1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện chính sách an sinh xã hội từ thực tiễn thành phố hội an, tỉnh quảng nam

99 175 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó cũng là một đòi hỏi khách quan của lịch sử; bởi vì thành tựu khoa học công nghệ đi vào sản xuất sẽ làm thay đổi về chất và lượng của sức sản xuất mới, tất yếu sẽ phân tầng xã hội

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THỊ NHƢ LAN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỘI AN,

TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THỊ NHƢ LAN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỘI AN,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ chính sách công “Thực hiện chính sách an sinh xã hội từ thực tiễn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học của bản thân Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố Các thông tin trích dẫn trong luận văn được chỉ rõ xuất xứ, nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố Tác giả xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình./

Học viên

Võ Thị Nhƣ Lan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Qua quá trình học tập và nghiên cứu, được sự hướng dẫn, giúp đỡ của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và người thân, luận văn thạc sĩ chính sách công với đề tài “Thực hiện chính sách an sinh xã hội từ thực tiễn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam” đã hoàn thành

Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành đến TS Nguyễn Đức Vinh

đã hướng dẫn tận tình, chu đáo, đầy trách nhiệm Sự giúp đỡ của thầy đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô giáo ở Học viện Khoa học xã hội đã tận tình truyền đạt các kiến thức bổ ích trong suốt khóa học

Tôi xin trân trọng cảm ơn các anh chị đang công tác ở Thành ủy, UBND thành phố, Phòng LĐ-TB&XH thành phố, các xã phường trên địa bàn thành phố đã cho phép và tạo điều kiện trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu; sự giúp đỡ, cung cấp dữ liệu của các tổ chức, cá nhân cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn

Luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, bản thân rất mong nhận được sự góp ý

Xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Võ Thị Nhƣ Lan

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 12

1.1 Một số khái niệm 12

1.2 Nhu cầu, đặc điểm của an sinh xã hội 16

1.3 Ý nghĩa tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách an sinh xã hội 17

1.4 Chu trình chính sách ASXH 18

1.5 Cấu thành hệ thống các chính sách ASXH 19

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách 20

1.7 Quan điểm, mục tiêu của Đảng và chính sách của Nhà nước về ASXH của Việt Nam 21

1.8 Chính sách về ASXH trên lĩnh vực giảm nghèo và bảo trợ xã hội ở Việt Nam 26

CHƯƠNG 2 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ HỘI AN 43

2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách ASXH tại thành phố Hội An 43

2.2 Quá trình thực hiện Chính sách ASXH ở thành phố Hội An 44

2.3 Đánh giá kết quả thực hiện chính sách ASXH ở thành phố Hội An 50

CHƯƠNG 3 DỰ BÁO TÌNH HÌNH VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC THI CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ HỘI AN TRONG THỜI GIAN ĐẾN 70

3.1 Dự báo những tác động ảnh hưởng đến thực hiện chính sách ASXH tại thành phố Hội An trong thời gian tới 70

3.2 Giải pháp chính sách giảm nghèo 73

3.3 Giải pháp chính sách bảo trợ xã hội 75

KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

LĐ-TB&XH : Lao động - Thương binh và Xã hội

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng1.1 Mô hình khái quát hệ thống ASXH do ESCAP của một số nước trên thế

giới 25

Bảng 1.2: Nội dung xác định nghèo đa chiều ở Việt Nam 30

Bảng 1.3: Hộ nghèo được nhận những hỗ trợ gì 32

Bảng 1.4: Chỉ tiêu cụ thể theo Nghị quyết số 31/NQ-HĐND tỉnh Quảng Nam 33

Bảng 1.5: Chỉ tiêu cụ thể theo Nghị quyết số 13/NQ-HĐND tỉnh Quảng Nam 34

Bảng 1.6: Chỉ tiêu cụ thể theo Quyết định 2511/QĐ-UBND tỉnh Quảng Nam 35

Bảng 1.7: Bảng trợ cấp và hệ số, mức quy định hiện hành 39

Bảng 2.1: Ví dụ điển hình về hộ nghèo thuộc chính sách BTXH(1) 51

Bảng 2.2: Kết quả miễn học phí cho học sinh nghèo của các năm 52

Bảng 2.3: Kết quả hỗ trợ thẻ BHYT cho đối tượng nghèo, cận nghèo hằng năm 52

Bảng 2.4: Kết quả giải ngân nguồn vốn vay hộ nghèo qua các năm 53

Bảng 2.5: Kết quả chi hỗ trợ tiền điện hộ nghèo các năm 54

Bảng 2.6: Trợ cấp khó khăn và trợ cấp dịp Tết cho hộ nghèo, cận nghèo (từ 2010 đến 2017) 54

Bảng 2.7: Tổng hợp số nhà tạm hộ nghèo được hỗ trợ từ năm 2010 đến 2017 55

Bảng 2.8: Bảng xếp hạng kết quả thực hiện mục tiêu giảm nghèo của tỉnh Quảng Nam cuối năm 2017 56

Bảng 2.9: Số đối tượng BTXH được cấp thẻ BHYT từ năm 2010-2017 60

Bảng 2.10: Kết quả phỏng vấn mức độ hài lòng của người dân về chính sách ASXH 65

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Phát triển ngành du lịch ở khu phố cổ phường Minh An 87 Hình 2.2: Hội nghị trao sinh kế và khen thưởng biểu dương hộ thoát nghèo của UBND thành phố Hội An năm 2014 87

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà những thành tựu khoa học kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người (thời kỳ công nghiệp 4.0); do vậy đòi hỏi mọi quốc gia, mọi dân tộc cần phải xây dựng và hoàn thiện các chính sách vì mục tiêu con người, lấy mục tiêu phục vụ con người làm trung tâm cho

sự phát triển bền vững Điều đó cũng là một đòi hỏi khách quan của lịch sử; bởi vì thành tựu khoa học công nghệ đi vào sản xuất sẽ làm thay đổi về chất và lượng của sức sản xuất mới, tất yếu sẽ phân tầng xã hội, chênh lệch giàu nghèo ngày càng giản cách

xa hơn, chưa nói đến môi trường bị tác hại, điều kiện cách biệt về địa lý giữa các vùng miền, tình hình thiên tai do biến đổi khí hậu ngày một khắc nghiệt, trình độ dân trí khác nhau…Do đó, việc chăm lo giải quyết tốt vấn đề an sinh xã hội là vấn đề quan trọng, bởi vì vấn đề an sinh xã hội thể hiện tính ưu việt của một chế độ, một nhà nước, một chính thể mà con người luôn hướng tới Giải quyết tốt các vấn đề xã hội sẽ đem lại sự bình yên trong cuộc sống của con người, hướng tới sự phát triển bền vững Nhận thức đúng về thời cơ, vận mệnh và thách thức cho trước mắt và lâu dài, Đảng đề ra nhiều chủ trương và cùng với đó Nhà nước triển khai nhiều giải pháp để giảm phân tầng xã hội bằng cách điều tiết các thu nhập, phân phối lại trong quá trình tích lũy thặng dư của các thành phần kinh tế, từ đó các chính sách như giảm nghèo, trợ cấp xã hội, ưu đãi người có công, trợ giúp đột xuất các hoàn cảnh không may trong cuộc sống, … nhằm giúp cho họ có cuộc sống đảm bảo mức sống tối thiểu trong xã hội Có thể nói, trong nhiều năm qua Việt Nam đã được các tổ chức Quốc tế ghi nhận là một quốc gia tích cực trong chương trình vì con người như Hội liên hiệp hữu nghị Việt Nam, tổ chức lao động Quốc tế (ILO) ghi nhận…“An sinh xã hội (ASXH) là chính sách cốt lõi quyết định sự phát triển ổn định và bền vững của một quốc gia, góp phần giảm bất bình đẳng, giảm mức độ nghèo đói và tổn thương của người dân và cộng đồng trước những rủi ro hay nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về ASXH, Chiến lược ASXH giai đoạn 2011-2020 của Việt Nam theo Viện Khoa học lao động và xã hội, 2009 đã nêu rõ: “An sinh xã hội là sự bảo đảm

Trang 10

mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến

suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế” (Vũ Văn Phúc, 2012)” [57]

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương khóa XI khẳng định: “Chính sách xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng, là mục tiêu, là động lực để phát triển nhanh

và bền vững trong mọi giai đoạn phát triển Chính sách xã hội phải được đặc ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với

trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ” [24]

Đối với tỉnh Quảng Nam, ASXH luôn được Đảng bộ và chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XXI đã chỉ rõ: Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân

Ở thành phố Hội An, ASXH luôn là vấn đề mang tính chiến lược, lâu dài và cấp bách, được Đảng bộ và chính quyền thành phố đặc biệt quan tâm, nội dung này được đưa vào các nghị quyết của Đảng bộ và gần đây là Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVII, giai đoạn 2015-2020, đã chỉ rõ: “Kết hợp các mục tiêu kinh tế với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và

hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho tiến trình phát triển” [16]

Trong những năm qua, thành phố đã triển khai, tổ chức thực hiện nghiêm túc và hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về ASXH Ngoài những chính sách ưu đãi của trung ương và tỉnh, thành phố đã huy động cả hệ thống chính trị

từ thành phố đến các xã, phường và các tổ chức, cá nhân tham gia tích cực vào thực hiện chính sách ASXH bằng những việc làm cụ thể như: huy động bảo đảm nguồn lực tạo điều kiện cho hộ chính sách, hộ nghèo, đối tượng BTXH từng bước ổn định cuộc sống, hỗ trợ phương tiện làm ăn, học bổng, nhà ở, giới thiệu việc làm, cấp thẻ BHYT,

hỗ trợ chi phí học tập và các điều kiện lao động, sinh hoạt và nâng cao thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống; vận động, đóng góp xây dựng các quỹ hỗ trợ người nghèo, đối tượng khó khăn, yếu thế, khuyết tật, cao tuổi, trẻ em; các đối tượng chính sách, các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đau ốm thường xuyên, các trường hợp tai nạn, các hoàn cảnh bất hạnh, hậu quả từ thiên tai… Từ những việc làm thiết thực, cụ thể nêu

Trang 11

trên đã tác động tích cực, trực tiếp đến các đối tượng, đã giúp cho các đối tượng chính sách nói riêng và người dân nói chung ổn định cuộc sống, tiếp tục củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta Tuy nhiên, những kết quả đạt được vẫn còn một số hạn chế, tồn tại, số đối tượng bị bệnh hiểm nghèo bị bỏ sót; những người thuộc

hộ nghèo lại không đảm bảo tiêu chuẩn hộ nghèo; tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào nhà nước của một bộ phân dân cư; chậm giải quyết chế độ cho đối tượng theo quy định.… Vấn đề đặt ra cho việc thực hiện chính sách ASXH trên địa bàn thành phố hiện nay là làm sao để chính sách thực sự đi vào đời sống của người dân, góp phần đảm bảo công bằng, tiến bộ và ổn định xã hội

Xuất phát từ những lý giải trên, tôi lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách an sinh xã hội từ thực tiễn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam” để làm luận văn khóa học với mong muốn thông qua thực tiễn việc đánh giá, phân tích những thành tựu, cũng như những tồn tại hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện, nhằm giúp cho cấp có thẩm quyền nhìn nhận bổ sung, hoàn thiện nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ASXH trong cả nước nói chung và thành phố Hội An nói riêng

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

- Các công trình nghiên cứu về chính sách, chính sách công (CSC) trong nước Tác giả Lê Chi Mai trong công trình Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách đã có những phân tích bước đầu, giới thiệu những vấn đề lý luận cơ

bản về khoa học chính sách, làm rõ nhận thức về chính sách và các giai đoạn của quy

trình chính sách trong thực tiễn của Việt Nam [42]

Trong tác phẩm Khoa học Chính sách phát hành năm 2011[14], tác giả Vũ Cao

Đàm đã đưa ra những cặp khái niệm mới về mục tiêu công bố và mục tiêu ngầm định của chính sách, tác động dương tính và tác động âm tính của chính sách, tác động ngoại biên và chuỗi tác động kế tiếp của chính sách, xung đột và bất bình đẳng xã hội

do chính sách, paradigm (khung mẫu) và kiến tạo xã hội của chính sách… Cùng với những cặp khái niệm này là quy trình/phương pháp phân tích, hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách được tiếp cận dưới các hướng tiếp cận hiện đại của khoa học

Ngoài ra, còn có các bài viết công bố trên các tạp chí như Nghiên cứu đánh giá chính sách của Đặng Ngọc Dinh [13 tr.57-62]; Đánh giá CSC ở Việt Nam - Vấn đề và

Trang 12

giải pháp của Nguyễn Đăng Thành [61, tr.68-72]; Đỗ Phú Hải với Khái niệm CSC [32, tr.103-105]… đã đưa ra các khái niệm, đặc điểm, chu trình CSC và việc đánh giá

CSC, tiêu chí của đánh giá CSC

- Các công trình nghiên cứu về Chính sách ASXH

“Giáo trình nhập môn về an sinh xã hội”của Nguyễn Hải Hữu [29];“Hệ thống

an sinh xã hội ở Việt Nam” của Nguyễn Hải Hữu [30];“Giáo trình Luật an sinh xã hội” của Nguyễn Thị Kim Phụng [58];“Giáo trình Cứu trợ xã hội” của Trường Đại học Lao động [68] Các giáo trình đã trình bày quan niệm về ASXH, đặc điểm và cấu trúc an

sinh xã hội, phương pháp đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống chính sách

ASXH, vai trò và tầm quan trọng của xây dựng và thực thi chính sách ASXH.“Thuật ngữ an sinh xã hội” của Viện khoa học Lao động và xã hội (ILSSA)[12], cuốn sách đã

nêu khá toàn diện các thuật ngữ, khái niệm về những cấu phần liên quan đến an sinh xã hội

Tác giả Vũ Văn Phúc tạp chí Cộng sản đã viết bài“An sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới năm 2020”[57] Bài viết nêu những khái niệm, cấu trúc hệ thống ASXH,

những hạn chế, thách thức trong việc thực hiện chính sách ASXH hiện nay, đồng thời

đề ra các quan điểm, mục tiêu, yêu cầu các giải pháp nhằm đổi mới hoàn thiện hệ thống và 4 vấn đề cần bàn luận: (1)Thành tố nào là quan trọng trong hệ thống ASXH, (2)xây dựng và hoàn thiện chính sách thì cần tập trung hơn cho vấn đề tham vấn chính sách từ các bên liên quan, nhất là từ đối tượng thụ hưởng để có cái nhìn đúng thực tế nhằm đưa ra chính sách phù hợp nhất (3)Tập trung đánh giá tổng kết, đây là vấn đề quan trọng để qua đó đánh giá những hạn chế và có giải pháp khắc phục Và cuối cùng

là những quan điểm định hướng lớn, những giải pháp đột phá, khả thi cần thực hiện trong quá trình đổi mới, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội ở nước ta hiện nay và đến năm 2020

Tác giả Đặng Nguyên Anh đã có bài viết “An sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất mô hình, giải pháp”[1] Bài viết đã đánh giá thực trạng, tồn tại, thách

thức và định hướng giải pháp như giảm bớt sự bao cấp của nhà nước, hội nhập gần hơn với thế giới bên ngoài, hướng vào mục tiêu ổn định mức sống, tránh không rơi vào tình trạng bần cùng hóa, kể cả trong hoàn cảnh rủi ro bất thường, khắc phục nguy cơ

Trang 13

tái nghèo, ổn định cuộc sống đối với những nhóm cư dân dễ bị tổn thương, xây dựng

và sử dụng hiệu quả các quỹ bảo trợ cho người dân, đảm bảo các dịch vụ xã hội cơ bản như nhà ở, giáo dục, y tế công cộng cho người nghèo, cận nghèo và nhóm thu nhập thấp Đẩy mạnh sự tham gia của người dân về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp bằng việc nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hiểm Kết nối hiệu quả các chương trình, dự án giảm nghèo, khắc phục tình trạng chồng chéo, khó quản lý, lãng phí nguồn lực trong công tác xoá đói, giảm nghèo và trợ giúp xã hội hiện nay; bổ sung chính sách cho vay ưu đãi hơn Theo tác giả bài viết đã nêu khá toàn diện những vấn đề về ASXH, tuy nhiên những vấn đề được đề xuất chỉ mang tính chung chung mang tính chiến lược, chưa đi vào những nội dung cụ thể xuất phát từ thực tiễn

Tác giả Nguyễn Trọng Đàm có bài viết “Thực trạng thực hiện chính sách trợ giúp xã hội và giải pháp đổi mới giai đoạn tới”[15] Bên cạnh việc đánh giá chính

sách trợ giúp xã hội trong giai đoạn 2011-2015, tác giả đã đề xuất 6 giải pháp trong

gian tới (2016-2020) để chính sách BTXH ngày càng mang lại hiệu quả cao hơn Thứ nhất: Phải chuyển mạnh mẽ về quan điểm coi trợ giúp xã hội từ hoạt động nhân đạo sang quan điểm bảo đảm thực hiện quyền cho đối tượng hưởng trợ giúp xã hội Thứ hai:

Từng bước nâng cao chất lượng chính sách, bảo đảm sự tương quan với các chính sách

xã hội khác như chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp Thứ ba: Quá trình phát triển của chính sách trợ giúp xã hội phải gắn liền với quá trình phát

triển kinh tế - xã hội Trợ giúp xã hội là một bộ phận của chính sách kinh tế - xã hội, do vậy quá trình hoàn thiện và phát triển phải dựa trên cơ sở của quá trình phát triển kinh tế

và nhất là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thứ tư: Chính sách trợ

giúp xã hội phải gắn liền với quá trình cải cách thể chế hành chính Nhà nước trên tất cả

phương diện Thứ năm: Quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ trợ

giúp xã hội Và cuối cùng là từng bước hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết chính sách về an sinh xã hội, đáp ứng nhu cầu thông tin cho các cấp quản lý nhanh nhạy, kịp thời, chính xác, góp phần cải cách hành chính trong trợ giúp

xã hội

Trong Luận án tiến sĩ của tác giả Mai Ngọc Anh, trường Đại Học Kinh tế quốc

dân với Đề tài: An sinh xã hội đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở

Trang 14

Việt Nam [2] Luận án đã đề cập đến các nhân tố, điều kiện xây dựng và hoàn thiện hệ

thống ASXH đối với nông dân Từ đó làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ngày một đa dạng

- Luận văn thạc sĩ của tác gỉa Nguyễn Chương Phát, trường Đại học kinh tế và

Quản trị Kinh doanh với Đề tài: “Ảnh hưởng của hệ thống an sinh xã hội tới vấn đề nghèo đói hộ nông dân huyện Văn Chấn”[48], tác giả đã đưa ra các kiến nghị, giải

pháp toàn diện nhằm xây dựng hệ thống ASXH đảm bảo giữa tăng trưởng kinh tế với

xóa đói giảm nghèo

“Chính sách an sinh xã hội và vai trò của nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam” của Nguyễn Văn Chiêu [9] đã đề cập đến một số vấn

đề về lý luận chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam trong gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới; vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam hiện nay, phương hướng và những giải pháp chủ yếu nâng cao vai trò của nhà nước trong việc thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam

“Chính sách an sinh xã hội - thực trạng và giải pháp” của Lê Quốc Lý [41] đã

phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về những trở ngại trong thực thi chính sách ASXH thông qua việc đánh giá nhóm cán bộ thực thi và đối tượng thụ hưởng chính sách; trên

cơ sở mục tiêu, quan điểm thực thi chính sách ASXH ở Việt Nam đến năm 2020 tác giả cuốn sách đã nêu lên các nhóm giải pháp khắc phục những trở ngại trong thực thi chính sách ASXH ở nước ta (thiết kế và thực thi chính sách ASXH, xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp, hoàn thiện bộ máy thực thi chính sách ASXH, nâng cao nhận thức của đối tượng thụ hưởng về chính sách ASXH)

“Bảo đảm an sinh xã hội dưới ánh sáng Đại hội XI của Đảng” của Dương Văn Thắng [62] Các bài viết nói trên đã đề cập đến những vấn đề lý luận chung, vấn đề

thực tiễn về ASXH ở nước ta, xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH ở Việt Nam trên quan điểm các nghị quyết chuyên đề của Đảng về ASXH

Ngoài ra còn có các ấn phẩm sách, tạp chí, các kỷ yếu của các cuộc hội thảo sau

đây cũng phần nào làm sáng tỏ các nội dung liên quan đến lĩnh vực ASXH:“An sinh

xã hội ở Việt Nam: Chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới” do Đại học Kinh tế Quốc

Trang 15

dân [67]; Hội thảo“Xây dựng Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011 - 2020” của

Bộ LĐ-TB&XH và Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Cộng hoà Liên bang Đức (GTZ) [6];

“An sinh xã hội ở nước ta: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Ban Tuyên giáo

Trung ương, Tạp chí Cộng sản, Bộ LĐ-TB&XH, Hội đồng khoa học các cơ quan

Đảng Trung ương [5] Qua các hội thảo này, cũng đã có nhiều phát hiện và tiếp cận

mới trong xây dựng và thực hiện chính sách ASXH cũng như vai trò của Nhà nước trong thực hiện chính sách ASXH, thực trạng và giải pháp thực thi chính sách ASXH ở Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu chính sách ASXH ở một số nước và tài liệu nước ngoài

như: “Bảo đảm xã hội trong nền kinh tế thị trường Nhật Bản hiện nay” của Trần Thị Nhung [47] đã phân tích được khái niệm và lịch sử phát triển của hệ thống đảm bảo an

sinh xã hội của Nhật Bản Trên cơ sở đó, tác giả cung cấp thông tin một cách đầy đủ

về đặc điểm, các loại hình, vai trò, chức năng của Nhà nước cũng như những khó khăn, thách thức trong việc thực hiện các chế độ đảm bảo ASXH của nhà nước như: Chế độ bảo đảm thu nhập, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chăm sóc sức khỏe và trợ giúp xã hội

Tác giả Trịnh Cường có bài viết “Vài nét về chính sách an sinh xã hội ở Phần Lan” [70], đã có những khái quát lớn về chính sách an sinh xã hội của Phần Lan Với

mục tiêu hướng tới hệ thống ASXH “bao bọc” người dân Không giống như hệ thống ASXH của Mỹ và phần lớn các nước Tây Âu, hệ thống ASXH ở Phần Lan bao bọc toàn bộ dân cư và đặc biệt, không giới hạn đối với những nhóm người yếu thế không

có khả năng tự chăm sóc bản thân mình Bài viết “Mô hình phát triển xã hội của Châu Âu”[3] của nhà xã hội học Phần Lan Erisk Allardt là khá toàn diện, hệ thống an sinh

xã hội (giáo dục, y tế, phúc lợi) của Phần Lan được hình thành rất sớm và ngày càng

được bổ sung, hoàn chỉnh Các chính sách an sinh của Phần Lan tập trung vấn đề như: lương hưu; bảo hiểm ốm đau, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp gia đình, dịch vụ chăm sóc

trẻ em, dịch vụ cho người khuyết tật, hệ thống y tế Tuy nhiên, khi so sánh mô hình ở

các nước Châu Âu thì các nước Bắc Âu (trong đó có Phần Lan) vẫn mang tính bền vững và có nhiều ưu việt nhất vì thu được những kết quả tốt nhất trên các khía cạnh: giảm thất nghiệp, xoá đói giảm nghèo, đầu tư cho con người và chống thâm hụt ngân

Trang 16

sách Trong khi tỷ lệ thâm hụt ngân sách là vấn đề đáng báo động của nhiều nước Châu Âu, thì nhờ chính sách đánh thuế cao và đầu tư hiệu quả cho giáo dục, trẻ em và thị trường lao động, thâm hụt ngân sách của các nước Bắc Âu luôn luôn thấp hơn các

mô hình xã hội Châu Âu khác Đó là thành công của chính sách phúc lợi toàn lấy con người là trọng tâm của sự phát triển

“Social security today and tomorrow”(An sinh xã hội hôm nay và ngày mai) của tác giả Robert M.Ball [59] đã đề cập đến quan niệm ASXH và đề cập đến các chương

trình mà chính phủ các nước đặc ra với mục đích hàng đầu là giúp đỡ những người dân gặp rủi ro dẫn đến việc bị mất hoặc giảm sút thu nhập; chế độ ASXH được xem như là

sự bảo vệ của nhà nước đối với người dân trước những rủi ro về xã hội

"Social Security in Global Perspective" (An sinh xã hội trong viễn cảnh toàn cầu) của tác giả John Dixon[38] đã đề cập đến nội dung các khái niệm về ASXH của

một quốc gia Trong bài viết "Về bảo trợ xã hội và thúc đẩy xã hội: Thiết kế và triển khai

hệ thống an sinh hiệu quả" của nhóm tác giả M.Grosh, C.Ninno, E.Tesliuc và A.Ouerghi

đã đưa ra quan niệm về “mạng lưới an sinh xã hội vừa dùng để đỡ những người rơi từ trên xuống về phương diện kinh tế trước khi họ rơi vào cảnh bần hàn, vừa trợ cấp hoặc cung cấp một khoản thu nhập tối thiểu cho những người ở trạng thái nghèo thường xuyên, lâu dài hơn"[27]; ASXH chỉ bao gồm hệ thống chính sách trợ giúp xã hội không có đóng góp

và nhắm đến đối tượng là người nghèo và người dễ bị tổn thương Đồng thời, ASXH cũng chỉ dừng lại ở những hoạt động chính thức của nhà nước mà không tính đến vai trò của tư nhân, thị trường trong việc cung cấp các dịch vụ ASXH khác

Theo các số liệu được công bố trong “Báo cáo An sinh xã hội thế giới 2017, Tổng Giám đốc ILO Guy Ryder cho biết: Thiếu an sinh xã hội làm con người dễ bị tổn thương bởi bệnh tật, nghèo đói, bất bình đẳng và bị tách rời khỏi xã hội Không đảm bảo quyền này cho 4 tỷ người là một rào cản đáng kể cho phát triển kinh tế và xã hội Trong khi nhiều quốc gia đã đạt được những bước tiến trong phát triển hệ thống an sinh xã hội, vẫn cần nhiều nỗ lực hơn nữa để hiện thực hóa quyền an sinh xã hội cho tất cả mọi người Báo cáo khuyến nghị tăng chi tiêu công cho an sinh xã hội để mở rộng bao phủ an sinh xã hội, đặc biệt ở các khu vực Châu Phi, Châu Á và các quốc gia

Ả Rập, nhằm cung cấp ít nhất một chế độ an sinh xã hội cho tất cả mọi người; nhấn

Trang 17

mạnh sự cần thiết phải mở rộng bao phủ an sinh xã hội đến người lao động trong khu vực phi chính thức như là một cách để chính thức hóa và cải thiện điều kiện làm việc của họ Bà Isabel Ortiz, Giám đốc Chương trình An sinh xã hội của ILO cho biết nhiều chính sách cắt giảm tài khóa ngắn hạn tiếp tục ảnh hưởng tích cực đến các nỗ lực phát triển dài hạn Các điều chỉnh tài khóa có tác động xã hội tiêu cực và làm nguy hại đến tiến trình hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững

Trên cơ sở các công trình đã nghiên cứu về ASXH, tác giả nhận thấy rằng, chính sách ASXH ở từng nơi, từng quốc gia có những mặt tích cực nhằm mục đích chăm lo đời sống người dân nhưng bên cạnh đó chính sách cũng bộc lộ hạn chế nhất định như tư tưởng ỷ lại của người dân, trợ cấp tăng làm cho gánh nặng ngân sách lớn, tình trạng dân số tăng tạo gánh nặng về giải quyết lao động việc làm, giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe…

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về chính sách ASXH, luận văn sẽ tìm hiểu thực trạng việc thực hiện chính sách ASXH trên địa bàn thành phố Hội An, phát hiện những hạn chế, bất cập tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đó, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách ASXH ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, là hệ thống, làm rõ cơ sở lý luận về CSC, chính sách ASXH của

Việt Nam mà cụ thể là chính sách giảm nghèo và bảo trợ xã hội

Thứ hai, là nghiên cứu thực trạng tình hình, cách thức và quá trình tổ chức thực

hiện chính sách,qua đó đánh giá, phân tích những hạn chế, bất cập trong quá trình thực

hiện trong giai đoạn từ năm 2010 đến cuối năm 2017 và định hướng trong thời gian tới

Thứ ba, là dự báo những tác động ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách ASXH

và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách trong thời gian theo thực tế trên địa bàn thành phố Hội An thời gian đến

Trang 18

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Lĩnh vực ASXH là một lĩnh vực rất rộng, đối tượng tác động là tất cả người dân, bao trùm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội (thường xuyên và đột xuất), chính sách đối với

hộ nghèo, cận nghèo … Ở luận văn này, tác giả không đi sâu nghiên cứu sự tác động

của tất cả các chính sách nói trên mà chỉ giới hạn trong các chính sách giảm nghèo

và chính sách bảo trợ xã hội, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trên 2 lĩnh vực này

4.2.Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách ASXH trong lĩnh vực giảm nghèo

và bảo trợ xã hội tại thành phố Hội An giai đoạn từ năm 2010 đến nay và đề xuất một

số giải pháp hoàn thiện chính sách ASXH từ thực tiễn thành phố Hội An trong thời gian tới

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, quán triệt các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về sách ASXH nói dung và chính sách giảm nghèo và bảo trợ xã hội nói riêng, tiếp thu có chọn lọc các kinh nghiệm của địa phương khác để xem xét vấn đề giảm nghèo và bảo trợ xã hội của thành phố Hội An

Luận văn vận dụng cách tiếp cận liên ngành trên cơ sở phân tích vấn đề thực hiện chính sách giảm nghèo và bảo trợ xã hội một cách khách quan, sát thực tiễn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể của kinh tế học và xã hội học như: Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1.Ý nghĩa lý luận

Đóng góp bổ sung hoàn thiện những vấn đề lý luận về chính sách ASXH ở nước

ta hiện nay

Trang 19

6.2.Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở đánh giá, phân tích thực trạng tình hình thực hiện chính sách ASXH ở thành phố Hội An, tiếp tục duy trì, phát huy những kết quả đã đạt được trên lĩnh vực an sinh đối với đối tượng xã hội và đồng thời khuyến nghị một số giải pháp phù hợp để khắc phục những hạn chế từ thực tiễn trong quá trình thực thi chính sách để chính sách thực sự đến đúng đối tượng

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu gồm ba chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách an sinh xã hội

Chương 2 Thực hiện chính sách an sinh xã hội từ thực tiễn thành phố Hội An Chương 3 Dự báo tình hình và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực thi chính chính sách an sinh xã hội ở thành phố Hội An trong thời gian tới

Trang 20

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN

Khái niệm khoa học chính sách được Lasswell đề cập lần đầu tiên từ năm

1951, với khái niệm khoa học chính sách được xem như là một phương pháp giải quyết các vấn đề xã hội Đến nay, khoa học chính sách đã có những phát triển mạnh

mẽ, trở thành một trong những nội dung trọng tâm của khoa học xã hội

Tác giả Nguyễn Duy Gia, trong Đề tài khoa học có nêu khái niệm về chính sách: “Mọi tổ chức, mọi cấp quản lý đều phải sử dụng các công cụ quản lý để tác động lên đối tượng quản lý theo một cách thức nào đó nhằm đạt tới mục tiêu mong

muốn”[26, tr.6] Tác giả Hoàng Phê trong Từ điển tiếng Việt “chính sách” được

hiểu là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào

đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách…”[49, tr.157]

Các tác giả Nguyễn Thanh Tuyền, Nguyễn Lê Anh định nghĩa chính sách “là những chủ trương thích ứng với các đặc điểm và điều kiện kinh tế - xã hội (KT-XH) của từng giai đoạn phát triển và nhằm vào việc bảo đảm cho sự vận hành đúng

hướng và tích cực của cơ chế kinh tế” [71,tr.5]

Tác giả Đinh Dũng Sỹ: “Chính sách được hiểu là những tư tưởng, những định hướng, những mong muốn cần hướng tới, cần đạt được Còn chiến lược hay kế hoạch, thậm chí pháp luật chẳng qua chỉ là hình thức, là phương tiện để chuyển tải,

để thể hiện chính sách”[60]

Tóm lại, một khái niệm dễ hiểu về chính sách theo nhà chính trị học Mỹ -

Trang 21

Theodore Lowi:“Chính sách là cái biểu hiện của chính trị”[64, tr.677]

1.1.2 Chính sách công

Thomas Dye cho rằng CSC là “tất cả những gì Nhà nước lựa chọn làm hoặc

không làm”[65, tr.1] William Jenkins đưa ra định nghĩa: “CSC là một tập hợp các

quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu

đó”[43, tr.5] Guy Peter cho rằng: “CSC là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân”[28,tr.6] Định

nghĩa này khẳng định chủ thể ban hành và thực thi CSC là nhà nước, đồng thời nhấn mạnh một khía cạnh quan trọng của CSC, đó là tác động của CSC đến đời sống của mọi người dân hay cộng đồng xã hội, thay vì tác động lên một cá nhân hoặc một tổ chức cụ thể

Theo định nghĩa của Đặng Ngọc Lợi cho rằng: “Chính sách công là chính sách của Nhà nước, của chính phủ (do nhà nước, do chính phủ đưa ra), là một bộ

phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước”[40]

- Chính sách công là thành tố của quản lý nhà nước, có thể được hiểu “là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản

lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động

cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” (Vũ Cao Đàm, Quản lý học đại cương, 1996)

- Chính sách công có thể được hiểu là tổng thể chương trình hành động của Nhà nước, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và bảo đảm cho xã hội phát triển bền vững, ổn định

1.1.3 An sinh xã hội

Theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế, ASXH cũng có mức độ rộng, hẹp và đối tượng hướng tới khác nhau Theo Liên hiệp quốc, ASXH tiếp cận trên quyền của người dân (Điều 25, Hiến chương Liên hiệp quốc năm 1948): “…Mọi

Trang 22

người dân và hộ gia đình đều có quyền có một mức tối thiểu về sức khỏe và các phúc lợi xã hội bao gồm ăn, mặc, chăm sóc y tế (bao gồm cả thai sản), dịch vụ xã hội thiết yếu và có quyền được an sinh khi có các biến cố về việc làm, ốm đau, tàn

tật, góa phụ, tuổi già … hoặc các trường hợp bất khả kháng khác …”[37]

Theo cuốn“Cẩm nam an sinh xã hội”của Tổ chức lao động Quốc tế (ILO)

cho rằng: “ASXH là một sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập

do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong Cung

cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em”[63]

- Theo Điều 22 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyềnphát biểu rằng: ASXH là mọi người, như một thành viên của xã hội, có quyền an sinh xã hội và được quyền thực hiện, thông qua nỗ lực quốc gia và hợp tác quốc tế, phù hợp với tổ chức và các nguồn lực của mỗi quốc gia, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa không thể thiếu cho nhân

phẩm của mình và sự phát triển tự do nhân cách của mình [69]

Ở Việt Nam, mặc dù lĩnh vực ASXH còn nhiều mới mẻ nhưng cũng đã dành

được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu về vấn đề này Theo tác giả Nguyễn Văn Chiêu: “ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người, từ

cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực phát triển con người và xã hội ASXH là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống

hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách”[8] Tác giả Phạm Xuân Nam lại

cho rằng để thấy hết được bản chất của ASXH, chúng ta cần phải tiếp cận theo cả

nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này: Theo nghĩa rộng: ASXH là sự đảm bảo

thực hiện các quyền để con người được an bình; được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ pháp luật; được học tập, có việc làm,

có nhà ở; được bảo đảm thu nhập để thỏa mản những nhu cầu thiết yếu khi gặp rủi

ro, tai nạn, tuổi già đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội Theo nghĩa hẹp: ASXH

là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện

Trang 23

pháp công cộng nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc bị giảm thu nhập, gây ra bởi thiên tai, đau ốm, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp y tế cho các gia

đình có con nhỏ, cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi … [45, tr.3]

Tóm lại, “An sinh xã hội là hệ thống các chính sách can thiệp của nhà nước

(bảo hiểm xã hội/ trợ giúp xã hội) và tư nhân (các chế độ không theo luật định hoặc tư nhân) nhằm giảm mức độ nghèo đói và tổn thương, nâng cao năng lực tự bảo vệ của người dân và xã hội trước những rũi ro hay nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập, bảo đảm

ổn định, phát triển và công bằng xã hội” theo cuốn Thuật ngữ An sinh xã hội, của Viện Khoa học Lao động và xã hội (ILSSA)[12].

1.1.4 Chính sách an sinh xã hội

Trong cuốn An sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới năm 2020, tác giả Vũ Văn

Phúc cho rằng: “Chính sách ASXH là một chính sách xã hội cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an

toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội”[57,tr.14] Tác giả Nguyễn Văn Chiêu, trong cuốn Chính sách an sinh xã hội và vai trò của nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam cho rằng: “Chính sách

ASXH là những biện pháp bảo vệ của nhà nước nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro cho các thành viên của mình khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, già

cả không còn sức lao động hoặc vì nguyên nhân khách quan khác thông qua các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, ưu đãi xã hội và

Trang 24

nghĩa vụ công dân và công bằng xã hội chứ không phải là sự “đền bù”, bởi lẽ không

ai mong muốn gặp phải những cản trở, khó khăn trong cuộc sống

Tóm lại, khái niện chính sách ASXH chung nhất theo tác giả “là hệ thống

chủ trương, phương hướng và biện pháp đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong, trợ giúp cho những người già

cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, những nạn nhân

chiến tranh, những người bị thiên tai địch họa…” Mai Ngọc Cường trong Xây dựng và hoàn thiện chính sách ASXH ở Việt Nam [10, tr.22-25]

1.2 Nhu cầu, đặc điểm của an sinh xã hội

Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, con người không ngừng tiến hành lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất nhằm duy trì sự sống và tồn tại của mình Nhu cầu được sống, được bảo vệ là nhu cầu tất yếu của con người, tuy vậy, không phải lúc nào người lao động cũng đảm bảo chắc chắn duy trì được việc làm thường xuyên và thu nhập ổn định Đó là những lúc gặp rủi ro như ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động dẫn đến bị mất hoặc giảm việc làm, giảm thu nhập.v.v Hơn nữa, hoạt động lao động sản xuất của con người không phải lúc nào cũng thuận lợi vì còn bị phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, môi trường,

xã hội.v.v Vì thế, sự cần thiết phải có các biện pháp phòng tránh và khắc phục rủi ro đã trở thành một nhu cầu của con người

Kinh tế thị trường làm cho các hoạt động kinh tế - xã hội năng động hơn, người dân được phát huy khả năng của mình; đồng thời kinh tế thị trường tạo ra những “rủi ro xã hội” và luôn tiềm ẩn những “rủi ro xã hội” mới làm tăng nhu cầu ASXH Kinh tế thị trường làm cho đời sống các tầng lớp dân cư thay đổi, nhìn chung mức sống dân cư được tăng lên và cũng làm cho sự phân hóa giàu nghèo tăng lên, điều này làm cho nhu cầu về chính sách ASXH cũng tăng Chính vì thế, một trong những nhu cầu xã hội hiện đại là bảo vệ sự an toàn cho tất cả các thành viên trong xã hội trước các nguy cơ bị giảm sút hoặc bị mất

Trang 25

nguồn thu nhập trước các cú sốc về KT - XH hay chính là đảm bảo ASXH cho người dân Tuy nhiên, tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội, tùy theo cách tiếp cận, giải quyết vấn đề mà mỗi quốc gia có quan điểm, thể chế chính sách và thể chế tổ chức cụ thể về hệ thống ASXH nhằm thực hiện chức năng bảo vệ các thành viên trong xã hội của mình

1.3 Ý nghĩa tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách an sinh xã hội

Tổ chức thực hiện chính sách ASXH là một khâu quan trọng hợp thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách đến đối tượng chính sách, được hiện thực bởi các công cụ chính sách bao gồm các họat động của các chủ thể do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định để đưa chính sách ASXH vào cuộc sống Tổ chức thực hiện chính sách ASXH là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống hoàn chỉnh; là cầu nối giữa lý luận và thực tiễn trong thực thi chính sách Việc hoạch định, xây dựng được chính sách đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng triển khai, thực hiện một cách đúng đắn chính sách còn quan trọng hơn Có chính sách đúng nếu không được thực hiện sẽ chỉ nằm ở dạng văn bản giấy, trở thành khẩu hiệu suông, không những không thực hiện được mục tiêu, ý định của chủ thể ban hành chính sách, mà còn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể hoạch định và ban hành chính sách Nếu chính sách không được tổ chức thực hiện đến nơi, đến chốn hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ, không những sẽ ảnh hưởng trực tiếp đối tượng thụ hưởng, mà sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng vào chủ thể ban hành chính sách Điều này hoàn toàn bất lợi về mặt chính trị và xã hội, gây khó khăn, bất ổn cho nhà nước trong công tác quản lý Qua việc tổ chức thực hiện mới biết được chính sách có đúng, phù hợp và đi vào cuộc sống hay không Quá trình thực hiện với những hoạt động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống Thực tiễn là chân lý, kết quả thực hiện chính sách là thước

đo, là cơ sở đánh giá một cách chính xác, khách quan chất lượng và hiệu quả của chính sách Việc đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống là một quá trình khó khăn, phức tạp, chịu sự tác động của nhiều yếu tố giúp các nhà hoạch định và tổ chức thực

Trang 26

hiện chính sách có kinh nghiệm để đề ra được các giải pháp hữu hiệu trong thực hiện chính sách

1.4 Chu trình chính sách ASXH

Chu trình chính sách ASXH được nhìn nhận như một quá trình từ hoạch định đến thực hiện chính sách và đánh giá tính hiệu quả của chính sách Có nhiều cách để nhìn nhận các giai đoạn của chu trình CSC nói chung, chính sách về ASXH nói riêng

Theo tác giả Nguyễn Hữu Hải, Giáo trình hành chính Nhà nước nhìn nhận chu trình

chính sách ASXH các nước trên thế giới gồm 5 giai đoạn: (1) Thiết lập chương trình nghị sự; (2) hình thành chính sách; (3) ra quyết định chính sách; (4) thực hiện chính

sách; (5) đánh giá chính sách [34, tr.166-190] Trong đó, bước triển khai (thực thi)

chính sách đóng vai trò rất quan trọng: Các chính sách sau khi được thông qua đều phải tổ chức triển khai Giai đoạn triển khai bao gồm ban hành các văn bản có tính pháp lý, qui định trách nhiệm, quyền hạn cũng như việc thực thi các hành động và biện pháp cụ thể

Ở Việt Nam hiện nay, chu trình chính sách thường được chia làm 3 giai đoạn

cơ bản Một là, giai đoạn hoạch định chính sách: Hoạch định chính sách là toàn bộ

quá trình nghiên cứu, xây dựng và ban hành đầy đủ một chính sách Đây là giai đoạn hình thành phương án chính sách và ra quyết nghị chính sách Để hoàn thành giai đoạn này, các cơ quan nhà nước được giao trách nhiệm tiến hành các hoạt động phân tích thực trạng để xác định vấn đề chính sách và đưa ra việc giải quyết vấn đề vào chương trình nghị sự để ban hành chính sách Hoạt động xác định vấn đề chính sách không chỉ do các cơ quan nhà nước thực hiện mà còn có sự tham gia rộng rãi của xã hội, đặc biệt là các tổ chức đoàn thể như Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên Nguyên tắc hoạch định chính sách công là: Vì lợi ích công cộng, nguyên tắc đa số, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc hiện thực Nội dung quan trọng trong giai đoạn này là việc xác định mục tiêu chính sách và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó Để thực hiện việc này, các chủ thể cần phân tích tác động của từng giải pháp và so sánh các giải pháp với nhau để cuối cùng cơ quan có thẩm quyền ra

quyết định chính sách Hai là, giai đoạn tổ chức thực thi chính sách: Đây là giai

Trang 27

đoạn hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội, các giải pháp chính sách đã lựa chọn và kiểm tra việc thực hiện Có thể nói đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của một chính sách, giai đoạn này bao gồm các bước như: xây dựng kế hoạch triển khai thực thi; phổ biến, tuyên truyền vận động; phân công, phối hợp thực thi; duy trì việc thực hiện chính sách; điều chỉnh chính sách; theo dõi,

kiểm tra, động viên Ba là, giai đoạn đánh giá chính sách, tổng kết rút kinh nghiệm:

Đây là giai đoạn đo lường các chi phí, kết quả của việc thực hiện chính sách và các tác động thực tế của chính sách trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách, từ đó xác định hiệu quả của một chính sách trong thực tế Trên cơ sở kết quả của đánh giá chính sách, các cơ quan nhà nước có thể đưa ra những điều chỉnh chính sách nếu thấy cần thiết Các cơ quan này có thể bổ sung mục tiêu, thay đổi, hoặc điều chỉnh các giải pháp cho phù hợp, thậm chí có thể quyết định tiếp tục theo đuổi mục tiêu

hay chấm dứt sự tồn tại của chính sách [34,tr.166-190], [35, tr.88-94]

Trang 28

thống Ngược lại, nếu chính sách không phù hợp, người dân sẽ không tham gia hoặc chính sách sẽ bị lạm dụng Và cuối cùng là những chính sách, chương trình khắc phục rủi ro, gồm các chính sách, chương trình về cứu trợ và trợ giúp xã hội, với chức năng bảo đảm an toàn cho các thành viên xã hội khi họ gặp phải rủi ro mà bản thân không tự khắc phục được như: thất nghiệp, người thiếu việc làm, người có thu nhập thấp, người già, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người nghèo…

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách

Tác giả Nguyễn Hữu Hải có bài “Chính sách công – Những vấn đề cơ bản” đã

đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi CSC: Tính chất của vấn đề CSC (đơn giản hay phức tạp, cấp bách, bức xúc hay bình thường); môi trường thực thi CSC (điều kiện vật chất - kỹ thuật trong nền kinh tế, bầu không khí chính trị, trật tự xã hội, nhóm lợi ích, quan hệ quốc tế); mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi CSC (thống nhất hay không thống nhất về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiện mục tiêu CSC); tiềm lực của các nhóm đối tượng CSC (trên các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội về cả quy mô và trình độ); đặc tính của đối tượng CSC (tính tự giác, tính

kỷ luật, tính sáng tạo, lòng quyết tâm, tính truyền thống); năng lực thực thi CSC của cán bộ, công chức (tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật, năng lực thực tế, đạo đức công vụ); mức độ tuân thủ các bước trong chu trình CSC; các điều kiện vật chất để thực thi CSC (trang thiết bị kỹ thuật và phương tiện hiện đại hỗ trợ); sự đồng tình, ủng

hộ của người dân (thiết thực với đời sống nhân dân, phù hợp với điều kiện và trình độ

hiện có của nhân dân) [75, tr.137, 145]

Việc đưa chính sách an sinh xã hội vào thực tiễn không phải là đơn giản, nhanh chóng, trong thực tế đó là quá trình rất phức tạp, đầy biến động và chịu nhiều tác động của một loạt các yếu tố khách quan lẫn chủ quan

Về yếu tố khách quan: là nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh trong xã hội, vì

vậy sẽ tác động bằng nhiều cách đến quá trình thực hiện chính sách đó Nếu chính sách nhằm giải quyết một vấn đề công phức tạp (ví dụ như vấn đề thất nghiệp, nghèo đói,

…) thì quá trình thực hiện chính sách đó cũng thường khó khăn, đòi hỏi phải phối hợp nhiều chính sách, nhiều quyết định có liên quan Đặc thù của nhóm đối tượng mà chính

Trang 29

sách tác động đến cũng có liên quan, ví dụ như chính sách giảm nghèo thì đối tượng tác động là các thành viên hộ nghèo, nhóm đối tượng khuyết tật thuộc hộ nghèo, học sinh thuộc hộ nghèo ; bối cảnh thực tế, bối cảnh xã hội, bối cảnh kinh tế, bối cảnh công nghệ, bối cảnh chính trị, bối cảnh quốc tế.

Các yếu tố chủ quan: Yếu tố giao tiếp truyền đạt: Nếu truyền đạt không trọn

vẹn thì hoạt động thực thi sẽ đi chệch hướng của nhà hoạch định chính sách; hạn chế rất nhiều đến kết quả thực thi Đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ tổ chức thực hiện chính sách ASXH, việc thực thi chính sách cũng phụ thuộc vào sự phân công, phân nhiệm rõ ràng về nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn, lợi ích của các cơ quan thực thi chính sách Bên cạnh cơ quan chủ chốt còn có trách nhiệm cơ quan phối hợp; thủ tục hành chính; nguồn kinh phí thực thi chính sách ASXH Thái độ hành động của nhân dân: Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu; khó vạn lần dân liệu cũng xong” Một chính sách ASXH chỉ có thể thành công khi nó nhận được thái độ và hành động ủng hộ, hưởng ứng của nhân dân Nếu bản thân chính sách đó không đem lại lợi ích cho đất nước và cho đa số người dân thì họ sẽ không ủng hộ và không thực hiện chính sách

Tiến trình thực thi chính sách đôi khi trở thành một cuộc giao tranh, trong đó các phía khác nhau theo đuổi mục đích riêng của mình và chống lại lợi ích của phía kia, điều đó có thể gây tác hại tới thành công của chính sách trên thực tế Vì thường thì việc thực thi chính sách công nói chung và chính sách an sinh xã hội nói riêng có một số nhóm người có lợi ích và số khác bị thiệt hại

1.7 Quan điểm, mục tiêu của Đảng và chính sách của Nhà nước về

ASXH của Việt Nam

Ngay từ khi Cách mạng tháng 8 thành công, Đảng và Nhà nước đã coi nhiệm

vụ diệt giặc đói, giặc dốt như diệt giặc ngoại xâm Trong đó, đối phó với giặc đói được đặt lên hàng đầu Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ mong muốn là: “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”

Cương lĩnh năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) đưa ra Cương lĩnh

Trang 30

xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ (bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó có định hướng “Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội”[21] Điều 34 Hiến

pháp 2013 Hiến pháp Việt Nam quy định: Công dân có quyền được bảo đảm an sinh

xã hội Việc bảo đảm ASXH đã được khẳng định ngay trong phần tiêu đề của Báo cáo chính trị trình Đại hội XI của Đảng: “Thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách phát

triển”[22, tr.227] và “Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo

hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt,

có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế,

dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống”[22, tr.228]

Nhận thức mới của Đảng CSVN về ASXH là kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế

và thực hiện chính sách ASXH, đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội, càng phát triển kinh tế thì xã hội ngày càng phải được an sinh Phát triển hệ thống ASXH phù hợp với phát triển kinh tế chính là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và là một trong những tiêu chí của định hướng XHCN; đầu tư cho ASXH cũng chính là đầu

tư cho con người, đầu tư cho phát triển Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XI) chỉ rõ:

“Chính sách xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng, là mục tiêu, là động lực để phát

triển nhanh và bền vững trong mọi giai đoạn phát triển” [24]

Đại hội XI tiếp tục làm rõ những quan điểm, định hướng, nội dung cụ thể cho từng chính sách an sinh xã hội: “Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống Tăng

tỷ lệ người lao động tham gia các hình thức bảo hiểm Đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ bảo hiểm xã hội, chuyển các loại hình trợ giúp, cứu trợ sang cung cấp dịch vụ bảo trợ xã hội dựa vào cộng đồng Bảo đảm cho các đối tượng bảo trợ xã hội có cuộc sống ổn định, hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng, có cơ hội tiếp cận nguồn lực kinh tế, dịch vụ công thiết yếu Thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội, bảo đảm thực hiện đúng, đầy đủ chế độ quy định đối với mọi đối

Trang 31

tượng”[24] Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 nhấn mạnh: “Phát

triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả Phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếp cận và tham gia các loại hình bảo hiểm Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi và không ngừng nâng cao mức sống đối với người có công Mở rộng các hình thức cứu trợ xã hội, nhất là đối với các đối tượng khó khăn” Nghị Quyết

số 15-NQ/TW của Ban chấp hành TW Đảng ngày 01/6/2012 đặt ra yêu cầu “Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong

từng thời kỳ ”[20]

Đại hội XII khẳng định: “Tạo cơ hội để mọi người có việc làm và cải thiện thu nhập Bảo đảm tiền lương, thu nhập công bằng, đủ điều kiện sống và tái sản xuất sức lao động Huy động tốt nhất nguồn nhân lực lao động để phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Chú trọng giải quyết việc làm cho lao động dôi

dư từ khu vực nông nghiệp do việc tích tụ, tập trung ruộng đất hoặc thu hồi đất phát triển công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng Khuyến khích đầu tư xã hội tạo ra nhiều việc làm, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về tiền lương, tiền công, khắc phục cơ bản những bất hợp

lý Điều chỉnh chính sách dạy nghề, gắn đào tạo với sử dụng Điều chỉnh chính sách xuất khẩu lao động hợp lý Hoàn thiện và thực hiện chính sách bảo hộ lao

động”[23] Quan điểm Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ ra những định

hướng lớn, lãnh đạo cụ thể từng mặt của công tác an sinh xã hội dựa trên cơ sở lý luận về chức năng, cấu trúc, mô hình, các trụ cột, sự phân tầng của chính sách an sinh xã hội, cách tiếp cận mới về tạo việc làm, giảm nghèo đa chiều bền vững, về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế toàn dân, trợ giúp xã hội, cung cấp dịch vụ xã hội ở mức độ tối thiểu nhằm trợ giúp khó khăn, phòng ngừa, giảm thiểu, khắc phục rủi ro, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đặc biệt là nhóm yếu thế, hướng đến nền an sinh xã hội toàn dân Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng

Trang 32

sản Việt Nam hết sức quan tâm lãnh đạo thực hiện ASXH để phòng ngừa, hạn chế, khắc phục rủi ro, bảo đảm thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội

Với những quan điểm trên, Chính phủ đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020 cơ bản hình thành một hệ thống ASXH bao phủ toàn dân nhằm đảm bảo để người dân

có việc làm, thu nhập tối tiểu; tham gia BHXH, bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi thu nhập thấp, người khuyết tật nặng, người nghèo …); đảm bảo cho người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin), góp phần giảm nghèo bền vững, ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội

Đến năm 2020, cơ bản bảo đảm quyền được tiếp cận và thụ hưởng các chính sách ASXH cho mọi người dân Phát triển hệ thống ASXH bền vững theo hướng hiện đại phù hợp với nền kinh tế thị thường định hướng XHCN phù hợp và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh, góp phần tăng trưởng kinh tế, ổn định an ninh, chính trị - xã hội

Về mô hình khái quát hệ thống ASXH của Theo ESCAP đã đưa ra một mô hình khái quát hệ thống ASXH trên cơ sở nghiên cứu tình huống của một số nước trong khu vực như Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia như sau:

Trang 33

Bảng1.1 Mô hình khái quát hệ thống ASXH do ESCAP của một số nước

trên thế giới

CẤP I (CƠ BẢN)

BHXH

1 Bảo hiểm y tế Ốm đau,

bệnh tật Toàn thể công dân

2 Hưu trí Người gìa Toàn thể công dân

3 Bảo hiểm tai nạn lao

động

Tai nạn lao động Bệnh nghề nghiệp

- Ưu đãi xã hội: Là sự đãi ngộ của nhà nước, của cộng đồng và toàn xã hội

về đời sống vật chất cũng như tinh thần đối với những người có công và gia đình của họ

- Bảo trợ xã hội: Là sự trợ giúp bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật của nhà nước

Trang 34

(lấy từ nguồn thuế, không phải đóng góp từ người dân) nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu cho đối tượng được nhận (Viện Khoa học lao động và xã hội, 2011)

- Xóa đói giảm nghèo: Là chính sách hỗ trợ của nhà nước, của cộng đồng dành

cho hộ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn hoặc bằng chuẩn nghèo (theo chuẩn quy định từng giai đoạn của Chỉnh phủ) nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo từng năm, từng giai đoạn

- Bảo hiểm xã hội: Là sự tổ chức bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu

nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử dụng, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác, nhằm góp phần đảm bảo an toàn kinh

tế cho người lao động và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội

- Bảo hiểm y tế: Là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chưucs, quản lý nhằm huy

động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân (theo Từ điển bách khoa Việt Nam)

1.8 Chính sách về ASXH trên lĩnh vực giảm nghèo và bảo trợ xã hội ở Việt Nam

Như đã nói ở trên, cấu trúc ASXH rất rộng, gồm nhiều lĩnh vực, nhiều nội dung và rất phức tạp, trong thời gian nhất định tác giả không thể khảo sát, điều tra lấy thông tin số liệu ở tất cả các lĩnh vực, do đó tác giả chỉ chọn 2 lĩnh vực là chính sách giảm nghèo và chính sách bảo trợ xã hội, đây là 2 lĩnh vực mà tác giả đã tiếp cận và thực hiện từ thực tiễn công tác nên sẽ cung cấp đầy đủ những luận cứ quan trọng, sát hợp với thực tiễn

1.8.1 Chính sách giảm nghèo

Theo cuốn Thuật ngữ an sinh xã hội, có viết: “Các chương trình giảm nghèo

là tập hợp các chính sách, biện pháp và dự án nhằm thúc đẩy khả năng tiếp cận của người nghèo đến các dịch vụ sản xuất và dịch vụ xã hội Thí dụ: Chương trình Mục tiêu Giảm nghèo của Việt Nam (áp dụng các chính sách miễn phí hoặc ưu đãi y tế, giáo dục, đào tạo nghề, khuyến nông, tín dụng cho hộ gia đình nghèo); Chương

Trang 35

trình 134 (hỗ trợ đất ở, nhà ở và nước sạch cho hộ nghèo); Chương trình 135 (hỗ trợ phát triển hạ tầng cho các xã nghèo: điện, đường, trường học, trạm y tế, chợ dân sinh) và Chương trình Giảm nghèo nhanh và bền vững (với mục tiêu tăng cường sản xuất nông nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập đối với 62 huyện nghèo có tỷ lệ

nghèo trên 50%)”[12]

Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác xoá đói, giảm nghèo Từ năm 1986, khởi đầu công cuộc đổi mới là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá VII (6-1993) đã chỉ rõ: “Trợ giúp người nghèo chủ yếu bằng cách cho vay vốn, hướng dẫn cách làm ăn Hình thành quỹ xoá đói giảm nghèo ở từng địa phương trên

cơ sở dân giúp dân, Nhà nước giúp dân và tranh thủ các nguồn tài trợ nhân đạo trong

nước và quốc tế Phấn đấu tăng số hộ giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo”[21]

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng ta chủ trương:

“Thực hiện tốt chương trình xoá đói giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…”, xoá đói, giảm nghèo được xác định là một trong 11 chương trình quốc gia Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 23-7-1998,

Chính phủ ra Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo giai đoạn 1998-2000 với mục tiêu và nhiều giải pháp cụ thể Tiếp

đó, ngày 31/7/1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số

135/1998/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (gọi tắt là Chương trình 135) Nghị quyết số

30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo Chỉ thị số 1752/2010/CT-TTg ngày 21/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức tổng kết điều tra hộ nghèo toàn quốc phục vụ thực hiện chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2011-2015 Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 về Định hướng giảm nghèo bền vững thời

kỳ từ năm 2011 đến năm 2020 của Chính phủ Tiếp đó, Chính phủ ban hành Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ Nghị quyết

số 76/2014/QH13 ngày 24/6/2014 về việc đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo

Trang 36

bền vững đến năm 2020 [46] Tiếp đến là Nghị quyết số 100/2015/QH13 ngày

12/11/2015 về phê duyệt chủ trương đầu tư thực hiện các Chương trình mục tiêu Quốc gia giai đoạn 2016-2020 Nghị quyết số 79/NQ-CP ngày 4/11/2015 phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10 năm 2015 Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020, đã làm thay đổi đáng kể nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền trong công tác giảm nghèo ở từng địa phương

Trong “Thuật ngữ An sinh xã hội” có nêu “Chuẩn nghèo là công cụ để phân

biệt người nghèo và người không nghèo Hầu hết chuẩn nghèo được tính dựa trên thu nhập hoặc chi tiêu của người dân Chuẩn nghèo về lương thực, thực phẩm là số tiền đủ để mua một số hàng hóa cung cấp được 2.100 Kcal/người/ngày Chuẩn nghèo chung tính thêm các chi phí tối thiểu cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm Người nghèo về lương thực, thực phẩm là người có mức sống được đo bằng thu nhập hoặc bằng chuẩn nghèo về lương thực, thực phẩm, thấp hơn hoặc bằng chuẩn nghèo chung Người cận nghèo là người có mức sống được đo bằng thu nhập

(hoặc tiêu chí), cao hơn từ 1 đến 1,3 lần chuẩn nghèo chung”[12]

Căn cứ vào mức sống thực tế các địa phương, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, từ năm 1993 đến năm 2015, Bộ LĐ–TB&XH đã nhiều lần công bố tiêu chuẩn

cụ thể cho hộ nghèo Các tiêu chí này thay đổi theo thời gian cùng với sự thay đổi mặt bằng thu nhập quốc gia Các chuẩn nghèo của Bộ LĐ-TB-XH ban đầu được quy đổi ra gạo, nhưng từ năm 2005 được tính theo phương pháp tiếp cận dựa vào Chi phí cho những nhu cầu cơ bản đa dạng hơn

* Giai đoạn 1993-1995 quy định về chuẩn đói nghèo được quy đổi ra gạo gồm chuẩn hộ đói và hộ nghèo: Hộ đói: bình quân thu nhập đầu người quy theo gạo/tháng dưới 13kg đối với thành thị, dưới 8kg đối với khu vực nông thôn Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người quy theo gạo/tháng dưới 20 kg đối với thành thị, dưới 15kg đối với khu vực nông thôn

* Giai đoạn 1995-1997 chuẩn đói nghèo cũng không có sự thay đổi về cách tính (gạo) chỉ tăng hơn số kg gạo: Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một

Trang 37

người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13kg, tính cho mọi vùng Hộ nghèo: là hộ

có thu nhập được chia theo 3 vùng, cụ thể: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15kg/người/tháng Vùng nông thôn, đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng Vùng thành thị: dưới 25kg/người/tháng

* Giai đoạn 1997-2000 chuẩn đói nghèo cũng cùng cách tính quy đổi từ gạo nhưng bổ sung tương đương về thu nhập của hộ gia đình Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13kg, tương đương

45 ngàn đồng Hộ nghèo: là hộ có thu nhập tùy theo từng vùng ở các mức tương ứng như sau: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng (tương đương 55 ngàn đồng) Vùng nông thôn, đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng (tương đương 70 ngàn đồng) Vùng thành thị: dưới 25kg/người/tháng (tương đương 90 ngàn đồng)

* Giai đoạn 2001-2005 (theo Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH): Vùng nông thôn miền núi, hải đảo quy định chuẩn nghèo ở vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng Và vùng thành thị: 150.000 đồng/người/tháng

* Giai đoạn 2006-2010 theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8 tháng

7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010), bỏ quy định chuẩn hộ đói, chuẩn nghèo nông thôn là thu nhập bình quân dưới 200.000 đồng/người/tháng, khu vực thành thị là dưới 260.000đồng/người/tháng

* Giai đoạn 2011-2015 thu nhập của hộ gia đình hộ nghèo và mở rộng thêm chuẩn cận nghèo theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 về việc Ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015) có quy định như sau: Hộ nghèo: Vùng nông thôn: từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống Vùng thành thị: từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống Hộ cận nghèo: Vùng nông thôn: từ 401.000 - 520.000 đồng/người/tháng Vùng thành thị: từ 501.000 – 650.000 đồng/người/tháng

Đến nay, chuẩn nghèo quy định giai đoạn 2016-2020 áp dụng theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận

đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 và Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH,

Trang 38

ngày 28/6/2016 về Hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 quy định chuẩn nghèo và chuẩn cận nghèo: Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị Chuẩn cận nghèo: 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị

Bảng 1.2: Nội dung xác định nghèo đa chiều ở Việt Nam

1986 trở lại không tốt nghiệp trung học cơ sở và hiện không

đi học

Hiến pháp 2013 NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020

Nghị quyết số 41/2000/QH (bổ sung bởi Nghị định số

em trong độ tuổi đi học (5 -

14 tuổi) hiện không đi học

Hiến pháp 2013

Luật bảo hiểm y tế 2014

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-

2020

Trang 39

nhà kiên cố, bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố, nhà đơn sơ)

Luật Nhà ở 2014

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-

2020

4.2 Hố xí/nhà vệ

sinh

Hộ gia đình không sử dụng

hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-

Luật Viễn thông 2009

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-

Luật Thông tin Truyền thông

2015

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-

2020

Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2015

Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Công tác xoá đói giảm nghèo

được đẩy mạnh và đạt kết quả đầy ấn tượng Theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm 1992 xuống dưới 7% năm 2005 Còn theo chuẩn quốc

tế (tính theo chuẩn 1 đôla/ngày/người), thì tỷ lệ nghèo chung đã giảm từ 58% năm

1993 xuống 28,9% năm 2002; nếu tính theo chuẩn mới (2 đôla/ngày/người) thì hộ

nghèo ở Việt Nam năm 2004 là 27,5%”[7] Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt

Trang 40

Nam đã về đích trước 10 năm so với mục tiêu xóa đói, giảm nghèo trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ Cũng chính nhờ năng lực lãnh đạo phát triển xã hội của Đảng mà xét về năng lực giảm nghèo của các quốc gia (gọi tắt là CPM) thì Việt Nam được xếp thứ 27 trong số 101 nước đang phát triển, có năng lực tốt hơn trong xoá đói, giảm nghèo, trên cả một số nước trong khu vực như Inđônêxia, Malaixia,

Philíppin, Thái Lan… [4]

- Khám chữa bệnh miễn phí (theo Điều 4 Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, sử đổi bổ sung năm 2014)

- Vay vốn với lãi xuất ưu đãi (theo Quyết định số 16/2003/QĐ-TTg ngày 22/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ, Tổng giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội hướng dẫn nghiệp vụ cho vay đối với hộ nghèo)

- Miễn thuế nông nghiệp (theo Nghị định số 20/2011/NĐ-CP ngày 23/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

- Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về việc miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp)

- Hỗ trợ tiền điện (49.000đồng /1 tháng theo Thông tư số 190/2014/TT-BTC ngày 11/12/2014 về thực hiện chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo và hộ chính sách xã hội)

- Hỗ trợ sử dụng nước sạch (theo Quyết định số 755/QĐ-TTg về nội dung nước sạch sinh hoạt phân tán và nước sinh hoạt tập trung theo đề án được phê duyệt)

- Cung cấp lương thực, thực phẩm giữa các mùa thu hoạch cũng như quà vào các dịp lễ tết (không thường xuyên)

- Hỗ trợ sửa chữa nhà ở (hỗ trợ vay vốn sửa chữa nhà ở à 25 triệu theo Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg ngày 10 tháng 8 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhà ở đối vói hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015

Ngày đăng: 09/06/2018, 12:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Nguyên Anh (2013), An sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất mô hình, giải pháp đăng trên https://www.ictvietnam.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: An sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất mô hình, giải pháp
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Năm: 2013
2. Mai Ngọc Anh (2009), An sinh xã hội đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam, tại trang: http://www.luanan.nlv.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: An sinh xã hội đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Anh
Năm: 2009
3. Bài viết Mô hình phát triển xã hội của Châu Âu, đăng trên đăng trên trang wed www.molisa.gov.vn, ngày 16/11/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình phát triển xã hội của Châu Âu", đăng trên đăng trên trang wed
4. Báo cáo số 21/LĐTBXH-BTXH ngày 25/4/2011 về chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010, Bộ LĐTB&XH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 21/LĐTBXH-BTXH ngày 25/4/2011 về chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010
5. Ban Tuyên giáo Trung ương, Tạp chí Cộng sản, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương (2012), An sinh xã hội ở nước ta: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: An sinh xã hội ở nước ta: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương, Tạp chí Cộng sản, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương
Năm: 2012
6. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Cộng hoà Liên bang Đức (GTZ) (2009), Xây dựng Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011 - 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011 - 2020
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Cộng hoà Liên bang Đức (GTZ)
Năm: 2009
7. Cơ quan đại diện Liên hợp quốc tại Việt Nam: Đưa các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ đến với người dân, Hà Nội, 2002, tr.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đưa các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ đến với người dân
8. Nguyễn Văn Chiêu (2010), An sinh xã hội và định hướng nghiên cứu nhằm nâng cao vai trò khoa học xã hội vào vai trò hoạch định chính sách an sinh xã hội, đăng trên https://www.ewpositories.vnu.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: An sinh xã hội và định hướng nghiên cứu nhằm nâng cao vai trò khoa học xã hội vào vai trò hoạch định chính sách an sinh xã hội, đăng trên
Tác giả: Nguyễn Văn Chiêu
Năm: 2010
9. Nguyễn Văn Chiêu (2014), Chính sách an sinh xã hội và vai trò của nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Chính sách an sinh xã hội và vai trò của nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Chiêu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2014
10. Mai Ngọc Cường (Chủ biên) (2009), Xây dựng và hoàn thiện chính sách An sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và hoàn thiện chính sách An sinh xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Cường (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
11. Nguyễn Hữu Dũng (2010), Hệ thống chính sách An sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng phát triển, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 26 (tr.119) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính sách An sinh xã hội ở Việt Nam: "Thực trạng và định hướng phát triển
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Năm: 2010
13. Đặng Ngọc Dinh (2015), Nghiên cứu đánh giá chính sách, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, số 1, tr. 57-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá chính sách
Tác giả: Đặng Ngọc Dinh
Năm: 2015
14. Vũ Cao Đàm (2011), Giáo trình khoa học chính sách, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình khoa học chính sách
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia
Năm: 2011
15. Nguyễn Trọng Đàm (2016), Thực trạng thực hiện chính sách trợ giúp xã hội và giải pháp đổi mới giai đoạn tới, đăng trên https://www.molisa.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thực hiện chính sách trợ giúp xã hội và giải pháp đổi mới giai đoạn tới
Tác giả: Nguyễn Trọng Đàm
Năm: 2016
16. Đảng bộ thành phố Hội An (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XVII, Hội An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XVII
Tác giả: Đảng bộ thành phố Hội An
Năm: 2015
17. Đảng bộ thành phố Hội An (2015), Văn kiện Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ XVII, Hội An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ XVII
Tác giả: Đảng bộ thành phố Hội An
Năm: 2015
18. Đảng bộ thành phố Hội An (2017), Tình hình thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ qua các thời kỳ, Hôi An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ qua các thời kỳ
Tác giả: Đảng bộ thành phố Hội An
Năm: 2017
19. Đảng bộ tỉnh Quảng Nam (2015), Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ XXI, giai đoạn 2015-2020, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ XXI, giai đoạn 2015-2020
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Quảng Nam
Năm: 2015
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ (bổ sung và phát triển) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
70. Trịnh cường (2012), Vài nét về an sinh xã hội ở Phần Lan, đăng trên https://http://www.tapchicongsan.org.vn Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w