Thu - Chi Ngân Sách Nhà Nước và Ảnh Hưởng Của Ngân Sách Nhà Nước đối với quá trình tăng trưởng pát triển nền kinh tế
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Nói đến quá trình tăng trưởng phát triển nền kinh tế phải kể đến yếu
tố tài chính tiền tệ và an ninh quốc phòng,khoa học kĩ thuật.Và một trong những yếu tố quan trọng trong tài chính tiền tệ đó là vấn đề NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.Ngân sách nhà nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với
sự tồn tại và phát triển nền kinh tế nói chung và bộ máy nhà nước nói riêng.Ngân sách nhà nước giúp mỗi quốc gia đứng vững trên chinh trường quốc tế và nó được ví như xương sống cua mỗi quốc gia.Trong hệ thống tài chính thống nhất,ngân sách nhà nước là khâu tài chính tập trung giữ vị trí chủ đạo.Ngân sách nhà nước cung là khâu tài chính được hình thành sớm nhất,nó ra đời và tồn tại gắn liền với sự ra đời của hệ thống quản lí nhà nước và sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa-tiền tệ.Ngân sách nhà nước hoạt động thông qua cơ chế Thu-Chi của nhà nước,nguồn thu của ngân sách nhà nước chủ yếu từ thuế,phí lệ phí.Và thu từ nền kinh tế chủ yếu là từ thuế,chi ngân sách nhà nước là các khoản chi cho công trình dự án do chính phủ quản lí.Đối với các nước đang phát triển chi cho tăng trưởng phát triển nền kinh tế tương đối cao so với các nước phát triển.Đồng thời nguồn thu
từ tăng trưởng phát triển nền kinh tế có thể thấp hơn các nước đang phát triển
Ngân sách nhà nước là yếu tố quan trọng tác động đến quá trình tăng trưởng phát triển nền kinh tế.Tìm hiều và nghiên cứu nền kinh tế để có tầm nhìn chiến lược để không ngừng tăng trưởng và phát triển một nền kinh tế
ổn định và vững mạnh
Trang 2Chương I TỔNG QUAN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Khái niệm,đặc điểm và nguyên tắc về NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1Khái niệm
Sự ra đời của thể chế Ngân sách nhà nước là kết quả của tiến trình đấu tranh liên tục của giai cấp tư sản đối với nhà nước phong kiến trong giai đoạn đầu phát triển phương thức Tư bản chủ nghĩa để mở rộng đường cho
sự phát triển nền kinh tế thị trường.Giai cấp tư sản đòi hỏi nhà nước phong kiến phải loại bỏ chế độ thuế khóa và chi tiêu công một cách tùy tiện mà thay vào đó là một thể chế đảm bảo cho hoạt động tài chính công minh bạch,có giới hạn và tăng cường tính pháp lý.Có thể nói,sự ra đời Ngân sách nhà nước đã làm thay đổi phương thức quản lý tài chính Nhà Nước.Nước Anh áp dụng thể chế ngân sách nhà nước vào thế kỷ 17 và tiếp đến là Mỹ
và Pháp sau đó mô hình được lan rộng đến các nước khác
Khái niệm Ngân sách nhà nước phản ánh những thể chế được xã hội thiết lập bằng hệ thống pháp luật nhằm mục đích ấn định con số chi tiêu trong một năm mà Nhà nước phải tìm kiếm nguồn tài trợ;đồng thời nhà nước đưa ra quy tắc về kế toán để theo dõi chi tiết và chặt chẽ các khoản chi tiêu của nhà nước với mục đích kiểm soát các khoản chi,tránh được các khoản phí phạm chi tiêu cho các hoạt động không được ghi vào trong ngân sách để sao cho chi tiêu của nhà nước được hợp pháp và có thể được tài trợ bằng nguồn thu ổn định
Ngân sách nhà nước(NSNN)là toàn bộ các khoản thu,chi của nhà nước có thẩm quyền quyết định và dược thực hiện trong một năm để đảm bảo chức năng,nhiệm vụ của Nhà Nước
Năm ngân sách còn gọi là năm tài chính hoặc năm tài khóa,là giai đoạn mà trong đó,dự đoán thu chi tài chính được Quốc hội phê chuẩn và có
Trang 3hiệu lực thi hành.Việc quy định năm ngân sách hoàn toàn là ý định chủ quan của Nhà nước,song nó bắt nguồn từ hai yếu tố cơ bản là:
- Đặc điểm hoạt động của nền kinh tế có liên quan đến nguồn thu của Ngân sách nhà nước
- Đặc điểm hoạt động của cơ quan lập pháp(các kỳ họp của quốc hội,nghi viện để phê chuẩn Ngân Sách Nhà Nước)
Ở Việt Nam,Quốc Hội quyết định dự toán Ngân sách nhà nước,phân
bổ nguồn ngân sách trung ương,phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước.Ngân sách nhà nước gồm Ngân sách trung ương và Ngân sách địa phương.Ngân sách địa phương bao gồm Ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.Ngân sách Nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ,công khai minh bạch,có phân công,phân cấp quản lý,gắn quyền hạn với trách nhiệm
1.1.2 Bản chất Ngân Sách Nhà Nước
Bản chất của Ngân sách nhà nước:là hệ thống những mối quan hệ kinh
tế giữa Nhà nước và xã hội,phát sinh trong quá trình nhà nước huy động và
sử dụng các nguồn tài chính,nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng của nhà nước
Ngân Sách Nhà nước phản ánh các nội dung cơ bản sau:
-Ngân Sách Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực phân phối các nguồn tài chính
-Quyền lực Ngân sách nhà nước thuộc về nhà nước
Nội dung các mối quan hệ này gồm
.Quan hệ kinh tế giữa ngân sách nhà nước và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh,dịch vụ
.Quan hệ kinh tế giữa Ngân sách nhà nước vói các tổ chức tài chính trung gian
.Quan hệ kinh tế giữa Ngân Sách nhà nước và các tổ chức xã hội
.Quan hệ kinnh tế giữa Ngân sách nhà nước và các hộ gia đình
Trang 4.Quan hệ kinh tế giữa ngân sách nhà nước thị trường tài chính.
.Quan hệ kinh tế giữa ngân sách nhà nước với hoạt động tài chính đối ngoại
1.1.3 Thu Ngân Sách Nhà Nước
Đứng trên giác độ nền kinh tế,thu Ngân sách nhà nước chứa đựng các quan hệ phân phối nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị để tập trung một bộ phận tổng sản phẩm quốc dân để hình thành quỹ tiền
tệ tập trung của Nhà Nước
Nét nổi bật của việc thu Ngân sách Nhà nước là,cơ cấu các khoản thu bao giờ cũng gắn với chức năng nhiệm vụ quyền lực chính trị của Nhà Nước.Sự ra đời tồn tại và phát triển của Nhà Nước là điều kiện xuất hiện các khoản thu của Ngân sách Nhà Nước.Ngược lại đến lượt mình,các khoản thu Ngân sách Nhà Nước là tiền đề vật chất không thể thiếu được để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà Nước
Một đặc trưng nữa của thu Ngân sách Nhà Nước là luôn gắn với quá trinh kinh tế và các phạm trù chính trị.Kết quả của quá trình hoạt động kinh
tế và hình thức,phạm vi,mức độ vận động của các phạm trù giá trị là tiền đề quan trọng xuất hiện hệ thống thu Ngân sách Nhà nước.Nhưng chính hệ thống thu Ngân sách Nhà Nước lại là nhân tố quan trọng có ảnh hưởng to lớn đến kết quả của quá trình kinh tế cũng như sự vận động của các phạm trù giá trị
1.1.4 Chi của Ngân sách Nhà Nước
Chi Ngân sách nhà nước là quá trình phân phối,sử dụng quỹ Ngân sách Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà Nước
Thực chất chi Ngân sách Nhà Nước chính là việc cung cấp các phương tiện Tài chính cho nhiệm vụ của nhà nước.Song việc cung cấp này
có những đặc thù riêng:
Trang 5Thứ nhất:chi Ngân sách Nhà nước luôn gắn với nhiệm vụ kinh tế,chính trị,xã hội mà chính phủ phải đảm nhận trong mỗi quốc gia.Mức đô,phạm vi chỉ tiêu Ngân sách Nhà Nước phụ thuộc vào tính chất,nhiệm vụ của chinh phủ trong mỗi thời kỳ.
Thứ hai:tính hiệu quả của các khoản chi Ngân sách Nhà Nước được thể hiện ở tầm vĩ mô và mang tính chất toàn diện cả về hiệu quả kinh tế trực tiếp,hiệu quả về mặt chính trị xã hội,ngoại giao.Chính vì vậy,trong công tác quản lý tài chính một yêu cầu đặt ra là:khi xem xét đánh giá các khoản chi Ngân sách Nhà Nước,cần phải tổng hợp các chỉ tiêu định tính và các chỉ tiêu định hướng,đồng thời phải có quan điểm toàn diện và đánh giá tác động,ảnh hưởng của các khoản chi đó ở tầm vĩ mô
Thứ ba:xét về mặt tính chất,phần lớn các khoản chi Ngân sách Nhà Nước đều là các khoản cấp phát không hoàn trả trực tiếp và mang tinh bao cấp.Chính vì vậy các nhà quản trị tài chính cần phải có sự phân tích,tính toán cẩn thận trên nhiều khía cạnh trước khi đưa ra các quyết định chi tiêu
để tránh đươc những lãng phí không cần thiết và nâng cao hiệu quả Ngân sách Nhà Nước
1.1.5 Đặc điểm của Ngân sách Nhà nước
Thứ nhất:Ngân sách Nhà nước là một bộ phận tài chính đặc biệt bởi lẽ trong Ngân sách nhà nước,các thể chế của nó được thiết lập dựa vào hệ thống pháp luật có liên quan hiến pháp,luật thuế…)nhưng mặt khác,bản thân Ngân sách Nhà Nước cũng là một bộ luât do Quốc Hội quyết định và thông qua hàng năm,mang tính chất áp đặt và bắt buộc các chủ thể kinh tế-
xã hội có liên quan phải tuân thủ
Thứ hai:Ngân sách Nhà nước là một bản dự toán thu chi(yếu tố vật chất).Các cơ quan,đơn vị có trách nhiệm lập Ngân sách Nhà nước và đề ra các thông số quan trọng có liên quan đến chính sách mà Chính phủ phải thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo.Thu,chi Ngân sách Nhà Nước là cơ
sở thực hiện chính sách của chính phủ.Chính sách nào mà không được dự
Trang 6kiến trong Ngân sách Nhà nước thì sẽ không được thực hiện.Chính vì lẽ đó,việc thông qua Ngân sách Nhà nước là một sự kiện chính trị quan trọng,nó biểu hiện sự nhất trí trong Quốc hội về chín sách của Nhà nước.Quốc hội mà không thông qua Ngân sách Nhà nước thì điều đó thể hiện sự thất bại của chính phủ về chính sách và có thể gây mâu thuẫn về chính trị.
Thứ ba:Ngân sách nhà nước là một công cụ quản lý.Ngân sách Nhà nước đưa ra danh mục các khoản thu mà chính phủ chỉ được phép thu và danh mục các khoản chi trong khuôn khổ Ngân sách Nhà nước được Quốc hội phê duyệt.Đặc điểm này cho thấy,Ngân sách Nhà nước là công cụ giúp cho quốc hội quản lý và kiểm soát chặt chẽ các khoản chi tiêu,thu nhập của chính phủ trong mỗi năm tài khóa
1.1.6 Nguyên tắc Ngân sách Nhà Nước
Từ những đặc điểm trên,yêu cầu quản lý Ngân sách Nhà nước cần tôn trọng những nguyên tắc sau:
Nguyên tắc niên hạn
Nguyên tắc này được thông qua bởi hai nội dung chính:
-Mỗi năm Quốc hội phải thông qua Ngân sách Nhà nước một lần.-Chính phủ thi hành Ngân sách Nhà nước trong thời gian một năm.Tùy theo quan điểm của mỗi Quốc gia,năm Ngân sách Nhà nước có thể bắt đầu từ ngày 1-1 năm dương lịch và kết thúc vào ngày 31-12 hoặc có thể bắt dầu từ ngày 1-4 và kết thúc vào ngày 31-3 năm sau
Cơ sở hình thành nguyên tắc niên hạn:
-Cơ sở chính trị :
Sự phát triển của xã hội theo thể chế nên dân chủ chính trị,thực hiện Ngân sách niên hạn là để tạo điều kiện cho quốc hội và công chúng kiểm soát tình hình thu chi tài chính công được đều đặn và sát thực.Mỗi năm chính phủ thu bao nhiêu và chi cho cái gì,Quốc hội và công chúng cần phải biết.Thực hiện nguyên tắc này sẽ làm gia tăng quyền lực mạnh mẽ của
Trang 7Quốc hội trong việc kiểm soat chính phủ.Quốc hội sẽ biểu quyết Ngân sách nhà nước mỗi năm một lần.Nếu một năm nào đó mà Quốc hội chưa quyết định Ngân sách thì chính phủ không có quyền thu hay chi bất kỳ một khoản tiền nào,dù nhỏ nhất.
-Cơ sở tài chính:
Quản lý Ngân sách Nhà nước phải xác định thời gian khởi đầu và thời gian kết thúc để giúp cho Chính phủ tổng kết và đánh giá tình hình tài chính của quốc gia,qua đó có biện pháp điều chỉnh kịp thời,góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công.Nói chung sự giới hạn Ngân sách hàng năm với dự toán các khoản thu,chi chặt chẽ là nhằm làm cho nền tài chính công trở nên minh bạch và quản lý co trật tự
Như vậy,thực hiện Ngân sách Nhà nước theo niên khóa có những ưu điểm nhất định,đó là tinh đơn giản,nghiệp vụ thu chi được ghi chép chặt chẽ theo hàng năm.Thế nhưng,Ngân sách niên hạn không phải là không có hạn chế:
-Hàng năm phải lập Ngân sách nhà nước nên dẫn đến tốn kém về chi phí
-Ngân sách quá cứng nhắc,các khoản chi đã ghi trong dự toán nhưng chưa phát sinh trong năm thì vào cuối năm sẽ hết giá trị
-Người quản phải tuân thủ nghiêm ngặt các khoản chi đã ghi trong dự toán,không chú trọng đến tính hiệu quả
-Không xác định kết quả thự sự của việc chấp hành Ngân sách.Chế độ niên khóa có thể dẫn đến tình trạng người quản lý tài chính có thể trì hoãn các khoản chi để tạo ra một Ngân sách cân đối theo ý mình vào cuối năm.Chính vì vậy,ngày nay các nhà nước có khuynh hướng mở rộng Ngân sách Nhà nước vượt quá khuôn khổ niên hạn,tức là thiết lập khuôn khổ Ngân sách Nhà nước đa niên(3-5 năm).Cơ sở thiết lập Ngân sách đa niên:
Trang 8-Các mục tiêu phát triển cơ bản của nền kinh tế không thể đặt ra trong giới hạn 1 năm.Xây dựng chiến lược sẽ khó khăn cho Chính phủ nếu mọi hoạt động cùng một lúc phải giải quyết trong một năm.
-Với nguồn lực giới hạn,thực hiện Ngân sách đa niên giúp cho Chính phủ phân bổ nguồn lực có hiệu quả hơn trong việc thực hiện các mục tiêu hoạt động
-Cần phải lập kế hoạch cho các chi phí thường xuyên phát sinh từ các hạng mục đầu tư mới tỏng giai đoạn trung hạn vì chúng có thể phát sinh trong năm thứ hai hoặc thứ ba khi cơ sở vật chất được xây dựng xong
Điều cần lưu ý rằng, trong ngân sách nhà nước đa niên, khuôn khổ ngân sách niên hạn vẫn còn tồn tại chẳng hạn khi quốc hội biểu quyết kinh phí ngân sách ba năm, nghĩa là số chi phí này sẽ đem chi tiêu trong ba năm theo đó nó sẽ được phân chia ra theo từng năm và ghi vào một ngân sách niên hạn ngân sách đa niên có thể ghi vào ba hoặc bốn ngân sách niên hạn
kế tiếp có thể minh họa theo sơ đồ dưới đây:
Ngân sách năm n Dự toán năm n+1 Dự toán năm n+2 Dự toán năm n+3
Ngân sach năm n+2
Ngân sach năm n+1
Dự toán năm n+3
Dự toán năm n+2
Dự toán năm n+3
Trang 9•Nguyên tắc đơn nhất:
Nguyên tắc này yêu cầu toàn bộ dự toán thu, dự toán chi cần được trình bày trong một văn kiện thống nhất nguyên tắc đơn nhất không chấp nhận việc lập ngân sách bằng văn kiện không tập trung Chính phủ không được đệ trình ngân sách nhà nước bằng văn kiện khác nhau trước quốc hội quốc hội chỉ xem xét và thông qua ngân sách nhà nước bằng một đạo luật duy nhất
Nếu Ngân Sách Nhà Nước trình bày tản mạn qua nhiều văn kiện khác nhau thì sự kiểm soát của Quốc Hội sẽ gặp nhiều khó khăn,đặc biệt trong việc lựa chọn các khoản Chính Phủ tiêu có tính Chính Phủến lược ưu tiên
Sự tôn trọng nguyên tắc này giúp cho Quốc hội có cách nhìn toàn diện hơn
về Ngân sách Nhà Nước.Nguyên tắc đơn nhất cho Quốc hội biết được quy
mô của Ngân sách nhà nước,tổng thể nguồn thu và các khoản Chính Phủ tiêu của Chính phủ.Còn nếu Ngân sách Nhà nước được báo cáo bằng nhiều văn kiện khác nhau và để biết tổng nguồn thu và tổng các khoản chi,Quốc Hội phải tập hợp rải rác ở nhiều văn kiện khác nhau,sau đó đem cộng lại sẽ
là một việc hết sức phức tạp,tốn kém nhiều thời gian.Về phương diện kỹ thuật,chỉ có nguyên tắc đơn nhất mới giúp cho Quốc hội nắm rõ trạng thái của Ngân sách Nhà nước:thăng bằng hay bội thu hay bội chi
•Nguyên tắc toàn diện
Ngân sách Nhà Nước phải là một Ngân sách toàn diện và bao quát các khoản thu và chi trong Ngân sách Nhà nước phải được hợp thành một tài liệu duy nhất,phản ánh đầy đủ mọi chương trình tài chính của chính phủ.Tất cả các khoản thu và khoản chi của Quốc gia phải ghi vào trong dự toán Ngân sách Nhà nước,không có sự bù trừ giữa thu và chi
1.2.2.3/ Vai trò của Ngân sách Nhà nước
Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, cùng với việc Nhà nước can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vai trò của
Trang 10Ngân sách Nhà nước trong việc đièu hành các hoạt động hết sức thụ động Ngân sách Nhà nước chỉ là một cái túi đựng sổ thu rồi thực hiện bao cấp tràn lan như cấp vốn cố định, cấp bù lỗ, bù giá… Chuyển sang cơ chế thị trường, Nhà nước định hương đổi mới cơ cấu kinh tế, kích thích phát triển sản xuất và chống độc quyền, thực hiện thông qua chính sách thuế và chính sách chi tiêu của Ngân sáchc chính phủ, vừa kích thích cừa gây sức ép, nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế.
Trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, Nhà nước đã trợ giúp cho những người có thu nhập thấp hoặc có hoàn cảnh đặc biệt như chi trợ cấp
xã hội, trợ cấp cho các mặt hàng thiết yếu, chi thực hiện chính sách dân số, chính sách làm việc chông mù chữ, chống thiên tai dịch bệnh… Bên canh các khoản chi này, thuế cũng được sử dụng thực hiện vai trò tái phân phối thu nhập đảm bảo công bằng đảm bao cônng bằng xã hội Trong điều kiện kinh tế nước ta với điều kiện nguồn thu còn hạn hẹp mà nhu cầu chi tiêu lại quá lớn Vì vậy viẹc chi tiêu Ngân sách Nhà nước đòi hỏi phải sử dụng tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả, chi đúng đối tượng cho các vấn đề xã hội là việc đáng quan tâm
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, giá cả chủ yếu phụ thuộc vào quan hệ cung cầu Vì vậy để ổn định giá cả, chính phủ có thể tác động vào cung hoặc cầu hàng hóa trên thị trường thông qua chính sách thuế và chính sách chi tiêu của Ngân sách Nhà nước Chính phủ sử dụng Ngân sách Nhà nước nhằm khống chế lạm phát một cách có hiệu quả thông qua việc thực hiện chính sách thắt chặt Ngân sách, tức là cắt giảm các khoản chi, chống tình trạng bao cấp, lãng phí trong chi tiêu, giảm thuế đầu tư… Bên cạnh đó chính phủ có thể phát hành công cụ nợ, vay nhân dân để bù đắp thiếu hụt Ngân sách Nhà nước, góp phần to lớn vao việc làm giảm tốc độ lạm phát trong nền kinh tế mở
Trang 111.2 Tổ chức hệ thống và các nguyên tắc tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước:
1.2.1/ Tổ chức hệ thống Ngân sách nhà nước;
1.2.1.1/Khái niệm
Trong một quốc gia, Ngân sách nhà nước được tổ chức và quản lý theo hệ thống gồm nhiều cấp ngân sách Có thể quan niệm hệ thống ngân sách nhà nước là tổng thể các cấp ngân sách nhà nước có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tổ chức huy động, quản lý các nguồn thu và các nhiệm vụ chi của mỗi cấp ngân sách
ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, hệ thống ngân sách nhà nước đều được tổ chức phù hợp với hệ thống quản lý hành chính nhà nước Các quốc gia có hệ thống chính quyền nhà nước được tổ chức theo thể chế liên bang như Mỹ, Đức, Malaysia…, hệ thống ngân sách nhà nước bao gồm: ngân sách liên bang, ngân sách tiểu bang và ngân sách địa phương Hệ thống ngân sách nhà nước được tổ chức ứng với hệ thống chính quyền nhà nước,
do vậy không thể có một cấp ngân sách không gắn liền với một cấp chính quyền nhà nước cụ thể Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tương ứng với cấp chính quyền là có một cấp Ngân sách Một cấp chính quyền nhà nước là một cấp ngân sách khi đáp ứng đủ các điều kiện: nhiệm vụ giao cho cấp chính quyền đó tương đối toàn diện, không chỉ bao gồm nhiệm vụ chính trị, hành chính xã hội mà cả nhiệm vụ kinh tế trên phạm vi địa phương; nguồn thu ngân sách được phân định cho cấp chính quyền về cơ bản đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính quyền trên địa bàn Những cấp chính quyền nào không đáp ứng hai điều kiện đó được gọi là đơn vị dự toán thuộc ngân sách cấp trên
Ở Việt Nam, xuất phát trên cơ sở hiến pháp 1992 bộ máy quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam được tổ chức theo cấp chính quyền trưng ương
và cấp chính quyền địa phương Cấp chính quyền địa phương bao gồm chính quyền Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; chính quyền quận;
Trang 12chính quyền huyện và chính quyền xã; phường Nỗi cấp chính quyền địa phương đều có Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp thì các bộ
có chức năng quản lý Nhà nước về ngành, chính quyền Nhà nước các cấp
có nhiệm vụ quản lý các mặt kinh tế, xã hội trên địa bàn Vì vậy , các cấp chính quyền Nhà nước đều phaỉ có ngân sách để thực hiện các nhiệm vụ được giao theo luật định và phù hợp với khả năng quản lý của các cấp chính quyền Dựa vào cơ sở này mà luật ngân sách Nhà nước năm 2002 khẳng định hệ thống ngân sách Nhà nước Việt nam hiện nay bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của các đơn vị hành chính có cấp hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân Cụ thể cơ cấu hệ thống ngân sách Nhà nước hiện hành của Việt nam được mô tả theo mô tả theo sơ đồ sau:
Trang 13Giữa các cấp Ngân sách có sự tương tác lẫn nhau trong quá trình thu, chi ngân sách Nhà nước Sự tương tác này được hình thành trên cơ sở có sự thống nhất về thể chế chính trị, thống nhất về cơ sở kinh tế, và ràng buộc bởi các nguyên tắc tổ chức hệ thống chính quyền Hệ thống ngân sách Nhà nước được điều hành tốt vừa là kết quả vừa là nguyên nhân của một nền kinh tế - xã hội ổn định Một cấp ngân sách được điều hành tốt không chỉ liên quan đến việc ổn định, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội trong phạm
vi các cấp chính quyền tương ứng quản lý mà còn góp phần vào việc điều hành ngân sách cấp phát địa phương khác thuận lợi hơn và ngược lại
Ở Việt nam quan hệ giữa các cấp ngân sách được thực hiện theo nguyên tắc :
Ngân sách Trung ương và ngân sách các cấp chính quyền được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể
Nhiệm vụ chi thuộc cấp ngân sách nào do cấp ngân sách đó cân đối Trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản
lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó Không dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác
Thực hiện bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để đảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương Số
bổ sung từ ngân sách cấp trên được coi là khoản thu của ngân sách cấp dưới
Trong thời kỳ ổn định, các địa phương được sử dụng nguồn tăng thu hằng năm để đầu tư phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn Sau mối thời kỳ
ổn định, các địa phương phải nâng cao khả năng tự cân đối, giảm dần số bổ sung từ cấp trên
1.2.1.2/ Đặc điểm các cấp Ngân sách Nhà nước:
Đặc điểm Ngân sách Trung ương:
Trang 14Về cơ cấu tổ chức, Ngân sách trung ương bao gồm: Ngân sách của cơ quan của cơ quan lập pháp ( quôc hội), Ngân sách của cơ quan tư pháp ( tòa
án, viện kiểm sát) và ngân sách của cơ quan hành pháp ( văn phòng chính phủ, các bộ ngành chủ quan, các đoàn thể xã hội, các đoàn thể chính trị xã hội trực thuộc chính phủ )
Ngân sách Trung ương là công cụ kinh tế để chính phủ thực hiện chức năng quản lý toàn bộ nền kinh tế - xã hội Đặc điển này xuất phát từ khía cạnh kinh tế quy mô của ngân sách trung ương chính sách thuế và chi tiêu của ngân sách trung ương có phạm vi ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế
- xã hội trên bình diện rộng như phạm vi ngành và vùng kinh tế Trong hệ thống ngân sách ngân sách nhà nước ngân sách trung ương đóng vai trò chủ đạo :
Ngân sách trung ương tập trung đại bộ phận những nguồn thu lớn, qua
đó đảm nhận các khoản chi gắn liền với việc thực hiện các dự án có tầm chiến lược phát triển quốc gia Thông qua đó, ngân sách trung ương không những định hướng phát triển kinh tế - xã hội nói chung mà còn có thể điều hành các cấp ngân sách địa phương
- Ngân sách Trung ương đảm trách vai trò điều phối nguồn lực tài chính giữa các cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách và cân đối ngân sách nhà nước
Đặc điểm ngân sách địa phương:
Ngân sách địa phương bao gồm: Ngân sách các cấp chính quyền địa phương Trong hệ thống của Việt Nam, Ngân sách địa phương gồm Ngân sách của các cơ quan Nhà nước , cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị xã hội cấp tỉnh, huyện, xã và đơn vị hành chính tương đương
Ngân sách địa phương phản ánh nhiệm vụ thu, chi địa phận hành chính, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý kinh tế - xã hội của các cấp chính quyến địa phương Với vai trrò thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển, Ngân sách địa phương cũng gây ảnh hưởng nhất định đến các
Trang 15hoạt động kinh tế - xã hội trong phạm vi vùng Đồng thời, Ngân sách địa phương còn là cấp quản lý, sử dụng nguồn vốn của Ngân sách Trung ương.
Hệ thống kho bạc Nhà nước Nước ở Việt Nam
Hệ thống kho bạc Nhà nước là tổ chức sự nghiệp thuộc nghành tài chính-tín dụng-bảo hiểm Nhà Nước theo quy định trong bảng phân ngành kinh tế quốc dân hiện hành của Nhà nước tiền lương và chi phí hoạt động của kho bạc nhà nước do Ngân sách trung ương đài thọ Hệ thống kho bạc Nhà nước được trích lập quỹ phúc lợi và quỹ khen thưởng
Thứ nhất/ về nhiệm vụ và quyền hạn của kho Bạc Nhà nước:
-Quản lý quỹ Ngân sách Nhà nước và tiền gửi của các đơn vị dự toán.-Trực tiếp giao dịch với khách hàng bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản của các đơn vị kinh tế, đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc các cấp Ngân sách
-Tổ chức huy động các Nguồn vốn vay dân và trả nợ dân
-Tổ chức quản lý hạch toán kế toán, hạch toán nghiệp vụ, hạch toán thống kê các nghiệp vụ thu chi Ngân sách Nhà nước, tiền gửi kho bạc và các nguồn vốn tài chính khác của nhà nước gửi tại Ngân hàng
Thứ hai/ Quan hệ giữa kho bạc Nhà nước và Ngân hàng nhà nước
Kho bạc Nhà nước được mở một tài khoản tiền gửi và các tài khoản khác tại ngân hàng theo chế độ mở và sử dụng tài khoản mở tại Ngân hàng Nhà nước và quy định riêng của liên bộ tài chính-ngân hàng
mọi khoản giao dịch quan hệ thanh toán quan hệ giữa các đơn vị dự toán với các tổ chức kinh tế không có tài khoản tại kho bạc nhà nước đều phải thông qua tài khoản kho bạc nhà nước tại ngân hàng để thanh toánKho bạc nhà nướ được giữ lại số tiền cần thiết để đảm bảo nhu cầu chi tiêu theo kế hoạch được duyệt, nếu tiền mặt thu được vượt quá mức quy định phải gửi vào ngân hàng nơi kho bạc mở tài khoản, còn nếu thiếu tiền mặt dược rút từ ngân hàng ra để sử dụng Hệ thống kho bạc nhà nước phải chịu sự giám sát quản lý tiền mặt của ngân hàng nhà nước theo chế độ nhà
Trang 16nước quy định Ngân hàng được vay tiền nhàn rỗi của kho bạc Nhà nước đồng thời và đông thời cho kho bạc nhà nước vay để chi tiêu theo kế hoạch khi nguồn thu ngân sách chưa tập trung kịp.Quan hệ vay trả giữa các hệ thống kho bác sẽ được thực hiện theo quy định của chính phủ.
Thứ ba Quan hệ gữa hệ thống Kho bạc Nhà Nước và Ủy ban nhân dân
các cấp
Kho bạc Nhà nước là công cụ tài chính của nhà nước, có trách nhiệm giúp chính quyền các cấp trong việc điều hành Ngân sách Nhà nước trên địa bàn
Kho Bạc Nhà nước chịu sự chỉ đao,kiểm tra,kiểm soát của UBND các cấp đối với những vấn đề thuộc chức năng quản lý Nhà nước của địa phương
Thứ tư/ Quan hệ giưa hệ thống Kho bạc Nhà Nước với cơ quan tài
chính các cấp
Kho bạc Nhà nước là một tổ chức nằm trong hệ thống tài chính thống nhất chịu sự kiểm soát của cơ quan tài chính các cấp về việc chấp hành kỷ luật tài chính, về thực hiện các nhiệm vụ kho bạc được giao
Kho bạc Nhà Nước có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tài chính các cấp trong việc thực hiện nhiệm vụ, đôn đốc kiểm soát thu chi Ngân sách nhà nước trên địa bàn,thực hiện đầy đủ chế độ thông tư,báo cáo tài chính theo quy định
Được nhận từ cơ quan tài chính kế hoạch thu, chi Ngân sách trên địa bàn hàng năm, quý, tháng và ý kiến tham gia về kế hoạch thu, chi tiền mặt của Kho bạc
1.2.1.3/ Các nguyên tắc tổ chức hệ thống Ngân sách Nhà nước:
Nguyên tắc thống nhất
Ngân sách Nhà nước được tổ chức và quản lý thống nhất từ cấp Trung ương đến cấp điựa phương Đối với Việt Nam, nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở:
Trang 17- Cơ sở chính trị:
Tổ chức bộ máy chính quyền Nhà nước Việt Nam là tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương dưới sự lãnh đạo điều hành của Quốc hội và Chính phủ Ngân sách cấp dưới là mpột bộ phận không thể tách rời với Ngân sách cấp trên; Ngân sách Trung ương và Ngân sách địa phương hợp thành một chính thể Ngân sách nhà nước thống nhất Các cơ chế, chính sách thu – chi và phương thức quản lý Ngân sách Nhà nước phải được thực hiện thống nhất do Quốc hội, Chính phủ quy định
- Cơ sở về kỹ thuật
Nguồn thu của Ngân sách Nhà nước mặ dù phân bổ trên khắp các lãnh thổ của quốc gia nhưng được sáng tạo trong một cơ cấu kinh tế chỉnh thể thống nhất Vì vậy, về mặt kỹ thuật, việc thiết lập một Ngân sách Nhà nước thống nhất về chính sách và thể chế thu – chi trong cả nước nhằm:(1) Giảm đến mức tối thiểu những biệt lập, gây ra tình trạng phân tán làm suy yểu nguồn lực tài chính của Nhà nước
(2) Thống nhất hệ thống báo cáo các chỉ tiêu đánh giá trong việc thu thập và xử lý thông tin về Ngân sách Nhà nước
• Nguyên tắc tập trung và dân chủ
Nội dung của nguyên tắc tập trung thể hiện: Sự tập trung quyền lực của Quốc hội trong việc quyếtt định Ngân sách Nhà nước;sự tập trung quyền llực của Quốc hội trong việc quyết định Ngân sách nhà nước;sự tập trung quyền lực của chính phủ trong quản lý ngân sách Nhà nước; tính chủ đạo của Ngân sách trung ương rong hệ tống Ngân sách nhà nước Nguyên tắc tập trung được thiết lập là nhằm đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống Ngân sách Nhà nước và tăng cường quyền lực của chính quyền Trung ương
Tuy vậy, để phù hợp với xu hướng phát triển của nền dân chủ chính trị, đi đôi với thể chế tăng cường tập trung quyền lực của chính quyền Trung ương cần phải đẩy mạnh thể chế dân chủ thông qua việc thực hiện
Trang 18phân cấp quản lý ngân sách và mở rộng quyền tự chủ cho các cấp Ngân sách trong việc tổ chức và khai thác nguồn lực địa phương để thúc đẩy kinh
tế địa phương phát triển Phân cấp mà nôi dung côt lõi của nó là sự phân quyền nhưng đồng thời phải tăng cường tính tự chịu trấch nhiệm của củ thể quản lý đối với Ngân sách Nhà nước.Phân cấp sẽ làm giảm đi chính sách can thiệp trực tiếp của chính quyền trung ương đối với hoạt động quản lý Ngân sách của chính quyền địa phương,nhưng trái lại vai trrò giám sát ,kiểm tra của chính quyền trung ương đối với chính quyền địa phương được tăng cường hơn bao giờ hết
• Nguyên tắc công khai, minh bạch
Nguyên tắc công khai và minh bạch trong quản lý Ngân sách Nhà nước xuất phát từ xu hướng mở rộng chế độ dân chủ trong hệ thống chính trị Người dân có nghĩa vụ nộp thuê cho Nhà nước, ngược lại họ có quyền yêu cầu Chính phủ phải công khai minh bạch tình hình thu – chi Ngân sách Nhà nước để đánh giá mức độ hiệu quả và trách nhiệm của các cấp chính quyền Nhà nước trong việc sử dụng nguồn lực tài chính công Theo nguyên tắc này, dự toán, quyết toán, kết quả kiểm toán, quyết toán Ngân sách Nhà nước, Ngân sách các cấp, các đơn vị dự toán Ngân sách phải công bố công khai cho công chúng
• Nguyên tắc cân đối
Chi Ngân sách Nhà nước thể hiện mối tương quan giữa thu, chi Ngân sách Nhà nước Trong quản lý Ngân sách Nhà nước cần phải tôn trọng nguyên tắc cân đối, bởi lẽ:
(1) Cân đối Ngân sách Nhà nước là một trong những cân đối tổng thể của nền kinh tế vĩ mô có tác động đến cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư, cân đối các cán cân thanh toán quốc tế
(2) Cân đối Ngân sách Nhà nước phản ánh các nguồn lực tài chính
mà Nhà nước có thể chi phối trực tiếp để sao cho việc thực hiện các nhiệm
vụ được Hiến pháp quy định