MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam nằm ở trung tâm Biển Đông, vì vậy biển có vị trí vô cùng quan trọng đối với Việt Nam về các mặt chiến lược, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng trước mắt và lâu dài. Vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam chứa đựng nhiều tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú, trong đó trước hết là cá biển với trữ lượng khoảng 3 triệu tấn, cho phép khai thác từ 1,2 đến 1,4 triệu tấn /năm; dầu khí với trữ lượng khoảng 10 tỷ tấn dầu, 250300 tỷ m 3 khí đồng hành. Với diện tích và vị trí địa lý thuận lợi về biển, biển Việt Nam vừa là điều kiện để liên kết kinh tế giữa các vùng, các miền trong nước, vừa là cửa ngõ thông thương giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới. Thành phố Đà Nẵng nằm tại vị trí trung độ của Việt Nam, phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía nam và tây giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp biển Đông, với diện tích tự nhiên: 1.256,54 km 2 , đường bờ biển trải dài 92km với nhiều bãi tắm đẹp lý tưởng như: Mỹ Khê, Non Nước, Bắc Mỹ An, Nam Ô, Xuân Thiều…Các bãi tắm ở Đà Nẵng đều có bãi cát trắng, mực nước nông, có độ mặn vừa phải và quanh năm trong xanh. Việc sở hữu đường bờ biển dài cùng những bãi biển hoàn hảo, Đà Nẵng luôn là điểm đến du lịch hàng đầu của các du khách trong và ngoài nước. Tuy nhiên, hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường biển Đà Nẵng vẫn đang báo động vì một số lí do như: Đà Nẵng có 29 cửa cống xả nước ra biển kể cả thu gom và xả nước thải tính từ quận Liêu Chiểu về quận Thanh Khê, Hải Châu rồi đến cầu Thuận Phước. Tại khu vực biển phía Đông từ quận Sơn Trà đến quận Ngũ Hành Sơn có 15 cửa xả nước ra biển, trong đó trên địa bàn quận Sơn Trà có 7 cửa và ở quận Ngũ Hành Sơn có 8 cửa. Tất cả hệ thống cống thoát này bao gồm cả cống xả và hệ thống thu gom nước mưa và nước thải. Về mặt nguyên tắc, nước thải đều phải được thu gom, xử lý trước khi chảy thải ra môi trường. Và khi trời không mưa thì nước phải được thu gom bơm về trạm xử lý tập trung hiện có để đảm bảo thu gom và xử lý, nhưng khi mùa mưa đến, nước thải theo nước mưa đổ tràn ra các cửa cống xả này và đổ ra biển. Bên cạnh đó vẫn có một số tác động gây ô nhiễm môi trường biển như: đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn nước suy giảm mạnh, tài nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, đa dạng sinh học bị đe dọa nghiêm trọng; điều kiện vệ sinh môi trường... Đỉnh điểm nhất là sự cố môi trường biển miền Trung tháng 4 năm 2016 vừa qua diễn ra trên diện rộng (4 tỉnh miền trung) do việc vi phạm trong hoạt động xả thải của Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa (Khu kinh tế Vũng Áng), đã gây ra hậu quả lớn về kinh tế, xã hội, môi trường trước mắt và lâu dài; ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thuỷ, hải sản, làm muối, dịch vụ hậu cần nghề cá, du lịch; làm xáo trộn, gây mất an ninh trật tự, tâm lý bức xúc, bất an trong nhân dân. Để xây dựng Thành phố Đà Nẵng trở thành Thành phố đáng sống, có đô thị du lịch, dịch vụ kiểu mẫu và là trung tâm về giáo dục - đào tạo, y tế chất lượng cao, phát triển kinh tế tri thức công nghệ cao, phát huy thế mạnh về dịch vụ - du lịch; có môi trường tự nhiên và môi trường xã hội lành mạnh theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra và xây dựng thương hiệu “Thành phố môi trường” cần phải rà soát, đánh giá lại tình hình thực hiện các chính sách bảo vệ môi trường trong thời gian qua, những thành tựu cũng như những tồn tại, hạn chế chưa khắc phục được. Từ đó đề ra các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả các chính sách bảo vệ môi trường trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng. Xuất phát từ yêu cầu đó, cùng với những kiến thức đã học, bản thân tôi nhận thấy nguyên nhân dẫn tới ô nhiễm môi trường biển cả nước nói chung và biển Đà nẵng nói riêng có nhiều. Nhưng một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường biển tại Đà Nẵng là do việc thiếu chính sách bảo vệ môi trường biển, việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển chưa nghiêm, chính sách khi triển khai thực hiện còn nhiều bất cập chưa phù hợp với thực tiễn... Vì vậy, tôi chọn đề tài “Chính sách bảo vệ môi trường biển của Thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ của mình.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN 8
1.1 Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển 8
1.2 Cơ sở thực tiễn về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển và bài học cho Đà Nẵng 17
CHƯƠNG 2 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 28
2.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội Thành phố Đà Nẵng 28
2.2 Thực trạng môi trường biển Đà Nẵng 32
2.3 Chủ trương và chính sách bảo vệ môi trường biển của thành phố Đà Nẵng 38
2.4 Đánh giá việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển ở Đà Nẵng 51
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 61
3.1 Quan điểm và mục tiêu bảo vệ môi trường biển của Thành phố Đà Nẵng 61
3.2 Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển của Thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới .68
KẾT LUẬN 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Kết quả phân tích chất lượng nước biển ven bờ
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
2.1 Sơ đồ Tổ chức Bộ máy quản lý Nhà nước về Bảo
2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy Sở Tài nguyên và môi
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam nằm ở trung tâm Biển Đông, vì vậy biển có vị trí vô cùng quan trọng đối với Việt Nam về các mặt chiến lược, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng trước mắt và lâu dài Vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam chứa đựng nhiều tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú, trong đó trước hết là cá biển với trữ lượng khoảng 3 triệu tấn, cho phép khai thác từ 1,2 đến 1,4 triệu tấn /năm; dầu khí với trữ lượng khoảng 10 tỷ tấn dầu, 250-
300 tỷ m3 khí đồng hành Với diện tích và vị trí địa lý thuận lợi về biển, biển Việt Nam vừa là điều kiện để liên kết kinh tế giữa các vùng, các miền trong nước, vừa là cửa ngõ thông thương giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới Thành phố Đà Nẵng nằm tại vị trí trung độ của Việt Nam, phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía nam và tây giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp biển Đông, với diện tích tự nhiên: 1.256,54 km2, đường bờ biển trải dài 92km với nhiều bãi tắm đẹp lý tưởng như: Mỹ Khê, Non Nước, Bắc Mỹ An, Nam Ô, Xuân Thiều…Các bãi tắm ở Đà Nẵng đều có bãi cát trắng, mực nước nông, có độ mặn vừa phải và quanh năm trong xanh Việc sở hữu đường bờ biển dài cùng những bãi biển hoàn hảo, Đà Nẵng luôn là điểm đến du lịch hàng đầu của các du khách trong và ngoài nước Tuy nhiên, hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường biển Đà Nẵng vẫn đang báo động vì một số lí do như: Đà Nẵng có 29 cửa cống xả nước ra biển kể cả thu gom
và xả nước thải tính từ quận Liêu Chiểu về quận Thanh Khê, Hải Châu rồi đến cầu Thuận Phước Tại khu vực biển phía Đông từ quận Sơn Trà đến quận Ngũ Hành Sơn có 15 cửa xả nước ra biển, trong đó trên địa bàn quận Sơn Trà có 7 cửa và ở quận Ngũ Hành Sơn có 8 cửa Tất cả hệ thống cống thoát này bao gồm cả cống xả
và hệ thống thu gom nước mưa và nước thải Về mặt nguyên tắc, nước thải đều phải được thu gom, xử lý trước khi chảy thải ra môi trường Và khi trời không mưa thì nước phải được thu gom bơm về trạm xử lý tập trung hiện có để đảm bảo thu gom
và xử lý, nhưng khi mùa mưa đến, nước thải theo nước mưa đổ tràn ra các cửa cống
xả này và đổ ra biển Bên cạnh đó vẫn có một số tác động gây ô nhiễm môi trường
Trang 7biển như: đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn nước suy giảm mạnh, tài nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, đa dạng sinh học bị đe dọa nghiêm trọng; điều kiện vệ sinh môi trường Đỉnh điểm nhất là sự cố môi trường biển miền Trung tháng 4 năm 2016 vừa qua diễn ra trên diện rộng (4 tỉnh miền trung) do việc vi phạm trong hoạt động xả thải của Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa (Khu kinh tế Vũng Áng), đã gây ra hậu quả lớn về kinh tế, xã hội, môi trường trước mắt và lâu dài; ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thuỷ, hải sản, làm muối, dịch vụ hậu cần nghề cá, du lịch; làm xáo trộn, gây mất an ninh trật tự, tâm lý bức xúc, bất an trong nhân dân
Để xây dựng Thành phố Đà Nẵng trở thành Thành phố đáng sống, có đô thị du lịch, dịch vụ kiểu mẫu và là trung tâm về giáo dục - đào tạo, y tế chất lượng cao, phát triển kinh tế tri thức công nghệ cao, phát huy thế mạnh về dịch vụ - du lịch; có môi trường tự nhiên và môi trường xã hội lành mạnh theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra và xây dựng thương hiệu “Thành phố môi trường” cần phải rà soát, đánh giá lại tình hình thực hiện các chính sách bảo vệ môi trường trong thời gian qua, những thành tựu cũng như những tồn tại, hạn chế chưa khắc phục được Từ đó đề ra các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả các chính sách bảo vệ môi trường trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng
Xuất phát từ yêu cầu đó, cùng với những kiến thức đã học, bản thân tôi nhận thấy nguyên nhân dẫn tới ô nhiễm môi trường biển cả nước nói chung và biển Đà nẵng nói riêng có nhiều Nhưng một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường biển tại Đà Nẵng là do việc thiếu chính sách bảo vệ môi trường biển, việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển chưa nghiêm, chính sách khi triển khai thực hiện còn nhiều bất cập chưa phù hợp với thực tiễn Vì vậy, tôi chọn đề tài
“Chính sách bảo vệ môi trường biển của Thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ
của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, có rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đã nghiên cứu về bảo vệ môi trường (BVMT) biển và chính sách bảo vệ môi trường biển Tiêu biểu có các công trình sau:
Trang 82.1 Các công trình nghiên cứu về bảo vệ môi trường biển của Việt Nam
“Ô nhiễm môi trường biển Việt Nam luật pháp và thực tiễn” của tiến sĩ
Nguyễn Hồng Thao đã đề cập đến nhiều nội dung như: Khái niệm môi trường biển
và BVMT biển, tầm quan trọng của vấn đề BVMT biển, định nghĩa ô nhiễm môi trường biển, các nguồn gây bô nhiễm môi trường biển; các điều ước quốc tế và khu vực Đông Nam Á về môi trường biển và ô nhiễm môi trường biển; TN&MT và ô nhiễm biển tại Việt Nam: TN&MT biển Việt Nam, Thực trạng ô nhiểm biển Việt Nam, Các yếu tố khí tượng thủy văn ảnh hưởng đến ô nhiễm biển; chiến lược và hoạt động liên quan đến BVMT biển, phòng chống ô niễm môi trường biển
Công trình “ ảo vệ môi trường biển vấn đề và giải pháp” của tiến sĩ Nguyễn
Hồng Thao đề cập đến: Những vấn đề chung, có tính cấp thiết của việc BVMT biển cùng những công ước quốc tế quan trọng liên quan đến vấn đề này Đề cập tình hình
ô nhiễm môi trường biển Việt Nam hiện nay, việc tổ chức phòng chống, hạn chế ô nhiễm Đặc biệt cuốn sách còn giới thiệu một số văn bản luật quan trọng của Việt Nam về bảo vệ, phòng chống, ô nhiễm môi trường biển
“Chính sách, pháp luật biển của Việt Nam và chiến lược phát triển bền vững”
là công trình khoa học do PGS.TS Nguyễn Bá Diến chủ biên, Trung tâm Luật biển
và Hàng hải quốc tế (Khoa Luật, ĐHQGHN) được thực hiện trong khuôn khổ Dự
án “Các nguyên tắc trong thực tiễn quản lý biển và đới bờ” (Principles in Practice: Ocean and Coastal Governance) giữa Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Dalhousie (Canada) và Trường Đại học Visayas (Philippines) dưới sự tài trợ của Cơ quan hợp tác phát triển quốc tế Canada (CIDA) Nội dung cuốn sách trình bày tổng quan về: Chính sách, pháp luật về biển và nguyên tắc phát triển bền vững; phân tích
17 thực trạng và đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện chính sách biển của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; giới thiệu về một số hoạt động hợp tác quốc tế trong khai thác, quản lý biển giữa Việt Nam và các nước trong khu vực
Luận án tiến sĩ Hà Văn Hòa "Quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường biển ven
bờ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh" tại Học viện Hành chính Quốc gia Luận án
nghiên cứu những vấn đề lý luận về môi trường biển, ô nhiễm môi trường biển; thực trạng ô nhiễm môi trường biển ven bờ, nguyên nhân và công tác quản lý nhà
Trang 9nước để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Quảng Ninh thời gian qua Trên
cơ sở đó, đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường biển ven bờ ở Quảng Ninh
“Chính sách bảo vệ môi trường biển từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” là Luận
văn Thạc sĩ chuyên ngành chính sách công , Học viện Khoa học xã hội của tác giả Phạm Ngọc Hà Ny đã nêu lên được nhiều nội dung về chính sách bảo vệ môi trường biển như: chính sách bảo vệ môi trường; chính sách bảo vệ môi biển phải là sự thể chế hóa chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng về công tác bảo vệ môi trường, phải bám sát thực trạng môi trường của đất nước, chính sách bảo vệ môi trường biển đóng vai trò quyết định cho sự phát triển bền vững của quốc gia; thực trạng của việc bảo vệ môi trường biển ở tỉnh Quảng Nam, nguyên nhân và các giải pháp hoàn thiện chính sách bảo vệ môi trường biển của tỉnh Quảng Nam
2.2 Các công trình nghiên cứu về bảo vệ môi trường biển của Đà Nẵng
Bài viết: “Nghiên cứu khảo sát hiện trạng ăn mòn phá huỷ của các công
trình bê tông cốt thép và khả năng xâm thực của môi trường vùng ven biển Thành phố Đà Nẵng” của tác giả Trương Hoài Chính, Trần Văn Quang, Nguyễn Phan
Phú – Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng và tác giả Huỳnh Quyền trường Đại học Bách khoa Hồ Chí Minh được đăng trong Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng Bài viết nhằm nêu ra cơ sở dữ liệu để minh chứng cho khả năng xâm thực mạnh của môi trường ven biển Đà Nẵng, là cơ sở cho việc đánh giá đưa ra những biện pháp, công nghệ phù hợp nhằm bảo vệ chống ăn mòn xâm thực, nâng cao tuổi thọ cho các công trình vùng ven biển Đà Nẵng, đặc biệt là các công trình cầu cảng, góp phần vào sự phát triểnbền vững kinh tế của thành phố
Bài viết: “Đà Nẵng bảo vệ môi trường trong phát triển du lịch biển” của
Thạc sĩ Nguyễn Thanh Tưởng được đăng trong Tạp chí Du lịch Bài viết chỉ ra thực trạng các bãi biển Đà Nẵng đang bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi nước thải, rác thải từ các nguồn sinh hoạt, dịch vụ du lịch, công nghiệp của thành phố và đề ra những
giải pháp cụ thể, lâu dài nhằm bảo vệ môi trường du lịch biển Đà Nẵng
Các nghiên cứu này là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích và đã nêu ra được những tồn tại và giải pháp trong việc bảo vệ môi trường biển Tuy nhiên, các nghiên
Trang 10cứu trên chỉ mới đề cập tới các lĩnh vực riêng, chưa có bài viết nào đánh giá một cách toàn diện về tình hình thực hiện các chính sách về bảo vệ môi trường biển của địa phương Hiện nay, chúng ta đã có các văn bản, quy định về bảo vệ môi trường biển, nhưng do con người (cá nhân, tổ chức) chưa tuân thủ hoặc tuân thủ chưa đúng quy định này nên dẫn đến ô nhiễm môi trường biển
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài “Chính sách bảo vệ môi trường biển
Thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ của mình, luận văn có sự kế thừa, phát
triển những thành quả của các đề tài liên quan trước đó để đánh giá, phân tích, từ đó
đề xuất các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế và chủ trương Thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 trở thành “Thành phố môi trường”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển, đánh giá việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển của thành phố Đà Nẵng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:
Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách bảo
vệ môi trường biển
Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường biển của Thành phố Đà Nẵng, từ đó xác định những mặt được, những hạn chế cùng các nguyên nhân
Thứ ba, đề xuất những giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ môi
trường biển của Thành Phố Đà Nẵng
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn xoay quanh về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển ở Thành Phố Đà Nẵng hiện nay dưới góc độ chính sách công
Trang 114.2 hạm vi nghiên cứu
- Thời gian: từ năm 2010 đến nay
- Không gian: các chính sách bảo vệ môi trường biển tại Đà Nẵng
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật bảo vệ môi trường biển của Nhà nước Việt Nam, của Thành Phố Đà Nẵng hiện nay
5.2 hương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: được sử dụng để phân tích thực trạng và đánh giá kết quả thực hiện chính sách bảo vệ môi trường;
- Phương pháp thống kê: được sử dụng để tập hợp thành các chu i số liệu phản ảnh thực trạng, phục vụ cho việc phân tích và đánh giá kết quả thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển
- Phương pháp quan sát thực địa: được sử dụng nhằm kiểm nghiệm thực tế môi trường Biển ở địa bàn để nghiên cứu như một chứng cứ về kết quả thực hiện chính sách ở địa bàn
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
6.1 ngh a lý luận
Đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận, người học nghiên cứu và biết vận dụng các kiến thức về đánh giá chính sách công để đánh giá thực hiện chính sách bảo vệ môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng Kết quả nghiên cứu đề tài minh chứng cho việc vận dụng lý luận về đánh giá chính sách công trong quá trình triển khai thực hiện nhằm phát hiện các vấn đề bảo vệ môi trường biển và định hướng cho việc giải quyết
6.2 ngh a thực tiễn
Các phân tích, đánh giá về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường tại vùng biển
Đà Nẵng giúp nhìn nhận rõ hơn những kết quả, những tồn tại và qua đó gợi ý, kiến nghị những giải pháp thúc đ y cũng như khác phục tồn tại Bên cạnh đó, kết quả
Trang 12nghiên cứu s đóng góp những luận cứ từ thực tiễn ở vùng Biển Đà Nẵng liên quan đến các giải pháp quản lý môi trường, thực hiện chính sách bảo vệ môi trường Biển
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về chính sách bảo vệ môi
trường (BVMT) biển
Chương 2 Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển của Thành phố Đà
Nẵng
Chương 3 Một số quan điểm và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách
bảo vệ môi trường biển của Thành phố Đà Nẵng
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN
1.1 Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm về môi trường biển: Môi trường biển được định nghĩa trên nhiều
phương diện khác nhau, nếu xét về phương diện phạm vi địa lý, môi trường biển là toàn bộ vùng nước biển của trái đất với tất cả những gì có trong đó Theo Điều 1, khoản 4 Công ước của Liên hợp quốc tế Luật biển năm 1982, môi trường biển được hiểu bao gồm các tài nguyên sinh vật, các hệ sinh thái biển và chất lượng nước biển,
cảnh quan biển [12] Năm 1992, tại Hội nghị thượng đỉnh trái đất về bảo vệ môi
trường họp tại Rio De Janeiro (Brazill), là chương trình hành động phát triển bền
vững Ở chương 17 trong chương hành động 21 (Agenda 21) định nghĩa: “Môi
trường biển là vùng bao gồm các đại dương và các biển, các vùng ven biển tạo thành một tổng thể, một thành phần cơ bản của hệ thống duy trì cuộc sống toàn cầu
và là tài sản hữu ích tạo cơ hội cho sự phát triển bền vững” Định nghĩa này được
coi là định nghĩa chính thức về “môi trường biển”
Ô nhiễm môi trường biển: Pháp luật Việt Nam không có định nghĩa riêng về
từng thành phần của môi trường mà Luật bảo vệ môi trường năm 2005 chỉ đưa ra định nghĩa: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con
người và sinh vật” [5] Căn cứ vào định nghĩa ô nhiễm môi trường của Luật bảo vệ
môi trường thì, ô nhiễm môi trường biển là sự biến đổi trạng thái lý – hoá – sinh học của môi trường biển khi thả vào môi trường biển những chất độc hại, vi phạm tiêu chu n môi trường biển những chất độc hại, vi phạm tiêu chu n môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật
Theo tác giả, nên định nghĩa: Ô nhiễm môi trường biển là việc con người trực
tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm từ các cửa sông, đất liền, trên không trung, đáy biển hoặc do những biến đổi
Trang 14nguy hiểm cho sức khoẻ con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng nó và giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển
Bảo vệ môi trường biển: Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 có một chương
quy định về bảo vệ môi trường biển và hải đảo nhằm bảo đảm tính thống nhất và toàn diện, đây là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý tổng hợp, thống nhất nhà nước về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.Song trong các điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014
không chỉ ra thế nào là bảo vệ môi trường biển Từ đó, có thể định nghĩa: bảo vệ
môi trường biển là những chủ trương, chính sách và hoạt động thực tiễn của Đảng, Nhà nước, nhân dân nhằm giữ gìn, khai thác, bảo vệ, cải tạo, phục hồi các yếu tố cấu thành môi trường biển gồm:nước biển, các sinh vật thủy, hải sản trong lòng biển, rêu rong tảo trong nước biển và các tài nguyên thiên nhiên có trong lòng biển Chính sách bảo vệ môi trường biển: Trước khi tìm hiểu khái niệm chính sách
môi trường biển, cần làm rõ một số khái niệm sau:
Chính sách: là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó
của Chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm
để thực hiện các mục tiêu đó Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường
Chính sách bảo vệ môi trường: là những chủ trương, biện pháp mang tính
chiến lược, thời đoạn, nhằm giải quyết một nhiệm vụ bảo vệ môi trường cụ thể nào
đó, trong một giai đoạn nhất định
Chính sách bảo vệ môi trường biển: Chính sách bảo vệ môi trường biển là một
loại chính sách công nhằm bảo vệ môi trường biển, là bộ phận của chính sách bảo
vệ môi trường, tập trung vào các vấn đề môi trường biển và có liên quan chặt ch với các bộ phận khác của chính sách bảo vệ môi trường.Theo PGS.TS Đ Phú Hải thì “Chính sách công là tập hợp các Quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”
Trang 15Như vậy, chính sách bảo vệ môi trường biển là một tập hợp các quy định,
quyết định quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường biển nhằm lựa ch n các mục tiêu, giải pháp và công cụ thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề môi trường biển theo mục tiêu tổng thể đ xác định [17]
Tài nguyên biển và hải đảo bao gồm tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi sinh vật thuộc khối nước biển, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển, vùng đất ven biển và quần đảo, đảo, bãi cạn lúc chìm lúc nổi, bãi ngầm thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam Nhà nước ta có những chính sách về
bảo vệ môi trường biển là bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cụ thể:
Một là, nhà nước bảo đảm bảo vệ môi trường biển, tài nguyên biển và hải đảo
được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả, bền vững theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh
Hai là, nhà nước huy động các nguồn lực, khuyến khích đ y mạnh công tác
điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; ưu tiên cho vùng biển sâu, biển xa, hải đảo, vùng biển quốc tế liền kề và các tài nguyên mới có tầm quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; có chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo
Ba là, tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo; nâng cao
hiệu quả công tác phối hợp trong việc kiểm soát ô nhiễm, phòng ngừa, ứng phó sự
cố môi trường biển và hải đảo, biến đổi khí hậu, nước biển dâng; quản lý chặt ch hoạt động nhận chìm ở biển
ốn là, đầu tư nâng cao năng lực quan trắc, giám sát, dự báo về tài nguyên,
môi trường biển và hải đảo; thiết lập hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tổng hợp, đồng bộ về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo phục vụ phát triển kinh tế biển, quốc phòng, an ninh
Năm là, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong quản lý, khai
thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia
Trang 161.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển
Thứ nhất, yếu tố tự nhiên:
- Các vi sinh vật gây hại: các loại vi sinh vật biển, vi tảo biển gây hại cho biển gia tăng về số lượng, tham gia vào hiện tượng thuỷ triều đỏ, làm suy giảm các sinh vật biển có lợi
- Các hoạt động địa chất như: núi lửa dưới lòng đất, bão, các cơn địa chấn, song thần…làm chết hàng loạt vi sinh vật biển, xác của chúng không được xử lý đã gây ô nhiễm vùng biển đới bờ Bên cạnh đó sự đứt gãy của vỏ trái đất làm rò rỉ những mỏ dầu ở đáy đại dương cũng đã góp phần gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường biển
- Không khí ô nhiễm: Các hoạt động tương tác biển - khí cũng kéo theo hiện tượng lắng đọng các chất gây ô nhiễm xuống biển Loại này khó theo dõi và quản lý
vì thường phát tán trên diện rộng Nồng độ CO2
được hoà tan vào trong nước biển tăng lên nhanh chóng cùng với nhiều chất gây nguy hại và bụi kim loại nặng được không khí mang ra biển Sự gia tăng nhiệt độ trong khí quyển của trái đất do hiệu ứng nhà kính đã kéo theo sự dâng cao của mực nước biển và thay đổi môi trường sinh thái biển
Thứ hai, yếu tố con người
- Dân số gia tăng, nghèo đói: Biển và vùng bờ thường là nơi rất giàu có và đa dạng các loại hình tài nguyên, cũng như ở đây chứa đựng tiềm năng to lớn để phát triển nền kinh tế biển đa dạng Bởi vậy nơi đây rất sôi động các hoạt động phát triển kinh tế như dịch vụ, thương mại của con người có trên 50% số đô thị lớn, gần 60% dân số tính theo đơn vị cấp tỉnh, phần lớn các khu công công nghiệp và khu chế xuất, các vùng nuôi thuỷ sản, các hoạt động cảng biển - hàng hải và du lịch s được
xây dựng đến năm 2020 [21]
- Tỷ lệ gia tăng dân số ở vùng này cũng thường cao đột biến, cao hơn trung bình cả nước Chính vì hoạt động kinh tế phát triển nên sự gia tăng di dân tự do, tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên và hình thành thói quen tiêu thụ tài nguyên lãng phí Kết quả, gây sức ép lớn đến môi trường biển, khu dân cư ven biển,
Trang 17làm suy giảm, suy thoái tài nguyên biển ở những vùng ven bờ Trong khi vùng biển gần bờ nước ta còn rất ít tôm c, thì cuộc sống của khoản “600.000 ngư dân và gia đình” họ vẫn cần có thức ăn hàng ngày và bản năng tồn tại vẫn buột họ khai thác
nhiều tôm cá hơn nên nguồn lợi từ biển ngày càng cạn kiệt [21].
- Lối sống và trình độ dân trí còn thấp: Không giống trong đất liền, người dân
cư ven biển chủ yếu đến từ nhiều nơi, họ là dân nhiều vùng miền, thập chí có cả một bộ phân dân cư du nhập từ đất nước láng giềng của Việt Nam Họ sống tập trung thành cụm, hình thành những “vạn chài”, cuộc sống hàng ngày thật khó khăn với bao lo toan, phải đối mặc với tính tàn khốc, khó khăn của biển nước Do vậy ngoài mục đích kiếm tiền nuôi sống bản thân thì những khái niệm về bảo vệ nguồn lợi từ biển, môi trường biển coi như nằm ngoài sự để tâm của họ
- Các hoạt động trên biển như: hàng hải, nuôi trồng và đánh bắt hải sản, phát triển cảng và nạo vét đáy biển, du lịch biển, thăm dò và khai thác khoán sản biển (chủ yếu dầu khí), nhận chìm tàu và các sự cố môi trường biển khác (tràn dầu, thải dầu, đổ dầu cặn bất hợp pháp, đổ thải phóng xạ, hoá chất độc hại…), các chất thải không qua xử lý đổ ra sông, suối cuối cùng “trăm sông đổ ra biển cả” gây ô nhiễm môi trường biển
Thứ ba, yếu tố luật pháp, chính sách
Hệ thống pháp luật BVMT biển ở nước ta hiện nay gồm:
- Luật Môi trường quốc tế là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc tế điều
chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia và tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốc gia và môi trường ngoài phạm vi
sử dụng của quốc gia
Cho đến nay, đã có hàng nghìn các văn bản luật quốc tế về môi trường Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều văn bản trong số đó Pháp luật quốc tế về BVMT biển do nhiều nước ký kết hoặc tham gia không có hiệu lực trực tiếp trên lãnh thổ quốc gia cụ thể Muốn thi hành trên phạm vi lãnh thổ quốc gia nào đó, các quy phạm của Luật quốc tế về BVMT biển cần phải chuyển hóa thành quy phạm pháp luật quốc gia, nghĩa là nhà nước phải phê chu n các văn bản này
Trang 18- Luật Môi trường quốc gia là tổng hợp các quy phạm pháp luật, các nguyên
tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình các chủ thể sử dụng hoặc tác động đến một hoặc một vài yếu tố của môi trường trên cơ
sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau, nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con người Hệ thống luật BVMT biển của một quốc gia thường gồm luật chung và luật sử dụng hợp lý các thành phần môi trường hoặc BVMT cụ thể ở một địa phương, một ngành
Nhà nước thay mặt xã hội, thể hiện ý chí xã hội, biến ý chí đó thành pháp luật
Vì vậy, các mục tiêu chung về BVMT biển, vì lợi ích chung của cộng đồng, xã hội cần được thể chế hóa, pháp luật hóa trong Luật và mọi chủ thể trong xã hội phải có trách nhiệm thi hành Với chức năng: nhận thức, giáo dục, điều chỉnh, phân công xã hội, bảo vệ và giải quyết các xung đột, Luật BVMT biển giúp nhà nước quản lý công việc BVMT biển hiệu quả trong xã hội
Ngoài Luật BVMT biển, nhà nước còn phải có các văn bản pháp lý khác dưới luật để quản lý, chỉ đạo việc BVMT biển Các văn bản dưới luật về BVMT biển ở Việt Nam bao gồm: pháp lệnh do Ủy ban Thường vụ Quốc hội soạn thỏa thông qua, Chủ tịch nước ký lệnh ban hành; nghị định và quyết định do Chính phủ ban hành để hướng dẫn và cụ thể hóa luật; quyết định và quy định do các Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành; chỉ thị và thông tư hướng dẫn do Cục Môi trường, Bộ TN
&MT và Cục BVMT biển ban hành
Hệ thống công cụ pháp lý để BVMT biển của quốc gia chính là khung khổ pháp lý để điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong các hoạt động phát triển có liên quan đến môi trường nhằm BVMT của con người Nếu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về BVMT của quốc gia rõ ràng, cụ thể, phù hợp với thực tế, được ban hành kịp thời, đồng bộ, đầy đủ thì nó s đi vào cuộc sống, được các tổ chức, cá nhân chấp nhận và thực hiện tốt Ngược lại, văn bản quy phạm pháp luật về BVMT của quốc gia không rõ ràng, không sát với thực tế, chồng chéo, mâu thuẫn nhau thì s khó khăn trong tổ chức triển khai thực hiện và không được các tổ chức, cá nhân chấp hành, tức hiệu lực quản lý nhà nước QLNN về BVMT kém
Trang 19Bên cạnh yếu tố pháp luật, còn là những yếu tố về chính sách Trong giai đoạn
hiện nay, cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường biển và việc tổ chức thực hiện của các cơ quan chức năng vẫn còn những hạn chế, bất cập Theo thống
kê của Bộ Tư pháp (2014), hiện nay có khoảng 300 văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế, các quy trình kỹ thuật, quy trình sử dụng nguyên liệu trong sản xuất Tuy nhiên, hệ thống các văn bản này vẫn còn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, chưa bám sát thực tế, tính ổn định không cao, tình trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung là khá phổ biến, từ đó làm hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế, trong việc bảo vệ môi trường biển Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác bảo vệ môi trường biển hạn chế thường dẫn đến không chỉ làm cho các chính sách về bảo vệ môi trường biển bất cập so với thực tiễn đòi hỏi mà còn làm cho chính sách chậm hoặc khó đi vào cuộc sống, thậm chí cản trở thực hiện các
mục tiêu bảo vệ môi trường
Thứ tư, yếu tố quản lý
Trong đó năng lực, trình độ nghiệp vụ của cán bộ quản lý có vai trò quyết định Nếu các cấp chính quyền chưa hoặc chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đối với công tác bảo vệ môi trường thì thường dẫn đến buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát về môi trường biển Nếu tăng cường công tác quản lý, nâng cao vai trò trách nhiệm của các sở, ban, ngành và đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác bảo vệ môi trường biển thì s thực thi được chính sách báo vệ môi trường biển, đưa vào cuộc sống hiệu quả hơn và giảm thiểu ô nhiễm môi trường biển
1.1.3 Các chính sách chủ yếu nhằm bảo vệ môi trường biển
- Luật pháp Quốc tế:
Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển hiện nay có khoản 300 công ước quốc tế về bảo vệ môi trường Trong đó, có các công ước sau về bảo vệ môi trường biển:
Trang 20+ Công ước năm 1982 của Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS)
+ Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu (MARPOL 73/78)
+ Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng con người trên biển 1974 (SOLAS) + Công ước quốc tế sẵn sàng ứng phó và hợp tác đối với việc xử lý ô nhiễm dầu năm 1990 (OPRC)
+ Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển và do chất thải và những vật liệu khác (London 1972)
+ Công ước quốc tế Hồng Kông về tái sinh tàu an toàn, thân thiện môi trường năm 2009 (SR 2009)
Cùng với quá trình phát triển các quốc gia đã nhận thức rõ được sự cần thiết của vệ hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ môi trường biển - tài sản chung của nhân loại Do đó, các công ước quốc tế về môi trường biển được xây dựng ngày càng nhiều và được các quốc gia trên thế giới gia nhập, ký kết tạo nên một khung pháp lý
cơ bản bảo vệ môi trường biển Tuy vậy việc thực thi, nội luật hoá các công ước quốc tế này là vấn đề quan trọng, cần được các quốc gia quan tâm thích đáng Có như vậy mới bảo vệ hiệu quả môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng
- Pháp luật và chính sách quốc gia: Công tác bảo vệ môi trường biển cần
được tham khảo kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia trong khu vực có điều kiện tương đồng để chọn lọc và áp dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam
Tại Mỹ: Mỹ là quốc gia tiên phong trong việc áp dụng quản lý tổng hợp biển và
vùng ven biển, tăng cường công tác bảo vệ môi trường biển Luật Quản lý Vùng Ven biển (CZMA) được Mỹ thông qua năm 1972 nhằm tăng cường sự tham gia và phối hợp của các bên liên quan trong việc đưa ra các chương trình liên quan đến vùng ven biển và cân bằng giữa các nhóm lợi ích ở vùng ven biển CZMA cho phép các tiểu bang xây dựng kế hoạch quản lý vùng ven biển, sử dụng tài nguyên đất và nước trong phạm vi vùng ven biển của bang, do vậy m i bang có thể điều chỉnh chương trình quản lý vùng ven biển phù hợp với bối cảnh và nhu cầu của bang mình
Ở Canada, Canada xây dựng một hệ thống pháp luật, chính sách biển hoàn
Trang 21chỉnh trong đó nhấn mạnh vai trò của chính sách biển thống nhất ở tầm quốc gia để thực hiện QLTH biển Việc xây dựng chính sách biển quốc gia Canada được bắt đầu bằng việc xây dựng Luật biển Canada (Canada’s Ocean Act) Dựa trên đạo luật này, Chiến lược biển Canada được xây dựng và ban hành năm 2002 trong đó có nội dung về quản lý các hệ sinh thái cửa sông, bờ biển và đại dương ở tầm quốc gia Chiến lược biển quy định việc áp dụng phương pháp QLTH đối với các vùng biển, nhấn mạnh sự hợp tác và h trợ về chính sách và chương trình quản lý giữa các cơ quan và các chủ thể liên quan
Chính sách, pháp luật về quản lý, bảo vệ biển của Nhật ản, về cơ cấu quản lý
hoạt động khai thác biển, Nhật Bản quản lý theo ngành dọc, m i ngành liên quan đến biển s thuộc sự quản lý tương ứng của Bộ chuyên ngành như vận tải biển do
Bộ Giao thông vận tải quản lý, thủy sản do Bộ Thủy sản quản lý v.v Tuy nhiên, sự quản lý biển theo ngành dọc cũng gây nên sự bất lợi khi giải quyết một vấn đề về TN& MT biển liên quan đến nhiều bộ, ngành Bởi vậy, Nhật Bản đã sớm quan tâm đến việc quản lý thống nhất đại dương bằng việc thành lập Hội đồng Phát triển đại dương từ năm 1971 với chức năng xây dựng các ý tưởng cơ bản về phát triển dài hạn đại dương và đóng góp ý kiến cho Thủ tướng ra quyết định về chính sách biển trong từng giai đoạn với thời hạn 10 năm
Ở Singarpore, không phải ngẫu nhiên mà Singapore trở thành một quốc đảo
sạch bậc nhất thế giới Chính từ những bài học đắt giá về hậu quả do sự phát triển công nghiệp mạnh m làm gia tăng ô nhiễm không khí, rồi chất thải lỏng và chất thải rắn làm môi trường xuống cấp rõ rệt vào ba bốn thập kỷ trong thế kỷ trước, đã làm cho quốc đảo này sớm tỉnh ngộ Không có con đường nào khác là phải tự mình thực hiện tốt các chương trình bảo vệ môi trường Nhìn một cách toàn diện, chưa có một nước nào có được môi trường đô thị tốt hơn Singapore Đó là do quốc đảo này
đã có một chiến lược quản lý môi trường hợp lý, thực hiện tốt kế hoạch hóa việc sử dụng đất đai, biết kiểm soát kế hoạch xây dựng và phát triển đô thị Và điều quan trọng là đặc biệt chú trọng quản lý hạ tầng cơ sở, đi đôi với việc ban hành luật và kiểm tra giáo dục nghiêm ngặt
Trang 22Sự nhận thức của cộng đồng về môi trường là yếu tố quan trọng nhất làm cơ
sở để duy trì và phát triển thích hợp cho Singapore về môi trường đô thị Tại đây, người ta đã thực hiện chương trình giáo dục nhằm nâng cao nhận thức hiểu biết của quần chúng về môi trường và động viên họ tham gia tích cực vào việc BVMT Với kinh nghiệm về tổ chức bộ máy, xây dựng pháp luật, xây dựng các chính sách tại các quốc gia cũng như tại địa phương, các tiểu bang của một số nước có thể được nghiên cứu, áp dụng vào Việt Nam và Đà Nẵng với những mức độ khác nhau phù hợp với điều kiện thực tiễn Do vậy việc triển khai áp dụng những kinh nghiệm này tại Việt Nam và Đà Nẵng, cần được vận dụng theo từng lĩnh vực quản
lý môi trường, từng giai đoạn, theo những lộ trình nhất định
1.2 Cơ sở thực tiễn về thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển và bài học cho Đà Nẵng
1.2.1 Cơ sở thực tiễn
Thứ nhất, hệ thống quản lý nhà nước về môi trường biển:
Cấp Trung ương
Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam được thành lập theo Quyết định nguyên
và Môi trường có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước tổng hợp
và thống nhất về biển và hải đảo Ngay sau khi thành lập, Tổng cục đã kh n trương xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định 25/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 3 năm 2009 về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo Tại các
bộ, ngành khác cũng có những cơ quan chức năng trực thuộc có nhiệm vụ quản lý các vấn đề liên quan đến môi trường biển Như vậy, việc quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, đảo là nhiệm vụ đa ngành, cần có sự bắt tay vào cuộc của các ngành du lịch, thương mại, giao thông vận tải…
Cấp địa phương
Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh ven biển được xác định là cơ quan tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo trên địa bàn địa phương, trong đó có môi trường biển Trên
cơ sở những văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành, năm 2010, Bộ Nội vụ và Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục ban hành Thông tư liên tịch số 26/2010/TTLT-
Trang 23BNV-BTNMT ngày 05/11/2010 hướng dẫn hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chế của Chi cục Biển và Hải đảo trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Theo đó, Chi cục Biển và Hải đảo là cơ quan quản lý nhà nước về biển
và hải đảo ở cấp địa phương
Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển là vấn đề mới và rất phức tạp, biển lại rộng lớn và hoạt động mang tính đa ngành Hiện có đến
15 bộ, ngành liên quan đến khai thác, sử dụng và quản lý về biển Hệ thống quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất đã định hình nhưng còn mới mẻ và chưa hoàn thiện, thiếu các công cụ luật pháp đủ mạnh theo hướng tiếp cận quản lý tổng hợp nên hiệu lực quản lý còn hạn chế, chưa thực hiện chức năng quản lý như mong muốn
Thứ hai, chính sách, biện pháp:
Trước đây, ở Việt Nam do nhận thức về tài nguyên biển còn hạn chế, chưa chú trọng các dạng tài nguyên phi vật chất, khai thác quá mức, gây lãng phí tài nguyên, suy thoái môi trường biển và hải đảo Trong xu thế chung của thế giới, coi “Thế kỷ XXI là thế kỷ của đại dương” cũng như nhận thức được những tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, Việt Nam đã bước đầu thiết lập chính sách quản lý TN&MT biển và hải đảo theo phương thức tổng hợp trong bối cảnh đ y mạnh hội nhập quốc tế với các nội dung chủ yếu:
Một là, quản lý TN&MT biển hợp lý, hiệu quả, bền vững theo chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo đảm quốc phòng an ninh Để thực hiện nội dung trên, thời gian qua, nhà nước đã thành lập hệ thống cơ quan quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo từ Trung ương đến địa phương; hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách, cơ chế, công cụ điều phối liên ngành, liên vùng để bảo đảm tài nguyên biển và hải đảo được khai thác, sử dụng hiệu quả, duy trì chức năng và cấu trúc của hệ sinh thái nhằm phát triển bền vững, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam trên biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh
Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1570/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và BVMT biển đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030; Quyết định số 2295/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược
Trang 24quản lý đới bờ Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Cùng với đó, Chính phủ đang chỉ đạo Bộ TN&MT xây dựng Đề án Quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển Việt Nam nhằm sắp xếp lại không gian hợp lý và phân bổ nguồn lực cho các ngành khai thác bền vững tài nguyên, BVMT biển và hải đảo
Hai là, khuyến khích đ y mạnh công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học
về TN&MT biển và hải đảo; thiết lập hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tổng hợp, đồng bộ về TN&MT biển và hải đảo phục vụ phát triển kinh tế biển, quốc phòng, an ninh; khuyến khích tổ chức cá nhân khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, BVMT biển và hải đảo Đ y mạnh công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về TN&MT biển và hải đảo nhằm bảo đảm cung cấp thông tin, dữ liệu về TN&MT biển
và hải đảo phục vụ công tác quản lý, phát triển kinh tế biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh
Ba là, tăng cường BVMT biển và hải đảo, bao gồm quy định và các nội dung
về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển; ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển; nhận chìm ở biển; trách nhiệm của nhà nước, tổ chức, cá nhân trong BVMT biển và hải đảo Hiện nay, Bộ TN&MT đang được giao tổ chức triển khai Quyết định số 1278/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Kế hoạch thực hiện Tuyên bố chung và Chương trình khung giữa Việt Nam, Campuchia, Thái Lan về hợp tác sẵn sàng ứng phó sự cố tràn dầu vùng vịnh Thái Lan”, Quyết định số 1864/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Chính phủ nước Cộng hòa Philipin về hợp tác trong lĩnh vực ứng phó sự cố tràn dầu trên biển” Việc triển khai các quyết định này nhằm thực hiện các nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết hợp tác trong việc sẵn sàng ứng phó kịp thời, hiệu quả sự cố tràn dầu tại vùng biển tiếp giáp giữa Việt Nam và các nước liên quan
ốn là, nâng cao năng lực quan trắc, giám sát, dự báo về TN&MT biển và hải
đảo; thiết lập hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tổng hợp, đồng bộ về TN&MT biển
và hải đảo phục vụ phát triển kinh tế biển, quốc phòng, an ninh Nhằm quản lý hiệu quả TN&MT biển và hải đảo, ứng phó kịp thời và phòng chống thiên tai từ biển, chính sách quản lý TN&MT biển và hải đảo của Việt Nam xác định thiết lập hệ
Trang 25thống quan trắc, giám sát tổng hợp TN&MT biển và hải đảo theo hệ thống mở, kết nối và chia sẻ thông tin bảo đảm thông suốt từ Trung ương đến địa phương; tham gia các hệ thống quan trắc, giám sát biển và đại dương của khu vực, thế giới
Năm là, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong quản lý, khai
thác, sử dụng tài nguyên, BVMT biển và hải đảo trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia Chính sách quản lý TN&MT biển và hải đảo của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế được đặt trong tổng thể chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; bảo đảm nguyên tắc xây dựng vùng biển hòa bình, hợp tác, hữu nghị cùng phát triển trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng
có lợi, tôn trọng pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên…
Như vậy, nhận thức về vai trò quan trọng của TN&MT biển và hải đảo đối với
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, chính sách quản lý TN&MT biển và hải đảo của Việt Nam đã có sự chuyển biến theo xu hướng hội nhập quốc tế Đó là, thiết lập chính sách quản lý TN&MT biển và hải đảo theo phương thức tổng hợp nhằm quản lý TN&MT biển hợp lý, hiệu quả, bền vững
* Thực tiễn thực hiện chính sách
Đối với biển Việt Nam, Việt Nam có vùng biển rộng khoảng 1.700km2 với
đường bờ biển dài trên 3.260km, có 2 quần đảo lớn là Trường Sa, Hoàng Sa và khoảng 3.000 đảo lớn, nhỏ khác; đường bờ biển trải dài 15 vĩ độ từ Bắc xuống Nam, nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới nóng m Vì vậy, vùng biển Việt Nam có nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú, bao gồm cả tài nguyên sinh vật, tài nguyên phi sinh vật và tài nguyên vị thế Đến nay, nước ta đã xác định được hơn 11.000 loài sinh vật biển cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau Đặc biệt, ở vùng bờ tập trung hàng trăm cửa sông, đầm phá, vũng, vịnh, các đảo và quần đảo tạo nên một hệ thống các loại hình sinh cảnh phức tạp, đa dạng các hệ sinh thái: Bãi triều lầy, rừng ngập mặn, cửa sông, đầm phá, vũng, vịnh nhỏ, rạn san hô, châu thổ, bãi cát, bãi bùn triều, đầm nuôi thủy sản nước lợ, đất ngập nước ven biển Một số hệ sinh thái có năng suất sinh học cao là rạn san hô, thảm cỏ
Trang 26biển và rừng ngập mặn Trên các hải đảo còn phát hiện 1.290 loài động, thực vật, đây chính là nền tảng cho việc phát triển bền vững một số ngành kinh tế biển dựa vào tài
nguyên thiên nhiên như du lịch, thủy sản, y dược biển
Có thể thấy, các hoạt động kinh tế biển đóng góp một phần không nhỏ vào ngân sách quốc gia và dự kiến đến năm 2020 s đóng góp khoảng 53-55% GDP của Việt Nam; trong đó du lịch biển dự kiến s đóng góp khoảng 60% tổng thu từ du lịch toàn quốc với 06 điểm đến du lịch tầm cỡ quốc tế, các cảng du lịch được hình thành và đi vào khai thác, thu hút được 22 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 58 triệu lượt khách nội địa Đây là những tiền đề cho phép hoạch định một chiến lược biển, phù hợp với xu thế phát triển của một quốc gia biển
Đối với môi trường biển Việt Nam:
Với vị trí địa chính trị đặc biệt quan trọng, điều kiện tự nhiên thuận lợi, tài nguyên phong phú và đa dạng, tiềm năng phát triển kinh tế biển để làm giàu, đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển là rất lớn Tuy nhiên, để chuyển từ tiềm năng thành hiện thực, phát triển kinh tế biển bền vững, cân bằng sinh thái, giữ biển trong lành và an toàn cho nhiều thế hệ mai sau là bài toán lớn cần có lời giải đồng hành với việc tổ chức thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
Trước hết, mặc dù chúng ta có các chương trình, dự án, đề tài điều tra, nghiên cứu, tìm hiểu về biển nhưng hiểu biết của chúng ta về Biển Đông còn rất hạn chế Thiếu phương tiện, thiết bị, cán bộ có chuyên môn sâu và nguồn lực tài chính hạn hẹp nên thông tin, số liệu thu được còn sơ lược, độ tin chưa cao Đây là thách thức lớn nhất và trở ngại đầu tiên trên con đường tiến ra biển Chỉ hơn 15 năm trở lại đây, diện tích các rạn san hô giảm đến gần 20% Các thảm cỏ biển cũng đang bị suy thoái nghiêm trọng, nhiều nơi mất hẳn Nguồn lợi hải sản giảm nhanh, nhiều vùng biển ven bờ bị suy kiệt Chất lượng nước biển cũng đang có xu hướng suy giảm, nhiều vùng biển bị ô nhiễm nặng
Cùng với dầu tràn, ô nhiễm từ các hoạt động vận tải nhộn nhịp trên biển, các nguồn thải từ đất liền đang đe doạ nhiều vùng biển nước ta Trong thời gian tới, khi
đ y mạnh khai thác dầu khí, phát triển kinh tế hàng hải, nuôi trồng thuỷ sản, phát triển du lịch biển, xây dựng hệ thống các cảng ven biển, phát triển nhiều khu kinh
Trang 27tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị ven biển, tác động của biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng cao s gia tăng mạnh áp lực lên tài nguyên, các hệ sinh thái và môi trường biển và ven biển Cạn kiệt tài nguyên, suy thoái các hệ sinh thái,
ô nhiễm môi trường biển là những vấn đề lớn cần quan tâm giải quyết trong quá trình tiến ra biển và lớn mạnh từ biển
Môi trường biển bị ô nhiễm đã dẫn tới suy thoái đa dạng sinh học biển, điển hình là hệ sinh thái san hô Vùng biển Việt Nam có khoảng 1.122 km2 rạn san hô, nếu hệ sinh thái này bị mất, biển nước ta có nguy cơ s trở thành "thủy mạc" không còn tôm cá nữa Đó là thông điệp mà các nhà môi trường và bảo tồn thiên nhiên nước ta đã cảnh báo Theo số liệu của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, đến nay
có khoảng 20% rạn có độ phủ san hô sống nghèo (độ phủ 0-25%), 60% thuộc loại thấp (26-50%), 17% còn tốt (51-75%) và chỉ có 3% rất tốt (trên 75%) "Chưa bao giờ nguồn san hô nước ta lại đứng trước thách thức sống còn như hiện nay M i năm, mất hơn 50 tấn san hô chưa kể mất san hô đen ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ninh, Hải Phòng, theo đà này 20 năm nữa san hô không còn trong vùng biển Việt Nam" - Viện Hải Dương học Việt Nam cảnh báo Vì vậy, nếu không sớm thực hiện các giải pháp khả thi giảm thiểu và ngăn ngừa ô nhiễm, s gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chiến lược phát triển bền vững biển và hải đảo của nước ta Nói cách khác, việc ra đời các chính sách bảo vệ môi trường biển ở nước ta thời gian này là vô cùng cấp thiết
Trước tình trạng môi trường biển, đảo Việt Nam đang có những biểu hiện ô nhiễm nghiêm trọng, làm mất đi môi trường sống của nhiều sinh vật biển và ảnh hưởng tới sự phát triển xã hội của con người, có khả năng chúng ta không hoàn thành được mục tiêu thiên niên kỷ là phát triển bền vững Do vậy, Ðảng và Nhà nước ta cần quan tâm tới việc bảo vệ môi trường biển đảo thông qua việc ký kết, ban hành các chủ trương, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật các cấp
* Kết quả thực hiện chính sách
Thời gian qua, các quy định về bảo vệ môi trường biển cũng đã phát huy phần nào hiệu quả, nhờ sự nổ lực của các cơ quan, bộ, ngành và người dân nên vấn đề ô nhiễm môi trường biển đang dần được giải quyết:
Trang 28Thứ nhất, các quy định của pháp luật đã góp phần điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh trong thực tiễn
Thứ hai, Bộ máy quản lý môi trường được cũng cố từ Trung ương đến địa
phơng Tiềm lực về thiết bị cho công tác quan trắc và giám sát môi trường đã được tăng cường đáng kể ở cả cấp quốc gia và một số địa phương trên cả nước
Thứ ba, giữa các cơ quan đã có sự phối hợp chặt ch với nhau để cùng bảo vệ
môi trường biển Ví dụ như: công tác phòng chống tội phạm môi trường, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam vừa ra quyết định thực hiện quy chế phối hợp trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường giữa tổng cục và Cục cảnh sát, phòng chống tội phạm về môi trường Từ đây, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam có thêm sự “tiếp sức” của lực lượng cảnh sát môi trường trong công tác bảo vệ môi trường biển
Thứ tư, nhận thức về môi trường biển và bảo vệ môi trường biển của các cấp,
các ngành và người dân đã được nâng cao đáng kể thông qua các kênh thông tin đại chúng, các chương trình, dự án trong và ngoài nước về nâng cao nhận thức môi trường cộng đồng
* Thực trạng ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam và hiệu quả từ các chính sách bảo vệ môi trường biển
Hiện nay, các nguồn gây ô nhiễm biển trong hoạt động hàng hải, thủy sản, du lịch, dầu khí liên quan đến việc sử dụng tài nguyên biển rất đa dạng và phức tạp Đó
là các nguồn ô nhiễm do dầu (từ dầu được sử dụng làm nhiên liệu, bôi trơn, thủy lực cho tàu, cho đến dầu hàng do tàu vận chuyển); hóa chất lỏng trên tàu; các loại hàng nguy hiểm (chất nổ, chất phóng xạ, chất cháy, chất độc…) vận chuyển bằng tàu; rác thải; nước thải; sơn chống hà sử dụng cho thân tàu; các vật liệu độc hại dùng để đóng tàu (amiăng, kim loại nặng, hóa chất); ô nhiễm do sự di chuyển của các loài thủy sinh vật thông qua nước dằn tàu; các bệnh truyền nhiễm lan truyền qua con đường hàng hải; hoạt động phá dỡ tàu cũ, thăm dò và khai thác dầu khí trên biển
Do đó, nhằm kiểm soát tốt khí thải từ tàu trong hoạt động hàng hải ở mức độ cho phép, Việt Nam đã có các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, quy định, quy chu n nhà nước cho các tàu cá và tàu vận tải về giảm thiểu phát thải khí thải - đặc
Trang 29biệt khí thải nhà kính, về khoa học công nghệ tàu biển, máy tàu, lò thu gom khí thải Đối với tàu vận tải, Việt Nam xem xét tham gia đầy đủ phụ lục VI - “Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm không khí do tàu gây ra” của Công ước MARPOL 73/78 IMO
Đồng thời, xây dựng các bộ chỉ số theo chu n mực IMO về thiết kế hiệu quả năng lượng (EEDI) là một chỉ số có thể th m định nhờ tính toán các thông số thiết
kế tàu Chỉ số này là một phương tiện giúp các chủ tàu so sánh hiệu quả các bản thiết kế cùng một loại tàu có kích cỡ như nhau của nhiều xưởng đóng tàu khác nhau
Ngoài ra, còn tổ chức đào tạo nhân lực, nâng cao nhận thức về giảm thiểu khí thải từ tàu biển và biến đổi khí hậu cho các đối tượng liên quan đến hàng hải, thủy sản và kinh tế biển; Đổi mới công nghệ đóng tàu biển theo tiêu chu n hàng hải xanh, giảm phát thải động cơ - máy tàu, lò đốt rác; Ban hành chính sách đánh thuế, thu phí khí thải tàu biển; Hợp tác và trao đổi kinh nghiệm với các tổ chức môi trường - hàng hải quốc tế trong lĩnh vực khí thải biển; Nghiên cứu, xây dựng, thiết lập một số vùng “kiểm soát khí thải” hay “đặc biệt” tàu biển tại các khu vực hải cảng gần khu biển có giá trị đặc biệt về môi trường sinh thái trên vùng biển Việt Nam Theo đó, tất cả những tàu biển cỡ lớn có lượng khí thải ô nhiễm vượt quá tiêu chu n cho phép s hạn chế không được cập cảng, hoặc theo chế độ hoa tiêu đặc biệt “Vùng kiểm soát khí thải” này có thể thiết lập tại 2 khu vực ven biển Quảng Ninh - Hải Phòng và Vũng Tàu - TP Hồ Chí Minh
* Đánh giá nhận xét
Thời gian qua, vấn đề bảo vệ môi trường biển đã trở thành vấn đề nóng bỏng
và cấp thiết, rất nhiều công trình nghiên cứu, bài báo trên các trang báo in, báo mạng, các luận văn, luận án đề cập đến vấn đề này Đảng và Nhà nước ta thực sự quyết tâm trong việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường biển Rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, sửa đổi cho phù hợp với thực tế, nhiều đề án, chiến lược, hội thảo về bảo vệ môi trường biển được xây dựng, tổ chức Có sự phối hợp giữa các ban ngành, có sự ủng hộ và góp sức của người dân Cùng với đó vấn đề hợp tác quốc tế trong lĩnh vực môi trường biển được đ y mạnh, vấn đề gia
Trang 30nhập, thực thi các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển được chú trọng… Môi trường biển nước ta phần nào đã được cải thiện
Tuy vậy, Việt Nam đang thực hiện chiến lược phát triển biển đến năm 2020, thiết nghĩ chúng ta phải nâng tầm nhìn về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển không chỉ 10 năm hay 20 năm mà cả một thế hệ sau Để hướng tới phát triển bền vững và
để kinh tế biển trở thành thế mạnh của Việt Nam như Chiến lược biển đến năm
2020 đã xác định thì trong thời gian tới, Việt Nam cần tích cực hơn nữa, quyết tâm
và mạnh tay hơn nữa trong việc giữ gìn, bảo vệ môi trường biển
1.2.2 Bài học rút ra từ việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển cho Đà Nẵng
Công tác quản lý môi trường cần được triển khai toàn diện trên nhiều mặt như ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, quy định bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố, quy định về đảm bảo trật tự an toàn và vệ sinh môi trường trong quá trình xây dựng các công trình
Thành phố cần yêu cầu Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp Ban quản lý các khu công nghiệp kiểm tra hướng dẫn các nhà máy, cơ sở sản xuất thực hiện đúng các quy trình xử lý nước thải, chất thải, nhất là các cơ sở thường gây ô nhiễm như nhà máy chế biến thủy sản, thép, bia… Thường xuyên kiểm tra và không cấp phép khai thác mới titan vùng ven biển
Ðối với những dự án đã cấp phép khai thác cần phải chấm dứt khi hết hạn hợp đồng và phải phục hồi nguyên trạng vùng đất đã khai thác Ðối với các khu du lịch ven biển, Thành phố chỉ đạo Sở Du lịch cùng Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp tổ chức các đợt kiểm tra, hướng dẫn các khách sạn, nhà hàng, khu nghỉ mát… thực hiện đúng các quy định của Luật Bảo vệ môi trường Ðối với các dự án xây dựng khu du lịch, vui chơi giải trí có quy mô từ 5 ha trở lên, dự án xây dựng khu khách sạn, nhà nghỉ quy mô từ 50 phòng trở lên phải thực hiện lập và trình cấp có
th m quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường
Trong định hướng phát triển kinh tế – xã hội, thu hút đầu tư, Thành phố cần chú trọng những dự án không gây ô nhiễm môi trường Các nguồn lực đầu tư cho môi trường cũng được cần quan tâm, phát triển hiệu quả các ngành công nghiệp,
Trang 31dịch vụ nhưng phải bảo đảm môi trường trong lành, không vì lợi ích kinh tế mà gây
ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó Sở Tài nguyên và Môi trường thường xuyên, đột xuất lập nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra công tác bảo vệ môi trường tại các cơ sở sản xuất công nghiệp, dịch vụ nhất là tại các “điểm nóng” về gây ô nhiễm môi trường (khu vực Âu thuyền Thọ Quan, Sông Phú Lộc,…); quản lý ô nhiễm công nghiệp, xử
lý triệt để các ơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn thành phố Đồng thời tổ chức nhiều phong trào huy động cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường biển như “Tuần lễ biển và hải đảo”, "Ngày chủ nhật xanh, sạch, đẹp", chương trình thí điểm về phân loại rác thải tại nguồn, phân cấp quản lý hồ đầm trên thành phố
Thành phố cần lắp đặt thùng rác tại 5 bãi biển để người dân và khách du lịch
bỏ rác vào thùng, sử dụng hiệu quả máy sàn cát hiện đại để làm sạch bãi biển Bên cạnh đó, thành phố cần xây dựng nhiều công trình vệ sinh công cộng ở các bãi biển
và cho đăng ký cam kết đối với các hộ kinh doanh ăn uống trên các bãi tắm về kinh doanh văn minh, lịch sự và thân thiện trên biển Ngoài ra, hàng năm thành phố cần phối hợp với các nhà hàng, khách sạn, đơn vị địa phương tổ chức ra quân làm vệ sinh môi trường biển; hợp đồng với đài truyền hình DRT xây dựng và phát sóng các chuyên mục về bảo vệ môi trường biển Đà Nẵng; phát hành tờ rơi "chung tay bảo
vệ môi trường biển" đến với người dân và du khách…
1.2.3 Nhiệm vụ bảo vệ môi trường biển của Thành phố Đà Nẵng
Trong những năm gần đây, vấn đề môi trường đang là một trong những vấn đề nóng bỏng và được quan tâm nhiều trên toàn thế giới Cùng với những vấn đề như dịch bệnh, an ninh lương thực, vấn đề giáo dục, vấn đề hạt nhân, vấn đề môi trường
đã nhiều lần được đưa ra các diễn đàn quốc tế Năm 2015, tại hội nghị thượng đỉnh COP21 diễn ra tại Paris, Pháp tháng 12 năm 2015, trong bài phát biểu của mình, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đề cao vai trò của việc giữ gìn môi trường biển và biến đổi khí hậu Trong bài phát biểu, thủ tướng nhấn mạnh về các hoạt động thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, được gắn kết với quá trình tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng bền vững
Đối với Thành phố Đà Nẵng, xuất phát từ ý tưởng xây dựng “Thành phố môi
Trang 32trường” của Thành ủy Đà Nẵng, UBND TP đã ban hành Đề án “Xây dựng Đà Nẵng
- Thành phố môi trường” đến năm 2020 Đà Nẵng là địa phương điển hình trong cả nước có định hướng xây dựng thương hiệu môi trường Đề án đặt ra 23 tiêu chí bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, môi trường không khí, môi trường nước, quản lí chất thải rắn, cây xanh Do đó công tác bảo vệ môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng là nhiệm vụ cấp bách của Thành phố Đà nẵng hiện nay
Kết luận chương 1
Trong chương 1, luận văn đã trình bày khái quát những vấn đề lý luận về chính sách bảo vệ môi trường biển và những vấn đề liên quan đến chính sách bảo vệ môi trường biển ở Thành Phố Đà Nẵng như sau:
Thứ nhất, luận văn nêu khái niệm chung về môi trường biển, ô nhiễm môi
trường biển là gì? Bảo vệ môi trường biển, Chính sách bảo vệ môi trường biển của Việt Nam; phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển; nêu ra các chính sách chủ yếu nhằm bảo vệ môi trường biển
Thứ hai, luận văn tập trung phân tích cơ sở thực tiễn về thực hiện chính sách
bảo vệ môi trường biển của Việt Nam, bài học kinh nghiệm cho Đà Nẵng từ các chính sách đó và nhiệm vụ của Đà Nẵng trong việc bảo vệ môi trường biển
Kết quả nghiên cứu của Chương 1 s là cơ sở lý luận để thực hiện các nội dung tiếp theo của đề tài, đồng thời là cơ sở lý luận có thể áp dụng vào việc thực thi hiệu quả chính sách bảo vệ môi trường biển của thành phố Đà Nẵng
Trang 33Chương 2 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN
CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội Thành phố Đà Nẵng
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Đà Nẵng nằm ở 15055’20” đến 16014’10” vĩ tuyến Bắc, 107018’30” đến
108020’00” kinh tuyến Đông, là trung tâm kinh tế và là một trong những trung tâm văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ lớn của khu vực miền Trung - Tây Nguyên, là thành phố lớn thứ 4 của Việt Nam, đứng sau thành phố Hồ Chí Minh,
Hà Nội, Hải Phòng Thành phố nằm dọc theo vùng duyên hải Nam Trung Bộ Đà Nẵng hiện là một trong 3 đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương của Việt Nam (cùng với Hải Phòng và Cần Thơ)
Thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững Thành phố Đà Nẵng nằm ở vị trí trung độ của Việt Nam, nằm trên trục giao thông Bắc – Nam của quốc gia về đường bộ, đường sắt, đường hàng không; cách thành phố Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam Đà Nẵng có vị trí thuận lợi về các tuyến đường biển, đường hàng không quốc tế
Bờ biển Đà Nẵng dài khoảng 92 km, có vịnh nước sâu với cửa biển Liên Chiểu, Tiên Sa, có vùng lãnh hải thềm lục địa với độ sâu 200m từ Đà Nẵng trải ra
125 km tạo thành vành đai nước nông rộng lớn thích hợp cho phát triển kinh tế tổng hợp biển và giao lưu với nước ngoài Bờ biển có nhiều bãi tắm đẹp như bãi Non Nước, Mỹ Khê, Nam Ô với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, có giá trị lớn cho phát triển du lịch và nghỉ dưỡng
Đề cập đến thế mạnh kinh tế biểncủa Đà Nẵng, không thể không nhắc đến nguồn tài nguyên biển nằm trong ngư trường trọng điểm củamiền Trung, với trữ lượng nguồn lợi thủy sản khoảng 1.140.000 tấn, chiếm 43% tổng trữ lượng của cả nước, gồm trên 670 giống, loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao là 110 loài Khu vực biển Nam Hải Vân – Bán đảo Sơn Trà có các hệ sinh thái với tính đa dạng sinh học cao như rạn san hô, thảm cỏ biển, rong biển và các chủng loại sinh vật quý,
Trang 34là tài sản phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế xã hội
Du lịch biển được xác định là một trong các ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố Hơn 5 năm qua, thành phố Đà Nẵng đã n lực xây dựng hình ảnh một đô thị năng động, hiện đại và môi trường trong sạch gắn với chiến lược phát triển các chu i sự kiện, lễ hội cộng đồng Nằm trên “Con đường Di sản thế giới”, Đà Nẵng còn được biết đến như một điểm hẹn của các sự kiện và lễ hội Từ các lễ hội truyền thống như Lễ hội Quán Thế Âm, lễ hội Cầu Ngư, lễ hội Đình làng Túy Loan, Đình làng Hải Châu cho đến các sự kiện nổi bật như Cuộc thi trình diễn pháo hoa quốc tế, Cuộc thi dù bay quốc tế,… đã và đang thu hút hàng triệu lượt khách du lịch đến với
Đà Nẵng m i năm Do đó Thành Phố Đà Nẵng luôn xác định, biển là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là nguồn tài nguyên du lịch số 1 của Đà Nẵng, biển đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Đà Nẵng - Cửa ngõ phía Đông của Hành lang Kinh tế Đông – Tây (EWEC) Hành lang Kinh tế Đông - Tây là một trong năm hành lang kinh tế được phát triển theo sáng kiến của Ngân hàng Phát triển Châu Á ở khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông Đây là tuyến đường bộ dài 1.481 km nối hai bờ Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương đi qua 13 tỉnh/thành phố của 4 nước, bắt đầu từ thành phố cảng Mawlamyine đến cửa kh u Myawaddy (Myanma), đi qua Thái Lan, Lào và điểm đến cuối cùng là cảng Tiên Sa - Đà Nẵng của Việt Nam
Hành lang Kinh tế Đông - Tây không chỉ đem lại cơ hội cho các quốc gia trên tuyến đường đ y mạnh hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và nâng cao mức sống cho nhân dân, mà còn tạo khả năng cho các doanh nghiệp của các nước tiếp cận tốt hơn các vùng nguyên liệu, thị trường dịch vụ, vốn, công nghệ và lao động , tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư và buôn bán qua biên giới, đa dạng hóa hoạt động kinh tế và xuất kh u, thúc đ y phát triển du lịch
Về du lịch, Thành phố Đà Nẵng nằm bên dòng sông Hàn; phía Đông vươn
ra biển Đông với những bãi biển dài tăm tắp và bán đảo Sơn Trà còn rất hoang sơ; phía Bắc và phía Tây được bao bọc bởi đèo núi cao Đèo Hải Vân cheo leo hiểm trở
là ranh giới tự nhiên giữa thành phố và tỉnh Thừa Thiên-Huế Ngoài sự ưu đãi của
Trang 35thiên nhiên cho Đà Nẵng, thành phố còn được bao bọc bởi 3 di sản văn hóa thế giới: Huế, Hội An, Mỹ Sơn Xa hơn một chút nữa là di sản thiên nhiên thế giới Vườn Quốc gia Bạch Mã, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng Vì thế Đà Nẵng được xem
là điểm trung chuyển quan trọng trên con đường di sản miền Trung Bên cạnh đó, du lịch biển được xác định là một trong các ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố Năm 2011 là năm thành công của du lịch Đà Nẵng với tổng số lượt khách tham quan, nghỉ dưỡng ước đạt 1,77 triệu lượt khách, tăng 33% so với cùng kỳ năm 2010, đạt 122% kế hoạch năm Đáng chú ý là lượng khách quốc tế đến Đà Nẵng đã bắt đầu tăng mạnh trở lại với 370 ngàn người, tăng 18% so với năm 2010 và khách nội địa chiếm đến 1,4 triệu lượt người, tăng 38% Sự khởi sắc về số lượng khách khiến tổng doanh thu chuyên ngành Du lịch năm 2011 của Đà Nẵng ước đạt 1.239 tỷ đồng, tăng 39% so với năm 2010, tổng thu nhập xã hội từ hoạt động du lịch cũng mang lại 3.097
tỷ đồng Năm 2012, ngành Du lịch Đà Nẵng phấn đấu đón 2,1 triệu lượt khách
2.1.3 Những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến môi trường biển Thành phố Đà Nẵng
2.1.3.1 Những ảnh hưởng tích cực
Thông qua việc phân tích, đánh giá các số liệu về điều kiện tự nhiên, KT-XH cho thấy công tác bảo vệ môi trường biển trên địa bàn Thành phố có những thuận
lợi sau:
Thứ nhất, việc xây dựng, cụ thể hóa chính sách, pháp luật về BVMT biển
được triển khai nhanh chóng, đầy đủ, kịp thời để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn do đây là vùng biển dài, rộng, có nhiều đặc trưng điển hình về nguồn gây ô nhiễm (khai thác hải sản, lấn biển, cảng biển, du lịch biển,…)
Thứ hai, Việc đề xuất Trung ương những cơ chế đặc thù về pháp luật, tổ chức
bộ máy trong QLNN là có thể thực hiện được như: Phân cấp quản lý biển nhiều hơn cho Thành phố; thành lập một Hội đồng Quản lý tổng hợp; thành lập Phòng Quản lý
đa dạng sinh học trực thuộc Chi cục BVMT; thành lập Phòng Biển và Hải đảo trực thuộc UBND cấp huyện đối với Huyện đảo
Thứ ba, có hợp tác với nhiều tổ chức quốc tế và thu hút nhiều chương trình, dự
án như: Môi trường và Khoa học, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Cơ quan Quản lý Đại
Trang 36dương và Khí quyển Quốc gia Hoa Kỳ (NOAA), Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên quốc
tế (IUCN) trong dự án QLTHVB…
Thứ tư, việc triển khai, tổ chức thực hiện QLNN về BVMT BVB có những
thuận lợi nhất định như: Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục đạt hiệu quả cao hơn do trình độ dân trí cao và khá đồng đều ở khu vực ven biển; chính sách xã hội hóa BVMT BVB dễ dàng thu hút được nguồn lực do tiềm lực kinh tế của các thành phần kinh tế trong Thành phố khá mạnh, nguồn lực trong dân dồi dào; thực hiện các chủ trương được triển khai nhanh chóng
2.1.3.2 Những ảnh hưởng tiêu cực
Bên cạnh những mặt tích cực s là tồn tại trong công tác bảo vệ môi trường biển tại thành phố:
Thứ nhất, việc phát triển “nóng” các ngành kinh tế trên lục địa (các khu công
nghiệp) cũng như kinh tế biển đã làm cho những áp lực về ô nhiễm với môi trường biển ngày càng nghiêm trọng
Thứ hai, việc tiếp giáp biên giới biển với Trung Quốc, là nước có mức độ ô
nhiễm biển ngày càng lớn cũng gây ra những khó khăn nhất định trong BVMT biển của Đà Nẵng Bên cạnh đó yêu cầu BVMT Đà Nẵng phục vụ phát triển du lịch bền vững ngày càng trở thành áp lực đối với hoạt động quản lý
Thứ ba, trình độ dân trí ở nhiều phường ven biển còn thấp, nên việc triển khai các
chương trình, dự án, việc tuyên truyền vận động còn gặp những khó khăn nhất định
Thứ tư, ngành dịch vụ vẫn chiếm trên 50% trong cơ cấu kinh tế, do đó lượng
khách du lịch ngày càng tăng thì càng gây áp lực cho môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng
Thứ năm, QLNN về BVMT biển gặp khó khăn khi phải điều hòa lợi ích giữa
nhiều ngành, lĩnh vực, nhiều chủ thể có liên quan đến biển
Thứ sáu, so với thực tiễn BVMT thì bộ máy quản lý chưa đáp ứng được yêu
cầu hiện nay, còn mỏng, thiếu kinh nghiệm, địa bàn rộng, tính chất và mức độ gây ô nhiễm BVB bờ ngày càng phức tạp
Thứ bảy, giám sát, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với hành vi gây ô
nhiễm BVB gặp khó khăn khi địa bàn rộng, nguồn gây ô nhiễm đa dạng
Trang 372.2 Thực trạng môi trường biển Đà Nẵng
2.2.1 Điểm mạnh
Đà Nẵng với điều kiện tự nhiên nằm sát Biển Đông s là thuận lợi để phát triển toàn diện mọi mặt, trên mọi lĩnh vực:
Về hệ sinh thái biển, Đà Nẵng khá đa dạng, theo tài liệu nghiên cứu, khảo sát
năm 2002 của Viện Hải dương học Nha Trang thì: Đà Nẵng hiện có 7 điểm tạo ra rạn san hô, chạy dọc ven biển từ chân đèo Hải Vân đến bán đảo Sơn Trà Quần thể các rạn san hô này tập trung nhiều nhất ở ven vùng bờ phía Bắc vịnh Đà Nẵng và vùng phía Nam bán đảo Sơn Trà từ Mũi Nghê đến Mũi Giòn và một bãi rạn ngầm cách làng cá Thọ Quang khoảng 1km về hướng Đông Nam với diện tích trên 58ha (trong đó rạn san hô ven bờ chiếm khoảng 43ha và vùng rạn ngầm Thọ Quang khoảng 15ha), phân bố từ bờ ra đến độ sâu không quá 12m nước.Với 52 loài thuộc
26 giống và 11 họ san hô cứng Các rạn san hô vùng biển ven bờ Đà Nẵng này còn
là nơi cư trú của gần 74 loài thuộc 44 giống và 26 họ cá rạn san hô đã được xác
định Rạn san hô thường tập trung ở độ sâu 4-6m dưới mặt nước biển, có thể coi là
những khu rừng nguyên sinh dưới đáy biển, còn là nơi cư trú và sinh sản của các
loài san hô quý cùng với hàng trăm loài cá cảnh có giá trị kinh tế cao
Về chất lượng nước biển Đà Nẵng, nhằm tiếp tục theo dõi chất lượng nước
biển ven bờ và tại các bãi tắm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành lấy mẫu quan trắc, đo đạc chất lượng nước biển hằng ngày tại 08 vị trí gồm: khu vực bãi tắm: Phạm Văn Đồng, Mỹ Khê, Non Nước, Bãi Rạng; cầu cảng Tiên Sa; cửa sông Phú Lộc; cửa sông Cu Đê; cảng Liên Chiểu, cách bờ khoảng 100 m, độ sâu 4 m
Kết quả phân tích chất lượng nước biển ven bờ ngày 07/5/2016 tại 08 vị trí trên như sau: Các thông số chất lượng nước biển vùng biển ven bờ: pH, DO (lượng oxy hòa tan trong nước), TSS (tổng chất rắn lơ lửng), NH4+N (Amoni), Cr6+ (Crom 6), Cd (Cadimi), Cu (đồng), Pb (Chì) tại 08 vị trí trên so với giới hạn của các thông
số chất lượng nước biển vùng biển ven bờ “Vùng bãi tắm, thể thao dưới nước” của QCVN 10-MT:2015/BTNMT Quy chu n kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển
- Vùng bãi tắm, thể thao dưới nước cho thấy các thông số đều nằm trong giới hạn cho phép, đảm bảo yêu cầu phục vụ mục đích thể thao, giải trí dưới nước
Trang 38ảng 2.1 Kết quả phân tích chất lượng nước biển ven bờ Đà Nẵng
(-): Không quy định trong QCVN 10-MT: 2015/BTNMT
- B1: Mẫu nước biển lấy tại khu vực bãi tắm Phạm Văn Đồng
- B2: Mẫu nước biển lấy tại khu vực bãi tắm Mỹ Khê
- B3: Mẫu nước biển lấy tại khu vực bãi tắm Non Nước
- B4: Mẫu nước biển lấy tại khu vực bãi Rạng
- B5: Mẫu nước biển lấy tại cầu cảng Tiên Sa
- B6: Mẫu nước biển lấy tại vùng cửa sông Phú Lộc
- B7: Mẫu nước biển lấy tại vùng cửa sông Cu Đê
- B8: Mẫu nước biển lấy tại khu vực cảng Liên Chiểu – Cầu cảng xi măng Hải Vân
- QCVN 10-MT: 2015/BTNMT: Quy chu n kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển – Cột vùng bãi tắm, thể thao dưới nước
Tài nguyên biển Đà Nẵng, nguồn tài nguyên biển Đà Nẵng nằm trong ngư
trường trọng điểm của miền Trung, với trữ lượng nguồn lợi khoảng 1.140.000 tấn, chiếm 43% tổng trữ lượng cả nước, gồm trên 670 giống, loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao là 110 loài Khu vực biển Nam Hải Vân – Bán đảo Sơn Trà có các
hệ sinh thái với tính đa dạng sinh học cao như rạn san hô, thảm cỏ biển, rong biển
và các chủng loại sinh vật quý, là tài sản phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế xã hội Hàng năm, đội tàu khai thác thủy sản khai thác được 37 đến 40 nghìn tấn hải sản các loại phục vụ cho tiêu dùng nội địa và xuất kh u
Trang 39Về hải sản nuôi trồng, với mục tiêu trở thành trung tâm nghề cá cảu cả nước
có mức tăng trưởng cao về giá trị kim ngạch xuất kh u thuỷ sản từ 14 - 15%/năm, Đà Nẵng đã tăng cường đ y mạnh khai thác hải sản xa bờ, hạn chế tối đa vùng ven bờ, theo đó phát triển nhanh số lượng tàu cá công suất lớn và cải hoán nâng cấp tàu cá công suất nhỏ; chú trọng đào tạo nghề để có đội ngũ lao động khai thác có sức khỏe, có trình độ và hiện đại hoá hệ thống thông tin h trợ ngư dân trên biển
* Hình ảnh quận Sơn Trà, Đà Nẵng luôn chú tr ng phát triển đội tàu vỏ thép:
hụ lục 01
* Hình ảnh môi trường bảo đảm là 1 trong những yếu tố quan tr ng được Đà Nẵng đề cao trong chiến lược phát triển: hụ lục 02
Về chế tạo chế biến, trên địa bàn Đà Nẵng hiện có hơn 20 đơn vị chế biến hải
sản xuất kh u, đa phần các doanh nghiệp đã năng động tìm kiếm thị trường, tạo nhiều mặt hàng xuất kh u phong phú về chủng loại Ngoài hệ thống các cơ sở chế biến hiện có, tập trung tại Khu công nghiệp dịch vụ thủy sản Thọ Quang, thành phố
đã quan tâm h trợ các doanh nghiệp chế biến, xuất kh u thủy sản đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ cao, phát triển các nhà máy chế biến và xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng Trong thời gian đến, dự án Chợ thủy sản đầu mối, đưa vào hoạt động,
s là một Chợ đầu mới thủy sản lớn, tạo thành mắt xích quan trọng của chu i liên hoàn gồm khai thác hải sản xa bờ, chế biến xuất kh u, dịch vụ hậu cần nghề cá cho khu vực miền Trung
2.2.2 Thách thức
Bên cạnh những lợi thế tiềm năng đã nêu trên của Thành phố biển Đà Nẵng thì hiện nay các bãi biển này vẫn còn những hạn chế nhất định, do bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi nước thải, rác thải từ các nguồn sinh hoạt, dịch vụ du lịch, công nghiệp
của thành phố, có thể kể đến như:
Các nguồn ô nhiễm do hoạt động kinh tế biển tại thành phố Đà Nẵng:
Trong những năm gần đây, ngành kinh tế biển Đà Nẵng có nhiều chuyển biến mới so với các đô thị khác Đi đôi với sự phát triển kinh tế biển là vấn đề môi trường vùng bờ và ô nhiễm môi trường biển do nhiều nguyên nhân khác nhau Vấn
đề khai thác nguồn tài nguyên biển và ven bờ chưa hợp lý từ đó dẫn đến ô nhiễm môitrường vùng bờ, sự giảm sút đa dạng hoá sinh học và tài nguyên biển Ô nhiễm
Trang 40môi trường biển ở thành phố Đà Nẵng đang ở mức khống chế tuy nhiên nếu không
có các giải pháp phát triển kinh tế hợp lý thì s dẫn đến hậu quả khó lường
Ô nhiễm biển từ đất liền:
Quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá tạo ra sự dịch chuyển nhân kh u học Trong vòng 10 năm từ năm 2000 đến đầu năm 2010, dân số Đà Nẵng tăng lên từ 661.800 lên đến trên 800.000 người, trung bình m i năm tăng lên khoảng 15.000 người, mật độ dân số tăng lên từ 520 người/km2
đến gần 650 người/km2 Trong khi
đó, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (do phong trào kế hoạch hoá gia đình) đã giảm từ 1,31% (năm 2000) xuống còn 1,10% (năm 2005) Nhưng đô thị hoá tạo ra quá trình
di dân từ nông thôn đến thành thị, lực lượng lao động tại thành thị ngày càng tăng (dân số ven biển cụ thể các Quận Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà, Liên Chiểu, Thanh Khê tăng nhanh) tạo sức ép môi trường sống và sức khoẻ cộng đồng
Phát triển cơ sở hạ tầng, thể hiện bước đầu là dự án Cầu Sông Hàn, Cầu Rồng, Cầu Thuận Phước, cây cầu bắc qua Sông Hàn, dòng sông vốn chia cách thành phố thành hai phần Một phần đô thị tương đối phát triển và phần còn lại là vùng kém phát triển do sự cách trở về giao thông vận tải Kinh nghiệm xây dựng hạ tầng cơ sở
ở Đà Nẵng có nét đặc trưng riêng so với nhiều vùng khác trong cả nước, nơi hàng loạt các dự án cơ sở hạ tầng bị chậm trễ và bị treo với nhiều lý do khác nhau dẫn đến sự bất an trong cuộc sống của người dân và ô nhiễm môi trường
Tuy quá trình đô thị hoá đem lại sự đổi mới cho thành phố, nhưng vẫn còn có một số vấn đề cần xem xét và giải quyết liên quan đến những chất thải gây ô nhiễm tiềm tàng nhất đối với môi trường biển là chất thải (lỏng và rắn) bệnh viện và sinh hoạt, bao gồm các chất POP, các hợp chất clo hữu cơ (PCB), bùn cát và đất do xói
lở, kim loại, chất thải phóng xạ, dầu và thuỷ triều đỏ, có thể gây tác hại nghiêm trọng đến sức khoẻ con người, giảm khả năng sinh sản của các loài hải sản các cửa sông và vùng ven bờ
Nguồn ô nhiễm thứ hai là từ các khu công nghiệp Chính sách thay đổi sau năm 1997 còn tạo một luồng sinh khí cho n lực xây dựng các khu công nghiệp của thành phố Trải qua thời gian trì tuệ, ba khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với diện tích 861 ha Bên cạnh việc tạo công việc làm và phát triển kinh tế thành phố, các công ty hoạt động ở các khu công nghiệp đã gây ra ô nhiễm môi trường sống