Khi nghiên cứu và điều tra thành phần thiên địch của nhện kanzawai trên chè ở Đài Loan tác giả Lo 1989 [45] cho biết có 2 loài quan trọng là Ambliseu womersleyi và Stethorus loi, trong đ
Trang 1- -VI THỊ HẰNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN SÂU, NHỆN HẠI, ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ
RẦY XANH (EMPOASCA FLAVESCENS FABR.) HẠI CHÈ VỤ XUÂN
HÈ 2009 TẠI QUẢNG LONG - HẢI HÀ - QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Mã số: 60.62.10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM OANH
HÀ NỘI - 2009
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Vi Thị Hằng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới:
- pgs.ts Nguyễn Thị Kim Oanh là người đã tận tình giúp
đỡ và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình làm đề tài.
- Khoa Sau đại học trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
- Tất cả các giáo viên Bộ môn Côn trùng, ban chủ nhiệm khoa Nông Học trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã góp ý
để tôi hoàn thành đề tài này.
- Ban lãnh đạo Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh Quảng Ninh và các đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
- Tất cả các bạn bè và gia đình đã động viên và giúp đỡ tôi Một lần nữa tôi bảy tỏ lòng biết ơn tới mọi sự giúp đỡ đó! Tác giả luận văn
Vi Thị Hằng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan 1
Lời cảm ơn 2
Mục lục 3
Danh mục bảng 5
Danh mục hình 8
3 Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu 24
4.1 Thành phần sâu, nhện hại chè và thiên địch của chúng vụ xuân hè
năm 2009 ở Quảng Long – Hải Hà - Quảng Ninh 33 4.1.1 Thành phần sâu, nhện hại chè vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng
4.1.2 Kết quả nghiên cứu thành phần thiên địch của sâu hại chè vụ
xuân hè 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng Ninh 36 4.2 Kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc tính sinh vật học của
Trang 54.2.1 Đặc điểm hình thái và kích thước các pha phát dục của rầy xanh
4.2.2 Đặc tính sinh vật học của rầy xanh (E flavescens) 41
4.2.3 Sức đẻ trứng của rầy xanh (E flavescens) 43
4.3 Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng tới diễn biến số lượng của các
loài sâu, nhện hại chè vụ xuân hè 2009 ở Quảng Long Hải Hà
4.4 Xác định hiệu lực của một số loại thuốc BVTV trừ rầy xanh
(E flavescens) , nhện đỏ (O coffeae) và bọ trĩ (P setiventris) 72
4.4.1 Xác định hiệu lực của 3 loại thuốc BVTV trừ rầy xanh (E flavescens)
Trang 6DANH MỤC BẢNG
4.1 Thành phần sâu, nhện hại chè vụ xuân hè năm
4.2 Thành phần thiên địch của sâu, nhện hại chè vụ
xuân hè năm 2009 tại Quảng Long - Hải Hà - Quảng
4.3 Kích thớc các pha phát dục của rầy xanh (E.
4.4 ảnh hởng của nhiệt ẩm độ đến thời gian phát dục
4.5 Sức đẻ trứng của loài rầy xanh (E flavescens) ở
điều kiện nhiệt độ trong phòng thí nghiệm 434.6 Tỷ lệ nở của trứng rầy xanh (E flavescens) trong phòng
4.7 Diễn biến mật độ rầy xanh (E flavescens) hại chè
qua các tháng vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng Long
4.8 Diễn biến mật độ rầy xanh (E flavescens) trên một
số giống chè vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng Long
4.9 ảnh hởng của trồng cây che bóng đến mật độ rầy
xanh
Trang 7(E flavescens) vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng Long
4.10 ảnh hởng của kỹ thuật hái chè đến mật độ rầy
xanh
(E flavescens) vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng Long
4.11 Diễn biến mật độ nhện đỏ (O coffeae) hại chè qua
các tháng vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng Long - Hải
Hà - Quảnh Ninh 57
4.12 Diễn biến mật độ nhện đỏ (O coffeae) trên một
số giống chè vụ xuân hè 2009 ở Quảng Long - Hải
4.13 ảnh hởng của trồng cây che bóng đến mật độ
(O coffeae) vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng Long
4.14 Diễn biến mật độ bọ trĩ (P setiventris) hại chè qua
các tháng vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng Long - Hải
4.15 Diễn biến mật độ bọ trĩ (P setiventris) trên một
số giống chè vụ xuân hè 2009 ở Quảng Long - Hải
4.16 ảnh hởng của trồng cây che bóng đến mật độ bọ
trĩ
(P setiventris) vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng Long
Trang 84.17 ảnh hởng của kỹ thuật hái chè đến mật độ bọ trĩ
(P setiventris) hại chè vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng
4.18 Hiệu lực của 3 loại thuốc trừ rầy xanh (E flavescens)
vụ xuân hè 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng
4.19 Hiệu lực của 3 loại thuốc trừ nhện đỏ (O coffeae)
vụ xuân hè 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng
4.20 Hiệu lực của 3 loại thuốc trừ bọ trĩ (P setiventris)
vụ xuân hè 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng
Trang 9DANH MỤC HÌNH
3.1 Thí nghiệm nuôi cá thể rầy xanh Error! Bookmark not defined.
3 2 Cây chè làm thức ăn cho rầy xanh Error! Bookmark not
defined.
3.3 Các công thức thí nghiệm Error! Bookmark not defined.
4.1a Các loài sâu hại chè vụ xuân hè 2009 tại Quảng Long – Hải Hà
4.1b Các loài sâu, nhện hại chè vụ xuân hè 2009 tại Quảng Long –
Hải Hà - Quảng Ninh Error! Bookmark not defined.
4.2 Một số hình ảnh thiên địch Error! Bookmark not defined.
4.3 Các pha phát dục của rầy xanh (E.flavescens) Error! Bookmark
not defined.
4.4 Diễn biến mật độ rầy xanh (E flavescens) hại chè qua các tháng vụ
xuân hè năm 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảnh Ninh 474.5 Diễn biến mật độ rầy xanh (E flavescens) trên một số giống chè
vụ xuân hè 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng Ninh 504.6 ảnh hưởng của trồng cây che bóng đến mật độ rầy xanh
(E flavescens) vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng Long Hải Hà
4.7 ảnh hưởng của kỹ thuật hái chè đến mật độ rầy xanh
(E flavescens) vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng Long Hải Hà
4.8 Diễn biến mật độ nhện đỏ (O coffeae) hại chè qua các tháng vụ
xuân hè năm 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảnh Ninh 584.9 Diễn biến mật độ nhện đỏ (O coffeae) trên một số giống chè vụ
xuân hè 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng Ninh 60
Trang 104.10 ảnh hưởng của trồng cây che bóng đến mật độ nhện đỏ
(O coffeae) vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng Long Hải Hà
4.11 Diễn biến mật độ bọ trĩ (P setiventris) hại chè qua các tháng vụ
xuân hè 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng Ninh 65
4.12 Diễn biến mật độ bọ trĩ (P setiventris) trên một số giống chè vụ
xuân hè 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng Ninh 684.13 ảnh hưởng của trồng cây che bóng đến mật độ bọ trĩ
(P setiventris) vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng Long Hải Hà
4.14 ảnh hưởng của kỹ thuật hái chè đến mật độ bọ trĩ (P setiventris) hại
chè vụ xuân hè năm 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng Ninh 71
4.15 Hiệu lực của 3 loại thuốc trừ rầy xanh (E flavescens) vụ xuân hè
4.16 Hiệu lực của 3 loại thuốc trừ nhện đỏ (O coffeae) vụ xuân hè
4.17 Hiệu lực của 3 loại thuốc trừ bọ trĩ (P setiventris) vụ xuân hè
Trang 111 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây chè (Thea sinensis L.) có nguồn gốc ở khu vực gió mùa Đông Nam
Á và có lịch sử phát triển cách đây gần 5000 năm Chè là cây dễ sống nên đượctrồng ở rất nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ,Indonesia, Srilanka, Nhật Bản Với điều kiện khí hậu địa lý, đất đai của ViệtNam phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây chè nên cây chè đượctrồng nhiều ở đây đặc biệt là các tỉnh Trung Du và miền núi phía Bắc [2]
Chè là cây công nghiệp dài ngày, có giá trị tiềm năng kinh tế rất lớn nógóp phần không nhỏ trong việc xoá đói giảm nghèo đối với một số vùng miềnnúi, ngoài ra cây chè có vai trò quan trọng trong việc phủ xanh đất trống đồi núitrọc và tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động dư thừa lớn trong xã hội.Đặc biệt trong những năm gần đây sản lượng và giá trị cây chè không ngừngtăng lên Tính đến 6 tháng đầu năm 2008 kim ngạch xuất khẩu chè của cả nướcđạt 130 triệu USD, tăng 18,43% so với cùng kỳ năm 2007 Với chủ trương pháttriển kinh tế toàn diện, ngày 10/3/1999 Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt kếhoạch phát triển diện tích chè đến năm 2000 là 100.000 ha và năm 2010 là104.000 ha nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và giữ vững ổn định thịtrường xuất khẩu, nâng cao kim ngạch xuất khẩu nên 200 triệu USD/ năm [19]
Quảng Ninh là một tỉnh miền núi có nhiều điệu kiện thuận lợi để pháttriển cây chè, 12/2003 UBND tỉnh Quảng Ninh đã phê duyệt dự án phát triểncây chè gai đoạn 2004-2010 ở hai huyện Hải Hà và Đầm Hà Hải Hà là nơi cómùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, ban ngày có gió Nam từ biển thổi vào, ban đêmdãy núi Quảng Nam Châu thổi ngược ra biển chính vì vậy mà có sự chênhlệch biên độ giữa ngày và đêm lớn khoảng 100C, lượng mưa trung bình năm
Trang 12trên 2000mm và chủ yếu tập trung vào tháng 5, 6, nhiệt độ trung bình năm
220C, cao nhất vào tháng 7,8 và thấp nhất vào tháng 12 Chè ở đây được trồngtrên những quả đồi bát úp có độ cao khoảng 50-60m so với mực nước biển.Đất ở đây chủ yếu là đất Feralits vàng xám và vàng đỏ với độ sâu 0,6-0,8m rấtthuận lợi cho cây chè phát triển Cho đến nay diện tích chè của tỉnh đã trồngđược là 1475ha, giống chè được trồng chủ yếu ở đây là các giống chè lai vànhập nội như LDP1, LDP2, Thuý Ngọc, Keo Am Tích, Phúc Vân Tiên ,những giống này đều cho năng suất cao và chất lượng tốt hơn hẳn so với một
số giống chè của địa phương như Trung Du [29]
Việc đưa cây chè về trồng ở một số huyện miền núi giáp biên của tỉnh
là việc làm thiết thực nó đã tạo việc làm ổn định và nâng cao đời sống cho cácđồng bào dân tộc và các hộ gia đình nông thôn nơi đây
Bên cạnh những thuận lợi đó thì Quảng Long - Hải Hà còn có nhữngkhó khăn riêng như là vùng trồng chè mới, chưa có kinh nghiệm nhiều trongsản xuất cũng như trong phòng trừ sâu bệnh hại vì vậy năng suất cũng nhưchất lượng chè ở đây chưa cao so với các vùng trồng chè khác trong cả nước
Để khắc phục những khó khăn trên của vùng trong thời gian tới chúng
ta phải đánh giá được tình hình phát sinh phát triển của sâu, nhện hại chính vàcác yếu tố liên quan từ đó đưa ra biện pháp phòng trừ thích hợp Vì vậy tôi
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thành phần sâu, nhện hại, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ rầy xanh hại chè (Empoasca flavescens Fabr.) vụ xuân hè 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng Ninh"
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
Trên cơ sở xác định được thành phần sâu, nhện hại, mối quan hệ giữachúng với cây chè và một số yếu tố sinh thái góp phần xây dựng biện pháp
Trang 13phòng trừ sâu, nhện hại thích hợp, có hiệu quả cao, an toàn cho người sử dụng
và môi trường đối với vùng chè Quảng Ninh
- Xác định sự ảnh hưởng của một số yếu tố (giống, kỹ thuật hái, trồng
cây che bóng) đến sự diễn biến mật độ của rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr.), nhện đỏ (Oligonychus coffeae Nietner) và bọ trĩ (Physothrips setiventris Bagnall) hại chè vụ xuân hè 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng
Ninh
- Xác định hiệu lực của một số thuốc bảo vệ thực vật trừ rầy xanh
(Empoasca flavescens Fabr.), nhện đỏ (Oligonychus coffeae Nietner) và bọ trĩ (Physothrips setiventris Bagnall) hại chè.
Trang 142 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Những nghiên cứu ngoài nước
2.1.1 Những nghiên cứu về thành phần sâu, nhện hại chè
Cho đến nay trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu và công bố vềthành phần sâu hại chè ở các khắp các vùng, miền khác nhau
Ở khu vực châu Á, Muraleedharan (1992) [53] cho biết có trên 300loài động vật hại chè bao gồm côn trùng, nhện và tuyến trùng trong đó cácloài quan trọng nhất thuộc các bộ:Acarina, Hemiptera, Thysanoptera,Lepidoptera, Coleoptera, Isoptera và ngành tuyến trùng Nematod
Ở Châu Phi theo Rattan (1992) [56] cho biết có tới 200 loài côn trùng
và nhện hại chè nhưng các loài gây hại chính chiếm số ít, các loài gây hại
quan trọng gồm Bọ xít muỗi (Helopeltis schoutedeni Rent và H orphila Ghesq), bọ trĩ (Thrips spp.), rệp muội (Aphis sp.) và một số loài ăn lá thuộc
bộ Lepidoptera và nhện hại
Theo kết quả nghiên Barboka (1994) [32], có 400 loài sâu hại chè ởĐông Bắc Ấn Độ
2.1.2 Nghiên cứu về rầy xanh
Rầy xanh đã gây hại nghiêm trọng cho các vùng chè trên thế giới,
chúng chích hút các chất dinh dưỡng cuả búp làm giảm năng suất và chấtlượng chè
Qua kết quả điều tra và nghiên cứu về rầy xanh, Muraleedharan (1992)[53] thấy sự phân bố của rầy xanh là rất rộng, chúng có mặt ở Ấn Độ, TrungQuốc, Nhật Bản, Bangladesh và cả Việt Nam Có hai loài rầy phổ biến ở Nhật
Bản và Đài Loan đó là Empoasca onukii và Empoasca formosana, trong đó loài E onukii thấy chủ yếu ở Nhật Bản còn loài E formosana chủ yếu ở Đài
Trang 15Loan Ở Ấn Độ phổ biến là loài Empoasca flavescens Fabr Năm 1991
Muraleedharan [52] khi nghiên cứu về rầy xanh tác giả đã mô tả rầy trưởng
thành loài Empoasca flavescens Fabr có màu xanh hơi vàng, cơ thể dài
khoảng 2,5-3 mm, con cái có ống đẻ trứng ở đốt bụng cuối cùng và đẻ trứngrải rác từng quả trong lá Vòng đời của rầy xanh trải qua 3 pha phát dục : phatrứng - sâu non - pha trưởng thành, rầy non có 5 tuổi, thời gian phát dục dàihay ngắn phụ thuộc vào nhiệt độ, ở nhiệt độ cao, trứng phát dục từ 6-7 ngày,rầy non phát dục 7-9 ngày, ở nhiệt độ mùa đông giai đoạn rầy non có thể nêntới 15 ngày
Theo Lu-WeMing và CTV (1991) [46] bằng phương pháp thống kê đã
dự báo ngày xuất hiện cao điểm đầu tiên của rầy xanh Empoasca pirisug,
đồng thời các tác giả còn cho biết ở Trung Quốc, rầy xanh thường có 2 caođiểm về số lượng trong năm
* Phòng trừ rầy xanh
Năm 1988 ở Đài Loan, sau khi tiến hành thí nghiệm phòng chống sâuhại chè, tác giả Chen và Tseng [35] cho biết thuốc Karate có hiệu quả phòng
trừ cao đối với loài Empoasca formosana.
Theo Muraleedharan, N (1991) [52] đã khuyến cáo kết hợp biện pháphái (làm giảm số lượng trứng và rầy non) và phun các loại thuốc như:Endosulfan và Phosalone trừ loài sâu này có hiệu quả rất tốt
Qua kết quả khảo sát một số thuốc trừ sâu đối với rầy xanh, Haas(1987) [41] cho biết một số thuốc có hiệu lực trừ rầy: Dimethoat, Acephate,Phosphalon và hỗn hợp Trichlofon + Femitronthion Còn ở Quảng Châu, tácgiả Lai (1993) [43] cho thấy thuốc Buprofezin có hiệu lực trừ rầy xanh cao vàkéo dài tới 30 ngày, hiệu lực trừ rầy đạt 91,2-96,9 % sau 14 ngày
Trang 164, còn thiệt hại đến năng suất chủ yếu vào tháng 5- tháng 6 cho đến khi cómưa mật độ nhện bị giảm đáng kể do bị mưa rửa trôi Điều kiện nhiệt độ thíchhợp cho nhện phát triển là 20-300C, ẩm độ 49-94%, trong điều kiện này có thể
có 22 thế hệ/năm, ở điều kiện nhiệt độ 220C, vòng đời là 14-15 ngày, mỗi concái có thể đẻ được 10-50 trứng Mùa đông nhện thường tập trung ở lá già và lácây con do đó việc đốn cành tỉa tán làm giảm đáng kể mật độ nhện hại, nhữngnương chè đốn sớm thường bị hại nhiều hơn những nương chè đốn muộn, chètrồng bằng hạt ít bị hại hơn chè trồng bằng cành
Cranham J.E (1966) [33] cho biết ở Ceylen, trên cây chè có 4 đại diệncủa họ nhện hại cây trồng
1 Họ Tetranychidae (nhện đỏ), trong nhóm này có nhện đỏ hại chè
Oligonychus coffeae Niet được phát hiện thấy ở hầu hết các vùng chè thuộc
Đông Nam Á, Đông Bắc Ấn Độ, Ceylen, Queenelend, Florida và Autralia
2 Họ Tenuipalpidae (nhện đỏ giả), có nhện đỏ tươi trên chè
(Brevipalpus californicus Banks.), họ này không nhiều và không quan trọng như họ Tetranychidae, loài nhện B californicus chúng phân bố rất rộng và có
Trang 17tới 43 loài cây ký chủ.
3 Họ Tarsonemidae có nhện vàng (Hemitasonenus latus Bakes) Loài
này cũng có phạm vi ký chủ rộng gồm: Cà chua, cam chanh, nho, cao su vàcây cảnh
4 Họ Eriophyidae đại diện cho nhóm nhện đỏ tía (Calacarus carinatus
Green), họ này gồm rất nhiều loài, tuỳ theo tập quán sinh sống mà có các têngọi khác nhau như nhện gỉ sắt Nhện đỏ tía này người ta tìm thấy ở Ấn Độ,Ceylen và Đông Nam Á Đồng thời khi nghiên cứu đặc tính sinh học của loàinhện tác giả cho thấy 4 loài nhện trên đều có sự phân bố rộng rãi và do chè làcây độc canh trên diện tích lớn trong khi đó nhện lại có tiềm năng sinh sảnchính vì vậy mà khả năng phát sinh thành dịch là rất lớn
Tác giả Banerjee B và Cs (1985) [31] cho biết nhện đỏ Oligonychus coffeae là loài bùng phát số lượng một cách thường xuyên ở vùng phía Bắc
Ấn Độ hơn là vùng Nam Ấn Độ và Srilanka, chúng hại trên rất nhiều loại câytrồng ở các nước Đông Nam Châu Á, Châu Phi và vùng Trung Đông Ở trên
chè loài nhện đỏ Oligonychus coffeae xuất hiện ở mặt trên lá, con trưởng
thành sinh trưởng và phát triển quanh năm không có giai đoạn diapause, mặc
dù mùa đông cây chè ở trạng thái ngủ nghỉ (ở vùng Đông Bắc Ấn Độ)
* Phòng trừ nhện đỏ
Đã có rất nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu và đưa ra những biệnpháp phòng trừ đối với loài dịch hại này Theo tác giả Banerjee (1985) [31]tiến hành thí nghiệm đối với một số loại thuốc trừ nhện: Ethion, lưu huỳnhvôi, Dicofol, Dimethoat và Thiometon, tác giả cho biết sau một thời gian dài
chưa thấy loài nhện Oligonychus coffeae có tính kháng thuốc, tuy nhiên đối với nhện T.kanzawai có tính kháng thuốc đối với Dicofol, Organophophates
và các hợp chất tương tự Dicofol Ngoài ra còn một số thuốc có thể dùng để
Trang 18trừ nhện nữa là Endosufat kết hợp với dầu khoáng cũng cho hiệu quả cao.
Năm 1990, Mkwaila [49] làm thí nghiệm thuốc trừ nhện, kết quả chothấy có 2 loại thuốc Tedion và Karate trừ nhện rất tốt Còn Somhoudhury,Shaha (1995) [53] đã thí nghiệm tính độc tiếp xúc của nhiều loại thuốc sâu
với nhện ăn thịt, loài Amblyseius ovalis và loài Amblyseius ovalis largoensis, tác giả cho thấy các loại thuốc Fenazaquin, Dicofol và Sunfur ít độc đôí với
nhóm nhện ăn thịt, trong khi đó các loại thuốc Cypermethrin, a- Cypermethrin
và Endosulfan có tính độc cao đối với chúng, còn thuốc Fenazaquin, Sunfur ítđộc đôí với nhóm nhện ăn thịt nhưng lại có hiệu quả trừ nhện rất cao
Bên cạnh các biện pháp khác như hoá học thì biện pháp sinh học cũngđược các tác giả áp dụng vào để phòng trừ nhện đỏ hại chè Theo Lo và Cs
(1989) [45] tại Đài Loan, tác giả làm thí nghiệm cho thả 2 loài A fallacis và
P permisilis để phòng chống nhện T.kanzawai với diện tích nhỏ, kết quả bước
đầu có hiệu quả rất tốt và đang được áp dụng ở diện rộng Tuy vậy biện phápsinh học vẫn không thể thay thế cho biện pháp hoá học bởi vì biện pháp sinhhọc không thể khống chế được khi mật độ dịch hại tăng, các loài thiên địch lạirất rễ bị tiêu diệt bởi thuốc hóa học
Cũng theo tác giả Somhoudhury, Shaha (1995) [58] cho rằng sự cânbằng giữa bắt mồi ăn thịt và con mồi sẽ thuận lợi cho việc tăng thêm tính khángnhện hại của cây chè và tác giả tiến hành thí nghiệm kết quả cho thấy mật độnhện ăn thịt có sự khác nhau trên 14 dòng chè nghiên cứu, tỷ lệ nhện hại vànhện bắt mồi cũng khác nhau giữa các dòng chè Ở vài dòng chè như TV16,TV18 mật độ nhện ăn thịt cũng thấp nhưng mật độ nhện hại lại cao, ngược lại ởdòng chè TV9, TV11 mật độ nhện hại thấp nhưng mật độ nhện ăn thịt cao
Qua kết quả trên tác giả đã có nhận xét sau: Nên sử dụng các thuốcchọn lọc cao như Fenazaquin, Sunfur để bảo tồn nhện ăn thịt và làm tăng số
lượng một số loài như A herbicolus, A ovalis , đồng thời lựa chọn các dòng
Trang 19chè có tính chống chịu nhện góp phần làm giảm mật độ nhện hại trên nươngchè Còn Greathead [40] đưa ra biện pháp kết hợp thuốc và thiên địch dựatrên một số lựa chọn : Sử dụng thuốc trừ dịch hại có tính chọn lọc cao, có phổtác dụng rộng và thả thêm thiên địch có tính kháng thuốc vào.
Hiện nay thì hướng đi này đang được các nhà sinh thái côn trùng vàcôn trùng học quan tâm, muốn có sự kết hợp giữa các phương pháp này cóhiệu quả, cần phải hiểu rõ về hệ thống – hệ sinh thái, mối quan hệ giữa dịchhại và thiên địch
2.1.4 Nghiên cứu về bọ trĩ
Bọ trĩ hay còn gọi là bộ cánh tơ là loài sâu hại phổ biến ở các vùng chètrên thế giới Tác hại của chúng là làm cho búp chè chùn lại, lá non bị biếndạng, thô cứng và không phát triển được dẫn đến năng suất cũng như chấtlượng chè bị giảm đáng kể Sự phân bố của một số loài bọ trĩ cũng rất khácnhau
Theo Muraleedharan (1992) [53] cho biết ở các vùng chè thuộc Châu
Á thì họ Thripidae có đến 9 loài, chúng phân bố ở Nhật Bản, Bangladesh, Ấn
Độ, Srilanka và Indonesia Còn ở Châu Phi, tác giả Rattan (1992) [56] cho
biết loài Scirthrips aurantii gây hại ít ở Nam Phi nhưng chúng lại là loài gây hại chủ yếu ở Malawi và Zimbawe Loài Scirthrips kenyensis Mound gây hại nhiều ở Đông Phi Loài Scirthrips sp cũng thấy xuất hiện ở Cameroon, Madagascar và Burundi Loài bọ trĩ đen H.haemorrhoidalis gây hại nặng ở
một vài nơi của Uganda, Kenya và Tanzania
Năm 1976 ở Malawi Ellis, R.T và Rattan, P.S (1977) [39] đã tiếnhành điều tra trên 12990 ha chè kết quả cho thấy 6785 ha chè bị bọ trĩ hạichiếm 52% và đây chính là nguyên nhân gây thất thu sản lượng lớn chè ở đây,đồng thời gây ra tình trạng chè con bị chết
Trang 20Qua kết quả nghiên cứu về bọ trĩ, tác giả Muraleedharan vàKandaswamy (1980) [50] cho biết phổ ký chủ của một số loài bọ trĩ như sau :
- Scirthrips bispinosus Bagn: Phân bố rộng, có ở hầu hết các vùng chè
Nam Ấn Độ, với số lượng lớn và thường được gọi là bọ trĩ cà phê
- Scirthrips dorsalis Hood: Gây hại trên một số cây có giá trị kinh tế trong đó có cả cây chè và thường được gọi là Chillies thrips hoặc bọ trĩ Assam, nó đã gây thiệt hại lớn cho vùng chè Đông Bắc Ấn Độ.
- Physothrips setiventris Bagn: Xuất hiện nhiều ở Assam và Darjeeling
làm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của lá non
- Còn có hai loài khác đó là: Mycetothrips Anan và Dorcadothrip nilgiriensis Rank & Mark có nguồn gốc từ Nilgiris và hiện nay đã được thấy
ở vùng chè Anamallais
Ngoài ra các tác giả trên còn cho biết về đặc điểm sinh học của loài bọtrĩ hại chè: Vòng đời của bọ trĩ gồm các pha: Trứng- sâu non tuổi 1- sâu nontuổi 2- tiền nhộng- nhộng- trưởng thành Con trưởng thành cái thường đẻtrứng vào búp, phần mền của lá chè Trung bình mỗi con cái đẻ được 200trứng Giai đoạn tuổi 1 và tuổi 2 khoảng 7-10 ngày, giai đoạn nhộng khoảng 1tuần Nhộng nằm ở bề mặt lá hoặc mặt đất Vòng đời của bọ trĩ phụ thuộc vàonhiều yếu tố như thức ăn, lượng mưa, nhiệt độ
Theo Mkwaila (1981) [47] khi nghiên cứu về bọ trĩ ở Malawi, tác giảcho biết chúng ăn, sinh sản và sống ở trong và xung quanh búp chè, đặc biệt ởnhững búp nhô lên trên mặt tán đồng thời tác giả cho biết vào thời kỳ tháng
10 đến tháng 12 vòng đời của bọ trĩ Scirtothrips aurantii như sau: Ở giai đoạn
trứng là 6 ngày, tuổi 1 là 2 ngày, tuổi 2 là 2,5 ngày, giai đoạn tiền nhộng là 1ngày, nhộng là 2 ngày, trưởng thành con cái sau vũ hoá 24 giờ thì bắt đầu đẻtrứng, đẻ trong vòng 3 ngày Con trưởng thành có thể sống trong 6 tuần và có
Trang 21khả năng đẻ tới 50 trứng đồng thời tác giả còn cho biết yếu tố môi trường cóảnh hưởng trực tiếp đến sự phát sinh phát triển của bọ trĩ.
Năm 1985 ở Kenya tác giả V.Sudoi [59] đã nghiên cứu sự ảnh hưởngcủa lượng mưa và cây che bóng đối với bọ trĩ kết quả cho thấy bọ trĩ xuất hiệnquanh năm trên đồng ruộng, nhưng vào mùa khô bọ trĩ nhiều hơn Số lượngcủa bọ trĩ liên quan tỷ lệ nghịch với lượng mưa của 2 tháng trước đó, mưa to
đã rửa trôi bọ trĩ nên mật độ bọ trĩ đã giảm xuống Còn đối với những nươngchè không được trồng cây che bóng thì thấy bị hại nhiều hơn ở những nương
chè được trồng cây che bóng bằng cây Grevillea và điều này cũng phù hợp
với kết luận của Mkwaila B (1982) [48] sự phá hại nghiêm trọng của loài bọ
trĩ Scirthrips aurantii ở Nam Phi nguyên nhân là do sự phá bỏ cây che bóng
trên nương chè
Cũng nghiên cứu về sự ảnh hưởng của cây che bóng Muraleedharan(1992) [54] cho rằng cường độ cây che bóng có vai trò quyết định tới mật độcủa bọ trĩ, rệp muội, bọ xít muỗi và nhện, đặc biệt trên những nương chèkhông có cây che bóng thì luôn bị thiệt hại nhiều do bọ trĩ và nhện gây ra, còn
ở những nương chè có cây che bóng nhưng mật độ dày và ẩm thì bị bọ xítmuỗi gây hại nhiều
* Phòng trừ bọ trĩ
Trên thế giới có rất nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu và tìm ra các biệnpháp phòng trừ đối với loài sâu hại này Theo Muraleedharan và Kandaswamy(1980) [50] phòng trừ bọ trĩ nên kết hợp giữa biện pháp sinh học với biệnpháp hoá học và cho rằng trong tự nhiên, bọ trĩ bị điều chỉnh bởi nhiều loài kýsinh và ăn thịt Tuy vậy để phòng trừ bọ trĩ có hiệu quả tác giả cho rằng việcphòng trừ bọ trĩ không thể không dùng thuốc hoá học
Năm 1988, Rattan [57] đã thí nghiệm phòng trừ bọ trĩ Scirthrips aurantii bằng biện pháp đốn kết hợp với phun thuốc hoá học, kết quả cho thấy
cứ 2 tuần phun thuốc một lần sẽ giảm được mật độ bọ trĩ và sản lượng chè
Trang 22cũng tăng Sau khi đốn vào tháng 7 hoặc tháng 8, sự khác nhau giữa phunthuốc và không phun thuốc giảm bớt Đốn vào thời kỳ tháng 5 và không phunthuốc thì sản lượng chè cao nhất.
Das S.C và Cs (1991) [37] thì cho rằng để phòng trừ 12 loài sâu hạichè chủ yếu dựa vào các biện pháp kỹ thuật canh tác ở điều kiện thời tiếtlạnh : Phải xới xốp đất quanh gốc chè, thu gom nhộng và sâu non bộ cánhvảy, đốn bề mặt chè, phủ đất giữa hai hàng chè sau đó phun thuốc 1-2 lần chovật liệu phủ đất để diệt trừ bọ hung và bọ trĩ, các biện pháp này đã làm giảmmật độ sâu non ở vụ thu hái sau
Qua kết quả nghiên cứu trong phòng chống bọ trĩ, tác giả Trevor Lewis(1997) [44] đã giới thiệu 2 hợp chất Bensultap thuộc Benzenethiosufonate vàOranophosphate để diệt trừ bọ trĩ trên chè Còn theo quan điểm của Parrella
và Cs (1997) [55] để phòng trừ bọ trĩ một cách tốt nhất nên áp dụng biện phápquản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cơ sở :
- Hiểu biết được đặc tính sinh học của bọ trĩ trên đồng ruộng, mức độgây hại của chúng và ngưỡng gây hại kinh tế
- Sự phân bố của chúng trên cây và sự xâm nhiễm để có phương phápđiều tra, dự tính dự báo chính xác
- Sử dụng giống kháng
- Sử dụng các biện pháp canh tác vật lý
- Sử dụng thiên địch có ích trong việc điều hoà số lượng quần thể bọ trĩ
- Sử dụng chiến lược phòng chống bằng biện pháp hoá học hợp lý Cho đến nay biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) được đánh giácao và có hiệu quả rất tốt
2.1.5 Nghiên cứu thiên địch sâu hại chè
Thiên địch có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát sinh phát triển của cácloài sâu hại Chính vì thế mà có nhiều tác giả trong và ngoài nước đã và đangnghiên cứu, sử dụng chúng vào việc phòng trừ sâu, bệnh hại chè nhằm giảm
Trang 23bớt lượng thuốc hoá học dùng trên chè.
Theo Chen H.T (1988) [34] cho biết ở Đài Loan người ta đã nuôi loài
nhện Ambliseus longispinosus để phòng trừ nhện hại Oligonychus coffeae và Tetranychus kanzawai trên cây đậu Hà Lan.
Khi nghiên cứu và điều tra thành phần thiên địch của nhện kanzawai
trên chè ở Đài Loan tác giả Lo (1989) [45] cho biết có 2 loài quan trọng là
Ambliseu womersleyi và Stethorus loi, trong đó loài S.loi có sức ăn mồi lớn
tuy nhiên loài này thường xuất hiện muộn hơn so với nhện hại nên không có
vai trò trong việc hạn chế được nhện hại, còn loài A.womersleyi chúng xuất
hiện sớm kể cả lúc mật độ nhện hại thấp nên có khả năng điều chỉnh được mật
độ nhện tuy nhiên loài này lại hay bị một số hợp chất khác tiêu diệt như:Pyrethroid, Carbofuran, Carbaryl và permethrin
Năm 1985 khi nghiên cứu thiên địch của nhện đỏ Oligonychus coffeae, tác giả Banerjee [31] thấy rằng có rất nhiều loài nhện thuộc họ Phytoseiidae, Stigmaeidae, các loài côn trùng thuộc họ bọ rùa như Stethoous gilviron, các
loài thuộc họ Chrysopidae, Staphylinidae là thiên địch của nhện đỏ và các loàinhện khác hại chè tuy vậy các loài này không thể hạn chế được sự bùng phátthành dịch của nhện đỏ ở đầu vụ xuân
Theo Somhoudhury, Shaha (1995) [58] điều tra nghiên cứu và phòng
trừ nhện đỏ Oligonychus coffeae trên nhiều đồn điền chè ở Bắc Bengal và
Đông Bắc Ấn Độ, tác giả đã kết luận rằng trong số các loài ăn thịt thì nhómPhytoseiid chúng chiếm ưu thế nhất và có vai trò lớn trong việc điều hoà sốlượng nhện hại, đồng thời tác giả cũng thu thập được 39 loài nhện ăn thịtthuộc nhóm Phytoseiid, thuộc các họ Phytoseiidae, Stiymaeidae, Bdellidae,Tydeidae, Anystidae, Cunaxidae, Erythriadae và Acidae
Năm 1996 tại tỉnh Quý Châu Trung Quốc tác giả Daixuan [38] tác giả
Trang 24cũng đã thu thập được 72 loài nhện BMĂT thuộc, 16 họ của bộ Araneidae vàtác giả cho rằng các loài đó đều là thiên địch quan trọng của rầy xanh.
Qua kết quả điều tra thành phần thiên địch của sâu hại chè ở miền Nam
Ấn Độ Muraleedharan và Radhakrishan (1989) [51] cũng đã chỉ ra 2 loài
thiên địch của bọ trĩ đó là loài Aleothrips intermedius Bagn và Mymarothips garuda Ramak thuộc họ Aleothripidae bộ Thysanoptera chúng ăn bọ non và trưởng thành loài bọ trĩ Scirtothips bispinosus.
Sau 10 năm (1981-1990) nghiên cứu về thành phần nhện lớn trên chèthuộc tỉnh Triết Giang Trung Quốc Chen Y.F (1992) [36] đã thu thập được
110 loài nhện, thuộc 21 họ trong đó trên 90% là thiên địch của sâu hại chè, 6
loài chiếm ưu thế nhất là: Phintella bifurcilinea, Clubiona deletrix, Tetragnatha praedonia, Conopistha sp, Neriene oidedicata và Neriene sp Sau
đó tác giả nghiên cứu trong phòng thí nhiệm cho thấy rầy xanh (Empoasca pirisuga), bọ phấn (Aleurocanthus spiniferus), rệp muội (Toxoptera aurantii)
là những con mồi chính của các loài nhện lớn này, còn bọ xít (Lygocoris lucorum) và sâu non xếp lá cũng bị chúng ăn thịt Đồng thời tác giả còn cho
biết diễn biến mật độ nhện lớn trên đồng ruộng còn phụ thuộc vào quần thểsâu hại trên đồng ruộng, điều kiện khí hậu, tác động của thuốc hoá học và cácbiện pháp chăm sóc kỹ thuật khác
2.2 Những nghiên cứu trong nước
2.2.1 Những nghiên cứu về thành phần sâu, nhện hại chè
Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều nên rấtthuận lợi cho sự phát sinh phát triển của cây chè Ngày nay cùng với sự pháttriển kinh tế của đất nước nhu cầu sử dụng chè của người dân ngày càng tăng
Để đáp ứng nhu cầu sử dụng chè trong nước cũng như ngoài nước, các nhànghiên cứu đã lai tạo ra nhiều giống chè mới có năng suất cao, chất lượng tốttuy nhiên những giống này thường cũng là nguồn thức ăn ưa thích của các
Trang 25loài sâu, nhện hại, chính vì vậy mà những năm gần đây sự xuất hiện sâu, bệnhtrên nương chè ngày một nhiều vì thế mà có nhiều tác giả quan tâm nghiêncứu về thành phần sâu, nhện hại chè Theo Đỗ Ngọc Quỹ [18] sau khi đi quantrắc trên chè Du Pasquier (1932) đã xác định có 24 loài sâu, nhện hại chètrong đó các loài thường xuyên gây hại là rầy xanh, nhện đỏ, nhện tím, nhệntrắng, sâu chùm, bọ xít hoa và dế.
Sau cuộc điều tra côn trùng miền Bắc Việt Nam năm 1967-1968 ViệnBảo vệ thực vật [31] đã xác định được 34 loài sâu, nhện hại chè thuộc 6 bộ
Theo Hồ Khắc Tín 1982 [27] đã nhận xét sâu, nhện hại chè vùng Bắc
Bộ thường có rầy xanh, bọ cánh tơ, bọ xít muỗi, nhện đỏ và một số sâu ăn lá
Bọ xít muỗi đã trở thành dịch hại nguy hiểm đối với vùng chè Trung Du
Kết quả nghiên cứu về thành phần nhện hại tác giả Nguyễn Khắc Tiến
và CTV (1994) [26] cho biết đã xác định có 5 loài nhện hại chè đó là: Nhện
đỏ (Oligonychus coffeae), nhện đỏ tươi (Brevipalpus californicus), nhện sọc trắng (Calacarus carinatus), nhện hồng (Eryophyes theae) và nhện vàng (Hemitarsonemus latus) trong đó hai loài nhện đỏ tươi và đỏ là đối tượng gây
hại quan trọng
Trang 26Khi nghiên cứu về mối hại chè ở thời kỳ kiến thiết cơ bản tác giả LêThị Nhung và Nguyễn Thị Vân (1994) [13] cho thấy trên chè có 3 loại mối đó
là: Odontotermes formosanus, Microtermes sp và Macrrotermes sp hại với tỷ
lệ 10,7-62.6% số cây
Kết qủa nghiên cứu nhóm sâu chích hút ở vùng Phú Thọ tác giả Lê ThịNhung (2001) [15] đã thu được 17 loài sâu, nhện hại búp chè và tác giả thấy 2loài rầy xanh, bọ cánh tơ gây hại rộng tiếp đó là bọ xít muỗi
Theo Trần Đặng Việt (2004) [28] cho biết sự cư trú và gây hại trên cácgiống chè nhập nội ở Phú Hộ, Phú Thọ vụ xuân 2004 có 30 loài sâu, nhện hại,
trong đó các loài gây hại phổ biến: Rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr.), nhện đỏ (Oligonychus coffeae Niet) và rệp sáp (Unaspic cirti).
Qua các kết quả nghiên cứu thành phần sâu hại chè tác giả NguyễnVăn Hùng và CTC (1998, 2000, 2001) [7] [8] [9] khẳng định có 46 loài sâuhại, 5 loài nhện Cùng với tác giả trên thì tác giả Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn KimPhong (1997) [18] đã chia các nhóm bị hại theo bộ phận như sau:
- Nhóm hại búp: Có rầy xanh, bọ xít muỗi, bọ cánh tơ, sâu cuốn lá non,rệp muội hại búp, nhện vàng hại búp non
- Nhóm hại lá: Có rất nhiều loài thuộc bộ cánh vẩy (Lepidoptera) như:Sâu róm, sâu kèn, bọ nẹt cùng với nhóm nhện thuộc Acarina thường tĩch luỹ
số lượng và bùng phát gây hại nghiêm trọng đối với các vùng chè
- Nhóm hại cành, thân, rễ: Có rất nhiều loài gây hại nghiêm trọng nhất
là mối hại chè con
- Nhóm hại hoa, quả: Quan trọng nhất là bọ xít hoa hại quả làm mất sứcnảy mầm của hạt
Từ những kết quả nghiên cứu trên về thành phần sâu, nhện hại chè cho
ta thấy các loài sâu hại đó đều phát sinh ở tất cả các vùng trồng chè tuy nhiênchúng phát sinh và gây hại ở các mức độ khác nhau, những vùng chè lâu năm
Trang 27chúng thường phát sinh nhiều hơn so với các vùng chè mới.
Các tác giả trên còn nhận định rằng thành phần sâu, nhện hại chủ yếu ởViệt Nam cũng có những loài giống sâu hại chính ở một số nước lân cận
2.2.2 Nghiên cứu về rầy xanh
Theo Nguyễn Khắc Tiến (1986) [25] cho rằng rầy xanh Empoasca flavescens Fabr là loài sâu hại búp chè chủ yếu ở nước ta, chúng dùng vòi hút
nhựa búp non theo đường gân của lá non gây ra những nốt chấm nhỏ như kimchâm làm cho những mầm lá non cong queo lại và khô đi
Các kết quả nghiên cứu về loài Empoasca flavescens Fabr Đường
Hồng Dật (2004) [2] và Nguyễn Văn Hùng (2006) [11] cho biết vòng đời củarầy xanh trải qua 3 pha phát dục: Pha trứng- pha sâu non và pha trưởng thành.Rầy trưởng thành có màu xanh lá mạ, cơ thể dài khoảng 2,5-3,0 mm, có 8 đốtbụng, rầy non có hình dạng giống rầy trưởng thành nhưng nhỏ hơn và chỉ cómầm cánh, chưa có cánh Rầy non có 5 tuổi: Rầy tuổi 1 có màu trắng, sau đóchuyển thành hơi vàng, cơ thể dài khoảng 0,8-1,2 mm Rầy tuổi 2 có màuvàng xanh, cơ thể dài khoảng 1,5-1,6 mm Rầy tuổi 3 có màu xanh vàng, cơthể dài khoảng 1,9-2,1 mm Rầy tuổi 4 có màu xanh vàng, cơ thể dài khoảng2,1-2,3 mm Rầy tuổi 5 có màu xanh vàng, cơ thể dài khoảng 2,3-2,6 mm.Trứng rầy có hình ống, hai đầu hơi thon, cong như quả chuối tiêu dài khoảng0,4-0,6 mm Thời gian phát dục của rầy xanh chịu ảnh hưởng nhiều vào điềukiện nhiệt độ: Ở nhiệt độ 21,20C, trứng phát dục 6-7 ngày, sâu non phát dục10,5 ngày, còn ở nhiệt độ 27,70C, trứng phát dục 5,1 ngày, sâu non phát dục 7-
9 ngày Đồng thời tác giả còn cho biết các tháng 3, 4, 5 và tháng 10,11 rầyxanh đã làm giảm sản lượng chè trung bình 14,27%
Cũng theo Nguyễn Khắc Tiến (1986) [25] và Nguyễn Văn Thiệp(2000) [22] cho biết rầy xanh đã gây ra những thiệt hại to lớn, làm giảm đáng
kể sản lượng và chất lượng búp chè nghiêm trọng Trong một năm rầy xanh
Trang 28đã làm giảm 15-20% sản lượng chè có khi làm mất tới 70% sản lượng chè vụxuân và gây ảnh hưởng xấu đến các đợt sinh trưởng búp trong năm, cho đếnnay thì rầy xanh đã gây hại hầu hết ở các vùng chè trong cả nước và tác giả
còn cho biết loài rầy xanh Empoasca flavescens Fabr phát sinh phát triển
trong điều kiện nhiệt độ 18-250C, ẩm độ trên 80% và có mưa nhỏ, rầy có xutính với ánh sáng yếu Rầy xanh có hai cao điểm về số lượng trong một năm,trong đó cao điểm đầu thường xuất hiện vào tháng 4, tháng 5 cao điểm nàygây hại rất lớn, còn cao điểm hai xuất hiện vào tháng 9 đến tháng 11, caođiểm này cũng gây thiệt hại đáng kể nhưng ít hơn so với cao điểm thứ nhất.Đồng thời tác giả cũng chỉ ra rằng các biện pháp canh tác kỹ thuật rồi giốngchè có ảnh hưởng lớn đến mật độ rầy xanh trên nương chè, những nương chèđốn đau, chăm sóc kém thường bị rầy xanh hại nặng hơn Những giống chèShan, Assam, Trung Du thường cũng bị rầy xanh hại nặng hơn những giống
Kỳ môn, Trung Quốc lá nhỏ và Manipua Rầy trưởng thành phát dục chậmqua mùa đông
Qua kết của thí nghiệm Đỗ Văn Ngọc [12] cho thấy việc đốn chè cóảnh hưởng đến số lượng của rầy xanh, ở những nương chè đốn phớt xanh thìmật độ rầy cao hơn những nương chè đốn phớt và đốn đau
Theo Vũ Khắc Nhượng (1973) [17] muốn phòng trừ rầy xanh cũng nhưcác loài sâu hại chè nên phòng trừ vào giai đoạn mùa đông thì có hiệu quả hơn vìgiai đoạn mùa đông là giai đoạn xung yếu của các loài sâu hại, do đó việc phòngtrừ rầy xanh cần kết hợp các biện pháp kỹ thuật khác như vệ sinh nương chèsạch sẽ, đốn tỉa sớm, hái kỹ và phun thuốc trừ sâu thì mật độ rầy năm sau sẽgiảm
Còn Du pasquier (1932) [60] cho rằng để phòng trừ rầy xanh ở ViệtNam có hiệu quả cần làm như sau: Chăm sóc cho cây chè khoẻ mạnh để tăngsức chống chịu với sâu bệnh; hái chạy, hái triệt để nhằm làm giảm bớt trứng
Trang 29rầy và rầy ở búp chè; đốn chè làm giảm nguồn thức ăn của sâu và điều chỉnhthời vụ đốn để tránh với thời kỳ rầy rộ
Tác giả Nguyễn Văn Thiệp 2000 [22] cho biết để phòng trừ rầy xanh cóhiệu quả cần chăm sóc chè tốt, hái kỹ, đốn sớm (tháng 12) đồng thời kết hợpvới phun thuốc trừ rầy bằng một số loại thuốc sau: Sumicidin, Selecron,Sherpa và Kyazion
Nguyễn Khắc Tiến (1986) [25] đã đề nghị trừ rầy xanh bằng cách đểchè lưu hoặc đốn phớt nhằm thu hút rầy tập trung vào đó rồi phun thuốc trừrầy sớm ở đó, sau đó cắt nhẹ lại có để trừ rầy trong vụ hè Những thuốc cóhiệu quả trừ rầy xanh rất tốt như: Bassa, Mipcin, Bi58, các thuốc này kết hợpvới 2% urê và axits boric 0,05% có tác dụng làm tăng hiệu lực của thuốc
2.2.3 Nghiên cứu về nhện đỏ
Nhện đỏ nâu là một trong những loài gây hại chủ yếu trên khắp các
vùng chè ở nước ta
Theo Nguyễn Văn Đĩnh (1994) [3] và Nguyễn Thái Thắng (2000) [20]
cho biết loài nhện Oligonychus coffeae sống ở trên mặt lá già, lá bánh tẻ,
chúng tập trung thành từng đám xung quanh gân chính hoặc bên cạnh mép ládùng kìm chích vào lá, hút dịch, tạo thành vệt màu nâu xám hay nâu đồng, vết
bị hại cong phồng nên Nhện trưởng thành có màu nâu đỏ, cơ thể hình trứnglồi về phía lưng, trứng có hình cầu hơi dẹt, nhện non có 3 tuổi Thời gian phátdục của nhện ở giai đoạn trứng là 4,29 ngày, tuổi 1 là 1,82 ngày, tuổi 2 là 1,73ngày, tuổi 3 là 2,36 ngày, vòng đời là 11,53 ngày, đời là 20,54 ngày, nhện giữ
tỷ lệ sống tự nhiên 100% cho tới 18 ngày Các tác giả trên còn cho biết ở cáctỉnh Trung du miền núi phía Bắc nước ta có 2 cao điểm vào tháng 4-6 và caođiểm 2 vào tháng 10-11
Còn Nguyễn Khắc Tiến (1965, 1994) [24][26] khi nghiên cứu về đặc
Trang 30tính sinh vật học của loài này cho thì cho rằng loài nhện Oligonychus coffeae
trải qua các giai đoạn phát triển: trứng, nhện non, tiền trưởng thành 1, tiềntrưởng thành 2 và giai đoạn trưởng thành, thời gian phát dục của pha trứng là4,2-5,2 ngày, nhện non 1,5-2,5 ngày, tiền trưởng thành 1 là 2,5-3,0 ngày, tiềntrưởng thành 2 là 2,5-3,0 ngày, trưởng thành có thể đẻ từ 3-4 ngày, vòng đời14-17 ngày, đời 19-24 ngày Tác giả còn cho biết nhện xuất hiện rải rác quanhnăm nhưng hại mạnh nhất vào tháng 4-5, những nương chè được trồng câyche bóng thì mật độ nhện hại giảm 29-45,5%, trên chè sản xuất kinh doanh thìmật độ nhện cao hơn chè vườn
Để phòng trừ loài nhện này có hiệu quả các tác giả đã khuyến cáo nên
sử dụng một số loại thuốc sau: Ortus 5SC, Nissorun 5EC, Danitol 10EC,Rufast 3EC, phun với liều lượng 500 lít/ha [20][7][8][9]
Nguyễn Văn Đĩnh (2004) [4] cho rằng sử dụng biện pháp IPM trong đó
có các thao tác như: trồng chè đúng kỹ thuật, trồng cây che bóng với mật độhợp lý, bón phân cân đối và tưới nước đầy đủ đặc biệt là tưới phun có thể làmgiảm mật độ nhện đỏ đáng kể và chỉ phun thuốc hoá học khi mật độ nhện vàokhoảng 4-6 con/lá Còn tác giả Lê Thị Nhung và Nguyễn Thái Thắng (1996)[16] cũng cho rằng chỉ áp dụng biện pháp hoá học khi mật độ nhện vàokhoảng 4-6 con/lá và khi phát hiện thấy thiên địch của nhện đỏ là bọ rùa nâuđạt 1-2 con/lá thì không nên tiến hành phun thuốc
2.2.4 Nghiên cứu về bọ trĩ
Bọ cánh tơ hay còn gọi bọ trĩ là loài sâu hại phổ biến trên khắp cácvùng chè trong cả nước Chúng thường bám ở mặt dưới lá để hút nhựa, đặcbiệt là lá non, ở mặt dưới lá bọ trĩ gây hại nổi lên 2 đường sần sùi, song songvới gân lá chính, tạo thành nhiều vết nứt ngang màu xám Cây chè bị bọ trĩhại cây còi cọc, búp cứng, kém phát triển
Qua cuộc nghiên cứu và điều tra chè ở Miền Bắc cho thấy ở nông
Trang 31trường chè của Tam Bảo (Vĩnh Phúc) năm 1962 có trên 60 ha chè bị bọ cánh
tơ hại nặng Tháng 8 năm 1973 trên 15 ha chè con của nông trường Tân Tràocũng bị bọ cánh tơ hại rất nặng Bọ cánh tơ thường phát sinh mạnh trên cácnương chè trồng trên đất nhiều cát, bị cỏ dại lấn át, bón phân chuồng ít vàkhông có cây che bóng (trích theo sổ tay kỹ thuật trồng, chăm sóc và chế biếnchè miền Bắc, 2005) [30]
Theo Nguyễn Văn Thiệp (2000) [22] cho biết vòng đời của bọ trĩ trảiqua các pha phát dục: Pha trứng- ấu trùng- nhộng – trưởng thành Ở giai đoạntrứng là 6 ngày, sâu non tuổi 1 là 2,2 ngày, tuổi 2 là 2,8 ngày, giai đoạn tiềnnhộng là 1 ngày và nhộng là 2 ngày Bọ trĩ phát sinh mạnh nhất từ tháng 6 đếntháng 8, đặc biệt khi thời tiết khô hạn Để phòng trừ bọ trĩ tác giả cũngkhuyến cáo trên nương chè cần phải được trồng cây che bóng và có sự kếthợp giữa phun thuốc với kỹ thuật hái mới đem lại hiệu quả cao trong việcphòng trừ
Nguyễn Văn Hùng (2001) [9] Nguyễn Văn Thiệp (2000) [22], cho biếtcác thuốc trừ bọ trĩ có hiệu quả cao gồm: Sherpa, Pegasus, Ofatox có hiệu lực94-98%, đồng thời các tác giả này còn cho biết để phòng trừ bọ trĩ có hiệuquả cần phải chăm sóc chè tốt, bố trí cơ cấu giống hợp lý, ưu tiên trồng mớinhững giống chống sâu bệnh và trồng cây che bóng với mật độ hợp lý, ápdụng các biện pháp kỹ thuật hái
Vũ Khắc Nhượng (1973) [17] cho rằng việc phòng trừ bọ trĩ ở vụ đông
sẽ làm giảm mật độ bọ trĩ đáng kể ở năm sau thậm chí không cần phun thuốcphòng trừ
2.2.5 Nghiên cứu về thiên địch c ủ a sâu, nhện hại chè
Thiên địch là kẻ thù tự nhiên cuả dịch hại, nó góp phần không nhỏ
trong việc làm giảm số lượng dịch hại trong tự nhiên, chúng là một khâu quantrọng trong hệ cân bằng sinh thái trên đồng ruộng, là yếu tố có lợi cho con
Trang 32người vì vậy việc nghiên cứu và sử dụng các thiên địch để phòng trừ dịch hại
đã được nhiều tác giả trong nước quan tâm và nghiên cứu
Theo Nguyễn Văn Đĩnh (1994) [3] nghiên cứu về thiên địch của nhệnhại cây trồng trong đó có nhện hại chè tác giả đã thu được 6 loài thiên địch đó
là nhện (Phytoseius sp và Amblyseius sp.), bọ rùa nhỏ (Stethorus sp.), bọ trĩ (Scolothrip sp.) và bọ cánh cộc (Oligota sp.).
Trong giai đoạn nghiên cứu 1995-1997 tác giả Lê Thị Nhung (1998)[14] đã thu thập được 63 loài thiên địch, trong đó có 25 loài nhện, 19 loài côntrùng,12 loài nấm ký sinh và tác giả thấy rằng loài nhện ăn thịt có vai trò quantrọng nhất Tiếp đến năm 2001 Lê Thị Nhung [15] nghiên cứu thêm về thiênđịch sâu hại chè đã thu được 99 loài thiên địch trong đó có 34 loài thiên địchcủa rầy xanh, 21 loài thiên địch của nhện đỏ nâu, 16 loài thiên địch của bọ xítmuỗi, 10 loaì thiên địch của bọ trĩ và 18 loài thiên địch của rệp muội đen
Theo tác giả Hoàng Ngọc Đường và CS (1999) [5] khi nghiên cứu vềthiên địch sâu hại chè đã thu được 46 loài thiên địch trong đó có 30 loài thuộcnhóm nhện, 13 loài thuộc nhóm côn trùng với các loài chủ yếu là Nhện linhmiêu, nhện nhỏ đen, nhện trắng, nhện nhỏ nâu và nhện tím đồng thời tác giảcòn cho biết thêm thành phần số lượng loài thiên địch ở vùng mà phun thuốchoá học giảm đáng kể so với vùng không phun thuốc
Cũng nghiên cứu về thiên địch hại chè Nguyễn Văn Thiệp (1998) vàCTV [21] cho biết đã thu thập được 6 loài thiên địch sâu hại chè, trong đó có
3 loài phổ biến đó là: Nhện xám (Clubiona japonica), nhện nâu vằn trắng (Oxyopes jiavarus) và nhện nhỏ đen (Agryrodes sp.), tác giả còn cho biết giữa
mật độ rầy xanh và nhện đỏ có mối quan hệ chặt chẽ với sự biến động sốlượng cùng nhóm với nhện ăn thịt và đến năm 2000 tác giả thu được 22 loàithiên định đã xác định được 13 loài trong đó nhóm BMĂT có vai trò rất lớntrong việc điều hoà số lượng rầy xanh
Trang 33Trong quá trình thực hiện quản lý tổng hợp dịch hại chè Nguyễn VănHùng và CTV (2003) [10] đã thu thập và xác định được 31 loài thiên địchthuộc 8 bộ côn trùng và nhện BMĂT, tác giả còn cho biết thành phần ong kýsinh còn nghèo nàn chiếm (2/32) loài trong khi đó nhóm bọ rùa lại rất phongphú (10 loài)
Trang 343 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
* Địa điểm nghiên cứu:
- Điều tra và thu thập thành phần sâu, nhện hại chè và thiên địch củachúng tại vùng trồng chè xã Quảng Long - Hải Hà - Quảng Ninh
Các thí nghiệm trong phòng được thực hiện tại Trạm BVTV Hải Hà Quảng Ninh
-* Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2009 ở Quảng
Long - Hải Hà - Quảng Ninh
3.2 Đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
- Các loài sâu, nhện hại chè và thiên địch của chúng tại địa điểm nghiêncứu
* Vật liệu nghiên cứu
- Các giống chè nghiên cứu là các giống chè được trồng phổ biến ởQuảng Long - Hải Hà - Quảng Ninh
+ Giống Trung Du (giống địa phương)
+ Giống LDP1 (giống chè lai từ Viện nghiên cứu chè)
+ Giống Thuý Ngọc (giống nhập nội)
- Các loại thuốc BVTV thí nghiệm dùng liều lượng theo thương phẩm:+ Thuốc Actara 25WG
+ Thuốc Song Mã 24.5EC
+ Thuốc Tre Bon 10EC
Trang 35+ Thuốc Dandy 15EC
+ Thuốc Ortus 5EC
+ Thuốc Comite 73EC
+ Thuốc Acelant 4EC
* Dụng cụ nghiên cứu
- Vợt bắt côn trùng, khay điều tra
- Sổ ghi chép, bút viết, máy tính bỏ túi
- Chai nhựa, túi nilon; cồn 700, 900 để ngâm mẫu
- Kéo, kính lúp cầm tay, kính lúp điện, bút lông, máy ảnh
- Hộp nuôi sâu, bông thấm nước, giấy hút ẩm, tủ lạnh, nhiệt kế
- Dầu hỏa, bình bơm phun tay 12 lít
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra xác định thành phần, mức độ phổ biến của sâu, nhện hại chè
và thiên địch của chúng vụ xuân hè 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - QuảngNinh
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh vật học của rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr.) hại chè vụ xuân hè 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng
Ninh
- Xác định sự ảnh hưởng của một số yếu tố (giống, kỹ thuật hái, trồng cây
che bóng) đến diễn biến mật độ của rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr.), nhện
đỏ (Oligonychus coffeae Nietner) và bọ trĩ (Physothrips setiventris Bagnall) hại
chè vụ xuân hè 2009 ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng Ninh
- Xác định hiệu lực của một số thuốc bảo vệ thực vật trừ rầy xanh
(Empoasca flavescens Fabr.), nhện đỏ (Oligonychus coffeae Nietner) và bọ trĩ (Physothrips setiventris Bagnall) hại chè.
Trang 363.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp điều tra thành phần, mức độ phổ biến của sâu, nhện
hại chè và thiên địch của chúng vụ xuân hè 2009 ở Quảng Long – Hải Hà - Quảng Ninh
Áp dụng phương pháp điều tra thành phần sâu, nhện hại và thiên địchcủa chúng theo theo Quyết định số 82 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn (2003) Điều tra theo phương pháp tự do theo hàng chè Trên hàng chè
đó điều tra dọc từ đầu hàng này đến cuối hàng chè kia Dùng vợt bắt kết hợpvới quan sát tại chỗ, mỗi điểm vợt 20 vợt ứng với 10 m chiều dài hàng chè
Thu thập tất cả các loài côn trùng xuất hiện trên cây chè và lấy cây chèlàm thức ăn; các loài thiên địch bắt mồi ăn thịt của chúng
Đối với thiên địch là các loài ký sinh, trong các đợt điều tra khi thấy các phaphát dục của sâu hại bị ký sinh, đem về nuôi tiếp để thu thập thành phần ký sinh
Phương pháp thu mẫu được tiến hành như sau: đối với côn trùng sốngtrên cây: dùng vợt bắt trưởng thành hoặc bắt bằng tay đối với sâu non, nhộng,trưởng thành của bộ cánh vẩy, bộ cánh cứng, bộ cánh màng Đối với các loàicôn trùng nhỏ dùng ống hút (như rầy, bọ trĩ ), bút lông (nhện đỏ) để thu bắt
Chỉ tiêu theo dõi: Tần suất xuất hiện (%)
3.4.2 Phương pháp điều tra diễn biến mật độ của rầy xanh, nhện đỏ và bọ trĩhại chè ở ba yếu tố khác nhau (giống, trồng cây che bóng và kỹ thuật hái
chè) vụ xuân hè 2009 ở Quảng Long – Hải Hà - Quảng Ninh
*Điều tra 7 ngày/1lần, chọn các nương chè (khoảng 1000m2) đạidiện cho:
- Giống chè: Chọn giống chè đại diện cho giống mới (Thúy Ngọc,
LDP1), giống cũ (Trung Du) được trồng ở Quảng Long - Hải Hà - Quảng Ninh
- Cây che bóng: Cây che bóng cho cây chè là cây muồng lá nhọn
Trang 37(Indigofera teysmanni) được trồng ở giữa hàng chè với mật độ 230 cây/ha.
Nơi so sánh là các nương chè cùng giống, cùng độ tuổi và có chế độ chăm sócnhư nhau nhưng chưa được trồng cây che bóng của Nông trường chè ĐườngHoa Điểm được xác định là khoảng giữa của 4 cây che bóng đứng liền nhau
- Kỹ thuật hái: Chọn ruộng chè được hái theo phương pháp khác nhau:
+ Hái theo lứa: Hái khi trên nương chè rộ (có khoảng 80-90% búp đủtiêu chuẩn hái)
+ Hái san trật: Hái khi nương chè có khoảng 30% búp đủ tiêu chuẩn thìhái (hái 1 tôm + 2 lá, tháng 3 - 4 chừa lại 2 lá cá, tháng 5 trở đi chừa lại 2 láthật) những búp còn lại tiếp tục sinh trưởng và hái đợt sau
*Trên mỗi nương chè đại diện thì điều tra 5 điểm chéo góc, phươngpháp điều tra ở trên tuỳ thuộc vào loài sâu, nhện hại
-Điều tra diễn biến mật độ của rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr.) hại chè
Mỗi điểm điều tra 4 khay Điều tra bằng khay nhôm 20 x 20 x 5 cmdưới đáy tráng dầu hỏa, để nghiêng 45o so với tán chè đập mạnh 3 đập, đếm sốrầy trên khay
Chỉ tiêu theo dõi: Mật độ con/khay
-Điều tra diễn biến độ mật của nhện đỏ (Oligonychus coffeae Nietner) hại
chè
Mỗi điểm hái 20 lá (lá bánh tẻ vì nhện đỏ hại chủ yếu trên lá bánh tẻ,sống tập trung ở mặt trên lá tại phần gân chính và chóp lá) sau đó bỏ vào túinilon riêng đã được đánh dấu ở từng điểm điều tra, đem về phòng cho vào tủlạnh để 5 phút rồi đếm nhện dưới kính lúp
Chỉ tiêu theo dõi: Mật độ con/lá
-Điều tra diễn biến mật độ của bọ trĩ (Physothrips setiventris Bagnall) hại
chè
Mỗi điểm hái 20 búp (1 tôm 2 lá) cho vào túi nilon đem về phòng cho
Trang 38vào cồn loãng 30 o lắc đều 15 lần sau đó lấy búp chè ra gạn lấy bọ trĩ rồi đemđếm số bọ trĩ dưới kính lúp điện.
Chỉ tiêu theo dõi: Mật độ con/búp
3.4.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh vật học của rầy
xanh (Empoasca flavescens Fabr.)
Thu thập nguồn rầy xanh trưởng thành ngoài nương chè mang về phòngthí nghiệm, chuyển rầy xanh trưởng thành vào trong lồng lưới có sẵn cây chèsạch Sau 12h để trưởng thành giao phối và đẻ trứng, chuyển trưởng thành sanglồng lưới khác, quan sát và chọn những búp chè có những vết châm màu nâuđen nhỏ li ti trên cuống lá hoặc gân chính (nơi rầy xanh đẻ trứng) Cắt lấynhững đoạn chè có búp chè đó cắm vào xốp ẩm rồi đặt trong hộp nuôi sâu,hàng ngày quan sát thời gian phát dục của trứng
Tiếp tục nuôi rầy non tuổi 1 theo phương pháp nuôi cá thể Cắt cành chènon cắm trong xốp thấm đủ ẩm, cho vào trong hộp nuôi sâu để cành chè luôntươi, đảm bảo chất lượng thức ăn cho rầy Hàng ngày thay thức ăn và theo dõithời gian phát dục các pha của rầy xanh, đồng thời tiến hành mô tả đặc điểmhình thái, đo kích thước các cá thể (đo 30 cá thể, chiều rộng của rầy xanh được
đo ở phần rộng nhất cơ thể, chiều dài được đo từ đỉnh đầu đến cuối phần cơthể)
Đối với rầy tuổi 1 - 3, trước khi chuyển rầy sang hộp có thức ăn mới, cầnquan sát xem rầy đang ở vị trí nào (trên cành chè hay trên thành hộp) Nếu rầy
ở trên thành hộp nhựa thì gõ nhẹ để rầy di chuyển sang cành chè Mở hộp nhẹnhàng tránh làm động mạnh đến rầy, nhấc nhẹ nhàng cành chè cũ lên đặt úpmặt có rầy lên cành chè mới, rầy sẽ bò ngang sang cành chè mới, hoặc dùngbút lông thấm nước chuyển rầy sang
Đối với rầy tuổi 4, 5, trưởng thành: lúc này rầy bò nhanh hơn và nhảy xa
Trang 39hơn, trưởng thành có cánh nên để tránh bị thất thoát mẫu thì dùng ống hút đểchuyển rầy sang hộp có thức ăn mới.
Khi rầy xanh hóa trưởng thành, phân biệt đực cái qua bộ phận sinh dụcrồi tiến hành ghép cặp, mỗi hộp 1 cặp để theo dõi khả năng sinh sản và nhịpđiệu đẻ trứng của trưởng thành cái
Chỉ tiêu theo dõi: Thời gian phát dục của từng pha, vòng đời, đời và cácchỉ tiêu sinh sản của rầy xanh trên búp chè trong phòng thí nghiệm
Nguồn ảnh do Vi Thị Hằng chụp
3.4.4 Phương pháp xác định hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực
vật trong phòng trừ rầy xanh (E flavescens), nhện đỏ (O coffeae) và
bọ trĩ (P setiventris) vụ xuân hè 2009 ở Quảng Long – Hải Hà Quảng Ninh
-Các công thức thí nghiệm được thực hiện trên nương chè của Nôngtrường chè Đường Hoa cùng một chân đất, cùng giống chè, cùng mức phân bón vàcùng chế độ chăm sóc, chỉ sai khác yếu tố là sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật
Các công thức được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh RCBvới 3 lần nhắc lại Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 30 m2
* Đối với rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr.):
Các công thức trong thí nghiệm:
CT 1: Actara 25 WG (thuốc sử dụng phổ biến)
CT 2: Trebon 10 EC (thuốc ít độc hơn)
CT 3: Song Mã 24.5 EC (thuốc có nguồn gốc sinh học)
CT 4: Đối chứng (phun nước lã)
- Thời điểm phun thuốc khi mật độ rầy xanh 5 con/khay (Quy phạm 10của TCN 221 – 1995, Bộ NN & PTNT)
* Đối với nhện đỏ (Oligonychus coffeae Nietner):
Trang 40Các công thức trong thí nghiệm:
CT 1: Dandy 15EC (thuốc sử dụng phổ biến)
CT 2: Comite 73EC (thuốc ít độc hơn)
CT 3: Ortus 5EC (thuốc ít độc hơn)
CT 4: Đối chứng (phun nước lã)
- Thời điểm phun thuốc khi mật độ nhện 4-6 con/lá (Quy phạm 10 củaTCN 221 – 1995, Bộ NN & PTNT)
* Đối với bọ trĩ (Physothrips setiventris Bagnall):
Các công thức trong thí nghiệm:
CT 1: Actara 25WG (thuốc sử dụng phổ biến)
CT 2: Acelant 4EC (thuốc ít độc hơn)
CT 3: Song Mã 24 EC (thuốc có nguồn gốc sinh học)
CT 4: Đối chứng (phun nước lã)
- Thời điểm phun thuốc khi mật độ điều tra bọ trĩ là 1-2 con/búp (Quyphạm 10 của TCN 221 – 1995, Bộ NN & PTNT)
Chỉ tiêu theo dõi: Hiệu lực thuốc bảo vệ thực vật (%) sau phun 1, 3, 5, 7ngày theo công thức Henderson- Tilton
3.4.5 Phương pháp bảo quản mẫu
Những mẫu sâu non, trưởng thành thu được bỏ đói để chúng bài tiết hết,chần qua nước sôi rồi bảo quản trong cồn 700 Riêng trưởng thành bộ cánh vẩythì giữ mẫu khô, tránh làm nát cánh Đối với ong ký sinh phải giữ mẫu ở cồn
900 để tránh làm xoăn cánh, gây khó khăn trong việc phân định loài Giữ chomẫu không bị mất màu hoặc gãy cánh, gãy chân ảnh hưởng đến việc phân loại,giám định tên khoa học sau này