Việc kiểm sát khám nghiệm hiện trường, tử thi không thường xuyên, không trực tiếp mà chỉ kiểm sát qua biên bản giấy tờ đã dẫn tới thực trạng không nắm bắt được chi tiết vụ, việc và những
Trang 1VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI THỊ TUYẾT MAI
KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, năm 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI THỊ TUYẾT MAI
KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tác giả Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Bùi Thị Tuyết Mai
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI 8
1.1 Những vấn đề lý luận về kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi 8 1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi 32
Chương 2 THỰC TIỄN KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI 43
2.1.Tổng quan hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi tại tỉnh Quảng Ngãi 43 2.2 Đánh giá hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi tại tỉnh Quảng Ngãi 45
Chương 3 CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI ĐÚNG TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI 68
3.1 Các yêu cầu đối với kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi đúng 68 3.2 Các giải pháp bảo đảm kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm
tử thi đúng tại tỉnh Quảng Ngãi 70
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi là hoạt động tố tụng rất quan trọng của cơ quan tiến hành tố tụng đồng thời đây cũng là hoạt động nghiệp vụ của
Cơ quan điều tra Có thể nói hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi là cái “gốc”, là xuất phát điểm của mọi hoạt động điều tra, khám phá vụ án sau này vì hiện trường vụ án và tử thi là nơi tập trung nhiều nhất các dấu vết, các chứng
cứ chứng minh hành vi phạm tội Nếu trong hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi có sai sót, bỏ lọt dấu vết, chứng cứ thì khó có thể tìm lại và phục hồi được, dẫn đến lập kế hoạch, định hướng điều tra thiếu chuẩn xác, đánh giá sai chứng cứ làm cho việc giải quyết vụ án không khách quan
Với ý nghĩa đó, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự là một trong những công tác thực hiện chức năng của VKSND Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự giữ vị trí đặc biệt quan trọng, trong đó có hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi Điều 150, 151 Bộ luật tố tụng hình
sự 2003 quy định và tại Điều 201, 202 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 mới được ban hành, những quy định về hiện trường, tử thi và công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi vẫn được giữ nguyên không có thay đổi nhiều, có nhiều nhận thức, lý luận quan điểm khác nhau nên gặp nhiều bất cập trong thực tiễn Trong mọi trường hợp trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết, để phân công Kiểm sát viên tham gia kiểm sát trực tiếp Pháp luật chỉ quy định Cơ quan điều tra phải thông báo cho Viện kiểm sát nhưng lại không nói rõ việc thông báo này tiến hành theo thủ tục nào, thông báo bằng miệng, bằng văn bản hay thông báo qua điện thoại Thực tiễn cho thấy, nếu những vụ án đã khởi tố sau đó Cơ quan điều tra mới tổ chức kiểm tra hiện trường thì việc thông báo cho Viện kiểm sát thường tiến hành bằng văn
Trang 7bản; nếu vụ việc mang tính hình sự xảy ra chưa rõ có dấu hiệu của tội phạm hay không, vì tính cấp bách, tính khẩn trương và đòi hỏi phải làm ngay nên hoạt động thông báo thường thông qua điện thoại cho KSV trực nghiệp vụ, những việc thông báo
đó đều đúng không vi phạm quy định của pháp luật.Tuy nhiên, đôi lúc do công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi cần khẩn trương mà liên lạc điện thoại với KSV nên KSV không có mặt để kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi đây là vấn đề còn bất cập
Trong những năm qua Ngành Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều cố gắng trong thực hiện công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi góp phần quan trọng trong hoạt động điều tra khám phá vụ án Tuy nhiên, thực tiễn công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi vẫn còn nhiều bất cập, yếu kém với nhiều lý do khác nhau như: nhiều vụ việc xảy ra
Cơ quan điều tra thông báo cho Viện kiểm sát, nhưng Viện kiểm sát không cử KSV đến kiểm sát, vẫn còn có trường hợp phân công cán bộ không phải là KSV, hoặc KSV không chủ động trong việc khám nghiệm hiện trường, phụ thuộc vào Điều tra viên, chưa đánh giá được hiện trường, dấu vết để yêu cầu ĐTV thu giữ các dấu vết, vật chứng của vụ án, có trường hợp sau khi khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi xong KSV mới đến Việc kiểm sát khám nghiệm hiện trường, tử thi không thường xuyên, không trực tiếp mà chỉ kiểm sát qua biên bản giấy tờ đã dẫn tới thực trạng không nắm bắt được chi tiết vụ, việc và những vấn đề phát sinh ngay
từ đầu, cho nên hoạt động kiểm sát điều tra tiếp theo của cơ quan này gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng trong việc nhận định, đánh giá và ra các quyết định KSV đến hiện trường còn mang tính hình thức, có mặt cho đúng thủ tục, kiểm sát khám nghiệm hiện trường qua loa, đại khái, không yêu cầu thu thập tài liệu, chứng cứ hoặc thu thập không đầy đủ, không tuân thủ sự thật khách quan của vụ việc xảy ra, nên thời gian qua trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số vụ tồn đọng, kéo dài sau đó phải đình chỉ vì không chứng minh được tội phạm, hoặc có những bản án bị cấp giám đốc thẩm hủy bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm, số vụ việc thụ lý nhiều nhưng số
vụ án được giải quyết chiếm tỷ lệ thấp
Trang 8Đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập Quốc tế đòi hỏi những biện
pháp điều tra được ghi nhận việc thu thập dấu vết, chứng cứ tại hiện trường do
những cơ quan có thẩm quyền theo qui định của Bộ luật TTHS qui định Vì vậy công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi của Viện kiểm sát đối với CQĐT cần phải hoàn thiện để đạt hiệu quả cao, tránh vụ việc thụ lý kéo dài tồn đọng, án hủy, sửa do có lỗi của KSV trong quá trình kiểm sát khám nghiệm hiện
trường, khám nghiệm tử thi Do vậy, việc nghiên cứu đề tài "Kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi" là cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam là một lĩnh vực không mới, là một hoạt động đã được pháp luật quy định cho Ngành kiểm sát và trong thực tế hoạt động này là đề tài nghiên cứu của một số luận văn và luận án Cụ thể như:
- Nguyễn Thị Loan, Học viện khoa học xã hội: Giám định tư pháp trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ Luật học, Học viện khoa học xã hội, 2014
nhằm nhận diện đầy đủ các lĩnh vực giám định, xác định cơ chế đánh giá kết quả giám định tư pháp trong tố tụng hình sự, chi tiết hóa các thủ tục trưng cầu giám định, chủ thế trưng cầu, chủ thể yêu cầu giám định trong tố tụng hình sự, cụ thể hóa trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong quá trình giám định tư pháp, đưa ra một
số kiến nghị [19]
- Đặng Anh Tứ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum: “Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Kon Tum” Luận văn Thạc sỹ luật học, Học viện khoa học xã hội, 2016 Luận
văn nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản Đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm bảo đảm khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ án tai nạn giao thông đường
bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản ở tỉnh Kon Tum [37]
Trang 9- Nguyễn Thanh Mai, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây: “Kiểm sát điều tra tại hiện trường những vụ việc mang tính hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Tây”,
Luận văn Thạc sỹ luật học, Học viện cảnh sát nhân dân, 2005 nghiên cứu những vấn
đề lý luận tại hiện trường và kiểm sát điều tra tại hiện trường, làm sáng tỏ các mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình kiểm sát điều tra tại hiện trường, khám phá các vụ án hình sự phục vụ tốt cho cuộc đấu tranh và phòng chống tội phạm [20]
Đinh Trường Giang (2015) Học viện khoa học xã hội Luận văn “Kiểm sát điều tra tại hiện trường theo Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” Luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hiện trường
và hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường, phát hiện những ưu, nhược điểm và nguyên nhân của những tồn tại, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát trong kiểm sát điều tra tại hiện trường đúng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi[9]
Nội dung của những đề tài nêu trên đã đề cập đến chức năng kiểm sát điều tra các vụ án hình sự và công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường, các luận văn và luận án này được nghiên cứu chỉ trong phạm vi của hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường mà không phải là hoạt động Kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám
nghiệm tử thi Hơn nữa, các nghiên cứu này từ thực tế ở một số địa phương khác,
trên cơ sở Bộ luật TTHS năm 2003, 2015 và một số nghiên cứu chỉ dừng lại ở góc
độ phân tích, tìm hiểu các quy định của pháp luật
Ngoài những công trình trên, còn có một số các công trình khác như: Quyền
và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường- Lê Minh Tuấn (2007), Tạp chí Kiểm sát số 10, Hà Nội [36] ; Kiểm sát điều tra tại hiện trường trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh của Ngô Xuân Khang (2013), Luận
văn Thạc sỹ luật học, Học viện khoa học xã hội [17]; Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và thưc nghiệm điều tra của tác giả Nguyễn Đức Hạnh (2014)Tạp chí Kiểm sát số 08, Hà Nội[41]
Trang 10Đối với địa bàn tỉnh Quảng Ngãi theo tác giả được biết cho đến nay chưa có công trình khoa học nào tập trung nghiên cứu và làm rõ nội dung của công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam nên chưa đánh giá, so sánh giữa kết quả kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi với kiểm sát điều tra hiện trường v.v… từ đó để có thể tổng kết sơ bộ của hoạt động kiểm sát hiện trường, khám nghiệm tử thi trên cơ sở tổng hợp các biện pháp thực hiện, kinh nghiệm thực tiễn và những khó khăn vướng mắc trong công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi của Viện kiểm sát hai cấp thuộc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, đề xuất những giải pháp
để nâng cao chất lượng trong công tác này nhằm đáp ứng yêu cầu của pháp luật có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc điều tra khám phá vụ án không để làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm đảm bảo quyền con người, quyền công dân
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam tại tỉnh Quảng Ngãi Luận văn đề xuất các giải pháp kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi đúng quy định pháp luật góp phần đấu tranh phòng, chống có hiệu quả tội phạm tại tỉnh Quảng Ngãi
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đây Luận văn thực hiện các nhiệm vụ như:
- Phân tích những vấn đề lý luận và pháp luật khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi
- Phân tích, làm rõ quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi
- Phân tích, đánh giá thực tiễn kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
- Tổng hợp những ưu điểm, những mặt tích cực, những hạn chế trong hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi tại tỉnh Quảng Ngãi,
Trang 11từ đó đề xuất những giải pháp đảm bảo cho hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi đúng qui định pháp luật
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của BLTTHS năm 2015
có đối chiếu với BLTTHS năm 2003 và thực tiễn kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Trong đó nội dung cơ bản là kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với Cơ quan cảnh sát điều tra trong quá trình tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thu giữ, tạm giữ phương tiện, đồ vật liên quan đến vụ việc ở hiện trường… để phục vụ cho việc đánh giá có tội phạm xảy ra không để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài Luận văn này được cứu trên góc độ chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự Kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi trên tất cả các lĩnh vực về hình sự rất rộng nên không để đánh giá và phân tích hết nên trong
đề tài này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi đối với vụ việc có dấu hiệu tội phạm xảy ra tại tỉnh Quảng Ngãi
Các số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài được Tác giả Luận văn thu thập từ thực tiễn kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi theo quy định của BLTTHS năm 2003 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi khoảng thời gian từ năm
2013 đến năm 2017
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở các quan điểm duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về tội phạm, đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, về cải cách tư pháp về bảo vệ quyền con người.v.v…
Tác giả đã sử dụng trong một tổng thể các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp khảo sát thực tiễn, phương pháp so sánh đối chiếu, thống kê,
Trang 12phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải, phương pháp quy nạp tổng hợp và những phương pháp khác
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập và kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi trên thực tế
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về
kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi
Chương 2: Thực tiễn kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi
tại tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm kiểm sát khám nghiệm hiện
trường, khám nghiệm tử thi đúng quy định của pháp luật tại tỉnh Quảng Ngãi
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ KIỂM SÁT KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG,
KHÁM NGHIỆM TỬ THI 1.1 Những vấn đề lý luận về kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi
1.1.1 Những vấn đề lý luận về kiểm sát khám nghiệm hiện trường
1.1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường
* Khái niệm kiểm sát khám nghiệm hiện trường
Cho đến nay có rất nhiều ý kiến và những quan điểm khác nhau khi đề cập đến vấn đề hiện trường
Chẳng hạn theo Đại Từ điển tiếng Việt thì: “Hiện trường là nơi xảy ra hoạt động hay sự việc gì” [39] Tuy nhiên, như khái niệm này thì hiện trường lại quá
rộng và là hiện trường chung nhất, nó chưa chỉ rõ được tính chất của sự việc và hoạt động xảy ra là sự việc hay hoạt động gì?
Còn theo Từ điển bách khoa thì:“Hiện trường là nơi diễn ra sự việc hay hoạt động thực tế”[24] Với khái niệm này, chúng ta không xác định được đâu là hiện
trường chủ đạo, đâu là hiện trường chính để tiến hành khám nghiệm thu thập dấu vết vật chứng, sự việc khi "diễn ra" là một chuỗi các hành vi khác nhau, kéo dài trong những khoảng thời gian khác nhau và tồn tại trong những không gian cũng khác nhau và khái niệm này cũng rơi vào trạng thái, những sự việc mang tính bất kỳ
và những hoạt động thực tế mang tính bất kỳ Khái niệm này chưa chỉ ra được sự việc cụ thể
Theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam thì ĐTV chủ trì tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm để phát hiện dấu vết của tội phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử khác liên quan và làm sáng tỏ
những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án [29, Đ.201] Như vậy, hiện trường phải là “nơi xảy ra” hoặc“nơi phát hiện tội phạm”.Trước hết, hiện trường phải là “nơi” tức là nó phải được tồn tại trong một khoảng không gian và thời gian
Trang 14nhất định, đó là nơi đã xảy ra hoạt động phạm tội hoặc đó là nơi đã phát hiện ra tội phạm Chính vì thế hiện trường phải tồn tại những dấu vết, vật chứng và chúng phản ánh sự tác động qua lại giữa thủ phạm với nạn nhân và môi trường vật chất xung quanh Quy định này cho thấy có tính chủ quan của nhà làm luật, vì cho rằng: Hiện trường phải là nơi xảy ra tội phạm, nơi phát hiện tội phạm mà ĐTV tiến hành khám nghiệm, tức là phải thỏa mãn những quy định về tội phạm trong BLHS Nhưng trên thực tế, hoạt động điều tra khám phá các vụ án hình sự, là quá trình đi
từ không đến có, phải xác định một vụ việc xảy ra có sự kiện phạm tội hay không, tức là phải xác định có phạm tội xảy ra hay không Chính vì vậy, khi có sự việc hình
sự xảy ra CQĐT phải tiến hành khám nghiệm ngay, sau đó mới kết luận có hay
không có sự việc phạm tội để đi đến kết luận có hay không khởi tố vụ án hình sự
Chúng tôi cho rằng, cách hiểu như trên là cứng nhắc, chưa chặt chẽ, bởi vì ĐTV muốn tiến hành khám nghiệm được phải xác định: nơi xảy ra tội phạm, nơi phát hiện tội phạm, khu vực phát hiện dấu vết để lại của tội phạm trong khi đó phần lớn muốn xác định được vấn đề này thì phải tiến hành khám nghiệm hiện trường trước mới kết luận được.Vì vậy, khái niệm về hiện trường theo quy định này quá bó hẹp và không mang tính khái quát cao Chẳng hạn những vụ hiện trường có người chết, phải qua quá trình khám nghiệm, thu thập những thông tin, tìm kiếm các dấu vết, vật chứng xung quanh hiện trường và có thể rãi rác ở nhiều địa điểm, nhiều khu vực khác nhau từ đó mới có thể đi đến nhận định ban đầu nguyên nhân cái chết của nạn nhân là do án mạng, do tự sát, do bệnh lý hay do tai nạn rủi ro và chỉ xác định nguyên nhân chết là do án mạng mới là căn cứ xác định có dấu hiệu của tội phạm để tiến hành khởi tố vụ án hình sự Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái
niệm hiện trường như sau: Hiện trường là khu vực hoặc địa điểm xảy ra sự kiện, nơi
để lại dấu vết hoặc phát hiện thấy hậu quả của của tội phạm được quy định trong
Bộ luật hình sự
Đây là khái niệm mang tính khái quát cao và đầy đủ Bởi vì, khái niệm này
đã thỏa mãn được những dấu hiệu đặc trưng, cơ bản của hiện trường là:
Thứ nhất: Hiện trường phải tồn tại ở một địa điểm, khu vực cụ thể trong khoảng
không gian và thời gian nhất định Đây là thuộc tính tất yếu của hiện trường
Trang 15Thứ hai: Phải có sự việc, dấu vết, hậu quả để lại của hành vi của tội phạm
xảy ra, những dấu hiệu của tội phạm này có thể bao gồm: những hành vi phạm tội
cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự; cũng có thể là những vụ việc mang tính hình sự xảy ra, khi xảy ra nó đã xâm hại đến những khách thể được luật hình sự bảo
vệ, như tính mạng, sức khỏe, tài sản xong chưa thể xác định được các yếu tố của cấu thành tội phạm
Hiện nay, trong khoa học hình sự vẫn chưa có một khái niệm chính thức về khám nghiệm hiện trường.Trong cuốn Giáo trình Điều tra hình sự năm 2002 của Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, viết về khám khám nghiệm hiện trường như sau: Khám nghiệm hiện trường là tổ chức việc nghiên cứu, phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản dấu vết vật chứng và các tin tức, tài liệu có liên quan trực tiếp tại hiện trường[18] Khái niệm trên chưa chỉ ra được hoạt động khám nghiệm hiện trường là hoạt động gì? Theo quy định pháp luật nào? Khái niệm này chưa chỉ ra được hoạt động khám nghiệm hiện trường là hoạt động điều tra theo tố tụng hình sự quy định Bởi lẽ, chỉ khi kết quả khám nghiệm hiện trường là kết quả của hoạt động
tố tụng hình sự thì mới đảm bảo giá trị pháp lý để chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội Khái niệm khám nghiệm hiện trường trong cuốn Giáo trình bảo vệ và khám nghiệm hiện trường, xuất bản năm 2004 của Học viện Cảnh sát nhân dân được nêu như sau: Khám nghiệm hiện trường là hoạt động điều tra tố tụng hình sự nhằm nghiên cứu, phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản, đánh giá các dấu vết, vật chứng và những tin tức, tài liệu có liên quan trực tiếp tại hiện trường, phục vụ cho việc điều tra và xử lý tội phạm [14] Khái niệm về khám nghiệm hiện trường trong cuốn giáo trình này đã đề cập đến tính căn cứ pháp lý của hoạt động khám nghiệm hiện trường, đó là hoạt động được quy định trong Bộ luật TTHS Do đó, nó đã thỏa mãn thuộc tính thứ ba của chứng cứ, đó là tính hợp pháp của chứng cứ Khái niệm cũng chỉ rõ khám nghiệm hiện trường không chỉ dừng lại
ở việc nghiên cứu, phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản dấu vết, vật chứng cũng như các tin tức, tài liệu khác tại hiện trường mà còn phải nghiên cứu, đánh giá dấu vết, vật chứng cũng như các tin tức, tài liệu khác tại hiện trường Tuy nhiên, nếu cho rằng khám nghiệm hiện trường nhằm mục đích phục vụ cho việc điều tra và xử
Trang 16lý tội phạm như được nêu trong khái niệm trên là chưa hoàn toàn chính xác, không phải hiện trường nào cũng là hiện trường của vụ phạm tội, trong thực tế khám nghiệm hiện trường được tiến hành khi có vụ việc được nhận định là mang tính hình
sự xảy ra Nhiều vụ việc, sau khi căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường đã xác định không có sự kiện phạm tội Do đó, không phải kết quả của cuộc khám nghiệm hiện trường nào cũng phục vụ cho việc điều tra và xử lý tội phạm Cho nên, theo tác giả, mục đích bao quát của khám nghiệm hiện trường là nhằm phục vụ điều tra, xử lý vụ việc đúng pháp luật Trên cơ sở nghiên cứu những quan điểm khác nhau đã nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm khám nghiệm hiện trường như sau:
Khám nghiệm hiện trường là một hoạt động tố tụng hình sự, đồng thời là một biện pháp nghiệp vụ cấp bách được thực hiện trong quá trình điều tra vụ án hình
sự, nhằm phát hiện thu thập, nghiên cứu, đánh giá các dấu vết cũng như những thông tin vật chất khác có trên hiện trường, phục vụ cho công tác điều tra, khám phá vụ án và phát hiện xử lý người phạm tội theo pháp luật
Qua thực tiễn nghiên cứu cũng như từ thực tế thực hiện nhiệm vụ của người cán bộ kiểm sát, Tác giả luận văn này nhận thấy chức năng nhiệm vụ của Ngành kiểm sát đã được Hiến định, cụ thể là tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy
định“Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”[25] Theo đó, Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự [30, Đ.3] Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động
tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [30, Đ.4]
Khám nghiệm hiện trường có ý nghĩa quan trọng trong việc thu thập các
Trang 17thông tin, tài liệu chứng cứ phục vụ cho việc điều tra, làm rõ vụ việc Hiệu quả của hoạt động điều tra bị chi phối ở mức độ đáng kể bởi kết quả khám nghiệm hiện trường, thậm chí trong nhiều trường hợp nó mang tính chất quyết định đối với hiệu quả của hoạt động điều tra Thông qua hiện trường, cơ quan có thể nhận định, đánh giá tính chất của hoạt động của thủ phạm, công cụ, phương tiện mà thủ phạm sử dụng khi phạm tội, thời gian trên hiện trường của thủ phạm, mối quan hệ giữa thủ phạm và hiện trường cũng như nhiều thông tin cần thiết khác Do vậy, khám nghiệm hiện trường là nguồn chứng cứ quan trọng và nhiều khi là duy nhất để phát hiện, thu lượm dấu vết, các tài liệu và chứng cứ, nó là điểm xuất phát quan trọng cho các hoạt động điều tra, truy xét tiếp theo và công việc khám phá vụ án Thủ phạm nào cũng
sẽ tạo ra dấu vết, nhưng muốn phát hiện được dấu vết do thủ phạm để lại ở hiện trường, không bỏ sót dấu vết, vật chứng thì cần phải căn cứ vào thực tại khách quan
để có nhận định chính xác về diễn biến của vụ án và quá trình hành động của thủ phạm ở hiện trường
Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường là một dạng áp dụng pháp luật đặc thù, thuộc trường hợp áp dụng pháp luật khi Nhà nước thấy cần thiết phải tham gia bằng hình thức giám sát hoạt động điều tra các vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cũng như các hành vi của những người tham gia việc khám nghiệm hiện trường Các quyết định của Cơ quan điều tra hoặc các hành vi của những người tham gia việc khám nghiệm hiện trường được thực hiện đúng hoặc không đúng quy định của pháp luật Khi đó nhà nước thông qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND kịp thời phát hiện những vi phạm, đề ra các yêu cầu, kiến nghị khắc phục, sửa chữa; đảm bảo cho việc giải quyết các vụ án hình sự được tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường các vụ án hình sự là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước của VKSND nhằm cá biệt hóa các quy định của pháp luật, các quy phạm pháp luật nói chung và các quy phạm tố tụng hình sự nói riêng đối với việc khám nghiệm hiện trường, nhằm bảo đảm cho toàn bộ hoạt động điều tra các vụ án hình sự của CQĐT nói chung và hoạt động khám nghiệm hiện trường nói riêng được tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật
Trang 18Phân tích các quy định cụ thể đã được viện dẫn nói trên ta có thể thấy hai chức năng đó của VKS luôn đan xen hổ trợ nhau và khi hai chức năng của VKS được Hiến định như đã trình bày ở trên thì các khâu công tác của Ngành kiểm sát cũng được cụ thể hóa hơn Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 2014 cũng đã quy định
về các công tác của Viện kiểm sát nhân dân và theo đó thì Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố bằng các công tác như: Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự… Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp bằng các công tác: Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; Kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án hình [30, Đ.6]
Để kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự,Viện kiểm sát thực hiện nhiều hoạt động khác nhau như kiểm sát hồ sơ đề nghị phê chuẩn khởi tố bị can, phê chuẩn lệnh bắt tạm giữ, tạm giam, kiểm sát hồ sơ khởi tố vụ án hình sự v.v Như vậy, kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi cũng nhằm thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra vụ án hình sự
Tuy nhiên, cho đến nay từng hoạt động cụ thể nhằm thực hiện các chức năng của VKS chưa được các nhà khoa học cũng như những người thực hiện nhiệm vụ trong Ngành kiểm sát quan tâm nghiên cứu đúng mức Bởi vậy, cho đến nay chưa
có khái niệm kiểm sát khám nghiệm hiện trường được nêu ra trong sách báo pháp
lý Cũng bởi vậy, qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ của Ngành kiểm sát tác giả mạnh dạn đưa ra khái niệm về Kiểm sát khám nghiệm hiện trường như sau:
Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường là một hoạt động của Viện kiểm sát
để kiểm sát tính hợp pháp đối với các hành vi, quyết định của cơ quan điều tra cũng như tổ chức, cá nhân khác trong phát hiện, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ tại khu vực hoặc địa điểm xảy ra sự kiện, nơi để lại dấu vết, nơi phát hiện hậu quả của tội phạm nhằm bảo đảm cho việc điều tra vụ án đúng quy định của pháp luật
- Ý nghĩa của việc kiểm sát khám nghiệm hiện trường
Trang 19Kiểm sát khám nghiệm hiện trường góp phần giúp cơ quan điều tra xác định các nội dung, tính chất của vụ việc xảy ra, đó là hiện trường có dấu hiệu của tội phạm
hay không phải là hiện trường của tội phạm
Kiểm sát khám nghiệm hiện trường góp phần thu giữ đầy đủ những dấu vết vật chứng có ở hiện trường, bởi lẽ dấu vết vật chứng có ý nghĩa rất lớn cho việc chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội Những dấu vết này sẽ nói rõ ai là người thực hiện hành vi phạm tội, thực hiện bằng phương thức thủ đoạn
gì, công cụ phương tiện khi thực hiện hành vi phạm tội
Thông qua dấu vết vật chứng để lại ở hiện trường, cơ quan tiến hành tố tụng
sẽ tiến hành mã hóa thông tin để xác định rõ thủ phạm đã sử dụng phương thức thủ đoạn gì khi thực hiện hành vi phạm tội, cách thức tiến hành ra sao, thời gian gây án,
có bao nhiêu người thực hiện hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội
Kết quả của hoạt động khám nghiệm hiện trường sẽ là cơ sở quan trọng để CQĐT đưa ra những quyết định tiếp theo phù hợp với diễn biến của vụ việc mang tính hình sự xảy ra, cũng chính là căn cứ vững chắc để VKS phê chuẩn các quyết định của CQĐT(thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố của mình trong giai đoạn kiểm sát điều tra vụ án hình sự)
Kiểm sát khám nghiệm hiện trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc góp phần không để lọt tội phạm cũng như không làm oan sai, nâng cao hiệu quả của công tác điều tra, phòng chống tội phạm
1.1.1.2 Nội dung và hình thức kiểm sát khám nghiệm hiện trường
Công tác điều tra và khám nghiệm hiện trường bắt đầu từ khi CQĐT thành lập Hội đồng khám nghiệm và phân công ĐTV tiến hành khám nghiệm ĐTV được phân công khám nghiệm hiện trường có trách nhiệm phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết về việc khám nghiệm hiện trường để Viện kiểm sát cử KSV tham gia Khi đến hiện trường, Kiểm sát viên có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình khám nghiệm cho đến khi kết thúc việc khám nghiệm hiện trường và hoàn thành hồ sơ công tác khám nghiệm hiện trường Cho nên hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường được tiến hành từ khi có thông báo của Cơ
Trang 20quan điều tra và KSV có mặt tại hiện trường cho đến khi kết thúc việc khám nghiệm hiện trường và hoàn thành hồ sơ công tác khám nghiệm hiện trường cũng như các
hoạt động khác tại hiện trường.Việc kiểm sát được tiến hành không chỉ ngay tại
hiện trường và cũng không chỉ gói gọn trong hoạt động khám nghiệm nơi, địa điểm, khu vực có dấu vết của tội phạm, mà nó còn kiểm sát tất cả những hoạt động tố tụng khác xuất phát từ công tác khám nghiệm hiện trường nhằm thu thập đầy đủ dấu vết, vật chứng, thông tin về hiện trường như vấn đề người chứng kiến, việc khám nghiệm tử thi, vấn đề hồ sơ khám nghiệm hiện trường, việc khám xét, thu giữ vật chứng, trưng cầu giám định, lấy lời khai [43]
Trước khi kiểm sát khám nghiệm hiện trường khi nhận tin báo vụ, việc xảy
ra có tính chất khẩn cấp do các cơ quan, cá nhân thông báo đến Viện kiểm sát và yêu cầu đặt ra là phải tiến hành khám nghiệm hiện trường thì KSV tiếp nhận phải tiến hành nắm một số thông tin ban đầu phục vụ cho công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên phải tiến hành đánh giá tính chất của vụ, việc đã xảy ra và kịp thời báo cáo với lãnh đạo Viện để phân công KSV trực tiếp khám nghiệm hiện trường và báo cáo với lãnh đạo Viện cấp trên nếu xét thấy cần thiết Lãnh đạo Viện trực tiếp hoặc cử KSV tiến hành kiểm sát khám nghiệm hiện trường
đối với các vụ việc thuộc thẩm quyền
Trong khi kiểm sát khám nghiệm hiện trường, KSV được phân công tập trung và các hoạt động sau [32]:
- Kiểm sát việc bảo vệ hiện trường:
Ngay sau khi nhận được thông báo của CQĐT về việc khám nghiệm hiện trường, KSV kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường phải yêu cầu CQĐT thực hiện ngay các biện pháp cần thiết để bảo vệ hiện trường, phải kịp thời bao quát toàn bộ hiện trường, không để người không có trách nhiệm ra vào hiện trường, không ai, không người nào được phép tự ý mang bất kỳ vật gì ở hiện trường đi nơi khác hoặc di chuyển vị trí các đồ vật tại hiện trường, không được tiết lộ các tin tức, tài liệu về hiện trường; xác định ngay các nhân chứng của vụ án, chú ý các dấu vết nguồn hơi để sử dụng chó nghiệp vụ để truy nóng tìm thủ phạm gây án Tuy vậy, trên thực tiễn công tác cho thấy, việc bảo vệ hiện trường chưa thật sự được Cơ quan cảnh sát điều tra chú trọng
Trang 21- Kiểm sát thành phần tham gia khám nghiệm:
Thông thường lực lượng khám nghiệm hiện trường bao gồm: các ĐTV, KSV, người chứng kiến; các nhà chuyên môn (tùy thuộc vào sự việc xảy ra tại hiện trường mà mời các nhà chuyên môn cho đúng chức năng của họ, ví dụ: hiện trường
vụ việc có tử thi thì phải mời bác sĩ pháp y; hiện trường cháy nổ thì phải mời chuyên gia giám định về chất nổ ), để làm tốt hoạt động này KSV phải nhanh chóng xác định tính chất vụ việc nơi xảy ra để lưu ý ĐTV trong việc mời người chứng kiến, mời các nhà chuyên môn cần thiết tham dự vào việc khám nghiệm.Trong trường hợp vụ án hình sự đã khởi tố và hoạt động khám nghiệm hiện trường tiến hành khi đã khởi tố bị can, thì KSV khi tham gia kiểm sát khám nghiệm hiện trường phải nhanh chóng quyết định việc có thể cho bị can, người bị hại hoặc người làm chứng của vụ án tham dự vào hoạt động khám nghiệm hay không (kể cả trường hợp họ yêu cầu hoặc không yêu cầu để tránh sự phức tạp, khiếu kiện dài ngày sau đó) Thực trạng hoạt động này cho thấy, Kiểm sát viên khi được phân công kiểm sát điều tra tại hiện trường chỉ chú trọng hoạt động kiểm sát những công việc tiến hành khám nghiệm tại hiện trường, vấn đề thành phần Hội đồng khám nghiệm, công tác chuẩn bị tiến hành khám nghiệm không được KSV chú ý: nhiều
vụ, việc xảy ra Hội đồng khám nghiệm không đúng thành phần, không đúng chức danh, KSV không phát hiện được nên kết thúc khám nghiệm vẫn ký nhận vào biên bản khám nghiệm Sau này phát hiện không thể khắc phục được nữa
- Kiểm sát, kiểm tra để bảo đảm các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho hoạt
động khám nghiệm hiện trường được chuẩn bị đầy đủ, phù hợp với hiện trường vụ, việc xảy ra
Đảm bảo những phương tiện kỹ thuật được chuẩn bị đầy đủ: như các va ly dự thẩm; máy chụp ảnh; máy soi; máy ghi âm, ghi hình các phương tiện nhằm phát hiện dấu vết vật chứng, các phương tiện nhằm thu thập dấu vết vật chứng, đặc biệt trong những trường hợp việc khám nghiệm hiện trường phải tiến hành ở nơi xa xôi, hẻo lánh, đêm tối hoặc phải tiến hành khám nghiệm dài ngày thì công việc chuẩn bị này phải chu đáo và đầy đủ tránh thiếu phương tiện, công cụ khám nghiệm mà phải dãn cách cuộc khám nghiệm, bởi lẽ hoạt động này vừa đòi hỏi phải nhanh chóng khẩn
Trang 22trương, vừa đòi hỏi tính chính xác cao
- Kiểm sát việc tiến hành khám nghiệm hiện trường:
Đây có thể được xem là hoạt động mang tính trung tâm của kiểm sát khám nghiệm hiện trường, vì khi xác định có vụ, việc có dấu hiệu tội phạm xảy ra cần phải khám nghiệm hiện trường CQĐT phân công ĐTV để tiến hành khám nghiệm, ĐTV phải thực hiện các nội dung theo quy định của pháp luật về khám nghiệm hiện trường
Cụ thể như quan sát hiện trường, đề ra phương pháp khám nghiệm để đạt kết quả cao nhất, việc đo đạc, chụp ảnh, xác định dấu vết, thu lượm tang vật, vật chứng phải từ công tác khám nghiệm hiện trường, ĐTV có thể sẽ thực hiện các công tác điều tra khác như khám nghiệm tử thi, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, vật chứng, lấy lời khai.v.v… KSV phải kiểm sát được toàn bộ các hoạt động của ĐTV cũng như của các chủ thể khác tại hiện trường
- Kiểm sát việc khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, vật chứng
Khi thực hiện kiểm sát hoạt động này, KSV phải yêu cầu CQĐT chấp hành nghiêm chỉnh các quy định tại các Điều 192 đến Điều 199 chương XIII Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Công
an, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính về việc bảo quản và giao nhận vật chứng và tài sản tạm giữ KSV phải kiểm sát chặt chẽ, xem xét những hoạt động nào chưa tiến hành hoặc thực hiện không đúng quy định của pháp luật phải yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành ngay hoặc phải làm lại, sửa chữa những sai phạm kịp thời Đối với những vật chứng bị tạm giữ, thu giữ Cơ quan điều tra phải tiến hành lập biên bản xác định trạng thái ban đầu của những dấu vết, vật chứng này Do vậy, KSV phải kiểm sát chặt chẽ việc lập biên bản của ĐTV xem có đúng không, có tỷ mỷ và chi tiết không,
cụ thể không, nếu thấy ghi chung chung yêu cầu họ ghi cho cụ thể và tỷ mỷ để tránh tình trạng khiếu kiện sau này Trên thực tế, hoạt động này thường tiến hành rất qua loa, đại khái, không đầy đủ đúng theo quy định của pháp luật; việc thu giữ không lập biên bản, sau này những vật đó không có giá trị chứng minh, hơn nữa nếu sau này chứng minh không liên quan đến tội phạm phải trả lại cho chủ sở hữu, nhưng
do để lâu, khâu bảo quản không tốt, dẫn đến mất, hư hỏng, chủ sở hữu không nhận
đó là tài sản của mình
Trang 23- Kiểm sát việc lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại:
Khi tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ việc xảy ra, hoặc sau khi tiến hành khám nghiệm CQĐT cần tiến hành lấy lời khai ngay của những người biết vụ việc, như người làm chứng hoặc người bị hại KSV phải chủ động yêu cầu ĐTV tiến hành lấy lời khai ngay của những người này.Việc lấy lời khai phải bảo đảm tính đầy đủ không được bỏ qua bất kỳ một nhân chứng quan trọng nào mà biết rằng họ nghe thấy,
họ nhìn thấy hành vi phạm tội CQĐTcần bảo đảm cho người bị hại được đưa ra chứng cứ và những yêu cầu của mình nhằm làm rõ vụ án; nếu có đầy đủ phương tiện
kỹ thuật tại hiện trường thì khi tiến hành lấy lời khai cần cho ghi âm lại, chụp ảnh và lập biên bản theo quy định tại Điều 91; 92 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Khi kiểm sát việc lập biên bản trong hoạt động lấy lời khai người làm chứng và người bị hại, KSV phải kiểm tra việc ĐTVcó thực hiện đúng những quy định của pháp luật hay không, có vi phạm gì không, có thiếu sót gì không, phải nhắc nhở kịp thời để họ khắc phục ngay, đảm bảo giá trị chứng minh của những tài liệu này sau đó
- Kiểm sát việc kết thúc khám nghiệm hiện trường:
Trong giai đoạn kết thúc khám nghiệm hiện trường, ĐTV chủ trì khám nghiệm có nhiệm vụ họp các thành viên tham gia, tham dự khám nghiệm hiện trường để đánh giá kết quả điều tra cũng như kết quả khám nghiệm, thông qua biên bản khám nghiệm hiện trường, các số liệu cụ thể trên sơ đồ hiện trường vẽ phác họa
và rút kinh nghiệm công tác khám nghiệm, ổn định tình hình hình chính trị nơi tiến hành khám nghiệm
- Kiểm sát hồ sơ khám nghiệm hiện trường:
Hồ sơ tại hiện trường cần được kiểm sát bao gồm: Các loại biên bản lấy lời khai người làm chứng, người bị hại… hồ sơ công tác khám nghiệm hiện trường gồm có biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường và sơ đồ hiện trường Hồ sơ công tác khám nghiệm hiện trường trong nội bộ CQĐT còn có báo cáo khám nghiệm hiện trường
Bộ luật TTHS năm 2015 đã có quy định cụ thể về trách nhiệm của VKS trong việc cử KSV tham gia giám sát trực tiếp hoạt động khám nghiệm hiện trường, cho nên ngoài việc kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, KSV phải có trách nhiệm kiểm sát việc lập hồ sơ công tác khám nghiệm hiện trường
Trang 24* Biện pháp kiểm sát khám nghiệm hiện trường
Khám nghiệm hiện trường là hoạt động của Cơ quan điều tra nói chung và của ĐTV và một số chủ thể khác nói riêng, được thực hiện tại hiện trường vụ việc
có dấu hiệu của tội phạm được quy định trong BLHS nhằm điều tra xác minh, thu lượm dấu vết, chứng cứ, lấy lời khai….Vì vậy, hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường của KSV là kiểm sát toàn bộ các hoạt động của các chủ thể này Theo
quy định Bộ luật TTHS 2015 [29,Đ.202] thì: “Trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết về thời gian, địa điểm tiến hành khám nghiệm để cử Kiểm sát viên kiểm sát khám nghiệm hiện trường Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường”
Do đó, khi KSV tiến hành hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường phải nắm chắc những quy định của pháp luật có liên quan đến công tác điều tra tại hiện trường như, xem xét Hội đồng khám nghiệm có tuân thủ đúng các quy định đó hay không; việc chuẩn bị phương tiện kỹ thuật để khám nghiệm hiện trường, việc lấy lời khai của những người có liên quan.v.v… Ngoài ra, để hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường được tiến hành đạt hiệu quả cao thì KSV phải nắm vững những quy định của Ngành kiểm sát về chức năng, nhiệm vụ, phương pháp kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, để bảo đảm cho công tác khám nghiệm hiện trường đạt hiệu quả cao, kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật yêu cầu Hội đồng khắc phục ngay, với những vi phạm nghiêm trọng cần kiến nghị yêu cầu CQĐT xử lý nghiêm minh, qua đó kiến nghị với các Cơ quan, Tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật
Khi thực hiện nhiệm vụ kiểm sát khám nghiệm hiện trường KSV phải thực hiện đồng thời nhiều biện pháp kiểm sát cũng như các hoạt động khác nhau, cụ thể như tại Điều 9 Quyết định số 421/QĐ-VKSTC ngày 17/10/2014[38,Đ.9] quy định nhiệm vụ của kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường:
“…Kiểm tra việc lấy lời khai những người biết sự việc ngay tại hiện trường…Kiểm sát viên phải nắm tình hình về hiện trường qua thông báo của Điều tra viên, dư luận nhân dân xung quanh hiện trường, tự mình quan sát và phân tích các yếu tố để đánh giá tình trạng hiện trường xem còn nguyên vẹn hay bị thay đổi…Đề xuất yêu
Trang 25cầu khám nghiệm trên cơ sở tư duy nghiên cứu cơ chế, quy luật hình thành dấu vết
để có thể phát hiện loại dấu vết nào, ở đâu dấu vết nào hình thành đúng hay trái với quy luật thông thường, phối hợp với Điều tra viên đánh giá dấu vết, chứng cứ đã thu lượm được, định hướng cho việc khám nghiệm, thu giữ dấu vết được đầy đủ, chính xác Xác định các dấu vết, đồ vật tài liệu quan trọng cần xem xét để yêu cầu Điều tra viên thu giữ…”
Từ viện dẫn nêu trên, Tác giả Luận văn nhận thấy trong hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường thì KSV phải thực hiện nhiều biện pháp kiểm sát khác nhau và qua quá trình công tác và nghiên cứu Tác giả Luận văn nhận thấy có hai hình thức cơ bản thường được kết hợp như sau:
- Kiểm sát trực tiếp tức là trên cơ sở được phân công, KSV phải thông qua
các hoạt động cụ thể của mình tại hiện trường, như khi trực tiếp kiểm tra tại hiện trường cùng với ĐTV, bàn bạc thống nhất nội dung, cách thức, trình tự khám nghiệm hiện trường, đưa ra các yêu cầu cụ thể đối với ĐTV trong quá trình khám nghiệm hiện trường như việc thu giữ vật chứng, lấy lời khai người bị hại…
- Kiểm sát gián tiếp tức là, KSVyêu cầu ĐTV thông báo các nội dung trước
khi khám nghiệm hiện trường hoặc khám nghiệm tử thi… và sau đó thông qua hoạt động kiểm sát trực tiếp tại hiện trường KSV yêu cầu ĐTV thông qua kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi trên cơ sở đó KSV đối chiếu so sánh với những gì mình đã kiểm sát trực tiếp, đối chiếu với quy định của pháp luật nhằm có
sự nhận định đúng sai, đã đầy đủ hay còn thiếu sót v.v…trong quá trình hoạt động khám nghiệm hiện trường của ĐTV
Tuy nhiên, dù áp dụng phương pháp kiểm sát hiện khám nghiệm hiện trường nào, thì yêu cầu quan trọng nhất trong hoạt động kiểm sát là phải khách quan, toàn diện, đầy đủ chính xác đúng pháp luật Qua đó, những vi phạm pháp luật trong quá trình khám nghiệm phải được phát hiện khắc phục kịp thời và xử lý đúng qui định pháp luật
1.1.2 Những vấn đề lý luận về kiểm sát khám nghiệm tử thi
1.1.2.1 Khái niệm và ý nghĩa của hoạt động kiểm sát khám nghiệm tử thi
Theo từ điển tiếng Việt thì, tử thi là thi thể của người chết [39] Một con
Trang 26người còn sống thì không thể gọi là tử thi được, ở đây tử thi là chỉ người đã chết,
mà chết ở đây không chỉ chết do bệnh lý mà chết do những nguyên nhân khác như chết do bị đâm, chém, do tai nạn giao thông Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì “Chết” thông thường được xem là sự chấm dứt các hoạt động của một sinh vật hay ngừng vĩnh viễn mọi hoạt động sống (không thể phục hồi) của một cơ thể [24] Tuy nhiên, một định nghĩa cho sự chết còn tùy thuộc vào các quan điểm tôn giáo, tín ngưỡng cũng như các lĩnh vực liên hệ Trong y học, chết là giai đoạn cuối cùng của sự sống Môn khoa học nghiên cứu về cái chết đã trở thành ngành riêng gọi là "tử vong học" Người ta chia chết ra làm hai loại: chết lâm sàng mà các phương pháp khám lâm sàng cho phép xác định là chết (tim ngừng đập, ngừng thở, mất tri giác, vv.); chết thật, khi các mô không còn hoạt động được nữa và bắt đầu phân hủy Như vậy, tử thi là nơi tập trung các dấu vết, thông tin phản ánh về nguyên nhân chết của nạn nhân
Theo từ điển mở thì khám nghiệm tử thi “là sử dụng phương pháp khoa học
để xem xét, phát hiện những dự kiện cần thiết đối với tử thi, hay các thương tích của
tử thi [24] Theo bài giảng giám định pháp y của Tiến sỹ Nguyễn Đăng Chiêu thì pháp y tử thi là “khám nghiệm tử thi chưa chôn cất hoặc khai quật tử thi trong các
vụ án mạng rõ ràng, chưa rõ ràng hoặc nghi ngờ án mạng trong các tai nạn” [8]
Như vậy, mục đích của việc khám nghiệm tử thi là thu thập thông tin trên người chết để xác định thời gian chết, nguyên nhân chết và thể loại chết (độc tố, dao, súng, đạn ) xác định cách thức gây án nhằm xác định diễn biến của vụ việc xảy ra, làm rõ thủ phạm, động cơ gây án
Theo pháp luật TTHS Việt nam thì, việc khám nghiệm tử thi do ĐTV tiến hành có bác sĩ pháp y tham gia và phải có người chứng kiến.Trong trường hợp cần phải khai quật tử thi thì phải có quyết định của CQĐTvà phải thông báo cho gia đình nạn nhân biết trước khi tiến hành.Việc khai quật tử thi phải có bác sỹ pháp y tham gia Khi cần thiết có thể triệu tập người giám định và phải có người chứng kiến Trong mọi trường hợp, việc khám nghiệm tử thi phải được thông báo trước cho VKS cùng cấp biết KSV phải có mặt để tiến hành kiểm sát việc khám nghiệm tử thi [28, Đ.151] Khám nghiệm tử thi là hoạt động điều tra nhằm phát hiện dấu vết trên thân
Trang 27thể người chết Việc khám nghiệm tử thi do ĐTV tiến hành và có thể khám nghiệm tử thi mới được phát hiện hoặc khai quật, có thể được mổ để khám xét
Khi ĐTV khám nghiệm tử thi hoặc khai quật tử thi phải có bác sĩ pháp y tham gia và phải có người chứng kiến Bác sĩ pháp y giúp ĐTV phát hiện các vết tích đáng nghi trên tử thi, tình trạng tử thi Khi cần thiết phải giám định, ĐTV phải trưng cầu bác sĩ pháp y làm người giám định hoặc trưng cầu Hội đồng giám định
Việc khai quật tử thi phải có quyết định của Cơ quan điều tra và phải thông báo cho gia đình nạn nhân biết trước khi tiến hành Nếu họ không đồng ý thì vẫn có quyền khai quật tử thi để khám nghiệm VKS phải được thông báo trước về việc khám nghiệm tử thi trong mọi trường hợp [29, Đ.202] Khi khám nhiệm tử thi, bắt buộc Kiểm sát viên phải có mặt để tiến hành kiểm sát việc khám nghiệm tử thi Khám nghiệm tử thi là hoạt động điều tra do Điều tra viên tiến hành, có bác sĩ pháp
y tham gia và có người chứng kiến nhằm nghiên cứu, đánh giá, thu thập thông tin
từ dấu vết bên ngoài, bên trong tử thi; xác định thương tích dẫn đến cái chết của nạn nhân và cùng với việc nghiên cứu, đánh giá hệ thống dấu vết thu thập được trong hoạt động khám nghiệm tử thi để xác định tính chất của vụ việc đã xảy ra có hay không có dấu hiệu của tội phạm để quyết định sự việc cần hay không cần khởi tố vụ
Kiểm sát việc khám nghiệm tử thi là nhiệm vụ, quyền hạn và đồng thời là nội dung hoạt động nghiệp vụ của Ngành kiểm sát KSVphải có mặt tiến hành hoạt động kiểm sát khám nghiệm tử thi để đảm bảo hoạt động này diễn ra đúng quy định của pháp luật [32]
Trang 28Công tác kiểm sát việc khám nghiệm tử thi được tiến hành trên cơ sở quy định của Bộ luật TTHS, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Quy chế của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự KSV phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của CQĐT, Cơ quan giám định pháp y hình sự, ĐTV và Bác
sỹ pháp y trong hoạt động khám nghiệm tử thi để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động này, nhằm đảm bảo cho việc khám nghiệm, giải phẫu tử thi được tiến hành đúng theo quy định của pháp luật
Cũng như khái niệm kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khái niệm khám nghiệm tử thi cho đến nay từng hoạt động cụ thể nhằm thực hiện các chức năng của Viện kiểm sát chưa được các nhà khoa học cũng như những người thực hiện nhiệm
vụ trong Ngành kiểm sát quan tâm nghiên cứu đúng mức Bởi vậy, cho đến nay chưa
có khái niệm kiểm sát khám nghiệm tử thi chưa được nêu ra trong sách báo pháp lý Vậy, qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ của Ngành kiểm sát, tác giả mạnh dạn đưa ra khái niệm về Kiểm sát khám nghiệm tử thi như sau :
Kiểm sát việc khám nghiệm tử thi là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan điều tra, hội đồng khám nghiệm tử thi (giám định viên pháp y) và người tham gia tố tụng khác trong việc phát hiện dấu vết của tội phạm trên thi thể của người chết theo quy định của pháp luật
- Ý nghĩa của hoạt động kiểm sát khám nghiệm tử thi
Hoạt động kiểm sát khám nghiệm tử thi nhằm đảm bảo cho việc khám nghiệm tử thi của Hội đồng khám nghiệm phải tuân thủ đúng các qui định của pháp luật trong suốt quá trình khám nghiệm như thành phần Hội đồng khám nghiệm, trình tự khám nghiệm, các biện pháp phát hiện, ghi nhận, thu thập, bảo quản dấu vết, vật chứng để lại trên tử thi phải thực hiện với tinh thần khẩn trương nhất và có phương pháp khám nghiệm đúng đắn nhất, tiến hành một cách đầy đủ, chính xác, khách quan, toàn diện Kiểm sát khám nghiệm tử thi là để thu giữ đầy đủ những dấu vết, những thông tin có được từ hiện trường, xác định nội dung, tính chất vụ việc xảy ra, số lượng người thực hiện tội phạm, nguyên nhân, điều kiện phạm tội… giúp
Trang 29KSV nắm được diễn biến, tính chất của vụ việc; xác định có hay không có hành vi phạm tội xảy ra, phương thức thủ đoạn thực hiện tội phạm, thời gian xảy ra, ai là người thực hiện tội phạm, không để lọt tôi phạm, không làm oan, sai, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống lọt tội phạm; kết quả của hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm tử thi là một trong những căn cứ quan trọng để xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm, từ đó KSV báo cáo đề xuất với lãnh đạo Viện xem xét phê chuẩn hay không phê chuẩn các Quyết định của CQĐT [43]
1.1.2.2 Nội dung và hình thức kiểm sát khám nghiệm hiện tử thi
Theo qui định tại Điều 202 BLTTHS năm 2015 qui định “”1.Việc khám nghiệm tử thi do giám định viên pháp y tiến hành dưới sự chủ trì của ĐTV và phải
có người chứng kiến Trước khi khám nghiệm tử thi, ĐTV phải thông báo cho VKS cùng cấp biết về thời gian và địa điểm tiến hành khám nghiệm để cử kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm tử thi Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm tử thi [29, Đ.202] Vì vậy, khi kiểm sát khám nghiệm tử thi, KSV có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình khám nghiệm cho đến khi kết thúc việc khám nghiệm và tử thi cho đến khi hoàn thành hồ sơ công tác khám nghiệm tử thi.Trong khi kiểm sát khám nghiệm tử thi, KSV được phân công tập trung và các hoạt động sau[32]:
Trước khi khám nghiệm tử thi, KSV phải lưu ý ĐTV thực hiện đúng các qui định pháp luật đồng thời phải nắm được các thông tin liên quan, thông tin về nạn nhân để có định hướng đúng trong việc kiểm sát khám nghiệm, KSV cần chủ động yêu cầu Hội đồng khám nghiệm thu thập dấu vết, mẫu máu để xác định rõ nguyên nhân chết của nạn nhân Hoạt động kiểm sát khám nghiệm tử thi cũng đòi hỏi chặt chẽ, tỉ mĩ và tuân thủ nguyên tắc khám từ ngoài vào trong, từ phải qua trái, từ đầu xuống chân, từ trước ra sau, từ chung đến chi tiết
* Kiểm sát việc khám ngoài
Tiến hành ghi nhận vị trí, tư thế, dáng điệu tử thi bằng cách chụp ảnh, vẽ sơ đồ
và mô tả tỷ mỷ vào biên bản khám nghiệm tử thi Khi tiếp cận vào hiện trường có người chết việc đầu tiên của các ĐTVvà Bác sỹ pháp y là phải ghi nhận ngay vị trí, tư thế, dáng điệu của nạn nhân Việc nghiên cứu vị trí tư thế dáng điệu của tử thi nhằm
Trang 30hình dung diễn biến của sự việc xảy ra, xác định tư thế của nạn nhân trước khi chết
- Khám phần đầu của nạn nhân: đầu nạn nhân được mô tả và khám nghiệm trong tư thế tương quan với thân Khi nghiên cứu, khám nghiệm cần chú ý đến mắt, miệng nạn nhân mở hay ngậm, màu da, các vết thương tích, máu và tình trạng của tóc, nước bọt, đờm dãi, chất nôn, các chất lạ, vật lạ xâm nhập từ ngoài vào như đất, cát, các lá rau cỏ, tóc… xác định các hướng chảy của các chất lỏng trên mặt Nghiên cứu, ghi nhận tình trạng quần áo ngoài, quần áo trong cũng như các dấu vết, vật chứng có trên quần áo bằng cách chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả tỷ mỷ vào biên khám nghiệm tử thi, cụ thể:
- Vị trí và tình trạng của quần áo phải được mô tả đầy đủ, tỉ mĩ, khuy được cài như thế nào, các vết xước, vết nhăn, vết bẩn kiểu quần áo, cỡ số, loại vải, màu sắc, độ mới cũ (chất lượng vải) cúc, khóa đóng mở, còn nguyên vẹn hay bị đứt, hỏng…quần áo có bị xô lệch hay không
Làm rõ các đặc điểm riêng của quần áo như vết vá, khâu mạng, rách, cháy, thủng tự nhiên Các nếp gấp trên quần áo cần được kiểm tra và được ghi rõ trong biên bản là các nếp gấp này theo chiều ngang hay chiều thẳng, hay nó tạo ra do vải
bị nhàu…ví dụ khi tử thi bị kéo lê theo chiều dọc thì các nếp gấp theo chiều ngang
sẽ bị bẩn ở bên ngoài gờ, nhưng bên trong nếp gấp thì sạch Nghiên cứu làm rõ các dấu vết khác như các vết thủng, rách…do đâm, chém, bắn, kéo, giằng, xé…và phải được mô tả tỷ mỷ về kiểu loại, đặc điểm, hình dáng, kích thước xuất hiện của các vết rách, thủng… nghiên cứu nó trong mối quan hệ với các vết thủng, rách trên da thịt nạn nhân, nghiên cứu, ghi nhận tỷ mỷ các vết máu, vết bẩn, tạp chất, phân, nước tiểu…có thể có trên quần áo Cần chú ý các giấy tờ, tiền bạc, các đồ vật…có trong túi quần áo nạn nhân, cần mô tả kỹ vào biên bản khám nghiệm tử thi
- Khám nghiệm phần thân tử thi: phải ghi nhận vào biên bản khám nghiệm
tử thi về tư thế của tử thi thẳng hay bị cong, vẹo…vị trí và tình trạng quần áo phần nhìn thấy được, các nếp gấp, các dấu vết, thương tích trên cơ thể và quần áo, sự hiện diện của máu, nước bọt, đờm dãi, chất nôn ra và các chất lạ (đặc biệt là lông, tóc) Sau đó khám chân, tay tương tự như cách khám thân, cần đặc biệt chú ý tới bàn tay, nhất là sự hiện diện của nhẫn, đá quý, đồng hồ đeo tay hay các dấu vết,
Trang 31hoặc các chất lạ để lại, trong đó chú ý đến mẫu lông, tóc, các mẫu da, móng tay, đất bẩn, máu, các dị vật khác… ở móng tay cần thu lại Khi tiến hành khám nghiệm chân, cần đo khoảng cách giữa hai đầu gối và gót chân, cần chú ý đến bàn chân hoặc đế giày khi thấy có máu hoặc các chất khác mà nạn nhân có thể giẫm vào
- Nghiên cứu, ghi nhận và làm rõ tình trạng cơ thể: Mức độ biến đổi của tử
thi như thế nào, ở giai đoạn nào, mức độ lạnh xác, các vết hoen, sự co cứng, sự thối rữa, mắt nhắm hay mở, đồng tử có giãn không, miệng, lưỡi hình thù, đặc điểm xuất hiện như thế nào, mũi, các dấu vết xuất hiện, các dấu vết, các dị vật, da trên toàn bộ thân thể: sự phồng rộp của da, màu sắc của da, mức độ bong da, làm rõ những thương tích có trên cơ thể nạn nhân về số lượng, hình dáng, màu sắc, vị trí, kích thước, chiều hướng và đặc điểm về bờ mép, thành, đáy các thương tích Khám kỹ vùng đầu, cổ, gáy, ngực, lòng bàn tay, chân, các lỗ tự nhiên… nhằm tìm kiếm các dấu vết, thương tích có thể có, ghi nhận và làm rõ các đặc điểm nhận dạng nhằm phục vụ cho việc truy tìm tung tích nạn nhân:
+ Tiến hành mô tả kỹ các đặc điểm nhận dạng, ghi nhận các đặc điểm nhận
dạng vào biên bản khám nghiệm tử thi và vào danh bản, chỉ bản Đồng thời nghiên cứu các đặc điểm nhận dạng của nạn nhân với các giấy tờ tùy thân của nạn nhân nhằm xác định đúng nạn nhân cần phải tiến hành lăn tay lấy dấu vân tay vào chỉ bản, chụp ảnh nhận dạng tử thi theo đúng nguyên tắc của chụp ảnh nhận dạng
*Kiểm sát khám trong (giải phẩu tử thi):
Quá trình giải phẩu tử thi, giám định pháp y do Bác sỹ pháp y tiến hành với các ĐTV, cán bộ khám nghiệm cùng với chứng kiến của KSV để tiến hành hoạt động ghi nhận: Xác định các thương tích gây tổn thương ở bộ phận nào trên cơ thể,
sự tổn thương ở mức độ nào, thương tích nào quyết định cái chết, nhận định loại hung khí qua hình dáng thương tích Nghiên cứu kỹ các chất chứa trong dạ dày, phổi, gan, đường phế quản, khí phế quản và phân tích các đặc điểm để mang tính đặc trưng, xác định thời gian chết tương đối của nạn nhân, nghiên cứu, tìm hiểu về những bệnh tật mà nạn nhân đã có từ trước đến nay
- Sau khi tiến hành giải phẩu xong, phải bỏ các bộ phận phủ tạng vào đúng vị trí của nó, tiến hành khâu vá những vết rạch, mổ, lau chùi sạch các vết máu, vết bẩn
Trang 32trên mặt và trên cơ thể của nạn nhân và mặc quần áo cho nạn nhân
Kết thúc khám nghiệm tổ chức họp rút kinh nghiệm công tác khám nghiệm tử thi Đồng thời thông quan biên bản khám nghiệm tử thi ngay tại hiện trường Lấy chữ
ký xác nhận của các thành viên có tên trong biên bản khám nghiệm tử thi cũng như những người tham gia, người chứng kiến ký tên vào biên bản khám nghiệm tử thi đúng thủ tục pháp luật Đánh giá sơ bộ dấu vết, vật chứng và các tài liệu thu được tại hiện trường, trên người tử thi nhằm xác định tính chất của sự việc xảy ra, phương hướng điều tra tiếp theo và những công việc phải làm sau khi khám nghiệm Giao xác nạn nhân cho gia đình, cơ quan hoặc chính quyền địa phương để mai táng nạn nhân và ổn định tình hình, tránh tình trạng kẻ xấu phao tin, đồn nhảm gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân
1.1.3 Các yếu tố tác động đến kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi
Mỗi hành vi phạm tội luôn được thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan bằng những tác động cụ thể Các tác động này luôn để lại dấu vết nào đó, khi có hành vi phạm tội xảy ra luôn để lại những dấu vết và đây là chứng cứ tại hiện trường, những vụ án chết người luôn để lại dấu vết trên tử thi Những chứng cứ này
có thể nói nằm ngoài ý muốn chủ quan của người thực hiện hành vi phạm tội, chúng thể hiện một cách chính xác nhất về sự thật vụ án Vì vậy, để khám phá, làm sáng tỏ
vụ án, xác định có hay không có hành vi phạm tội, đối tượng đã thực hiện hành vi phạm tội, cơ chế hình thành dấu vết hành vi phạm tội thì công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi có vai trò vô cùng quan trọng phát huy hiệu quả, kịp thời phát hiện thu thập dấu vết, nhận biết các trường hợp tạo hiện trường giả, các trường hợp cố ý gây xáo trộn hiện trường thì việc phối hợp đề ra phương pháp điều tra giữa ĐTV và KSV trong khâu công tác này là vô cùng quan trọng Vì vậy, chúng ta cần nhận diện đầy đủ tầm quan trọng của công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi để nâng cao chất lượng công tác kiểm sát, rút ngắn quá trình điều tra, hạn chế việc xảy ra oan sai Tránh tình trạng trong một số trường hợp công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi của KSV chưa được chú trọng, chất lượng chưa cao dẫn đến việc khám nghiệm hiện trường không
Trang 33hiệu quả, cá biệt thu thập dấu vết không đầy đủ, không đúng trình tự, dẫn đến việc giải quyết vụ án xảy ra oan sai, vi phạm pháp luật
Xuất phát từ chức năng của VKS khi tham gia kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi KSV không trực tiếp bắt tay vào làm những phần công việc cụ thể, mà kiểm sát những hoạt động tiến hành của những người trong Hội đồng khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi là việc tuân theo pháp luật của các thành viên trong Hội đồng khám nghiệm và những người có liên quan đến việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi bao gồm hoạt động khám nghiệm của ĐTV, giám định viên, kỹ thuật viên, Bác sĩ pháp y và những người có liên quan đến việc khám nghiệm có tiến hành đúng quy định của pháp luật không; có còn thiếu sót gì không; có chỗ nào làm chưa đúng không để trực tiếp yêu cầu ĐTV và những đối tượng khác trong Hội đồng khám nghiệm khắc phục ngay những vi phạm hoặc những thiếu sót đó… Vì vậy, qua thực tiễn công tác cũng như trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật về công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi tác giả Luận văn này nhận thấy có những yếu tố tác động sau:
Một là: quy định của pháp luật
Mặc dù BLTTHS 2015 mới được ban hành thay thế BLTTHS 2003, nhưng những quy định về hiện trường, tử thi và công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi vẫn được giữ nguyên, có khá nhiều bất cập chưa được khắc phục Chẳng hạn, tại Điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 nhà làm luật quy định về việc khám nghiệm hiện trường "nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm" trong khi đó nhiều vụ việc xảy ra muốn khẳng định có dấu hiệu tội phạm hay không phải tiến hành khám nghiệm mới kết luận được, đây là một quy định bất hợp lý cần phải sửa đổi lại cho phù hợp Tiếp theo, tại Điều 201, 202 BLTTHS 2015 quy định: chủ trì khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi là ĐTV, điều này có thể gây khó khăn và bó hẹp chủ thể chủ trì việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi Bởi vì trong thực tế nhiệu vụ, việc, nhiều vụ án hiện trường có thể bị xáo trộn, thay đổi v.v…hoặc nhiều vụ việc đã xảy ra nhưng khi Điều tra viên chưa có mặt thì các chủ thể khác không được tiến hành khám nghiệm hiện trường như án mạng xảy ra
Trang 34trên tàu thủy đang ở trên biển, án tai nạn giao thông mà cần kịp thời thu lượm giấu vết để tránh tình trạng thay đổi, xáo trộn hiện trường… Hơn nữa trong mọi trường hợp tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi trước khi khám nghiệm ĐTV phải thông báo cho VKS cùng cấp biết, để Viện kiểm sát có trách nhiệm cử KSV tham gia kiểm sát trực tiếp cuộc khám nghiệm hiện trường Pháp luật chỉ quy định CQĐT phải thông báo cho Viện kiểm sát nhưng lại không nói rõ việc thông báo này tiến hành theo thủ tục nào, thông báo bằng miệng, bằng văn bản hay thông báo qua điện thoại Thực tiễn cho thấy, nếu những vụ án đã khởi tố sau
đó Cơ quan điều tra mới tổ chức kiểm tra hiện trường thì việc thông báo cho Viện kiểm sát thường tiến hành bằng văn bản; nếu vụ việc mang tính hình sự xảy ra chưa
rõ có dấu hiệu của tội phạm hay không, vì tính cấp bách của hoạt động, tính khẩn trương và đòi hỏi phải làm ngay nên hoạt động thông báo thường thông qua điện thoại, những việc thông báo đó đều đúng không vi phạm quy định của pháp luật Tuy nhiên, đôi lúc do công tác khám nghiệm hiện trường cần khẩn trương, mà liên lạc điện thoại không được nên Viện kiểm sát không nhận được thông tin để cử KSV có năng lực đến hiện trường để kiểm sát hoạt động điều tra tại hiện trường, do đó nhiều
vụ việc KSV không có mặt để kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi được v.v…
Hai là, yếu tố con người
- Một số cán bộ lãnh đạo của VKS các cấp, đôi khi trong từng vụ việc, vụ án xảy ra chưa đánh giá hết mực độ, tính nghiêm trọng của vụ việc mà xem nhẹ hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi hoặc còn có sự đùn đẩy, ỷ lại vào Viện kiểm sát nhân dân cấp trên Ngược lại, nhiều vụ việc xảy ra thuộc thẩm quyền khám nghiệm của cấp trên, nhưng do cấp dưới không báo cáo kịp thời hoặc không báo cáo mà tự mình tiến hành khám nghiệm dẫn đến nhiều vụ việc tình trạng thiếu sót xảy ra rất nhiều, làm cho những vụ việc sau này giải quyết kéo dài, thậm chí khám nghiệm đi khám nghiệm lại mà hiệu quả không cao, nhiều trường hợp dẫn đến oan sai, bỏ lọt hoặc nhiều vụ phải đình chỉ vì không có căn cứ kết luận chính xác, gây ra tình trạng khiếu kiện kéo dài, vụ việc giải quyết không được triệt
để, chính xác, mất lòng tin trong nhân dân
Trang 35Trong những năm gần đây đội ngũ cán bộ KSV trong Ngành kiểm sát đã được cải thiện cả về mặt số lượng và chất lượng.Tuy nhiên, số lượng KSV có năng lực làm được việc có thể tiếp cận giải quyết công việc theo quy định của ngành chiếm tỷ lệ không được nhiều Nhiều địa phương chỉ có vài KSV trong một cơ quan, mà khối lượng công việc phải đảm nhiệm, phải tiến hành cũng không giảm,
họ phải kiêm nhiệm nhiều công việc nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, chất lượng công việc, không tập trung cho chuyên môn, chính vì vậy nhiều khi có thông báo về vụ việc cần tiến hành khám nghiệm mà lãnh đạo không cử KSV tham gia vì không đủ KSV, hoặc có người nhưng trình độ năng lực không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra hay về mặt chuyên môn họ chưa được đào tạo để có thể kiểm sát việc khám nghiệm, thu giữ các giữ liệu trong máy tính… hoặc khi một thời gian xảy ra nhiều vụ việc nhưng đơn vị VKS cấp huyện không đủ KSV để tham gia, phân công Kiểm tra viên thực hiện nhiệm vụ của KSV để kiểm sát khám nghiệm hiện trường, kiểm sát khám nghiệm tử thi sau đó về KSV ký vào biên bản cho đúng qui định pháp luật Vì vậy Kiểm tra viên trực tiếp kiểm sát họ không chịu trách nhiệm pháp lý nên thường tham gia cho có mặt, không có trách nhiệm đối với kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi… Đây cũng là một trong những khó khăn, bất cập trong công tác của VKS
- Ngoài ra, do hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi có đối tượng rất rộng bao gồm hoạt động chấp hành pháp luật của những người
có liên quan đến công tác điều tra tại hiện trường (Điều tra viên; giám định viên; kỹ thuật viên; bác sĩ pháp y và những người khác như: người làm chứng; người chứng kiến; người bị hại; bị can) nói chung là các thành viên trong đoàn khám nghiệm thì đòi hỏi KSV khi tham gia kiểm sát phải người am hiểu về nhiều lĩnh vực, khéo léo trong hoạt động và các chủ thể khác cũng phải chấp hành nghiêm túc các quy định của pháp luật tố tụng hình sự cũng như thực hiện tốt các quy định về đạo đức nghề nghiệp thì mới không làm ảnh hưởng đến hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường,khám nghiệm tử thi của KSV
Ba là, quan hệ phối hợp của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát
Trang 36Mối quan hệ phối hợp giữa VKS và CQĐT cũng như một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là mối quan hệ phối hợp cùng tiến hành công việc theo quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo mọi hoạt động được nhịp nhàng, có hiệu quả Tuy nhiên, ở một số đơn vị nếu không giữ được mối quan hệ phối hợp tốt thì công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm
tử thi cũng gặp nhiều khó khăn như khi thực hiện các hoạt động kiểm sát hiện trường khi CQĐT không thông báo hoặc có thông báo nhưng thông báo trễ….khi tham gia kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi việc thực hiện các yêu cầu của KSV không được ĐTV và các chủ thể khác thực hiện nghiêm túc thì chắc chắn kết quả kiểm sát điều tra tại hiện trường sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Cơ chế phối hợp giữa lực lượng kỹ thuật hình sự với ĐTV, KSV trong việc nghiên cứu, tổng hợp, phân tích đánh giá cơ chế hình thành dấu vết vật chứng ở hiện trường và trên các phương tiện để định hướng cho hoạt động điều tra tiếp theo
còn nhiều hạn chế, chưa chặt chẽ, chất lượng chưa cao
Bốn là, Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường chưa được trang bị đồng bộ
VKSND nói chung và KSV nói riêng chưa được trang bị công cụ, phương tiện kỹ thuật để có thể tiến hành và thông qua đó kiểm sát việc chân thực của các ĐTV khi tiến hành công việc Cụ thể như: Về phương tiện đi lại: Ngành chưa trang
bị đầy đủ cho các VKS các địa phương các phương tiện để kịp thời đến hiện trường cho kịp thời gian quy định; có những trường hợp địa bàn xa, ban đêm nhưng không
có phương tiện ô tô để đi lại, trong khi đó các cơ quan khác đều có phương tiện ô tô Khi có vụ việc thì CQĐT, các cơ quan liên quan khác họ đều đến trước, KSV đến sau làm cho việc tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi không được kịp thời, nhanh chóng Nhất là KSV nữ được phân công kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi khi đi đến hiện trường xa, ban đêm nhưng
đi bằng phương tiện mô tô sẽ gặp một số khó khăn nhất định từ đó làm hạn chế hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi không được kịp thời,
ít quan sát, chú trọng từ đó việc kiểm sát không đảm bảo chất lượng mà chỉ tham gia mang tính đối phó để đúng thủ tục theo qui định Bộ luật TTHS
Trang 371.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi
1.2.1 Quy định về kiểm sát khám nghiệm hiện trường
Theo quy định tại Bộ luật TTHS [29,Đ.201] “Điều tra viên chủ trì tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm để phát hiện dấu vết của tội phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử khác liên quan và làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án” Do đó chúng ta có thể hiểu
rằng khám nghiệm hiện trường là hoạt động điều tra do CQĐT (cụ thể là do Điều tra viên) tiến hành tại nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm nhằm phát hiện dấu vết của tội phạm, vật chứng và làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án Hoạt động khám nghiệm hiện trường có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án.Việc khám nghiệm hiện trường tốt sẽ giúp CQĐT xác định đúng hướng điều tra, xây dựng đúng giả thuyết điều tra và đối tượng phạm tội… nhằm chứng minh tội phạm và người phạm tội Ngược lại, nếu hoạt động này thực hiện không tốt sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả các hoạt động điều tra tiếp theo, thậm chí có thể dẫn đến
bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội
Với ý nghĩa và tầm quan trọng của hoạt động khám nghiệm hiện trường như vậy, Bộ luật TTHS 2015 đã quy định cụ thể, rõ ràng hơn vai trò, trách nhiệm của VKS và KSV đối với hoạt động khám nghiệm hiện trường, cụ thể tại khoản 2 Điều
201 quy định: “Trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết về thời gian, địa điểm tiến hành khám nghiệm để cử Kiểm sát viên kiểm sát khám nghiệm hiện trường Kiểm sát viên phải
có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường”
Hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường được tiến hành theo các quy định tại các điều 41; 42; Điều 159; 160; Điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 Đối với Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2013 được quy định tại các Điều, từ Điều
12 đến Điều 15 và cụ thể hơn Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Quy chế công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra việc tiến hành giám định theo Quyết định số 421/QĐ-VKSTC [38] Những văn bản pháp lý trên đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS và
Trang 38KSV trong công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường nói chung và kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi nói riêng
Tuy nhiên, như đã phân tích ở các phần trên bởi hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường được thực hiện trên cơ sở các hoạt động thực hiện nhiệm vụ điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, của ĐTVvà một số chủ thể khác tại hiện trường, nên hoạt động này gồm nhiều nhiệm vụ khác nhau như kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, kiểm sát việc thu giữ vật chứng, việc lấy lời khai.v.v… Tuy nhiên, công tác khám nghiệm hiện trường chủ yếu là hoạt động khám nghiệm hiện trường của ĐTV và trong phạm vi bài viết này, tác giả Luận văn này chỉ đề cập đến hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường theo quy định
Phân tích nội dung Điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có thể thấy:
Thứ nhất: Khẳng định ĐTVlà người chủ trì tiến hành khám nghiệm hiện trường; mục đích của việc khám nghiệm hiện trường là để phát hiện dấu vết của tội phạm, đồng thời khi khám nghiệm hiện trường nếu phát hiện vật chứng, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử thì phải tiến hành thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện
tử khác liên quan Đây là cơ sở làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án
Thứ hai: Điều luật quy định nghĩa vụ của ĐTVphải thông báo cho VKS cùng cấp trước khi tiến hành khám nghiệm là bắt buộc trong mọi trường hợp;
Thứ ba: Điều luật quy định trách nhiệm của KSV có mặt tại hiện trường để kiểm sát việc khám nghiệm là bắt buộc trong mọi trường hợp Như vậy, liên quan đến quyền hạn và trách nhiệm của KSV trong hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, BLTTHS 2015 đã khẳng định rõ trong mọi trường hợp, KSV phải kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường tại hiện trường vụ án (chứ không chỉ trên sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường và các hồ sơ, tài liệu do CQĐTcung cấp sau khi đã khám nghiệm xong) Hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường được quy định rỏ tại Điều 9 Quy chế công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra ban hành kèm theo Quyết định số 421/QĐ-VKSTC [38] theo đó, KSV phải chắc nhiệm vụ của công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường đối với từng trường hợp cụ thể Chủ động phối
Trang 39hợp với ĐTVđể thống nhất nội dung, trình tự khám nghiệm hiện trường nhằm đảm bảo tính khách quan của việc khám nghiệm đúng quy định của pháp luật; kiểm tra việc lấy lời khai của những người biết việc ngay tại hiện trường…Phối hợp cùng ĐTV đánh giá dấu vết vật chứng đã thu lượm được để đặt ra các giả thuyết điều tra, định hướng cho việc khám nghiệm, thu giữ dấu vết được đầy đủ…[38]
Theo qui định tại Điều 166 BLTTHS năm 2015 thì VKS thực hiện quyền giám
sát hoạt động điều tra của CQĐT từ trước đến nay vẫn được coi là một nguyên tắc trong tố tụng hình sự Bởi vì, bất kỳ cơ chế hoạt động nào, quyền hạn nào cũng cần
có sự kiểm tra, giám sát Qua thực hiện quyền giám sát, VKS mới có cơ sở để xác định được hoạt động điều tra được thực hiện đúng hay sai, có khách quan, đầy đủ không VKS thực hiện quyền yêu cầu CQĐTthực hiện các hoạt động điều tra khi thông qua hoạt động giám sát hoạt động điều tra mà phát hiện thấy việc điều tra chưa đầy đủ, chính xác hoặc có vi phạm pháp luật Quyền yêu cầu của VKS đối với CQĐTđược thể hiện rõ nét trong tại Điều 166 Bộ luật TTHS 2015, kiểm sát các hoạt động trong quá trình điều tra, thu thập chứng cứ trong đó có hoạt động kiểm sát: Khám nghiệm hiện trường (Điều 201) Khi phát hiện việc điều tra, thu thập chứng cứ không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì VKS yêu cầu CQĐT phải tiến hành hoạt động điều tra đúng pháp luật; yêu cầu CQĐT khắc phục vi phạm trong việc khởi tố, điều tra CQĐTcó trách nhiệm phải thực hiện các yêu cầu, quyết định của VKS trong giai đoạn điều tra Đây là một trong những quyền năng quan trọng mà pháp luật quy định cho VKS, là phương tiện của hoạt động kiểm sát, bảo đảm cho việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra Trên thực tế, Viện kiểm sát chỉ thực hiện quyền năng này khi đã thực hiện quyền giám sát, quyền yêu cầu nhưng không có hiệu qủa hoặc khi Cơ quan điều tra không thể tự khắc phục được
Trong quá kiểm sát khám nghiệm hiện trường KSV có quyền yêu cầu ĐTV chủ trì khám nghiệm hiện trường thu thập các dấu vết, thu thập các chứng cứ tại hiện trường đúng qui định pháp luật nhằm mục đích để VKS khi thực hành quyền công tố có ý nghĩa quyết định đến kết quả cuối cùng của vụ án, tới người bị buộc tội
và suy cho cùng, VKS là cơ quan phải chịu trách nhiệm về kết quả điều tra và quyết định xử lý vụ án Vì vậy, phải coi việc điều tra, thu thập chứng cứ, làm rõ những
Trang 40vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự cũng là nhiệm vụ nên phải đi sâu, bám sát và tích cực phối hợp với CQĐT trong việc thu thập chứng cứ, định hướng điều tra, đề ra yêu cầu điều tra, tăng cường các hoạt động trực tiếp điều tra theo luật để việc điều tra được hiệu quả, khách quan, toàn diện, hạn chế việc trả hồ sơ điều tra
bổ sung, không làm oan, sai và bỏ lọt tội phạm, đảm bảo quyền con người, quyền công dân
1.2.2 Quy định về kiểm sát khám nghiệm tử thi
Theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật TTHS 2015 thì “Việc khám nghiệm tử thi do giám định viên pháp y tiến hành dưới sự chủ trì của Điều tra viên
và phải có người chứng kiến
Giám định viên kỹ thuật hình sự có thể được mời tham gia khám nghiệm tử thi để phát hiện, thu thập dấu vết phục vụ việc giám định Khi khám nghiệm tử thi phải tiến hành chụp ảnh, mô tả dấu vết để lại trên tử thi; chụp ảnh, thu thập, bảo quản mẫu vật phục vụ công tác trưng cầu giám định; ghi rõ kết quả khám nghiệm vào biên bản Biên bản khám nghiệm tử thi được lập theo quy định tại Điều 178 của
Bộ luật này [29, Đ.178]
Trường hợp cần khai quật tử thi thì phải có quyết định của CQĐT và thông báo cho người thân thích của người chết biết trước khi tiến hành.Trường hợp người chết không có hoặc không xác định được người thân thích của họ thì thông báo cho đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi chôn cất tử thi biết”
Như vậy, khám nghiệm tử thi trong tố tụng hình sự là một trong những hoạt động trong quá trình điều tra nhằm phát hiện dấu vết tội phạm trên thân thể người chết Việc khám nghiệm tử thi do ĐTV tiến hành và phải có sự kiểm sát của KSV
Do đó chúng ta có thể hiểu rằng khám nghiệm tử thi là hoạt động điều tra do
Cơ quan điều tra (cụ thể là do ĐTV) tiến hành nhằm phát hiện dấu vết để lại của tội phạm làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án Hoạt động khám nghiệm tử thi có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án, việc khám nghiệm tử thi tốt sẽ giúp CQĐT xác định đúng hướng điều tra, xây dựng đúng giả thuyết điều tra và đối tượng phạm tội…nhằm chứng minh tội phạm và người phạm tội Ngược lại, nếu