1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

De cuong on tap TC LL chinh tri hanh chinh

93 165 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ỷ chí nguyện vọng, tập họp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm ch

Trang 1

ÔN THI TỐT NGHIỆP LỚP TC LL CT - HC

KHOA NHÀ NƯỚC PHÁP LUẬT

PHẦN III.1 (Vũ Đức Nghĩa)

- Hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm mấy bộ phận cấu thành? Đó là những bộ phận nào? Nêu vị trí, chức năng cơ bản của các cơ quan nhà nước trong bộ máv nhà nước nước CHXHCN Việt Nam.

- Phân tích khái niệm, đặc điểm của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

- Hội đồng nhân dân là gì? Trình bàv cơ cấu tổ chức của HĐND ba cấp.

- Phân tích cấu trúc của quy phạm pháp luật, cho ví dụ về quy phạm pháp luật và chỉ ra các yếu tố cấu thành của quy phạm pháp luật đó.

Câu 1 Hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm mấy bộ phận cấu thành? Đó là những bộ phận nào? Nêu vị trí, chức năng cơ bản của các cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước nước CHXHCN Việt Nam.

Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (các cơ quan quyền lực nhà nước, các đảng chính trị, các phong trào xã hội,các tổ chức chính trị - xã hội được xây dựng theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành trên những nguyên tắc,cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị.

Cấu trúc của hệ thống chính trị: Hệ thống chính trị được tạo thành từ nhiều bộ phận, mỗi bộ phận đó lại là

một kết cấu phức tạp gồm nhiều bộ phận nhỏ khác, có thể coi là các “tiểu hệ thống” Đó là:

- Các thể chế chính trị (các tổ chức) - Tiểu hệ thống thể chế

- Các quan hệ chính trị - Tiểu hệ thống quan hệ

- Các cơ chế hoạt động - Tiểu hệ thống cơ chế

- Các nguyên tăc vận hành - Tiểu hệ thống các nguyên tắc vận hành

Như vậy, cấu trúc của hệ thống chính trị gồm bốn bộ phận chủ yếu: Các tổ chức là cốt vật chất của hệ thống

chính trị; các quan hệ chính trị là bộ phận kết nối các tổ chức và đảm bảo các vai trò, chức năng nhất định của chúng;các cơ chế và nguyên tắc vận hành đảm bảo cho hệ thống chính trị vận hành thông suốt và đúng đắn

HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM

1 Một số đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam

Hệ thống chính trị Việt Nam tất yếu vừa mang tính phổ biến vừa mang tính đặc thù Do đó, về cơ bản được tổchức gần giống như hệ thống chính trị nhiều nước trên thế giới Mặt khác, hệ thống chính trị Việt Nam được tổ chức

và vận hành trong điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội và môi trường văn hóa chính trị đặc thù Chính vì vậy hệ thốngchính trị Việt Nam có những đặc điểm riêng

Thứ nhất, hệ thống chính trị Việt Nam do duy nhất một Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Tính đặc thù

này được quy định bởi vai trò, vị trí, khả năng lãnh đạo, uy tín lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lậpđến nay, trong quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, chông ách thực dan, thong nhất đất nước, xây dựng

và bào vệ Tổ quốc, đổi mới xã hội, v.v

Thứ hai, hệ thống chính trị Việt Nam là hệ thông chính trị được xây dựng theo mô hình hệ thống chính trị xã

hội chủ nghĩa Xô viết, mặc dù đang trong quá trình đổi mới, hoàn thiện nhưng ảnh hưởng của chế độ tập trung quanliêu, bao cấp trong mô hình ấy đang còn khá nặng nề Những khuyết tật của mô hỉnh Xô viết lại được củng cố thêmbởi các tổ chức chiến đấu, chiến tranh, kháng chiến Những thói quen xử lý công việc, quản lý xã hội, ứng xử theo thờichiến vẫn còn ảnh hưởng khá đậm nét trong các thế hệ cán bộ, đặc biệt là thế hệ trưởng thành trong chiến tranh

Thứ ba, ở Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội phần lớn đều được Đảng Cộng sản tổ chức rèn luyện, ra

đời ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập và trở thành các tổ chức quần chúng, cơ sở chính trị - xã hội củaĐảng Vì vậy, sau khi giành được độc lập, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, các tổ chức chính trị -

xã hội đồng thời trở thành cơ sở chính trị - xã hội của Nhà nước, được hưởng các điều kiện tổ chức và hoạt động nhưcác cơ quan nhà nước Mối quan hệ này có mặt tích cực, nhưng cũng có mặt hạn chế, đó là nguy cơ hành chính hóa, xadân, thụ động và thiếu tính độc lập trong hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội

Những đặc điểm này vừa quy định kết cấu, tổ chức vận hành và các mối quan hệ vừa cho thấy những thuận lợinhũng khó khăn, thách thức mà chúng ta phải giải quyết, v.v vừa đặt ra nhũng yêu cầu đổi mới và hoàn thiện hệ thốngchính trị nước ta

2 Cấu trúc hệ thống chính trị Việt Nam

Trước hết, về tổ chức bộ máy (tiểu hệ thống thề chế), hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm Đảng Cộng sảnViệt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội như: Tổng Liên đoàn Lao động ViệtNam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựuchiến binh Việt Nam

Trong hệ thống chính trị Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhà nước và xã hội, là hạt nhân của hệthống chính trị

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, hệ thống tưpháp (Tòa án và Viện Kiểm sát nhân dân) và chính quyền các địa phương

- Quốc hội: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 2

Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sáttối cao đối với hoạt động của Nhà nước (Hiến pháp 2013, Điều 69).

- Chủ tịch nước: Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam về đối nội và đối ngoại Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ừong số các đại biểu Quốc hội Chủ tịch nước chịu tráchnhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội (Hiến pháp 2013, Điều 86; 87)

- Chính phủ: Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội vàbáo cáo công tác trươc Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước (Hiến pháp 2013, Điều 94)

- Tòa án nhân dân: Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực

hiện quyên tư pháp Tòa an nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật đinh Tòa án nhân dân

có nhiệm vụ báo vệ công lý, bảo vệ quyên con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi íchcủa Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (Hiến pháp 2013, Điều 102)

- Viện Kiểm sát nhân dân: Viện Kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Viện

Kiểm sát nhân dân gồm Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện Kiểm sát khác do luật định Viện Kiểm sát nhândân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệlợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hànhnghiêm chinh và thống nhất (Hiến pháp 2013, Điều 107)

- Chính quyền địa phương: Chính quyền địa phương được tồ chức ờ các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặcđiểm nông thôn đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định

Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật tại địa phương; quyết định cácvấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên Nhiệm vụ, quyền hạncủa chính quyền địa phương được xác định trên cơ sờ phân định thẩm quyên giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương,địa phương và của mỗi cấp chính quyên địa phương Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được giaothực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyềnlàm chủ của nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơquan nhà nước cấp trên Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theoHiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân

Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành củaHội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quanhành chính nhà nước cấp trên, ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chứcthực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao (Hiến pháp

2013, các Điều 111; 112; 113; 114)

Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước tập trung vào Quốc hội (cơ quan đại biểucao nhất, cơ quan quyên lực nhà nước cao nhât) Các cơ quan khác như Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân vàViện Kiểm sát dều dược Quốc hội cử ra, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội Chínhphủ, còn là cơ quan chấp hành của Quốc hội

Mặc dù quyền lực Nhà nước là tập trung, thống nhất không thể phân chia, nhưng có phân công và kiểm soátgiữa các cơ quan nhà nước trong việc thực thi các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thành viên của Mặt trận là một bộ phận của hệthống chính trị Mặt trận Tồ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị,các tổ chức chính trị - xã hội, tô chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dântộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Điều 1 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam)

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện

ỷ chí nguyện vọng, tập họp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia công tác bầu

cử Quốc hội, Hội dồng nhân dân các cấp, xây dựng chủ trương, chính sách pháp luật, vận động nhân dân thực hiệnđường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện giám sát, phản biện hoạt động các cơ quan nhànước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, đảng viên, giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân

Câu 2 Phân tích khái niệm, đặc điểm của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

1 Khái niệm, đặc trưng và yêu cầu đối với nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định đặc trung thứ bảy trong số tám đặc trưng chủ yếu

của xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng là “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,

do nhân dân, vì nhân dân” Vì vậy, để đi lên chủ nghĩa xã hội cùng với việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển nền

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựngĐảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập quốc

Trang 3

tế, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ yêu cầu tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta hiện nay.

1.1 Khái niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Quan điểm của Đảng ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là quá trình đúc kết, kế thừa, vậndụng tư tưởng về Nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật kiểu mới và thực tiễn xây dựng Nhà nước kiểu mới ở nước ta, nhất là trongnhững năm đổi mới vừa qua

Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền xuất hiện rất sớm trong lịch sử tư tưởng nhân loại, ngay từ khi xuất hiệnNhà nước cổ đại và được tiếp tục phát triển, nhất là trong thời kỳ cách mạng tư sản Tư tưởng về Nhà nước phápquyền phản ánh khát vọng của nhân dân về một Nhà nước đảm bảo tự do, dân chủ, nhân quyền, đối lập với sự độcđoán, độc tài của Nhà nước chủ nô và chế độ chuyên chế hà khắc của Nhà nước phong kiến

Nhà nước pháp quyền theo quan điểm của các nhà tư tưởng trong lịch sử nhân loại là Nhà nước bảo đảm tínhtối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội, trong đó pháp luật phải phản ánh ý chí chung, lợi ích chung của nhândân; thực hiện và bảo vệ quyền tự do, dân chủ của nhân dân; chịu trách nhiệm trước công dân về nhưng hoạt động củamình và yêu cầu công dân thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; có hình thức tổ chức quyền lực Nhànước thích hợp bảo đảm chủ quyền thuộc về nhân dân, tổ chức thực hiện có hiệu quả quyền lập pháp, hành pháp tưpháp; ngăn chặn được sự tùy tiện, lạm quyền từ phía Nhà nước, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, kể

cả vi phạm pháp luật của các cơ quan và công chức nhà nước

Như vậy, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước gắn với một giai cấp (nhà nước chủ nô, nhànước phong kiến, nhà nước tư sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa) mà là hình thức tổ chức quyền lực nhà nứơc, bao đảm

tổ chức hoạt động của nhà nước tuân theo quy định của pháp luật, thực hiện được quản lý xã hội theo pháp luật, bảođảm chủ quyền và quyền tự do, dân chủ cùa nhân dân

Chúng ta tiếp thu các giá trị tích cực, tiến bộ, khoa học về nhà nước pháp quyền trong lịch sử, đồng thời quántriệt quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước, pháp luật kiểu mới và vận dụng phùhợp với thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta Trên quan điểm này có thể khái quátNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là Nhà nước xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân; tất cả quyền lựcnhà nước thuộc về nhân dân; bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, quản lý xã hội theo pháp luật nhằm phục vụ lợi ích

và hạnh phúc của nhân dân, do Đảng tiền phong của giai cấp công nhân lãnh đạo đồng thời, chịu trách nhiệm trướcnhân dân và sự giám sát của nhân dân

1.2 Đặc trưng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong những năm đổi mới vừa qua Đảng ta đã từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản vềxây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Từ nhận thức lý luận và thực tiễn xây dựngnhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có thể khái quát Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có những đặc trưng sauđây:

- Đó là Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc vềnhân dân

- Đó là Nhà nước tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phâncông và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện quyền lưc nhà nước về mặt lập pháp, hành pháp

Câu 3 Hội đồng nhân dân là gì? Trình bày cơ cấu tổ chức của HĐND ba cấp

Điều 111 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nin 2013 quy định: “1 Chính quyền địa phương được tổ chức ờ các đon vị hành chính của nước Cộng hoa xa họi chu nghĩa Việt Nam 2 cấp chính quyền địa

phương gôm có Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân được tô chưc phu hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo,đơn vị hành chính - kinh tê đặc biệt do luật định”

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

1 Vị trí, vai trò và chức năng của Hội đồng nhân dân

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi năm 2001) quy định: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân

Trang 4

dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Kế

thừa và phát triển Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục ghi nhận tại Điều 113 “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ cùa nhân dân địa phương,

do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân”.

Hội đồng nhân dân thực hiện hai chức năng: Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyêt của Hội đồng nhân dân Cụ thể là:

Hội đông nhân dân quyết định những chủ trương và biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địaphương; xây dựng và phát triên địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiệnđời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước Đây lànhững vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhất đối với đời sống kinh tế - xã hội ở địa phương

Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực HĐND, ủy ban nhân dân, Tòa

án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cùng các cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết; giám sát việc tuân theopháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địaphương

2 Cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân

Hội đồng nhân dân được tổ chức và phân cấp theo các đơn vị hành chính địa phương, bao gồm: Hội đồng nhân

dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tinh (gọi chung là cấp huyện) và Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã).

Hội đồng nhân dân ở mỗi cấp bao gồm những đại biểu do nhân dân bầu ra theo những quy định cụ thể của Luậtbầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp Tùy theo từng cấp đơn vị hành chính, Hội đồng nhân dân các câp cónhững cơ cấu tổ chức khác nhau

- Thường trực Hội đồng nhân dân: Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện gồm Chủ tịch, Phó

Chủ tịch và ủy viên thường trực; Thường trực Hội dồng nhân dân cấp xã gồm Chủ tịch, Phó Ch ủ tịch Hội đồng nhândân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra Thành viên của Thường trực Hội đồng nhân dân không thể đồng thời làthành viên của ủy ban nhân dân cùng cấp

- Các ban của Hội đồng nhân dân: Để giúp Hội đồng nhân dân thực hiện tốt nhiệm vụ và quyền hạn của mình

ừong những lĩnh vực cụ thể, pháp luật quy định về việc thành lập các ban của Hội đồng nhân dân

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thành lập ba ban: Ban kinh tế và ngân sách, Ban văn hóa - xã hội, Ban pháp chế;nơi nào có nhiều dân tộc thì có thể thành lập Ban Dân tộc Hội đồng nhân dân cấp huyện thành lập hai ban: Ban kinh

tế - xã hội; Ban pháp chế số lượng thành viên của mỗi ban do Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định Thành viên củacác ban của HĐND không thể đồng thời là thành viên của ủy ban nhân dân cùng cấp

Trưởng ban củạ Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhândân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp

- Đại biểu Hội đồng nhân dân: Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân

dân địa phương, gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, vận động nhân dân thựchiện chính sách, pháp luật và tham gia vào việc quản lý nhà nước

Đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động theo nhiệm kỳ Nhiệm kỳ của đại biểu Hội đông nhân dân mỗi khóa bắtđầu từ kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa đó đến kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa sau

Câu 4 Phân tích cấu trúc của quy phạm pháp luật, cho ví dụ về quy phạm pháp luật và chỉ ra các yếu tố cấu thành của quy phạm pháp luật đó

Khái niệm hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa: Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa là tổng thể các quy

phạm pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật, các ngành luật vàđược thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thầm quyền ban hành theo nhữngtrình tự, thủ tục và hình thức nhất định

Quy phạm pháp luật

1 Khái niệm quy phạm pháp luật:

Quy phạm pháp luật trước hết là quy phạm xã hội, vì vậy, nó mang những tính chất vốn có của một quy phạm

xã hội: là quy tắc xử sự chung, là tiêu chuẩn để đánh giá hành vi của con người Tuy nhiên, quy phạm pháp luật cũng

có những đặc điểm riêng, đó là:

Quy phạm pháp luật chỉ do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và được đảm bảo thực hi ện bằng các biện phápcưỡng chế nhà nươc Nhà nước thiêt lập ra một hệ thống cơ quan chuyên môn để đảm bảo cho pháp luật được thựchiện chính xác và triệt để Bất kỳ chủ thể nào vi phạm pháp luật cũng đều phải bị truy cứu trách nhiệm pháp lý

Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung Tính bắt buộc chung của quy phạm pháp luậtđược hiểu là bắt buộc đối với tất cả mọi chủ thể nằm trong hoàn cảnh, điều kiện mà quy phạm pháp luật đó quy định.V.I.Lênin viết: Bất cứ quyền nào cũng đều có nghĩa là áp dụng một tiêu chuẩn duy nhất cho những người khác nhau,

Trang 5

cho những người thật ra không giống nhau và cũng không ngang nhau.

Quy phạm pháp luật được sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần trong không gian và thời gian Hiệu lực của quyphạm pháp luật chỉ thay đổi hay chấm dứt khi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước ban hành sửa đổi hay đặt ra quyphạm pháp luật mới, tuyên bố hủy bỏ hoặc thời hạn áp dụng nó đã hết

Nội dung mỗi quy phạm pháp luật là rõ ràng, chính xác, nó quy định những điều được làm, không được làm.Nói cách khác, quy phạm pháp luật xác định rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia quan hệ xã hội mà nóđiều chỉnh

Quy phạm pháp luật vừa mang tính xã hội (duy trì, bảo vệ đời sống cộng đồng nói chung, chẳng hạn quy địnhtrật tự đi lại trên đường, v.v ), vừa mang tính giai cấp (thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị)

Về hình thức, quy phạm pháp luật xã hội chủ nghĩa là quy phạm thành văn được ghi nhận trong các văn bảnpháp luật của Nhà nước, trình bày thành điều, khoản, có đánh số, mục rõ ràng

Tóm lại, quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do các cơ quan nhà nước có

thẩm quyền đặt ra hoặc thừa nhận thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thông trị để điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích xây dựng xã hội ổn định và trật tự.

2 Cấu trúc quy phạm pháp luật

Cấu trúc của quy phạm pháp luật được hiểu là các bộ phận hợp thành quy phạm pháp luật Mỗi quy phạm pháp

luật gồm ba bộ phận là giả định, quy định và chế tài Các bộ phận này có mối quan hệ chặt chẽ và quy định lẫn nhau.

- Giả định của quy phạm pháp luật: Giả định là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên chủ thể (cá nhân

hay tổ chức), những hoàn cảnh, điêu kiện, địa điểm, thời gian xảy ra hành vi (hành động hoặc không hành động) trongcuộc sống mà con người gặp phải và cần phải xử sự theo những quy định của Nhà nước

Phần giả định thường trả lời câu hỏi: Người (tổ chức) nào? Khi nào? Trong những hoàn cảnh, điều kiện nào?

- Quy định của quy phạm pháp luật: Quy định của quy phạm pháp luật là một bộ phận của quy phạm pháp luật

trong đó nêu ra cách xử sự buộc mọi người phải theo khi ở vào hoàn cảnh, điều kiện đã nêu trong phần giả định củaquy phạm pháp luật

Quy định là bộ phận quan trọng, là yếu tố trọng tâm của quy phạm pháp luật Bởi vì, quy định chính là bộ phậnthể hiện ý chí và lợi ích của nhà nước, xã hội và cá nhân con người trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội nhất định Nóthể hiện một cách chính xác, trực tiếp bản chất, chức năng của quy phạm và vai trò xã hội của nó Quy định cũngchính là mệnh lệnh của Nhà nước buộc mọi chủ thể (tổ chức, cá nhân, v.v.) phải tuân theo nghiêm chỉnh Do vậy, nắmvững bộ phận quy định của một quy phạm pháp luật là diều kiện không thể thiếu để thực hiện đúng đắn quy phạmpháp luật

Phần quy định của quy phạm pháp luật thường trả lời câu hỏi: Phải làm gì? Được làm gì? Làm như thế nào?

- Chế tài của quy phạm pháp luật: Chế tài là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác

động mà Nhà nước dự kiến sẽ áp dụng đối với chủ thể nào không thực hiện đúng bộ phận quy định của quy phạm phápluật Theo pháp luật hiện hành của Việt Nam hiện nay có các loại chế tài sau:

+ Chế tài dân sự gồm: công nhận quyền dân sự, buộc chấm dứt hành vi dân sự, buộc xin lỗi, cải chính công

khai, buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại xảy ra

+ Chế tài hành chính gồm các biện pháp: cảnh cáo, phạt tiền Ngoài ra, còn có các biện pháp bổ sung: tước

quyền sử dụng giấy phép (tước bằng lái các phương tiện giao thông, phương tiện vận t ải, giấy phép kinh doanh hoặccác loại giấy phép khác), tịch thu tang vật phương tiện vi phạm và một số biện pháp hành chính khác

Chế tài kỷ luật gồm các biện pháp: khiển trách, cảnh cáo, hạ tầng công tác, hạ bậc lương, chuy ển đi làm việckhác, buộc thôi việc, cách chức

Chế định pháp luật: Chế định pháp luật là một nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội có

những đặc điểm chung và có quan hệ mật thiết với nhau thuộc cùng một loại quan hệ xã hội do ngành luật điều chỉnh.Nói cách khác, một ngành luật bao gồm nhiều chế định pháp luật mà giữa chúng vừa có mối quan hệ hữu cơ như mộtchỉnh thể thống nhất, vừa có tính độc lập tương đối

Ví dụ về quy phạm pháp luật và chỉ ra các yếu tố cấu thành của quy phạm pháp luật đó:

Điều 133 Bộ Luật hình sự: Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi kháclàm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản thì bị phạt tù từ 3 nămđến 10 năm

Giả định: Bất kể người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự

Quy định: Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâmvào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản

Chế tài: Phạt tù từ 3 năm đến 10 năm

Trang 6

PHẦN III 2 (Lưu Đình Tín)

- Phân tích các nhiệm vụ cải cách hành chính theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011- 2020.

- Phân tích khái niệm, đặc điểm của khiếu nại Phân biệt khiếu nại với tố cáo.

- Phân tích các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật hành chính A gây rối trật tự công cộng bị Chủ tịch UBND xã B xử phạt 500.000đ Hãy chỉ ra các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính trong ví dụ trên.

- Phân tích nội dung của quản lý hành chính nhà nước Liên hệ thực tế công tác quản lý hành chính nhà nước tại địa phương, cơ quan anh (chị) đang công tác.

- Phân tích các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật hành chính.

Câu 1 Phân tích các nhiệm vụ cải cách hành chính theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011- 2020.

Có thể hiểu cải cách hành chính là quá trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đạt mục tiêu hoàn thiện một haymột số nội dung của nền hành chính nhà nước (thể chế, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức, tài chính công,v.v.) nhằm xây dựng nền hành chính công đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và hiện đại.Đứng trên phương diện quản lý nhà nước của hệ thống các cơ quan thực thi quyền hành pháp, thì cải cách hànhchính là cải cách cách thức quản lý, tức cải cách cách thức mà cơ quan thực thi quyền hành pháp tác động đến đờisống chính trị - văn hóa - xã hội và

con người nhằm đạt được mục tiêu phát triển một cách bền vừng

NỘI DUNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở CƠ SỞ

1 Những nội dung chủ yếu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020

Trọng tâm cải cách hành chính trong giai đoạn 2011-2020 là: Cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượmgđội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ,công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chấtlượng dịch vụ công Những nội dung đó nhằm đạt các mục tiêu:

Thứ nhất, xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm giải

phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước

Thứ hai, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí

về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc tuân thủ thủ tục hành chính

Thứ ba, xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương tới cơ sở thông suốt, trong sạch,

vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ vàcủa các cơ quan hành chính nhà nước

Thứ tư, bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền con người, gắn quyền con

người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước

Thứ năm, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu

cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước

2 Thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020

Một là, cải cách thể chế hành chính.

Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung; đổi mới vànâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, trước hết là quy trình xây dựng ban hành luật, pháp lệnh, nghị đinh,quyết định, thông tư và văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợppháp, tính đồng bộ, cụ thể và khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách, trước hết là thể chế kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa; hoàn thiện thể chế về sở hữu; sửa đổi đồng bộ thể chế hiện hành về sở hữu đất đai, phânđịnh rõ quyền sở hữu đất và quyền sử dụng đất, bảo đảm quyền của người sử dụng đất; tiếp tục đổi mới thể chế vềdoanh nghiệp nhà nước; hoàn thiện thể chế về tổ chức và kinh doanh vốn nhà nước

Sửa đồi, bổ sung các quy định của pháp luật về xã hội hóa theo hướng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nướctrong việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia cungứng các dịch vụ trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhànước; sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về tồ chức và hoạt động của Chính phủ, Hộiđồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp

Xây dựng, hoàn thiện quy định của pháp luật về mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, trọng tâm là bảođảm và phát huy quyên làm chủ của nhân dân, lấy ý kiến của nhân dân trước khi quyêt định các chủ trưong, chính sáchquan trọng và về quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước

Hai là, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính.

Cắt giảm và nâng cao chất lượng thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước, nhất là thủ tụchành chính liên quan tới người dân, doanh nghiệp

Thực hiện cải cách thủ tục hành chính để tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, giải phóng mọi nguồn lựccủa xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

Cải cách thủ tục hành chính giữa các cơ quan hành chính nhà nước, các ngành, các cấp và trong nội bộ từng cơ

Trang 7

Ba là, cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước.

Tiến hành tổng rà soát về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế hiện có của các

bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhândân cấp tỉnh, cấp huyện, các cơ quan, tổ chức khác thuộc bộ máy hành chính nhà nước ở Trung ương và địa phương(bao gồm cả các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước); trên cơ sở đó điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và t ổchức, sắp xếp lại các cơ quan, đơn vị nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ trống hoặc trùng lặp về chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn; chuyển giao những công việc mà cơ quan hành chính nhà nước không nên làm hoặc làm hiệuquả thấp cho xã hội, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ đảm nhận

Tổng kết, đánh giá mô hình tổ chức và chất lượng hoạt động của chính quyền địa phương nhằm xác lập môhình tổ chức phù hợp bảo đảm phân định đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, sát thực tế hiệu lực, hiệu quả; xâydựng mô hình chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn phù họp

Hoàn thiện cơ chế phân cấp, bảo đảm quản lý thống nhất về tài nguyên, khoáng sản quốc gia; quy hoạch và cóđịnh hướng phát triển; tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra; đông thời, đề cao vai trò chủ động, tinh thần tráchnhiệm, nâng cao năng lực của từng cấp, từng ngành

Tiếp tục đổi mới phương thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nước; thực hiện thống nhất và nâng caochất lượng thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tập trung tại bộ phận tiếp nhận, trả kết quả thuộc Văn phòngHội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân cấp huyện; bảo đảm sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơquan hành chính nhà nước đạt mức trên 80% vào năm 2020

Cải cách và triển khai trên diện rộng cơ chế tự chủ, tư chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công;chất lượng dịch vụ công từng bước được nâng cao, nhất là trong các lĩnh vực giáo dục, y tế; bảo đảm sự hài lòng của

cá nhân đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp trong các lĩnh vực giáo dục, y tế đạt mức trên 80% vàonăm 2020

Bốn là, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức viên chức có cơ cấu, thành phần hợp lý, đủ về số lượng; mỗi cán bộ, côngchức viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng có tính chuyên nghiẹp cao, đ ủ trinh độchuyên môn và năng lực thi hành công vụ, đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính hiện đại phục vụ nhân dân vàphục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước

Xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật vê chức danh, tiêu chuân nghiệp vụ của cán

bộ, công chức viên chức, kể cả cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý

Xây dựng cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức hợp lý gắn với vị trí việc làm trên cơ sở xác định rõ chức năng,nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị

Hoàn thiện quy định của pháp luật về tuyển dụng, bố trí, phân công nhiệm vụ phù hợp với trình độ, năng lực,

sở trường của công chức, viên chức trúng tuyển; thực hiện chế độ thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh; thi tuyểncạnh tranh để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý

Hoàn thiện quy định của pháp luật về đánh giá cán bộ, công chức, viên chức trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm

vụ được giao; thực hiện cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tínvới nhân dân; quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức tương ứng với trách nhiệm và có chếtài nghiêm đôi với hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật, vi phạm đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viênchức

Đổi mới nội dung và chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện việc đào tạo, bôidưỡng theo các hình thức: Hướng dẫn tập sự trong thời gian tập sự; bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, viênchức; đao tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; bồi dưỡng bắt buộc kiến thức, kỹ năng tối thiểutrước khi bổ nhiệm và bồi dưỡng hàng năm

Nhà nước cần tập trung nguồn lực ưu tiên cho cải cách chính sách tiền lương, chế độ bảo hiểm xã hội và ưu đãingười có công; Mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức được cải cách cơ bản,bảo đảm được cuộc sống của cán bộ, công chức, viên chức và gia đình ở mức trung binh khá trong xã hội

Nâng cao trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương hành chính và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức; xử

lý nghiêm minh, kịp thời cán bộ, công chức, viên chức vi phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật, kỷ cương hành chính.Tiếp tục đổi mới quy định của pháp luật về khen thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức trong thực thicông vụ; xây dựng chế độ thưởng vật chất xứng đáng và tôn vinh công trạng hợp lý đối với cán bộ, công chức, viênchức hoàn thành xuất sắc công vụ, bảo đảm khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức thi đua trong thực thi công vụ

Năm là, cải cách tài chính công.

Động viên hợp lý, phân phối và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội; tiếp tục

Trang 8

hoàn thiện chính sách và hệ thống thuế, các chính sách về thu nhập, tiền lương, tiên công; phấn đấu giảm dần bội chingân sách.

Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế vàcác tổng công ty; quản lý chặt chẽ việc vay và trả nợ nước ngoài; giữ mức nợ Chính phủ, nợ quốc gia và nợ công tronggiới hạn an toàn

Đoi mới căn bản cơ chế sử dụng kinh phí nhà nước và cơ chế xây dựng, triển khai các nhiệm vụ khoa học,công nghệ theo hướng lấy mục tiêu và hiệu quả ứng dụng là tiêu chuẩn hàng đầu; xây dựng đồng bộ chính sách đàotạo, thu hút, trọng dụng, đãi ngộ xứng đáng nhân tài khoa học và công nghệ

Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho cơ quan hành chính nhà nước, tiến tới xóa bỏ chê độ cấp kinh phí theo

số lượng biên chế, thay thế bằng cơ chế cấp ngân sách dựa trên kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào kiểm soátđầu ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước

Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục, đàotạo, y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình, thể dục, thể thao

Đổi mới cơ chế hoạt động, nhất là cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công

Sáu là, hiện đại hóa các cơ quan hành chính.

Hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động của mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ trên internet Đẩymạnh ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước để đến năm2020: 90% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện dưới dạngđiện tử; hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến trên mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ ởmức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phươngtiện khác nhau

Ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong quy trình xử lý công việc của từng cơ quan hành chính nhànước, giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạtđộng dịch vụ hành chính công, dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công

Công bố danh mục các dịch vụ hành chính công trên mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ trêninternet Xây dựng và sử dụng thống nhất biểu mẫu điện tử trong giao dịch giữa cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức

và cá nhân, đáp ứng yêu cầu đơn giản và cài cách thủ tục hành chính

Thực hiện có hiệu quả hệ thống quản lý chất lượng trong các cơ quan hành chính nhà nước

Xây dựng trụ sở cơ quan hành chính nhà nước bảo đảm yêu cầu cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệuquả quản lý của bộ máy nhà nước

Câu 2 Phân tích khái niệm, đặc điểm của khiếu nại Phân biệt khiếu nại với tố cáo.

1 Khái niệm, đặc điểm của khiếu nại

- Khái niệm khiếu nại:

Theo Từ điển Tiếng Việt, khiếu nại là những thắc mắc, đề nghị, xem xét lại những kết luận, quyết định do các

cấp có thẩm quyền đã làm, đã chuẩn y

Quyền khiếu nại của công dân là một trong các quyền hiến định, xuất hiện khá sớm trong lịch sử lập hiến ViệtNam Bản Hiến pháp đầu tiên quy định về quyền này là Hiến pháp năm 1959, Theo đó, công dân nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhânviên cơ quan nhà nước Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh chóng Người bị thiệt hại vìhành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước có quyền được bồi thường (Điều 29) Tiếp đến là Hiến pháp năm

1980 quy định: công dân có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm tráipháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơquan, tô chức và đơn vị đó Các điều khiếu nại và tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng Mọi hành độngxâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại

có quyền được bồi thường Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo (Điều 73) Hiến pháp 1992 và Hiến pháp

1992 (sửa đổi) tiếp tục khẳng định:

+ Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm tráipháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân

+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận giải quyết khiếu nại, tố cáo Người bị thiệt hại cóquyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật

+ Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáolàm hại người khác

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp Quốc hội đã ban hành các luật để hiện thực hóa quyền khiếu nại của côngdân Hiện nay, quyền khiếu nại của công dân được quy định trong các luật: Luật Khiếu nại (2011) và Luật Tiếp côngdân (2013)

Khái niệm khiếu nại được nhà làm luật ghi nhận tại Điều 2, Luật Khiếu nại năm 2011 Theo đó có thể khái quát

về khiếu nại như sau: Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của

Trang 9

cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

- Khiếu nại có các đặc điểm sau đây:

+ Khiếu nại là hoạt động của cơ quan, tồ chức hoặc công dân nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

bị xâm hại từ phía cơ quan hành chính nhà nước hoặc cán bộ công chức trong cơ quan hành chính nhà nước

+ Về chủ thể của khiếu nại: chủ thể của khiếu nại hay còn gọi là người khiếu nại được xác định là c ông dân, cơquan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức thực hiện quyền khiếu nại

+ Về chủ thể bị khiếu nại: chủ thể bị khiếu nại hay còn gọi người bị khiếu nại là cơ quan hành chính nhà nướchoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếunại; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có quyết định kỷ luật cán bộ, công chức bị khiếu nại

+ Về đối tượng của khiếu nại: đó là các quyết định hành chính, hành vi hành chính, hoặc là quyết định kỷ luậtđối với cán bộ công chức bị coi là trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích trực tiếp của người khiếu nại

+ Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại phải được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định bao gồm: đúngquy đinh của pháp luật; bảo đảm khách quan, công khai, dân chủ và kịp thời

2 Phân biệt khiếu nại với tố cáo

Khiếu nại và tố cáo là hai từ khá quen thuộc trong pháp luật hành chính, không chỉ quen thuộc trong phạm vipháp luật, mà cuộc sống thường nhật vẫn thường sử dụng chúng, thế nhưng, bản chất của 2 từ này hoàn toàn khácnhau Dưới đây là bảng phân biệt giữa 2 cụm từ trên, giúp nhận định trường hợp nào là khiếu nại, trường hợp nào là tốcáo

Khái niệm

Là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ,công chức theo thủ tục quy định, đề nghị cơ quan, tổchức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết địnhhành chính, hành vi hành chính của cơ quan hànhchính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơquan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luậtcán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết địnhhoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền,lợi ích hợp pháp của mình

Là việc công dân theo thủ tục quy định báo cho cơquan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi

vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cánhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợiích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của côngdân, cơ quan, tổ chức

- Quyết định kỷ luật cán bộ, công chức

- Hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổchức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệthại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp củacông dân, cơ quan, tổ chức

Yêu cầu về thông

tin Không quy định người khiếu nại chịu trách nhiệm vềviệc khiếu nại sai sự thật

Người tố cáo phải trung thực và chịu trách nhiệm vềviệc tố cáo sai sự thật nếu cố tình, thậm chí có thể bịtruy cứu trách nhiệm hình sự về tội vu cáo, vu khốngtheo quy định của Bộ luật Hình sự 1999

Khen thưởng Không có quy định

Được khen thưởng theo Nghị định 76/2012/NĐ-CP

với các giải:

- Huân chương Dũng cảm

- Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ

- Bằng khen của các Bộ, cơ quan ngang Bộ…

Riêng với việc tố cáo hành vi tham nhũng còn đượcxét tặng thưởng với số tiền lên đến 3.45 tỷ đồng theoThông tư liên tịch 01/2015/TTLT-TTCP-BNV

Kết quả giải quyết

Quyết định giải quyết

(Nhằm trả lời cho người khiếu nại về những thắcmắc của họ nên phải ra quyết định giải quyết thểhiện sự đánh giá và trả lời chính thức của cơ quan

Xử lý tố cáo(Nhằm xử lý một thông tin, kết quả xử lý thông tin vàgiải quyết tố cáo đó có thể sẽ rất khác nhau

Xử lý tố cáo chỉ được gửi đến người tố cáo chỉ khi họ

Trang 10

nhà nước.

Quyết định giải quyết khiếu nại bắt buộc phải được

Thời hiệu thực

hiện

90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hành chínhhoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hànhchính

15 ngày kể từ ngày cán bộ, công chức, viên chứcnhận được quyết định xử lý kỷ luật với trường hợpkhiếu nại lần đầu

Không quy định thời hiệu

Các trường hợp

không thụ lý đơn Không có quy định cụ thể

- Tố cáo về vụ việc đã được người đó giải quyết màngười tố cáo không cung cấp thông tin, tình tiết mới;

- Tố cáo về vụ việc mà nội dung và những thông tinngười tố cáo cung cấp không có cơ sở để xác địnhngười vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật;

- Tố cáo về vụ việc mà người có thẩm quyền giảiquyết tố cáo không đủ điều kiện để kiểm tra, xácminh hành vi vi phạm pháp luật, người vi phạm

Hậu quả pháp lý

phát sinh khi rút

đơn

Cơ quan nhà nước chấm dứt giải quyết Cơ quan nhà nước không chấm dứt xử lý.

Câu 3 Phân tích các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật hành chính A gây rối trật tự công cộng bị Chủ tịch UBND xã B xử phạt 500.000đ Hãy chỉ ra các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính trong ví dụ trên.

1 Khái niệm vi phạm hành chính

Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lýnhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính (khoản 1,Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012)

Các dấu hiệu của vi phạm hành chính: Vi phạm hành chính là một dạng vi phạm pháp luật, vì vậy có các dấu

hiệu của vi phạm pháp luật:

+ Hành vi vi phạm pháp luật hành chính thể hiện ở chỗ hành vi đó trái với các quy định của pháp luật hànhchính được thể hiện bằng hành vi hành động hoặc không hành động vi phạm

+ Là hành vi có lỗi (lỗi cố ý hoặc vô ý) do cá nhân, tổ chức thực hiện Nếu tại thời điểm thực hiện hành vi,không có lỗi thì không coi là vi phạm hành chính

+ Hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính là hành vi chưa tới mức truy cứu tráchnhiệm hình sự phải bị xử phạt hành chính

Cũng như các hành vi vi phạm pháp luật (HVVPPL), HVVPPL hành chính có các vếu tố cấu thành pháp lý, đây là cơ sơ truy cứu trách nhiệm hành chính đối với cá nhân tổ chức vi phạm hành chính, các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật hành chính bao gồm:

1 Khách thể của vi phạm hành chính: chính là những quan hệ xã hội được pháp luật hành chính bảo vệ

nhưng bị hành vi vi phạn hành chính xâm hại Đó chính là trật tự quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xãhội được nhà nước bảo đảm

2 Mặt khác quan của vi phạm hành chính: là sự biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của vi phạm

hành chính, gồm:

- Hành vi trá pháp luật hành chính thể hiện dưới dạng hành động (thực hiện những hành vi bị pháp luật hành chính cấm), hoặc thể hiện bằng không hành động vi phạm (không thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính bắt buộc thực hiện) Hành vi trái pháp luật hành chính là dấu hiệu bắt buộc cho mọi trường hợp xác định vi phạm hành

chính để truy cứu trách nhiệm hành chính

- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội do vi phạm hành chính gây ra

- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả nguy hiểm cho xã hội

- Ngoài ra thời gian, địa điểm, phương thức, thủ đoạn, công cụ vi phạm cũng là những biểu hiện khách quancủa hành vi vi phạm hành chính, là căn cứ khi quyết định hình thức xử phạt và mức phạt

3 Chủ thể của vi phạm hành chính: là cá nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính.

Đối với cá nhân, họ phải là người đạt độ tuổi nhất định, có khả năng nhận thức, điều chỉnh hành vi của mình

Các đối tượng bị xử phạt hành chính bao gồm:

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ

đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính

Người thuộc lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân vi phạm hành chính thì bị xử lý như đối với côngdân khác; trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ

Trang 11

hoạt động có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt đề nghị cơ quan, đơn vị quân đội nhân dân,công an nhân dân có thẩm quyền xử lý.

Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra

Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặcquyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch ViệtNam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam,trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác

4 Mặt chủ quan của vi phạm hành chính: thể hiện ở yếu tố lỗi của người vi phạm, đó là: lỗi cố ý và lỗi vô ý

Lỗi cố ý thể hiện ở chỗ người có hành vi vi phạm hành chính nhận thức được tính chất nguy hại cho xã hội về

hành vi của mình nhưng vẫn thực hiện, hoặc để mặc cho hậu quả hành vi đó xảy ra

Lỗi vô ý thể hiện ở chỗ người vi phạm hành chính không biết hoặc không nhận thức được hành vi của mình là

vi phạm, mặc dù cần phải biết và nhận thức được, hoặc nhận thức được nhưng cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc cóthể ngăn ngừa được hậu quả của hành vi vi phạm đó

Để xác định hành vi nào đó có phải là vi phạm hành chính và có đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hành chínhhay không, phải nghiên cứu khách quan, đầy đủ các dấu hiệu, các yếu tố cấu thành pháp lý c ủa vi phạm, làm rõ tínhchất, mức độ của vi phạm làm cơ sở cho việc lựa chọn hình thức, mức xử phạt phù hợp với các quy định của pháp luật

và với tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó, góp phần đấu tranh có hiệu quả đối với hành vi vi phạmpháp luật nói chung, vi phạm hành chính nói riêng

2 A gây rối trật tự công cộng bị Chủ tịch UBND xã B xử phạt 500.000đ Hãy chỉ ra các yếu tố cấu thành

vi phạm hành chính trong ví dụ trên.

Mặt khách quan:

- Hành vi: việc làm của A gây rối trật tự công cộng Đây là hành vi trái pháp luật hành chính

- Hậu quả: gây mất trật tự công cộng ảnh hưởng tới người dân, giao thông, cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế,

tổ chức xã hội, tại khu vực A gây rối

- Thời gian: đề ra không rõ

- Địa điểm: đề ra không rõ

- Phương tiện: đề ra không rõ

A là người có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý khi thực hiện hành vi phạm pháp luật hành chính

Câu 4 Phân tích nội dung của quản lý hành chính nhà nước Liên hệ thực tế công tác quản lý hành chính nhà nước tại địa phương, cơ quan anh (chị) đang công tác.

Quản lý hành chính nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp từ Trung ương đến cơ

sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật

tự, an ninh, thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nội dung quản lý hành chính nhà nước: Trong quá trình thực thi quyền hành pháp, các cơ quan quản lý hành

chính nhà nước tiến hành các hoạt động:

1 Hoạt động lập quy hành chính

Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật đ ể cụ thể hóacác quy định pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành Hoạt động lập quy hành chính tạo cơ sở pháp lý cho hoạt độngquản lý, điều hành của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước Cụ thể:

- Chỉnh phủ có thẩm quyền ban hành nghị định; nghị quyết liên tịch.

+ Nghị định quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban thường

vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

+ Nghị định quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộcChính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền thành lập Chính phủ

+ Nghị định quy định các biện pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ

+ Nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật, pháp lệnh

để đáp ứng yêu cầu quản lý đất nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội Việc ban hành nghị định này phải được sự đồng

ý của ủy ban Thường vụ Quốc hội

+ Nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xã hội được ban hành để

Trang 12

hướng dẫn thi hành những vấn đề khi pháp luật quy định về việc tố chức chính trị - xã hội đó tham gia quản lý nhànước.

- Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền ban hành quyết định:

+ Ọuyết định quy định biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt dộng của Chính phủ và hệ thống hành chính nhànước từ Trung ương đến cơ sở, chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền cùa Thủ tướng Chính phủ

+ Quyết định quy định biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ, kiểm tra hoạtđộng của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp trong việc thực hiện chủ trương, chínhsách, pháp luật của Nhà nước

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có thẩm quyền ban hành thông tư; thông tư liên tịch:

+ Thông tư quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết cua ủy ban Thường

vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; nghị định của Chính phủ; quyết định của Thủ tướng Chính phủ.+ Thông tư quy định về quy trình, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật của ngành, lĩnh vực do mìnhphụ trách

+ Thông tư quy định biện pháp để thực hiện chức năng quản lý ngành, lĩnh vực do mình phụ trách và nhữngvấn đề khác do Chính phủ giao

+ Thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trửơng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Việntrưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạtđộng tố tụng và những vấn đề khác liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó

+ Thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành để hướng dẫn thi hànhluật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịchnước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của bộ, cơquan ngang bộ đó

- Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền ban hành quyết định, chỉ thị:

+ Quyết định, chỉ thị ban hành để quy định các biện pháp cụ thể thi hành luật và tổ chức triển khai hoạt độngquản lý mọi mặt đời sống trên địa bàn

+ Quyết định, chi thị ban hành để chấp hành nghị quyết của HĐ nhân dân cùng cấp

+ Quyết định, chỉ thị ban hành để chấp hành văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên

2 Hoạt động ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định hành chính

Để thực hiện quản lý, điều hành trong nội bộ các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và đối với mọi mặt củađời sống xã hội, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định hành chính.Thực hiện việc ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định hành chính giúp hệ thống hành chính vận động và pháttriển theo yêu cầu chung của xã hội Đồng thời, ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định hành chính, các chủ thểquán lý hành chính nhà nước cũng duy trì sự vận động và phát triển của các đối tượng tham gia vào quá trình kinh tế,

xã hội theo mục tiêu quản lý đã định trước

3 Hoạt động kiểm tra, đánh giá

Trong quá trình quản lý, điều hành hành chính, các cơ quan quản lý hành chính phải thực hiện kiểm tra và đánhgiá hiệu quả hoạt động của các đối tượng quản lý Việc kiểm tra và đánh giá hiệu quả hoạt động phải được tiến hànhthường xuyên đối với mọi mặt hoạt động của đối tượng quản lý Thực hiện tốt hoạt động này sẽ đảm bảo cho hoạtđộng của các đối tượng quản lý được thực hiện theo đúng quy định, đồng thời phát hiện kịp thời những sai lệch, viphạm để có biện pháp xử lý và khắc phục hậu quả Kiểm tra, đánh giá là biện pháp bảo đảm hiệu lực hiệu quả hoạtđộng của các đối tượng quản lý, góp phần vào sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội

4 Hoạt động cưỡng chế hành chính

Thực hiện cưỡng chế hành chính góp phần thực hiện hiệu quả các chức năng hành chính khác Trong quá trìnhđiều hành, nhiều trường hợp để các đối tượng quản lý chấp hành các quy định của pháp luật, các cơ quan quản lý hànhchính nhà nước phải tiến hành cưỡng chế hành chính

Liên hệ thực tế (tham khảo thôi nhé)

Đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính: Chuyển từ quản lý sang phục vụ

Đổi mới tư duy từ nền hành chính quản lý sang nền hành chính phục vụ, đây là mục tiêu chung trong quyết định ban hành kế hoạch cải cách hành chính tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2016-2020 của UBND tỉnh.

Kế hoạch đã đưa ra từng mục tiêu, giải pháp cụ thể Trong đó, kế hoạch tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tụchành chính, xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, trách nhiệm, phục vụ nhân dân, doanhnghiệp; quyết tâm nâng cao chỉ số hài lòng của tổ chức, người dân và doanh nghiệp đối với sự phục vụ của cơ quanhành chính nhà nước; xây dựng tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả với đội ngũ cán bộ, công chức có phẩmchất, năng lực và tính chuyên nghiệp cao…

Theo kế hoạch hành động, toàn tỉnh sẽ hoàn thành việc rà soát toàn bộ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, đồngthời sắp xếp, tinh giản bộ máy trong toàn tỉnh; bảo đảm hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ tỉnh tới cơ sởthông suốt, tinh gọn

Trang 13

Mục tiêu hướng đến mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về sự phục vụ của cơ quan hành chính đạttrên 80% vào năm 2020 Từ năm 2017, đối với những đơn vị thực hiện bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại, tỷ lệgiải quyết hồ sơ đúng hẹn đạt từ 95% trở lên đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp đạt hơn 70% vào năm2017.

Tất cả các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh có cơ cấu cán bộ, công chức theo vị trí làm việc.100% các cơ quan, đơn vị thực hiện việc rà soát, sắp xếp đúng chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức theo hướng dẫncủa Trung ương; khắc phục tình trạng tổ chức bộ máy cồng kềnh, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, đồng thời thựchiện tinh giảm biên chế đối với những trường hợp không đáp ứng được yêu cầu công việc

Tỉnh vào cuộc cùng với các ngành, địa phương để thúc đẩy cải cách hành chính theo phương châm thực hiện:Chuyển từ nền hành chính quản lý sang phục vụ và tiếp nhận, thẩm tra, trả kết quả tại chỗ UBND tỉnh cũng cùng vớicác ngành đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cá nhântrong thực hiện các thủ tục hành chính thuế, phấn đấu cắt giảm tối thiểu 30% thời gian so với hiện nay

Về cung cấp dịch vụ công trực tuyến, phấn đấu đến hết năm 2020, 100% các dịch vụ công cơ bản tới ngườidân và doanh nghiệp Đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính, việc sớm hoàn thành và triển khai mô hìnhchính quyền điện tử tỉnh Đắk Nông đang được UBND tỉnh chỉ đạo quyết liệt Mục tiêu đề ra là phải có trên 80% vănbản của UBND tỉnh, các sở, ban, ngành và huyện, thị xã trao đổi dưới dạng điện tử Toàn tỉnh có trên 90% hồ sơ kêkhai thuế của doanh nghiệp được nộp qua mạng và 90% số doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ nộp thuế qua mạng

Theo các cơ quan chuyên môn để chuyển từ nền hành chính quản lý sang nền hành chính phục vụ cần phảisớm đổi mới tư duy, thay đổi cách làm Để triển khai hiệu quả, thứ nhất, cách làm phải đi từ trên xuống, không đi từdưới lên Nội dung, công việc gì cấp trên giải quyết, xử lý được thì xử lý ngay Thực tế lâu nay, sau mỗi cuộc họp là

cứ chuyển báo cáo xuống sở ngành, đơn vị cụ thể, rồi các đơn vị này tiếp tục chuyển xuống cấp thấp hơn, trong khicán bộ cấp dưới không được dự họp nên gây ra nhiều bất cập

Vấn đề rất quan trọng nữa, đó là xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan hành chính nhànước trên địa bàn tỉnh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính Việc xây dựng hệ quy chiếu đánh giánăng lực người đứng đầu cũng có vai trò rất quan trọng Bởi vì qua thực tế, lãnh đạo quản lý tốt thì bộ máy trơn tru vàngược lại nếu thiếu trách nhiệm sẽ kéo theo các thủ tục rườm rà, có gương mẫu mới truyền được nhiệt huyết đến bộphận cấp dưới

Có thể nói, việc đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính giai đoạn 2016-2020 theo phương châm đổi mới tưduy từ nền hành chính quản lý sang nền hành chính phục vụ không chỉ từng bước khắc phục những tồn tại, yếu kém,bất cập về thực hiện cải cách hành chính của tỉnh trong giai đoạn 2012-2015 mà còn góp phần đáp ứng được mục tiêutăng trưởng kinh tế mà Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XI đã đề ra

Câu 5 Phân tích các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật hành chính: Như câu 3

KHOA XÂY DỰNG ĐẢNG NỘI DUNG ÔN THI TỐT NGHIỆP PHẦN II (Đỗ Thị Là - câu 1, 2; Nguyễn Thị Kim Dung - câu 3, 4, 5; Nguyễn Văn Lam - câu 6, 7, 8)

1 Nguyên tắc tập trung dân chủ là một tất yếu khách quan trong xây dựng tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng Cộng sản.

2 Một số giải pháp để thực hiện tốt Nguyên tắc tập trung dân chủ.

3 Sự sáng tạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam?

4 Tính đúng đắn, sáng tạo của Cương lĩnh tháng 2/1930 do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo?

5 Vì sao từ (9/1945 - 2/1946), Đảng ta lại chọn giải pháp hòa với Tưởng ở miền Bắc tập trung chống Pháp ở miền Nam?

6 Đồng chí hãy trình bày khái quát quá trình hình thành đường lối cách mạng miền Nam? Nội dung cơ bản của đường lối đó?

7 Tính tất yếu của Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc sau năm 1954.

8 Vì sao phải thực hiện đường lối đổi mới đất nước? Nội dung của đường lối đổi mới đất nước?

Câu 1 Nguyên tắc tập trung dân chủ là một tất yếu khách quan trong xây dựng tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng Cộng sản.

- Thứ nhất: Xuất phát từ vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản

Đảng là đội tiên phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân, đòi hỏi Đảng phải hết sức có tổ chức, phải làđội ngũ có tổ chức và là hình thức tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân; Đảng phải khối đoàn kết thống nhất

về chính trị, tư tưởng và tổ chức, làm cho Đảng có hàng triệu người nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người Thựchiện nguyên tắc tập trung dân churtrong xây dựng Đảng và hoạt động lãnh đạo của Đảng là điều kiện đảm bảo sựthống nhất ý chí, thống nhất hành động của toàn Đảng, đồng thời đảm bảo phát huy sáng kiến và tính tích cực của mọi

tổ chức đảng và mọi đảng viên

Mặt khác, Đảng là liên minh tự nguyện của những công nhân ưu tú và những người lao động cùng chung chíhướng cộng sản, phấn đấu xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, do đó, Đảng phải được tổ chức và hoạt động mớiphù hợp với bản chất giai cấp công nhân và mục đích của Đảng

- Thứ hai: xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cảu Đảng Cộng sản

Trang 14

Nhiệm vụ của Đảng cộng sản là lãnh đạo cuộc đấu tranh xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng chủ nghĩa

xã hội và tiến tới chủ nghĩa cộng sản Nhiệm vụ vĩ đại đó rất gay go, phức tạp, quyết liệt, lâu dài, đòi hỏi Đảng phải tổchức theo lối dân chủ để phát huy mọi tiềm năng trí tuệ, lực lượng của đảng viên và các tỏ chức trong toàn đảng, lạivừa phải tổ chức theo lối tập trung, có tổ chức chặt chẽ, thống nhất, kỷ luật nghiêm minh mới đủ sức hoàn thành nhiệm

vụ đó

- Thứ ba: Xuất phát từ kinh nghiệm lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Đảng Cộng sản có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân đấu tranh giành chính quyền, xâydựng chủ nghĩa xã hội, cuối cùng đi đến giải phóng con người nói chung, thực hiện xã hội cộng sản văn minh

Để thực hiện được mục đích cao cả ấy, Đảng phải có sự nhất trí cao, thống nhất về tư tưởng và hành động Đảngphải tổ chức đoàn kết chặt chẽ, thống nhất ý chí, thống nhất hành động, thống nhất kỷ luật Do đó, Đảng được tổ chức

và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ Trong tình hình đấu tranh tư tưởng – chính trị hiện nay, sự đoàn kếtthống nhất tư tưởng và hành động của Đảng, của giai cấp công nhân và toàn dân tộc lại càng đặc biệt quan trọng vàcấp thiết Sự đoàn kết thống nhất thực sự của Đảng là thành trì vững chắc để ngăn ngừa và khắc phục chủ nghĩa cơ hộidưới mọi màu sắc, làm thất bại mưu đồ chia rẽ, phá vỡ sự thống nhất của Đảng, hòng xóa bỏ Đảng, xóa bỏ chư nghĩa

xã hội

Kinh nghiệm thực tiễn hoạt động của các đảng trước đây và hiện nay đã cung cấp cho mỗi Đảng cộng sản vàcông nhân, mỗi đảng viên cộng sản chân chính những bài học quý báu: mọi thành công hay thất bại trong cuộc đấutranh để xây dựng tổ chức Đảng, thực hiện mục đích của Đảng, đều tùy thuộc vào nhận thức và hành động đúng haykhông đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động lãnh đạo của Đảng; đảng nào vi phạmhoặc xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ đều dẫn đến giảm sút sức chiến đấu, phân liệt, thậm chí tan rã; bảo vệ và kiêntrì nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng tổ chức và hoạt động của Đảng luôn là nhiệm vụ sống còn của Đảng,không thể coi nhẹ

Câu 2 Một số giải pháp để thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ.

a Giải pháp đối với Trung ương

Phải đảm bảo cho đường lối, chính sách, các nghị quyết, các quy tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, kế hoạch, phápchế nhà nước được xây dựng sát đúng và được triệt để chấp hành

Phải trên cơ sở định rõ chế độ, trách nhiệm của tổ chức và của cá nhân, phân rõ trách nhiệm quản lý giữa Trungương và địa phương, cơ sở; giữa cấp trên và cấp dưới mà giữ vững tập trung, mở rộng dân chủ

b Giải pháp đối với địa phương, cơ sở

Trước hết cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về nguyên tắc tập trung dân chủ cho các cán

bộ, đảng viên, đi đôi với phát huy dân chủ rộng rãi trong nội bộ Đảng và trong nhân dân, nhằm khai thác và phát huynhững tiềm năng sáng tạo của đảng viên và quần chúng tạo mọi điều kiện cuốn hút hết thảy mọi đảng viên và đôngdaaor nhân dân tham gia xây dựng các chủ trương, nghị quyết của đảng bộ, những mục tiêu, những biện pháp để pháttriển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân địa phương Đồng thời các tổ chức đảng phái coitrọng giáo dục cho đảng viên và nhân dân về nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi đảng viên và mỗi công dân Thường xuyênthực hiện tốt chế độ thông tin trong nội bộ Đảng, đồng thời mở rộng thông tin trong nhân dân( như xây dựng, củng cố

hệ thống truyền thanh, báo chí, thư viện, sinh hoạt của các câu lạc bộ ), nhằm mở rộng và nâng cao dần trình độ nhậnthức mọi mặt cho đảng viên và nhân dân Duy trì chặt chẽ và thường xuyên chế độ tự phê bình và phê bình trongĐảng; cấp ủy cần định kì thông báo chương trình hành động tới tổ chức đảng và nhân dân, tổ chức cho nhân dân thamgia góp ý kiến cho cán bộ, đảng viên Tiếp tục hoàn thiện và duy trì thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ ở sở, thực

sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong hoạt động sản xuất và mọi mặt của đời sống xã hội ở địa phương.Cùng với phát huy dân chủ, phải tăng cường kỉ luật chặt chẽ, nghiêm minh trong Đảng, làm cơ sở để thiết lập kỷcương, duy trì trật tự an toàn xã hội ở địa phương từng tổ chức đảng và đảng viên chấp hành nghiêm chỉnh cácnguyên tắc, chế độ sinh hoạt đảng, các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên và nghị quyết của cấp mình Đảng viên ở mọicương vị phải gương mẫu chấp hành và vận động nhân dân chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp, pháp luật và các chínhsách của Nhà nước, các quy định của chính quyền đia phương Xử lí kiên quyết, kịp thời, nghiêm minh chính xác cáchiện tueoengj vi phạm kỉ luật đảng Những hiện tượng vi phạm pháp luật, nhất thiết phải xử lí theo pháp luật, khôngbao che, nhân nhượng để xử lí nội bộ

Tăng cường kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng, chấp hành đường lối, chínhsách và thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương Càng những lúc khó khăn, trong những nhiệm vụ quan trọng, lạicàng phải coi trọng và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, nhằm đảm bảo cho các chủ trương, nghị quyết đượctriệt để chấp hành, đồng thời nắm được điển hình tiên tiến để nhân rộng ra và kịp thời phát hiện, uốn nắn những saisót, lệch lạc trong chấp hành, hoặc bổ sung, hoàn chỉnh các chủ trương, nghị quyết

Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo,sức chiến đấu của cấp ủy đảng là giải pháp quan trọng để vừa phát huy dân chủ, vừa tăng cường kỉ luật Tính tập thểtrong sinh hoạt và hoạt động lãnh đạo là bản chất của Đảng cộng sản Xa rời tính tập thể, không tuân thủ nghiêm ngặtnguyên tắc lãnh đạo tập thể, là hạ thấp vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, và về thực chất là phủ nhận vai trò lãnh đạocủa Đảng trên thực tế

Trang 15

Để nâng cao chất lượng lãnh đạo tập thể, trên cơ sở những quy định chung, từng cấp ủy phải đổi mới và xâydựng quy trình ra nghị quyết, đảm bảo mọi chủ trương, nghi quyết của cấp ủy thực sự là sản phẩm của trí tuệ tập thể.Thường xuyên thông báo những thông tin cần thiết đến cấp ủy viên, mỗi kì họp phải thông báo thời gian, chương trìnhlàm việc và những nội dung quan trọng cần thảo luận để từng đảng viên chuẩn bị trước Phải có chế độ đi cơ sở, sâusát quần chúng để nắm chắc tình hình, hiểu được tâm tư nguyện vọng của quần chúng Phải xây dựng được bầu khôngkhí làm việc thực sự dân chủ, thảo luận, tranh luận; mỗi cấp ủy viên, nhất là người lãnh đạo chủ chốt, phải thực sự tôntrọng ý kiến của tập thể với thái độ xây dựng, đoàn kết, khiêm tốn, thực sự cầu thị, lắng nghe ý kiến, nhất là những ýkiến trái với ý kiến của mình, không thành kiến, trù dập Chất lượng lãnh đạo tập thể còn phụ thuộc vào sự phân côngtrách nhiệm rộng rãi cho từng cấp ủy viên; phụ thuộc vào ý thức tập thể và trách nhiệm cá nhân của mỗi cấp ủy viên.Chất lượng lãnh đạo tập thể còn phụ thuộc vào trình độ nhận thức, năng lực thực tiễn và phong cách làm việc khoa họccủa các ủy viên Vì thế, phải duy trìchặt chẽ chế độ sinh hoạt học tập của cấp ủy, coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng đểcập nhật những kiến thức mới, nâng dần trình độ toàn diện cho các cấp ủy viên.

Giải quyết tốt mối quan hệ giữa cấp ủy với chính quyền và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị Đây làbiện pháp rất quan trọng để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ Cấp ủy đảng phải cùng cơ quan chính quyền xâydựng và thống nhất quy chế làm việc thiết thực, phù hợp với đặc điểm của địa phương quy chế làm việc phải xâydựng theo hướng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với hệ thống chính trị, thực sự đảm bảo quyền lực chính trị ở địaphương thuộc về nhân dân quy chế làm việc phải đảm bảo ngăn ngừa hiện tượng buông lỏng hoặc phủ nhận vai tròlãnh đạo của tổ chức đảng, ngăn ngừa hiện tượng cấp ủy áp đặt, làm thay chính quyền; đồng thời phát huy cao nhất vaitrò, chức năng của tổ chức khác trong hệ thống chính trị; phát huy quyền lực và hiệu lực quản lí, điều hành của chínhquyền địa phương

Thể chế hóa, quy chế hóa nguyên tắc tập trung dân chủ Các cấp ủy đảng phải xây dựng và thực hiện các quychế hoạt động, trong đó đặc biệt coi trọng nâng cao tính khoa học, tính cụ thể, tính pháp lý của từng bản quy chế Tất

cả các điều khoản trong quy chế phải được nghiên cứu kỹ lưỡng nhiều mặt, được thảo luận dân chủ, đạt sự thống nhấtcao trước khi ban hành Các cấp ủy viên và tất cả cán bộ, dẩng viên phải nghiên cứu kỹ, nắm vững nội dung và cótrách nhiệm cao trong quá trình thực hiện quy chế Qua thực hiện, nếu phát hiện những điều không phù hợp cần kịpthời nghiên cứu điều chỉnh; khi có những quy định của cấp trên, phải nhanh chóng cụ thể hóa, bổ sung hoàn thiện quychế

Các đảng ủy, chi ủy phải lãnh đạo thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong cả hệ thống chính trị Đảng

là một thành tố trong hệ thống chính trị và lãnh đạo hệ thống đó vì vậy, Đảng chủ trương không chỉ thực hiện nguyêntắc này trong Đảng mà còn vận động, tuyên truyền thực hiện nguyên tắc trong cả hệ thống chính trị trong qua trìnhcông tác mọi cán bộ đảng viên hầu hết đều tham gia sinh hoạt trong các tổ chức của hệ thống chính trị, mỗi tổ chứcđều có những quy định, nguyên tắc tổ chức hoạt động riêng; song việc tuyên truyền rộng rãi nguyên tắc tập trung dânchủ của Đảng là điều kiện rất quan trọng để các tổ chức vận dụng xây dựng bản thân các tổ chức vững mạnh Thựctiễn cho thấy, khi nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng được thực hiện có nề nếp, sẽ phát huy sức mạnh tổng hợpkhông chỉ trong Đảng mà sẽ lan tỏa tất cả các tổ chức khác của hệ thống chính

Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản về xây dựng tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảngcộng sản sức mạnh của nó dược biểu hiện trực tiếp ở hoạt động cảu các tổ chức Đảng – nhất là tổchức cơ sở đảng và mỗi đảng viên bởi vậy, việc thực hiện nguyên tắc này là trách nhiệm của toànĐảng Các tổ chức Đảng chỉ thực sự làm tròn và xứng đáng vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ

sở khi biết quán triệt và vận dụng một cách sáng tạo những nội dung cơ bản của nguyên tắc tậptrung dân chủ trong xây dựng tổ chức sinh hoạt và hoạt động của mình

Câu 3: sự sáng tạo của NAQ trong việc thành lập Đảng

Phần mở bài :

ĐCSVN ra đời ngày 3/2/1930, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc cách mạng tháng tám thành công lập nênnước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa(nay là nước CHXHCNVN), Đaanhs thắng các cuộc chiến tranh xâm lược của chủnghĩa đế quốc, thực dân thống nhất đất nước; Lãnh đạo thành công công cuộc đổi mới đất nước nhằm xây dựng và bảo

vệ thành công Tổ quốc Việt Nam XHCN…Sự ra đời của ĐCSVN gắn liền với những hoạt động cách mạng của Người sáng lập , lãnh đạo và rèn luyện của đảng ta.Thực tế đã chứng minh sự sáng tạo của NAQ trong việc thành lậpĐCSVN năm 1930 đã góp phần quan trọng làm nên những thắng lợi vẻ vang của Đảng Sự sáng tạo đó là:

NAQ-Nội dung:

- Quan điểm của CN Mác-Lênin về Đảng Cộng sản: theo nguyên lý của CN Mác-Lênin về ĐẢNG CỘNG SẢN

đã chỉ ra quy luật ra đời, tồn tại, phát triển của Đảng là CNXH khoa học kết hợp với phong trào công nhân Nếu chỉ cóphong trào công nhân thì không thể dẫn tới thành lập ĐẢNG CỘNG SẢN, điều mà Lênin đã chỉ ra: “Lịch sử tất cả cácnước chứng thực rằng, chỉ do lực lượng của độc bản thân mình thôi thì giai cấp công nhân chỉ có thể đi đến chủ nghĩacông liên chủ nghĩa” Ngược lại, giai cấp công nhân với đặc điểm của mình: là lực lượng tiên tiến, đại diện cho phươngthức sản xuất tiến bộ, sống tập trung, có tính tổ chức, tính kỷ luật cao, tinh thần cách mạng triệt để, có hệ tư tưởngriêng là CN Mác-Lênin soi đường (nên giai cấp công nhân phát triển về chất) Chính sự kết hợp đó dẫn tới sự ra đờicủa ĐẢNG CỘNG SẢN và như vậy, giai cấp công nhân đảm đương sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của mình để xoá bỏ

xã hội cũ (CNTB) xây dựng xã hội mới CNXH và CNCS

Trang 16

- Một trong những điểm sáng tạo đầu tiên của NAQ trong việc thành lập ĐẢNG CỘNG SẢN là sự kết hợp nhân

tố dân tộc (phong trào yêu nước) và nhân tố giai cấp (CNXH khoa học và phong trào công nhân) Là một nước thuộcđịa nửa phong kiến lạc hậu, Việt Nam chưa có đủ tiền đề cơ bản cho một ĐẢNG CỘNG SẢN ra đời như ở Liên Xô vàmột số nước khác Trong điều kiện giai cấp công nhân Việt Nam chưa phát triển về số lượng để tổ chức thành lậpĐẢNG CỘNG SẢN Người coi trọng việc truyền bá CN Mác-Lênin vào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam

là một yêu cầu bức thiết nhất để cho ĐCS ra đời ở Việt Nam Theo người, một đảng chân chính không thể là tổ chứcbiệt lập, đóng kín mà phải gắn bó mật thiết, hữu cơ với dân tộc và giai cấp, phải tiêu biểu cho cuộc đấu tranh của dântộc và giai cấp, phải là hạt nhân lãnh đạo và đoàn kết dân tộc và giai cấp, phải đại biểu cho dân tộc: “Đảng ta là đảngcủa giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư thiên vị”, “Chủ nghĩa dân tộc là động lực của đất nước” Từxưa đến nay, yêu nước là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam – là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình cách mạngViệt Nam Phong trào yêu nước của dân tộc ta được NAQ nhận thức, đưa vào là một nhân tố cấu thành ĐẢNG CỘNGSẢN Việt Nam Bởi vì, phong trào công nhân dù tiên tiến nếu không gắn bó mật thiết với phong trào yêu nước thìkhông đứng vững trong lòng dân tộc, không đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi Và dưới ánh sáng của

CN Lênin, HCM đã thấy rõ, trong thời đại mới phong trào yêu nước Việt Nam có khả năng tiếp thu CN Lênin Vì: CN Mác-Lênin không chỉ là vũ khí đấu tranh giải phóng công nhân mà còn là vũ khí đấu tranh giải phóngdân tộc bị áp bức (thực tiễn cách mạng Tháng 10 Nga) Chính vì thế nó rất hấp dẫn những người yêu nước Việt Nam.Bên cạnh đó, phong trào yêu nước Việt Nam có một quá trình đấu tranh liên tục, anh dũng “người trước ngã xuống,người sau đứng dậy” kế tiếp đấu tranh, sử dụng nhiều vũ khí (hệ tư tưởng) khác nhau (phong kiến, dân chủ tư sản…)nhưng đều thất bại (ví dụ) Giữa lúc ấy, CN Mác-Lênin được truyền bá vào Việt Nam và được những người yêu nướcViệt Nam tiếp thu như một ánh sáng chân lý của mình “giống như người đang khác nước mà uống nước, đang đói mà

Mác-có cơm ăn” Sự sáng tạo của HCM là vận dụng và phát triển lý luận CN Mác-Lênin, xây dựng thành lý luận giải phóngdân tộc Do đó, đối tượng người truyền bá CN Mác-Lênin không chỉ là công nhân mà còn là những người yêu nướctrong dân tộc Việt Nam Người tập hợp những thanh niên yêu nước Việt Nam thành lập Hội Việt Nam cách mạngThanh Niên (năm 1925), rồi Người đem lý luận CN Mác-Lênin truyền bá cho họ, dẫn họ theo con đường mà mình đãlựa chọn, trãi qua từ chủ nghĩa yêu nước đến với CN Mác-Lênin (con đường cách mạng vô sản) Sự thâm nhập, truyền

bá CN Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước tạo thành làn sóng dân tộc dân chủ mạnh mẽ, tạođiều kiện chín muồi cho sự ra đời của ĐẢNG CỘNG SẢN Việt Nam (ĐẢNG CỘNG SẢN Việt Nam = CNXH khoahọc + Phong trào công nhân + Phong trào yêu nước).Với sự kết hợp này, ĐCSVN không chỉ là ĐCS của giai cấp côngnhân Việt Nam mà còn là đảng của dân tộc Việt Nam Chính vì vậy, ngay từ khi vừa mới ra đời, với đường lối cáchmạng đúng đắn,đảng ta đã nắm ngọn cờ lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam; đồng thời đảng cũng đã quy

tụ, đoàn kết xung quanh mình tất cả các giai cấp, các tầng lớp yêu nước, xây dựng lên lực lượng cách mạng to lớn vàrộng khắp Đây không phải chỉ là sự vận dụng sáng tạo CNM-LN vào thực tiễn Việt Nam khi thành lập ĐCSVN màcòn là đóng góp quan trọng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với phong trào giải phóng dân tộc của các nước phụ thuộc

và thuộc địa

- Sự sáng tạo của Người trong quá trình thành lập ĐCSVN còn thể hiện rõ trong Cương lĩnh đầu tiên “Chủtrương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới XHCS… Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp vàbọn Phong kiến, làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập”.Chủ trương này Người đã đặt nhiệm vụ chống đế quốc giảiphóng dân tộc lên hàng đâuù, bởi đây là vấn đề căn cốt của cách mạng Việt Nam lúc này; tập trung giải quyết nhữngmâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của xã hội thuộc địa, nửa phong kiến yêu cầu trước hết của cách mạng Việt Nam là tiếnhành cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân và tay sai phản động giành độc lập dân tộc xét về tính chất, cuộc đấutranh ở thuộc địa là một cuộc đấu tranh dân tộc, chứ chưa phải là cuộc đấu tranh giai cấp như ở các nước tư bảnphương tây: “Có đánh đỗ chủ nghĩa đế quốc mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm cách mạng thổ địa được thắnglợi; mà có phá chế độ phong kiến thì mới đánh đỗ được chủ nghĩa đế quốc” Đây là thể loại Cách mạng vô sản ở thuộcđịa, mà sinh thời C.Mác, Ăngghen, Lênin ngay cả Quốc tế cộng sản cũng chưa nói đến, là quá trình nối tiếp nhau củahai chiến lược cách mạng, có mối quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau, “đi đến XHCS” là mục tiêu hướng tới của Cáchmạng tư sản dân quyền Rõ ràng, Người đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu trong khi vẫn không xa rời lậptrường của giai cấp công nhân Đây là chủ trương đúng đắng và triệt để mà Người đã kiên trì chuẩn bị khá lâu, thể hiện

sự sáng tạo, độc đáo của HCM cho việc thành lập ĐẢNG CỘNG SẢN Việt Nam

- Để thống nhất được toàn dân trong công cuộc giải phóng dân tộc, tên gọi của Đảng phải có sự đồng thuận vàđáp ứng được nguyện vọng của quần chúng Việc đặt tên Đảng và chủ trương giải quyết vấn đề Đảng trong khuôn khổmỗi nước Đông Dương thể hiện rõ nét sáng tạo trong tư duy cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.Trong khi Quốc

Tế Cộng Sản chủ trương thành lập một ĐCS chung cho ba nước Đông Dương Tại Hội nghị thành lập Đảng (3/2/1930),Người giải thích: “cái từ Đông Dương rất rộng và theo nguyên lý của CN Mác-Lênin, vấn đề dân tộc là vấn đề rấtnghiêm túc, người ta không thể bắt các dân tộc khác gia nhập Đảng, làm như thế là trái với nguyên lý của CN Mác-Lênin, còn cái từ An Nam rất hẹp mà nước ta có 3 miền do đó, từ Việt Nam hợp với cả 3 miền và cũng không trái vớinguyên lý CN Mác-Lênin về vấn đề dân tộc”, nên Hội nghị đã nhất trí và thống nhất đặt tên Đảng là Đảng Cộng SảnViệt Nam Chủ trương đó của Người tuân thủ những nguyên lý xây dựng Đảng kiểu mới của CN Mác-Lênin, có tínhđến yếu tố dân tộc, nhằm thức tỉnh dân tộc, khơi dậy sức mạnh của 3 nước Đông Dương, đồng thời tạo ra sự tin cậy về

Trang 17

chính trị để đoàn kết , giúp đỡ, tự nguyện và tinh thần tự lực giữa các nước Đông Dương Đây chính là một cống hiếnquan trọng của Người trong kế thừa và vận dụng sáng tạo CN-MLN.

Về mặt lý luận: Cương lĩnh dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác Lê Nin một hệ thống lý luận tiến bộđúng đắn và khoa học

Tính đúng đắn và sáng tạo của cương lĩnh đầu tiên đó được thể hiện qua những nội dung sau:

-Cương lĩnh xacx định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là làm tư sản dân quyền cách mạng

và thổ địa cách mạng để đi tới cộng sản chủ nghĩa Điều đó phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam:Từ một nướcthuộc địa phải hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành lại độc lập tự do, giải quyết mâu thauaamx chủ yếu làmâu thuẫn giữa thuộc địa với đế quốc xâm lược(làm cách mạng tư sản dân quyền), tiếp đến xóa bỏ những tàn tích chế

độ phong kiến và nửa phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân(thổ địa cách mạng), rồi tiếp tục tiến lên cách mạngXHCN(đi tới xã hội cộng sản) Như vậy,ở Việt Nam không làm ngay cuộc cách mạng vô sản theo kiểu các nước tưbản phương Tây.Cương lĩnh vạch rõ cách mạng Việt Nam phải trải qua:cách mạng tư sản dân quyền (cách mạng dântộc dân chủ nhân dân) và cách mạng xã hội chủ nghĩa; hai giai đoạn cách mạng kế tiếp nhau, không có bức tường ngăncách (“làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”) Như vậy ngay từ đầu, Đảng

ta đã thấu suốt con đường phát triển tất yếu của cách mạng nước ta là giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội đây là chiến lược hoàn toàn đúng đắn phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của lịch sử nước ta, qua đó chúng tacũng thấy được sự vận dụng hợp lý, sáng tạo chủ nghĩa M-LN vào điều kiện lịch sử cụ thể ở thuộc địa

- Cương lĩnh đề ra nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền ở nước ta là Đánh đổ đế quốc phong kiến và tư sản phản cách mạng làm cho nước Việt Nam độc lập, dựng lên chính phủ Công-Nông-Binh; tổ chức ra quân đội Công - Nông; tịch thu sản nghiệp lớn của bọn đế quốc và ruộng đất của bọn phản cách mạng đem chia cho dân cày nghèo; tiến hành cải cách ruộng đất, đem lại ruộng đất cho nông dân…Nhưng nhiệm vụ đó bao gồm hai nội dung dân tộc và dân chủ- chống đế quốc và chống phong kiến Trong đó nổi lên hàng đầu là chống đế quốc gianghf độc lập dân tộc.Nhiệm vụ chống đế quốc được nhấn mạnh cả về chính trị và kinh tế.Điều đó phù hợp với yêu cầu thực tiễn: cương lĩnh đã giải quyết hai mâu thuẩn cơ bản của xã hội Việt Nam mà mâu thuẩn chủ yếu lúc đó là: Mâu thuẩn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, mâu thuẩn nông dân với phong kiến Cách mạng Việt Nam muốn

đi đến thắng lợi thì phải giải quyết thành công hai mâu thuẩn đó nghĩa là phải hoàn thành hai nhiệm vụ mà cương lĩnh

đề ra.Về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ trên, cương lĩnh đã đề cao vấn đề dân tộc hơn vấn đề đấu tranh giai cấp và chống phong kiến là đúng đăn và sáng tạo Vì xã hội Việt Nam lúc đó có hai mâu thuẩn nêu trên nhưng mâu thuẩn dântộc Việt Nam với thực dân pháp là bao trùm chi phối các mâu thuẩn khác, vấn đề giải phóng dân tộc là vấn đề bức xúc nhất.Điều đó cũng khác với các cuộc cách mạng vô sản ở phương tây là giải quyết mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản màhọc thuyết M-LN hết sức nhấn mạnh

Như vậy Cương Lĩnh chính trị bao gồm nội dung dân tộc và dân chủ, chống dế quốc và chống phong kiến, nhưngnổi bật nhất là chống đế quốc và tay sai phản động ,giành độc lập tự do cho toàn thể dân tộc Đó là sự vận dụng sángtạo lý luận về đấu tranh giai cấp và phát triển thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc

-Cương lĩnh xác định lực lượng cách mạng là công nhân, nông dân,tiểu tư sản trí thức,tư sản trong đó công-nông làlực lượng nòng cốt, đồng thời phải lợi dụng hoặc trung lập phú nông, trung tiểu địa chủ và tư sản dân tộc.Lực lượng

đó bao gồm toàn dân tộc, điều đó đúng với thái độ chính trị và khả năng cách mạng của các giai cấp, tầng lớp trong xãhội.Bên cạnh quàn chúng cơ bản thì các giai caapss, tầng lớp trên(tư sản, địa chủ yêu nước) đều có maau thuẫn với đếquốc về quyền lợi dân tộc và có khả năng tham gia cách mạng giải phóng dân tộc.Mặc dù là giai cấp bóc lột nhưng tưsản và địa chủ nói chung đều phải chịu số phận người dân mất nước.Chủ trương tập hợp lực lượng đó không chỉ phùhợp với thực tế thuộc địa mà còn là sự phát triển sáng tạo lý luận M-LN Những giai cấp này là đối tượng của cáchmạng vô sản nhưng lại là lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc

-Cương lĩnh khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng ViêtNam Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác –Lê Nin làm nền tảng tư tưởng Đảng phải có trách nhiệm phục vụ đại bộ phậngiai cấp công nhân, làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng; phải thu phục đại đa số dân cày, dựa vững vàodân cày; đồng thời phải liên minh các giai cấp cách mạng và tầng lớp yêu nước khác, đoàn kết, tổ chức cho họ đấutranh chống đế quốc và phong kiến.Nếu như ở phương tây ĐCS lãnh đạo cuộc đấu tranh giai cấp , lãnh đạo cách mạng

vô sản thì ở các nước thuộc địa nhiệm vụ của ĐCS chưa phải là lãnh đạo cuộc đấu tranh giai cấp, mà trước mắt lãnhđạo cuộ đấu tranh giải phóng dân tộc ,điều này rất đúng với hoàn cảnh một nước thuột địa như Việt Nam thể hiện tínhđúng đắn và sáng tạo của cương lĩnh

Trang 18

-Cương Lĩnh đầu tiên của Đảng còn đặt cách mạng Việt Nam vào tiến trình cách mạng của thời đại, coi cách mạngnước ta là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, đứng về phía cách mạng gồm các dân tộc thuộc địa bị áp bức vàgiai cấp công nhân thế giới,nhất là giai cấp vô sản phương tây.Tính đúng đắn và sáng tạo của chủ trương này ở chỗ đặtcách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo cách mạng vô sản thế giới.Nó cùng với các dân tộc bị áp bức trong cuộcđấu tranh chống chủ nghĩa thực dân; đồng thời cùng với giai cấp vô sản ở các nước tư bản chống chủ nghĩa đế quốc,chống chủ nghĩa thực dân Đặc biệt, dân tộc Việt Nam có liên hệ mật thiết với giai cấp vô sản pháp-cả hai đều cóchung kẻ thù là đế quốc pháp.Vì thế, cách mạng việt nam vừa có vị thế trong cách mạng giải phóng dân tộc vừa có vaitrò trong cách mạng vô sản thể giới.

Tóm lại Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là một cương lĩnh cách mạng giải phóng dân tộcđúng đắn và sáng tạo, nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp, thấm đượm tính dân tộc và tính nhânvăn sâu sắc./ Về mặt lý luận: Cương lĩnh dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác Lê Nin một

hệ thống lý luận tiến bộ đúng đắng và khoa học

Câu 5: Vì sao từ (9/1945-2/1946),Đảng ta lại chọn giải pháp hòa với tưởng ở miền Bắc tập trung chống pháp ở miền Nam?

Trả lời:

*Chúng ta chọn giả pháp này:

-Pháp và Tưởng là hai kẻ thù của nhân dân ta, chúng có thể mâu thuẩn với nhau về quyền lợi, nhưng thống nhất vớinhau ở một điểm là thủ tiêu thành quả cách mạng mà nhân dân ta giành được, bóp chết nhà nước công nông non trẻcủa ta

-Đến giữa tháng 9/1945, 20 vạn quân tưởng đã tràn vào miền Bắc nước ta từ vĩ tuyến 16.Chúng khoác lên mình tấm áoquân Đồng minh nhưng âm mưu là “diệt cộng, cầm Hồ”, gây rối loạn về mọi mặt:kinh tế, xã hội, an ninh, ủng hộ bọntay sai chống phá cách mạng Đi đến đâu chúng cướp phá đến đấy, nhiều nơi chính quyền của ta bị chúng lật đổ(LàoCai, Lạng Sơn, Cao Bằng); đưa ra nhiều yêu sách vô lý: đòi giải tán chính quyền, giải tán quân đội của ta, đòi ta cungcấp lương thực, thực phẩm , đòi cho Việt Quốc, Việt Cách tham gia Quốc Hội…

-Còn ở miền Nam, được sự giúp đỡ của quân Anh, Thực dân pháp nổ súng tấn công Sài Gòn(ngày 23/9/1945) mở đầucuộc xâm lược nước ta lần thứ 2 Mặt khác, chính phủ Pháp còn đòi Chính phủ Việt Nam thực hiện những hiệp ước

mà Triều đình Huế đã ký với Pháp trước đây, nhất là việc cắt các tỉnh Nam Kỳ cho Pháp.Chính vì thế, thực dân phápxâm lược là kẻ thù chính của cahs mạng Việt Nam mà nhân dân ta tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng

Trong tình thế hết sức hiểm nghèo ấy, để củng cố chính quyền non trẻ, nhằm ổn định tình hình Chúng ta không thểcùng một lúc đánh tất cả kẻ thù cùng 1 lúc khi so sánh lực lượng không có lợi cho ta; Ta cần phải có thời gian giảiquyết những khó khăn của đất nước và xây dựng lực lượng cho một cuộc chiến đấu lâu dài, cho cuộc kháng chiếnchống thực dân pháp ở Nam Bộ.Đồng thời,trong thời gian này quân Tưởng đang phải đối phó với lực lượng cáchmạng Trung Quốc đang ngày càng phát triển, nội bộ của họ mâu thuẫn Ta có thể lợi dụng những khó khăn của Tưởng

để hòa với Tưởng…Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đứng trước tình hình gay go và cấp bách ấy, Đảng phải dùng mọicahs để sống còn, hoạt động và phát triển…Đảng không thể do dự Do dự là hỏng hết Đảng phải quyết đoán mauchóng, phải dùng những phương pháp-dù là những phương pháp đâu đớn để cứu vãn tình thế” Chính vì vậy,Đảng taphải thực hiện nhân nhượng có nguyên tắc để phân hóa kẻ thù và tránh những tổn thất không cần thiết với cách mạng-Chọn giải pháp hòa với Tưởng ở miền Bắc tập trung chống pháp ở miền Nam(từ 9/1945-2/1946)

*Biện pháp cụ thể:Ta tiến hành đấu tranh chính trị với Tưởng một cách khôn khéo nhưng kiên quyết trên một

nguyên tắc bất di bất dịch-Đó là nền độc lập và chủ quyền dân tộc phải được giữ vững; Nhân nhượng cho chúng một

số quyền lợi:

-Để giảm bớt sức ép công kích của kẻ thù, tránh những hiểu lầm trong nước và ngoài nước có thể trở ngại đến tiền đồ,

sự nghiệp giải phóng dân tộc; Đồng thời xuất phát từ lợi ích dân tộc lên trên hết, Đảng cộng sản đông dương tuyên bố

tự giải tán(11/11/1945) thực chất là rút vào hoạt động bí mật tiếp tục lãnh đạo chính quyền cách mạng

-Nhằm hạn chế sự phá hoại của quân Tưởng và tay sai, tại phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa I(2/3/1946) ta đồng ýcho bọn Việt Quốc, Việt Cách 70 ghế trong quốc hội , 4 ghế bộ trưởng ,giữ chức Phó Chủ tich nước mà không qua bầu

cử Đồng thời nhân nhượng cho Tưởng một số quyền lợi về kinh tế: cung cấp một số lương thực , thực phẩm-giữa lúc

cả nước đang phải lo giải quyết nạn đói, cung cấp các phương tiện đi lại , nhận tiêu tiền đã mất giá ở Trung Quốc-giữalúc Việt Nam đang khủng hoảng về tài chính

-Đối với các tổ chức phản cahs mạng, tay sai của Tưởng thì chính quyền dựa vào quần chúng kiên quyết vạch trần âmmưu và hành động chia rẽ, phá hoại của chúng Những kẻ phá hoại có đủ chứng cứ trừng trị theo pháp luật Ngày5/9/1945, Chính phủ ra sắc lệnh giải tán “Đại Việt quốc gia xã hội đảng” và “Đại Việt quốc dân đảng”(Đảng phảnđộng, tay sai của phát xít Nhật), ra sắc lệnh lập tòa án quân sự trừng trị bọn phản cách mạng

-Hết sức kiềm chế, tránh xung đột để chúng khỏi kiếm cớ sách nhiễu với khẩu hiệu: “Tránh xung đột, nếu có xung độtthì biến xung đột lớn thành xung đột nhỏ; biến xung đột nhỏ thành không có xung đột; không bị chúng khiêu khích” Thực hiện những biện pháp nhân nhượng trên đây, Chính phủ và nhân dân Việt Nam tránhđược trường hợp bất lợi là phải chiến đấu với nhiều kẻ thù cùng một lúc.;Đã hạn chế và vô hiệuhóa đến mức thấp nhất các hoạt động chống phá của quân Tưởng và tay sai, làm thất bại âm mưulật đổ chính quyền của chúng.Có điều kiện để tập trung lực lượng kháng chiến chống pháp ở miền

Trang 19

Nam, bước đầu làm thất bại chiến lược đânhs nhanh thắng nhanh của Pháp, tạo ra được thời gianhòa bình quý báu để củng cố chính quyền và xây dựng lực lượng chuẩn bị cho một cuộc chiến đấulâu dài.

PHẦN V.2 (Trần Trung Minh - Câu 1 đến 5; Nguyễn Tin – câu 6 đến 9)

1 Làm rõ khái niệm “năng lực lãnh đạo” và “sức chiến đẩu” của tổ chức cơ sở đảng?

2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiên đấu của tổ chức cơ sở đảng?

3 Vì sao nói, sinh hoạt chi bộ hằng tháng không chỉ là chấp hành quy định của Điều lệ Đảng, mà còn là nhu cầu của tổ chức đảng và đảng viên?

4 Các nguyên tắc trong công tác tư tưởng?

5 Công tác tư tưởng trên địa bàn tỉnh Đăk Nông cần chú trọng những vấn đề gì?

6 Cần làm gì để nâng cao chất lượng công tác tư tưởng ở tổ chức cơ sở đảng nơi đồng chí đang sinh hoạt?

7 Vai trò của đội ngũ cán bộ cở sở? Đề xuất một số giải pháp để phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở.

8 Tại sao công tác kiểm tra, giám sát phải thực hiện nguyên tắc tính Đảng và tính khoa học?

9 Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát ở đảng bộ, chi bộ đồng chí?

Trả lời

Câu 1: Làm rõ khái niệm “năng lực lãnh đạo” và “sức chiến đẩu” của tổ chức sở đảng?

Tổ chức cơ sở đảng là tổ chức cơ sở của Đảng được lập ở đơn vị cơ sở

Khái niệm năng lực lãnh đạo: Năng lực lãnh đạo là cả một quá trình mà tại đó một cá nhân có ảnh hưởng lên nhữngngười khác để họ hoàn thành một mục tiêu và một hướng dẫn nào đó theo phương cách nối kết với nhau sao cho cóhiệu quả nhất

Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng là một trong những vấn đề hết sức cấp thiết hiệnnay Để có cơ sở đề ra các giải pháp sát thực, đồng bộ, trước hết, các cấp ủy, tổ chức đảng cần hiểu đúng khái niệmnăng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng

Năng lực lãnh đạo của đảng là khả năng nắm vững đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của cấptrên giao và vận dụng sáng tạo, đúng đắn, phù hợp với điều kiện thực tiễn của đơn vị vào công tác lãnh đạo, vận độngquần chúng, thực hiện tháng lợi nhiệm vụ được giao Năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng được tạo nên bởi nhiềuyếu tố, là tổng hợp của nhiều năng lực, bao gồm:

- Năng lực ra nghị quyết, xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng trong từng thời kỳ Các tổchức cơ sở đảng có chức năng, nhiệm vụ quan trọng là cụ thể hoá các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng,Nhà nước và chỉ thị, nghị quyết của cấp trên thành các nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng trong từng thời kỳ

Để xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của địa phương, trước hết, các tổ chức cơ sở đảng phải có khả năngnhận thức đúng, đầy đủ, sâu sắc về các chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, đặc biệt là chủ trương,đường lối về phát triển kinh tế, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; đồng thời phải có năng lực tư duy và khả năng dựbáo, nắm chắc đặc điểm, tình hình, tiềm năng, thế mạnh của địa phương và của đảng bộ Nắm chắc tình hình, đặcđiểm, đồng thời có khả năng dự báo đúng sẽ giúp cho cấp uỷ xác định được những tiềm năng, thế mạnh, những điềukiện thuận lợi, những khó khăn, hạn chế của địa phương và tổ chức cơ sở đảng Nó giúp cho cấp uỷ nhận thức đượcđiểm mạnh, yếu thế nào đang thiếu mặt nào, nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân là gì và tổ chức cơ sởđảng phải làm gì để tận dụng được những thời cơ và thuận lợi, vượt qua những khó khăn, hạn chế nhằm thực hiệnthắng lợi các nhiệm vụ chính trị, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân, biến chủ trương, đường lối chínhsách của Đảng và Nhà nước thành hiện thực sinh động trong đời sống

- Năng lực lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng Năng lực này thểhiện ở những khả năng cơ bản sau: Lãnh đạo công tác tư tưởng, làm cho các chủ trương, đường lối của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước thấm sâu trong mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng, tạo sự thông suốt về tư tưởng,quyết tâm, thống nhất về hành động trong toàn đảng bộ và nhân dân trong xã Cụ thể hóa các chỉ thị, nghị quyết, xâydựng và thực hiện các chương trình hành động, kế hoạch công tác cụ thể có tính khả thi cao trong từng thời gian nhấtđịnh Bố trí, sử dụng cán bộ, đảng viên, phân công cấp uỷ viên và cán bộ phụ trách từng mảng công việc, định rõ thờigian, biện pháp thực hiện Phát huy vai trò, sức mạnh của các tổ chức trong hệ thống chính trị, các tổ chức kinh tế-xãhội, trong đó đặc biệt là lãnh đạo phát huy vai trò, hiệu lực của bộ máy chính quyền và các đoàn thể chính trị trongviệc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ Tổ chức, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của đảng bộ một cách tích cực và tự giác, tạo ra cácphong trào hành động cách mạng của quần chúng trong phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn;giữ vững an ninh, quốc phòng; xây dựng hệ thống chính trị và đời sống văn hóa ở cơ sở v.v

- Năng lực kiểm tra và tổng kết thực tiễn Công tác kiểm tra của cấp uỷ, tổ chức đảng bao gồm nhiều nội dung, trênnhiều lĩnh vực hoạt động Năng lực kiểm tra và tổng kết thực tiễn của cấp ủy, tổ chức đảng thể hiện ở khả năng pháthiện những cái đúng, sai, tốt, xấu, những cái phù hợp, chưa phù hợp; những nhân tố mới, tích cực cần phát huy, nhữngyếu tố lạc hậu, tiêu cực cần đấu tranh ngăn chặn trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ.Các tổ chức cơ sở đảng có năng lực kiểm tra và tổng kết thực tiễn tốt còn góp phần tích cực bổ sung hoàn thiện đườnglối, chính sách của Đảng và Nhà nước

Trang 20

+ Sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng là sức mạnh, khả năng vượt qua những khó khăn, thách thức, những hạn chế,tiêu cực, những trở lực và chống lại có hiệu quả sự phá hoại của các thế lực thù địch trong quá trình lãnh đạo thực hiệnnhiệm vụ chính trị ở địa phương Sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng được biểu hiện trên nhiều mặt: ý thức giácngộ, trình độ trí tuệ, chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, tính tiền phong gương mẫu và bản lĩnh chính trị, sựkiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH của mỗi cán

bộ, đảng viên; ở khả năng khắc phục những hạn chế, những biểu hiện tiêu cực trong bộ máy đảng, chính quyền, đoànthể và nhân dân trên địa bàn cơ sở; tinh thần đấu tranh ủng hộ cái đúng, cái mới, tiến bộ, phê phán, loại bỏ cái cũ, lạchậu; sự nhạy bén nắm bắt tình hình, phát hiện và kiên quyết đấu tranh đập tan mọi âm mưu phá hoại của kẻ địch, mọiquan điểm, tư tưởng phản động, mọi hành động sai trái từ bên trong và bên ngoài, ở khả năng tự giải quyết đượcnhững vấn đề nảy sinh từ thực tiễn Sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng còn thể hiện ở việc duy trì và thực hiện cácnguyên tắc tổ chức sinh hoạt và kỷ luật đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; xây dựng

sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ; chống những biểu hiện tiêu cực, những hành vi sai trái, những tư tưởng, quanđiểm phản động, những phần tử cơ hội trong tổ chức; chủ động ngăn chặn và đẩy lùi các biểu hiện giảm sút, phai nhạt

lý tưởng và ý chí phấn đấu; chống tư tưởng thực dụng, tệ quan liêu, tham nhũng và sự thoái hoá về đạo đức, lối sống;đấu tranh kiên quyết, có hiệu quả với những biểu hiện của tư tưởng phong kiến, gia trưởng, cục bộ trong tổ chức đảng,chính quyền và các đoàn thể ở địa phương v.v…

+ Đòi hỏi về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ nói chung có khác nhau ở mỗi thời kỳ cách mạng Do đó,tiêu chí đánh giá cụ thể trong mỗi giai đoạn cách mạng cũng khác nhau Từ nhận thức và quan niệm đã nêu, có thểđánh giá năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong giai đoạn hiện nay trên những tiêu chí cơbản sau đây:

a) Lãnh đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội Hiệu quả lãnh đạo của một tổ chức cơ sở đảng phải thểhiện trước tiên ở kết quả lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, trong đó, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu

là phát triển kinh tế-xã hội của địa phương Kết quả lãnh đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ này được thể hiện ở những tiêuchí cụ thể sau: Lãnh đạo thực hiện tốt việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH,phát triển nông nghiệp bền vững, gắn sản xuất với chế biến nông sản hàng hoá; đẩy mạnh việc áp dụng tiến bộ khoahọc công nghệ, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất, làm ra nhiều sản phẩm, tăng giá trị thu nhập trên một đơn vịdiện tích gieo trồng, bảo đảm khả năng tiêu thụ sản phẩm, nâng cao thu nhập Khơi dậy và phát huy được nhiều nguồnlực đầu tư cho sự phát triển của xã, có biện pháp khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế trên địa bàn, nhất làkinh tế hộ và các hình thức kinh tế hợp tác, liên doanh, liên kết trong sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chếbiến nông sản hàng hoá, phát triển ngành nghề sản xuất, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Đẩymạnh xây dựng kết cấu hạ tầng (thuỷ lợi, giao thông, trường học, trạm y tế, hệ thống điện, nước sạch, trụ sở làm việc,môi trường xanh, sạch, đẹp, hệ thống thông tin liên lạc…) phục vụ tốt việc phát triển kinh tế-xã hội và đời sống vậtchất, tinh thần, sức khoẻ của nhân dân trên địa bàn Hoàn thành các chỉ tiêu về phát triển kinh tế-xã hội và các nghĩa

vụ của xã đối với Nhà nước; thực hiện có kết quả mục tiêu xoá hộ đói, tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo; thực hiện xã hộihoá giáo dục, phổ cập giáo dục tiểu học, tiến tới phổ cập giáo dục trung học cơ sở, nâng cao trình độ dân trí, phát huydân chủ, tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và đảm bảo công bằng xã hội, thực hiện tốt chương trình y tế cộngđồng, truyền thông dân số, đạt hoặc vượt các chỉ tiêu về kế hoạch hoá gia đình, xây dựng gia đình, làng, bản văn hoá,giữ gìn và phát huy những giá trị bản sắc văn hóa dân tộc, truyền thống văn hóa làng, xã tốt đẹp, ngăn chặn và đẩy lùicác tệ nạn xã hội, các tập quán lạc hậu v.v

b) Lãnh đạo xây dựng chính quyền, mặt trận và các đoàn thể nhân dân vững mạnh Lãnh đạo tốt việc nâng cao chấtlượng đại biểu và họat động của HĐND Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy UBND vững mạnh, hoạt động có hiệuquả, hiệu lực Không để xảy ra tình trạng tham nhũng, quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân Lãnh đạo mặt trận

và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ theo điều lệ của đoàn thể, làm tốt công tác vận động quầnchúng tham gia thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương Lãnh đạo thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, cácchính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước; phát huy được vai trò của các tổ chức trong hệ thống chínhtrị và nhân dân tham gia tích cực vào việc xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh, gắn bó với dân

c) Lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ an ninh, quốc phòng Lãnh đạo tốt công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục phápluật và vận động nhân dân thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Giữvững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra những “điểm nóng”, khiếu kiện kéo dài, những hànhđộng gây rối, vi phạm pháp luật, giải quyết tốt những mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân, xây dựng khốiđoàn kết toàn dân Hoàn thành tốt các chỉ tiêu tuyển quân, làm tốt chính sách hậu phương quân đội và các nhiệm vụquân sự địa phương, xây dựng thế trận an ninh nhân dân trên địa bàn

d) Lãnh đạo thực hiện tốt công tác xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh Làm tốt công tác giáo dục chính trị tưtưởng, đấu tranh có hiệu quả chống các quan điểm, tư tưởng và hành động trái với đường lối, chủ trương của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước; chủ động đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi các biểu hiện tiêu cực, quan liêu, thamnhũng, cục bộ dòng họ, sự thoái hoá về đạo đức, lối sống Làm tốt công tác tổ chức, cán bộ, quy hoạch, tạo nguồn, đàotạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, bố trí, sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ Làm tốt công tác đảng viên,giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đảng viên; đánh giá, sàng lọc, phân loại đảng viên đúng quy định;thực hiện tốt công tác quản lý và phân công nhiệm vụ đảng viên; đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên đảm bảo chất

Trang 21

lượng Thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phêbình, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ tổ chức đảng; có biện pháp đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạtchi bộ, lãnh đạo và thực hiện tốt công tác tác kiểm tra và thi hành kỷ luật đảng v.v…

Câu 2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiên đấu của tổ chức cơ sở đảng?

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh,xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân Người căn dặn: Đảng phải luôn nâng caonăng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, phải luôn tự chỉnh đốn để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang Thực hiện lời dạy củaNgười, Đảng ta luôn coi trọng việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng Trong Dự thảo Văn kiệntrình Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo

và sức chiến đấu của Đảng” Đây là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong công tác xây dựng đảng, trọng tâm là các tổ chức cơ

sở đảng

Thực tiễn hơn 85 năm qua đã khẳng định ý nghĩa to lớn của việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cácTCCSĐ, góp phần quan trọng xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam vững mạnh, thực sự là đội tiên phong của giai cấpcông nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam

Bên cạnh kết quả đạt được, không ít TCCSĐ chưa nhận thức và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ; một số nơi chưa

đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng còn thấp, thậm chí cónơi mất sức chiến đấu; chất lượng sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ hiệu quả thấp; công tác cán bộ, đảng viêncòn bị buông lỏng; trình độ, năng lực của đội ngũ đảng viên còn nhiều hạn chế; một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảngviên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) nhận định: “Công tác xây dựng đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí

có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhândân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chếđộ”

Những hạn chế, khuyết điểm trên có nhiều nguyên nhân, trong đó là sự phát triển nhanh của nền kinh tế, nảy sinhnhững vấn đề mới, tác động tiêu cực đến công tác xây dựng đảng; nhiều TCCSĐ chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắnchức năng, nhiệm vụ và yêu cầu xây dựng, củng cố TCCSĐ trong tình hình mới; một số quy định về chức năng, nhiệm

vụ, chế độ, chính sách cho cơ sở chậm được ban hành, điều chỉnh; sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của cấp ủycấp trên đối với cơ sở chưa thường xuyên Song, nguyên nhân quan trọng nhất là do năng lực lãnh đạo, sức chiến đấucủa TCCSĐ chưa cao; chưa nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của TCCSĐ; chưa có giải pháp hiệu quả nâng cao năng lựclãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng

Hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng, pháttriển với quy mô ngày càng lớn Bên cạnh đó, tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường

Kẻ thù tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ mà trọngđiểm là đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị

Từ những vấn đề trên đòi hỏi các tổ chức cơ sở đảng cần phải xây dựng thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị,

tư tưởng và tổ chức, trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tìnhhình mới

Để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ, cần thực hiện các giải pháp sau:

- Xác định đúng nhiệm vụ chính trị, chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, xây dựng đội ngụ cán

bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tris tuệ, đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, thực sự tiênphong gương mẫu, đủ nằn lực hoàn thành nhiệm vụ được giao Để xác định đúng nhiệm vụ chính trị, các TCCSĐ cầnthực hiện tốt việc quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng, chỉ thị, nghị quyết, chủ trương và kế hoạch công tác của cấptrên; nắm chắc đặc điểm, đánh giá đúng thực trạng kinh tế-xã hội của cơ sở; nắm vững tâm tư, nguyện vọng, lợi íchchính đáng của quần chúng lao động, phát huy trí tuệ của tập thể, dân chủ bàn bạc kết hợp với trách nhiệm cá nhân,tranh thủ ý kiến của cấp trên và lắng nghe ý kiến của nhân dân Trong tình hình hiện nay, công tác tư tưởng phải đượccác cơ sở đảng thực sự coi trọng Công tác tư tưởng cần đổi mới nhưng chưa được nhiều cấp uỷ quan tâm đúng mứcnên thiếu sắc bén, thường bị động Nhiệm vụ hàng đầu về công tác tư tưởng của TCCSĐ là góp phần làm cho cán bộ,đảng viên của đảng bộ nắm chắc và có ý thức trách nhiệm chủ động, sáng tạo thực hiện thắng lợi các chủ trương vànghị quyết của Đảng Đồng thời phải đa dạng hóa hình thức, phương pháp công tác tư tưởng, không ngừng nâng caotrình độ năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở, trước hết là bí thư và cán bộ chủchốt Xây dựng cho đảng viên niềm tin và ý chí kiên định lý tưởng cách mạng, kiên định mục tiêu và con đường đi lênCNXH Để làm tốt công tác tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, phải thường xuyên đánh giá và xác định được các nhiệm

vụ chủ yếu của công tác này trong từng giai đoạn cụ thể Trên cơ sở đó phân tích và xác định các nhiệm vụ giáo dụcchính trị tư tưởng theo từng lĩnh vực hoạt động, thường xuyên thông tin và phân tích những nhân tố mới, tổng kếtnhững hoạt động đổi mới trên từng lĩnh vực, địa phương

- Đổi mới phương thức, phong cách làm việc của tổ chức đảng, chăm lo kết nạp đảng viên, nhất là những địa bàn, đơn

vị chưa có tổ chức đảng, chưa có đảng viên Trước tiên phải xây dựng và thực hiện tốt qui chế hoạt động của TCCSĐ,qui định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và chế độ làm việc của cấp uỷ, chi bộ Cải tiến việc ra

Trang 22

nghị quyết, nâng cao chất lượng nghị quyết Nghị quyết phải xác định đúng vấn đề cần tập trung lãnh đạo, gắn vớinhiệm vụ của địa phương, đơn vị trong từng thời kỳ để đi sâu, bàn kỹ có trọng tâm, trọng điểm Nghị quyết phải ngắngọn, dễ hiểu, dễ nhớ và thực hiện được Trong nghị quyết không nêu những vấn đề ngoài phạm vi của đơn vị, hoặcchung chung, thiếu nội dung sát thực Muốn nghị quyết sát đúng phải tăng cường nắm bắt và xử lý tốt thông tin.Phương thức lãnh đạo và phong cách làm việc của Đảng đòi hỏi TCCSĐ phải coi trọng lãnh đạo việc tổ chức thựchiện Phải xây dựng các kế hoạch, chương trình hành động cụ thể, đề ra biện pháp triển khai thực hiện Tổ chức phổbiến, nghị quyết của tổ chức đảng đến mọi cán bộ, đảng viên; phân công, giao trách nhiệm rõ ràng, đặt ra yêu cầu vàthời gian hoàn thành, tăng cường công tác kiểm tra đánh giá kết quả

- Giữ vững nền nếp, cải tiến, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, chi ủy, đảng ủy; thực hiện nghiêm túc công tác tựphê bình, phê bình mở rộng dân chủ trong sinh hoạt đảng Hiện nay sinh hoạt đảng ở nhiều nơi còn nghèo nàn về nộidung, thậm chí còn lẫn lộn nội dung sinh hoạt chi bộ và sinh hoạt chuyên môn, tạo ra tâm lý ngại sinh hoạt, chánsinh hoạt trong đảng viên Nguy hiểm hơn là những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng không được thực hiệnnghiêm túc, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình, quản lý, kiểm tra, giao nhiệm vụ chođảng viên Nhiều nội dung trong nghị quyết, nhiều vấn đề liên quan mật thiết đến đảng viên không được phổ biến,quán triệt học tập đầy đủ, kịp thời, do đó cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ chủ chốt chỉ nắm chung chung… Do vậy, cầnduy trì sinh hoạt chi bộ, cấp uỷ định kỳ theo đúng qui định của Điều lệ Đảng Cấp ủy tạo cho đảng viên ý thức nghiêmtúc chấp hành Điều lệ Đảng, chủ động chuẩn bị ý kiến phát biểu Nội dung sinh hoạt chi bộ, cấp uỷ phải thiết thực, cụthể Sinh hoạt chi bộ, đảng bộ phải xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo và tình hình, đặc điểm của địa phương,đơn vị Trong sinh hoạt tập trung thảo luận, tranh luận để có giải pháp sát đúng đối với việc thực hiện các công táctrọng tâm; có sự phân công cán bộ, đảng viên phụ trách từng lĩnh vực cụ thể Trong sinh hoạt đảng phải giữ vữngnguyên tắc tập trung dân chủ, mọi đảng viên có quyền thảo luận, phê bình thẳng thắn, chân thành, lắng nghe ý kiếncủa nhau, không định kiến, qui chụp hoặc lợi dụng phê bình để đả kích cá nhân, gây rối nội bộ

- Coi trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên Thực hiệnchủ trương trẻ hóa, tiêu chuẩn hóa, thể chế hóa và từng bước nhất thêt hóa chức danh cán bộ; tạo bước chuyển có tínhđột phá về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở Những năm qua đội ngũ cán bộ và cấp uỷ cơ sở tuy được kiệntoàn, thay đổi nhiều, nhưng trình độ kiến thức và năng lực lãnh đạo còn hạn chế Công tác qui hoạch, đào tạo, bồidưỡng cán bộ cơ sở chưa đạt yêu cầu đề ra Do vậy, các cấp uỷ và tổ chức đảng phải làm tốt công tác qui hoạch và tạonguồn cán bộ, vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa chuẩn bị đội ngũ cán bộ lâu dài; hằng năm có đánh giá, bổ sung,điều chỉnh qui hoạch Đồng thời phải đổi mới việc đánh giá, bồi dưỡng, lựa chọn, sử dụng cán bộ trên cơ sở dựa vàotiêu chuẩn, chú trọng cả phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực trí tuệ và hoạt động thực tiễn của cán bộ,lấy hiệu quả công tác làm thước đo chủ yếu Quan tâm đổi mới, trẻ hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở, kếthợp các độ tuổi, bảo đảm tính liên tục, kế thừa và phát triển Tạo điều kiện để tuyển lựa, đào tạo cơ bản, chính quinhững cán bộ có phẩm chất, thành tích học tập tốt, trở về công tác ở cơ sở Bảo đảm cho mọi cán bộ, đảng viên được

dự các lớp học tập lý luận chính trị theo chương trình chung hằng năm, tất cả các cấp uỷ viên, nhất là bí thư đảng ủy,

bí thư chi bộ được nghiên cứu, học tập, nắm vững và thực hiện tốt phương pháp công tác đảng tại cơ sở Để nâng caochất lượng đảng viên, phải chú trọng rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng và trình độ trí tuệcủa đội ngũ đảng viên Các TCCSĐ bám sát tiêu chuẩn đảng viên được qui định trong Điều lệ Đảng để rà soát, sànglọc, phân tích chất lượng đội ngũ đảng viên, mở rộng việc phân công công tác cho đảng viên, quản lý đảng viên chặtchẽ; đồng thời tích cực tạo nguồn phát triển đảng viên Phát triển đảng viên phải gắn chặt với việc đưa ra khỏi Đảngnhững phần tử thoái hoá, biến chất

- Đẩy mạnh công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng Thực tế hoạt động kiểm tra của TCCSĐ thời gian quacòn yếu, nhiều cấp uỷ buông lỏng, hiệu quả công tác kiểm tra thấp Vấn đề trọng tâm là tập trung vào kiểm tra việctriển khai, thực hiện các nghị quyết của Đảng trong các TCCSĐ và mọi cán bộ, đảng viên Kiểm tra, bổ sung, hoànthiện qui định chức năng, nhiệm vụ và qui chế hoạt động cụ thể của từng loại hình TCCSĐ cho phù hợp với tình hìnhmới, với nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương, đúng Điều lệ Đảng, đúng pháp luật Kiểm tra về phẩmchất đạo đức, lối sống, những dấu hiệu vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật nhà nước trong cán bộ và đảng viên Qua kiểmtra, cần xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm, làm cho TCCSĐ ngày càng trong sạch, vững mạnh Côngtác kiểm tra phải chủ động, kịp thời, chặt chẽ, nghiêm túc, đúng nguyên tắc, thủ tục theo hướng dẫn của Uỷ ban Kiểmtra Trung ương và phải có tác dụng giáo dục sâu sắc, hiệu quả thiết thực Việc đánh giá, kết luận trong kiểm tra phảiđúng mức, công tâm Quá trình kiểm tra phải kết hợp chặt chẽ với công tác thanh tra của chính quyền, phát huy vai tròcủa quần chúng bảo đảm tính chuẩn xác, khách quan Qua kiểm tra, tự phê bình và phê bình kịp thời biểu dương, độngviên, khen thưởng những cá nhân, tập thể có thành tích tốt; kỷ luật nghiêm minh những đảng viên, tổ chức vi phạm; ấnđịnh thời gian phấn đấu cho những đảng viên có khuyết điểm, sai lầm và tạo điều kiện để họ sửa chữa Kiên quyết đưa

ra khỏi Đảng những đảng viên không đủ tư cách Kiểm tra, xử lý kỷ luật phải luôn gắn với củng cố kiện toàn cấp uỷ,

bố trí cán bộ, bảo đảm tính ổn định của tổ chức để lãnh đạo cơ quan và đơn vị hoàn thành nhiệm vụ

- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ cấp trên đối với cơ sở, vừa mở rộng dân chủ vừa tăng cường kỷcương, kỷ luật, khắc phụ tính hình thức, đơn điệu trong sinh hoạt đảng đảm bảo tính giáo dục, tính chiến đấu củaTCCSĐ Nâng cao trách nhiệm của các cấp uỷ cấp trên đối với cơ sở, tất cả hướng về cơ sở, phục vụ cho cơ sở, khắcphục bệnh quan liêu, hành chính (còn khá nặng nề hiện nay) Các cấp uỷ cấp trên phải phát huy tinh thần chủ động và

Trang 23

sáng tạo của TCCSĐ Tăng cường vai trò trách nhiệm của cấp uỷ cấp trên đối với việc xây dựng và chỉnh đốn TCCSĐ,tập trung chỉ đạo củng cố tổ chức và cán bộ ở những đơn vị trọng điểm, khắc phục tình trạng cơ sở yếu kém

Câu 3 Vì sao nói, sinh hoạt chi bộ hằng tháng không chỉ là chấp hành quy định của Điều lệ Đảng, mà còn là nhu cầu của tổ chức đảng và đảng viên?

Sinh hoạt chi bộ là các hoạt động tập thể của toàn thể đảng viên hoặc đại biểu để thảo luận và quyết địnhnhững vấn đề cần thiết

Như chúng ta đã biết, sinh hoạt chi bộ là một trong những nguyên tắc của Đảng và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đốivới quá trình hoạt động lãnh đạo của Đảng ở cơ sở cũng như của từng Đảng viên, sinh hoạt chi bộ là một trong nhữngbiện pháp công tác tư tưởng cơ bản đối với từng đảng viên, nó tác động trực tiếp đến quá trình nhận thức của mỗi cán

bộ Đảng viên trên các lĩnh vực đời sống xã hội

Do đó, có thể nói rằng sinh hoạt chi bộ thực chất là nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sởĐảng Cho nên, sinh hoạt chi bộ được xem là một trong những hoạt động chủ yếu của chi bộ Không sinh hoạt chi bộ,xem như chi bộ ngưng hoạt động Chi bộ là nơi trực tiếp đưa đường lối chính sách, nghị quyết của Đảng ủy cơ sở vàoquần chúng nhân dân và tổ chức thực hiện Sinh họat chi bộ có vai trò tác dụng to lớn đối với xây dựng nội bộ Đảng,củng cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, khẳng định và phát huy những mặt mạnh, chỉ ra những sailầm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên và của chi bộ, đảng bộ cơ sở Sinh hoạt chi bộ là diễn đàn dân chủ phát huytính sáng tạo của đảng viên để tìm chủ trương, giải pháp thực hiện nhiệm vụ chính trị Qua sinh hoạt chi bộ, trình độmọi mặt của từng đảng viên được nâng lên, từng đảng viên trưởng thành

Điều 21 của Điều lệ Đảng xác định: “Chi bộ là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở ” Với vị trí lànền tảng của Đảng, chi bộ có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự vững mạnh và năng lực lãnh đạo của Đảng

Chi bộ là cấp tổ chức cuối cùng trong hệ thống tổ chức bốn cấp của Đảng, là cơ sở để xây dựng nên toàn bộ hệthống tổ chức của Đảng, là cấp tổ chức sâu rộng nhất, bám sát các đơn vị cơ sở trên toàn lãnh thổ và các nghành, cáclĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng tới từng đảng viên, từng đơn vị cơ sở và từng người dân Chi bộ là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, đồng thời cũng là nơi kiểmnghiệm và góp phần quan trọng vào việc hình thành phát triển đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thông quanhững kinh nghiệm thực tiễn phong phú của đội ngũ đảng viên và quần chúng nhân dân Ghi nhận những đóng gópquan trọng của chi bộ vào quá trình hình thành đường lối đổi mới, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng takhẳng định: “Những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng được khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đều bắtnguồn từ sự nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở mà hạt nhân lãnh đạo là tổ chức đảng”

Chi bộ cũng là nơi trực tiếp tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng như: kết nạp, quản lý, phân côngnhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá đảng viên; nơi thường xuyên thực hành các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng;nơi xuất phát đề cử ra cơ quan lãnh đạo của các cấp của Đảng Chất lượng chi bộ do đó có ảnh hưởng tới chất lượngnội bộ Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh Đảng mạnh là do chi bộ tốt” Chi bộ còn là cầu nối Đảng với quần chúng nhân dân, là một mắt khâu trọng yếu để duy trì mối quan hệ Đảngvới dân – nền tảng sức mạnh của Đảng, bởi đây là tổ chức đảng gần dân nhất, trực tiếp lãnh đạo nhân dân và nắm bắttâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân để phản ánh với Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng “Tác dụng củachi bộ là cực kỳ quan trọng, vì nó là sợi dây chuyền để liên hệ Đảng với quần chúng”

Do những tác dụng quan trọng của chi bộ như vậy, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chi bộ là nềnmóng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt”

Với vị trí vai trò là hạt nhân chính trị ở cơ sở, chi bộ tuy là một bộ phận trong hệ thống chính trị ở cơ sở, nhưng

là tổ chức lãnh đạo tất cả các tổ chức khác trong hệ thống chính trị đó, là tổ chức đảm bảo cho mọi hoạt động ở cơ sởtheo đúng định hướng chính trị của Đảng

Nói về vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của chi bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đối với Đảng ta, xâydựng chi bộ cho tốt, cho vững mạnh là một việc vô cùng quan trọng” Trong quá trình xây dựng Đảng và lãnh đạocách mạng, Đảng ta luôn coi xây dựng, nâng cao nâng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của chi bộ là nhiệm vụ thườngxuyên và quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng

Bên cạnh đó sinh hoạt chi bộ hằng tháng còn là thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đảng và của đảng viên nhằm thực hiệnnhiệm vụ đó là

- Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị Căn cứ chức năng, nhiệm vụ chính trị cụ thể của từng Chi bộ mà

có nội dung lãnh đạo khác nhau Chi bộ phải bám sát chức năng, nhiệm vụ, nghị quyết cấp trên mà đề ra chủ trương,biện pháp lãnh đạo cho phù hợp, điều kiện, chức năng, nhiệm vụ của Chi bộ

- Giáo dục, quản lý và phân công công tác cho Đảng viên

- Thường xuyên làm công tác vận động quần chúng thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước và nghị quyết của Chi bộ, nhiệm vụ chính trị của đơn vị, đồng thời tiến hành công tác phát triển Đảngviên, phát hiện những quần chúng ưu tú để bồi dưỡng kết nạp vào Đảng

- Tiến hành công tác kiểm tra và thi hành kỷ luật Đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng Thực hiện nguyên tắc tậptrung dân chủ, xây dựng đoàn kết nội bộ Đấu tranh với các biểu hiện bè phái, cục bộ, lãnh đạo thực hiện tiết kiệm,chống tham ô lãng phí, tham nhũng trong cơ quan, đơn vị

Trang 24

- Thu nộp Đảng phí của Đảng viên theo quy định.

- Duy trì nề nếp sinh hoạt Chi bộ, chi ủy theo quy định của Điều lệ Đảng

Việc sinh hoạt chi bộ hằng tháng là hoạt động rất quan trọng, vai trò và tác dụng to lớn đối với năng lực lãnh đạo vàsức chiến đấu của chi bộ, đảm bảo cho chi bộ và đảng viên hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình Sinh hoạt chi

bộ giữ vai trò quan trọng trong công tác xây dựng Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của chi bộ.Chi bộ trực tiếp tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ đảng, trực tiếp giáo dục, rèn luyện đảng viên, phân côngcông việc và quản lý đảng viên, tiến hành các thủ tục kết nạp đảng viên, đưa người không đủ tư cách đảng viên ra khỏiĐảng…; tiến hành công tác cán bộ, thực hiện các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng Sinh hoạt chi bộ có vai trò,tác dụng to lớn đối với xây dựng nội bộ Đảng, củng cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, khẳng định vàphát huy những mặt mạnh, chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên và của chi bộ Sinh hoạt chi bộ làdiễn đàn dân chủ phát huy tính sáng tạo của đảng viên để tìm chủ trương, giải pháp thực hiện nhiệm vụ chính trị đạthiệu quả Qua sinh hoạt chi bộ trình độ mọi mặt của từng đảng viên được nâng lên và đảng viên dần dần trưởng thành Bên cạnh đó cần không ngừng nâng cáo chất lượng sinh hoạt chi bộ Không tổ chức sinh hoạt hoặc tổ chức sinh hoạtchi bộ nhưng chất lượng sinh hoạt thấp thì năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của chi bộ không thể được nâng lên.Thực tiễn đã chứng minh, chi bộ trong sạch vững mạnh là chi bộ được duy trì thành nền nếp sinh hoạt, có nội dungphong phú, thiết thực, có hình thức sinh hoạt đa dạng và có chất lượng

- Sinh hoạt chi bộ là để thực hiện nhiệm vụ chính trị của chi bộ, thực hiện đường lối, nghị quyết của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước và nghị quyết, chỉ thị của tổ chức đảng cấp trên

Chi bộ là nơi trực tiếp đưa ra đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Nghịquyết, Chỉ thị của tổ chức đảng cấp trên đến với nhân dân và tuyên truyền giáo dục để nhân dân hiểu và trực tiếp lãnhđạo nhân dân thực hiện, đồng thời xác định nhiệm vụ chính trị và đề ra các nghị quyết của chi bộ và tổ chức thực hiện

Để nhiệm vụ chính trị, các nghị quyết của chi bộ, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật củaNhà nước và nghị quyết, chỉ thị của tổ chức đảng cấp trên được thực hiện đạt kết quả tốt phải tổ chức quán triệt, nhậnthức sâu sắc và xác định các giải pháp khả thi, tạo nên sự thống nhất ý chí của toàn thể cán bộ, đảng viên, từ đó làmchuyển biến nhận thức, tạo sự đồng thuận trong nhân dân, đó là cơ sở để thống nhất hành động đây là nhân tố quyếtđịnh thực hiện thắng lợi đường lối chủ trương, nhiệm vụ chính trị, chỉ thị, nghị quyết đó

Trong quá trình tổ chức thực hiện tổ chức đảng còn phải sơ kết, tổng kết để lãnh đạo quá trình tiếp theo đạt kết quả tốthơn Những hoạt động đó chỉ có thể đạt kết quả tốt trước tiên và chủ yếu nhờ sinh hoạt chi bộ, phụ thuộc và đượcquyết định bởi chất lượng sinh hoạt chi bộ Điều này lại phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức sinh hoạt chi bộ

- Sinh hoạt chi bộ để tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa chi bộ với nhân dân Chi bộ là cầu nối liền giữa đảng vớinhân dân, trực tiếp nắm bắt tâm tư, tình cảm, nguyện vọng chính đáng của nhân dân để giải quyết kịp thời hoặc phảnánh lên cấp trên để giải quyết, trực tiếp đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vàonhân dân, tuyên truyền, giáo dục để nhân dân hiểu và thực hiện Các chi bộ, trực tiếp chăm lo đời sống mọi mặt củanhân dân, là chỗ dựa vững chắc, là niềm tin của nhân dân Thực hiện tốt những điều đó thì mối quan hệ mật thiết giữaĐảng với nhân dân ngày càng được tăng cường và bền chặt Các chi bộ thực hiện tốt những điều đó thì Đảng được dântin, dân phục, dân yêu

- Đối với tổ chức đảng cấp trên, Chi bộ là nơi tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của tổ chức đảng cấptrên và đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đảm bảo cho đường lối, chủ trương vàcác chỉ thị, nghị quyết ấy thành hiện thực Vì vậy, sinh hoạt chi bộ hằng tháng không chỉ là chấp hành quy định củaĐiều lệ Đảng, mà còn là nhu cầu của tổ chức đảng và đảng viên

Câu 4 Các nguyên tắc trong công tác tư tưởng ?

Khái niệm tư tưởng và công tác tư tưởng

Tư tưởng là một hình thái ý thức xã hội, kết quả của quá trình nhận thức hiện thực khách quan, trở thành kinh nghiệm và sựhiểu biết trong tâm trí của con người, tạo cơ sở chỉ đạo hành động con người vì lợi ích bản thân

Hệ tư tưởng là hệ thống những quan điểm và tư tưởng: chính trị, luật pháp, đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo, triết học củagiai cấp đại diện cho phương thức sản xuất xã hội, mang tính giai cấp; và phản ánh vị trí lợi ích của giai cấp

Công tác tư tưởng là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính đảng, nhằm hình thành, phát triển, truyền bá hệ tưtưởng của giai cấp trong quần chúng, thúc đẩy quần chúng hành động vì lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng Công tác tư tưởngcủa Đảng là hoạt động của Đảng tác động đến cán bộ, đảng viên và nhân dân nhằm xây dựng, xác lập, phát triển và truyền

bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước và những tư tưởng tiên tiến, cách mạng và khoa học khác qua đó định hướng nhận thức, xây dựng niềm tin vàthế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, giá trị đạo đức đúng đắn, thúc đầy hành động của mọi người vì lợi ích củaĐảng, nhân dân, dân tộc Công tác tư tưởng góp phần tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân,xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy tính chủ động sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, thực hiện thắng lợimục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”

Nội dung công tác tư tưởng là nội dung các hoạt động mà chủ thể xác định nhằm thực hiện mục đích đặt ra Nội dungcông tác tư tưởng gồm việc xây dựng, xác lập, phát triển hệ tư tưởng của giai cấp, biến nó thành hệ tư tưởng chủ đạo trong

Trang 25

xã hội; giáo dục ý thức tự giác chính trị, hình thành niềm tin Nội dung công tác tư tưởng do mục đích công tác tư tưởng vànhiệm vụ cụ thể của mỗi giai đoạn cách mạng quy định.

Mục tiêu của công tác tư tưởng là định hướng nhận thức, xây dựng niềm tin và thúc đầy hành động của mọi người vìlợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc

Vị trí, vai trò của công tác tư tưởng

Công tác tư tưởng là một bộ phận hợp thành trong hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng, một mặt công tác trọngyếu của chính quyền và các tổ chức, đoàn thể trong hệ thống chính trị

Công tác tư tưởng góp phần hình thành bản chất giai cấp công nhân, tính tiền phong của Đảng, xây dựng tổchức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; có sức chiến đấu cao và khôngngừng nâng cao năng lực lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị Công tác tư tưởng tham gia bảo đảmquy trình lãnh đạo của Đảng, có vai trò quan trọng hàng đầu trong việc đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước đến với mỗi người dân; khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường,tính chủ động, sáng tạo của quần chúng nhằm biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành hiện thực,thành phong trào hành động cách mạng của quần chúng Công tác tư tưởng xác lập nền tảng tư tưởng của xã hội, cóvai trò quan trọng trong việc tạo nên sự thống nhất cao trong tổ chức đảng, sự đồng thuận trong xã hội, góp phầnxây dựng đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh, xây dựng con người mới, xã hội mới; giữ vững ổn định chính trị,phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội

Trong công tác tư tưởng cần thực hiện một số nguyên tắc sau

Nguyên tắc tính đảng Tính đảng là nguyên tắc cơ bản nhất của công tác tư tưởng Công tác tư tưởng phải đứng

vững trên lập trường của giai cấp công nhân, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,đường lối, chính sách của Đảng; chủ động đấu tranh không khoan nhượng với những tư tưởng thù địch, phản khoahọc, đi ngược lại với lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc

Nguyên tắc tính khoa học Công tác tư tưởng được tiến hành trên cơ sở khoa học, tuân theo các quy luật vận

động, biến đổi của lĩnh vực tư tưởng Nguyên tắc tính khoa học yêu cầu công tác tư tưởng được tiến hành có kế hoạch,nội dung và hình thức phù hợp với từng đối tượng, đáp ứng nhu cầu giải đáp vướng mắc và định hướng tư tưởng chomọi đối tượng Công tác tư tưởng phải sử dụng các phương tiện tác động ngày càng hiện đại

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, giữa lời nói và việc làm Công tác tư tưởng phải xuất phát

từ thực tiễn và phục vụ thực tiễn; đồng thời phải được soi sáng, định hướng bằng lý luận, được chỉ đạo, tổ chứcthực hiện một cách khoa học Tổng kết thực tiễn là nhiệm vụ và phương thức căn bản để thực hiện sự thống nhấtgiữa lý luận và thực tiễn trong công tác tư tưởng, khắc phục chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm

Câu 5 Công tác tư tưởng trên địa bàn tỉnh Đăk Nông cần chú trọng những vấn đề gì?

Công tác xây dựng Đảng về tư tưởng rất đặc biệt, bởi nó nằm trên lĩnh vực ý thức, tinh thần, tác động vào khíacạnh nhận thức của con người, là hoạt động rất khó khăn, cần phải có tính chính sác, khoa học, hợp quy luật tâm lý đểthuyết phục mọi người Trong tình hình hiện nay, cần thực hiệm tốt các giải pháp sau đây để nâng cao chất lượng côngtác tư tưởng của Đảng:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước về côngtác tư tưởng, phát huy sức mạnh tổng hợp trong công tác tư tưởng Xây dựng và thực hiện quy chế, quy định toànĐảng, từ Trung ương đến cơ sở và mọi đảng viên có trách nhiệm trực tiếp làm công tác tư tưởng, tham gia tổng kếtthực tiễn Bí thư cấp uỷ, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị hàng năm phải lập kế hoạch chỉ đạo công tác tư tưởng, chủđộng nắm bắt, đánh giá, dự báo diễn biến tư tưởng của đơn vị mình, có biện pháp giải quyết kịp thời Xây dựng cơ chếcác cấp uỷ đảng tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lí nhà nước từ Trungương đến cơ sở với cơ quan làm công tác tư tưởng trong việc triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giải quyếtcác vấn đề bức xúc của nhân dân

Hai là, nâng cao tính khoa học, không ngừng mở rộng dân chủ trong công tác tư tưởng; đấu tranh kịp thời, cóhiệu quả với các luồng tư tưởng thù địch, các biểu hiện và hành vi sai trái, vi phạm pháp luật

Ba là, Triển khai sâu rộng nhiệm vụ xây dựng đạo đức đối với các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là cán bộ, đảng viên

và thế hệ trẻ, nêu cao vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực đạo đức phù hợpvới từng đối tượng, xây dựng cơ chế giám sát về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên Tổ chức thực hiện rộng khắp,

có chiều sâu, thiết thực và hiệu quả Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, gắn vớinhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, chống suy thoái về tư tưởng,chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên Nghiên cứu, xây dựng, tổng kết và truyền bá rộng rãi những giá trị mớicủa con người Việt Nam trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đồng thời bảo vệ và phát huy bản sắc dân tộc, đấutranh chống lai căng, bắt chước, lệ thuộc nước ngoài

Bốn là, tập trung xây dựng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tư tưởng có phẩmchất, năng lực, trình độ và bản lĩnh vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với chế độ, với sự nghiệp cách mạng,thường xuyên gắn bó máu thịt với nhân dân Đội ngũ cán bộ tư tưởng của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể cáccấp, trên các lĩnh vực công tác phải luôn quán triệt chủ trương, đường lối quan điểm, tư tưởng của Đảng, bám sát thựctiễn đất nước, đi sát cuộc sống của nhân dân, có phẩm chất, đạo đức trong sáng, tinh thông về chuyên môn, nghiệp vụ,

Trang 26

không ngừng sáng tạo, đổi mới phương pháp công tác, biết sử dụng thành thạo, có hiệu quả các phương tiện mới trongthời đại công nghệ thông tin để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của Đảng, của đất nước trong thời kỳ mới.

Năm là, kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng cường đầu tư cho công tác tư tưởng nhằm hiện đại hóa phương tiện,trang thiết bị Các phương tiện phục vụ cho hoạt động tư tưởng ở nước ta hiện nay tuy đã được trang bị nhưng còn khálạc hậu, thiếu đồng bộ, nhất là ở vùng sâu, vùng xa Các cấp ủy đảng cần tăng cường đầu tư hơn nữa cơ sở vật chất,từng bước hiện đại hóa trang thiết bị Thường xuyên tổ chức tập huấn để cán bộ tuyên giáo các cấp có thể sử dụngthành thạo các phương tiện hiện đại, đáp ứng yêu cầu ngày cang cao của mặt trận tư tưởng-văn hóa Khẩn trương xâydựng quy hoạch đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng đến năm 2020 từ Trung ương đến cơ sở, cả cán bộ cấp chiếnlược, các chuyên gia đầu ngành, đội ngũ kế cận và cán bộ trẻ

Sáu là, phải huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng làm công tác tư tưởng gồm hệ thống các cơ quannghiên cứu lý luận, các cơ quan giáo dục lý luận chính trị, đội ngũ báo cáo viên, truyên truyền viên, hệ thống báo chí,xuất bản, phát hành, hệ thống các thiết chế văn hóa, lực lượng văn học nghệ thuật, tạo thành một mặt trận rộng lớn, nhằmtạo sự đa dạng và phong phú về hình thức, tăng sức lan toả trong các tầng lớp nhân dân, hình thành trận địa tư tưởngvững chắc trong lòng dân, khẳng định tư tưởng chính thống của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới Các cấp ủy lãnhđạo và phối hợp các lực lượng này trong việc thực hiện từng nhiệm vụ chính trị, trong từng giai đoạn, từ đó tạo nên sứcmạnh tổng hợp của công tác tư tưởng, góp phần giữ vững trận địa văn hóa-tư tưởng ở nước ta hiện nay

Bảy là, đổi mới nội dung, phương pháp tiến hành công tác tư tưởng Công tác tư tưởng phải gắn với nhiệm vụchính trị, gắn với cuộc sống, góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế- xã hội bức xúc, không ngừng nâng cao tínhhành động, tính thực tiễn, tạo ra sự thống nhất cao hơn nữa trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân trong mỗi lờinói và việc làm Công tác tư tưởng cần bám sát tình hình thực tiễn trong nước và thế giới, dự báo và định hướng tưtưởng đúng, kịp thời, nhất là khi có tình hình biến động phức tạp Mặt khác, phải nắm bắt diễn biến tư tưởng, giải đápthấu đáo, kịp thời nguyện vọng, đòi hỏi của cán bộ, đảng viên và nhân dân Công tác tư tưởng phải hướng mạnh về cơ

sở, nắm bắt kịp thời tư tưởng, nguyện vọng của nhân dân, khơi dậy vai trò, trách nhiệm của nhân dân, góp phần chăm

lo cải thiện đời sống nhân dân

* Công tác tư tưởng là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính đảng, nhằm hình thành, phát triển, truyền

bá hệ tư tưởng của giai cấp trong quần chúng, thúc đẩy quần chúng hành động vì lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng

* Công tác tư tưởng của Đảng ở cơ sở: là một mặt công tác chủ yếu của tổ chức đảng chính quyền đoàn thể ở cơ sởnhằm tác động vào đội ngũ cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân ở cơ sở củng cố nền tảng tư tưởng cán bộ đảng viên,

cổ vũ tính tích cực sáng tạo của nhân dân trên địa bàn, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị của cơ sở, góp phần thắng lợinhiệm vụ chung của đất nước

* Để nâng cao chất lượng công tác tư tưởng ở tổ chức cơ sở đảng nơi công tác:

- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, vai trò cảu chính quyền cơ sở, đẩy mạnh công tác tư tưởng trongtình hình mới Lãnh đạo tiến hành công tác tư tưởng luôn là một trọng tâm công tác cảu cấp ủy, của chính quyền, mặttrận và các tổ chức, đoàn thể Cấp ủy trước hết là bí thư, người đứng đầu cơ quan, chính quyền, đoàn thể hàng năm cầnxây dựng chương trình, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành công tác tư tưởng Định kỳ đại diện cấp ủy nghe ý kiếnphản ánh về tình hình tư tưởng, chính trị trong cán bộ, đảng viên và nhân dân của cán bộ có trách nhiệm trong chínhquyền, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể Từ đó cấp ủy chủ động nắm bắt, đánh giá, dự báo tình hình tư tưởng, có chủtrương, biện pháp lãnh đạo về tư tưởng và chỉ đạo triển khai thực hiện thống nhất trong đơn vị Thường xuyên nângcao chất lượng tự phê bình trong sinh hoạt đảng, khắc phục trình trạng mơ hồ về tư tưởng trong cán bộ, đảng viên

- Mở rộng dân chủ, phát huy tự do tư tưởng, đồng thời giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật phát ngôn theo quy định

Mở rộng dân chủ nói chung, dân chủ trong công tác tư tưởng nói riêng theo tư tưởng Hồ Chí Minh Tôn trọng và lắngnghe các ý kiến đề xuất, tâm tư nguyện vọng của quần chúng Phân tích tổng hợp đánh giá đúng tình hình tư tưởng củatừng đối tượng để xác định nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục, giải quyết đúng đắn phù hợp Động viên và tạođiều kiện để mọi người phát huy tự do tư tưởng, góp ý kiến vào sự lãnh đạo của chi bộ, đảng bộ, tham gia làm tưtưởng theo khả năng, nhất là tham gia tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng nhân dân quán triệt và thực hiệntốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị ở cơ sở Thực hiệnnghiêm các quy đinh về kỷ luật phát ngôn; kịp thời phát hiện và xử lý những biểu hiện tự do tùy tiện, lợi dụng dân chủ

để truyền bá các quan điểm trái với quan điểm, dường lối của Đảng, gây hoài nghi, dao động, mâu thuẫn, mất đoàn kếttrong tổ chức đảng và trong nhân dân

- Nêu cáo vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên, thực hiện nói đi đôi với làm, nói và làm đúng đường lối,chính sách pháp luật mỗi cán bộ đảng viên phải có nhận tư tưởng, chính trị đúng đắn, tích cực tham gia làm công tác

Trang 27

tư tưởng cho gia đình mình và quần chúng được phân công Phải nói và làm đúng theo nghị quyết của Đảng; nói đi đôivới làm, thật sự là tấm gương về mọi mặt cho quần chúng noi theo; ddooongf thời làm tốt việc giải quyết tư tưởng chobản thân, gia đình và những người xung quanh Mỗi cán bộ đảng viên phải thực sự là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởngcủa Đảng ở cơ sở.

- Cấp ủy cơ sở cần khai thác và sử dụng có hiệu quả các kênh thông tin để giáo dục chính trị tư tưởng Để đápứng yêu cầu này, cấp ủy phải hết sức coi trọng nâng cao tính giáo dục trong sinh hoạt cảu các tổ chức, các hội quầnchúng, các cuộc họp nhân dân, các buổi tiếp xúc, đối thoại với dân Phải nâng cao tính giáo dục trong các hoạt độngvăn hóa văn nghệ, vui chơi giải trí, các câu lạc bộ…Qua đó để nhân dân hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng, cácluật, nghị quyết của Nhà nước, quyết định của các cấp chính quyền địa phương, để dân biết những vấn đề liên quanđến lợi ích thiết thân, quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của họ, tạo điều kiện để nhân dân tham gia có hiệu quả vàoviệc quản lý kinh tế - xã hội ở địa phương, đơn vị, giám sát hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và mọicán bộ đảng viên ở cơ sở

- Đổi mới hình thức biện pháp theo hướng phát huy dân chủ công khai, trung thực trong công tác tư tưởng Cấp

ủy cơ sở vừa phải phát huy dân chủ trong sinh hoạt, hoạt động của tổ chức đảng, vừa thực hiện lãnh đạo quy chế dânchủ ở cơ sở, nhằm phát huy năng lực sáng tạo của quần chúng, thu hút đông đảoquần chúng tham gia xây dựng Đảng,chính quyền, tham gia quản lý mọi công việc ở địa phương, đơn vị Đó là con đường đem lại hiệu quả nhiều mặt trongcông tác tư tưởng

- Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo và đội ngũ báo cáo viên ở tổ chức cơ sở đảng Chútrọng xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ đương chức, kế cận, cán bộ trẻ gắn liền với công tác đào tạo, bồi dưỡngnâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ Bố trí, sử dụng cán bộ phải trên cơ sở quy hoạch, phù hợp với năng lực, sởtrường của từng người Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật cho công tác tư tưởng theo hướng hiện đại, đáp ứngyêu cầu của hoạt động tư tưởng trước những đòi hỏi mới Thực hiện tốt các chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũcán bộ làm công tác tuyên giáo ở cơ sở

Câu 7 Vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở? Đề xuất một số giải pháp để phát huy vai trò của đội ngũ cán

bộ cơ sở.

* Khái niệm cán bộ có nhiều cách hiểu khác nhau, theo nghĩa rộng:

Cán bộ bao gồm cán bộ, công chức viên chức nói chung hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị cácđơn vị sự nghiệp công và thành phần kinh tế nhà nước được hình thành thông qua con đường đào tạo và bồi dưỡngtrong nhà trường và thực tiễn, đây là bộ phận đông đảo và thường ổn định nhất

Cán bộ là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan tổ chức trong đó cần nhấn mạnh của cả hệ thôngchính trị, đây là đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý những người có chức vụ phân biệt với người thường không có chức

vụ, bộ phận cán bộ này được hình thành thông qua việc bầu cử dân chủ hoặc đề bạt bổ nhiệm

Công tác cán bộ của đảng là việc xây dựng đội ngũ cán bộ bao gồm việc đề ra tiêu chuẩn quy hoạch đào tạođánh giá bổ nhiệm đề bạt luân chuyển điều động quản lý khen thưởng chính sách đãi ngộ cán bộ nhằm phục vụ chonhiệm vụ chính trị của đảng trong từng giai đoạn

Công tác cán bộ của đảng ở cơ sở là những công việc cấp ủy đảng bộ chi bộ tiến hành nhằm xây dựng đội ngũcán bộ cơ sở có chất lượng tốt đảm bảo cho đường lối chủ trương của đảng chính sách pháp luật của nhà nước các nghịquyết quyết định của cấp ủy các cấp được thực hiện nghiêm túc và đem lại hiệu quả thiết thực tại cơ sở

* Vai trò của cán bộ: C.Mac, Ph Ăngghen và LeNin đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của cán bộ đối vớiviệc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng và với thành công của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnhđạo của đảng Chủ tịch HCM dạy rằng: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc công việc thành công hay thất bại đều docán bộ tốt hay kém Đảng ta đã khẳng định Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vậnmệnh của đảng của đất nước và chế độ là khâu then chốt trong công tác xây dựng đảng Đội ngũ cán bộ có vai trò quantrọng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý ở các cấp các ngành lại càng có vai trò quan trọng hơn, thực tiễn phong tràocộng sản và công nhân quốc tế và sự nghiệp cách mạng nước ta đã khẳng định

* Vai trò của cán bộ cơ sở:

Cơ sở là cấp chủ yếu đưa đường lối chủ trương của đảng chính sách pháp luật của nhà nước vào nhân dân và tổchức thực hiện làm cho đường lối chủ trương chính sách thành hiện thực; là nơi kiểm nghiệm khẳng định tính đúngđắn của đường lối chính sách đóng góp những kinh nghiệm để Đảng bổ sung hoàn chỉnh đường lối, chính sách

Cơ sở còn là nơi tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ đảng, những công việc đó đều do cán bộ nhất là cán

bộ chủ chốt ở cơ sở tiến hành, chất lượng thực hiện các công việc đó phụ thuộc và được quyết định bởi chất lượng độingũ cán bộ cơ sở

Cán bộ cơ sở hằng ngày hằng giờ gắn bó với nhân dân lăn lộn trong thực tiễn sinh động ở cơ sở, họ có ưu thế

và vai trò to lớn trong việc khơi dậy phát huy tinh thần làm chủ tính sáng tạo của nhân dân; cán bộ cơ sở nắm vữngtâm tư tình cảm nguyện vọng chính đáng của nhân dân phản ánh với Đảng để Đảng đề ra đường lối, chủ trương’ chínhsách đúng đắn, để đi vào nhân dân để nhân dân thực hiện Đời sống của nhân dân ở cơ sở được đảm bảo hay khôngphụ thuộc rất lớn vào sự lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ cơ sở

Trang 28

Cán bộ cơ sở là lực lượng nòng cốt đảm bảo sự đoàn kết thống nhất trong chi bộ, đảng bộ và trong nhân dân.Thông qua cán bộ cơ sở, vai trò lãnh đạo và uy tín của Đảng được thể hiện và được nâng lên.

Cán bộ cơ sở còn góp phần phát triển các phong trào quần chúng để phát triển kinh tế - xã hội, giúp cải thiện,phát triển đời sống của nhân dân

* Một số giải pháp để phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở

- Hoàn thiện chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ cơ sở; cán bộ cơ sở cần có chế độ làm việc và đượchưởng chính sách về cơ bản như CBCC nhà nước; cần có chế độ đãi ngộ đối với cán bộ cơ sở, việc trả lương phải thực

sự gắn với vị trí việc làm và hiệu quả công việc Cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện chính sách tiền lương để cán bộ

cơ sở yên tâm và tâm huyết trong công tác Đặc biệt, cần xây dựng một số chế độ, chính sách cụ thể đối với những cán

bộ cơ sở thôi công tác trước tuổi về hưu do chưa đạt chuẩn và năng lực, trình độ hạn chế, tuổi đời cao; chế độ hỗ trợcho cán bộ luân chuyển; chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao về công tác tại các xã, phường, thị trấn

- Hoàn thiện công tác phân tích công việc, xác định vị trí việc làm và xây dựng khung năng lực đối với các vịtrí chức danh; tạo nguồn cơ sở để, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và giải quyết chế độ, chính sách đối vớicán bộ cơ sở Đây là bước tiến quan trọng hướng tới chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa đội ngũ cán bộ cơ sở, góp phầntrực tiếp nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước Hoàn thiện công tác phân tích công việc,xác định vị trí việc làm và xây dựng khung năng lực đối với các vị trí chức danh, coi đây là công cụ quan trọng nhấttrong quản lý cán bộ cơ sở

- Hoàn thiện công tác thu hút, quy hoạch và sử dụng cán bộ cơ sở Đẩy mạnh việc tuyển dụng sinh viên tốtnghiệp cao đẳng, đại học chính quy có chuyên môn phù hợp về công tác tại các xã, phường, thị trấn Tổ chức thi tuyểncông chức đảm bảo khách quan, công bằng và mang tính cạnh tranh cao Chỉ đưa vào quy hoạch hoặc giới thiệu đểbầu vào chức danh cán bộ những người có đủ tiêu chuẩn theo quy định, có điều kiện và khả năng hoàn thành nhiệm vụđược giao; tăng cường bố trí sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ được đào tạo cơ bản, đã qua thử thách trong thực tiễn, cótriển vọng phát triển; thực hiện tốt công tác luân chuyển cán bộ Đồng thời, không bố trí những cán bộ không có khảnăng hoàn thành nhiệm vụ, xử lý nghiêm khắc đối với những người không chấp hành chủ trương điều động, luânchuyển của cấp có thẩm quyền

- Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng Các địa phương cần chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo,bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở trong từng năm và cả nhiệm kỳ; gắn bồi dưỡng về chính trị - chuyên môn với giáo dụcphẩm chất, ý thức tinh thần trách nhiệm của cán bộ cơ sở; tăng cường đào tạo theo vị trí việc làm Nâng cao chất lượngđội ngũ giảng viên; đổi mới phương pháp giảng dạy; tăng cường quản lý chất lượng đào tạo và cơ sở vật chất, trangthiết bị phục vụ cho đào tạo; phối hợp với một số cơ sở đào tạo uy tín để nâng cao chất lượng đào tạo

- Hoàn thiện công tác kiểm tra, đánh giá, khen thưởng và kỷ luật Công tác kiểm tra, đánh giá, khen thưởng và

kỷ luật có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở Thông qua hoạt động này nhằm pháthiện những tiêu cực, bất cập nảy sinh từ cán bộ và công tác cán bộ Qua đó, động viên khen thưởng những nhân tố tíchcực, xử lý kịp thời những sai phạm, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền Việc đánh giá cán bộ

cơ sở phải đảm bảo nội dung, quy trình theo quy định, công khai, dân chủ với tiêu chuẩn rõ ràng, minh bạch Gắn đánhgiá với công tác tự phê bình, phê bình và thực hiện nghiêm túc việc tổ chức lấy phiếu tín nhiệm với các chức danh chủchốt; tạo điều kiện để nhân dân tích cực tham gia giám sát, đánh giá và góp ý cho đội ngũ cán bộ cơ sở Kiên quyết xử

lý nghiêm những cán bộ vi phạm, nhiều khuyết điểm, không hoàn thành nhiệm vụ được giao

Câu 8 Tại sao công tác kiểm tra, giám sát phải thực hiện nguyên tắc tính Đảng và tính khoa học (câu này khósoạn quá thầy cô ơi, nhờ thầy cô chỉnh sữa thêm với)

* Khái niệm kiểm tra, giám sát của Đảng:

- Công tác kiểm tra của Đảng là hoạt động của Đảng, được tiến hành đối với tổ chức Đảng và đảng viên, nhằmnắm vững tình hình; nhận xét, đánh giá việc chấp hành Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, các quy định, quyết định của Đảng;xác định sự đúng đắn hay vi phạm của các hành vi có liên quan đến kỷ cương, kỷ luật của Đảng và đưa ra hình thức xử

lý kịp thời, đúng đắn

- Công tác giám sát của Đảng là nhiệm vụ của toàn Đảng Tổ chức đảng và đảng viên có trách nhiệm thực hiệnnhiệm vụ giám sát theo quy định, nhằm theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên chịu sựgiám sát trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, các chỉ thị, các quy định, quyết định củaĐảng và đạo đức lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương

* Công tác kiểm tra, giám sát phải thực hiện nguyên tắc tính Đảng và tính khoa học:

Công tác kiểm tra, giám sát là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác Đảng và công tác của các tổchức chính trị - xã hội Nó được tiến hành trên cơ sở và trong khuôn khổ Cương lĩnh, đường lối chính trị và Điều lệĐảng Nó lấy việc phục vụ nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng làm mục tiêu, phương hướng, nội dung hoạtđộng Vì vậy, khi tiến hành kiểm tra, giám sát phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, các

tổ chức chính trị - xã hội; phân tích, xem xét sự việc một cách khách quan, thận trọng, có quan điểm lịch sử cụ thể.Nguyên tắc tính đảng còn thể hiện ở thái độ kiên quyết, triệt để không khoan nhượng trước các khuyết điểm, sai lầmcủa tổ chức đảng, tổ chức hội, của đảng viên, hội viên

Trang 29

Đảng viên có trách nhiệm tham gia công tác kiểm tra giám sát và chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng Đảngviên phải thường xuyên tự kiểm tra trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quyđịnh, quy chế, kết luận của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên vànhiệm vụ đảng viên, đồng thời nhắc nhở, đôn đốc đảng viên khác trong chi bộ, đảng bộ chấp hành Thực hiện tốt tựphê bình và kịp thời phát hiện, phê bình trung thực, chân thành, thẳng thắn đối với đảng viên và tổ chức đảng trong chi

bộ, đảng bộ có khuyết điểm hoặc có dấu hiệu vi phạm Tích cực tham gia công tác kiểm tra, giám sát theo chươngtrình, kế hoạch kiểm tra giám sát của chi bộ, đảng ủy hoặc theo yêu cầu của cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp trên Mọihoạt động của đảng viên đều phải chịu sự kiểm tra của chi bộ và các tổ chức đảng có thẩm quyền Khi cấp ủy và ủyban kiểm tra yêu cầu báo cáo, cung cấp tài liệu về những vấn đề có liên quan đến công tác kiểm tra, đảng viên phảithực hiện đầy đủ, không gây khó khăn, trở ngại cho công tác kiểm tra

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng Một trong những phương châm xây dựngĐảng là tổ chức cho quần chúng tham gia xây dựng Đảng, góp phần kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chứcđảng, kiểm tra, giám sát công tác và phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên Quần chúng gắn bó với tổchức đảng và đảng viên Mọi hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên, kể cả ưu điểm, thiếu sót, khuyết điểm, hạn chế,dấu hiệu vi phạm, quần chúng luôn luôn quan tâm và nhận biết Vì vậy, công tác kiểm tra phải phát huy tinh thần tráchnhiệm xây dựng Đảng của quần chúng Những ý kiến đóng góp của quần chúng đối với tổ chức đảng và đảng viên sẽgiúp thêm cơ sở để tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, kết luận được khách quan, chuẩn xác

Thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa chứng minh “tính Đảng” là “thuộc tính căn bản, cốt lõi và bản chất”

của Đảng Cộng sản Đảng ta ngay từ khi thành lập đã mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, và cơ sở chính trị

- xã hội là giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức tiến bộ mà Đảng là người đại diện lãnh đạo; chiến đấu cho lý tưởngđộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.Với việc tự nguyện thừa nhận nền tảng tư tưởng, thừa nhận tính tổ chức và tính kỷ luật của Điều lệ Đảng, và khi trởthành đảng viên mang tính “đại diện” tiên phong đó, thì người đảng viên không ngừng gìn giữ và phát huy thông quacác hoạt động cụ thể từ lời nói, hành vi trong hoạt động xã hội cũng như thông qua hoạt động của tổ chức (tuân thủtính tổ chức và tính kỷ luật nghiêm) nơi cá nhân đảng viên đó sinh hoạt chính trị

Như vậy, rõ ràng “tính Đảng” của Đảng Cộng sản được thể hiện thông qua tính đại diện của đảng viên cộng

sản khi tham gia tổ chức chính trị và trong hoạt động xã hội Đảng Cộng sản chỉ vững mạnh khi mọi đảng viên chấphành nghiêm các yếu tố cấu thành nên “tính Đảng”; trong quá trình kiểm tra giám sát phải thực hiện nghiêm túc chứkhông phải là sự thừa nhận một cách hình thức, hời hợt, qua loa

Tính đảng trong tư tưởng là trung thành với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, còn trong chínhtrị thì phải kiên quyết phấn đấu cho đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống Mọi đảng viên đều phải thừa nhận

và xem đây là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng

Đối với người đảng viên cộng sản khi tự nguyện gia nhập hàng ngũ của Đảng đồng nghĩa với việc tuân thủnghiêm ngặt tính tổ chức và tính kỷ luật của Đảng Đây được xem là “hành lang pháp lý” của Đảng để người đảngviên rèn luyện và phấn đấu không ngừng Trước hết, đó là sự không ngừng góp phần giữ vững và phát huy nguyên tắctập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng, trong đó người đảng viên cộng sản luôn tôn trọng và tuân thủ ý kiến tập thể,chấp hành nghiêm túc các nghị quyết của tổ chức đảng; luôn luôn tự giác trong tự phê bình và phê bình, nếu trong quátrình kiểm tra giám sát phát hiện những vấp ngã phải chịu các hình thức kỷ luật của Đảng và hậu quả xử lý theo phápluật Chính điều này giúp cho Đảng ta không ngừng lớn mạnh về mặt tổ chức và giữ nghiêm được tính kỷ luật

Nâng cao “tính Đảng” là xuất phát từ yêu cầu giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng và những nhiệm

vụ mà Đảng phải thực thi trong điều kiện mới Yêu cầu tự trưởng thành chính là luôn giữ vững bản chất, nâng caonăng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng luôn xứng đáng là đội tiên phong và đại biểu trung thànhcủa giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Trong kiểm tra giám sát cần thể hiện tính đảng và

tính khoa học tạo nên giá trị của mỗi đảng viên cộng sản trong quá trình phấn đấu và trưởng thành mà còn là giá trị

chung của Đảng trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng

Câu 9 Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát ở đảng bộ, chi bộ đồng chí

Giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnhđạo và sức chiến đấu của đảng bộ, chi bộ cần tập trung thực hiện các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng,hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy các cấpnhư sau:

- Tiếp tục chỉ đạo, quán triệt sâu và tổ chức thực hiện nghiêm túc Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quyđịnh, quyết định, hướng dẫn của Trung ương và của Thành ủy, Ban Thường vụ quận ủy liên quan đến công tác kiểmtra, giám sát và kỷ luật đảng sau Đại hội XII của đảng, tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức và hành động trongtoàn đảng bộ, nhất là các cấp ủy viên, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên là cán bộ lãnh đạo các đoàn thểchính trị- xã hội các cấp trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát Tăng cường tuyên truyền, phổ biến công táckiểm tra, giám sát trong đảng và trong nhân dân

- Tiếp tục đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ủy, UBKT

Đảng ủy và cấp ủy các chi bộ gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về "Tăng cường xây dựng

Trang 30

chỉnh đốn đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến

tự chuyển hóa trong nội bộ „ và Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về " học tập làm theo tư tưởng đạo đức phong cách Hồ Chí Minh", Quy định số 30-QĐ/TW ngày 26/7/2016 của ban chấp hành trung ương thi hành

chương VII và chương VIII Điều lệ Đảng bảo đảm thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo của Trung ương: "giám sát phải

mở rộng", "kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm"

- Phát huy tính tự giác của tổ chức đảng và cán bộ đảng viên trong công tác kiểm tra, giám sát Trong thực hiệncông tác kiểm tra cần làm tốt công tác giáo dục, thuyết phục, vận động, đề cao ý thức tự phê bình và phê bình trongđảng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI đã đề ra Nêu cao tình thương yêu đồng chí, đồng đội, không lợi dụngkiểm tra bôi nhọ tổ chức đảng và đảng viên Không được xem nhẹ công tác kiểm tra, giám sát hay nhận thức khôngđúng về công tác kiểm tra, giám sát

- Đảng ủy, các cấp ủy chi bộ tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo đúng chức năng, thẩmquyền Điều lệ Đảng quy định, trong đó, Ủy ban kiểm tra phải chủ động thực hiện tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy

và nhiệm vụ cấp ủy giao, tập trung những lĩnh vực, nội dung quan trọng như: chấp hành nghị quyết, chỉ thị của Đảng,quy chế làm việc, nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, về đạo đức, lối sống; kiểm tra, giám sát trách nhiệm của ngườiđứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

để phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống củacán bộ, đảng viên; xem xét xử lý hoặc kiến nghị xử lý kỷ luật nghiêm minh những trường hợp vi phạm đến mức phải

xử lý, để giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung

- Phát huy tốt vai trò, trách nhiệm, tính chủ động phối hợp, tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sátthuộc chức năng nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức đảng có liên quan và tham mưu giúp cấp ủy những giải pháp hữuhiệu lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng Đảng nói chung, công tác kiểm tra, giám sát của Đảngnói riêng, góp phần hạn chế thấp nhất tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, suy thoái về đạo đức, lối sống của cán

bộ, đảng viên tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, nâng cao vai trò lãnh đạo, chất lượng hoạt động của các cấp ủy, tổ chứcđảng, nhất là ở cơ sở

- Chú trọng thực hiện việc sơ, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị, quy định có liên quan đến công tác kiểm tra,giám sát và thi hành kỷ luật đảng rút ra những bài học kinh nghiệm, các giải pháp để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ trongthời gian tiếp theo, trong đó ủy ban Kiểm tra tham mưu cấp ủy thường xuyên củng cố, kiện toàn bộ máy ủy ban kiểmtra; thực hiện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kiểm tra đảm bảo ổn định về số lượng, nâng cao trình độchuyên môn nghiệp vụ, có bản lĩnh chính trị, năng lực hoạt động thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hìnhmới Đồng thời tạo điều kiện, phương tiện làm việc, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ cán bộ kiểmtra để đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ, chi bộ hết sức nặng nề đòi hỏi tất cả các cấp uỷđảng, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên trong toàn Đảng bộ phải xem đó là nhiệm vụ của chínhmình, ra sức phát huy những thành tựu đã đạt được khắc phục những khuyết điểm, yếu kém, nỗ lựcphấn đấu để đưa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ, chi bộ lên tầm cao mới, luôn xứng đángvới vị trí là một khâu trọng tâm, không thể thiếu trong các hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ Thôngqua kiểm tra, giám sát sẽ phát hiện những bất cập của các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước để bổ sung, sửa đổi hoặc đề nghị sửa đổi, bổ sung hoàn thiện; đồngthời, giáo dục, ngăn chặn, chấn chỉnh kịp thời các khuyết điểm, xử lý nghiêm minh vi phạm của tổchức đảng và đảng viên

PHẦN IV (Cù Chính Bình – câu 1 đến 4; Tạ Ngọc Bảo - câu 5 đến 8)

1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc kết họp giữa kinh tể - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh.

2 Thực tế ở địa phương đồng chí việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh như thế nào?

3 Đề xuất một số giải pháp kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh?

4 Vì sao phải tăng cường củng cố QP-AN?

5 Giải pháp chiến lược BVTQ

6 Vấn đề DT,TG

7 Vấn đề Quyền con người

8 Chính sách đối ngoại

CÂU 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc kết họp giữa kinh tể - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh.

1 Cơ sở lí luận của sự kết hợp

- Kinh tế, quốc phòng, an ninh là những mặt hoạt động cơ bản của mỗi quốc gia, dân tộc có độc lập, chủquyền mỗi lĩnh vực có mục đích, cách thức hoạt động và quy luật riêng, song giữa chúng có mối quan hệ, tác độngqua lại lẫn nhau Trong đó, kinh tế là yếu tố quyết định đến quốc phòng – an ninh; ngược lại, quốc phòng – an ninhcũng có tác động tích cực trở lại với kinh tế, bảo vệ và tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển

+ Kinh tế quyết định đến nguồn gốc ra đời, sức mạnh của quốc phòng, an ninh Lợi ích kinh tế suy đến cùng lànguyên nhân làm nảy sinh các mâu thuẫn và xung đột xã hội Để giải quyết các mâu thuẫn đó, phải có hoạt động quốcphòng, an ninh

Trang 31

+ Kinh tế còn quyết định đến việc cung cấp cơ sở vật chất kĩ thuật, nhân lực cho hoạt động quốc phòng – anninh Ăngghen đã khẳng định “Thất bại hay thắng lợi của chiến tranh đều phụ thuộc vào điều kiện kinh tế” Vì vậy, đểxây dựng quốc phòng – an ninh vững mạnh phải xây dựng, phát triển kinh tế

+ Kinh tế còn quyết định đến việc cung cấp số lượng, chất lượng nguồn nhân lực cho quốc phòng, an ninh,qua đó quyết định đến tổ chức biên chế của lực lượng vũ trang; quyết định đến đường lối chiến lược quốc phòng – anninh

- Quốc phòng không chỉ phụ thuộc vào kinh tế mà còn tác động trở lại với kinh tế - xã hội trên cả góc độ tíchcực và tiêu cực

+ Quốc phòng – an ninh vững mạnh sẽ tạo môi trường hoà bình, ổn định lâu dài, tạo điều kiện thuận lợi chophát triển kinh tế - xã hội

+ Hoạt động quốc phòng – an ninh tiêu tốn đáng kể một phần nguồn nhân lực, vật lực, tài chính của xã hội.Những tiêu dùng này theo Lênin là những tiêu dùng “mất đi”, không quay vào tái sản xuất xã hội Do đó, sẽ ảnhhưởng đến tiêu dùng của xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế

+ Hoạt động quốc phòng – an ninh còn có thể dẫn đến huỷ hoại môi trường sinh thái, để lại hậu quả nặng nềcho kinh tế, nhất là khi chiến tranh xảy ra Để hạn chế những tác động tiêu cực này, phải kết hợp tốt tăng cường củng

cố quốc phòng – an ninh với phát triển kinh tế - xã hội vào một chỉnh thể thống nhất

Như vậy, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh là một tất yếu khách quan.Mỗi lĩnh vực hoạt động có nội dung, phương thức riêng nhưng lại có sự thống nhất ở mục đích chung, cái này là điềukiện tồn tại của cái kia và ngược lại Tuy nhiên, việc kết hợp cần phải được thực hiện một cách khoa học, hợp lí, cânđối và hài hoà

2 Cơ sở thực tiễn của sự kết hợp:

Theo tiến trình phát triển, các quốc gia trên thế giới, dù là nước lớn hay nước nhỏ; kinh tế phát triển hay chưaphát triển; dù chế độ chính trị như thế nào thì mỗi quốc gia cũng đều chăm lo thực hiện kết hợp phát triển kinh tế vớităng cường củng cố quốc phòng, an ninh, kể cả những nước mà hàng trăm năm nay chưa có chiến tranh

Tuy nhiên, các nước khác nhau, với chế độ chính trị - xã hội khác nhau, điều kiện, hoàn cảnh khác nhau thì sựkết hợp cũng có sự khác nhau về mục đích, nội dung, phương thức và kết quả

Ở Việt Nam: sự kết hợp đó đã có lịch sử lâu dài Dựng nước đi đôi với giữ nước là qui luật tồn tại, phát triển của dântộc ta

Trước kia, để xây dựng và phát triển đất nước, ông cha ta đã có những chủ trương, kế sách thực hiện sự kếthợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong quá trình dựng nước và giữ nước nhưcác kế sách giữ nước với tư tưởng: “nước lấy dân làm gốc”, “dân giàu, nước mạnh”, “quốc phú binh cường”; thực hiện

kế sách “ngụ binh ư nông”, “động vi binh, tĩnh vi dân” để vừa phát triển kinh tế, vừa tăng cường sức mạnh quốc phòngbảo vệ Tổ quốc

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, do nắm vững quy luật và biết thừa kế kinhnghiệm của lịch sử nên đã thực hiện sự kết hợp phát triển kinh tế, xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninhmột cách nhất quán bằng những chủ trương sáng tạo, phù hợp với từng thời kì của cách mạng

+ Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954): Đảng ta đề ra chủ trương “vừa khángchiến vừa kiến quốc”, “vừa chiến đấu vừa tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”; chúng ta đồng thời thực hiện pháttriển kinh tế địa phương và tiến hành chiến tranh nhân dân rộng khắp: “xây dựng làng kháng chiến”, địch đến thì đánh,địch lui ta lại tăng gia sản xuất

+ Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, (1954 - 1975): kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng

cố quốc phòng, an ninh đã được Đảng ta chỉ đạo thực hiện ở mỗi miền với nội dung và hình thức thích hợp

+ Ở miền Bắc, để bảo vệ xã hội chủ nghĩa và xây dựng hậu phương lớn cho miền Nam đánh giặc, Đại hội IIIcủa Đảng đã đề ra chủ trương: “trong xây dựng kinh tế, phải thấu suốt nhiệm vụ phục vụ quốc phòng, cũng như trongcủng cố quốc phòng phải khéo sắp xếp cho ăn khớp với công cuộc xây dựng kinh tế”

+ Ở miền Nam, Đảng chỉ đạo quân và dân ta kết hợp chặt chẽ giữa đánh địch với củng cố mở rộng hậuphương, xây dựng căn cứ địa miền Nam vững mạnh Đây chính là một điều kiện cơ bản bảo đảm cho cách mạng nước

ta đi đến thắng lợi

Ở thời kì này, chúng ta phải tập trung cao độ cho nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa vàgiải phóng miền Nam, nên việc kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng an ninh được thực hiệndưới nhiều hình thức phong phú, sinh động và thiết thực, đã tạo được sức mạnh tổng hợp đánh thắng giặc Mĩ xâm lược

và để lại nhiều bài học quí giá cho thời kì sau

+ Thời kì đất nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội (1975 đến nay): Đảng ta khẳng định kết hợpphát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh là một nội dung quan trọng trong đường lối xxay dựng

và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và được triển khai trên qui mô rộng lớn hơn, toàn diện hơn

Tóm lại, nhờ chính sách nhất quán về thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cườngcủng cố quốc phòng, an ninh chúng ta đã phát huy được mọi tiềm năng cho xây dựng và bảo vệ Tổquốc Do vậy đã góp phần giữ gìn và phát triển đất nước cho đến ngày nay

CÂU 2 : (GƠI Ý LIÊN HỆ)

Trang 32

Một số giải pháp kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng an ninh trong sự

nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh là hoạt động chủ động của mọiquốc gia trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật của hai lĩnh vực kinh tế và quốc phòng Bất kỳ một quốcgia nào, nước giàu cũng như nước nghèo, nước lớn cũng như nước nhỏ đều phải đặt phát triển kinh tế với củng cốquốc phòng, an ninh trong một chiến lược chung, đây là vấn đề mang tính quy luật

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăngcường củng cố quốc phòng và an ninh là quan điểm nhất quán của Đảng ta, là sự tiếp nối truyền thống “dựngnước đi đôi với giữ nước” cùng với các chính sách “ngụ binh ư nông”, “động vi binh, tĩnh vi dân”, “thực túc binhcường” Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta xác định, để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạngViệt Nam, chúng ta phải kết hợp phát triển kinh tế- xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong mộtchỉnh thể thống nhất Đây là quan điểm hoàn toàn đúng đắn bởi kinh tế, quốc phòng, an ninh là những mặt hoạtđộng cơ bản của mỗi quốc gia, dân tộc độc lập, có chủ quyền Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định,quan điểm kết hợp chặt chẽ kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh là quy luật tất yếu kháchquan trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Mỗi lĩnh vực có mục đích, cáchthức hoạt động riêng và chịu sự chi phối của hệ thống quy luật riêng, song giữa chúng lại có mối liên hệ, tác độngqua lại lẫn nhau Trong đó, kinh tế là yếu tố suy cho đến cùng quyết định đến quốc phòng, an ninh, ngược lại, quốcphòng, an ninh cũng có tác động tích cực trở lại với kinh tế, bảo vệ và tạo điều kiện để thúc đẩy kinh tế pháttriển Giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh là nội dung đặc biệt quan trọng đòihỏi phải triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, vận hành cơ chế lãnh đạo, điều hành phù hợp và sự phối hợp chặtchẽ của các cấp, các ngành, các địa phương Để thực hiện tốt vấn đề trên cần tập trung cần tập trung thực hiệntốt một số vấn đề chủ yếu sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước và chính quyền các cấp trong việc thực hiện kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh Đất nước ta

đang trong giai đoạn đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng xây dựngnền công nghiệp quốc phòng Có nhiều vấn đề thuộc về nhận thức, về cơ chế đòi hỏi phải tăng cường vai trò lãnhđạo của Đảng, điều hành của Nhà nước, trong đó trước hết cần nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng, sựquản lí điều hành của chính quyền các cấp trong công tác kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với củng cố quốc phòng,

an ninh, phù hợp với điều kiện thực tế của từng ngành và địa phương, đồng thời phát huy vai trò trách nhiệm củacác tổ chức và công dân trong thực hiện chủ trương kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường củng cốquốc phòng, an ninh, chống tư tưởng và hành động tự do vô chính phủ trong hoạt động kinh tế cũng như trong hoạtđộng quốc phòng, an ninh, các hành động phương hại đến phát triển kinh tế và sức mạnh quốc phòng của đấtnước

Hai là, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kinh nghiệm kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh cho các đối tượng, đặc biệt là cán bộ quản lý Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần

thứ XI đã xác định “Kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng an ninh, quốc phòng an ninh với kinh tế trongtừng chiến lược quy hoạch kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế xã hội” Đây là quan điểm thể hiện phát triểnnhận thức của Đảng ta về quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước, đồng thời cũng khẳng định việc kết hợp pháttriển kinh tế với quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn dân của mọi thành phầnkinh tế, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng

Ba là, quán triệt và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước

có liên quan đến thực hiện kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phong, an ninh trong tình hình mới Đây là nội dung rất quan trọng nhằm cụ thể hoá đường lối, chủ trương của Đảng về mối quan hệ giữa

kinh tế với quốc phòng và an ninh thành các văn bản, tiến hành quán triệt, tổ chức thực hiện bảo đảm hiệu quảcao, cần quy định rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn

vị trong lãnh đạo chỉ đạo và quản lý Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cầntập trung quán triệt nắm chắc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế, chính sách có liên quan đến mốiquan hệ này làm cơ sở để giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữa tự bảo vệ và được bảo vệ,phù hợp với thực tiễn đất nước và thông lệ quốc tế

Bốn là, xây dựng chiến lược cụ thể kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cốquốc phòng, an ninh trong thời kì mới Nhà nước cần thống nhất quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc

phòng, an ninh trên phạm vi cả nước đặt nó trong tổng thể chung của chiến lược phát triển kinh tế của từng giai đoạn Trong thời gian tới, việc kết hợp kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh phải được thực hiện một cách toàndiện, nhưng cần tập trung có trọng điểm theo từng ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ, gắn với mục tiêu yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vì thế, cần tập trung chỉ đạo kết hợp trong xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố; các dự án trọng điểm quốc gia; các dự án chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới, biển, đảo; xây

Trang 33

dựng các khu kinh tế - quốc phòng, quốc phòng - kinh tế; xây dựng căn cứ chiến lược, hậu phương chiến lược, các công trình quốc phòng; đầu tư phát triển khoa học công nghệ ở trình độ cao; xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng Trong đó, cần coi trọng tính “lưỡng dụng” của các chương trình, dự án Cần coi trọng kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh trong hoạt động kinh tế đối ngoại Đây là vấn đề chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong bối cảnh hiện nay, nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, tham gia đầy đủ hơn vào các thiết chế trong khu vực và toàn cầu Điều đó đòi hỏi chúng ta vừa phải hội nhập kinh tế quốc tế một cách chủ động, tích cực, vừa phải mở rộng hợp tác quốc tế trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh trong suốt quá trình hội nhập.

Năm là, củng cố kiện toàn và phát huy vai trò tham mưu của cơ quan chuyên trách quốc phòng, an ninh các cấp.Kết hợp chặt chẽ giữa chấn chỉnh, kiện toàn với chăm lo bồi dưỡng nâng cao năng lực trách nhiệm của các cơ

quan và cán bộ chuyên trách làm tham mưu cho cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp về thực hiện kết hợp phát triểnkinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh ngang tầm với nhiệm vụ trong tình hình mới

Quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh là mối quan hệ biện chứng, được hình thành trong quá trìnhdựng nước và giữ nước của dân tộc, ngày nay, mối quan hệ này càng có vị trí đặc biệt quan trọng, nhất là trongbối cảnh nước ta xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tếquốc tế ngày càng sâu rộng Do đó, kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh là đòihỏi tất yếu khách quan trong suốt quá trình thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ViệtNam xã hội chủ nghĩa

CÂU 3: Đề xuất một số giải pháp kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh?

- Nội dung kết hợp cần chú ý các điểm sau:

+ Phải quan tâm đầu tư phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh ở các vùng cửa khẩu, các vùng giápbiên giới với các nước

+ Phải tổ chức tốt việc định canh, định cư tại chỗ và có chính sách phù hợp để động viên, điều chỉnh dân số từcác nơi khác đến vùng núi biên giới

+ Tập trung xây dựng các xã trọng điểm về kinh tế và quốc phòng, an ninh Trước hết cần tập trung xây dựngphát triển hệ thống hạ tầng cơ sở, mở mới và nâng cấp các tuyến đường dọc, ngang, các tuyến đường vành đai kinh tế

+ Thực hiện tốt chương trình xoá đói, giảm nghèo, chương trình 135 về phát triển kinh tế - xã hội đối với các

* Một số giải pháp chủ yếu thực hiện kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốcphòng – an ninh ở Việt Nam hiện nay

1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lí nhà nước của

chính quyền các cấp trong thực hiện kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phòmg an ninh.

- Vai trò của các cấp uỷ Đảng trrong việc kết hợp được thể hiện ở chỗ:

+ Thường xuyên nắm vững chủ trương đường lối của Đảng, kịp thời đề ra những quyết định lãnh đạo ngành,địa phương mình, thực hiện kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh một cáchđúng đắn

+ Gắn chủ trương lãnh đạo với tăng cường kiểm tra việc thực hiện của chính quyền, đoàn thể, các tổ chức kinh

tế thực hiện chủ trương đường lối về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh

+ Tổ chưca tốt việc sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm kịp thời để bổ xung chủ trương và chỉ đạo thực tiễn thựchiện kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng an ninh ở ngành, địa phương thuộc phạm vilãnh đạo của các cấp uỷ Đảng

- Để nâng cao hiệu lực quản lí nhà nước của chính quyền các cấp trong kết hợp phát triển kinh tế xã hội vớităng cường củng cố quốc phòng an ninh phải:

+ Từng cấp làm đúng chức năng, nhiệm vụ theo qui định của pháp luật và nghị định 119/2004/ NĐ – CP củachính phủ đã ban hành ngày 11/5/2004

+ Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các qui hoạch, kế hoạch kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cườngcủng cố quốc phòng an ninh ở ngành, bộ, địa phương cơ sở của mình dài hạn và hàng năm

+ Đổi mới nâng cao qui trình, phương pháp quản lí, điều hành của chính quyền các cấp từ khâu lập qui hoạch,

kế hoạch, nắm tình hình, thu thập xử lí thông tin, định hướng hoạt động, tổ chức hướng dẫn chỉ đạo cấp dưới và kiểmtra ở mọi khâu, mọi bước của quá trình thực hiện

2 Bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kinh nghiệm kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh cho các đối tượng.

- Đối tượng bồi dưỡng: Phải phổ cập kiến thức quốc phòng – an ninh cho toàn dân nhưng trước hết phải tậptrung vào đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp, các bộ, ngành, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, cơ sở

Trang 34

- Nội dung bồi dưỡng: Phải căn cứ vào đối tượng, yêu cầu nhiệm vụ đặt ra để chọn lựa nội dung, chương trìnhbồi dưỡng cho phù hợp và thiết thực nhằm nâng cao cả kiến thức, kinh nghiệm và năng lực thực tiễn sát với cương vịđảm nhiệm với từng loại đối tượng và quần chúng nhân dân

- Hình thức bồi dưỡng: Phải kết hợp bồi dưỡng tại trường với tại chức, kết hợp lí thuyết với thực hành Thôngqua sinh hoạt chính trị, qua các cuộc diễn tập thực nghiệm, thực tế ở các bộ, ngành, địa phương cơ sở để nâng caohoàn thiện sự hiểu biết và năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ và của toàn dân, toàn

quân

3 Xây dựng chiến lược cụ thể kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng an ninh trong thời kì mới.

- Hiện nay, nước ta đã và đang xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội gắn với tăng cường củng cố

QP-AN đến năm 2020 Thực tiễn, sự vận dụng quy luật kinh tế, QP- QP-AN và quán triệt quan điểm đường lối của Đảng đề racòn nhiều mâu trhuẫn và bất cập do thiếu định hướng chiến lược cơ bản cả ở tầm vĩ mô và vi mô Vì vậy, muốn kếthợp ngay từ đầu và trong suốt quá trình CNH- HĐH đất nước một cách cơ bản và thống nhất trên phạm vi của cả nước

và từng địa phương , phải tiếp tục xây dựng và hoàn chỉnh các quy hoạch và kế hoạch chiến lược tổng thể quốc gia vàkết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố QP- AN Côi đó là một trong những mặt, khâu quan trọng hàng đầuchỉ đạo, quản lí nhà nước, về kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố QP- AN một cách có hiệu lực, hiệuquả

- Trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch chiến lược tổng thể về phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cốQP- AN và đối ngoại trong thời kì mới, phải có sự phối hợp giữa các bộ, nghành, địa phương từ khâu khảo sát, đánhgiá các nguồn lực Trên cơ sở đó xác định mục tiêu, phương hướng phát triển và đề ra các chính sach đúng đắn, như:chính sách khai thác các nguồn lực, chính sách đầu tư và phân bổ đầu tư; chính sách điều động nhân lực, bốtí dân cư,chsnh sách ưu đãi khoa học và công nghệ…

4 Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, cơ chế chính sáchcó liên quan đến thực hiện kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phong- an ninh trong tình hình mới.

- Mọi chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan đến kết hợp xây dựng đất nước vàbảo vệ Tổ quốc, kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố QP- AN đều phải thể chế hoá thành luậtpháp, pháp lệnh, nghị định,… một cách đồng bộ, thống nhất để quản lí và tổ chức thực hiện nghiêm túc có hiệu lực vàhiệu quả trong cả nước

- Đảng và nhà nước phải có chính sách khai thác các nguồn lực và vốn đầu tư trong và ngoài nước để thựchiện kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố QP- AN , nhất là đối với các công trình trọng điểm, ởnhững địa bàn chiến lược trọng yếu như miền núi biên giới và hải đảo

- Việc xác lập cơ chế chính sách, bảo đảm ngân sách cho kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng

cố QP- AN cần phải được xây dựng theo quan điểm QP toàn dân, AN nhân dân Các nghành, các cấp, các cơ sở sảnxuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế các đoàn thể xã hội đều phải có nghĩa vụ chăm lo cho sự nghiệp xâydựng cũng như sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việc phân bổ ngân sách đầu tư cho kết hợp phát triển kinh tế- xã hội gắnvới tănng cường củng cố QP- AN phải theo hướng tập trung cho những mục tiêu chủ yếu, những công trình có tínhlưỡng dụng cao đáp ứng cả trong phát triển kinh tế xã hội và củng cố QP- AN trước mắt cũng như lâu dài

- Phải có chính sách khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần đối với các tổ chức, cá nhân, các nhà đầu tư (cảtrong và ngoài nước) có các đề tài khoa học, các dự án công nghệ sản xuất, xây dựng có hiệu quả cao phục vụ sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trong thời kì mới

5 Củng cố kiện toàn và phát huy vai trò tham mưu của cơ quan chuyên trách quốc phòng, an ninh các cấp

Căn cứ vào nghị định 119/2004/NĐ- CP ngày 11/5/2004 của chính phủ về công tác QP ở các bộ, cơ quanngang bộ, cơ quan trực thuộc chính phủ và các địa phương, cần nghiien cừu bổ sung mở rộng thêm chức năng, nhiệm

vụ của các cơ quan chuyên trách quản lí nhà nước về QP- AN nói chung và kết hợp phát triển kinh tế xã hội gắn liềnvới tăng cường củng cố QP- AN nói riêng trong thời kì mới

- Kết hợp chặt chẽ giữa chấn chỉnh, kiện toàn tổ chức với chăm lo bồi dưỡng nâng cao năng lực và tráchnhiệm của các cơ quan và cán bộ chyên trách làm tham mưu cho Đảng, Nhà nước về thực hiện kết hợp phát triển kinhtế- xã hội gắn với tăng cường củng cố QP- AN ngang tầm với nhiệm vụ trong thời kì mới

- Kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố QP- AN là một tất yếu khách quan, một nội dungquan trọng trong đường lối phát triển đất nước của Đảng ta, nhằm thực hiệ thắng lợi 2 nhiệm vụ chiến lược: Xây dựngchủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

- Việc kết hợp được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế và có sự phối hợp của các nghành,các cấp, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lí của nhà nước, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho việc phát triển kinh tế- xãhội, củng cố QP- AN

- Để thực hiện tốt việc kết hợp, cần quan triệt và thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó phải quán triệt sâusắc 2 nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam cho toàn dân, nhất là cho sinh viên- những người quyết địnhtương lai của đất

nước Quá trình kết hợp phải được triển khai có kế hoạch, có cơ chế chính sách cụ

thể, chặt chẽ, đồng bộ

Trang 35

CÂU 4 Vì sao phải tăng cường củng cố QP-AN?

Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta Kế thừa truyền thống của cha ông,vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lenin, xuất phát từ tình hình hiện nay, Đảng ta xác định hai nhiệm vụ chiến lược:xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Hai nhiệm vụ này có quan hệ mậtthiết với nhau, thúc đẩy lẫn nhau; trong đó nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hộitrên đất nước ta

Hiện nay, trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước, đặc biệt là chỉ rõ những nguy cơ và thách thứcđối với sự phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta khẳng định sự cần thiết phải tăng cường quốc phòng, giữvững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân,trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt Đây là nhiệm vụ rất to lớn và nặng nề củaĐảng, Nhà nước và của toàn dân Nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc không chỉ đặt ra khi có chiến tranh hay bạoloạn mà là nhiệm vụ thường xuyên

Quan điểm tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu,thường xuyên của Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta Vì vậy, phải kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện thiếunghiêm túc, đơn giản trong nhận thức về quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân; chậmtrễ, máy móc, chủ quan, ỷ lại, lúng túng trong triển khai và xử lý tình huống phức tạp nảy sinh về quốc phòng, an ninh;buông lỏng, mất cảnh giác, kém hiệu quả trong việc gắn kết giữa phát triển kinh tế với củng cố, tăng cường sức mạnhquốc phòng, an ninh, đặc biệt là tại các vùng chiến lược, biển đảo; bất cập, tụt hậu về phát triển nguồn lực con người

và hòa nhập với công nghiệp quốc gia trong phát triển công nghiệp quốc phòng; mất cảnh giác trước âm mưu 'diễnbiến hòa bình' của các thế lực thù địch, 'tự diễn biến', 'tự chuyển hóa' trong nội bộ

Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện nay, tất yếu phải tăng cường đối ngoại về quốc phòng, nhằm tuyên truyền về quốc phòng của ta, tạo niềm tin cho bạn bè, đập tan âm mưu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch, thêm bạn, bớt thù, đồng thời trao đổi những kinh nghiệm xây dựng quốc phòng; đấu tranh ngăn chặn và giải quyết nguy cơ đe dọa an ninh phi truyền thống; hợp tác phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ quốc phòng, quân y, phòng chống thảm họa; kiên trì đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Gắn chặt hợp tác quốc phòng với hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, tạo động lực thúc đẩy nâng cao hiệu quả hợp tác toàn diện của đất nước

Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt trong việc tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Vì vậy, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân phải tiếp tục xây dựng vững mạnh toàn diện, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có số lượng hợp lý, với chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao Lực lượng dự bị động viên phải được phát triển hùng hậu, dân quân tự vệ được xây dựng rộng khắp, chất lượng chính trị ngày càng cao, khả năng chiến đấu đa dạng

Công nghiệp quốc phòng, an ninh phải được đẩy mạnh cùng với sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức; tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật, bảo đảm các lực lượng vũ trang từng bước được trang bị hiện đại Khoa học công nghệ phải được tăng cường đầu tư chiều sâu, tạo bước đột phá trong hiện đại hóa lực lượng vũ trang, nâng cao sức mạnh chiến đấu tổng hợp, đủ sức hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới

Quốc phòng và an ninh gắn bó với nhau trong việc bảo vệ Tổ quốc Nhiệm vụ của quốc phòng và an ninh rấtrộng lớn, bao gồm các nội dung sau:

- Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện;

- Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc;

- Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa;

- Bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa – tư tưởng;

- Duy trì trật tự kỉ cương, an toàn xã hội;

- Giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chốngphá, thù địch, không để bị động, bất ngờ

- Bảo đảm an ninh chính trị nội bộ

Câu 5 Giải pháp chiến lược BVTQ.

* Một số nội dung cơ bản của giải pháp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới:

- Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệpBVTQ Đây là một nội dung quan trọng, nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp BVTQ Trong bối cảnh nước tahội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và các thế lực thù địch tranh thủ mọi sơ hở của ta để chống phá thì việc tăngcường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước càng cần phải được coi trọng Đó cũng là nhân tố bên trongquyết định sự thành bại của cách mạng, sự mất còn của chế độ XHCN ở nước ta Nghiên cứu lịch sử và một số cuộcchiến tranh khu vực gần đây cho thấy, nguyên nhân cơ bản dẫn tới mất ổn định của một quốc gia đều xuất phát từ vấn

Trang 36

đề nội bộ Nếu tình hình nội bộ ổn định, đất nước phát triển, đời sống nhân dân được đảm bảo và cải thiện thì lòng tinvào chế độ được giữ vững và do đó các thế lực bên ngoài không có cớ và thời cơ để can thiệp.

Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội nói chung, sự nghiệp BVTQ nóiriêng thì Đảng phải mạnh Những năm qua, bên cạnh những mặt mạnh, công tác xây dựng Đảng còn nhiều hạn chế,

mà Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) đã chỉ ra là: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả đảngviên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” Cáchiện tượng tham nhũng, lợi ích nhóm, mất đoàn kết nội bộ,… tuy đã được khắc phục một bước, nhưng vẫn còn diễn ra,làm cho lòng tin của một bộ phận nhân dân vào Đảng, Nhà nước bị giảm sút Do đó, Nghị quyết Trung ương 8 (khóaXI), khi xác định mục tiêu BVTQ, ngoài mục tiêu chung, còn nhấn mạnh các mục tiêu cụ thể trong những năm trướcmắt; trong đó, mục tiêu đầu tiên là “Tạo được chuyển biến rõ rệt trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước;ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyểnhóa” Theo đó, Nghị quyết đề ra giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trịnội bộ, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là: Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) vềcông tác xây dựng Đảng, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, nhất là ở cấp chiến lược, củng cố lòng tin củanhân dân với Đảng, Nhà nước; đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng công tác cán bộ, tăng cường sự lãnh đạo củacác cấp ủy Đảng, quản lý của chính quyền các cấp đối với nhiệm vụ BVTQ; xác định rõ trách nhiệm của người đứngđầu các cấp ủy, chính quyền, tổ chức trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ

- Hai là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH Trong lịch sử xã hội loài người, thời đại nàocũng vậy, dân tộc bao giờ cũng gắn liền với một chế độ chính trị nhất định; trong đó, dân tộc có quyền lựa chọn chomình một chế độ chính trị nhất định, chế độ chính trị phù hợp thì tồn tại, phát triển và được bảo vệ Ngược lại, nếu chế

độ chính trị không phù hợp, thì chính dân tộc đó sẽ quyết định việc thay thế nó bằng một chế độ chính trị khác phùhợp hơn Đối với dân tộc ta, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Đảng ta luôn giương cao hai ngọn cờ:độc lập dân tộc và CNXH và đã giành thắng lợi trọn vẹn Thực tiễn cũng đã chứng minh, chỉ có kiên định mục tiêuđộc lập dân tộc gắn liền với CNXH nước ta mới có độc lập dân tộc thực sự và sự thực trong gần 30 năm đổi mới vừaqua, CNXH đã thể hiện được tính ưu việt của nó, mặc dù mô hình này chưa có tiền lệ trong thực tiễn và cần tiếp tụchoàn thiện trong thời gian tới Những năm qua, vấn đề dân tộc luôn được Đảng ta đặc biệt coi trọng và trên thực tế đãtạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân, nhất là đối với kiều bào ta ở nước ngoài Tuy nhiên, còn có ý kiến khácnhau về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và CNXH Một số người cho rằng không cần thiết phải gắn độc lập dân tộcvới CNXH Vậy nhận thức đó đúng hay sai?

Cần thấy rằng, thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là quá trình lâu dài, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau và ở đóCNXH chưa thể hoàn chỉnh ngay được, ngay cả các đặc trưng của CNXH mà Đảng ta khái quát trong Cương lĩnh xâydựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), cũng chưa phải đã thể hiện được đầy

đủ Vấn đề đặt ra là, chúng ta phải đầu tư nghiên cứu, tiếp tục làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về CNXH mà thực tiễnđang đặt ra hiện nay Đồng thời, khắc phục các hạn chế của nó, xây dựng CNXH thực sự ưu việt Nghị quyết Trungương 8 (khóa XI) nhấn mạnh sự cần thiết phải gắn bó chặt chẽ giữa BVTQ với các yếu tố tự nhiên, lịch sử với yếu tốchính trị - xã hội; đặc biệt là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc phải gắn với bảo vệĐảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN Như vậy có thể khẳng định bất luận trong hoàn cảnh nào, toàn Đảng,toàn dân, toàn quân cũng phải luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH Đây là mục tiêu và cũng làquan điểm của Đảng ta Chừng nào chúng ta xa rời mục tiêu đó, tức là tách rời độc lập dân tộc với CNXH thì chừng đó

sẽ chệch hướng và thất bại Do đó, cần phải quán triệt thật sâu sắc thật vững vấn đề đặc biệt quan trọng này

-Ba là, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của đất nước, nhất là vai trò của nhân dân đối với sự nghiệpBVTQ Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, để chống lại kẻ thù xâm lược lớn mạnh hơn ta gấp nhiềulần, chúng ta đã phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc Kế thừa truyền thống đó, Nghị quyết Trung ương 8(khóa XI) tiếp tục khẳng định sức mạnh BVTQ là sức mạnh tổng hợp của cả nước, bao gồm sức mạnh trên tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội và của các lực lượng; kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, nhưng suy chocùng sức mạnh của nhân dân mới là điều căn bản nhất Dưới thời nhà Hồ, khi trả lời nhà vua về kế sách chống giặc giữnước, Hồ Nguyên Trừng đã nói: “Thần không sợ giặc mạnh, chỉ sợ lòng dân không theo” và chính vì không được lòngdân nên mặc dù có thành cao, hào sâu, nhà Hồ đã không ngăn được quân xâm lược và bị mất nước Ngày nay, sứcmạnh của nhân dân vẫn là yếu tố quyết định, nhưng sức mạnh đó huy động được đến đâu cho sự nghiệp BVTQ còntùy thuộc vào lòng tin và sự đồng thuận của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN Vì vậy, để phát huysức mạnh tổng hợp của đất nước, vai trò của nhân dân đối với sự nghiệp BVTQ đòi hỏi cấp ủy, chính quyền các cấpphải gắn bó mật thiết với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, giải quyết kịp thời những vướng mắc trong nhândân và điều cốt yếu là phải đem lại lợi ích ngày càng nhiều hơn cho nhân dân Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI)nhấn mạnh: phải “thường xuyên bám sát cơ sở, nắm chắc tình hình, chủ động xử lý đúng đắn, kịp thời mọi tình huốnggây mất ổn định chính trị - xã hội”; “củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhànước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận”

- Bốn là, giữ nước phải giữ từ thời bình Kế thừa tư tưởng “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, Đảng ta đãkhông ngừng phát triển, hoàn thiện tư duy, nhận thức của mình về BVTQ trong điều kiện mới; trong đó, giữ nước phảiđược thực hiện ngay từ thời bình là một trong những quan điểm cơ bản Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) đã khẳng

Trang 37

định: “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của đất nước” Như vậy,theo Đảng ta, không phải cứ tiến hành chiến tranh hoặc hoạt động liên quan đến chiến tranh mới được coi là giữ nước,

mà giữ nước tối ưu là làm cho đất nước không phải tiến hành chiến tranh Phát triển quan điểm trên, chúng ta đã nhấnmạnh đến vấn đề bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ xa BVTQ từ xa không chỉ xét về mặt địa lý, mà chủ yếu là chủ độngchuẩn bị BVTQ ngay khi đất nước đang hòa bình và phát triển; thực hiện ngăn ngừa và đẩy lùi nguy cơ xung đột vàchiến tranh Đồng thời, không coi nhẹ vấn đề tự bảo vệ và khẳng định phải xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân

“cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, trong đó có một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại để BVTQ.Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) cũng chỉ rõ phương châm BVTQ là: Đối với nội bộ, lấy việc giáo dục, thuyếtphục, phòng ngừa là chính đi đôi với giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, xử lý nghiêm minh hành vi vi phạm pháp luật Đốivới các tranh chấp, bất đồng với các nước liên quan thì kiên trì giải quyết bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luậtpháp quốc tế Đảng ta cũng chỉ rõ phương thức đấu tranh là kết hợp đấu tranh vũ trang và phi vũ trang, nhưng lấy đấutranh phi vũ trang là chủ yếu nhằm chủ động ngăn ngừa, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thếlực thù địch; khắc phục tình trạng sơ hở, mất cảnh giác Phòng ngừa, ngăn chặn hiệu quả các nguy cơ xung đột, chiếntranh biên giới, biển, đảo, chiến tranh mạng; không để xảy ra bạo loạn, khủng bố, hình thành tổ chức chính trị đối lậptrong nước

- Năm là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế Đây là quanđiểm mang tính truyền thống của dân tộc ta Phát huy truyền thống này, trong công cuộc đổi mới, Đảng ta đã phát triển

từ nhận thức cứng về bạn, thù trước đây đến việc xác định đối tác, đối tượng hiện nay và nhấn mạnh, cần có cách nhìnbiện chứng trong sự tồn tại đan xen và chuyển hóa lẫn nhau giữa đối tác và đối tượng Theo đó, trong mỗi đối tác cóthể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta cần phải đấu tranh; trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt đồng thuận cầntranh thủ hợp tác Nhận thức biện chứng trong xác định đối tác, đối tượng đó đã mở ra điều kiện thuận lợi cho quan hệhợp tác quốc tế, bảo đảm tranh thủ ngày càng tốt hơn sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với công cuộc xây dựng vàbảo vệ đất nước Để thực hiện “trong ấm, ngoài êm”, thêm bạn bớt thù, cùng với xây dựng khối đại đoàn kết toàn dântộc, chúng ta cần “quán triệt đường lối độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế Kiên trì chínhsách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa; thêm bạn, bớt thù, vừa hợp tác, vừa đấu tranh Tăng cường hợptác tạo thế đan xen lợi ích chiến lược giữa nước ta với các nước, nhất là các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nướcláng giềng và các nước trong khu vực; tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, lệ thuộc”

- Sáu là, xây dựng lực lượng vũ trang thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậycủa Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp BVTQ Chúng ta đều biết, sức mạnhBVTQ là sức mạnh tổng hợp, trong đó có sức mạnh quân sự, nhưng cần nhận thức đúng vai trò của sức mạnh quân sựtrong các giai đoạn của cách mạng để không quá đề cao hoặc coi nhẹ sức mạnh này Xét cho cùng, trong chiến tranh,sức mạnh của đất nước cũng phải thông qua sức mạnh quân sự để trực tiếp giành thắng lợi trên chiến trường; còn trongthời bình thì sức mạnh quân sự chính là khả năng răn đe hiệu quả trong các tình huống quốc phòng, an ninh, BVTQ

Vì vậy, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) nhấn mạnh việc tăng cường sức mạnh quân sự bảo đảm vừa phù hợp vớiđiều kiện, hoàn cảnh của đất nước, vừa đủ sức BVTQ trong mọi tình huống Để xây dựng sức mạnh quân sự phải coitrọng nhiều yếu tố; trong đó, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân mà trực tiếp là Quân đội nhân dân vững mạnh có ýnghĩa hết sức quan trọng Việc xây dựng, nâng cao chất lượng tổng hợp của Quân đội, trước hết là nâng cao chất lượng

về chính trị, bảo đảm cho lực lượng này thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy củaĐảng, Nhà nước và nhân dân Xây dựng Quân đội có tổ chức hợp lý, tinh, gọn, cơ động, có sức mạnh chiến đấu cao,

có vũ khí, trang bị hiện đại, nhất là một số vũ khí chiến lược; nâng cao khả năng phòng thủ tác chiến tầm cao, tầm xa,khả năng kiểm soát vùng trời, vùng biển, đảo xa bờ, tác chiến ban đêm, sẵn sàng đánh thắng trong các tình huống xungđột và chiến tranh Cùng với đó, chú trọng xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, lực lượng dự bịđộng viên hùng hậu, có chất lượng cao; đồng thời, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của lực lượngCông an nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ BVTQ trong tình hình mới./

* NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY: Quan điểm, phương châm chỉ đạo:

a Quan điểm:

- Giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ tổ quốc

- Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội; lấy việc giữ vững môi trường hoà bình ổn định

để phát triển kinh tế xã hội là lợi ích cao nhất của Tổ quốc

- Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xãhội chủ nghĩa; coi sức mạnh bên trong là nhân tố quyết định, nắm chắc phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xâydựng Đảng là nhiệm vụ then chốt Kết hợp chặt chẽ các nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại

- Xây dựng sức mạnh tổng hợp về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hoá, quốc phòng, an ninh, đối ngoại;phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lýđiều hành thống nhất của Nhà nước, lực lượng vũ trang làm nòng cốt; tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh;không ngừng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân phù hợp với hoàn cảnh mới

- Ra sức phát huy nội lực, đồng thời tranh thủ tối đa và khai thác mọi thuận lợi ở bên ngoài

- Quán triệt đường lối độc lập, tự chủ, kiên trì chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá theo

Trang 38

phương châm "thêm bạn bớt thù", vừa hợp tác vừa đấu tranh, cố gắng gia tăng hợp tác, tránh xung đột, đối đầu; tránh

Chúng ta phải kiên định với nguyên tắc chiến lược, tức là mục đích chiến lược chúng ta luôn kiên định không từ bỏ,nhưng khi đã xác định được mục tiêu chiến lược thì cần phải vận dụng sách lược cho phù hợp để thực hiện mục tiêuchiến lược

Ví dụ: Như chủ tịch Hồ chí Minh đã căn dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng là"Dĩ bất biến, ứng vạn biến" tức là mụctiêu lâu dài thì chúng ta luôn kiên định không thay đổi nhưng sách lược, kế sách trong trong từng tình huống nhất địnhthì có thể thay đổi cho phù hợp để đạt được mục tiêu chiến lược

- Hai là, đối với nội bộ, lấy việc phát huy dân chủ, giáo dục, thuyết phục là chính, đi đôi với giữ gìn kỷ cương,

kỷ luật, xử lý nghiêm minh các sai phạm

+ Đối với cán bộ và nhân dân thì lấy phát huy dân chủ, giáo dục, thuyết phục để cho họ tự giác thực hiện đúngmục tiêu, đường lối đã đề ra

+ Đối với các thế lực chống đối trong nước, cần phân hoá, cô lập bọn đầu sỏ

+ Cần lý nghiêm minh những sai phạm của cán bộ và các thế lực chống đối, đi ngược lại lợi ích dân tộc + Nếu có người chót lầm đường thì giáo dục, lôi kéo họ không để hình thành tổ chức đối lập dưới bất cứ hìnhthức nào

- Ba là, thường xuyên đi sát cơ sở, nắm chắc tình hình, xử lý kịp thời mọi mầm mống gây mất an ninh, không

Ví dụ: Ở Tây Nguyên năm 2001- 2004

-> Đây là một số phương châm, kinh nghiệm đề ra trong quá trình bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN, xác địnhmục tiêu chiến lược đi đôi với vận dụng linh hoạt sách lược, tuyên truyền giáo dục đi đôi với việc giữ kĩ cương, kĩ luât

và thường xuyên đi sát cơ sở để nắm tình hình

Câu 6 Vấn đề DT,TG.

QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH DÂN TỘC, TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA:

1 Quan điểm, chính sách dân tộc, đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta:

* Những quan điểm về dân tộc, đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là:

- Về dân tộc, đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng nước ta Đại đoàn kết toàndân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo củaĐảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩaquyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- Dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài; đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay củacông cuộc đổi mới đất nước Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, yêu thương, tôn trọng vàgiúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Lấy mục tiêu xây dựngmột nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vănminh làm điểm tương đồng, xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khácnhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tậphợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội

- Thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc là quan điểm nhất quán của Đảng ta trong giải quyết vấn đề dân tộc,chính sách dân tộc Các dân tộc có dân số dù ít hay nhiều, ở trình độ phát triển cao hay thấp đều bình đẳng về chính trị,kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh - quốc phòng, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

- Đoàn kết dân tộc phải trên cơ sở lấy mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất,toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; tập hợp, đoàn kết mọingười vào một mặt trận chung, tăng cường đối thoại xã hội, đảm bảo thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến

bộ Luôn tôn trọng lẫn nhau về lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, phong tục tập quán của các dân tộc; dân tộc

có trình độ phát triển cao phải có trách nhiệm giúp đỡ dân tộc có trình độ phát triển thấp, vùng kinh tế - xã hội pháttriển phải giúp đỡ vùng kinh tế - xã hội chậm phát triển, nhằm đảm bảo các dân tộc có điều kiện phát triển toàn diện,

Trang 39

tiến kịp trình độ phát triển chung của cả nước Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ đoàn kết dân tộc; tránh tưtưởng kỳ thị dân tộc, tư tưởng ỷ lại trông chờ vào sự hỗ trợ của Trung ương và tương trợ của dân tộc khác.

+ Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh - quốc phòng ở vùng dân tộc và miền núi, gắntăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước

+ Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc, khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh củatừng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái, phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bàocác dân tộc

+ Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cáccấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị

Năm quan điểm nêu trên vừa cơ bản, vừa có giá trị lâu dài trong công tác dân tộc ở nước ta, đòi hỏi phải nắm vững vàquán triệt thực hiện chặt chẽ, nhất quán trong giải quyết vấn đề dân tộc, nhất là các cơ sở có nhiều dân tộc thiểu số

* Trong thời kỳ mới, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện chính sách dân tộc, đoàn kết dân tộc như sau:

- Đẩy mạnh công tác xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, trọng tâm làđồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới Giúp đồng bào các dân tộc khắc phục tình trạng thiếu đấtsản xuất, nhà ở tạm bợ, thiếu nước sinh hoạt, nâng cấp cơ sở hạ tầng, định canh, định cư, xây dựng khu kinh tế mới ởkhu vực biên giới, xoá nghèo nhanh và bền vững

- Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc thiểu số Kiện toàn,củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng, đẩy mạnh phát triển đảng viên; nâng cao năng lực quản

lý Nhà nước của bộ máy chính quyền các cấp, vai trò tập hợp quần chúng của mặt trận và các đoàn thể Kiên quyếtkhắc phục tình trạng cán bộ quan liêu, xa dân; thực hiện tốt phương châm “gần dân, hiểu dân, nghe dân nói, nói dânhiểu, làm dân tin”

- Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc ở vùng các dân tộc thiểu

số, phát huy sức mạnh tại chỗ, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và hành động lợi dụng dân tộc, tôn giáo của các thế lựcthù địch; tăng cường công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, không để xảy ra “điểm nóng” trên cácđịa bàn chiến lược, trọng điểm: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ; thực hiện tốt chủ trương xây dựng phát triển cáckhu kinh tế - quốc phòng ở khu vực biên giới

- Thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và chính sách cụ thể đối với các vùng, các dân tộc đểđộng viên đồng bào phát huy nội lực, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần vươn lên trong phát triển kinh tế, xoá đói, giảmnghèo, nâng cao dân trí, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, xây dựng đời sống ở khu dân

cư, xây dựng bản làng văn hoá

2 Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo

- Những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về công tác tôn giáo trong tình hình mới:

+ Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trongquá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.+ Đảng, Nhà nước ta thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý dotín ngưỡng, tôn giáo; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đoàn kết đồng bào không theo tôn giáo và đồngbào theo tôn giáo Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo, động viên các tổ chức tôn giáo,chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

+ Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng Động viên đồng bào nâng cao tinhthần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc thông qua thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, anninh – quốc phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào các tôn giáo.+ Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị; trong đó, các tổ chức quần chúng có vai trò quantrọng trong công tác quản lý Nhà nước đối với các tôn giáo

- Công tác tôn giáo, chính sách tôn giáo:

+ Thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đờisống vật chất, văn hoá của nhân dân, trong đó có đồng bào các tôn giáo

+ Tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động bình thường theo đúng chính sách và pháp luật của Nhà nước Kiênquyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàndân tộc

+ Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo trong quần chúng, tín đồ, chứcsắc, nhà tu hành ở cơ cở Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc

+ Tăng cường thông tin tuyên truyền về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát huy tinh thần yêunước của đồng bào có đạo; tự giác và phối hợp đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đềtôn giáo, dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống đối chế độ

+ Hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước

Câu 7 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về quyền con người

- Một là, nhân dân là chủ thể của quyền; bảo đảm quyền con người là mục tiêu, động lực của sự nghiệp đổi mới

Trang 40

theo định hướng XHCN

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định:

“Con người là trung tâm của chiến lược phát triển Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người vớiquyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”(1) Điều 2, Hiến pháp năm 2013 quy định

“Nhà nước pháp quyền XHCN, của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”(2); nhân dân là chủ nhân của đất nước, tất

cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Như vậy, nhân dân là chủ thể của quyền và việc bảo đảm quyền con người

là mục tiêu, động lực của sự nghiệp đổi mới theo định hướng XHCN, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh

- Hai là, quyền con người vừa có tính phổ biến vừa có tính đặc thù; được thể hiện ở tính nhân loại gắn với tínhgiai cấp và tính dân tộc

Quá trình hình thành, phát triển quyền con người có tính phổ biến toàn nhân loại, chứ không phải là “phát hiện” đặcthù của riêng phương Tây “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dânlao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiênnhiên, qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”(3)

Con người thể hiện và khẳng định quyền của mình thông qua các mối quan hệ xã hội cụ thể.Vì thế, quyền con người,một mặt, là giá trị phổ biến của nhân loại, bao hàm những quyền và nguyên tắc được áp dụng phổ biến ở mọi nơi, mọiđối tượng Mặt khác, quyền con người còn mang tính đặc thù của mỗi giai cấp, dân tộc và quốc gia theo trình độ pháttriển kinh tế - xã hội, đặc điểm văn hoá và truyền thống dân tộc Tuyên bố Viên và Chương trình hành động về quyềncon người năm 1993 đã khẳng định: “Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt, phụthuộc lẫn nhau và liên quan đến nhau Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khu vực và bốicảnh khác nhau về lịch sử, văn hoá và tôn giáo, (thì) các quốc gia, không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hoá,

có nghĩa vụ đề cao và bảo vệ tất cả các quyền con ngưòi và các tự do cơ bản”(4)

Do đó, nhất thiết không thể đối lập tính phổ biến với tính đặc thù của quyền con người và ngược lại Trong bối cảnhthế giới hiện đại, quan điểm kết hợp tính phổ biến và tính đặc thù còn là cơ sở phương pháp luận khoa học để nhậnthức và giải quyết đúng các vấn đề cụ thể về quyền con người trong quan hệ quốc gia và quốc tế Đây là phương châm

cơ bản để bảo đảm “hội nhập” mà “không hòa tan” trong lĩnh vực nhân quyền

- Ba là, bảo đảm quyền con người theo phương châm thực hiện các giá trị nhân quyền phổ quát trên cơ sở chủquyền quốc gia

Quyền của các quốc gia, dân tộc trong việc lựa chọn chế độ chính trị, lựa chọn con đường phát triển và chủ quyềnquốc gia là những quyền phổ biến được thừa nhận trong pháp luật quốc tế Việc thực hiện các giá trị phổ quát củaquyền con người cơ bản diễn ra trong quá trình chuyển hóa hay “nội luật hóa” pháp luật quốc tế trong pháp luật quốcgia Ở nước ta, các giá trị phổ quát của quyền con người đã được thể chế hóa trong Hiến pháp

Việc bảo đảm quyền con người theo phương châm trên giúp mỗi cá nhân được bảo đảm các quyền dân chủ, tự do cơbản Bảo đảm quyền và nghĩa vụ cá nhân không được tách rời bảo đảm quyền và nghĩa vụ của cộng đồng Bảo đảmquyền con người phải trên cơ sở chủ quyền quốc gia, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nhân quyền quốc

tế, như quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, để loạitrừ mọi mưu toan lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” trên con đường phát triển đất nước

Mặt khác, các tiêu chí nhân quyền của Liên Hợp quốc trong nhiều trường hợp bị chi phối hoặc bị ảnh hưởng tiêu cựcbởi tiêu chí nhân quyền của các nước phương Tây Vì thế, nhằm thực hiện các giá trị phổ quát của quyền con ngườitrên cơ sở chủ quyền quốc gia, Việt Nam chủ động và tích cực đối thoại, hợp tác quốc tế trên lĩnh vực nhân quyền, vừagiúp bạn bè quốc tế hiểu hơn về thành tựu, quan điểm và giá trị nhân quyền của nước ta, vừa là cơ hội học hỏi kinhnghiệm của các nước trong việc chuyển hóa pháp luật quốc tế về nhân quyền vào pháp luật trong nước Từ đó gópphần bảo đảm tốt hơn các quyền con người ở Việt Nam, cũng như đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ, thúc đẩy nhânquyền trong khu vực và trên thế giới

- Bốn là, quyền con người không đồng nhất với quyền công dân, gồm cả quyền tập thể và quyền cá nhân;quyền gắn liền với nghĩa vụ, giới hạn quyền do luật định, trên cơ sở xác định rõ chủ thể quyền và chủ thể có nghĩa vụbảo đảm quyền

Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn thừa nhận quyền con người là thuật ngữ độc lập so với thuật ngữquyền công dân Dựa trên luận điểm “sửa sang thế đạo kinh dinh nhân quyền”(5) của Nguyễn Ái Quốc, Nghị quyếtĐại hội Quốc dân Tân Trào (16-8-1945) đã xác định phải: “Ban bố những quyền của dân, cho dân: Nhân quyền, tàiquyền (quyền sở hữu), dân quyền; quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ ”(6)

Các Cương lĩnh của Đảng trong thời kỳ đổi mới, Hiến pháp năm 1992, 2013, các Chiến lược phát triển kinh tế - xã hộiluôn nhất quán phân định rõ quyền con người, quyền công dân

Hiến pháp năm 2013 quy định về hạn chế quyền nhằm bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dânmột cách minh bạch, tránh sự cắt xén hay hạn chế các quyền này một cách tùy tiện Điều 6Hiến pháp năm 2013 chếđịnh: “1 Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; 2 Không được lợi dụng quyền con người, quyềncông dân để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác”(7)

Để bảo đảm quyền con người trong thực tế, việc thể chế hóa chủ thể quyền và chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền có ýnghĩa rất quan trọng Đường lối, chủ trương của Đảng, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam xác định và thể chế hóa

Ngày đăng: 09/06/2018, 09:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w