Ngoài con tôm và các sản phẩm thủy sản truyền thống khác,Việt Nam còn đưa vào đây mặt hàng cá da trơn rất được thị trường ưa chuộng vì vậy đã nhanhchóng biến Mỹ thành thị trường đứng đầu
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CƠ SƠ LY LU N Â 2
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG 4
2.1 Tình hình xuất khẩu cá da trơn của Việt Nam sang thị trường Mỹ 4
2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu cá da trơn Việt Nam sang Mỹ 4
2.1.2 Khả năng cạnh tranh cá da trơn Việt Nam trên thị trường Mỹ 5
2.1.3 Đánh giá những thu n lơi và khó khăn của hoạt động xuất khẩu cá da trơn sang thị trường â Mỹ 5
2.1.3.1 Những thu n lơi â 5
2.1.3.2 M t sô khó khăn khi thâm nh p vào thị trường Mỹ ô â 6
2.2 Những rủi ro khi xuất khẩu cá da trơn sang thị trường Mỹ 7
2.2.1 Rủi ro về nguồn cung 7
2.2.1.1 Rủi ro trong nghề nuôi cá da trơn 7
2.2.1.2 Rủi ro trong chế biến và bảo quản 11
2.2.2 Rủi ro về nguồn cầu 13
2.2.2.1 Cạnh tranh với thị trường cá da trơn ở Mỹ 13
2.2.2.2 Vụ kiện chông bán phá giá 15
2.2.2.3 Sự giám sát mạnh mẽ của Bộ Nông nghiệp nước Mỹ 16
2.2.2.4 Rào cản về pháp luật của nước Mỹ 20
CHƯƠNG 3: GIAI PHAP PHONG TRANH NHƯNG RUI RO ĐÊ CA DA TRƠN CẠNH TRANH CO HI U QUA Ê TRÊN THỊ TRƯỜNG MY 22
a)Xây dựng thương hiệu mạnh và đa dạng hoá thị trường, đa dạng hoá sản phẩm 23
b)Hệ thông chứng từ sổ sách và hạch toán kế toán theo chuẩn mực quôc tế 23
c)Giải pháp về giá xuất khẩu và giá trị thông thường của sản phẩm xuất khẩu 24
d)Nâng cao kiến thức về luật chông bán phá giá của WTO cũng như luật chông bán phá giá của Hoa Kỳ 24
e)Các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam cần có tinh thần tích cực theo đuổi vụ kiện khi bị nước ngoài kiện bán phá giá 24
TAI LI U THAM KHAO Ê 26
Trang 2CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Việt Nam đang trong quá trình đổi mới nền kinh tế , để từng bước phát triển, hội nhập với nềnkinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới Trải qua nhiều khó khăn và thử thách, nềnkinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ Tuy nhiên, thị trường mở rộng, kinh
tế ngày càng phát triển, doanh nghiệp muốn tồn tại, muốn vươn lên thì trước hết đòi hỏi kinhdoanh phải có hiệu quả Nhưng, không phải bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đứng vững với quiluật cạnh tranh khắc nghiệt này Sự phát triển sản xuất ồ ạt đã gây ra ảnh hưởng rất lớn đến hiệuquả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Mục đích kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp
là mang lại thu nhập cao nhất, chi phí thấp nhất với mức rủi ro hợp lí Phân tích hiệu quả củadoanh nghiệp chỉ mới là một mặt để xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp Những kếtluận rút ra từ nội dung phân tích này sẽ không đầy đủ nếu ta không xem xét một dạng khác của
nó, đó là rủi ro của doanh nghiệp Vậy rủi ro của doanh nghiệp là gì? Làm thế nào để nhận diệnrủi ro, đo lường, hạn chế và giảm thiểu rủi ro? Những vấn đề này sẽ được giải quyết qua một đềtài cụ thể là phân tích “Rủi ro trong kinh doanh xuất khẩu cá da trơn sang thị trường Mỹ”
Lý do chọn đề tài: Với đường bờ biển dài 3.260 km, vùng lãnh hải rộng 12 hải lý và vùng đặc
quyền kinh tế trên biển rộng 200 hải lý với diện tích khoảng 1 triệu km2, Việt Nam có nhiều tiềmnăng để phát triển mạnh ngành thủy sản Thực tế những năm qua cũng cho thấy ngành thủy sản
Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể Hiện nay, thủy sản đang được coi là ngành kinh
tế mũi nhọn của đất nước Trên thị trường thủy sản quốc tế, Việt Nam cũng đạt được vị trí ngày
càng cao, vững mạnh và có khả năng cạnh tranh cùng các đối thủ đáng gờm khác như Thái Lan,Trung Quốc, Mỹ, Mêhicô
Những năm gần đây, ngoài những bạn hàng truyền thống như Nhật Bản, Hồng Kông,Singapore, thủy sản Việt Nam còn thâm nhập được vào những thị trường mới đầy tiềm năng nhưTrung Quốc, EU Đặc biệt, từ khi Mỹ bỏ lệnh cấm vận thương mại với Việt Nam và từ khi hiệpđịnh thương mại song phương Việt Nam-Hoa Kỳ có hiệu lực (10/12/2001), Việt Nam đã nhanhchóng thâm nhập thị trường Mỹ Ngoài con tôm và các sản phẩm thủy sản truyền thống khác,Việt Nam còn đưa vào đây mặt hàng cá da trơn rất được thị trường ưa chuộng vì vậy đã nhanhchóng biến Mỹ thành thị trường đứng đầu về tiêu thụ hàng thủy sản Việt Nam (từ 10% thị phầnxuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong năm 1998 lên 32,38% trong năm 2002)
2
Trang 3Đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp thủy sản nói riêng, Mỹ làmột thị trường rộng lớn, hứa hẹn nhiều cơ hội kinh doanh Nhưng bên cạnh đó, thị trường Mỹcũng chứa đựng rất nhiều rủi ro do hệ thống pháp luật phức tạp, hàng loạt các tiêu chuẩn đặt rađối với hàng nhập khẩu Nhận thức được điều này, trên cơ sở kiến thức được học và qua quátrình nghiên cứu thực tế em đã chọn nghiên cứu đề tài này.
Mục đích nghiên cứu: Trong qúa trình nghiên cứu, nhóm tiến hành tìm hiểu kiến thức, vận dụng
lý thuyết rủi ro vào thực tế Như vậy, nhóm vừa có thể thông suốt kiến thức trên lớp, vừa có thểtiếp cận thực tế, vận dụng và góp phần tìm ra những giải pháp hữu ích cho doanh nghiệp, hạnchế những rủi ro không cần thiết khi kinh doanh sau này
Nội dung: Đề tài nghiên cứu của nhóm được chia làm ba phần trọng tâm:
Phần thứ nhất: Cơ sở lí luận
Phần thứ hai: Thực trạng
Tình hình xuất khẩu cá da trơn của Việt Nam sang thị trường Mỹ
Những rủi ro khi xuất khẩu cá da trơn sang thị trường Mỹ (rủi ro về nguồn cung,rủi ro về nguồn cầu)
Phần thứ ba: Giải pháp phòng tránh những rủi ro để cá da trơn cạnh tranh có hiệu quảtrên thị trường Mỹ
Phạm vi nghiên cứu: Để đảm bảo lượng kiến thức và thông tin cho đề tài, nhóm đã mở rộng
phạm vi nghiên cứu không những trên lí thuyết mà còn tìm hiểu ngay trên thực tế Về lí thuyết,nhóm tham khảo lý thuyết bài giảng, một số tài liệu có liên quan đến lý thuyết rủi ro và kinh tế
Về thực tế, phạm vi nghiên cứu được mở rộng cả trong nước, nước Mỹ, và một số nước có pháttriển ngành xuất nhập khẩu cá da trơn nhằm có thể thu thập những thông tin hữu ích cho đề tài
Phương pháp nghiên cứu: Một số phương pháp nghiên cứu được vận dụng trong phân tích đề
tài là: phương pháp thu thập thông tin, thống kê, phân tích, so sánh và phương pháp luận
Kết quả nghiên cứu: Qua quá trình nghiên cứu, nhóm mong muốn sẽ mang lại những thông tin
thật bổ ích về rủi ro trong kinh doanh nói chung và trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu nóiriêng, góp phần tìm ra những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro, giúp các doanh nghiệp xuất khẩuthủy sản sẽ có thể khắc phục tình trạng hiện nay
Trang 4CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG
2.1 Tình hình xuất khẩu cá da trơn của Việt Nam sang thị trường Mỹ
2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu cá da trơn Việt Nam sang Mỹ
Có thể nói, trong nhiều năm gần đây, cá da trơn liên tiếp là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của thủy sản Việt Nam, góp phần vào sự tăng trưởng của xuất khẩu thủy sản nói riêng và nền kinh tế đất nước nói chung
Cá da trơn được nuôi tập trung tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Do vùng ĐBSCL có điều kiện tự nhiên thuận lợi kết hợp với kỹ thuật nuôi cá da trơn không quá khó nên nghề nuôi cá da trơn phát triển khá mạnh Cá tra, cá basa là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và cũng là sản phẩm thủy sản được nhiều thị trường trên thế giới ưa chuộng Thị trường xuất khẩu không ngừng được mở rộng Hiện nay, cá tra xuất khẩu sang 163 nước (trong khi năm 2006 chỉ có 65 nước) và chiếm khoảng 95% thị phần cá da trơn phi lê trên thế giới, sản lượng 1.5 triệu tấn mỗi năm Trong đó, Mỹ là nước có giá trị nhập khẩu hàng phi lê đông lạnh lớn nhất từ Việt Nam, năm 2011 đạt kim ngạch tới 331,6 triệu USD, tăng trưởng tới 87,8% so với năm 2010, thị phần tăng từ 11% lên 18%
Tuy thị trường Mỹ là thị trường rất khó tính, đòi hỏi và đặt ra nhiều tiêu chuẩn đối với mặt hàng cá tra nhập khẩu vào Bên cạnh đó còn có những rào cản thương mại đối với cá tra, basa Việt Nam gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu loại thủy sản này như kiệnchống bán phá giá cá tra, basa Việt Nam và Mỹ nâng mức thuế chống bán phá giá đối với cá tra Việt Nam lên đến 130% Nhưng sau khi Việt Nam kiện Mỹ về việc áp dụng thuế chống bán phá giá(CBPG) thì đến cuối quý I và đầu quý II năm 2011, Mỹ đã giảm mức thuế CBPG xuống còn 0– 0.2% Và kim ngạch xuất khẩu tăng đáng kể qua các năm:
Năm 2011: sản lượng cá thu hoạch gần 1,2 triệu tấn Trong đó, xuất khẩu đạt hơn 600.000 tấn với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 1,8 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2010; duy trì vị trí số 2 sau mặt hàng tôm (39,1%) Cá tra Việt Nam đã có mặt ở 163 thị trường trên thế giới, trong đó xuất khẩu sang EU chiếm 29,1%; Hoa Kỳ chiếm 18,4% Sản phẩm cá tra xuất khẩu vẫn chủ yếu là hàng cá philê đông lạnh, với giá trị xuất khẩu đạt 1,79 tỷ USD, chiếm tới 99% tổng kim ngạch xuất khẩu cá tra của cả nước
4
Trang 5 Năm 2012: 2 tháng đầu năm, xuất khẩu cá tra từ Việt Nam sang Mỹ vẫn tiếp tục tăng trưởng mạnh, với kim ngạch đạt 46,6 triệu USD, tăng 50,4% so với cùng kỳ năm ngoái Trong đó, riêng tháng 2 đạt 26,3 triệu USD, tăng 138,4% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng so với 20,3 triệu USD của tháng 1/2012.Theo Tổng cục Thủy sản, trong năm 2012, ngành thủy sản phấn đấu nângdiện tích nuôi cá tra, cá basa lên khoảng 6.000 ha, nâng sản lượng từ lên 1,5 triệu tấn và đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 2 tỷ USD.
Tuy nhiên, hoạt động nuôi cá tra vẫn còn gặp nhiều khó khăn như do giá vật tư đầu vào còn tăng cao làm cho giá thành sản xuất nguyên liệu cao, trong khi đó giá bán nguyên liệu không ổn định làm cho người nuôi nhỏ lẻ không có lãi hoặc bị thua lỗ… Thời gian qua vẫn còn tồn tại việc các doanh nghiệp thu mua cá của dân nhưng chậm thanh toán từ 1 - 2 tháng, thậm chí 3 tháng đã ảnh hưởng đến lợi ích và hiệu quả kinh tế của các hộ nuôi thủy sản xuất khẩu
2.1.2 Khả năng cạnh tranh cá da trơn Việt Nam trên thị trường Mỹ
Mỹ là thị trường “khó tính”, yêu cầu chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm cao nhưng không khắc khe như thị trường EU Giá bán thuỷ sản của Việt Nam sang Mỹ lại cao hơn so với các thị trường khác.Do đó, hàng thuỷ sản của Việt Nam vào thị trường Mỹ ngày càng được mở rộng và kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào thị trường Mỹ ngày càng cao
Đặc biệt, Việt Nam được giới kinh doanh thuỷ sản đánh giá là thành công bước đầu trongviệc xuất khẩu cá da trơn vào thị trường Mỹ Họ nhận định cá da trơn Việt Nam có giá trị gia tăng cao hơn cá da trơn ở Mỹ, có lợi hơn hẳn về chất lượng Do đó sản lượng nhập khẩu vào Mỹ ngày càng tăng lên Thực tế cho thấy, đa số người dân Mỹ rất ưa chuộng cá ba sa nhập khẩu từ Việt Nam đó là điểm mạnh và là cơ hội mà chúng ta cần phải nắm bắt để đưa cá da trơn Việt Nam cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường thế giới
2.1.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của hoạt động xuất khẩu cá da trơn sang thị
trường Mỹ.
2.1.3.1 Những thuận lợi
Cá da trơn Việt Nam dễ nuôi, dễ đánh bắt cho năng suất cao, thịt thơm ngon, sức sống cao và có tốc độ tăng trưởng cao Cùng với điều kiện tự nhiên nước ta và nguồn thức ăn phong phú đã mang lại nhiều thuận lợi cho việc nuôi trồng Đặc biệt, khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long là khu vực không có mùa đông nên cá có thể lớn quanh năm trong khi cá ở Mỹ chỉ lớn
Trang 6điều đó cũng tạo nguồn cung phong phú và cạnh tranh có hiệu quả vớithị trường Mỹ.Bên cạnh
đó, những nghiên cứu về công nghệ nuôi trồng, việc đưa thức ăn công nghiệp vào đã rút ngắn thời gian nuôi và giảm thiểu được lượng thức ăn cho cá Phía các nhà máy chế biến cũng đã có nhiều biện pháp giảm giá thành như đầu tư thêm thiết bi, tận dụng phế liệu, đa dạng hoá sản phẩm… Theo tính toán, giá thành sản xuất cá da trơn đã giảm 30-40%, do đó có thể bán vào thị trường Mỹ với giá thấp
Ngoài ra, sự tiến bộ trong quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với các nước đã mở ra
cơ hội lớn cho việc mở rộng thị trường tiêu thụ cá da trơn của Việt Nam Đặc biệt là sau hiệp định thương mại Việt- Mỹ được ký kết vào ngày 13/7/2000 Sự kiện này đã mở ra những cơ hội
to lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp xuất khẩu cá ba sa nói riêng tại thị trường Mỹ, tạo cơ hội để nâng cao được vị thế của thuỷ sản Việt Nam trên thị trường
Mỹ, thông qua đó mở rộng hợp tác với các nước trên thế giới Đồng thời sau vụ kiện cá ba sa năm 2002 cá da trơn Việt Nam trở nên được nhiều người tiêu dùng Mỹ và các và các nước khác biết đến cái tên cá ba sa Việt Nam Qua đó, nhà nước Việt Nam cùng với các doanh nghiệp xuất khẩu cá da trơn vào thị trường Mỹ rút ra được bài học cho mình khi xuất khẩu vào thị trường này, để có khả năng vượt qua các rào cản một cách tốt hơn, tăng khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam trên thị trường Mỹ
2.1.3.2 Một số khó khăn khi thâm nhập vào thị trường Mỹ
Xâm nhập vào thị trường Mỹ, khó khăn trước tiên mà các doanh nghiệp xuất khẩu cá ba
sa, cá tra Việt Nam gặp phải là: tính cạnh tranh trên thị trường này rất cao, gặp phải những đối thủ cạnh tranh lớn, không những cạnh tranh về chất lượng, giá cả mà còn cạnh tranh cả về phương thức thanh toán
Hàng thuỷ sản nhập khẩu vào Mỹ phải qua sự kiểm tra chặt chẽ của FDA (Cục dược phẩm và thực phẩm Mỹ) theo các tiêu chuẩn HACCP, vấn đề vệ sinh thực phẩm, ô nhiễm môi trường, bảo vệ sinh thái… là những lý do mà Mỹ thường đưa ra để hạn chế nhập khẩu thuỷ sản
Ngoài ra, thị trường Mỹ có hệ thống phân phối bài bản chủ yếu qua hai kênh tiêu thụ gồm
có kênh bán lẻ thuỷ sản xuất khẩu chiếm 50% trị giá tiêu thụ ở Mỹ Các hình thức bán lẻ chủ yếu
là bán qua siêu thị, bán cho các nhà hàng, nhà ăn công cộng, bán cho tiệm ăn người Việt tại Mỹ Một kênh phân phối nữa là bán sỉ thuỷ sản ở Mỹ Các doanh nghiệp Việt Nam chỉ mới tiếp cận được các nhà nhập khẩu mà chưa với tới các nhà bán lẻ hay siêu thị, hàng hoá chưa đến tay
6
Trang 7người tiêu dùng, do đó chưa nhận được thông tin phản hồi một cách trực tiếp để từ đó có biện pháp cải tiến, nâng cao chất lượng phù hợp với thị hiếu của khách hàng.
Việc chế biến và bảo quản, vệ sinh an toàn thực phẩm của các doanh nghiệp xuất khẩu còn thấp kém chưa đáp ứng được yêu cầu về vệ sinh, an toàn thực phẩm do Mỹ đề ra, mà thuỷ sản xuất vào thị trường Mỹ phải qua sự kiểm tra chặt chẽ của Cục dược phẩm và thực phẩm Mỹ Hơn thế, Mỹ còn đề ra một số tiêu chuẩn khác mà các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam khó có khả năng đáp ứng được để hạn chế việc xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào thị trường Mỹ nhằm bảo hộ các doanh nghiệp trong nước và đề ra mức thuế cao
2.2 Những rủi ro khi xuất khẩu cá da trơn sang thị trường Mỹ
2.2.1 Rủi ro về nguồn cung
2.2.1.1 Rủi ro trong nghề nuôi cá da trơn.
Trước năm 2000, giống cá tra, ba sa chủ yếu được khai thác từ sông Tiền, sông Hậu,nhưng sản lượng khai thác cá giống giảm dần Do nhu cầu lượng cá giống tăng nhanh, các tỉnhĐồng bằng sông Cửu Long bắt đầu ứng dụng các đề tài nghiên cứu về sản xuất nhân tạo giống cánày Năm 2000 các tỉnh sản xuất khoảng một tỷ con cá tra, ba sa bột; năm 2006 đạt hơn năm tỷcon Dự báo năm 2007 lượng cá tra, ba sa giống phục vụ nhu cầu nuôi đang phát triển quá mạnhkhoảng 10 tỷ con Theo đồng chí Phạm Văn Khánh và Nguyễn Văn Sáng (Viện Nghiên cứu nuôitrồng thủy sản 2), do nhu cầu rất lớn về cá tra, ba sa giống, cho nên các cơ sở sản xuất chỉ tậptrung sản lượng cá bột, chưa quan tâm chất lượng cá giống Mặc dù sản xuất giống cá tra và ba
sa đã được xã hội hóa, nhưng phát triển còn mang tính tự phát, vẫn xảy ra tình trạng một số cơ sởcho cá bố mẹ đẻ ép hoặc đẻ nhiều lần, cho nên chất lượng cá giống kém
Thực tế trong phát triển nuôi cá tra, ba sa ở Đồng bằng sông Cửu Long những năm quacho thấy, dịch bệnh đối với đối tượng nuôi này tăng nhanh Nguyên nhân là do hệ thống thủy lợiphục vụ nuôi cá chưa bảo đảm Theo thạc sĩ Trần Minh Lâm (Viện Kinh tế - Quy hoạch thủysản), nuôi cá tra, ba sa cần rất nhiều nước và phải thường xuyên thay đổi nước trong ao nuôi dokhả năng lây nhiễm dịch bệnh đối với cá nuôi là rất lớn Ngoài ra, các yếu tố như nuôi cá với mật
độ quá cao (dao động từ 10-100 cá/m2 hay 30-150 cá/m2), lượng thức ăn cho cá quá nhiều cũnglàm ô nhiễm nguồn nước Do nguồn nước phục vụ nuôi cá chủ yếu dựa vào các công trình thủylợi phục vụ sản xuất nông nghiệp, cho nên các cống thường được thiết kế cao trình đáy cống cao
Trang 8hơn đáy kênh Vì vậy, việc thoát nước ra sông lớn bị hạn chế, dẫn đến chất ô nhiễm đọng lại đáykênh, làm tăng ô nhiễm vùng nuôi cá tra, ba sa.
Từ những hạn chế về chất lượng cá giống, hệ thống thủy lợi cho vùng nuôi chưa bảo đảmdẫn đến tình trạng cá tra, ba sa bị chết ngày càng tăng Theo kết quả điều tra của Tiến sĩ Lý ThịThanh Loan (Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 2) cho thấy: trong hai năm (2005-2006), tạicác khu vực nuôi cá tra, ba sa tập trung như Châu Ðốc (An Giang), Hồng Ngự (Ðồng Tháp),Thốt Nốt (Cần Thơ), thị xã Vĩnh Long và huyện Long Hồ (Vĩnh Long), cá nuôi ao, bè thườngnhiễm bệnh vào các tháng 5, 7 Thời điểm này, môi trường nước trong ao nuôi rất xấu do ảnhhưởng của lũ đổ về mang nhiều chất thải lẫn mầm bệnh Cá thường bị nhiễm các bệnh vàng thân,vàng da, bệnh gan, thận mũ, xuất huyết, đốm đỏ Kết quả điều tra tại ao nuôi của 65 hộ nuôi cátra, ba sa có 100% số ao tại Ðồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, 80% số ao ở An Giang bị nhiễmbệnh
Bất chấp những rủi ro lớn có thể xảy ra, nghề nuôi cá tra, ba sa ở Đồng bằng sông CửuLong vẫn phát triển mạnh mẽ Từ đầu năm 2012 đến nay, nông dân Đồng bằng sông Cửu Long
đổ xô vào nuôi đối tượng này Chưa khi nào "cơn sốt" về con giống, đất nuôi cá tra, ba sa nhưnhững tháng đầu năm nay do giá cá đạt mức cao nhất trong vòng 30 năm qua (giá cá tra, ba savào thời điểm tháng 3 đạt 17 nghìn đồng/kg) Lý giải về điều này, Bộ Thủy sản cho rằng, đây làthời điểm các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu khan hiếm nguyên liệu vì chưa vào vụ thuhoạch tôm Chính vì vậy, các doanh nghiệp đổ xô mua cá tra, ba sa để bảo đảm hoạt động, nhiềuđịa phương không thể kiểm soát được tình trạng nông dân tự phát nuôi cá tra, ba sa
Mặc dù tình hình kinh tế thế giới vẫn chưa thể lạc quan, tiền ẩn nhiều rủi ro, nhưng ngànhxuất khẩu cá tra vẫn dự kiến đạt kim ngạch 2 tỷ USD trong năm 2012 Lý giải về sự lạc quan này
là do sản phẩm cá tra phù hợp với túi tiền cho giới bình dân các nước
Tuy nhiên, bên cạnh sự lạc quan về thị trường cá tra xuất khẩu năm nay, nhiều doanhnghiệp lại lo lắng về nguy cơ thiếu hụt nguồn cung vẫn tiếp tục diễn ra Sự liên kết giữa sản xuất
và tiêu thụ ở một số tỉnh chưa thực sự chặt chẽ; hợp đồng cung cấp và thu mua sản phẩm giữadoanh nghiệp với nông dân được ký kết nhưng chưa hiệu quả Nhiều hộ nuôi nhỏ lẻ không cóhợp đồng bao tiêu sản phẩm với các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu Thời điểm thu hoạch,nhiều doanh nghiệp lại viện nhiều lý do để ép giá khiến người dân không còn mặn mà với nuôithả cá tra Ông Phạm Anh Tuấn- Phó Tổng cục Trưởng Tổng cục Thủy sản- cho biết: sự biến
8
Trang 9động của thị trường cũng tác động trực tiếp đến ngành sản xuất và nuôi cá tra Cụ thể từ tháng1/2011, giá cá tra dao động từ 18.000 đến 23.000 đồng/kg; sau đó tăng dần đến mức 29.000đồng/kg vào giữa tháng 5 Đến cuối tháng 5, giá đột ngột giảm, đến giữa tháng 8 ở mức thấpnhất trong năm: 22.500 đồng/kg.
Các yếu tố đầu vào của sản phẩm cá da trơn nguyên liệu gây nên trở ngại cho người nuôi ở
ĐBSCL
Trang 10Cá giống Nhiều nguồn gốc, nuôi ồ ạt
đại trà chưa theo qui trình, épnon bán nhanh, giống bệnh
Cung cấp con giống không chấtlượng, dễ bệnh, tỷ lệ hao hụttrong khi nuôi cao
Thức ăn nuôi cá da trơn Nuôi bằng thức ăn tự chế từ
nhiều nguồn gốc pha với thức
ăn công nghiệp, chưa đảmbảo vệ sinh và môi trường
Cá nguyên liệu có màu thịttrắng chiếm tỷ lệ tối đa khoảng80% trong một vụ, chưa đápứng qui trình nuôi sạch
Bệnh và thuốc trị bệnh cho
cá da trơn
Bệnh phổ biến đốm đỏ trên
da, gan thận có mủ, ngộ độc,nhiễm kháng sinh MalachiteGreen, Fluoroquinolones, kýsinh trùng
Cá da trơn nhiễm chất khángsinh rất cao, thuốc gây ô nhiễmmôi trường, tỷ lệ hao hụt 15% -40% so với lúc thả nuôi banđầu
Kiến thức trong nuôi trồng Hơn 80% những hộ nuôi có
qui mô trung bình nhỏ thườngdùng kinh nghiệm, chưa cóđội ngũ tư vấn về kỹ thuật vàthị trường
Cá da trơn ít đạt các yêu cầu màthị trường đề nghị, giá bán thấp,dẫn tới phân phối bị động, theomối quan hệ đã có hoặc bị épgiá
sản với lãi suất cao 5%-10%
Hình thức: vay ngân hàng,vay thương lái hoặc tạm ứngtrước con giống, thức ăn,thuốc trị bệnh,
Nợ ngân hàng và nợ thươnglái bị ép giá và rào cản kỹthuật đối với cá nguyên liệutrong kỳ thu hoạch hoặc nợtrong những mùa kế tiếp nếukhông đạt hiệu quả
hộ có qui mô lớn nên đầu ra
ổn định hơn rất nhiều so vớinhững hộ có qui mô trungbình và nhỏ
Những hộ nuôi có qui mô trungbình và nhỏ có nhiều trở ngạihơn những hộ có qui mô lớn
Trang 11Khi xây dựng dự thảo về quy hoạch phát triển thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long đếnnăm 2015, tầm nhìn 2020, lãnh đạo ngành thủy sản các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đã khôngđồng ý với số liệu quy hoạch về phát triển nuôi cá tra, ba sa Ðánh giá về việc chậm triển khaiquy hoạch tổng thể phát triển nuôi trồng thủy sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Phó Giáo sư,Tiến sĩ Nguyễn Chu Hồi, Viện trưởng Kinh tế - Quy hoạch thủy sản (Bộ Thủy sản) cho rằng,nguyên nhân chủ yếu là do việc triển khai chưa đồng bộ, lúng túng, chưa có sự phối hợp đồng bộgiữa các cấp, các ngành.
Với những hạn chế, yếu kém trên, việc phát triển nuôi cá tra, ba sa tại các tỉnh Đồng bằngsông Cửu Long trong thời gian tới rất cần có sự định hướng, giải pháp tháo gỡ kịp thời của BộThủy sản, các cấp, các ngành Ðã đến lúc người nuôi, chế biến, xuất khẩu cá tra, ba sa cần có sựliên kết chặt chẽ, bảo đảm các bên cùng có lợi và phát triển bền vững
2.2.1.2 Rủi ro trong chế biến và bảo quản
“Chưa có bao giờ ngành sản xuất cá tra lại gặp khó khăn như hiện nay” là nhận địnhchung tại buổi tọa đàm “Các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, ba sa” tổ chức vàongày 16/5 tại Cần Thơ
Nhận định về tình hình nuôi trồng và chế biến cá tra năm 2012, ông Nguyễn Hữu Dũng,Phó Chủ tịch Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết Quý 1 nămnay, giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt trên 1,3 tỷ USD, tuy tăng 15% so với cùng kỳnăm ngoái nhưng tiềm ẩn nhiều khó khăn Sang tháng 4/2012, khó khăn bùng phát, cả doanhnghiệp lẫn người nuôi cá tra đều khát vốn nghiêm trọng, khiến sản xuất bị thu hẹp và đình đốn.Nguồn nguyên liệu trong dân chỉ còn khoảng 30% không đủ cung cho các nhà máy
Vài năm trở lại đây, nghề nuôi cá tra gặp bất trắc từ nhiều phía khiến nông dân treo aodần Những năm trước, khi giá cá tăng, hàng loạt hộ thi nhau đào ao nuôi cá Có hộ trở thành tỷphú sau một vụ nuôi Tuy vậy, từ đầu năm đến nay, mặc dù nguồn nguyên liệu không dồi dàonhưng giá cá vẫn rớt thê thảm còn từ 22.500 - 23.500 đồng/kg, nên người nuôi chịu cảnh thua lỗ.Các ngân hàng quá thận trọng trong việc cho vay nuôi cá tra, trong khi người nuôi cần nguồnvốn rất lớn, không thể tự xoay sở được nên đành treo ao Trong khi thị trường xuất khẩu tiếp tụcrộng mở, nhưng sản xuất trong nước tiếp tục gặp khó khăn Toàn bộ chuỗi sản xuất bị thu hẹp vàđình đốn
Trang 12Nhiều doanh nghiệp hiện nay đang gặp khó khăn trong sản xuất, kinh doanh cũng cùngnguyên nhân do thiếu hụt nguồn nguyên liệu và thiếu vốn Thời gian qua, một số doanh nghiệptăng cường tự đầu tư vùng nguyên liệu nhưng chỉ đáp ứng từ 30 đến 40% công suất nhà máy, cònlại phụ thuộc vào nguồn cá thu mua bên ngoài Thế nhưng giá cá tra hiện đang giảm, nên ngườinuôi không có lãi, trong khi ngân hàng thận trọng trong việc cho vay lĩnh vực thủy sản Khôngchỉ với các hộ nuôi cá, mà kể cả các trang trại và các doanh nghiệp nuôi cá cũng cạn vốn, khôngthể tiếp tục.
Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chi nhánh Cần Thơ, cuối năm 2011, dư nợ cho vaylĩnh vực thủy sản (gồm nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu) hơn 6.841 tỷ đồng, chiếm gần 17% tổng
dư nợ cho vay, tăng hơn 26% so với cuối năm 2010 Đến tháng 2/2012, dư nợ cho vay giảmxuống còn 6.283 tỷ đồng, giảm gần 10% so với cuối năm 2011 Các tỉnh khác trong vùng cũnglâm tình trạng tương tự
Thị trường không ngừng mở rộng từ vài nước châu Á nay đã lên 136 nước và vùng lãnhthổ khắp thế giới Thống kê của VASEP, hiện có đến 92,3% số doanh nghiệp có nhu cầu vay vốnkhẩn cấp trong quý II-2012 trong đó, nhu cầu vay mức thấp nhất là 10 tỷ đồng và cao nhất đến
500 tỷ đồng để bổ sung vốn lưu động cho thu mua nguyên liệu, thức ăn cho vùng nuôi và chohoạt động kinh doanh, xuất khẩu cá tra
Hiện nay, thời gian vay ngắn hạn, lãi suất khá cao là gánh nặng đối với doanh nghiệpthủy sản cũng như với nông dân Nguyên liệu chế biến bất ổn khiến nhiều nhà máy hoạt độngcầm chừng, một số chỉ hoạt động từ 30 - 40% công suất, thậm chí chỉ 10 - 20% công suất TạiCông ty CP Thủy sản An Phước ở xã An Phước (Mang Thít, Vĩnh Long) có nhà máy chế biến cátra công suất 300 tấn nguyên liệu/ngày, nhưng chỉ hoạt động 10% công suất
Nguồn cung ứng nguyên liệu trong nông dân chỉ còn 30% khiến nhiều DN chế biến thiếunguyên liệu, phải đóng cửa dẫn đến hệ lụy dây chuyền là người lao động bị thất nghiệp và nguồncung ứng cho các đơn đặt hàng xuất khẩu cũng bị giảm sút Dự kiến từ nay đến cuối năm, cònphải sản xuất 800.000 tấn cá tra nguyên liệu nhưng doanh nghiệp chế biến có vùng nuôi cá chỉđáp ứng khoảng 50% sản lượng.Ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó Chủ tịch VASEP cho biết thêm:
“Nếu không kịp thời gỡ khó cho doanh nghiệp thủy sản, trong năm nay, sẽ có 20% doanh nghiệpthủy sản bị phá sản.”
12
Trang 13Bên cạnh đó, khi xuất khẩu qua thị trường Mỹ đi khoảng cách xa, việc bảo quản cá đãqua sơ chế như về nhiệt độ, nồng độ các chất,….sẽ rất khó đảm bảo Mỹ là một thị trường rất đadạng, có rất nhiều sự dị biệt so với thị trường chung trên thế giới và là thị trường “khó tính” Dovậy, cá da trơn Việt Nam khi nhập khẩu vào Mỹ sẽ bị kiểm tra rất nghiêm ngặt.
Ngoài ra, trong tình hình lạm phát hiện nay tăng, doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều rủi ro về
tỷ giá Vì khi lạm phát cao thì đồng Việt Nam sẽ bị rớt giá, số tiền khi thu về có thể sẽ không bùlại đủ chi phí sản xuất dẫn đến thua lỗ
2.2.2 Rủi ro về nguồn cầu
2.2.2.1 Cạnh tranh với thị trường cá da trơn ở Mỹ
Thị trường Mỹ là thị trường sôi động nhưng cũng là thị trường khắt khe Vấn đề kiểm tratiêu chuẩn chất lượng là hàng rào khó khăn cho các nước xuất khẩu sang Mỹ Chỉ cần một độngthái nhỏ cũng đã ảnh hưởng đến lượng cầu trên thị trường này
Năm 2001, vào thời vụ ở Mỹ khan hiếm cá nheo, cá Việt Nam nhập khẩu tăng, thì Mỹ đãbắt đầu một chiến dịch quảng cáo kéo dài 9 tháng, tiêu tốn 5,2 triệu USD do Viện Cá nheo Mỹ(TCI) phát động và được CFA tài trợ để chống lại việc nhập khẩu cá tra và ba sa của Việt Nam.Những áp-phích in trên các tạp chí thương mại và quảng cáo thực phẩm với những dòng chữnhư:
"Đừng bao giờ tin vào sản phẩm catfish ngoại quốc" Trong nước, họ phát động chiến dịch
"Người Mỹ ăn cá nheo Mỹ" và sáng tác ra nhãn hiệu "Cá catfish nuôi của Mỹ", tạo ra không khíbài xích đối với sản phẩm cá da trơn Việt Nam và đã làm cho sản lượng nhập khẩu cá da trơnViệt Nam nhập khẩu vào Mỹ giảm Xuất hiện chiến dịch chống cá tra và cá ba sa của Việt Nam
là vì khi đó thị phần cá ba sa từ Việt Nam trên thị trường Mỹ tăng từ 7% lên đến 23% Vì giá rẻhơn cá Mỹ chừng 1,25 USD/pound Một số thượng nghị sĩ Mỹ cho rằng cá ba sa Việt Nam đượcbán với cái tên catfish làm cho người dân Mỹ nuôi cá catfish cạnh tranh không lại và có nguy cơphá sản và họ kêu gọi Quốc hội Mỹ thông qua dư luật H.R 2439 với tên gọi “ghi nhãn về nguồngốc xuất xứ” đối với cá nuôi nhập khẩu trong khẩu trong khâu bán lẻ với những lập luận côngkhai bôi nhọa sản phẩm cá Việt Nam, thậm chí còn nói rằng cá da trơn Việt Nam nuôi ở sôngMeKong có thể chứa lượng chất độc da cam do quân đội Mỹ đã rải xuống đây trong thời gianchiến tranh Trong khi đó thì người dân Mỹ lại rất ưa chuộng cá ba sa nhập khẩu từ Việt Nam.Kim ngạch xuất khẩu cá ba sa và cá tra của Việt Nam trong những năm gần đây gia tăng đáng kể