giải pháp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị trường Nhật Bản
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay nghành thuỷ sản nói chung và xuất khẩu thuỷ sản nói riêng
là ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta Ngành thuỷ sản ngoài việc cung cấpnhững sản phẩm thực phẩm quý cho tiêu dùng của dân cư Cung cấpnguyên liệu cho phát triển một số ngành khác mà còn tham gia vào xuấtkhẩu thu ngoại tệ cho đất nước Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam đứng thứmười về kim ngạch xuất khẩu trên thế giới đóng góp 10% vào GDP của đấtnước Hơn nữa còn xây dựng được quan hệ hợp tác với hơn 130 nước trênthế giới đồng thời giải quyết công ăn việc làm có hàng triệu lao động Xuấtkhẩu thuỷ sản có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân,góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy hợp tác thương mại pháttriển
Nhật Bản được coi là thị trường lớn nhất trong các loại thị trườngxuất khẩu của thuỷ sản Việt Nam Song thị trường này đang có xu hướnggiảm do chúng ta không cạnh tranh được với các nước xuất khẩu kháctrong khu vực như: Thái Lan, Trung Quốc, Inđônêxia…Vì vậy tôi chọn đềtài “giải pháp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị trường Nhật Bản” cho
đề án môn học của mình với mục đích nghiên cứu về thị trường Nhật Bản
và tìm ra những giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản của nước ta sang thịtrường Nhật Bản
Trang 2Phần I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÀNH THỦY SẢN VÀ
XUẤT KHẨU THỦY SẢN
1.1 Vai trò vị trí của ngành thuỷ sản
Đối với hầu hết các nước ngành thuỷ sản có vai trò quan trọng trongnền kinh tế, đặc biệt đối với những nước có vùng biển và vùng nước nội địaphong phú như nước ta Với hơn 3200 km bở biển có nhiều hồ và sông suốitrong đất liền phát triển ngành thuỷ sản có vị trí quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân
1.1.1 Ngành thuỷ sản cung cấp những sản phẩm thực phẩm quý cho tiêu dùng dân cư, cung cấp nguyên liệu cho phát triển một số ngành khác.
Theo các kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về dinh dưỡng đãkhẳng định hầu hết các loại thuỷ sản đều là loại thực phẩm giàu đạm, dễtiêu hoá, phù hợp với sinh lý sinh dưỡng mọi lứa tuổi Càng ngày thuỷ sảncàng được tin tưởng như một loại thực phẩm ít gây bệnh tật (tim mạch,béophì, ung thư…) và ít chịu ảnh hưởng của ô nhiễm hơn các loại thực phẩmkhác Xét về thành phần dinh dưỡng cho thấy: so với các loại thịt, các loạithực phẩm thuỷ sản có chứa ít chất mỡ hơn, nhiều chất khoáng và chất đạmcũng khá cao Theo thống kê thời kỳ 1995 đến 1997 tổng sản lượng thuỷsản thế giới đạt bình quân mỗi năm đạt 119,4 triệu tấn Phần sản lượngkhông được làm thực phẩm cho người là 29,23 triệu tấn Với số dân 5,74 tỉngười mức tiêu thụ thuỷ sản tính bình quân đầu người mỗi năm ở các nướccông nghiệp là 28,4kg, ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi là 10,2kg và ởcác nước có thu nhập thấp thiếu thực phẩm là 13,1kg/người/năm Con sốtrên ở các nước láng giềng với nước ta như Hồng Kông 56,6kg,Malaysia55,7kg,Hàn Quốc 51,2kg….Việt Nam 16,9kg và thấp nhất Lào 8,9kg
Trang 3Ngành thuỷ sản cung cấp một phần thức ăn cho chăn nuôi đặc biệt làchế biến thức ăn chăn nuôi công nghiệp Bột cá và các phế phẩm phụ phẩmthuỷ sản chế biến là thức ăn giàu đạm, được sử dụng làm thức ăn hoặc chếbiến thức ăn phục vụ chăn nuôi gia súc gia cầm.
Ngành thuỷ sản cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chếbiến và một số ngành công nghiệp khác.nguồn nguyên liệu cung cấp chocông nghiệp chế biến gồm tôm cá nhuyễn thể,rong biển….Các nguyên liệuthuỷ sản còn được sử dụng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp dượcphẩm, mỹ nghệ
1.1.2 Ngành thuỷ sản phát triển sẽ có đóng góp quan trọng và tăng trưởng của toàn ngành nông lâm ngư nghiệp nói chung.
Ngành thuỷ sản là ngành kinh tế có khả năng tạo ra nhiều giá trị giatăng.vì vậy phát triển mạnh ngành thuỷ sản đặc biệt là công nghiệp chếbiến thuỷ sản sẽ góp phần thúc đẩy tốc đọ tăng trưởng của toàn ngành nôngnghiệp
Trong những năm qua tỷ trọng đóng góp của khu vực nông lâm thuỷsản vào tốc độ tăng trưởng chung có xu hướng giảm dần và hiện chỉ còntrên dưới 10% Nguyên nhân cơ bản là tỉ trọng của nông lâm thuỷ sản vàoGDP giảm từ 24,53%(2000) đến 21,65% trong 9 tháng năm 2003 tỷ trọngđóng góp vào tăng trưởng của các khu vực và các ngành Đây là xu hướngphù hợp với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.Trong khi đó tỷ trọng đóng góp vào tăng trưởng của ngành thuỷ sản lạităng lên trong mấy năm gần đây Đó là kết quả của việc chuyển dịch cơ cấukinh tế trong khu vực nông lâm thuỷ sản theo xu hướng tiến bộ để khai thác
có hiệu quả thế mạnh mặt mặt nước và nguồn lợi thuỷ sản ở nước ta
1.1.3 Tham gia vào xuất khẩu thu ngoại tệ cho đất nước.
Trong những năm qua ngàn thuỷ sản nước ta đã từng bước phát triển
và có đóng góp quan trọng vào hoạt động xuất khẩu của đất nước Năm
Trang 41980 sản lượng thuỷ sản cả nước đạt 558.66 ngàn tấn trong đó xuất khẩu2.72 ngàn tấn đạt giá trị kim ngạch 11.3 triệu USD đến 2001 con số tương
tự đạt 2.226,9 ngàn tấn (tăng gần 4 lần), xuất khẩu là 358,833 ngàn tấn(tăng gần 132 lần) Đặc biệt năm 2003 mặc dù ngành thuỷ sản nước ta phảiđối mặt với những diễn biến phức tạp của thị trường thế giới nhưng giá trịkim ngạch vẫn đạt 2.3 tỷ USD, trong đó giá trị xuất khẩu tôm trên 1 tỷUSD đã khẳng định vị trí xuất khẩu tôm trên thế giới của nước ta Chúng ta
đã thâm nhập được vào các thị trường khó tính EU, Mỹ,Nhật…hiện naysản phẩm thuỷ sản đã xuất khẩu được xuất khẩu trên 75 nước và vùng lãnh
thổ
Đầu năm 2008 vừa qua Việt Nam được công nhận đứng trong tốp 10nước có sản lượng xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, với tổng kim ngạch
đạt tới 3,75 tỷ đô-la Mỹ, tăng 25% so với cùng kỳ năm trước Nếu như
năm 2002, thủy sản xuất khẩu của cả nước mới chỉ có mặt ở thị trường của
60 quốc gia và vùng lãnh thổ thì giờ đây đã được hiện diện trên 130 quốcgia và vùng lãnh thổ, khẳng định vị trí của thương hiệu thủy sản Việt Nam.Đồng thời, sản phẩm thủy sản xuất khẩu cũng đa dạng, nhiều chủng loạihàng hóa hơn trước gồm các sản phẩm đông lạnh, sản phẩm chế biến sẵn,hàng chục sản phẩm tôm các loại, vài chục sản phẩm cá da trơn, cá đặcsản Đã có thời kỳ nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của nước taphải điêu đứng vì các vụ kiện chống phá giá, các vụ “phản hồi” về chấtlượng sản phẩm, nhiều dư lượng thuốc kháng sinh Hiện nay tình trạng đó
đã được cải thiện rõ rệt do công tác quản lý, áp dụng khoa học kỹ thuật vàxúc tiến thương mại, đấu tranh trên thương trường quốc tế tạo ra Các yếu
tố này đã góp phần to lớn trong cục diện thương trường xuất khẩu thủy sảntrong giai đoạn vừa qua
Trang 51.1.4 Phát triển ngành thuỷ sản góp phần vào phát triển kinh
tế xã hội đất nước.
Đối với nước ta những địa phận thuộc duyên hải trung bộ của tâynam bộ phát triển thuỷ sản là con đường làm giàu của các chủ trang trạinuôi trồng thuỷ sản, các chủ tàu đánh cá Ở các địa phận không có tiềmnăng về biển thì phát triển nuôi trồng thuỷ sản là chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nhà nước NT cho hiệu quả cao Ở vùng sâu vùng xa vùng nghèo thì pháttriển nuôi trồng ở ao hồ sông suối góp phần tạo thêm việc làm, tăng thunhập đồng thời góp phần trực tiếp cải thiện dinh dưỡng bữa ăn tại chỗ, làmphát triển sức khoẻ của người dân Ngoài ra phát triển các trạm tàu khaithác thuỷ sản xa bờ còn góp phần tăng cường an ninh quốc phòng cho vùngbiển , đảo của Tổ quốc Đối với một số vùng biển, vùng ngập nước haytrong đất liền thì phát triển thuỷ sán còn góp phần vào phát triển ngành dulịch mà đặc biệt là du lịch sinh thái văn hoá
1.2 Sự cần thiết phải xuất khẩu thuỷ sản
Với hơn 3200 Km bờ biển và hệ thống sông ngòi dày đặc với sảnlượng khai thác mõi năm khoảng 1.5 triệu tấn.ngoài ra với khoảng 1.7 triệu
ha diện tích mặt nước có khả năng nuôi trồng thuỷ sản với nhiều loại có giátrị kinh tế cao: cá da trơn ,tôm,mực…
Theo số liệu của tổng cục thống kê GDP của ngành thuỷ sản giaiđoạn 1995 đến 2003 tăng từ 6664 tỷ đồng lên 24125 tỷ đồng Trong đókhai thácgiữ vai trò quan trọng với tốc đọ tăng bình quân 7.7 %.trong 10năm gần đây VN có tiềm năng phát triển ,nuôi trồng thuỷ sản ở khắp mọimiền đất nước cả về nuôi nước biển ,nước lợ,nước ngọt Đến năm 2007 là
1008000 ha diện tích nuôi trồng đem lại sản lưọng 2085200 tấn trong đó cá
là 1494800 tấn và tôm là 386000 tấn
Từ đầu những năm 1980, ngành thuỷ sản đã đi đầu trong cả nước về
mở rộng quan hệ thương mại sang những khu vực thị trường mới trên thế
Trang 6giới Năm 1996 ngành thuỷ sản mới chỉ có quan hệ thương mại với 30nước trong vùng lãnh thổ đến năm 2001 quan hệ này đã được mở rộng ra
60 nước và vùng lãnh thổ năm 2003 là 75 nước và vùng lãnh thổ trên thếgiới Đối với các nước và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại ngành thuỷsản đã tạo dựng đuợc uy tín lớn, những nước công nghiệp phát triển như
Mỹ, EU, Nhật… đã chấp nhận làm bạn hàng lớn và thường xuyên củangành Năm 2003 xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào bốn thị trường chính là
Mỹ, Nhật Bản, EU và Trung Quốc chiếm lớn hơn 75% tổng giá trị kimngạch, phần còn lại trải rộng ra gần 60 nước trong vùng lãnh thổ Có thểthấy rằng sự mở rộng mối quan hệ thương mại quốc tế của ngành thuỷ sản
đã góp phần mở ra những con đường mới và mang lại nhiều bài học kinhnghiệm để nền kinh tế Việt Nam hội hập ngày càng sâu rộng hơn vào khuvực và thế giới
Ngành thuỷ sản với sự phát triển nhanh chóng của mình đã tạo rahàng loạt việc làm và thu hút lực lượng đông đảo tham gia vào các côngđoạn sản xuất, làm giảm sức ép của nạn thiếu việc làm trên phạm vi cảnước Số lao động của ngành thuỷ sản tăng liên tục từ ,12 triệu người(1996) đến 3,8 triệu người (2001).Như vậy mỗi năm tăng thêm hơn 100nghìn người.Tỉ lệ tăng bình quân số lao động thường xuyên của ngành thuỷsản la 2,4%/năm cao hơn mức bình quân cả nước là 2%/năm
Trang 7Phần II: THỰC TRẠNG NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM
2.1 Thực trạng đánh bắt thuỷ sản Việt Nam
2.1.1 Khai thác hải sản.
*Quá trình phát triển và trang thiết bị tàu thuyền ở Việt Nam chúng
ta thì khai thác hải sản là chủ yếu Tuy nhiên ngành công nghiệp khai tháccủa nước ta phát triển chậm cả về trang bị cơ khí và công suất tàu thuyền.Mặc dù có nhiều khó khăn nhưng sản lượng khai thác thuỷ sản vẫn giữ vaitrò quan trọng đảm bảo an ninh thực phẩm trong nước đáp ứng được nhucầu xuất khẩu và tạo điều kiện cho ngành chế biến thuỷ sản lấy nguyên liệu
từ khai thác phát triển Ngoài nguồn lợi kinh tế khai thác hải sản còn gópphần đảm bảo an ninh chủ quyền trên biển của đất nước Dưới đây là bảng
số liệu thống kê về sản lượng khai thác thuỷ hải sản
Bảng 1: Sản lượng thuỷ sản khai thác phân theo ngành hoạt động
1975 đến 1980 là thời kì rất khó khăn, đến năm 1980 cả nước mới chỉ có
Trang 839500 tàu thuyền đánh cá trong đó thuyền máy có 28021 chiếc với tổngcông suất 453413 Cv dụng cụ khai thác còn thô sơ và sản lượng khai thácthấp Trong thời gian 15 năm tiếp theo(1981- 1985) công nghiệp khai thácthuỷ sản đãcó bước chuyển biến mạnh mẽ, đảm bảo nguyên liệu cung cấpcho ngành chế biến thủy sản cả nước, thu hút hàng chục ngàn lao động vàongành chế biến, giải quyết được một lượng lớn việc làm trang bị tàu thuyền
và nghề nghệp khai thác cũng được mở rộng Tốc độ cơ giới hoá nhanh chủyếu hướng vào các tàu cỡ vừa và nhỏ Tổng sản lượng khai thác trong thời
kì này tăng nhanh nhưng hiệu suất kinh tế đã bắt đầu giảm sút Đến giaiđoạn 1985-1995 thể hiện vô cùng rõ nét sự suy yếu nguồn lợi hải sản ven
bờ do sự phát triển quá nhiều tàu thuyền cỡ vừa và nhỏ Vấn đề đặt ra ở đây
là phải bảo vệ nguồn lợi hải sản bắt đầu tránh làm cạn kiệt tài nguyên.Chính phủ đã phải ra chủ trương mới là đình chỉ phát triển các loại tàuthuỳên nhỏ, giảm cường độ khai thác ven bờ đồng thời khuyến khích cácloại tàu khai thác xa bờ Sự biến đổi này kéo theo sự ra đời của ngành đóngtàu cá xa bờ và các trang bị hàng hải phát triển Các trang bị hàng hải vàviễn thông dùng cho nghề cá như máy dò cá máy định vị ,bộ đàm….vì thếcho đến nay tàu đánh cả nước ta đã bao quát được hầu hết các vùng biểnkhông chỉ của mình thậm chí có thển vươn tới cả vùng khai thác viễndương thuộc vùng biển quốc tế Trong các địa phương trong cả nước thìvùng duyên hải Nam Trung Bộ là vùng có ngành khai thác tuỷ sản pháttriển với số lượng tàu thuyền năm 2007 là 7797 chiếc, tiếp đến là đồngbằng sông cửu long 5566 chiếc…
Trang 9Đông Bắc 10,4 20,7 22,5 22,6 22,6 22,3 22,3Bắc trung
cơ bản của phát triển ngành Trong giai đoạn đổi mới và điều quan trọng làđáp ứng được thực tế đòi hỏi sản xuất trên hầu hết các địa phương trongphạm vi cả nước
Những vấn đề nảy sinh và phương hướng giải quyết
Tình trạng suy giảm nguồn lợi hải sản Việt Nam đã thể hiện rõ vàonhững năm 90 của thế kỷ XX Áp lực gia tăng dân số đói nghèo dẫn đếntình trạng khai thác quá mức thậm chí sử dụng nhiều hình thức khai thác
có tính huỷ diệt nguồn lợi như chất nổ,xung điện … Ngoài ra nhiều vùngbiển còn bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi dầu, chất thải công nghiệp và thuốcbảo vệ thực vật Để khắc phục tình trạng này Nhà Nước đã tập chunghoàn thiện hệ thống luật pháp và nâng cao ý thức của người dân Tiêu biểulà: “pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản” được ban hànhngày 25/1/1989 và “quy chế khai thác và quản lý nguồn lợi thuỷ sản trêncác ngư trường trọng điểm” Ngày 11/9/1993 nhằm từng bước chấn chỉnhhoạt động khai thác trên biển Luật Thuỷ sản ra đời và có hiệu lực từ1/7/2004 là sự kiện có tầm quan trọng đặc biệt với ngành thuỷ sản nói
Trang 10chung (khai thác Thuỷ Sản nói riêng bảo vệ nguồn lợi Thuỷ Sản là nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu trong đó tái tạo nguồn lợi Thuỷ Sản là vấn đề cầnđặc biệt quan trọng Do đó luật đã quy định mức sản lượng cho phép khaithác hàng năm chỉ bằng 40-50% của trữ lượng nguồn lợi Đồng thời cóthể chủ động thả thêm giống Thuỷ Sản vào các vùng nước tự nhiên làmgiàu nguồn lợi tạo ra nơi cư trú, sinh sản và phát triển thuận lợi cho cácloài Thuỷ Sản Khuyến khích nuôi trồng Thuỷ Sản với phương châm “lấynuôi bù đánh”
2.1.2 Đánh bắt thuỷ sản nội địa
Nước ta có diện tích mặt nước ngọt lớn trong các hồ, hồ chứa sôngngòi Theo truyền thống các thuỷ vực nước ngọt cung cấp sinh kế cho mộtphần dân cư nông thôn sống bằng nghề khai thác thuỷ sản nước ngọt Hiệnnay, các mặt nước ngọt vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấpthực phẩm tươi tại chỗ cho các vùng miền nhất định như Tây Nguyên, một
số vùng phía Bắc dọc theo hệ thống sông Hồng và một số hồ chứa Các loạithuỷ sản đánh bắt từ nước ngọt được người tiêu dùng ưa chuộng hơn cả là
cá nheo, trê, chép…
Trong những năm vừa qua đã có những thay đổi trong các biện phápquản lý khai thác thuỷ sản nước ngọt Ở hầu hết các vùng nước ngọt đềukhông cho khai thác tự do nữa, quyền sử dụng mặt nước dần dần dược giaocho các cá nhân hay tổ chức khác nhau Do đó khai thác thuỷ sản nước ngọtcũng được chuyển thành nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt Dân khai thác thuỷsản nước ngọt chủ yếu sử dụng lao động gia đình là chính, chuyến khaithác thường chỉ kéo dài trong vòng 1 ngày và sản lượng thấp từ vài kg đếnvài trăm kg Chủ yếu là được bán lẻ trực tiếp cho người dân địa phương.Năm 2000 sản lượng khai thác thuỷ sản nội địa đạt 199500 tấn Phươngtiện khai thác chủ yếu là các tàu thuyền nhỏ phương pháp còn thô sơ: kéolưới, kéo rê, câu…
2.2 Thực trạng nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam
Trang 11Hiện nay nuôi trồng thuỷ sản là ngành khá phát triển ở nước ta với cácloài chính là tôm he, tôm càng xanh, tôm sú, cá basa, cá tra và một số loàiđặc sản khác Tuy nhiên chủ yếu vẫn là tôm và cá da trơn để phục vụ choviệc xuất khẩu.
2.2.1 Diện tích nuôi trồng
Nuôi trồng thuỷ sản phát triển rộng khắp đất nước và tương đối phứctạp so với các ngành sản xuất vật chất khác Ở đâu có nước là ở đó có nuôitrồng thuỷ sản Vì vậy nuôi trồng thuỷ sản phát trển rộng khắp tại mọị vùngđịa lý từ từ miền núi đến vùng biển Thuỷ sản nuôi đa dạng mang tính địa
lý rõ rệt Vì số lượng và chất lượng thuỷ vực khác nhau đồng thời các loàithuỷ sản rất khó quan sát trực tiếp khi nuôi nên độ rủi ro là rất cao
Ở nước ta nuôi trồng thuỷ sản còn là một nghề truyền thống nhất làvùng đông bằng bắc bộ, hầu như nhà nào cũng có ao thả cá phục vụ đờisống gia đình và một phần nhỏ để bán cho người dân xung quanh Người ta
đã sớm nhận ra giá trị lợi ích của nuôi trồng thuỷ sản song ngành nuôitrồng thuỷ sản lại đi lên từ xuát phát điểm thấp: nhỏ bé, manh mún và phântán
Trong mấy năm gần đây diện tích nuôi trồng thuỷ sản liên tục tănglên trong các năm, năm 2000 mới chỉ là 641900 ha nhưng đến năm 2006 đã
Trang 12Nuôi tôm 509.6 574.9 598.0 528.3 612.1 625.6Nuôi hỗn hợp
Trách nhiệm của tổ chức, đơn vị thuộc Bộ Thuỷ sản
Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản có trách nhiệm :
Trang 13- Chủ trì phối hợp với Vụ Pháp chế xây dựng Quy chế quản lý nghề
- Thực hiện tốt các hoạt động liên quan đến nghề cá nội địa thuộc Dự
án Hợp phần Tăng cường quản lý khai thác thuỷ sản (SCAFI)
Vụ Nuôi trồng Thuỷ sản có trách nhiệm :
Hướng dẫn địa phương thực hiện nuôi trồng thuỷ sản bền vững, không
sử dụng các hoá chất, thức ăn nuôi trồng thuỷ sản mà Bộ Thuỷ sản quyđịnh cấm sử dụng; bảo vệ môi trường vùng nước nuôi trồng thuỷ sản; pháttriển nuôi trồng các đối tượng thuỷ sản có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao
Vụ Khoa học Công nghệ có trách nhiệm :
Triển khai các nhiệm vụ điều tra, nghiên cứu phục vụ phát triển, quản
lý nghề cá nội địa; nghiên cứu các đối tượng có nguy cơ tuyệt chủng, kíchthước nhỏ nhất cho phép khai thác đối với một số loài chưa được quy định,khu bảo tồn vùng nước nội địa
Thanh tra Bộ có trách nhiệm :
Phối hợp và Hướng dẫn Thanh tra Thuỷ sản địa phương thực hiện tốtcông tác tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vựckhai thác, bảo vệ, môi trường thuỷ sản
Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia có trách nhiệm :
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học kỹthuật, chuyển giao nhanh các kỹ thuật, công nghệ mới về nuôi trồng thuỷsản, xử lý môi trường để người dân đưa vào cuộc sống nhằm khai thác vàphát triển nguồn lợi thuỷ sản nội địa bền vững
Các Viện nghiên cứu thuỷ sản thuộc Bộ có trách nhiệm :
Trang 14Triển khai các đề tài, dự án nghiên cứu, chuyển giao giống mới, giốngquí hiếm cần được bảo tồn; sử dụng chế phẩm sinh học trong xử lý môitrường, nuôi tròng thuỷ sản; các loại thuốc phòng bệnh và kỹ thuật thânthiện với môi trường cho các loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, các loàithuỷ sản quí hiếm.
Sở Thuỷ sản, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có quản lý nhànước về thuỷ sản có trách nhiệm :
Tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 01/1998/CT-TTg ngày 02tháng 01 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc nghiêm cấm sửdụng chất nổ, xung điện, chất độc để khai thác thuỷ sản
Tham mưu cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quy chế quản lývùng khai thác thuỷ sản ở sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiênkhác thuộc phạm vi quản lý của tỉnh; quy hoạch các khu vực khai thác,nuôi trồng thuỷ sản; chỉ đạo các đơn vị chức năng thực hiện nhanh cácthủ tục về cấp quyền sử dụng đất, mặt nước cho nhân dân yên tâm đầu
tư lâu dài, phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở vùng nước nội địa
Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên sông, hồ, đầm, phá vàcác vùng nước tự nhiên nội địa và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnhvực thuỷ sản đối với các hành vi khai thác thuỷ sản trái phép, huỷ hoạinguồn lợi và môi trường thuỷ sản Xử phạt nghiêm những hành vi sửdụng thuốc nổ, xung điện, hoá chất để đánh bắt thuỷ sản; đánh bắt cácloại cá con chưa trưởng thành
Tăng cường quản lý việc nuôi lồng bè trên các sông, hồ, đầm phákhông để xảy ra ô nhiễm môi trường, cần có biện pháp quản lý, quyhoạch khu vực nuôi hợp lý, không làm cản trở giao thông đường thuỷnội địa, ô nhiễm môi trường
Tổ chức thực thi việc cấp Giấy phép khai thác thuỷ sản theo thẩmquyền đối với cả các loại tàu cá thuộc diện phải có giấy phép khai thác
Trang 15thuỷ sản; và quản lý tốt các tàu cá khai thác thuỷ sản trên sông, hồ, đầm,phá.
Tăng cường tuyên truyền, tập huấn cho ngư dân hiểu biết các kiếnthức về pháp luật và kỹ thuật về khai thác, nuôi trồng, bảo vệ nguồn lợithuỷ sản nội địa
Quản lý nghề cá nội địa với sự tham gia của cộng đồng; phải gắntrách nhiệm cuả người dân trong việc khai thác, bảo vệ nguồn lợi thuỷsản và bảo vệ môi trường Hướng dẫn người dân thành lập Hợp tác xã,
tổ nhóm, hội và giao phối hợp với chính quyền địa phương quản lý việckhai thác, nuôi trồn thuỷ sản trên sông, hồ, đầm, phá
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có quản lý nhà nước về thuỷ sảnchịu trách nhiệm thi hành Chỉ thị này
Trang 16Qua bảng số liệu ta thấy sản lượng nuôi trồng có xu hướng tăng theocác năm Đó là kết quả của việc thực hiện chính sách của nhà nước về dồnđiền đổi thửa, phát triển theo xu hướng sản xuất hàng hóa lớn và lấy nuôi
bù đánh để bảo vệ nguồn lợi tự nhiên, hơn nữa góp phần nâng cao thu nhậpcho nhân dân
2.3 Thực trạng bảo quản chế biến đóng gói bao bì của thuỷ sản Việt Nam.
Chế biến thuỷ sản là một ngành chế biến quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân Với một đất nước có nhiều sản lượng thuỷ sản đa dạng, nguồnnguyên liệu phong phú Chế biến thuỷ sản tạo ra những sản phẩm có giá trịđem lại nguồ thu lớn cho Ngân Sách Nhà Nước đặc biệt là trong xuất khẩu.Phát triển Chế biến thuỷ sản đi trước một bước như như ở các nước côngnghiệp sẽ sử dụng được tối ưu nguồn nguyên liệu thuỷ sản, giảm thất thoátsau khi thu hoạch (vì thuỷ sản là loại nông sản nhanh hỏng) Đồng thời vừatiết kiệm nguyên liệu không phải bán đi sản phẩm thô, vừa có điều kiệnnâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường Chất lượng nguyên liệu hải sản là một trong những vấn đề đang làmđau đầu các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu Trong khi thịtrường xuất khẩu thủy sản đòi hỏi chất lượng ngày càng khắt khe hơn, bàcon ngư dân cần bắt tay với các doanh nghiệp chế biến cải tiến phươngthức bảo quản thủy sản
Ngư dân nước ta thường sử dụng phương pháp bảo quản hải sảnbằng nước đá lạnh với hai hình thức: đá xay tiếp xúc trực tiếp với nguyênliệu thuỷ sản (ướp một lớp đá và một lớp nguyên liệu), hoặc cho nguyênliệu thủy sản vào bao PE rồi ướp đá Với phương pháp bảo quản như trên,chất lượng nguyên liệu chỉ có thể duy trì được từ 12 - 15 ngày Trong khithực tế, các tàu khai thác xa bờ khoảng 22-30 ngày mới gửi nguyên liệuvào bờ một lần
Trang 17Bảo quản không đúng cách làm cho nguyên liệu thủy sản bị biến đổi
và giảm chất lượng rất nhiều Các chuyên gia về thủy sản cho rằng, quátrình phân giải đã làm giảm vị ngọt của thịt cá, đồng thời tạo ra các chất:NH3, Indol, H2S , SO2, Seatol không những không có giá trị dinh dưỡng,
mà còn làm cho thủy sản hôi thối và gây độc Ngoài ra, trong quá trình biếnđổi, nguyên liệu cũng bị giảm trọng lượng đáng kể do lượng nước ngấm rangoài Theo kinh nghiệm, trọng lượng hao hụt này khoảng 3-7% trọnglượng ban đầu, tùy theo mức độ biến đổi
Chất lượng nguyên liệu thủy sản kém gây ảnh hưởng lớn đến giá trịxuất khẩu Đặc biệt, đối với các thị trường khó tính như EU, Bắc Mỹ, NhậtBản đòi hỏi rất khắt khe về chất lượng Sản phẩm không những phải đápứng các tiêu chuẩn về cảm quan mà cả về thành phần, chất lượng nguyênliệu ban đầu Do đó, để hàng thủy sản xuất khẩu thuận lợi vào các thịtrường khó tính nói trên, ngay từ bây giờ bà con ngư dân cần thay đổiphương pháp bảo quản và tổ chức vận chuyển thích hợp
Hiện nay, một số nước sử dụng phương pháp nhiệt độ thấp bằngnước đá lạnh, nước biển lạnh tuần hoàn, hoặc điều chỉnh khí, kết hợp vớihóa chất, chiếu xạ trong đó, phương pháp phổ biến nhất là bảo quản ởnhiệt độ thấp Sau khi khai thác, nguyên liệu được làm lạnh đông nhanh ởnhiệt độ -250C, rồi bảo quản dưới -180C Tuy nhiên, phương pháp bảoquản ở nhiệt độ thấp chỉ áp dụng ở các nước tiến tiến với những tàu đánhbắt lớn và hiện đại, được trang bị các thiết bị lạnh đạt tiêu chuẩn Đa số cáctàu đánh bắt ở Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng do khả năngtài chính có hạn nên khó có thể trang bị đầy đủ các phương tiện bảo quản.Hơn nữa tại các bến bãi thu mua, hải sản cũng không được xử lý và bảoquản đúng quy trình, thời gian thu mua kéo dài dẫn đến chất lượng nguyênliệu giảm trước khi tới nhà máy chế biến và người tiêu dùng
Trang 18Trong 10 năm vừa qua, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam có bướcphát triển nhanh, đầy ấn tượng Từ chỗ không có tên trong các nước xuấtkhẩu thủy sản, đến nay Việt Nam đã đứng vào hàng 10 nước có giá trị kimngạch lớn nhất thế giới Trong thành tích đó, các nhà máy chế biến thủy sảnđông lạnh có đóng góp quan trọng Đến nay theo thống kê chưa đầy đủ, cảnước có 296 doanh nghiệp với trên 362 cơ sở chế biến đông lạnh có quy
mô sản xuất công nghiệp
Hệ thống các cơ sở chế biến phân bố chủ yếu tại các tỉnh, thành phốven biển Nơi có ít nhất là 1 và nơi nhiều nhất là 74 Các địa phương không
có biển cũng có nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh như Hà Nội, ĐồngNai, An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang và Bình Dương Côngsuất cấp đông tại các nhà máy được phân bố theo vùng như miền Bắc8,5%; miền Trung 25,8%; miền Đông 23,3%; đồng bằng sông Cửu Long42,3% Do nguồn nguyên liệu phân bố không đều và mật độ các nhà máychế biến từng khu vực cũng khác nhau nên mức khai thác công suất thiết bị
Vấn đề thứ hai là nguồn nguyên liệu cho chế biến không đảm bảo độtươi và không đạt yêu cầu sạch Điều này bắt nguồn từ trình độ hiểu biếtcủa người sản xuất nguyên liệu trong bảo quản, trong ý thức tôn trọng cácquy định về vệ sinh an toàn thực phẩm và trong sử dụng hóa chất, khángsinh
Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa của tình trạng trên là do việc tổ chức vàquản lý sản xuất thủy sản còn khó khăn Việc phát triển nuôi ồ ạt các đốitượng như tôm, cá tra, cá ba sa đã dẫn đến tình trạng không kiểm soát đượccon giống, thức ăn, môi trường và sử dụng các hoá chất Và tình trạng cácnước mua hàng đưa ra cảnh báo chất lượng hàng thủy sản Việt Nam hoặccác thông tin có một số lô hàng bị trả, huỷ đều là những tín hiệu xấu, cầnsớm có giải pháp loại trừ
Trang 19Bất ổn thứ 3 là khả năng thu hút lao động Hiện tại ở nhiều địaphương việc thu hút lao động làm việc trong các cơ sở chế biến thủy sản cảlao động phổ thông lẫn lao động kỹ thuật – quản lý không còn dễ dàng nhưnhững năm 1980 – 1990 của thế kỷ trước Lao động có tay nghề bị phân tán
do có nhiều nhà máy ra đời
Bất ổn thứ 4 là tổ chức tiếp thị và bán hàng Nhiều doanh nghiệp cóquy mô sản xuất nhỏ, chủng loại hàng hóa nhiều nhưng mỗi thứ lại khôngđáng bao nhiêu Do nguồn nguyên liệu không ổn định nên khả năng giaohàng không thật chắc chắn Điều này khiến cho việc tiếp thị bán hàng gặpkhó khăn, ít doanh nghiệp tiếp cận được với các nhà mua hàng cỡ lớn, hànghóa chưa được đưa trực tiếp vào chuỗi phân phối ở các nước nhập khẩu Việc xây dựng thương hiệu mới ở giai đoạn đầu, thị trường trong nướcchưa được coi trọng và tổ chức có bài bản
Để phát triển hiệu quả sản xuất và đầu tư, trong thời gian tới cần tạocho được sự liên kết dọc trong sản xuất nguyên liệu, ưu tiên cho các đốitượng tôm, cá tra, basa Đối với các nhà máy chế biến đông lạnh phải thựchiện việc tổ chức sản xuất theo ngành hàng, nhóm sản phẩm Đối với nănglực sản xuất, ưu tiên đầu tư chiều sâu cho các dạng sản phẩm, với côngnghệ chế biến, hạn chế phát triển năng lực chế biến theo chiều rộng Điềunày có nghĩa là cần nghiên cứu chế biến các mặt hàng sử dụng ít nguyênliệu chế biến hàng giá trị gia tăng, hàng có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, từnguyên liệu sạch, nguyên liệu nuôi sinh thái Đồng bộ các công nghệ vàdây chuyền chế biến bằng việc đầu tư cơ giới hóa cho các khâu nhiều laođộng, khâu nặng nhọc như máy phân cỡ, rửa, các khâu vận chuyển trongdây chuyền sản xuất, máy bóc vỏ, lạng da Đồng bộ công nghệ còn là việcđầu tư các thiết bị hấp, rán, luộc, sấy, trộn, nghiền với tính năng hao hụtthấp, tiết kiệm năng lượng Những đầu tư này làm thay đổi điều kiện lao
Trang 20phần giảm lao động trên đơn vị sản phẩm Phát triển các liên kết và hợp tácquốc tế nhằm xây dựng các kênh phân phối sản phẩm tại các thị trường tiêuthụ chính Thông qua các hình thức liên kết và hợp tác thu hút nguồnnguyên liệu nhằm khai thác hợp lý năng lực thiết bị, nâng cao tay nghề tănghiệu quả sản xuất và đầu tư.
Phần III: THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN
3.1 Mặt hàng ưa chuộng và số lượng nhập khẩu.
Từ đầu năm đến nay Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bảntrên 31500 tấn thuỷ sản đạt kim ngạch 196 triệu USD tăng 8,5% so vớicùng kỳ năm ngoái.Theo hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam(VASEP) Nhật Bản đang là thị trường dẫn đầu cả về giá trị lẫn sản lượngnhập khẩu thuỷ sản Việt Nam