ sở hạtầng, pháp luật còn phải thống nhất trong nội tại bản thân nó Nói một cách đơngiản thì trong một chỉnh thể pháp luật, các văn bản pháp luật phải thống nhất vớinhau, không được mâu thuẫn hay chồng chéo với nhau Có như vậy pháp luậtmới phát huy được hiệu quả của nó mới có thể thi hành trên thực tế, nếu khôngpháp luật chỉ tồn tại trên giấy tờ mà không có giá trị thực tiễn nào
Qua đó chúng ta có thể xem xét những thay đổi cơ bản của các điều kiệnkinh tế, pháp luật, những tiền đề cho sự hình thành pháp luật về HĐKT so vớithời gian pháp luật về HĐKT trong cơ chế mới hình thành (1989 - 1990)
Trang 121 Điều kiện kinh tế
Từ khi xây dựng nền kinh tế thị trường đến nay chúng ta đã đi được mộtchặng đường hơn mười năm và có rất nhiều thay đổi về nền kinh tế, trong đó cónhững thay đổi căn bản và có ảnh hưởng trực tiếp đến pháp luật về HĐKT
Về lực lượng sản xuất đó có những bước phát triển mạnh mẽ, hàng hoá sảnxuất và ngày càng nhiều, nhịp độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bìnhquân hàng năm thời kỳ 1991 - 1995 đạt 8,2%, lạm phát giảm từ chỗ 67,1% năm
1991 xuống còn 12,7% năm 1995
Từ đó không đủ lương thực cho tiêu dùng trong nước đến nay chúng ta đã
có thể xuất khẩu khoảng 2 triệu tấn gạo mỗi năm đứng thứ 2 trên thế giới (sauThái Lan) việc công nghiệp hoá, hiện đại hoá mang lại nhiều kết quả to lớn vànhiều công trình quan trọng được xây dựng, tạo điều kiện phát triển cho nềnkinh tế
Về quan hệ sản xuất cũng đã được điều chỉnh phù hợp đã có những bướctiến dài trong việc thay đổi cơ chế quản lý những tồn tại của cơ chế kinh tế cũ đãđược xoá bỏ, được biểu hiện rõ sự thay đổi lớn trong cơ cấu thành phần kinh tế
Nền kinh tế thị trường đã được hình thành như thị trường hàng hoá, thịtrường sức lao động và một số thị trường khác cũng đang trong quá trình hìnhthành như thị trường bất động sản, thị trường vốn, v.v
Những chuyển biến này dẫn đến một hệ quả tất yếu là các quan hệ kinh tếđang ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, đòi hỏi pháp luật với tư cách làkiến trúc thượng tầng cần phải điều chỉnh cho phù hợp, tránh cản trở sự pháttriển của các quan hệ kinh tế, đồng thời đảm bảo cho các quan hệ kinh tế pháttriển lành mạnh theo định hướng của Nhà nước
Trang 132 Điều kiện pháp luật
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, pháp luật nước ta cũng đã có nhữngbước tiến lớn, rất nhiều văn bản pháp luật mới đã được hình thành trong đótrước tiên cần phải kể đến Hiến pháp 1992 được Quốc hội thông qua ngày14/4/1992
Có hiệu lực từ ngày 17/4/1992, Hiến pháp 1992 đã quy định những vấn đềhết sức cơ bản và quan trọng đối với công cuộc đổi mới kinh tế đất nước thểhiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về kinh tế thị trường thừa nhận sự tồntại của nhiều loại hình chủ thể đại diện cho các thành phần kinh tế khác nhau(kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản, tư nhân, kinh tế tư bản Nhànước (Điều 16) Hiến pháp Ngoài ra còn quy định tại các Điều 58, 57, 22 củaHiến pháp 1992)
Văn bản quan trọng thứ 2 phải kể đến BLDS được Quốc hội thông quangày 28/10/1995 có hiệu lực từ ngày 1/7/1996 Đây là Bộ luật đồ sộ nhất củanước ta từ trước đến nay Bao gồm 883 điều trong đó có nhiều quy định rõ nétđến Hợp đồng Như khái niệm hợp đồng dân sự các chủ thể của hợp đồng, trình
tự ký kết, các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ, Có thể nói đã là những quy định cógiá trị pháp lý cao, thể hiện một trình độ lập pháp đã phát triển hơn trước rấtnhiều pháp luật về HĐKT hoàn toàn có thể áp dụng hay tham khảo những quyđịnh này để xây dựng các quy định của mình
Luật thương mại được quốc hội thông qua ngày 10/5/1997 có hiệu lực từngày 1/1/1998 Đây là lần đầu tiên một đạo luật về thương mại được Nhà nước
ta ban hành, nó thể hiện quan tâm xây dựng một nền kinh tế thị trường có sựđiều tiết của Nhà nước, theo định hướng XHCN, Luật Thương mại đã quy địnhkhá chi tiết về hoạt động thương mại các hành vi thương mại Trong đó có Hợpđồng thương mại Mặc dù có nhiều tranh cãi xung quanh sự ra đời của Luật
Trang 14Thương mại nhưng có thể nói đây là những quy định cần thiết để điều chỉnh cácquan hệ thương mại, một loại quan hệ đặc thù và rất phát triển trong nền kinh tếthị trường.
Ngoài ra còn kể đến các đạo luật và các văn bản hướng dẫn trong hệ thốngpháp luật kinh tế như Luật Doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày12/06/1999 có hiệu lực từ ngày 1/1/2000, luật đầu tư nước ngoài, luật khuyếnkhích đầu tư trong nước, các Nghị định của Chính phủ về thị trường chứngkhoán, đăng ký kinh doanh, giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảmcác Thông tư,
Tất cả những văn bản pháp luật đó đã được giải quyết phần nào trong nềnkinh tế thị trường và tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế ngày càng phát triển.Nhưng mặt khác cần phải đặt ra những vấn đề cần được đổi mới, giải quyết đểđảm bảo các quyền của các chủ thể trong kinh doanh, tránh sự mâu thuẫn chồngchéo giữa các văn bản pháp luật chuyên ngành, nâng cao hiệu quả điều chỉnhcủa pháp luật kinh tế Đặc biệt là giải quyết mối quan hệ giữa luật kinh tế, luậtdân sự, luật thương mại nói chung và giữa hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự,hợp đồng thương mại nói riêng
II CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬA ĐỔI PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG KINH TẾ
Thực tiễn thi hành pháp luật về Hợp đồng kinh tế tại thời điểm hiện naycho thấy có nhiều quy định đã tỏ ra không còn phù hợp Một số quy định đã lạchậu, không theo kịp sự phát triển của các quan hệ kinh tế, mặt khác xuất hiệnnhiều quan điểm không thống nhất giữa pháp luật về HĐKT và các văn bảnpháp luật khác có liên quan Do đó việc thực hiện pháp luật HĐKT đã gặp nhiềuvướng mắc, thậm chí có nhiều trường hợp chủ thể kinh doanh không ký kếtHĐKT theo quy định của pháp luật về HĐKT
Trang 15- Các quy định về chủ thể ký kết HĐKT nhiều khi không tuân thủ các quyđịnh của HĐKT nguyên nhân một phần là do các chủ thể kinh doanh và cũng cótrường hợp là do những bất cập của pháp luật gây nên.
* Chẳng hạn như ký kết HĐKT không đúng phạm vi kinh doanh theo đăng
ký kinh doanh Vi phạm loại này xảy ra rất phổ biến hiện nay, đặc biệt đối vớinhững Hợp đồng thuê nhà, địa điểm kinh doanh mà bên cho thuê không có chứcnăng kinh doanh trong lĩnh vực này
* Người ký kết không thẩm quyền ký kết, đây là trường hợp người ký kếtHợp đồng không phải là đại diện đương nhiên của chủ thể có quyền ký kết Hợpđồng nhưng lại không được uỷ quyền bằng văn bản
* Hợp đồng kinh tế được ký kết giữa hai bên đều không phải là pháp nhân,loại vi phạm này thường xảy ra trong trường hợp các bên ký kết là đơn vị thànhviên của các Tổng Công ty và các Ngân hàng chuyên doanh và một số Công tythành viên có tư cách pháp nhân và một số Công ty thành viên không có tư cáchpháp nhân do đó rất dễ nhầm lẫn khi ký kết HĐKT Khi ký kết dạng này cũngkhông được coi là HĐKT theo quy định của Điều 2 Pháp lệnh HĐKT hiện hành.Tuy nhiên nếu coi là HĐDS thì cũng không đúng, bởi vì Công ty thành viên nàymặc dù không có tư cách pháp nhân nhưng cũng là chủ thể kinh doanh Điều 22Hiến pháp 1992 quy định quyền bình đẳng của các chủ thể tham gia kinh doanh
Trang 16trước pháp luật Vì vậy việc quy định buộc 1 trong 2 bên tham gia hợp đồngphải là pháp nhân là không phù hợp với thực tiễn và trái với quy định của Hiếnpháp.
Tuy nhiên những trường hợp trên ngoài vấn đề chủ thể còn có nhữngtrường hợp do sự thay đổi chủ thể của quan hệ Hợp đồng nên đã dẫn đến cónhiều cách giải thích khác nhau về luật áp dụng trong quá trình giải quyết tranhchấp
- Về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ HĐKT, Pháp lệnh HĐKThiện hành đã quy định 3 biện pháp bảo đảm thực hiện Hợp đồng là cầm cố, thếchấp và bảo lãnh, nhưng lại quy định phạt vi phạm là biện pháp trách nhiệm tàisản khi có thiệt hại xảy ra mà không quy định nó là một biện pháp bảo đảm thựchiện Hợp đồng Trên thực tế trong các Hợp đồng kinh tế các bên vẫn thoả thuậnvới nhau về phạt vi phạm như một biện pháp bảo đảm thực hiện Hợp đồng
2 Thực hiện và giải quyết tranh chấp Hợp đồng kinh tế
Mặc dù ban hành các văn bản để hướng dẫn giải quyết tranh chấp, nhưng
do những hạn chế của các văn bản và tính cục bộ trong việc ban hành văn bản vàgiá trị pháp lý chưa cao của các văn bản hướng dẫn nên quá trình giải quyếttranh chấp gặp rất nhiều vướng mắc
Qua báo cáo tổng kết công tác ngành toà án năm 1999, số 40BC/VP ngày11/3/2000 của Toà án NDTC cho ta thấy việc giải quyết tránh chấp HĐKT củacác cơ quan có thẩm quyền hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn Nhưng khôngthể phủ nhận rằng có nhiều nguyên nhân mang tính chủ quan trong những khókhăn này như: Trình độ và tinh thần trách nhiệm của những người có thẩmquyền giải quyết tranh chấp còn thấp, ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thểkinh doanh chưa cao, việc tuyên truyền và phổ biến pháp luật chưa được chú
Trang 17nguyên nhân khách quan gây nên, đó là do trong pháp luật HĐKT hiện hành còntồn tại nhiều điểm không hợp lý và không rõ ràng.
Từ việc phân tích các cơ sở lý luận và thực tiễn cho chúng ta thấy đượcthực tế đang đòi hỏi phải sửa đổi pháp luật về HĐKT càng sớm càng tốt và phảigiải quyết được những bất cập của pháp luật về HĐKT cả về lý luận và thực tiễnđặc biệt là:
+ Khắc phục những bất hợp lý trong các quy định của pháp luật về HĐKT,tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế phát triển, tạo thuận lợi cho quá trình giảiquyết tranh chấp về HĐKT;
+ Giải quyết triệt để mối quan hệ giữa 3 loại Hợp đồng: HĐKT, HĐDS,HĐTM,
Trang 18Chương III ĐỔI MỚI PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG KINH TẾ
I ĐỊNH HƯỚNG SỬA ĐỔI PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG KINH TẾ
Hiện nay khi bàn về các giải pháp cho việc sửa đổi pháp luật về HĐKT, cácnhà khoa học pháp lý có đưa ra 2 quan điểm khác nhau
- Pháp luật về HĐKT tại thời điểm hiện nay là không cần thiết vì mọi quan
hệ hợp đồng đã có BLDS và luật thương mại điều chỉnh
- Pháp luật về HĐKT là cần thiết vì mọi loại Hợp đồng đều có phạm viriêng và không thể đem các quy định áp dụng cho loại Hợp đồng này để áp dụngcho loại Hợp đồng khác Quan điểm này được rút ra trên cơ sở phân tích một sốquy định của pháp lệnh hiện hành về khái niệm hợp đồng, về chủ thể hợp đồng
và một số quy định của pháp lệnh hiện hành về khái niệm hợp đồng, về chủ thểhợp đồng và một số quy định khác của ba loại Hợp đồng trên
Theo chúng tôi, mỗi quan điểm đều có những căn cứ khoa học nhất định vàđều có ưu điểm của nó Tuy nhiên, quan điểm thứ 2 sẽ là quan điểm được nhiềungười chấp nhận trong điều kiện hiện nay
1 Về quan điểm loại bỏ Hợp đồng kinh tế
Về phương diện lý luận: Về việc loại bỏ HĐKT sẽ dẫn đến một hệ quả tất
yếu về vấn đề mối quan hệ giữa HĐKT, HĐDS và HĐTM đó là vấn đề luôn gây
ra nhiều tranh cãi từ xưa đến nay HĐTM sẽ được coi như một loại Hợp đồngriêng đối với HĐDS Đây là một ưu điểm lớn của giải pháp này, nhưng nó vấp