Tình hình chung về việc khai thác và sử dụng giá trị lâm sản ở Nghệ An
Trang 1CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU
1 Lý do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết rừng là nguồn tài nguyên sinh vật quý giá của đấtnước ta: Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữnhiều chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng Cụ thể là rừng vừa có giá trịkinh tế và vừa có giá trị bảo vệ môi trường
Về mặt kinh tế rừng cho sản phẩm gỗ để làm vật liệu cho các ngành xâydựng, các ngành thủ công chế biến….Ngoài ra rừng cho chúng ta sản phẩmđộng, thực vật như: Thịt thú rừng, hoa quả có giá trị thương mại…Nhữngsản phẩm này của rừng là một nguồn thu nhập quan trọng của những ngườidân nông thon ở vùng rừng núi của các nước đang phát triển
Về giá trị bảo vệ môi trường: Rừng giúp chống xói mòn, điều hoà khíhậu, rừng có vai trò quan trọng trong việc bản tồn sinh học…
Trước đây, đất nước Việt Nam có độ che phủ rừng khá cao, nhưng chỉmới thập niên qua rừng đã bị suy thoái nặng nề Tình trạng khai thác gỗ tráiphép vẫn tiếp diễn ngày nay, nạn lâm tặc vẫn hoành hành tại nhiều nơi màchưa có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu Nạn cháy rừng có chiều hướng giảm,những vẫn chưa kiểm soát được
Hơn nữa vì từng có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinhhọc, là cơ sở sống còn và phát triển của nước ta, đáp ứng các nhu cầu hàngngày của nhân dân ta hiện nay và cả trong tương lai Tuy nhiên nguồn tàinguyên này đang xuống cấp một cách nghiêm trọng, làm tổn hại đến khảnăng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Vì vậy cần sớm có biện pháp hữu hiệu để bảo tồn tài nguyên sinh họcquý giá của đất nước Vấn đề là phải biết kiềm chế, sử dụng một cách khônkhéo tài nguyên đa dạng sinh học và làm ổn định dân số, nâng cao nhận thứccủa mọi người về đa dạng sinh học đối với cuộc sống và tăng quyền chủ
Trang 2động và trách nhiệm của họ trong việc quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn tàinguyên thiên nhiên này Chính vì những lý do đó nên em chọn đề tài này đểxem xét về sản lượng gỗ được khai thác từ rừng ở tỉnh Nghệ An để vừa đápứng được những nguyên liệu, vật liệu cần thiết cho các nhà máy, cơ sở sảnxuất….trong việc sản xuất ra những sản phẩm, hàng hoá tiêu dùng cần thiếtcho nhân dân, đáp ứng cho việc đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng làm từ
gỗ như đồ nội thất, hàng thủ công …từ đó tăng thu nhập cho người dân gópphần tích luỹ vốn Vừa có biện pháp hạn chế đưa việc khai thác một cáchbừa bãi của của bọn lâm tặc, cũng như người dân chưa có nghề nghiệp đemlại thu nhập ổn định, bảo vệ được nhiều loài động vật, thực vật quý hiếm dần
và đang có nguy cơ bị tiêu diệt Lâu dài hơn để hướng tới mục tiêu phát triển
ổn định và bền vững của đất nước
2 Mục đích của đề tài
Vận dự báo phân tích để dự báo những thay đổi có thể có về sản lượng
gỗ sẽ được khai thác từ rừng của những năm tiếp theo từ đó xem xét sự tácđộng của nó làm thay đổi môi trường sinh thái và tác động tới sự phát triểnkinh tế - xã hội trong tương lai ở tỉnh Nghệ An nói riêng và rộng hơn là cảnứơc
3 Phạm vi nghiên cứu:
- Số liệu lấy từ năm 1995 – 2007
- Dự báo cho năm 2009 đến 2010
- Ở tỉnh Nghệ An
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng
- Phương pháp tập hợp số liệu thống kê đã qua xử lý
Chương II: NHỮNG VÂN ĐỀ LÝ LUẬN
Cở sở lý thuyết:
Trang 31.Các phương pháp dự báo:
2 Tiếp cận phương pháp (Mô hình) dự báo:
a) Nội dung của phương pháp bất biến san mũ
+ Sau đó cụ thể từ số liệu đó lấy số liệu ở Tỉnh Nghệ An
Chương III: PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO
Phần I:
1 Hiện trạng rừng của Việt Nam từ trước đến nay
2 Tình hình chung về việc khai thác và sử dụng giá trị lâm sản ở NghệAn
3 Tổng kết chung về sản lượng gỗ qua các năm ở Nghệ An (từ 1995 –2007)
Phần II:
+ Tính toán đưa ra kết quả
+ Phân tích, nhận xét, phân tích đủ độ tin cậy
+ Dự báo: - Thay giá trị các năm sau
- Xem xét phụ thuộc các nhân tố
+Điều kiện để áp dụng mô hình(số liệu thống kê đáng tin cậy)
Chương IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
2 Kiến nghị
Trang 4CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU
1 Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết rừng là nguồn tài nguyên sinh vật quý giá của đấtnước ta: Rừng có khả năng tái tạo lại Rừng không những là cơ sở phát triểnkinh tế - xã hội mà còn giữ nhiều chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng CỤthể là rừng vừa có giá kinh tế và và có giá trị bảo vệ môi trường
Về mặt kinh tế rừng cho sản phẩm gỗ và các sản phẩm khác ngoài gỗ đểlàm vật liệu, nguyên liệu cho các ngành xây dựng, các ngành thủ công chếbiến… Ngoài ra rừng cho chúng ta sản phẩm động, thực vật như: Thịt thúrừng, hoa quả có giá trị thương mại…Những sản phẩm này của rừng là mộtnguồn thu nhập quan trọng của những người dân nông thôn ở vùng rừng núicủa các nước đang phát triển
Về giá trị bảo vệ môi trường: Rừng giúp chống xói mòn, điều hoà khíhậu, rừng có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học
Trứơc đây và trong mấy năm qua, đất nứơc Việt Nam có độ che phủrừng khá cao và chiều hướng tăng 28,8% năm 1998 33,2% năm 2000 vàđến cuối năm 2002 và 35,8% nhưng phần lớn là rừng nghèo rừng thưa cònrừng giàu và rừng trung bình có tỷ lệ thấp Rừng đang bị suy thoái nghiêmtrọng Tình hình khai khác gỗ trái phép vẫn tiếp diễn đến ngày nay, nạn lâmtặc vẫn hoành hoành tại nhiều nơi mà chưa có biện pháp ngăn chặn hữuhiệu Nạn cháy rừng có chiều hướng giảm, nhưng vẫn chưa kiểm soát được.Việc mất rừng không phải chỉ diễn ra ở Tây Nguyên, vùng đất có độ che phủrừng lớn nhất toàn quốc 55,2% đất tự nhiên mà còn ở nhiều vùng khác củađất nứơc một cách mạnh mẽ, nhằm thu hẹp diện tích rừng để mở rộng đấtcanh tác nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, xây dựng đường xá và các cơ sơ
hạ tầng khác Việc khai thác rừng theo kiểu chặt chọn và tận dụng đã gópphần làm cho rừng nước ta mất dần từng ngày từng giờ
Trang 5Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2002
cả nước đã xảy ra 1.098 vụ cháy rừng gây thiệt hại 15.548 ha, đặc biệt là hai
vụ cháy lớn ở rừng chàm U Minh Thượng và U Minh Hạ gây thiệt hạikhoảng 5.500 ha rừng tràm của hai tỉnh Kiên Giang và Cà Mau 8 tháng đầunăm 2003 cả nước đã xảy ra 642 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 2.718 ha rừng.Còn theo kết quả của Viện điều tra và quy hoạch rừng (1995) thì diệntích rừng trong 20 năm từ năm 1975 đến năm 1995 diện tích rừng tự nhiêngiảm 2,8 triệu ha Hơn 2.400m3 lượng gỗ bị khai thác ở vườn quốc giaKonKaKinh ( 2003) trong thời gian dài mà không bị phát hiện…
Hơn nữa vì rừng có vai trò quan trọng trong viẹc bảo tồn đa dạng sinhhọc, là cơ sở sống còn và phát triển của đất nứơc ta, đáp ứng các nhu càuhằng ngày của nhân dân ta hiện nay và cả trong tương lai Tuy nhiên nguồntài nguyên này đang xuống cấp một cách nghiêm trọng, làm tổn hại đến khảnăng phát triển kinh tế xã hội của đất nứơc
Vì vậy cần sớm có biện pháp hữu hiệu để bảo tồn tài nguyên sinh hoáqúy giá của đât nước Vấn đề là phải biết kiềm chế, sử dụng một cách khônkhéo tài nguyên đa dạng sinh học và làm ổn định nhu cầu trong giới hạn chophép bằng cách sớm ổn định dân số, nâng cao nhận thức của mọi người về
đa dạng sinh học đối với cuộc sống và tăng quyền chủ động và trách nhiệmcủa họ trong việc quản lý, sử dịng và bảo vệ nguồn tài nguyên nhiên nhiênnày Đặc biệt là việc trồng và bảo vệ rừng, tăng diện tích rừng Xu thế tăngdiện tích rừng ở năm 2000 là yếu tố đáng mừng đối với hiện trạng rừngtrong các năm tới, diễn biến tích cực sẽ ảnh hưởng tốt tới bảo vệ môi trườngvào thời kỳ 2005 trở đi Hiện trạng ở Việt Nam vào cuối năm 2002: Rừngđặc dụng có diện tích 1.350.668 ha, chiếm 49% tổng diện tích hiện trạng củarừng toàn quốc
Trang 6Rừng sản xuất có diện tích 4.040.056 ha, chiếm 37% tổng diện tích hiệntrạng rừng toàn quốc nhưng hầu hết là rừng trồng và rừng tự nhiên đượckhoanh nuôi, phục hồi từ đối tượng đất rừng giao cho hộ gia đình và các chủrừng cụ thể, thực hiện kinh doanh rừng theo quy hoạch bền vững.
Có thể xác định được rằng về chiến lược phát triển lâu dài và thực hiệncác chương trình hành động cụ thể, thì tỷ lệ hai loại rừng có liên quan đếnvấn đề môi trường là rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, đang chiếm 63%diện tích rừng toàn quốc, có tác dụng tốt trong việc bảo vẹ môi trường trênbình diện tích Nhưng trên thực tế, phẩm cấp, chất lượng rừng nói chung vẫnsuy giảm, không tăng theo tỷ lệ rừng che phủ
Với những lý do nêu trên em quyết định chọn đề tài này để xem xét vềsản lượng gỗ đã đựoc khai thác ở một địa phương cụ thể để phán ánh chocác nước cụ thể là Tỉnh Nghệ An Để xem xét trữ lượng gỗ đó sẽ đựơc khaithác lớn hay ít như thế nào có khả năng đáp ứng đựơc những nguyên liệu,vật liệu cần thiết cho các nhà máy, cơ sở sản xuất…trong việc sản xuất ranhững sản phẩm, hàng hoá tiêu dùng cần thiết cho nhân dân đáp ứng choviệc đẩy mạng xuất khẩu những mặt hàng làm từ gỗ như đồ nội thất, hàngthủ công…từ đó tăng thu nhập cho người dân, góp phần tích luỹ vốn tạo cơhội đầu tư để phát triển tinh nói riêng và cả nước nói chung Đồng thời thôngqua việc khai thác đó để có biện pháp hạn chế đựơc việc khai thác một cáchbừa bãi của bọn lâm tặc, cũng như người dân chưa có nghề nghiệp đem lạithu nhập ổn định, báo vệ được nhiều loại động vật, thực vật quý hiếm đangdần và đang có nguy cơ bị tiêu diệt Lâu dài hơn để hướng tới mục tiêu ổnđịnh và bền vững của đất nứơc
2 Mục đích đề tài:
Vận dụng được phương pháp dự báo, phân tích để dự báo những thayđổi có thể có về sản lượng từ cây gỗ sẽ được khai thác ở Tỉnh Nghệ An nói
Trang 7chung và cụ thể là các huyện nói riêng những năm tiếp theo, từ đó xem xét
sự tác động của nó làm thay đổi môi trường sinh thái và tác động tới sự pháttriển kinh tế - xã hội trong tương lai ở Tỉnh Nghệ An nói riêng và rộng hơn
là cả nước nói chung Từ đó tỉnh có thể đưa ra những kế hoạch, chính sáchdài hạn vừa để bảo vệ rừng vừa khuyến khích người dân về nuôi và trồngrừng trong việc được giao đất, giao rừng, đồng thời tăng cường chương trình
kế hoạch hoá gia đình và sớm hoàn thành xoá đói giảm nghèo
3 Phạm vi nghiên cứu:
Theo số liệu thu nhập được từ tổng cục thống kê, em đã chọn số liệu từnăm 1995 đến năm 2007 về lượng gỗ được khai thác từ rừng ở Nghệ An
Từ đó dự báo cho năm 2009 đến năm 2010
4 Phương pháp nghiên cứu:
Như chúng ta đã biết dự báo có rất nhiều đối tượng rộng lớn, ở nhiềucấp độ khác nhau, do đó đòi hỏi phải áp dụng các phương pháp thích hợpnhất cho từng đối tượng dự báo Hiện nay có rất nhiều phương pháp dự báokhác nhau về nguồn thông tin được sử dụng, về cơ chế xây dựng dự báo, về
độ tin cậy, độ chính xác thực của kết quả dự báo như phương pháp duy vậtbiện chứng, phương pháp tập hợp số liệu thống kê đã qua xử lý… Trong đóđối với đề tài của em thì sử dụng phương pháp mô hình chuỗi thời gian.Phương pháp này giả định rằng quy luật đã phát hiện trong quá khứ và hiệntại được duy trì sang tương lai trong phạm vi tầm xa dự báo
Cụ thể là em là sử dụng phương pháp hay mô hình xu thế san mũ để dựbáo và tính dự báo trong thời gian ngắn trong 2 năm từ 2009 – 2010
Trang 8CHƯƠNG II: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.Các phương pháp dự báo
Như đã nói ở trên để dự báo một đề tài nào đó có rất nhiều phươngpháp cụ thể có 3 lớp phương pháp chính:
a.Mô hính hóa: +Mô hình lịch sử(biến thời gian)
+Mô hình kinh tế lượng
+Mô hình tối ưu:xác định phương án trần hoặcsàn,phương án có tính kinh tế cao nhất,thấp nhất
+Mô hình cân bằng tổng quát:dự báo ở mặt vĩ mô:cácbiến động của thị trường
b.Phương pháp chuyên gia:phương pháp có tinh chất dự báo địnhtính,lấy ý kiến của chuyên gia để phân tích,dự báo
c Phương pháp kế hợp:lấy mô hình +chuyên gia
Và để xem xét mô hình nào sẽ được lựa chọn trước hết phải tính đuoc
1 Tiếp cận phương pháp (Mô hình) dự báo:
a) Nội dung của phương pháp xu thế san mũ:
Có dạng đa thức: xt = ao + a1 + //////////
Các quy trình thực hiện phương pháp:
- ước lượng các tham số của xu thế ban đầu: Ứơc lượng Bằng phươngpháp nhỏ nhất (điểm chọn)
- Lựa chọn tham số sau và các điều kiện ban đầu
- Lập bảng tính từthời điểm thứ 1: t = 1 và áp dụng công thức tổng quát:
K t
S
b a
S
) 1 ( 2
1
2 0
1 0
Trang 9t xt S t1 2
t
S
Dự báo: Thay l vào
- Tính sai số dự báo và khoảng dự báo
- Phân tích sự phù hợp về mặt ý nghĩa
San mũ là một phương pháp dự báo số lượng đựơc xây dựng trên cơ
sở phân tích chuỗi thời gian
Phương pháp sam mũ chủ yếu được vận dụng cho các mô hình dự báo
số luợng đơn biến ngắn hạn Các mức tương lai của dãy thời gian (xt) được
dự báo từ bản than chuồi thời hian mà không cần quan tam tới các nhân tốảnh hưởng khác Để đạt đựơc mục tiêu đó người ta sử dụng một phươngtrình dự báo dạng đa thức đựơc ước lượng theo các nước của chuỗi thờigian Và mô hình xu thế sau mũ là 1 ví dụ
Trang 10chuỗi thời gian khi dãy số khong thể hiện một xu thế tuyến tính hoặc có biến
động theo thời vụ nhiều
2 Thu nhập số liệu:
Từ nguồn số liệu của Tổng cục thống kê việc dự báo về sản lượng gỗ
khai thác ở Nghệ An được em chọn là từ năm 1995 đến năm 2007 đây là số
liệu sẽ được tính toán, phân tích để đưa ra được hàm dự báo Từ đó tính toán
dự báo cho năm tiếp theo từ năm 2008 đến năm 2015
Với số liệu cả nước sản lượng gỗ được khai thác phân theo vùng từ năm
1995 đến 2007 như sau: (Đơn vị tính: Nghìn m3)
1 Hiện trạng của rừng Việt Nam từ trước đén nay.
Với một vị trí địa lý, khí hậu thuận lợi đất nước Việt Nam có một sự đa
dạng về hệ sinh thái tự nhiên và sự phong phú về các loài sinh vật Những hệ
Trang 11sinh thái đó bao gồm nhiều loại rừng như rừng cây lá rộng thường xanh,rừng nửa rụng lá, rừng trên núi đá vôi, rừng lá kim, rừng tre nứa, rừng ngậpmặn, rừng tràm…Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế xã hội màcòn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng: Rừng tham gia vào quá trìnhđiều hoà khí hậu, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất làm giảm nhẹsức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, làm giảm ô nhiễm không khí và nước.
Có thể khẳng định rừng là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước ta
Nhưng hiện nay qua quá trình quản lý chưa bền vững, độ che phủ củarừng Việt Nam đã giảm sút đến mức báo động Chất lượng của rừng tự nhiêncòn lại đã bị hạ thấp quá mức
Trước đây phần lớn đất nứoc Việt Nam có rừng che phủ, nhưng chỉkhoảng một thế kỷ qua, rừng bị suy thoái nặng nề Trong thời kỳ Pháp thuộc,nhiều vùng đất rộng lớn ở phía Nam đã bị khai phá để trồng cà phê, cao su,chè và một số cây công nghiệp khác Vào khoảng thế kỉ XX, hầu như cáckhu rừng thuộc châu thổ Sông Hồng, một phần lớn Châu thổ Sông CửuLong cùng với các khu rừng trên đất thấp ven biển đã bị khai phá để trồngtrọt và xây dựng làng xóm Vào lúc này độ che phủ của rừng còn lại 43%diện tích đất tự nhiên Ba mươi năm chiến tranh tiếp theo là giai đoạn màrừng Việt Nam bị thu hẹp lại khá nhanh, hơn 2 triệu ha rừng nhiệt đới cácloại bị tiêu diệt
Sau chiến tranh, diện tích rừng chỉ còn lại 9,5 triệu ha, chiếm 29% diệntích cả nứơc Trong những năm vừa qua, để đáp ứng nhu cầu của dân sốngày càng tăng, để hàn gắn vết thuơng chiến tranh xây dựng nền kinh tế cònyếu của mình, nhân dân Việt Nam vẫn phải tiếp tục khai thác một cách mạnh
mẽ diện tích rừng còn lại Theo viện điều tra và quy hoạch rừng trong giaiđoạn này rừng chỉ còn lại 7,8 triệu ha, chiếm khoảng 24% diện tích cả nước
Ở nhiều tỉnh rừng tự nhiên giàu có lại rất thấp, như Lai Châu còn 7,88%,
Trang 12Son La 11,95% và Lào Cai 5,38% Sự suy giảm về độ chu phủ rừng ở các
vùng này là do mức tăng dân số đã tạo nên nhiều vùng rừng thành đất hoang
cằn cỗi Những khu rừng còn lại ở vùng núi Phía Bắc đã xuống cấp, trữ
lượng gỗ thấp và bị chia cắt thành những rừng nhỏ phân tán
Trong mấy năm qua, diện tích rừng có chiều hướng tăng lên, 28,2%
năm 1995 và cuối năm 1999 thì độ che phủ rừng toàn quốc lên đến là 33,2%
trong Kom Tum cao nhât 63,7% và thấp nhất là Sơn La 22,0%
TT Vùng địa lý tự nhiên
Diện tíchđất đai tựnhiên (ha)
Tổng diệntích rừng(ha)
Diện tích
tự nhiên(ha)
Diện tíchrừngtrồng (ha)
Độ chephủ rừngtrên đất đai