Khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một bộ phận cấu thành thống nhất của nền kinh tế quốc dân. Sự nhận thức lại của Đảng và Nhà nước ta về vị trí và vai trò của khu vực này trong nền kinh tế nước ta đã có tác dụng to lớn thúc đẩy sự phát triển của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng và nền kinh tế nước ta nói chung. Từ đổi mới về nhận thức và tư tưởng, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chính sách mới. sửa đổi và bổ xung một số chính sách cũ nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cản trở quá trình hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn do các thủ tục hành chính phức tạp, sự đối xử bất bình đẳng trong một số chính sách như chính sách tín dụng, chính sách đất đai… Xuất phát từ thực tế trên đồng thời đứng trước những thách thức của quá trình hội nhập khu vực và thế giới đòi hỏi các doanh nghiệp phải mạnh để có thể đủ sức cạnh tranh và phát triển. Từ nhận thức trên, em đã mạnh dạn chọn đề tài : “Môi trường pháp luật của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam hiện nay. Thực trạng và một số kiến nghị”.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một bộ phận cấu thànhthống nhất của nền kinh tế quốc dân Sự nhận thức lại của Đảng và Nhà nước
ta về vị trí và vai trò của khu vực này trong nền kinh tế nước ta đã có tác dụng
to lớn thúc đẩy sự phát triển của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh nóiriêng và nền kinh tế nước ta nói chung Từ đổi mới về nhận thức và tư tưởng,Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chính sách mới sửa đổi và bổ xung một
số chính sách cũ nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động kinhdoanh của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Tuy nhiên, cho đến nay vẫncòn tồn tại nhiều hạn chế cản trở quá trình hoạt động và phát triển của cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh Các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn
do các thủ tục hành chính phức tạp, sự đối xử bất bình đẳng trong một sốchính sách như chính sách tín dụng, chính sách đất đai…
Xuất phát từ thực tế trên đồng thời đứng trước những thách thức củaquá trình hội nhập khu vực và thế giới đòi hỏi các doanh nghiệp phải mạnh để
có thể đủ sức cạnh tranh và phát triển Từ nhận thức trên, em đã mạnh dạn
chọn đề tài : “Môi trường pháp luật của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam hiện nay Thực trạng và một số kiến nghị”.
1 Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Đề tài đề cập đến một vấn đề có ý nghĩa lớn về lý luận cũng như thựctiễn trong quá trình nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường và mởcửa để hội nhập với khu vực và thế giới hiện nay Nội dung nghiên cứu của đềtài nhằm làm sáng tỏ những vấn đề sau:
- Đặc điểm, vị trí và vai trò của khu vực doanh nghiệp ngoài quốcdoanh trong nền kinh tế nước ta
- Thực trạng môi trường pháp luật và những ảnh hưởng của nó tới quátrình hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Việc lý giải những vấn đề trên tạo điều kiện tìm ra những giải phápnhằm hoàn thiện môi trường pháp luật để thúc đẩy sự phát triển của các doanhnghiệp ngoài quốc doanh nói riêng và của cả nền kinh tế nước ta nói chung
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu những ảnh hưởng của môi trường pháp luậttới quá trình chuẩn bị thành lập và hoạt động của các doanh nghiệp ngoài
Trang 2quốc doanh Do trình độ và thời gian nghiên cứu có hạn nên khu vực doanhnghiệp ngoài quốc doanh mà em đề cập trong đề tài này chỉ là các doanhnghiệp đang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp do Quốc hội thông qua ngày12-6-1999 và có hiệu lực từ ngày 1-1-2000.
3 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành đề tài em có sử dụng một sốphương pháp như phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp ngiên cứutài liệu và một số phương pháp khác
Trang 3PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VÀ DOANH NGHIỆP
NGOÀI QUỐC DOANH.
1 Lý luận chung về pháp luật
1.1 Khái niệm và bản chất của pháp luật
Trong xã hội nhà nước pháp quyền, các quan hệ xã hội chủ yếu đượcđiều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật Pháp luật trở thành công cụ tối quantrọng của nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và quản lý sự vận hànhcủa nền kinh tế-xã hội theo mục tiêu đã định
Pháp luật là một hệ thống các quy phạm có tính bắt buộc chung, do nhànước ban hành và được nhà nước bảo đảm thực thi trong một thời gian dài đểđiều chỉnh các quan hệ xã hội
Cũng như mọi nhà nước khác, bản chất pháp luật của nhà nước ta phùhợp với bản chất của nhà nước, do bản chất, đặc điểm và những nhiệm vụ củanhà nước trong từng thời kỳ quyết định
Điều 2- Hiến pháp 1992 xác định:”Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Tất cảquyền lực nhà nước thuộc về mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân vớigiai cấp công nhân và tầng lớp trí thức”
Vì lẽ đó, pháp luật của nhà nước ta về bản chất là pháp luật xã hội chủnghĩa Nó thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, đồng thời phản ánh, thể hiện
ý chí, lợi ích của các tầng lớp nhân dân lao động khác và của cả dân tộc
Nói pháp luật thể hiện ý chí và lợi ích của toàn thể nhân dân lao độngkhông có nghĩa là phủ nhận tính giai cấp của pháp luật nhà nước ta Vấn đề ởchỗ khi pháp luật phản ánh, bảo vệ lợi ích của các giai cấp, của dân tộc phảiđứng trên quan điểm, lập trường của Đảng Đó là nguyên tắc hàng đầu củapháp luật nhà nước trong giai đoạn hiện nay
Trong nền kinh tế nhiều thành phần, đương nhiên còn tồn tại các lợi íchkhác nhau của các thành phần khác nhau Pháp luật đương nhiên phải bảo vệ
Trang 4lợi ích và tạo điều kiện cho các thành phần đó phát triển phù hợp với địnhhướng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước ta.
Trang 51.2 Vai trò của pháp luật
a Pháp luật là công cụ thực hiện đường lối, chính sách của Đảng.
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định đảmbảo thắng lợi của cách mạng nước ta cả trong công cuộc bảo vệ và xây dựngđất nước trước đây cũng như trong công cuộc đổi mới và thực hiện côngnghiệp hoá, hiện đại hoá ngày nay
Đảng lãnh đạo trước hết và chủ yếu bằng cách Đảng vạch ra đường lối,chính sách trên cơ sở phân tích khoa học tình hình thực tế và vận dụng sángtạo các nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lê Nin vào hoàn cảnh thực tế đó Việcthực hiện đường lối, chính sách đó trước hết và chủ yếu bằng nhà nước vàthông qua nhà nước
Trên ý nghĩa đó, pháp luật là sự biểu hiện dưới hình thức nhà nước cácđường lối, chính sách của Đảng thành hiện thực sinh động trong cuộc sống.Mặt khác bằng việc thể chế hoá thành pháp luật, đường lối chủ trương củaĐảng biến thành quyết định quản lý mang tính quyền lực nhà nước, trở thànhcác quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các cá nhân, tổ chức được thực hiệnmột cách trực tiếp, chính xác, thống nhất trong cả nước
b Pháp luật là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động.
“Nhà nước đảm bảo và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọimặt của nhân dân…”(Điều 2- Hiến pháp 1992)
Pháp luật quy định cụ thể, bảo đảm đầy đủ thực hiện nguyên tắc: Mọiquyền lực trong nước đều thuộc về nhân dân Nhân dân phải là người thực sựxây dựng nên nhà nước của mình, tham gia vào các công việc nhà nước, kiểmtra sự hoạt động của các cơ quan nhà nước Pháp luật cũng phải quy định rõnghĩa vụ trung thành và phục vụ nhân dân một cách tận tuỵ của các cơ quannhà nước và viên chức nhà nước trong việc thực hành công vụ Mặt khác mỗicông dân khi thực hiện quyền làm chủ, thực hiện các quyền tự do, dân chủcủa mình không được làm tổn hại đến lợi ích chung của xã hội, lợi ích và cácquyền tự do, dân chủ của công dân khác
c Pháp luật là công cụ quản lý của Nhà nước.
Ngày nay, pháp luật không chỉ là công cụ quan trọng để cải tạo cácquan hệ xã hội cũ, tổ chức xây dựng và điều hành mọi lĩnh vực và mở đường
Trang 6cho các quan mới xã hội mới phát triển phù hợp với các quy luật kinh tếkhách quan mà nó còn là công cụ hướng dẫn, khuyến khích, thúc đẩy, điềuchỉnh sự phát triển của xã hội, đặc biệt trong sự phát triển của nền kinh tế đấtnước.
Nói cách khác pháp luật còn tạo môi trường cho các quan hệ kinh tếmới phát triển Trên ý nghĩa đó, pháp luật của nhà nước ta hiện nay có ý nghĩa
vô cùng quan trọng trong việc “ phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xãhội chủ nghĩa” Để đáp ứng yêu cầu đó, pháp luật phải tạo nên một môitrường pháp lý an toàn, thuận lợi và bình đẳng cho các doanh nghiệp tồn tại
và phát triển, nâng cao sức cạnh tranh của mình cũng như của nền kinh tế.Mặt khác, pháp luật cũng tạo điều kiện cho nhà nước có thể thực hiện đượcvai trò người điều hành nền kinh tế thị trường, hướng nó phát triển theo cácmục tiêu đã định, khắc phục và hạn chế những mặt trái vốn có của nền kinh tếthị trường Pháp luật cũng phải là công cụ để nhà nước kiểm soát các hoạtđộng kinh doanh, trừng trị các hành vi làm ăn phi pháp, thực hiện sự côngbằng trong sản xuất và phân phối Một vai trò quan trọng khác của pháp luậttrong quản lý nhà nước là nó xác lập, củng cố và hoàn thiện những cơ sở pháp
lý của quản lý nhà nước, đặc biệt là quản lý nhà nước về kinh tế
Trên ý nghĩa đó, pháp luật hiện nay của nhà nước phải là cơ sở pháp lý
để hoàn thiện bộ máy nhà nước phù hợp với cơ chế quản lý mới, từ hoạt độnglập pháp đến hoạt động hành pháp và tư pháp
2 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và vị trí của nó trong nền kinh tế nước ta.
2.1 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trong nền kinh tế nhiều thành phần, mỗi đơn vị kinh doanh là một tổchức của những người sản xuất hàng hoá thuộc các thành phần kinh tế khácnhau Họ đầu tư vốn, thuê mướn và sử dụng lao động để sản xuất một loạihàng hoá hay thực hiện một loại dịch vụ nhất định qua đó tìm kiếm lợinhuận.Trong nền kinh tế thị trường, tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt độngsản xuất và trao đổi hàng hoá chủ yếu là các doanh nghiệp Hoạt động kinhdoanh bao gồm hoạt động kinh doanh tư nhân và hoạt động kinh doanh củaNhà nước Việc phân biệt hoạt động kinh doanh tư nhân với hoạt động kinh
Trang 7doanh của Nhà nước căn cứ vào việc ai là người tổ chức và chỉ đạo các hoạtđộng này.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là tổ chức kinh tế do cá nhân, tổ chứcđầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý theo qui định của pháp luật nhằmmục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
Ở hầu hết các nước trên thế giới hiện nay, các hình thức sở hữu thườngđan xen nhau Có nhiều doanh nghiệp trong đó vừa có yếu tố tư nhân vừa có
sự tham gia của Nhà nước
Ở Việt Nam trước đây, tư liệu sản xuất của một cơ sở sản xuất kinhdoanh nào đó chỉ thuộc về một hình thức sở hữu duy nhất, sở hữu Nhà nước.Hội nghị trung ương VI - Đại hội lần thứ 6 của Đảng cộng sản Việt Nam đãxem xét lại các quan điểm cũ và khẳng định lại rằng: trong hoạt động sảnxuất-kinh doanh các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất không ngăn cáchnhau mà có nhiều loại hình hỗn hợp, đan kết với nhau Các doanh nghiệpquốc doanh có thể huy động vốn cổ phần của các cá nhân và tổ chức khác.Còn các cơ sở sản xuất-kinh doanh tư nhân cũng có thể liên kết với cácdoanh nghiệp quốc doanh nhằm mở rộng sản xuất Do đó, khu vực doanhnghiệp ngoai quôc doanh không chỉ bao gồm các cơ sở sản xuất-kinh doanhhoàn toàn thuộc sở hữu tư nhân mà bao gồm cả các cơ sở sản xuất-kinh doanh
có phần vốn góp của Nhà nước nhưng hoạt động của chúng lại do một haymột nhóm tư nhân tơ chức và chỉ đạo
2.2 Các hình thức của doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học phương tây thì chỉ có hai hìnhthức sở hữu trong hoạt động kinh doanh, đó là sở hữu công cộng và sở hữu tưnhân Sở hữu tư nhân được biểu diễn dưới nhiều hình thức, trong đó ba hìnhthức sở hữu tư nhân chung nhất là: sở hữu một chủ, sở hữu nhóm hay đồng sởhữu, sở hữu công ty
- Sở hữu một chủ là hình thức sở hữu phổ biến và lâu đời nhất Doanhnghiệp sở hữu một chủ là doanh nghiệp do một cá nhân nắm quyền sở hữu
- Sở hữu nhóm là một nhóm gồm hai hay nhiều người với vai trò là cácthành viên đồng sở hữu cùng hoạt động kinh doanh nhằm thu lợi nhuận
Trang 8- Sở hữu công ty là một thực thể nhân tạo, không nhìn thấy được và chỉtồn tại trên giấy tờ pháp lý Công ty là một pháp nhân và tách biệt hẳn với cácchủ sở hữu của nó.
Từ ba hình thức cơ sở hữu tư nhân trên mà tương ứng có các doanhnghiệp sở hữu một chủ, doanh nghiệp sở hữu nhóm và doanh nghiệp thuộchình thức sở hữu công ty
Ở Việt Nam, phần đông các nhà kinh tế cho rằng có ba hình sở hữutrong hoạt động kinh doanh là: sở hữu công cộng, sở hữu tập thể và sở hữu tưnhân Trên cơ sở sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể, khu vực doanh nghiệpngoài quốc doanh ở nước ta bao gồm:
a Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tựchịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp Đây là một hình thức sở hữu tương ứng với hình thức sởhữu một chủ ở các nước trên thế giới Doanh nghiệp tư nhân không có tư cáchpháp nhân và chịu chế độ trách nhiệm vô hạn trong hoạt động kinh doanh
b Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên là công ty domột tổ chức làm chủ sở hữu, chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về nợ vàcác nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
Theo Điều 14 Nghị định 03/2000/NĐ-CP thì chủ sở hữu công ty phải làmột pháp nhân và có thể là: cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, các phápnhân của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, cácloại doanh nghiệp và các tổ chức khác theo qui định của pháp luật
Như vậy theo pháp luật, công ty TNHH một thành viên có thể là mộtdoanh nghiệp quốc doanh nếu chủ sở hữu của nó là cơ quan Nhà nước hay làmột doanh nghiệp ngoài quốc doanh nếu chủ sở hữu của nó không phải là các
cơ quan Nhà nước Công ty TNHH hạn một thành viên là loại hình doanhnghiệp có tư cách pháp nhân nhưng không có quyền phát hành cổ phiếu
c Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên
Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên là công ty được thành lậptheo sự góp vốn của nhiều thành viên Thành viên công ty có thể là cá nhânhay tổ chức và tối đa là năm mươi, tối thiểu là hai Công ty có tư cách pháp
Trang 9nhân nhưng không có quyền phát hành cổ phiếu Đây là loại hình công ty màcác doanh nhân nước ta ưa thích và hay thành lập.
d Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm sau:Vốn điều lệ của công ty được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần.Thành viên công ty có thể là cá nhân hay tổ chức được gọi là cổ đông
Số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa
Công ty có tư cách pháp nhân và có quyền phát hành các loại chứngkhoán
e Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là loại hình doanh nghiệp có đặc điểm:
- Công ty phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài thành viên hợpdanh công ty có thể có thnàh viên góp vốn Thành viên hợp danh phải là cánhân có trình độ chuyên môn, có uy tín nghề nghiệp Còn thành viên góp vốn
Doanh
nghiệ
p tưnhân
CôngtyTNHH
Côngtycổphần
Côngtyhợpdoanh
Hợptácxã
Hệ thốngdoanh nghiệp ngo i quài qu ốc doanh
Trang 10Hình 1 Các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta hiện nay.
2.3 Vị trí và vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nền kinh tế nước ta.
Trong nền kinh tế của các nước trên thế giới, vị trí và vai trò của doanhnghiệp ngoài quốc doanh luôn thay đổi qua các giai đoạn lịch sử cùng với sựtăng giảm vai trò của chính phủ đối với hoạt động kinh doanh Qua nhiềunăm, người ta đã chứng minh những ưu thế của hoạt động kinh doanh tư nhân
so với hoạt động kinh doanh của khu vực Nhà nước và nhiều nước đã thựchiện quá trình tư nhân hoá Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới, khu vựckinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng lớn về tổng sản phẩm quốc nội(GDP), về vốnđầu tư và ngày càng trở thành bộ phận có vị trí lớn và quan trọng đối với nềnkinh tế mỗi nước
a Vị trí của doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta hiện nay.
Qua phần trên, ta thấy rằng doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một bộphận cấu thành không thể thiếu được trong nền kinh tế ở hầu hết các nướctrên thế giới Sự phát triển của các hình thức tổ chức kinh tế: kinh tế Nhànước, kinh tế tư nhân trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau là một tất yếukhách quan
Tuy nhiên, ở nước ta trước đây lại không công nhận sự tồn tại của khuvực kinh tế tư nhân làm cho khu vực này phải hoạt động chui hoặc đội lốtkinh tế tập thể Việc coi kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế phi xã hội chủnghĩa và muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội chỉ cần cải tạo nhanh thànhphần kinh tế đó đã dẫn đến tình trạng gần như xoá sổ khu vực kinh tế tư nhân,phát triển ồ ạt các xí nghiệp quốc doanh dẫn đến nền kinh tế đình trệ, kémphát triển và đời sống nhân dân gặp vô cùng khó khăn Đại hội Đảng lần thứ
Trang 11VI (1986) là một bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển kinh tế ở nước
ta Đại hội đã xác định việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, giảiphóng mọi lực lượng sản xuất, cải tiến cơ chế quản lý kinh tế là một chiếnlược phát triển kinh tế lâu dài Đến Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) đường lốiđổi mới kinh tế của Đảng được khẳng định lại một lần nữa “Chúng ta chủtrương thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa” Hiến pháp 1992 cũng đã ghi nhận sự tồn tại của sởhữu tư nhân (điều 15) và khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài Nhànước phát triển (điều 21)
Như vậy, việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong đó có doanhnghiệp ngoai quốc doanh là một tất yếu và có vị trí quan trọng trong việc thựchiện nhiệm vụ chiến lược là giải phóng mọi lực lượng sản xuất nhằm pháttriển sản xuất-kinh doanh đảm bảo dân giàu, nước mạnh nghĩa là huy độngmọi nguồn vốn, lao động và tài năng của người dân vào hoạt động sản xuất-kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho người dân, nâng cao thu nhập cho ngườilao động và cho ngân sách Nhà nước
b Vai trò của doanh ngiệp ngoài quốc doanh ở nước ta hiện nay.
Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang cơ chế mới, khu vực doanhngiệp ngoài quốc doanh được chấp nhận chính thức về mặt pháp lý thì khuvực này đã từng bước hình thành, phát triển và hoạt động trên nhiều lĩnh vựccủa nền kinh tế như công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp và dịch vụ với mức
độ khác nhau và dần có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế
Nếu như năm 1991 chỉ có 123 doanh ngiệp đăng ký kinh doanh theoluật thì năm 1993 là 12.131 doanh ngiệp và đến nay là trên 60.000 doanhnghiệp Nộp ngân sách của khu vực này từ 51 tỷ đồng năm 1991 nâng lên1.051 tỷ đồng vào cuối năm 1994 Số lao động bình quân trong các doanhngiệp là 25 người vào thời điểm giữa năm 1998, trong đó có một số ít doanhngiệp có số lao động lên tới 2.000, 5.000 thậm chí là 10.000 người Vào năm
1999, mặc dù nền kinh tế có nhiều khó khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng
Trang 12hoảng tài chính khu vực và thế giới thì khu vực này vẫn tạo ra hơn 7% GDPcủa cả nước và cho đến nay con số này là khoảng 9% Qua số liệu trên có thểthấy vai trò tích cực của các doanh ngiệp ngoài quốc doanh đó là:
Thu hút và giải quyết việc làm cho lực lượng lớn lao động, giảm bớt sựcăng thẳng dôi thừa lao động trong xã hội, góp phần tạo sự ổn định tình hình
Trong nền kinh tế thị trường, các DNNQD phải bằng mọi cách hiện đạihoá kỹ thuật, công nghệ để cạnh tranh với các doanh ngiệp trong nước, đồngthời cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới về mặt hàng, mẫu
mã, giá cả nghĩa là nâng cao chất lượng hàng hoá sản xuất ra Đó chính là sựgóp phần vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 13PHẦN II THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG PHÁP LUẬT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGOAI QUỐC DOANH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
Các doanh nghiệp ngoai quốc doanh cũng giống như tất cả các doanhnghiệp khác đều nằm trong một môi trường vĩ mô nhất định và chịu sự tácđộng của các yếu tố thuộc môi trường này Mối quan hệ giữa các doanhnghiệp ngoai quốc doanh với môi trường vĩ mô có thể được thể hiện theo sơ
đồ sau:
Hình 2 Sơ đồ mối quan hệ giữa DNNQD với môi trường vĩ mô
Môi trường pháp luật là một trong những yếu tố thuộc môi trường vĩ
mô, nó là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của các loại hìnhdoanh nghiệp Một môi trường pháp luật ổn định, thuận lợi và bình đẳng sẽđảm bảo cho các doanh nghiệp yên tâm đầu tư vào sản xuất-kinh doanh
Nhài qu cung
Đối thủ
cấp cạnh
tranh
Doanh nghiệp ngo i ài qu quốc doanh
Trang 141 Quá trình đăng ký kinh doanh và các thủ tục hành chính trước khi đi vào hoạt động của doanh nghiệp.
Trong nhiều năm qua, nhiều văn bản pháp luật nói chung và pháp luật
về kinh tế nói riêng đã được ban hành nhằm thể chế hoá đường lối đổi mớikinh tế của Đảng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho sự phát triển của các loạihình doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Năm 1990, Luật Công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân được ban hành.Các luật này đã củng cố tính an toàn về mặt pháp lý của các doanh nghiệp vàcác tổ chức mà chúng có quan hệ kinh doanh nhờ vậy đã tác động tích cực tới
sự phát triển của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh Theo thống kê, đếnnăm 1998 đã có gần 40.000 doanh nghiệp được thành lập với tổng số vốnđăng ký kinh doanh lên tới 21.000 tỷ đồng Tuy nhiên các thủ tục để thành lậpdoanh nghiệp theo 2 luật này là rất phức tạp Để có thể thành lập thì cácdoanh nghiệp phải có:
- Đơn Đăng ký kinh doanh
Để khắc phục những hạn chế của hai luật kể trên thì Luật Doanh nghiệp
đã ra đời Được Quốc hội thông qua ngày 12-6-1999 và có hiệu lực từ ngày 1-2000, luật mới đã đánh dấu một bước tiến dài về chất từ chỗ quy định ngườikinh đoanh phải xin phép chuyển sang một cách tiếp cận mới cho phép mọingười được làm những gì mà pháp luật không cấm Luật đã quy định rõ ràng,
1-cụ thể một số thủ tục liên quan đến quá trình thành lập và đăng ký kinhdoanh, bãi bỏ một số đòi hỏi mà doanh nghiệp thường khó đáp ứng vào lúcthành lập, đồng thời đặt ra một số đòi hỏi đối với các cơ quan có thẩm quyền
Trang 15liên quan đến việc đăng ký kinh doanh Nhờ vậy thủ tục thành lập doanhnghiệp đã trở nên thuận tiện và đơn giản hơn rất nhiều.
Sau hơn 2 năm thi hành Luật Doanh nghiệp (tính đến 1-5-2002) đã có
42576 doanh nghiệp mới đăng ký thành lập với số vốn mới đăng ký xấp xỉ50.000 tỷ đồng, đồng thời tạo ra khoảng 700.000 chỗ làm việc mới Cácdoanh nghiệp cũng tăng thêm đầu tư, mở rộng thêm qui mô và địa bàn kinhdoanh dưới nhiều hình thức như mở thêm chi nhánh, văn phòng đại diện, bổxung thêm vốn đầu tư (cả nước đã có khoảng 9200 chi nhánh và 900 vănphòng đại diện đăng ký thành lập) Bên cạnh sự gia tăng nhanh chóng về sốlượng doanh nghiệp thì các ngành nghề kinh doanh được đăng ký cũng đadạng và phong phú hơn cũ rất nhiều Đa số doanh nghiệp đã nhận thức được
sự thay đổi về quyền kinh doanh và nhanh chóng phát huy sáng kiến, tận dụngcác cơ hội kinh doanh trên nguyên tắc được kinh doanh tất cả những gì màpháp luật không cấm
Cái được lớn nhất của Luật doanh nghiệp là đã tạo bước đột phá trongviệc cải cách thủ tục hành chính trong quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp
ở nước ta Trong 2 năm qua, các cơ quan Nhà nước đã bãi bỏ 175 loại giấyphép khác nhau (tức khoảng 44% tổng số giấy phép kinh doanh đã tồn tạitrong nền kinh tế), thể hiện sự thay đổi căn bản về tư duy và phương thứcquản lý nhà nước theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tách bạch rõquyền SX-KD của doanh nghiệp với hoạt động quản lý của Nhà nước
Tuy nhiên theo các doanh nghiệp, vẫn còn nhiều trở ngại trong quátrình thành lập doanh nghiệp cần phải giải quyết Đó là:
- Hiện vẫn còn thiếu các thông tin cần thiết vầ hướng dẫn rõ ràng về thủtục đăng ký kinh doanh Thêm vào đó, vẫn chưa có một văn bản chi tiết hoánhững nghành nghề và lĩnh vực đòi hỏi vốn pháp định Nhiều doanh nghiệpgặp khó khăn trong việc tìm kiếm những văn bản pháp luật liên quan đến hoạtđộng kinh doanh phải có giấy phép kinh doanh chuyên ngành, một số khácthì phải mất thêm thời gian đến sở kế hoạch và đầu tư để tra cứu tên doanhnghiệp đã thành lập trước đó nhằm tránh sự trùng lặp
Trang 16- Các doanh nghiệp cho biết vẫn còn ít nhất hai vấn đề cần được bổxung trong các qui định đăng ký kinh doanh hiện hành là: không có hướngdẫn đăng ký kinh doanh cho một số doanh nghiệp thành lập từ hộ kinh doanhhay doanh nghiệp tư nhân và quy định về những giấy tờ cần trình khi một đạidiện nộp hay nhận đơn đăng ký kinh doanh.
- Một số cán bộ làm thủ tục ở Sở Kế hoạch và Đầu tư còn quá phụthuộc vào bản “điều lệ mẫu” do Sở cung cấp và không dễ dàng chấp nhận cácbản điều lệ do người nộp đơn đăng ký kinh doanh soạn thảo mà không giốngđiều lệ mẫu Ngoài ra, một số doanh nghiệp phàn nàn rằng thay vì thông báobằng văn bản cho người nộp đơn về những sai sót trong đơn đăng ký kinhdoanh như quy định, cán bộ Sở Kế hoạch và Đầu tư thường chỉ xem qua đơn
và yêu cầu doanh nghiệp đem về sửa một vài lỗi nhỏ
- Thời gian chờ đợi để doanh nghiệp hoàn thành thủ tục khắc dấu và cóđược con dấu là lâu Theo một cuộc điều tra thì khoảng thời gian để nhậnđược con dấu dao động từ 1 đến 50 ngày, trung bình là 12 ngày Điều hiểnnhiên là các cơ sở khắc dấu này rất nhiều việc và do vậy thường lỡ hẹn trongviệc giao dấu Ngoài ra, để có thể nhận được con dấu sớm hơn các doanhnghiệp phải bỏ ra thêm một khoản là” chi phí làm thêm giờ” Trong một sốtrường hợp , khoản chi phí này cao gấp 2-3 lần so với khoản chi phí khắc dấuthực sự
- Thủ tục đăng ký mã số thuế và mua hoá đơn thuế giá trị gia tăng là rấtphiền toái đối với các doanh nghiệp Hiện không có những hướng dẫn hay chỉdẫn thống nhất, rõ ràng cho thủ tục đăng ký mã số thuế Mỗi cơ quan, nhânviên thuế điạ phương có những yêu cầu và cách giải thích riêng về tính cầnthiết của một loaị giấy tờ nào đó Thậm chí một vài doanh nghiệp phải trìnhbày những giấy tờ bổ xung quyết định “bổ nhiệm giám đốc” hay thoả thuậnthuê văn phòng để có thể mua được hoá đơn thuế giá trị gia tăng
Bên cạnh đó, nhận thức và chỉ đạo Luật Doanh nghiệp trong không ít
cơ quan thuộc hệ thống cơ quan nhà nước, nhất là ở cấp chính quyền địaphương còn thụ động, chưa đầy đủ và kém nhiệt tình, thậm chí có nơi còn trìhoãn, làm trái Cho đến nay vẫn còn một số văn bản quan trọng liên quan đến
Trang 17triển khai Luật doanh nghiệp chưa được ban hành Một số nơi đang làm tráivới qui định của Luật doanh nghiệp bằng cách ra lệnh tạm ngừng hoặc khôngcấp đăng ký kinh doanh đối với một số ngành nghề không thuộc đối tượngcấm kinh doanh, đặt thêm các thủ tục hoặc yêu cầu nộp thêm hồ sơ giấy tờtrái qui định của Luật, không cấp hoặc yêu cầu rút giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh đối với doanh nghiệp đang cạnh tranh với doanh nghiệp nhà nướctạo ra sự bất bình đẳng về cơ hội kinh doanh, làm mất đi cơ hội kinh doanhcủa nhiều doanh nghiệp Các cơ quan Nhà nước cũng chưa thiết lập được hệthống lý lịch tư pháp phục vụ cho việc quản lý Nhà nước, trong đó có xácminh nhân thân người thành lập doanh nghiệp để thực hiện qui định về nhữngđối tượng không được quyền thành lập doanh nghiệp (Điều 9- Luật doanhnghiệp) dẫn đến có một số đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp nhưngvẫn thành lập, một số doanh nghiệp đăng ký mà không hoạt động hoặc hoạtđộng tại địa điểm khác nơi đăng ký kinh doanh.
Như vậy, bên cạnh những thay đổi theo hướng thuận lợi, đơn giản hơnthì quá trình đăng ký kinh doanh và các thủ tục hành chính trước khi đi vàohoạt động của doanh nghiệp vẫn còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho các nhàđầu tư đòi hỏi cần nhanh chóng giải quyết để tạo điều kiện thuận lợi hơn chocác doanh nghiệp
2 Quá trình hoạt động của doanh nghiệp sau khi thành lập.
Sau khi được thành lập, doanh nghiệp bắt đầu đi vào hoạt động sảnxuất-kinh doanh Trong giai đoạn này, các yếu tố đầu vào như vốn, đất đai,thông tin …là rất quan trọng đối với doanh nghiệp Tuy nhiên, đây cũng làcác lĩnh vực mà còn nhiều bất cập, hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệpngoài quốc doanh hiện nay
Trang 18Mặc dù trong những năm qua, chính sách tín dụng đã có nhiều thay đổitheo hướng tạo điều kiện hơn cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trongviệc tiếp cận các nguồn vốn của ngân hàng song qua các cuộc điều tra gần đâycho thấy vốn vẫn là khó khăn cơ bản đối với các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh Những khó khăn này bao gồm:
Các doanh nghiệp nhà nước được ưu đãi hơn các doanh nghiệp tư nhântrong việc vay vốn ngân hàng, đặc biệt là trong các các quy định về thế chấp.Doanh nghiệp nhà nước với sự bảo lãnh từ cơ quan chủ quản có thể vay màkhông cần cầm cố hay thế chấp một cách dễ dàng Hơn nữa do chính sách tíndụng còn nhiều bất cập, hệ thống tài chính trung gian chưa phát triển, cácdoanh nghiệp nhà nước lập ra là tức khắc được quyền đòi cấp vốn, ngân hàngcho vay, nợ đến hạn chưa trả thì được khoanh nợ, giãn nợ
Đối tượng Năm 2000 6 tháng đầu năm 2001Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 10.78% 4.5%
Nguồn: Tạp chí Kinh tế phát triển7/2001
Hình 3: Tỷ lệ tín dụng của các ngân hàng dành cho các doanh nghiệp
Điều kiện để được vay vốn từ ngân hàng mà không cần thế chấp là rấtphức tạp đối với các doanh nghiệp Nếu đúng theo các quy định đó thì cácdoanh nghiệp mới thành lập, các doanh nghiệp chưa từng vay vốn ngân hàng
sẽ bị loại ra khỏi đối tượng được vay vốn không cần thế chấp Nói cách khác,chính các doanh nghiệp rất cần vay vốn, cần sự hỗ trợ từ phía ngân hàng lại bịgạt ra ngoài
Việc vay mượn lại phụ thuộc vào tài sản thế chấp, đây là khó khăn chủyếu đối với các doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng Vìkhông có cơ quan, tổ chức nào chịu trách nhiệm để đánh giá tài sản thế chấpnên những hoạt động này được thực hiệnchính bởi ngân hàng Điều này dẫnđến vấn đề là ngân hàng có xu hướng muốn đánh giá thấp tài sản của doanhnghiệp, không sát với giá trị thực của tài sản theo giá thị trường do đó tạo ra
Trang 19sự thua thiệt cho các doanh nghiệp Hơn thế nữa, trang thiết bị và hàng tồnkho của doanh nghiệp cũng không được ngân hàng chấp nhận thế chấp.
Những khó khăn trên đã buộc nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanhphải vay từ thị trường tài chính không chính thức, nơi có tỷ lệ lãi suất cao vàthời hạn vay ngắn Điều này làm cho chi phí sản xuất tăng, các doanh nghiệpkhó có thể đổi mới trang thiết bị, công nghệ dẫn tới sức cạnh tranh của doanhnghiệp là rất thấp
2.2 Đất đai và giấy phép xây dựng
Đất đai là một yếu tố sản xuất không thể thiếu của mỗi doanh nghiệp
Để đầu tư sản xuất trước hết các doanh nghiệp phải có một quỹ đất nhất định.Nói chung quỹ đất dùng cho sản xuất - kinh doanh là không nhỏ Trên mảnhđất của mình các doanh nghiệp sẽ tiến hành xây dựng nhà xưởng, đầu tư máymóc trang thiết bị và đi vào hoạt động sản xuất - kinh doanh Do đó, nếu quỹđất của mỗi doanh nghiệp là ổn định thì quá trình sản xuất - kinh doanh sẽnhanh chóng được tiến hành và phát huy hiệu quả Trên thực tế, không phảidoanh nghiệp nào cũng may mắn có được quỹ đất đáp ứng được nhu cầu và
ổn định trong quá trình hoạt động, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh
a.Về thủ tục xin giao đất hoặc cho thuê đất đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Theo điều 13 của nghị định 12/2000/NĐ-CP ngày 5-5-2000 của Chínhphủ về việc sửa đổi, bổ xung một số điều về qui chế quản lý đầu tư và xâydựng ban kèm theo nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8-7-1999 của Chínhphủ đối với các dự án sản xuất - kinh doanh của tư nhân, tổ chức kinh tếkhông phải là DNNN có yêu cầu giao đất hoặc thuê đất thì chủ đầu tư phải cóđơn đề nghị kèm theo dự án sản xuất - kinh doanh đã được chấp thuận về địađiểm, diện tích đất cần có của dự án và làm thủ tục giao đất hoặc thuê đất theo quiđịnh của pháp luật về đất đai hiện hành
Trên thực tế, việc thuê đất lại là một quá trình hết sức phức tạp, đặc biệt
là ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh
Khó khăn đầu tiên khi các doanh nghiệp quốc doanh đi thuê đất là cácthủ tục quá phiền hà và rắc rối Hiện không có một cơ quan chuyên trách nào
Trang 20quản lý các vấn đề liên quan đến đất đai Do vậy, doanh nghiệp phải chờ phêduyệt của rất nhiều cơ quan quản lý địa phương.
Theo số liệu từ một chuyên đề nghiên cứu tư nhân, để thuê được đất,doanh nghiệp phải chờ từ 3 đến 8 tháng Một số doanh nghiệp nói rằng họphải chờ lấy “dấu đỏ” của hơn 20 bộ phận khác nhau Tất nhiên đi kèm với nó
sẽ có nhiều khoản chi phí không chính thức tương ứng với mỗi con dấu
Một minh chứng cho việc rườm rà, phức tạp của các thủ tục liên quanđến đất đai là: Luật đất đai quy định điều kiện để được Nhà nước giao đất,cho thuê đất là dự án đã được cấp có thẩm quyền “phê duyệt” Trong khi Quichế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo nghị định 52/1999/NĐ-CPngày 08-7-1999 của chính phủ quy định dự án của các thành phần kinh tếngoài quốc doanh do chủ đầu tư tự quyết định
Ngay cả nghị định 12/2000/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi bổxung một số điều của qui chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theonghị định 52 đã nêu trên mới qui định rõ về việc UBND cấp có thẩm quyềncủa địa phương “chấp thuận” về địa điểm đất của dự án để làm thủ tục thì mới
có cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề này Tuy nhiên, nghị định này lại quiđịnh thêm một điều kiện phi thực tế là dự án đầu tư sản xuất - kinh doanh đãđược chấp nhận trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong khi từ tháng1/2000 luật doanh nghiệp có hiệu lực thi hành đã bãi bỏ thủ tục nộp dự án,phương án đầu tư ban đầu trong hồ sơ đăng ký kinh doanh
T t c nh ng s ch ng chéo không h p lý n y ã c n tr s n ngấ ả những sự chồng chéo không hợp lý này đã cản trở sự năng ững sự chồng chéo không hợp lý này đã cản trở sự năng ự chồng chéo không hợp lý này đã cản trở sự năng ồng chéo không hợp lý này đã cản trở sự năng ợp lý này đã cản trở sự năng ài qu đã cản trở sự năng ả những sự chồng chéo không hợp lý này đã cản trở sự năng ở sự năng ự chồng chéo không hợp lý này đã cản trở sự năng ăng
ng c a các doanh nghi p qu c doanh Không thuê c t, không qu
đã cản trở sự năng, ủ ệp quốc doanh Không thuê được đất, không quỹ ố đã cản trở sự năngượp lý này đã cản trở sự năng đã cản trở sự năngấ ỹ
t, không có t các doanh nghi p ph i ch i quá lâu có th ti n
đã cản trở sự năngấ đã cản trở sự năngấ ệp quốc doanh Không thuê được đất, không quỹ ả những sự chồng chéo không hợp lý này đã cản trở sự năng ờ đợi quá lâu để có thể tiến đã cản trở sự năngợp lý này đã cản trở sự năng đã cản trở sự năngể có thể tiến ể có thể tiến ế
h nh ho t ài qu ạ đã cản trở sự năng,ng s n xu t - kinh doanh c a mình i u n y ã l m gi mả những sự chồng chéo không hợp lý này đã cản trở sự năng ấ ủ Đ ều này đã làm giảm ài qu đã cản trở sự năng ài qu ả những sự chồng chéo không hợp lý này đã cản trở sự năng
kh n ng c nh tranh c a các doanh nghi p qu c doanh.ả những sự chồng chéo không hợp lý này đã cản trở sự năng ăng ạ ủ ệp quốc doanh Không thuê được đất, không quỹ ố
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 22% 27.5%
Nguồn : Tạp chí Doanh nghiệp thương mại số 8/2001
Hình 4: Tỷ lệ quỹ đất dành cho các loại hình doanh nghiệp.