1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc uỷ ban nhân dân tỉnh bình dương

126 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 205,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là những người làm việc trong các cơ quan tham mưu cho Ủy ban nhân dântỉnh quản lý Nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương, công chức các cơ quan chuyênmôn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh vừ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

/

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THÁI QUỲNH NHƯ

BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN

THUỘC UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

NGUYỄN THÁI QUỲNH NHƯ

BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN

THUỘC UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công Mã số: 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN TRỌNG ĐỨC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Lãnh đạo Ban Văn hóa

-Xã hội Hội đồng nhân dân tỉnh, Lãnh đạo và công chức các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh, công chức của Ban Tổ chức Tỉnh ủy, một số cán bộ hưu trí của ngành tổ chức đã cung cấp số liệu, thông tin cùng những đóng góp ý kiến quý báu cho luận văn và sự góp ý, hướng dẫn nhiệt tình, trách nhiệm của thầy Trần Trọng Đức, giảng viên Học viện Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này.

Tôi xin chân thành cám ơn!

Trang 4

CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chua từng đuợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đuợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đuợc chỉ rõ nguồn gốc

Học viên thực hiện luận văn

Nguyễn Thái Quỳnh Như DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH

Trang 5

Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu công chức các cơ quan chuyên

môn thuộc UBND tỉnh về giới tính, đảng viên, dân

tộc, tôn giáo, ngạch

47-48

Bảng 2.2 Tổng hợp số liệu công chức các cơ quan chuyên

môn thuộc UBND tỉnh về trình độ chuyên môn,

chính trị, tin học, ngoại ngữ

49-51

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Lời cam đoan ii

Danh mục bảng biểu, hình iii

Mục lục 1

MỞ ĐẦU 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 11

1.1 Khái quát về công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 11

1.1.1 Khái niệm công chức 11

1.1.2 Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 12

1.1.3 Công chức và vai trò của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh 16

1.2 Bồi dưỡng công chức 16

1.2.1 Khái niệm bồi dưỡng công chức 17

1.2.2 Vai trò của bồi dưỡng công chức 17

1.2.3 Quản lý nhà nước về bồi dưỡng công chức 25

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng công chức 25

1.3 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng công chức của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm rút ra từ việc đào tạo, bồi dưỡng công chức ở các nước có thể vận dụng và thực hiện ở Bình Dương 35

1.3.1 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng công chức của một số quốc gia trên thế giới 35

1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra từ việc đào tạo, bồi dưỡng công chức ở các nước có thể vận dụng và thực hiện ở Bình Dương 38

Tiểu kết chương 1: 40

Chương 2: THỰC TRẠNG BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG 41

2.1 Tổng quan về tỉnh Bình Dương 41

Trang 7

2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân số, đơn vị hành chính: 412.1.2 Tình hình hình tế - xã hội 422.2 Thực trạng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dântỉnh 432.2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dântỉnh Bình Dương: 432.2.2 Số lượng, độ tuổi, trình độ, ngạch của công chức các cơ quan chuyên mônthuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương 442.2.3 Thực trạng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhândân tỉnh 522.3 Công tác bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dântỉnh Bình Dương giai đoạn 2011-2015 562.3.1 Các quy định và định hướng quan điểm, nguyên tắc của Trung ương, củatỉnh Bình Dương về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 562.3.2 Thực trạng bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy bannhân dân tỉnh 582.3.3 Kết quả bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhândân tỉnh giai đoạn 2011-2015 652.3.4 Đánh giá kết quả công tác bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên mônthuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011-2015 69Tiểu kết chương 2: 76Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNGCÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂNTỈNH BÌNH DƯƠNG TRONG THỜI GIAN TỚI 773.1 Phương hướng, mục tiêu công tác cán bộ của tỉnh Bình Dương đến năm 2020.773.1.1 Phương hướng 773.1.2 Mục tiêu 783.2 Mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyênmôn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương giai đoạn 2015 - 2020 803.3 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức các cơ quanchuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương trong thời gian tới 823.3.1 Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, xác định rõ và quán triệt tiêu chuẩn cán bộ

cơ quan cấp tỉnh theo yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và hội nhập quốc tế 82

Trang 8

3.3.2 Nâng cao chất lượng xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ 84

3.3.3 Xây dựng và sử dụng có hiệu quả, đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh 90

Tiểu kết chương 3 101

Kiến nghị 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

PHỤ LỤC 114

Trang 9

MỞ ĐẦU

4

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Trải qua quá trình hoạt động cách mạng, Đảng ta đã lựa chọn, rèn luyện và hìnhthành được đội ngũ cán bộ, công chức dày dạn kinh nghiệm trong chiến đấu và côngtác, nắm vững và biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, gắn bó chặt chẽ vớiquần chúng, có uy tín cao trong Đảng và nhân dân Tuy nhiên, bước sang giai đoạnthực hiện công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc

tế, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức còn có những hạn chế, chưa theo kịp sựtiến triển của tình hình mới Đảng ta đã chỉ ra rằng, sự trì trệ, bảo thủ trên nhiều mặtcủa công tác cán bộ trong nhiều năm qua là một trong những nguyên nhân chủ yếu của

sự trì trệ trong tổ chức thực hiện và nhiều mặt khác Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ V, Đảng ta đã nêu rõ “Sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổquốc càng phức tạp, vai trò lãnh đạo của Đảng càng tăng thì vị trí quyết định của côngtác cán bộ, đặc biệt là của việc bồi dưỡng, đào tạo, bố trí đội ngũ cán bộ chủ chốt cànglớn” [16, tr.110]

Hiện nay, nước ta đang ở chặng đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội và đangtrong giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Quy

mô, tầm cỡ, tính chất phức tạp của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; cuộc chiếnđấu không khoan nhượng về ý thức chính trị giữa nhân dân ta với các thế lực thù địch

và ngay trong nội bộ đất nước đang đòi hỏi phải không ngừng nâng cao năng lực lãnhđạo và sức chiến đấu của Đảng Muốn thế, Đảng phải tiếp tục đổi mới về nhiều mặt:đổi mới tư duy trước hết là tư duy kinh tế, đổi mới tổ chức, đổi mới công tác cán bộ vàđội ngũ cán bộ, đổi mới phong cách lãnh đạo Trong đó đổi mới về công tác cán bộ làkhâu trọng yếu có quan hệ khăng khít và tác động qua lại với đổi mới tư duy, đổi mới

tổ chức, đổi mới phong cách Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại việc tổ chứcthực hiện mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, là nhân tố

Trang 10

quyết định việc thực hiện thành công quá trình đổi mới sự lãnh đạo của Đảng về kinh tế

- xã hội cũng như tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội

Trang 11

nhập quốc tế Do đó, phải xây dựng được đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vữngvàng, phẩm chất và năng lực tốt, có cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới

Bình Dương là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, trongnhững năm qua, Đảng bộ và nhân dân Bình Dương đã ra sức thi đua, nỗ lực phấn đấuhoàn thành thắng lợi nhiều nhiệm vụ, mục tiêu quan trọng, đưa Bình Dương trở thànhnhóm tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước trong sự nghiệp đổi mới, đời sống vật chất vàtinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt, là tỉnh duy nhất trong cả nước không còn

hộ nghèo theo tiêu chí quốc gia Đạt được những thành tựu trên, bên cạnh sự lãnh đạo,chỉ đạo kịp thời của các ngành, các cấp ở Trung ương, sự chỉ đạo, quyết đoán cùng vớitầm nhìn chiến lược của lãnh đạo tỉnh, còn có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũcông chức của tỉnh nói chung và đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủyban nhân dân tỉnh Bình Dương nói riêng

Là những người làm việc trong các cơ quan tham mưu cho Ủy ban nhân dântỉnh quản lý Nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương, công chức các cơ quan chuyênmôn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh vừa là những người tham gia hoạch định vừa thực thichính sách, quyết định của Nhà nước, vừa là yếu tố quyết định sự thành bại của các chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở địa phương; hoạt động thực thi công vụcủa họ có vai trò quan trọng, quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máyquản lý hành chính Nhà nước của tỉnh; do đó, trình độ, năng lực, tinh thần trách nhiệm

và thái độ phục vụ nhân dân của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy bannhân dân tỉnh không chỉ ảnh hưởng trực tiếp mà còn chi phối đến chất lượng, hiệu quảhoạt động và uy tín đối với nhân dân cũng như các tổ chức, cá nhân có quan hệ, giaodịch, sử dụng dịch vụ của những cơ quan này Tuy nhiên, chất lượng của đội ngũ côngchức đang làm việc tại các cơ quan chuyên môn hiện nay cũng còn nhiều hạn chế, vẫnchưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của tỉnh, vừa không đồng đều, vừa có nhiều mặtchưa đáp ứng yêu cầu; một số công chức có nhiều bằng cấp nhưng không thể sử dụnghiệu quả trong công tác chuyên môn; trình độ ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp còn yếu,

Trang 12

hầu hết công chức lãnh đạo, quản lý chưa được đào tạo cơ bản về quản lý đô thị, vềkinh tế thị trường, ngoại ngữ dẫn đến việc chất lượng chưa đủ mạnh; chưa thật sựđảm bảo tính kế thừa, liên tục, làm cho công tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộluôn bị động, chắp vá ít nhiều gây trở ngại cho việc kiện toàn tổ chức bộ máy Nângcao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhândân tỉnh ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn hiện nay là một đòihỏi cần phải được thực hiện có hiệu quả nhất là khi Bình Dương đang chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng ưu tiên phát triển dịch vụ - công nghiệp gắn với quá trình đô thịhóa, đầu tư phát triển nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao.

Xuất phát từ thực tiễn trên và từ sự cần thiết phải nâng cao chất chất lượng độingũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đểđáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong giai đoạn hiện nay, tôi chọn đề tài “Bồidưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Dương”nhằm mục đích nâng cao nhận thức cá nhân và góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn

đề phát sinh trong thực tế cần được giải quyết để xây dựng đội ngũ này ngày càng phùhợp và ngang tầm với nhiệm vụ hiện nay

r

2 r|W1 _ 1 r_ 1 • -* Ạ -* Ạ i > • ■ ^ y

Tình hình nghiên cứu liên quan đen đê tài luận văn

Sau ngày thống nhất đất nước, đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh được hìnhthành từ nhiều nguồn khác nhau bao gồm cán bộ, công chức là người địa phương đãkinh qua kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và số mới tuyển dụng; cán bộ, công chức

do Trung ương tăng cường và các địa phương khác được điều động đến; cán bộ, côngchức của các đơn vị được sáp nhập, cán bộ, công chức ngành khác chuyển sang Phầnlớn đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh có trình độ từ trung cấp chuyên môn trở xuống,trong số này có số ít người tốt nghiệp đại học, được đào tạo về quản lý Nhà nước, quản

lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp theo mô hình của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông

Âu nên khi vận dụng trong thực tế và công tác chuyên môn có nhiều điểm bất cập hoặckhông phù hợp; số cán bộ, công chức sử dụng được ngoại ngữ và tin học trong công tácchuyên môn hầu như không có; số cán bộ, viên chức khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ lưu

Trang 13

dụng của chế độ cũ phải mất một thời gian nhất định mới thích nghi được với phươngpháp vận hành tổ chức, bộ máy, với sự điều hành, lãnh đạo của các cán bộ kháng chiến

và cán bộ được tăng cường từ miền Bắc vào đang là lãnh đạo cơ quan, đơn vị trongkhi khối lượng công việc cần giải quyết rất lớn Những yếu tố trên ảnh hưởng không ítđến định hướng lãnh đạo của tổ chức đảng, của cấp ủy về công tác cán bộ, về thực hiệnnhiệm vụ chính trị và sự điều hành của các cấp chính quyền và đoàn thể trong toàn tỉnh

Mặc dù Trung ương đã có nhiều văn bản chỉ đạo về công tác cán bộ nhưng BìnhDương cũng như một số nơi khác trong cả nước chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa và tầmquan trọng của công tác này, phần nào chạy theo chỉ đạo những nhiệm vụ cấp báchtrước mắt của đảng bộ, chưa quan tâm đúng mức đến công tác cán bộ nên không tránhkhỏi khó khăn do hậu quả của tình hình trên để lại như chưa kết hợp tốt giữa quản lýđảng viên của tổ chức đảng và quản lý cán bộ của chính quyền, đoàn thể để kiểm tra,giáo dục và lựa chọn cán bộ, vì vậy có trường hợp đánh giá cán bộ không rõ, thiếu sựnhất trí và chưa loại trừ được yếu tố ngẫu nhiên, tùy tiện trong công tác cán bộ Côngtác đề bạt, bổ nhiệm cán bộ còn bị chi phối khá nặng bởi quan điểm đánh giá và lựachọn người theo lối cũ, quá nhấn mạnh đến quá trình công tác, cống hiến, nặng về tácphong, thái độ, về cấp bậc, chức vụ đã qua, chưa thật sự lấy hiệu quả công việc làmthước đo chủ yếu của phẩm chất và năng lực cán bộ

So sánh về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp tỉnh từ năm 2010 trở vềtrước với hiện nay thì đội ngũ này từng bước được kiện toàn, số lượng ngày càng đủ vàchất lượng từng bước được nâng cao; có bước trưởng thành trong việc lãnh đạo xâydựng và quản lý kinh tế, quản lý hành chính Nhà nước Nhưng nhìn chung, sự tiến bộvẫn còn chậm, chất lượng vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu, thể hiện rõ nhất lànăng lực lãnh đạo, trình độ quản lý chưa toàn diện, năng lực tổ chức thực tiễn còn yếu.Nhận thấy rõ những bất cập trên, thời gian qua Bình Dương cũng đã đề ra nhiều giảipháp để xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ chính trị mà tỉnh được giao; qua

05 năm thực hiện Chương trình hành động số 20-CTrHĐ/TU, ngày 20/7/2011 của Tỉnh

ủy về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Tỉnh giai đoạn 2011 - 2015, Bình

Trang 14

Dương đã cơ bản tạo được nguồn cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, cótrình độ chuyên môn, lý luận chính trị cao, có kiến thức vận dụng sáng tạo vào thựctiễn Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ, công chức này nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêucầu của tình hình mới, trình độ và năng lực quản lý kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế,ngoại ngữ còn yếu, chất lượng phục vụ một số dịch vụ hành chính công chưa đạt yêucầu, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho quá trình phát triển và hội nhậpkinh tế của tỉnh Vấn đề này đặt ra cho Bình Dương phải tiếp tục có những giải pháp tốthơn để hoàn thiện đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh ngang tầm với giai đoạn pháttriển hiện nay của Bình Dương.

Và làm thế nào để hoàn thiện, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làcâu hỏi được nhiều ngành chức năng của Việt Nam nói chung và của tỉnh Bình Dươngnói riêng quan tâm nghiên cứu, nhằm tìm ra giải pháp phù hợp để xây dựng đội ngũnày ngày một vững mạnh hơn Và bản thân, với tư cách là một công chức của tỉnh BìnhDương cũng quan tâm tới vấn đề này Một trong những giải pháp được xem là quantrọng hàng đầu và có hiệu quả đó chính là đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng cán bộ, côngchức Về nội dung này, có rất nhiều đề tài nghiên cứu nhưng chưa có đề tài nào phântích, nghiên cứu có hệ thống về một đối tượng chuyên biệt đó là “bồi dưỡng công chứccác cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” Tại Bình Dương, tính đếnthời điểm hiện nay, ngoài các văn bản của Tỉnh có liên quan đến việc đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức thì trước tôi chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách có hệthống, toàn diện về nội dung này Thông qua những nội dung được đề cập trong luậnvăn của mình, tôi mong muốn góp một phần rất nhỏ để tìm ra hướng giải quyết phùhợp, hiệu quả cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của tỉnh nói chung vàbồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh nói riêngtrong thời gian tới, qua đó góp phần xây dựng đội ngũ này ngày càng phù hợp và ngangtầm với nhiệm vụ hiện nay

Trang 15

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích: luận văn phân tích, làm rõ thực trạng đội ngũ công chức và công

tác bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn; trên cơ sở nhận thức những quanđiểm, chủ trương, đường lối của Đảng trong xây dựng đất nước, xây dựng cán bộ thời

kỳ mới, định hướng phát triển của Bình Dương và từ thực trạng của công tác này để đềxuất một số giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyênmôn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh trong thời gian tới, từ đó góp phần xây dựng đội ngũnày đáp ứng yêu cầu phát triển của Tỉnh trong giai đoạn hiện nay

- Nhiệm vụ: luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về công chức, bồi dưỡng công

chức, các yếu tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng công chức, phân tích thực trạng và đánh giáđúng thực chất, toàn diện, khách quan công tác bồi dưỡng công chức các cơ quanchuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương để tìm ra những ưu điểm, hạnchế thiếu sót cùng những nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm, trên cơ sở lý luận

và thực trạng của địa phương đề ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bồidưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu: bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

- Phạm vi nghiên cứu:

Không gian: tại tỉnh Bình Dương.

Thời gian: từ giai đoạn 2011-2015

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp luận: luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của

Chủ nghĩa Mac-Lênin, quan điểm Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương,đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước có liên quan đến công chức

và công tác bồi dưỡng công chức

- Phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng phương pháp thu thập và xử lý

thông tin để phân tích, so sánh, tổng hợp số liệu, nghiên cứu các bài viết trên tạp chí,

Trang 16

website, các sách chuyên khảo có liên quan, sử dụng phương pháp điều tra bằng bảnghỏi và tiến hành khảo sát 126 đối tượng là công chức đang công tác tại các cơ quanchuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh, phỏng vấn 23 chuyên gia là lãnh đạo các cơquan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, lãnh đạo Ban Văn hóa-Xã hội Hội đồngnhân dân tỉnh, một số cán bộ hưu trí của ngành tổ chức để đánh giá thực trạng đội ngũcông chức và tình hình bồi dưỡng công chức từ đó đề xuất giải pháp sát thực nhằmnâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhândân cấp tỉnh.

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về lý luận: luận văn cung cấp cấp hệ thống lý luận cơ bản về bồi dưỡng côngchức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để làm cơ sở so sánh,đánh giá thực tiễn

Về thực tiễn: luận văn tổng kết thực tiễn và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằmnâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhândân tỉnh Bình Dương Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu tham khảo cho những cá nhânquan tâm đến đề tài này

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm 03 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận

Phần nội dung gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn

thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Chương 2 Thực trạng bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy

ban nhân dân tỉnh Bình Dương

Chương 3 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức

các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương trong thời gian tới

Trang 17

Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN

MÔN THUỘC UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 1.1 Khái quát về công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

1.1.1 Khái niệm công chức

Không có một khái niệm chung hay tên gọi chung về công chức cho các quốcgia trên thế giới, tùy theo cách thức quan niệm của mỗi quốc gia mà phạm vi công chức

có thể rộng, hẹp ở mỗi quốc gia Quan niệm về công chức mang tính lịch sử và xã hộinhiều hơn là mang tính khoa học Do đó, khi nghiên cứu công chức của một quốc gianào thì ta phải đặt trong bối cảnh lịch sử và xã hội của quốc gia đó để hiểu rõ hơn Cácnước trên thế giới có quan niệm về công chức khác nhau nhưng đa phần đều có điểmchung là công chức chỉ có trong bộ máy nhà nước Riêng ở Việt Nam, công chức còn cótrong các tổ chức chính trị - xã hội và khái niệm về công chức đã nhiều lần thay đổi quacác thời kỳ lịch sử Hiện nay, công chức được xác định theo khoản 2 và 3, điều 4 củaLuật cán bộ, công chức năm 2008 như sau:

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức

vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

Ở cấp xã, công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương

từ ngân sách nhà nước.

Trang 18

Như vậy, theo quy định trên, căn cứ để xác định một người là công chức, thìngười đó phải đảm bảo các tiêu chí sau:

- Là công dân Việt Nam;

- Được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh;

- Trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước hoặc được đảm bảo từquỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật;

- Làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng Cộng sản Việt Nam,Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan,đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; trong bộ máy lãnh đạo, quản lý củađơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị -

xã hội, trong Ủy ban nhân dân cấp xã

Ngoài ra, những trường hợp đã đủ căn cứ xác định là công chức theo các tiêu chítrên mà kiêm nhiệm một số chức danh, chức vụ được bầu cử (không chuyên trách) theoquy định của pháp luật hoặc theo điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hộithì được xác định là công chức và những người đang làm viêc chuyên trách công tácĐảng, công đoàn, đoàn thanh niên tại các cơ quan nhà nước, ở trong biên chế côngchức, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được bổ nhiệm vào một ngạch thì cũng đượcxác định là công chức [10]

Những người đang làm việc ở các vị trí được pháp luật quy định là công chứctrong đơn vị sự nghiệp công lập mà chưa được tuyển dụng (đang thực hiện chế độ hợpđồng lao động) và những người là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốcphòng trong quân đội nhân dân Việt Nam và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trongCông an nhân dân Việt Nam không phải là công chức [10]

1.1.2 Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 bị thay thế bởiLuật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 Hiện Chính phủ chưa ban hành Nghịđịnh quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theoLuật Tổ chức chính quyền địa phương nên trong luận văn này, về vị trí, chức năng củacác cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ trình bày theo Luật Tổ

Trang 19

chức chính quyền địa phương, còn việc tổ chức bộ máy của các cơ quan này sẽ trìnhbày theo Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ Quy định tổchức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương (sau đây gọi tắt là Nghị định 24, Nghị định này hướng dẫn thực hiện Luật Tổ chứcHội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003).

1.1.2.1 Tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Điều 8 và 9, Nghị định số 24 của Chính phủ quy định cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gồm có các sở và cơ quan tương đương sở, bao gồm:

- Các sở được tổ chức thống nhất ở các địa phương: Sở Nội vụ, Sở Tư pháp, Sở

Kế hoạch và đầu tư, Sở Tài chính, Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và phát triển nôngthôn, Sở Giao thông vận tải, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và môi trường, Sở Thông tin

và truyền thông, Sở Lao động - Thương binh và xã hội, Sở Văn hóa, thể thao và du lịch,

Sở Khoa học và công nghệ, Sở Giáo dục và đào tạo, Sở Y tế, Thanh tra tỉnh, Văn phòng

Ủy ban nhân dân

- Các sở đặc thù được tổ chức ở một số địa phương:

+ Sở Ngoại vụ được thành lập khi đáp ứng các tiêu chí sau:

♦ Có đường biên giới trên bộ và có cửa khẩu quốc tế hoặc quốc gia;

♦ Đối với những tỉnh không có đường biên giới, nhưng phải có đủ các điều kiện sau:

Có các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, Khu kinh tế

mở, Khu kinh tế cửa khẩu được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập;

Có khu du lịch quốc gia hoặc di sản văn hóa được UNESCO công nhận Những tỉnh không đủ tiêu chí thành lập Sở Ngoại vụ thì được thành lập Phòng Ngoại vụthuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Phòng Ngoại vụ chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bảo đảm cơ sở vật chất và hành chính quản trị cho hoạt động của Phòng Ngoại vụ

+ Ban dân tộc được thành lập ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khi

đảm bảo có 2 trong 3 tiêu chí sau:

Trang 20

♦ Có trên 20.000 (hai mươi nghìn) người dân tộc thiểu số sống tập trungthành cộng đồng làng, bản;

♦ Có trên 5.000 (năm nghìn) người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nướctập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển;

♦ Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh,quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu

số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại

Đối với những tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhưng chưa đáp ứngcác tiêu chí như trên thì thành lập Phòng Dân tộc (hoặc bố trí công chức) làm công tácdân tộc thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Phòng Dân tộc (hoặc công chức)làm công tác dân tộc chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Văn phòng

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đảm bảo cơ sở vật chất và hành chính quản trị cho hoạt độngcủa Phòng Dân tộc

+ Sở Quy hoạch - Kiến trúc: được thành lập ở thành phố Hà Nội và thành phố

Hồ Chí Minh

+ Cơ quan chuyên môn đặc thù khác: chỉ được tổ chức khi thật cần thiết, phù

hợp với đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng yêu cầu quản lý nhànước ở địa phương Căn cứ tiêu chí do Thủ tướng Chính phủ quy định, Ủy ban nhândân cấp tỉnh xây dựng đề án thành lập cơ quan chuyên môn đặc thù khác, trình Hộiđồng nhân dân cùng cấp quyết định Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liênquan xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ quy định lĩnh vực đặc thù, tiêu chí thành lập

cơ quan chuyên môn về một số lĩnh vực đặc thù khác

Các cơ quan: Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu công nghệ cao, Khu kinh

tế và Ban Quản lý có tên gọi khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Văn phòng ĐoànĐại biểu Quốc hội tỉnh, Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; các đơn vị sự nghiệpcông lập trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các tổ chức thuộc cơ quan Trung ươngđược tổ chức theo ngành dọc đặt tại địa phương không phải là cơ quan chuyên môn của

Ủy ban nhân dân tỉnh

Trang 21

1.1.2.2 Cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Điều 5, Nghị định 24 quy định cơ cấu tổ chức của sở bao gồm:

- Văn phòng;

- Thanh tra;

- Phòng chuyên môn, nghiệp vụ;

- Chi cục;

- Đơn vị sự nghiệp công lập

Không nhất thiết các sở đều có các tổ chức Thanh tra, Chi cục, Đơn vị sự nghiệpcông lập Riêng Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh có Cổng Thông tin điện tử

Các sở có người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu (gọi chung là giámđốc sở và phó giám đốc sở)

Số lượng phó giám đốc sở không quá 03 người; riêng số lượng Phó Giám đốccác sở thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Ủy ban nhân dân thành phố Hồ ChíMinh không quá 04 người

1.1.2.3 Vị trí, chức năng của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Khoản 1 và 2, Điều 9, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quyđịnh: “cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân được tổ chức ở cấp tỉnh là cơ quantham mưu giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về ngành, lĩnhvực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của

cơ quan nhà nước cấp trên Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu

sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân, đồng thờichịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vựccấp trên”

Như vậy, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh là cơ quan tham mưucho Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý Nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương, đồng thờithực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên ủy quyền, phân cấp

Do đó, vai trò của các cơ quan này rất quan trọng, điều đó cũng có nghĩa là công chức

Trang 22

của các cơ quan này cũng có vai trò rất quan trọng, năng lực công chức tốt góp phầngiúp cho việc tham mưu và thực hiện các chủ trương, quyết định được tốt hơn.

1.1.3 Công chức và vai trò của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

Căn cứ khoản 2, Điều 20, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quyđịnh cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và Nghị định số 06/2010/NĐ-

CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định những người là công chức, Thông tư số08/2011/TT-BNV ngày 02/6/2011 của Bội Nội vụ hướng dẫn thêm một số điều củaNghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ, thì công chức các cơ quanchuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh bao gồm:

Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủyban nhân dân tỉnh; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong các

tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ cấu tổ chức của cơ quanchuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh; người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lậpđược ngân sách nhà nước cấp kinh phí hoạt động thuộc cơ quan chuyên môn của Ủyban nhân dân tỉnh

Theo quy định này công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dântỉnh bao gồm:

Giám đốc sở, phó giám đốc sở, trưởng phòng, phó trưởng phòng, những người làm việc trong các phòng chuyên môn, nghiệp vụ của sở (đã được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước), người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc sở.

Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh có vai trò quan trọng nên côngchức của các cơ quan này cũng có vai trò quan trọng Họ là những người vừa tham giahoạch định vừa thực thi chính sách, quyết định của Nhà nước, là yếu tố quyết định sựthành bại của các chủ trương, chính sách, trình độ, năng lực, tinh thần trách nhiệm vàthái độ phục vụ nhân dân của họ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác, hoạt độngcủa các cơ quan này Điều đó cũng có nghĩa các cơ quan chuyên môn hoạt động có hiệuquả tức là thực hiện tốt chức năng tham mưu sẽ giúp cho Ủy ban nhân dân tỉnh điều

Trang 23

hành, quản lý tốt các hoạt động ở địa phương, qua đó góp phần vào sự phát triển chungcủa Tỉnh ngược lại các cơ quan này hoạt động không hiệu quả, sẽ kìm hãm, gây khókhăn cho sự phát triển của Tỉnh Do đó, công chức của các cơ quan này có vai trò vôcùng quan trọng, hoạt động thực thi công vụ của họ có vai trò quan trọng, quyết địnhđến chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước ở địa phương.

Tiêu chuẩn công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh gồm

có tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể đối với từng nhóm công chức Tiêu chuẩnchung là điều kiện cần thiết, bắt buộc đầu tiên đối với tất cả công chức bao gồm là côngdân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, đủ sức khỏe công tác, có trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ, tin học, ngoại ngữ Bên cạnh các tiêu chuẩn chung còn có tiêu chuẩn cụ thể, tiêuchuẩn này gắn với vị trí việc làm cụ thể mà công chức đảm nhận, chẳng hạn công chứcchuyên môn sở xây dựng phải có đại học chuyên ngành xây dựng hoặc kiến trúc, côngchức chuyên môn tư pháp phải có đại học chuyên ngành luật Trên thực tế việc banhành tiêu chuẩn cụ thể chưa làm được nhiều, chỉ một số bộ, ngành ban hành tiêu chuẩnnhư Bộ Giao thông Vận tải ban hành tiêu chuẩn của Giám đốc Sở Giao thông Vận tảitỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hay Bộ Nội vụ ban hành tiêu chuẩn công chứcngạch hành chính vẫn còn nhiều chức vụ hay công chức khác chưa có tiêu chuẩn cụthể

1.2 Bồi dưỡng công chức

1.2.1 Khái niệm bồi dưỡng công chức

Có nhiều khái niệm khác nhau như:

Theo quy định của Chính phủ thì bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nângcao kiến thức, kỹ năng làm việc [13]

Theo Trần Anh Tuấn và Nguyễn Hữu Hải thì bồi dưỡng là quá trình cập nhậtkiến thức và trang bị các kỹ năng cần thiết cho người lao động trong quá trình thực thicông vụ [37, tr.188]

Theo Hoàng Mạnh Đoàn thì bồi dưỡng là cập nhật, bổ túc thêm một số kiếnthức, kỹ năng cần thiết, nâng cao hiểu biết sau khi đã được đào tạo cơ bản, cung cấpthêm những kiến thức chuyên ngành, mang tính ứng dụng [22];

Trang 24

Từ những khái niệm trên cho ta thấy các tác giả tiếp cận theo cách khác nhaunên có các khái niệm khác nhau về bồi dưỡng nhưng đều có nhận định chung là bồidưỡng nhằm để bổ sung kiến thức, trang bị kỹ năng làm việc Do đó, trong luận văn nàytác giả thống nhất đưa ra khái niệm bồi dưỡng như sau:

Bồi dưỡng công chức là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc cho công chức.

Bồi dưỡng bao gồm: bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức; Bồi dưỡngtheo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý và Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyênngành

Nội dung bồi dưỡng gồm có Lý luận chính trị; Chuyên môn, nghiệp vụ; Kiếnthức pháp luật; kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành; Tin học,ngoại ngữ, tiếng dân tộc (bồi dưỡng ở trong nước) và Kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năngquản lý hành chính nhà nước và quản lý chuyên ngành; Kiến thức, kinh nghiệm hộinhập quốc tế (bồi dưỡng ở ngoài nước)

1.2.2 Vai trò của bồi dưỡng công chức

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ1 là một khâu của công tác cán bộ Đào tạo, bồi dưỡngcán bộ nói chung và bồi dưỡng công chức nói riêng có vị trí, vai trò rất quan trọng, giúpxây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

1.2.2.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Công tác cán bộ bao giờ cũng gắn liền với vị trí của đội ngũ cán bộ Cán bộ làmột trong những nhân tố quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại của cáchmạng Lênin đã chỉ rõ “Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyềnthống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chínhtrị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” [29,tr.473] Theo Lênin, muốn lật đổ chế độ Nga hoàng và giành chính quyền phải có độingũ “cán bộ chuyên nghiệp”

1 Cán bộ ở đây được hiểu một cách chung bao gồm cán bộ, công chức, viên chức; không phân biệt cán bộ và công chức

theo luật cán bộ, công chức

Trang 25

Lênin cho rằng, một trong ba kẻ thù chính đang đối diện với mỗi người, bất kểngười đó làm việc gì, ở cương vị nào đó là nạn mù chữ mà suy rộng ra đó là sự tụt hậu

về trí tuệ “Một người không biết chữ là người đứng ngoài chính trị” [28, tr.218] Vì thếngay từ những ngày đầu thành lập Đảng, Lênin đã rất coi trọng công tác cán bộ Ngườicho mở các trường, lớp đào tạo cán bộ và chính Người giảng bài ở các trường, lớp đó.Cách mạng Tháng mười Nga không thể thành công nếu không có đội ngũ cán bộ đượchuấn luyện và đào tạo như thế Khi có chính quyền lãnh đạo công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội, Lênin yêu cầu bộ máy của Đảng và Nhà nước phải thông thạo công việc

và có uy tín chuyên môn Người đã chỉ ra rằng “Muốn quản lý được thì cần phải amhiểu công việc” [28, tr.257], không thể quản lý được “Nếu không có được uy tín chuyênmôn, không có kiến thức đầy đủ, không tinh thông khoa học quản lý” [28, tr.257] Phântích tình hình nước Nga năm 1922 - 1923, Lênin nói:

Sức mạnh của chúng ta ở đâu và chúng ta thiếu cái gì? Chính quyền chúng ta cóđầy đủ, lực lượng kinh tế cơ bản chúng ta nắm trong tay Tất cả những xí nghiệp lớn cótính chất quyết định, những đường sắt đều nằm trong tay chúng ta Như vậy thì thiếucái gì? Rõ ràng cái còn thiếu chính là trình độ văn hóa của những người cộng sản Do

đó, việc xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa, chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở mộtnền học vấn hiện đại, nếu không có nền học vấn đó thì chủ nghĩa cộng sản vẫn chỉ làmột nguyện vọng mà thôi [30, tr.365]

Từ sự phân tích trên, Lênin tiến hành đánh giá, sắp xếp lại cán bộ; đào tạo, bồidưỡng cán bộ theo yêu cầu và đòi hỏi của nhiệm vụ mới Người đặt ra nhiệm vụ chocho những người cộng sản là phải làm phong phú đầu óc của mình bằng tất cả kiến thứccủa nhân loại Người kêu gọi: “Học, học nữa và học mãi” Qua thực tiễn, Người khẳngđịnh: “Nghiên cứu con người, tìm ra cán bộ có bản lĩnh, hiện nay đó là then chốt; nếukhông thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn” [29, tr.449]

Quan điểm của Chủ nghĩa Mac-Lênin rất coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vì nó góp phần tạo ra đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, có bản lĩnh để xây dựng được xã hội cộng sản chủ nghĩa.

I.2.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Trang 26

Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin

và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” Trênthực tế, từ lâu Đảng ta đã coi Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ namcho hành động của Đảng và toàn xã hội Song phải từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVII của Đảng, vị trí của Tư tưởng Hồ Chí Minh mới được khẳng định chính thức trongvăn kiện của Đảng Công tác cán bộ và cán bộ là một trong những nội dung quan trọngtrong Tư tưởng Hồ Chí Minh Vấn đề này được đề cập trong rất nhiều tác phẩm, bàinói, bài viết của Người Đó là một chỉnh thể thống nhất gồm ba nội dung lớn, gắn bóchặt chẽ với nhau:

+ Tư tưởng về đào tạo, bồi dưỡng các thế hệ cán bộ cho cách mạng

+ Về nội dung, yêu cầu của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cách mạng

+ Về vấn đề sử dụng đội ngũ cán bộ

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh thì cách mạng không phải là sự nghiệp củamột người hay một nhóm người mà là sự nghiệp của quần chúng Quần chúng nhân dânnếu được giác ngộ cách mạng thì sẽ làm nên sự nghiệp vĩ đại Để giác ngộ quần chúngcần phải có một đội ngũ cán bộ cách mạng được đào tạo, được rèn luyện Người khẳngđịnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều docán bộ tốt hay kém” [25, tr.40] Trong ngôn ngữ Hồ Chí Minh, khi đề cập đến nội dung

đào tạo cán bộ, chúng ta thường gặp các thuật ngữ “tài, đức; hồng, chuyên; có tài, có

đức”; đó chính là sự thống nhất giữa đạo đức và năng lực của người cán bộ mà biểu

hiện của nó là động cơ và hiệu quả Tài năng của người cán bộ phải được thể hiện tronghoạt động giúp ích cho xã hội, không có tài năng thì mọi nguyện vọng tốt đẹp sẽ khôngbao giờ trở thành hiện thực Muốn có tài, có đức theo Hồ Chí Minh thì phải học tập và

tu dưỡng Người cho rằng nội dung chủ yếu trong chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ bao gồm:

Huấn luyện nghề nghiệp: làm việc gì học việc ấy

Huấn luyện chính trị: thời sự và chính sách Huấn

luyện văn hóa Huấn luyện lý luận

Trang 27

Trong nội dung đào tạo, Hồ Chí Minh đặt rất cao vị trí của việc học tập Chủnghĩa Mác - Lênin; theo Người, cái cốt lõi nhất trong nội dung đào tạo cán bộ là: “Học

để củng cố đạo đức cách mạng, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị mới làm tốtđược công tác Đảng giao phó cho mình”; nói chuyện tại Trường Nguyễn Ái Quốc tháng9/1949, Người nói: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ” Đề cập đến vấn đề sửdụng cán bộ, Hồ Chí Minh nhấn mạnh dùng cán bộ phải xuất phát từ lợi ích của cáchmạng, lợi ích của Đảng, của Nhà nước; Người căn dặn chúng ta khi sử dụng cán bộphải: “ Hiểu cán bộ Khéo dùng cán bộ Cất nhắc cán bộ Thương yêu cán bộ Phê bìnhcán bộ” [26, tr.277] Người nhấn mạnh một chính sách tốt đẹp nhưng nếu nó khôngđược thực hiện nghiêm túc thì cũng chẳng có ý nghĩa gì; Người đòi hỏi những ngườilàm công tác cán bộ phải thật khách quan, công minh, không thiên vị, Người chỉ rõ:

Bất kỳ ai có khả năng, đủ tiêu chuẩn, cần cho nhu cầu của cách mạng là phảidùng Những cán bộ được lựa chọn để sử dụng phải đạt những tiêu chuẩn sau đây:Trung thành và hăng hái trong công việc; liên hệ mật thiết với quần chúng, vì lợi íchcủa dân chúng; có thể phụ trách giải quyết công việc trong những hoàn cảnh gặp khókhăn; luôn giữ đúng kỷ luật Đảng ta là đảng của giai cấp, đồng thời là của cả dân tộc,không thiên tư, thiên vị Đảng không lo riêng cho một đồng chí nào hết Đảng lo việc cảnước Đó là chính sách cán bộ [27, tr.466-467]

Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ quan điểm: Sự tồn tại của các thế hệ đều có giới hạnnhất định nhưng sự nghiệp của các thế hệ trước sẽ được sống mãi bằng sự kế tục vàphát triển của thế hệ sau Người nhắc nhở chúng ta “Vì lợi ích trăm năm phải trồngngười”; trong Di chúc của mình, Người căn dặn “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đờisau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” Tu tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ vàcông tác cán bộ đến hôm nay vẫn vẹn nguyên giá trị, vẫn mang hơi thở của cuộc sống

và là điều buộc mỗi cán bộ, đảng viên phải suy ngẫm nghiêm túc để tự soi rọi lại bảnthân khi thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm guơng đạo đức, phong cách

Hồ Chí Minh cũng nhu trong công tác, sinh hoạt thuờng ngày

Trang 28

Tư tưởng Hồ Chí Minh rất đề cao công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Người cho rằng đó là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết để tạo ra được đội ngũ cán

bộ có khả năng giác ngộ quần chúng.

I.2.2.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Đảng ta nhận thức sâu sắc rằng, mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ cách mạng cần cómột đội ngũ cán bộ thích ứng, có phẩm chất, năng lực, đáp ứng đuợc sự đòi hỏi củanhiệm vụ trong từng giai đoạn, từng thời kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV củaĐảng, đại hội đầu tiên sau ngày thống nhất đất nuớc đã chỉ rõ: “Xây dựng và chỉ đạothực hiện tốt quy hoạch cán bộ là một biện pháp đặc biệt trọng yếu có tính quyết định

để tăng cuờng công tác cán bộ về mọi mặt” [15, tr.169] và “Chất luợng nguời cán bộ là

sự thống nhất giữa phẩm chất chính trị và năng lực công tác, thể hiện ở kết quả hoànthành nhiệm vụ Không thể tách rời và đối lập yêu cầu về phẩm chất chính trị với yêucầu về năng lực công tác, vì thiếu một mặt nào cũng là không đủ tiêu chuẩn nguời cán

bộ của Đảng và Nhà nuớc” [15, tr.196] Trên cơ sở tu tuởng chỉ đạo này, Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đề ra nhiệm vụ: “Muốn có đủ cán bộ có chất luợng

để chủ động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thì vấn đề cơ bản là phải có quy hoạch cán bộ,trên cơ sở đó có kế hoạch đào tạo, bồi duỡng cán bộ theo yêu cầu truớc mắt và lâu dài.Coi đây là khâu trung tâm của toàn bộ công tác cán bộ” [16, tr.114] Từ Đại hội đại biểulần thứ VI, Đảng đã đề ra chủ truơng đổi mới tu duy, đổi mới cán bộ, đổi mới phongcách công tác Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, Ban chấp hành Trung uơng khóa VII chỉ

rõ, trong công cuộc đổi mới đất nuớc cán bộ có vai trò cực kỳ quan trọng, hoặc thúc đẩyhoặc kìm hãm quá trình đổi mới Trong xây dựng Đảng, cán bộ và công tác cán bộ làkhâu then chốt, là việc cấp bách cần phải làm ngay Hội nghị lần thứ 3, Ban chấp hànhTrung ương khóa VIII khẳng định: “Phải lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị làmthước đo phẩm chất và năng lực, lấy nhu cầu nhiệm vụ làm căn cứ để bố trí cán bộ” [18,tr.77]

Kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ rõ độ chính xác của đường lối, chính sách đều tùythuộc cuối cùng ở chất lượng cán bộ Chính vì thế, Đảng ta luôn chú trọng đến công tác

Trang 29

cán bộ, xem đây là khâu then chốt trong toàn bộ hoạt động của Đảng, là nguyên nhâncủa những nguyên nhân Khi khởi xướng và lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới,Đảng ta đồng thời đặt ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp mới cho công tác xây dựng Đảngnói chung và công tác cán bộ nói riêng Đại hội đại biểu lần thứ VIII của Đảng nhấnmạnh: Tình hình và nhiệm vụ mới đòi hỏi toàn Đảng phải chăm lo xây dựng đội ngũcán bộ, chú trọng đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, chuẩn bị tốt đội ngũ cán bộ kế cận;sớm xây dựng cho được một chiến lược cán bộ của thời kỳ mới Tổng kết một số vấn đề

lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006) Đảng đề ra nhiệm vụ “Chấn chỉnh

tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, làm cho Đảng có đủ bản lĩnh chính trị, có kiến thức,năng lực và sức chiến đấu cao trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hộinhập, môi trường quốc tế rất phức tạp, có nhiều nguy cơ và thách thức mới” [2, tr.167].Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định:

Mục tiêu chung là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, cóđạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, kiên quyết đấutranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thứcchuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hoá; có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức, kỷ luật cao và phong cách làmviệc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịutrách nhiệm Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển, có số lượng và

và phát triển; giữa sự quản lý thống nhất của Đảng với phát huy đầy đủ trách nhiệm củacác cơ quan trong hệ thống chính trị; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể;

Trang 30

giữa phân cấp, phân quyền và kiểm tra, giám sát, kiểm soát để thực hiện thống nhất,đồng bộ trong Đảng và hệ thống chính trị [6, tr.140-141].

Có thể khẳng định, quan điểm của Đảng về cán bộ và công tác cán bộ là nhấtquán, xuyên suốt và ngày càng hoàn thiện hơn để đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc trong mọi tình huống, mọi giai đoạn của cách mạng Các quan điểm đó củaĐảng đã được cụ thể hóa thành Luật cán bộ, công chức và được Quốc hội khóa XIIthông qua ngày 13/11/2008 tại kỳ họp thứ 4; Chủ tịch nước công bố ngày 28/11/2008.Mỗi tổ chức đảng, mỗi tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, đảngviên nếu không nắm vững quan điểm chỉ đạo này thì không thể đảm đương và hoànthành nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó Vì vậy, đổi mới công tác cán bộ và độingũ cán bộ, kiện toàn tổ chức bộ máy của các cơ quan trong toàn hệ thống chính trịđang là yêu cầu bức bách, là mắt xích quan trọng nhất mà Đảng yêu cầu các cấp ủyĐảng phải nắm chắc, thực hiện có hiệu quả trong thời gian sớm nhất để thúc đẩy côngcuộc đổi mới toàn diện đất nước tiến lên Đổi mới cán bộ phải bắt đầu từ đổi mới tư duy

về công tác cán bộ xem đây là vấn cốt lõi; là chìa khóa cho phép sử dụng một cách cóhiệu quả nhất các tiềm năng, khả năng to lớn về kinh tế - xã hội và chỉ có làm tốt côngtác này thì phẩm chất và năng lực của cán bộ mới trở thành lực lượng vật chất Ý thứcđược trách nhiệm, vị trí của một Đảng cầm quyền đối với sự tồn vong của chế độ, củadân tộc; ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã xác định và kiên trì thực hiện chủ trươngxây dựng tổ chức Đảng luôn trong sạch vững mạnh; đây là một chủ trương đúng đắn, cótính chiến lược Do đó, việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nói chung và bồi dưỡngcông chức nói riêng trong tình hình hiện nay lại càng quan trọng và là bức thiết trongviệc thực hiện chủ trương của Đảng, vì đội ngũ này là những người trực tiếp tham mưu,tham gia hoạch định các chính sách cũng như thực hiện các quyết định, chủ trương củaĐảng và Nhà nước Vai trò của đội ngũ này rất quan trọng, đòi hỏi năng lực của họ phảikhông ngừng được nâng cao, phải được thường xuyên quan tâm bồi dưỡng, rèn luyện;nếu không như thế năng lực của họ sẽ kém dần đi dẫn đến việc ban hành các chính sách

xa rời thực tế, không được lòng dân, không thể đi vào đời sống Điều này ảnh hưởngrất lớn đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, đến sự tồn vong của

Trang 31

đất nước Đảng ta khẳng định “nâng cao chất lượng công tác đào tạo, đào tạo lại và bồidưỡng cán bộ, công chức theo quy hoạch, theo tiêu chuẩn chức danh cán bộ, coi đây làgiải pháp quan trọng hàng đầu trong thực hiện chiến lược cán bộ trong giai đoạn mới”[20, tr.249-250] Như vậy, để nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức ngang tầmvới giai đoạn mới phải coi việc đào tạo, bồi dưỡng công chức là một nhiệm vụ quantrọng, giải pháp hàng đầu trong thực hiện chiến lược cán bộ Đào tạo, bồi dưỡng gópphần nâng cao năng lực cho công chức thông qua việc trang bị kiến thức, kỹ năng,phương pháp thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Đào tạo, bồi dưỡng công chức còn gópphần xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp có đủ kỹ năng xây dựng nền hànhchính tiên tiến, hiện đại Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu trong thực hiện chiệnlược cán bộ trong giai đoạn mới.

Tóm lại, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung và bồi dưỡng công chức nói riêng

có vai trò rất quan trọng và rất cần thiết, là giải pháp quan trọng hàng đầu trong thực hiện chiến lược cán bộ trong giai đoạn mới, nhằm tạo ra được đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp có khả năng giác ngộ quần chúng, có bản lĩnh để xây dựng được chủ nghĩa xã hội.

1.2.3 Quản lý nhà nước về bồi dưỡng công chức

Điều 48, Luật cán bộ công chức năm 2008 quy định trách nhiệm của cơ quan,đơn vị trong đào tạo, bồi dưỡng công chức, theo đó:

Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức có trách nhiệm xây dựng và công

khai quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn và nâng cao năng lực, trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức

Cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng công chức có trách nhiệm tạo điều kiện để

công chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ của công chức

Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng công chức do ngân sách nhà nước cấp và các nguồn

thu khác theo quy định của pháp luật

Bên cạnh đó, tại điều 25 đến điều 29 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày05/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức thì cơ quan quản lý nhà

Trang 32

nước về bồi dưỡng bao gồm Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy bannhân dân cấp tỉnh và đơn vị sử dụng công chức, theo đó:

Bộ Nội vụ có nhiệm vụ và quyền hạn: Xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban

hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật, chế độ, chínhsách về đào tạo, bồi dưỡng công chức; Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đàotạo, bồi dưỡng công chức trình cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc ban hành theo thẩmquyền; tổ chức, hướng dẫn thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồidưỡng sau khi được ban hành; theo dõi, tổng hợp kết quả đào tạo, bồi dưỡng công chứccủa các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương; Xây dựng kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng công chức ởngoài nước theo thẩm quyền; Tổng hợp nhu cầu, đề xuất kinh phí đào tạo, bồi dưỡnghàng năm, trung hạn, dài hạn; hướng dẫn các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộcChính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện sau khiđược Chính phủ phê duyệt; Quản lý chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch côngchức, chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; Quyđịnh tiêu chuẩn cơ sở đào tạo, bồi dưỡng; Thanh tra, kiểm tra hoạt động đào tạo, bồidưỡng công chức; Tổ chức các hoạt động thi đua, khen thưởng trong đào tạo, bồi dưỡngcông chức; Hướng dẫn việc tổ chức bồi dưỡng công chức ở ngoài nước bằng nguồnngân sách nhà nước

Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có nhiệm vụ và quyền hạn:

Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ côngchức thuộc phạm vi quản lý; Tổ chức thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng theo quyđịnh; báo cáo kết quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức hàng năm để Bộ Nội vụtheo dõi, tổng hợp; Cử công chức đi đào tạo, bồi dưỡng theo thẩm quyền; Tổ chức cáckhoá bồi dưỡng công chức ở ngoài nước; Tổ chức quản lý và biên soạn các chươngtrình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng công chức thuộc phạm vi trách nhiệm được giao; Quản

lý cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và đội ngũ giảng viên trong phạm vi thẩm quyền; Thanh tra,kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng trong phạm vi thẩmquyền

Trang 33

Bộ Tài chính có nhiệm vụ và quyền hạn: Cân đối, bố trí kinh phí đào tạo, bồi

dưỡng hàng năm, trung hạn, dài hạn, trong nước và ở ngoài nước trình cấp có thẩmquyền phê duyệt; Hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng kinh phí đào tạo, bồidưỡng

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ và quyền hạn: Xây dựng, ban hành chế độ khuyến khích công chức không ngừng học tập nâng

cao trình độ, năng lực công tác; bố trí kinh phí bảo đảm hoạt động đào tạo, bồi dưỡng;Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thuộcphạm vi quản lý; Tổ chức thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng theo quy định; báo cáokết quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức hàng năm để Bộ Nội vụ theo dõi, tổnghợp; Tổ chức quản lý và biên soạn chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng trong phạm

vi trách nhiệm được giao; Quản lý cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và đội ngũ giảng viên trongphạm vi thẩm quyền; Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách đào tạo, bồidưỡng trong phạm vi thẩm quyền

Đơn vị sử dụng công chức có trách nhiệm: Thực hiện chế độ hướng dẫn tập sự;

Đề xuất việc biên soạn và lựa chọn chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với vị tríviệc làm của công chức; Tạo điều kiện để công chức thực hiện chế độ đào tạo, bồidưỡng theo quy định

Ngoài ra, Bộ Nội vụ cũng đã ban hành Thông tư số 03/2011/TT-BNV ngày25/01/2011 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày05/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức ở nước ngoài bằng nguồnngân sách nhà nước, theo đó Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ươngthực hiện quản lý nhà nước trên cơ sở:

Xây dựng và phê duyệt kế hoạch bồi dưỡng công chức ở nước ngoài; Xây dựngnội dung, chương trình chi tiết của khóa bồi dưỡng khi kế hoạch được phê duyệt; Xâydựng và ký hợp đồng với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nước ngoài Hợp đồng bồidưỡng phải nêu rõ những cam kết của hai bên về hình thức, thời gian, nội dung, chươngtrình, kinh phí, điều kiện sinh hoạt, học tập và những nội dung khác liên quan; Quyếtđịnh thành lập đoàn và cử trưởng đoàn đi bồi dưỡng ở nước ngoài Thẩm quyền quyết

Trang 34

định cử công chức đi bồi dưỡng ở nước ngoài thực hiện theo quy định tại Điều 32 Nghịđịnh số 136/2007/NĐ-CP.

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng công chức

1.2.4.1 Về tiêu chuẩn cán bộ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Từ Đại hội đại biểu lần thứ VI, Đảng đã đề ra chủ trương đổi mới tư duy, đổimới cán bộ, đổi mới phong cách công tác Kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ rõ độ chính xáccủa đường lối, chính sách đều tùy thuộc cuối cùng ở chất lượng cán bộ Chính vì thế,Đảng ta luôn chú trọng đến công tác cán bộ, xem đây là khâu then chốt trong toàn bộhoạt động của Đảng, là nguyên nhân của những nguyên nhân Khi khởi xướng và lãnhđạo thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta đồng thời đặt ra nhiều nhiệm vụ, giải phápmới cho công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác cán bộ nói riêng Đại hội đạibiểu lần thứ VIII của Đảng nêu yêu cầu: “Quy định các chế độ đào tạo, tuyển dụng, sửdụng công chức Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước vừa có trình độ chuyênmôn và kỹ năng nghề nghiệp cao vừa giác ngộ về chính trị, có tinh thần trách nhiệm,tận tụy, công tâm, vừa có đạo đức liêm khiết khi thi hành công vụ” [17, tr.132]

Toàn Đảng phải hết sức chăm lo xây dựng thật tốt đội ngũ cán bộ, chú trọng độingũ cán bộ kế cận vững vàng, đủ bản lĩnh về các mặt Trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn,thực hiện trẻ hóa đội ngũ cán bộ đồng thời kết hợp tốt các độ tuổi, bảo đảm tính liêntục, tính phát triển trong đội ngũ cán bộ Có chính sách đoàn kết, tập hợp rộng rãi cácloại cán bộ, trọng dụng nhân tài của đất nước, trong Đảng và ngoài Đảng Đào tạo, bồidưỡng cán bộ toàn diện cả về lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn

và năng lực thực tiễn Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cácnhà doanh nghiệp và các chuyên gia, trước hết là đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệthống chính trị; coi trọng cả đức và tài, đức là gốc Việc học tập của cán bộ phải đượcquy định thành chế độ và phải được thực hiện nghiêm ngặt Mọi cán bộ phải thườngxuyên nâng cao trình độ mọi mặt, rèn luyện, trau dồi phẩm chất chính trị, lòng trungthành với lý tưởng cách mạng, ý chí kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủnghĩa xã hội, ý thức tổ chức kỷ luật, gương mẫu trong đạo đức và lối sống, kết hợp hài

Trang 35

hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung, khi lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi íchchung phải biết đặt lợi ích chung lên trên hết, trước hết [17, tr.145-146].

“Học tập là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi cán bộ, đảng viên và phải được quyđịnh thành chế độ Lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận nhữngthông tin mới, những hiểu biết mới, cũng là biểu hiện của sự suy thoái” [17, tr.141] Đạihội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định “Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng

bộ, có cơ cấu hợp lý, chất lượng tốt, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế tiếp vững vàng

Có cơ chế, chính sách bảo đảm phát hiện, đánh giá, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng,trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài, dù là đảng viên hay người ngoàiĐảng ” [19, tr.51] Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng một lần nữa nhấnmạnh: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủnăng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ Có cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút,trọng dụng nhân tài” [21, tr.207]

Hướng dẫn số 15-HD/BTCTW ngày 05/11/2012 của Ban Tổ chức Trung ương

về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) và Kết luận số 24-KL/TW ngày05/6/2012 của Bộ Chính trị (khóa XI) nêu rõ “Căn cứ để lựa chọn, giới thiệu cán bộ vàoquy hoạch là tiêu chuẩn chức danh cán bộ, bao gồm tiêu chuẩn chung của cán bộ nêutrong Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) và tiêu chuẩn cụ thể của từng chức danhcán bộ theo các nội dung cơ bản sau:

42 Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống: nhận thức, tư tưởng chính trị; việc chấp

hành chủ trương, đường lối, quy chế, quy định của Đảng, chính sách pháp luật của Nhànước; việc giữ gìn đạo đức, lối sống, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểuhiện tiêu cực khác; tinh thần tự học tập nâng cao trình độ; tính trung thực, công bằng,khách quan, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm trong công tác; việc chấp hànhchính sách, pháp luật của vợ, chồng, con; mối quan hệ với nhân dân

- Năng lực thực tiễn: thể hiện ở kết quả, hiệu quả công tác; mức độ hoàn thành

chức trách, nhiệm vụ được giao; khả năng đoàn kết, tập hợp, quy tụ cán bộ; năng lực

Trang 36

điều hành, tổ chức thực hiện; khả năng dự báo tình hình, xử lý những tình huống phứctạp phát sinh trong ngành, lĩnh vực, địa phương công tác.

- Uy tín: thể hiện thông qua việc lấy phiếu tín nhiệm hàng năm và kết quả đáng

giá cán bộ

- Sức khỏe: bảo đảm sức khỏe để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của chức

danh quy hoạch

- Chiều hướng, triển vọng phát triển: khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ khi

được bố trí vào chức vụ cao hơn

Riêng đối với cán bộ, công chức đang đảm nhiệm hoặc được quy hoạch để đảmnhiệm các chức danh chủ chốt có cơ cấu cấp ủy được Bộ Chính trị quy định rõ trongChỉ thị số 36-CT/TW ngày 30/5/2014 về Đại hội Đảng các cấp tiến tới đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ XII của Đảng là phải đảm bảo tiêu chuẩn chung của cán bộ theo Nghịquyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đồng thời nhấn mạnh các tiêu chuẩn sau:

- Tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng, có tinhthần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc vàchủ nghĩa xã hội; phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách vàpháp luật của Nhà nước

- Cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư Không tham nhũng và kiên quyết đấutranh chống tham nhũng Có ý thức tổ chức kỷ luật Trung thực, không cơ hội; gắn bómật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm

- Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng,chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên môn, đủ năng lực vàsức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao

- Trong đó nhấn mạnh tiêu chuẩn về lập trường tư tưởng chính trị; năng lực thựctiễn thể hiện bằng hiệu quả công việc; uy tín trong Đảng, trong nhân dân; tư duy đổimới, sáng tạo, khả năng tiếp cận, nắm bắt, xử lý có hiệu quả những vấn đề mới phátsinh; đoàn kết, quy tụ đội ngũ cán bộ; phong cách công tác khoa học, dân chủ, sâu sát,dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; minh bạch, công tâm, khách quan trong

Trang 37

công tác cán bộ; khả năng phát hiện và sử dụng nguời có đức, có tài; không tham ô,tham nhũng; có thái độ kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện tham ô, tham nhũng, tiêucực và phản bác các luận điệu xuyên tạc, phản động, trái với Cuơng lĩnh, Điều lệ Đảng,Hiến pháp và pháp luật của Nhà nuớc Có thái độ nghiêm túc khắc phục, sửa chữa kịpthời những tồn tại, yếu kém và khuyết điểm sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình theotinh thần Nghị quyết Trung uơng 4 khóa XI Lãnh đạo chủ chốt của cấp ủy phải thực sựtiêu biểu về trí tuệ, đạo đức, uy tín, năng lực thực tiễn và sự cống hiến, đuợc cán bộ,đảng viên và nhân dân tín nhiệm; nói chung phải kinh qua lãnh đạo chủ chốt của cấp ủycấp duới Trung uơng cũng chỉ đạo dứt khoát: Không cơ cấu vào cấp ủy những đồng chíkhông guơng mẫu thực hiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nuớc hoặc viphạm những điều đảng viên, cán bộ, công chức không đuợc làm.

Bình Duơng đã chấp hành nghiêm túc và triển khai thực hiện đúng thời gian,đúng nội dung các quy định của Trung uơng về cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ, không viện

lý do “đặc thù hay yêu cầu của địa phương” tự đặt thêm hoặc bỏ bớt bất kỳ tiêu chí nào.

Trên cơ sở các tiêu chuẩn Trung uơng quy định cho từng nhóm đối tuợng cán bộ (cán

bộ công tác đảng - đoàn thể, cán bộ quản lý Nhà nuớc, cán bộ trong doanh nghiệp ),Bình Duơng đã và đang tiếp tục điều chỉnh quy hoạch; rà soát, đối chiếu lại để xâydựng kế hoạch đào tạo, bồi duỡng cán bộ cơ bản đạt chuẩn, từng buớc nâng cao chấtluợng nguồn nhân lực của địa phuơng

I.2.4.2 Về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII và Nghịquyết đại hội đại biểu lần thứ X của Tỉnh đảng bộ, Bình Duơng đã và đang ra sức nângcao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng về mọi mặt, đặc biệt là đổi mới đội ngũcán bộ; sắp xếp, cơ cấu lại để kiện toàn tổ chức bộ máy của các cơ quan trong hệ thốngchính trị của tỉnh

Mục tiêu tổng quát đến năm 2020 là:

Tập trung nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng quy mô nền kinh tế, đảm bảophát triển bền vững và tăng trưởng hợp lý Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng ưu tiên phát triển dịch vụ - công nghiệp gắn với quá trình đô thị hóa, đầu tư phát

Trang 38

triển nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao Giải quyết tốt các vấn đề xã hội;nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của người dân Đảm bảo an ninh chínhtrị, trật tự an toàn xã hội Xây dựng Bình Dương trở thành đô thị văn minh, giàu đẹp,thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2020” [14, tr.90-91]

Trên cơ sở mục tiêu tổng quát đã nêu trên, Bình Dương tiếp tục thực hiện một sốchương trình đột phá là:

- Tập trung phát triển các ngành dịch vụ chất lượng cao có hàm lượng tri thức,công nghệ và giá trị gia tăng cao gắn với phát triển công nghiệp, đô thị theo hướng vănminh, hiện đại

- Huy động các nguồn lực từ các thành phần kinh tế, tiếp tục đầu tư phát triểnđồng bộ, hiện đại kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh nhất là các công trình mangtính động lực Gắn kết và khai thác tối đa lợi thế từ hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội củaVùng kinh tế trọng điểm phía Nam

- Tập trung đầu tư xây dựng khu đô thị mới gắn với nâng cấp, chỉnh trang Thànhphố Thủ Dầu Một và các đô thị vệ tinh Thuận An, Bến Cát, Tân Uyên theo hướng vănminh, sạch, đẹp và nâng cao chất lượng sống của nhân dân

- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý,cán bộ khoa học kỹ thuật và đội ngũ công nhân lao động, đáp ứng yêu cầu phát triểncủa tỉnh trong giai đoạn mới

Phấn đấu đến năm 2020 đạt các chỉ tiêu cơ bản sau [14, tr.207-210]:

về kinh tế: Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) tăng bình quân 8,3%/năm (tương

ứng GDP là 13,3%) Cơ cấu kinh tế (GRDP): công nghiệp dịch vụ nông nghiệp thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tương ứng đạt 63,2% - 26% - 3% - 7,8% Chỉ sốsản xuất công nghiệp (IIP) tăng bình quân 8,7%/năm GRDP bình quân đầu người đạt142,6 triệu đồng vào năm 2020 Thu ngân sách tăng 8,9%/năm (Dự kiến đến năm 2020thu ngân sách đạt 52.000 tỷ đồng và chi ngân sách đạt 19.000 tỷ đồng) Tăng giá trịtuyệt đối xuất khẩu vào năm 2020 lên 42 tỷ USD, duy trì xuất siêu 9, 68 tỷ USD; bìnhquân 1% tăng trưởng xuất khẩu đạt 281 triệu USD cao hơn bình quân 1% tăng trưởng

Trang 39

-nhập khẩu là 217 triệu USD.Tổng vốn đầu tu toàn xã hội chiếm 35% GRDP Tỷ lệ đôthị hóa đạt 82% Thu hút đầu tu nuớc ngoài đạt trên 7 tỷ USD.

về xã hội: Tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 70 - 75% Tỷ lệ bác sĩ/ vạn dân đạt

7,5 vào cuối năm 2020 Số guờng bệnh/vạn dân đạt 27 giuờng (không tính tuyến xã).Hàng năm giải quyết việc làm cho 45.000 lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo là 80.000nguời Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới giảm hàng năm, đến năm 2020 cơ bản xóa hộnghèo Diện tích nhà ở bình quân đạt 30m2/nguời, tỷ lệ hộ dân sử dụng điện luới quốcgia đạt 99,97% 100% xã đạt tiêu chí nông thôn mới

Về môi trường: 100% chất thải rắn y tế đuợc thu gom và xử lý; 100% dân số

nông thôn sử dụng nuớc hợp vệ sinh và 100% dân số thành thị sử dụng nuớc sạch; tỷ lệ

độ che phủ rừng, cây lâm nghiệp, cây công nghiệp lâu năm đạt 57,5%

về công tác xây dựng Đảng: Tăng cuờng xây dựng cơ sở đảng trong sạch, vững

mạnh; 85% đảng viên trở lên hoàn thành tốt nhiệm vụ

Với những mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội nêu trên, Bình Duơng cần cómột đội ngũ cán bộ đuợc đào tạo, bồi duỡng một cách bài bản, toàn diện để đủ sức thammuu và lãnh đạo nhân dân hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu do Trung uơng giao cũngnhu các chỉ tiêu mà Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh lần thứ X đề ra

I.2.4.3 Yêu cầu cải cách hành chính

Ở Bình Duơng cải cách hành chính nói chung, cải cách thủ tục hành chính nóiriêng đã, đang và sẽ luôn luôn là yêu cầu bức thiết mang tính “sống còn” đối với hoạtđộng của tất cả các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị Tuy là tỉnh nằm trongvùng kinh tế trọng điểm phía Nam và là địa phuơng đuợc đánh giá rất tự chủ, năngđộng, sáng tạo trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị đuợc giao nhung tổ chức bộmáy của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh vẫn còn tình trạng cồngkềnh, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ Tình trạng “thoát ly thực tế” do chỉ giảiquyết công việc trong phòng làm việc; nghe thông tin một chiều và quá tin vào các báocáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân cấp duới; bệnh thành tích tuơng đối nặng nề; khôngsát cơ sở và ít tiếp xúc với nhân dân, với doanh nghiệp dẫn đến giải quyết một số vấn

đề, vụ việc không đúng với chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước;

Trang 40

cá biệt có trường hợp chính cách làm, cách xử sự như trên của cán bộ, công chức lànguyên nhân chính gây ra việc khiếu nại, tố cáo vượt cấp, kéo dài nhiều năm liên tục,gây bất bình trong nhân dân và xã hội Cũng do cách giải quyết công việc không sátthực tế, làm cho công chức chậm hoặc không nhìn ra những yếu kém, hạn chế về trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ; về tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân củamình nên không chủ động đề ra hướng khắc phục nhanh nhất, hiệu quả nhất Thấy rõnhững yếu kém này, các cấp chính quyền trong tỉnh đã có nhiều cố gắng nhằm kiệntoàn tổ chức bộ máy; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng công chức để nâng cao năng lực, hiệulực, hiệu quả quản lý điều hành, tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc, có bước độtphá trong cải cách hành chính được nhân dân và các doanh nghiệp ủng hộ Trên cơ sởmục tiêu của Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương (khóa X) về đẩymạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước,tỉnh Bình Dương xác định mục tiêu chung trong giai đoạn 2016-2020 là:

Kiện toàn tổ chức bộ máy chính quyền các cấp; chú trọng phân công, phân cấpgắn với cải cách hành chính Trong đó, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, vận hành

có hiệu quả khu hành chính mở để giải quyết thủ tục hành chính cho người dân vàdoanh nghiệp một cách thuận tiện, nhanh chóng, góp phần cải thiện môi trường đầu tư,nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh” [14, tr.159]

Từ mục tiêu trên, tỉnh đã xây dựng trung tâm hành chính tập trung tại khu đô thịmới; kiện toàn tổ chức bộ máy và từng bước nâng cao chất lượng công chức làm việctại bộ phận một cửa theo chủ trương cải cách hành chính của tỉnh Cử nhiều đoàn cán

bộ do các đồng chí lãnh đạo chủ chốt dẫn đầu tham quan, học tập, rút kinh nghiệm cáchlàm hay trong cải cách hành chính của các địa phương khác trong nước; đồng thời,thông qua làm việc với các đối tác nước ngoài đang đầu tư dự án và hợp tác về kinh tế -văn hóa - xã hội trên địa bàn để nghiên cứu, học tập, điều chỉnh các thủ tục hành chínhphù hợp hơn tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nước ngoài vàtrong nước khi đến làm ăn, học tập, sinh sống tại Bình Dương Qua nhiều lần khảo sát

và thăm dò ý kiến, đa số nhân dân và các tổ chức, cá nhân cả trong và ngoài tỉnh đều hàilòng với thái độ, tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ của công chức, đặc biệt là việc

Ngày đăng: 09/06/2018, 13:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXII của Đảng, Nxb.Chính trị quốc gia-sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứXII của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia-sự thật
Năm: 2016
7. Bộ Chính trị khóa XI (2012), Kết luận số 24-KL/TW ngày 5/6/2012 về đẩymạnh công tác quy hoạch và luân chuyên cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm tiếp theo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính trị khóa XI (2012), Kết luận số 24-KL/TW ngày 5/6/2012 về đẩy
Tác giả: Bộ Chính trị khóa XI
Năm: 2012
10. Bội Nội vụ (2011), Thông tư số 08/2011/TT-BNV ngày 02/6/2011 hướngdẫn thêm một số điều của Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bội Nội vụ (2011), Thông tư số 08/2011/TT-BNV ngày 02/6/2011 hướng
Tác giả: Bội Nội vụ
Năm: 2011
13. Chính phủ (2014), Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của quyđịnh tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2014), Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của quy
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
14. Đảng bộ tỉnh Bình Dương (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnhBình Dương lần thứ X nhiệm kỳ 2015 - 2020, Công ty CP in Khuyến học phía Nam, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ tỉnh Bình Dương (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh"Bình Dương lần thứ X nhiệm kỳ 2015 - 2020
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Bình Dương
Năm: 2015
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, tập 3, Nxb.Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ V của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Sự thật
Năm: 1982
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VIII của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban chấphành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 1997
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ X của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương khóa X, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ 9 Ban chấphành Trung ương khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 2009
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb.Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2016
22. Hoàng Mạnh Đoàn (2009), về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nghiệp vụ tổ chức, Tạp chí xây dựng Đảng (số 11/2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí xây dựng Đảng
Tác giả: Hoàng Mạnh Đoàn
Năm: 2009
24. Bùi Huy Khiên, Nguyễn Thị Vân Hương (2013), Quản lý công (sách chuyên khảo), Nxb.Chính trị hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý công
Tác giả: Bùi Huy Khiên, Nguyễn Thị Vân Hương
Nhà XB: Nxb.Chính trị hành chính
Năm: 2013
32. Quốc hội khóa XIII (2015), Luật tổ chức chính quyền địa phương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức chính quyền địa phương
Tác giả: Quốc hội khóa XIII
Năm: 2015
36. Tỉnh ủy Bình Dương (2011), Chương trình số 20-CTHĐ/TU ngày 20/7/2011 của về “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011 - 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉnh ủy Bình Dương (2011), Chương trình số 20-CTHĐ/TU ngày 20/7/2011của về “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bình Dương giai đoạn2011 - 2015
Tác giả: Tỉnh ủy Bình Dương
Năm: 2011
37. Trần Anh Tuấn, Nguyễn Hữu Hải (2015), Quản lý công (sách chuyên khảo), Nxb.Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý công
Tác giả: Trần Anh Tuấn, Nguyễn Hữu Hải
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2015
43. Website:http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/1010073/0/5551/Kinhnghiem_trong_dao_tao_boi_duong_cong_chuc_o_mot_so_nuoc44. Website:http://caicachcongvu.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/71/0/1010101/0/5250/ Link
2. Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (2005), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006), Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
3. Ban Tổ chức Tỉnh ủy (2016), Báo cáo số 31-BC/BTCTUngày 14/6/2016 tổng kết 05 năm công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ (năm 2011-2015) Khác
05/11/2012 về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w