Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Trang 1DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Nội dung
QHĐT Quy hoạch đô thị
QHNT Quy hoạch nông thôn
APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình DươngWTO Tổ chức thương mại thế giới
ASEM Diễn đàn hợp tác Á – Âu
ATGTĐS An toàn giao thông đường sắt
ATGT An toàn giao thông
GTCC Giao thông công cộng
XDCB Xây dựng cơ bản
PPP Hợp tác công – tư
BOT Hợp đồng xây dựng-kinh doanh-chuyển giao
Trang 2đề xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Để góp phầnlàm rõ những quan điểm và có giải pháp đúng đắn phát triển hệ thống cơ
sở hạ tầng kỹ thuật Hà Nội, tôi đã quyết định chọn đề tài:
“Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn Thành phố Hà Nội”
Mục đích của đề tài là để có cở sở phát triển CSHTKT Hà Nội, do đócần làm rõ một số vấn đề:
Những nhân tố nào ảnh hưởng đến sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹthuật của Hà Nội?
Nguyên nhân do đâu dẫn đến tình trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật HàNội lại kém phát triển và hiệu quả?
Trang 3 Từ việc phân tích các nguyên nhân, đề tài có đưa ra một số giảipháp để có thể giải quyết được vấn đề nâng cao trình độ cơ sở hạtầng kỹ thuật hiện nay?
Đối tượng nghiên cứu là hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Hà Nộigồm: giao thông, cấp nước sạch, thoát nước, cấp điện, xử lý và thu gomrác thải
Phạm vi nghiên cứu là Thành phố Hà Nội cũ (trước khi mở rộng), thờigian từ tháng 09/2008 đến nay
Đề án đã sử dụng một số phương pháp:
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp thông qua các báo cáo, cácniên giám thống kê, thông tin trên báo chí, tryền hình, internet vàcác nghiên cứu trước đây
Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp
Phương pháp thống kê bằng bảng, biểu, đồ thị
Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến nhiều chuyên gia để rút
ra kết luận
Phương pháp SWOT: tìm ra điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy
cơ đối với CSHTKT
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục Đề
Trang 4I – Lý luận chung
1 Một số vấn đề lý luận về đô thị hóa.
1.1 Khái niệm.
1.1.1 Khái niệm đô thị.
Đô thị là không gian cư trú của con người mà ở đó dân cư tập trungđông đúc, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thíchhợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúcđẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, củamột tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện
Trung tâm tổng hợp: Những đô thị là trung tâm tổng hợp khi nó có vaitrò và chức năng nhiều mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…
Trung tâm chuyên nghành: Những đô thị là trung tâm chuyên nghànhkhi chúng có vai trò và chức năng chủ yếu về một mặt nào đó như :côngnghiệp cảng, du lịch, đầu mối giao thông…
1.1.2 Khái niệm đô thị hóa.
Trên quan điểm một vùng: Đô thị hóa là một quá trình hình thành,phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị
Trên quan điểm của kinh tế quốc dân: Đô thị hóa là một quá trình biếnđổi về sự phân bố các yếu tố lực lượng sản xuất, bố trí dân cư nhữngvùng không phải đô thị thành đô thị
Vì vậy đô thị hóa là quá trình quá độ từ hình thức sống nông thôn lênhình thức sống đô thị, là quá trình biến đổi từ không gian chưa phải đô thịthành đô thị hoặc từ một đô thị có trình độ thấp lên trình độ cao
1.2 Đặc điểm của đô thị hóa.
Đô thị hóa mang tính xã hội và lịch sử và là sự phát triển về quy mô,
số lượng, nâng cao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thành cácchùm đô thị
Trang 5Đô thị hóa gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội của đôthị và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xâydựng và dịch vụ…do vậy, đô thị hóa không thể tách rời một chế độ kinh
tế - xã hội
Phương hướng và điều kiện phát triển của quá trình đô thị hóa phụthuộc vào trình độ phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Ở các nước phát triển, đô thị hóa đặc trưng cho sự phát triển các nhân
tố theo chiều sâu, do đó nó nâng cao điều kiện sống, làm việc và côngbằng xã hội, xóa bỏ khoảng cách thành thị và nông thôn Còn ở các nướcđang phát triển như Việt Nam, thì đô thị hóa đặc trưng cho sự bùng nổ vềdân số, sự phát triển công nghiệp tỏ ra yếu kém nên gây nên sự gia tăngdân số, mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn trở nên sâu sắc
Công nghiệp hóa là cơ sở phát triển của đô thị hóa
2 Một số vấn đề lý luận về cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị.
2.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng đô thị.
Toàn bộ các công trình giao thông vận tải, bưu điện, thông tin liên lạc,dịch vụ xã hội như: đường sá, kênh mương dẫn nước, cấp thoát nước, sânbay, nhà ga xe lửa, ô tô, cảng sông, cảng biển, cơ sở năng lượng, hệ thốngmạng điện, đường ống dẫn xăng dầu, dẫn khí ga, hơi đốt, kho tàng, giaothông vận tải, giáo dục phổ thông và chuyên nghiệp, y tế, dịch vụ ăn uốngcông cộng, nghỉ ngơi du lịch, vui chơi giải trí, rác thải môi trường đô thị
v v… được gọi là kết cấu hạ tầng đô thị
Theo từ chuẩn Anh – Mỹ, thuật ngữ “kết cấu hạ tầng” được thể hiệntrên 4 bình diện: 1/Tiện ích công cộng (public utilities): năng lượng, viễnthông, nước sạch cung cấp qua hệ thống ống dẫn, khí đốt truyền tải quaống, hệ thống thu gom và xử lý chất thải trong thành phố 2/ Công chánh(public works): đường sá, các công trình xây dựng đập, kênh phục vụ tưới
Trang 6chính quy, đường sắt vận chuyển nhanh, cảng cho tầu và máy bay, đườngthủy… 4/ Hạ tầng xã hội (social infrastructure): trường học, bệnh viện…Tóm lại, cơ sở hạ tầng đô thị là những tài sản vật chất và các hoạtđộng hạ tầng có liên quan dùng để phục vụ các nhu cầu kinh tế - xã hộicủa cộng đồng dân cư đô thị.
2.2 Khái niệm cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị.
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị là một bộ phận của cơ sở hạ tầng đô thịnói chung nhằm bảo đảm cho đô thị phát triển hợp lý, giữ gìn môi trường
đô thị trong lành, bảo đảm tốt đời sống của người dân, bao gồm các côngtrình giao thông, cấp nước, thoát nước, vệ sinh môi trường, cung cấpnăng lượng, chiếu sáng công cộng, thông tin bưu điện và các công trìnhkhác (công viên, cứu hỏa…)
2.3 Đặc điểm của cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị.
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị là một hệ thống các công trình phức tạp,
nó dùng phương thức đặc biệt để trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vàoquá trình sản xuất xã hội, đồng thời lại dùng hình thức sản phẩm vật chấtđặc biệt để kết hợp chặt chẽ mình với đối tượng phục vụ Do vậy, nó cónhững đặc điểm mang tính quy luật về phương thức hình thành vàphương thức tác động
Tính thống nhất của phát triển
Tính thống nhất của phát triển đòi hỏi phải coi cơ sở hạ tầng kỹ thuật
đô thị là một hệ thống độc lập có quy hoạch thống nhất, đầu tư thống nhất
và xây dựng thống nhất Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một hệ thống thốngnhất trên mặt đất và dưới mặt đất, nếu như việc xây dựng chúng khôngđược tiến hành theo đúng quy hoạch thống nhất, thì hệ thống đường sátrên mặt đất và hệ thống đường ống dưới mặt đất sẽ bị rối loạn, không thể
ổn định trong một thời gian dài Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thịphải ăn khớp với dân số đô thị, sản xuất đô thị, xây dựng nhà ở đô thị vàphương thức bố cục đô thị Phát triển thống nhất kết cấu hạ tầng kỹ thuật
Trang 7đô thị là điều kiện bảo đảm cho sự phát triển mạnh mẽ các hạng mục xâydựng đô thị, rút nhắn chu kì xây dựng, hạ thấp giá thành công trình vànâng cao hiệu quả kinh tế.
Tính đi trước của xây dựng
Việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị thường căn cứ vào lượngcầu của quy hoạch đô thị đối với cơ sở hạ tầng để tiến hành phát triển vàxây dựng thống nhất, hình thành một lượng đi trước nhất định của nănglực cơ sở hạ tầng Chẳng hạn, việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹthuật của một Thành phố cần phải căn cứ và quy hoạch tổng thể củaThành phố trong từng giai đoạn Giai đoạn trước mắt do dân số và nhucầu chưa cao nên chỉ cần một số lượng nhất định các công trình cơ sở hạtầng kỹ thuật đô thị để xây dựng trước Còn trong dài hạn, do dân số tăngcao và do nhu cầu cũng tăng nên mới tiếp tục xây dựng tiếp những hạngmuc “đi sau”
Tinh đồng bộ của vận hành
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị là một bộ phận của cơ sở hạ tầng đô thị,
nó cần phải phục tùng yêu cầu của hạ tầng chung đô thị Nó không chỉ làkhâu nối mối quan hệ mật thiết giữa người và tự nhiên, mà còn tạc tạohình tượng của mối quan hệ giữa sản xuất và sinh hoạt đô thị Cơ sở hạtầng ở thời gian khác nhau, địa điểm khác nhau, thông qua các hình thứckhác nhau để cung cấp cho xã hội các loại hình dịch vụ khác nhau Cơ sở
hạ tầng cung cấp nước sạch cho đô thị, đồng thời gánh vác nhiệm vụthoát nước thải cho đô thị; Cơ sở hạ tầng mở rộng giao thông, đồng thờilại phải giảm thiểu tiếng ồn và ô nhiễm; Cơ sở hạ tầng tập trung cung cấpnhiệt, khí đốt cho đô thị, đồng thời lại cần làm cho đô thị xanh, sạch, đẹp,bảo vệ sinh thái bầu khí quyển…Giữa các hệ thống của cơ sở hạ tầng đôthị tồn tại mối quan hệ xã hội đa dạng trong đó giữa các bộ phận lại cóquy luật vận hành khác nhau, do vậy phải duy trì sự ăn khớp giữa các
Trang 8tải tại các đầu mối giao thông – nơi giao nhau giữa đường sắt, đường bộ,đường thủy, đường hàng không
Tính tổng hợp của phục vụ
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị là một hệ thống không phục vụ riêng chomột đơn vị xã hội cụ thể và đặc biệt, mà cung cấp điều kiện phục vụchung cho sản xuất và xã hội hóa của toàn bộ đô thị Cơ sở hạ tầng kỹthuật đô thị sử dụng sản phẩm phục vụ đồng nhất, kết hợp chặt chẽ nó vớihàng vạn đối tượng phục vụ mà khi đứng trước cơ sở hạ tầng kỹ thuật thìmọi sự khác biệt giữa chúng sẽ biến mất Phục vụ mà kết cấu hạ tầng đôthị cung cấp có một đặc điểm rõ ràng là: đối tượng phục vụ vừa có ngườitiêu dùng sản xuất, vừa có người tiêu dùng sinh hoạt Đặc tính phục vụchung cho sản xuất vật chất và sinh hoạt xã hội của đô thị thể hiện tínhtổng hợp của phục vụ do kết cấu hạ tầng đô thị thực hiện Ví dụ như cấpnước đô thị bao gồm nước dùng cho công nghiệp, nước dùng cho sinhhoạt, nước dùng cho phòng cháy chữa cháy; cung cấp điện đô thị baogồm điện công nghiệp, điện dân dụng, điện thị chính…
Tính gián tiếp của hiệu quả
Nhìn chung, cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị phần lớn là hề thống mangtính lâu dài, chúng có đầu tư lớn, hạng mục nhiều, chu kỳ xây dựng dài
và đi trước, thu hồi khấu hao chậm chạp, hơn nữa còn không ngừng bỏthêm chi phí bảo dưỡng duy tu Hiệu quả kinh tế của cơ sở hạ tầng kỹthuật đô thị được biểu hiện một cách gián tiếp thông qua việc nâng caohiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường cho đối tượngphục vụ
Có nhiều chủ thể quản lý và mang nặng tính đặc thù
Mang tính xã hội rất cao, được kế thừa từ thế hệ này sang thế
hệ khác
Các công trình mang tính vĩ mô hơn là vi mô, liên quan đến nhiều Quận, Thành phố
Trang 92.4 Vai trò của cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị.
Cung cấp các dịch vụ thiết yếu
Hỗ trợ cho sự phát triển của kinh tế vì cơ sở hạ tầng kỹ thuật pháttriển thì sẽ thu hút được các nguồn vốn (FDI, ODA) Do đó, sẽ làmđầu tư sẽ tăng, dẫn tới tổng cầu tăng, và như vậy tổng sản lượngtăng
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phát triển làm giảm chi phí (chi phí đi lại,bảo dưỡng, sửa chữa…), do đó lợi nhuận tăng
Là cơ sở nền tảng bảo đảm cho sự phát triển bền vững của mộtquốc gia nói chung và của hệ thống đô thị nói riêng
Là nhân tố quan trọng giúp xóa đói giảm nghèo
Là tiền đề cho việc thực hiện văn minh đô thị
Góp phần nâng cao dân trí
Tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại giữa nước ta với các nướctrên thế giới
3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị.
3.1 Các yếu tố về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên.
3.1.1 Vị trí địa lý.
Đô thị là hệ thống lớn mang tính mở cửa, nó chỉ có trao đổi nănglượng với bên ngoài mới duy trì được sự sống còn và phát triển của bảnthân Do đó vị trí đia lý của đô thị có vai trò rất quan trọng Đặc biệt là vịtrí địa lý của giao thông và vị trí địa lý kinh tế Giao thông trở thànhphương tiện và môi giới cơ bản để đô thị trao đổi năng lượng với bênngoài Dựa vào giao thông sẽ giải quyết được việc cung cấp bổ sung nănglượng cần thiết cho đô thị, hội tụ được tài nguyên trong khu vực đô thị vàphát huy, khuyếch tấn công năng của đô thị ra bên ngoài Như vậy, nhờ
Trang 10CSHTKTĐT ngày càng phát triển Chẳng hạn như đô thị Hải Phòng, ĐàNẵng, TP Hồ Chí Minh của Việt Nam hoặc Thiên Tân, Thượng Hải,Quảng Châu của Trung Quốc đều nằm ở của sông chảy ra biển, ở vị trígiao thông đường bộ, đường sông, đường biển, đường sắt Rất thuận lợicho việc phát triển CSHTKTĐT của đô thị Hơn nữa, vị trí địa lý kinh tếcũng có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển của đô thị nói chung và củaCSHTKTĐT nói riêng Một vùng kinh tế với các thành phố lớn và nhỏ sẽgóp phần hỗ trợ nhau cùng phát triển Các đô thị vừa và nhỏ sẽ đóng vaitrò là các đô thị vệ tinh cho thành phố lớn Có tác dụng hỗ trợ cho sự hoạtđộng có hiệu quả của các thành phố lớn với các đơn vị kinh tế trongvùng Mối liên hệ giữa các thành phố lớn với các đơn vị kinh tế trongvùng trở thành điều kiện cần thiết để cho chúng được phát triển nhanhchóng với quy mô ngày càng rộng lớn theo hiệu ứng lan tỏa Cũng nhưvậy, vị trí địa lý kinh tế có lợi cho một đô thị sẽ rất nhanh dẫn đến sựhưng thịnh và phát triển của cơ sở hạ tầng kỹ thuật của đô thị đó.
3.1.2 Điều kiện tự nhiên.
b Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên.
Trong quá trình phát triển thì đất đai đóng vai trò cực kỳ quan trọng, lànhân tố vật chất không thể thiếu được Đất đai vừa là tư liệu sản xuất chủyếu, vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt Do đó, đất đai có tác động trực tiếpđến phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên các mặt như sau:
Đất đai có vai trò như chỗ dựa, địa điểm để xây dựng cơ sở hạ tầng.Đất đai mỗi vùng có cấu tạo thổ những khác nhau Vì vậy, đất đai có ảnhhưởng rất lớn đến xây dựng các công trình
Trang 11Đất đai ở mỗi nước đều thuộc một trong những hình thức sở hữu nhấtđịnh Ngay như nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân cũng được giaocho các tổ chức và cá nhân sử dụng trong những thời gian nhất định.Trong khi đó, việc xây dựng và quản lý các cơ sở hạ tầng thường có tínhchất công cộng Do đó, tình trạng đất đai theo các chế độ sở hữu khácnhau cũng ảnh hưởng đến huy động chúng cho xây dựng các cơ sở hạtầng kỹ thuật đô thị.
Tài nguyên đất đai có tác dụng ức chế đối với sự phát triển cơ sở hạ
tầng thông qua hai khía cạnh: Thứ nhất, đất đai dùng để mở rộng xây
dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị chịu sự hạn chế của núi cao, sông ngòi,
ao hồ xung quanh hoặc chịu sự hạn chế của tài nguyên phong cảnh, ruộnglúa cao sản, sân bay, di tích văn hóa lịch sử, các nhân tố này hoặc khôngthể khắc phục được hoặc phải bằng giá thành tương đối lớn mới có thể
khắc phục được Thứ hai, khi quy mô đô thị hóa quá lớn, việc sử dụng
đất đai vào các mục đích sẽ rất căng thẳng, từ đó hạn chế sự phát triển và
mở rộng của hạ tầng kỹ thuật đô thị
Tài nguyên nước, tài nguyên năng lượng, tài nguyên khoáng sản cũng
có vai trò rất quan trọng ảnh hưởng đến CSHTKTĐT Nó góp phần vàoviệc cung cấp đầu vào cho sự phát triển cơ sở hạ tầng
Khí hậu, thủy văn là một trong những nhân tố rất quan trọng tác độngđến CSHTKTĐT Các hiện tượng lũ lụt, tố lốc, mưa bão, động đất… cóảnh hưởng cực kì quan trọng tới sự tồn tại và phát triển của hạ tầng, nóphá vỡ và làm gián đoạn cả hệ thống CSHT
3.2 Vấn đề về dân số.
3.2.1 Khái niệm dân số đô thị.
Dân số theo quan điểm thống kê là số người sống trên một lãnh thổnhất định vào một thời điểm nhất định Dân số đô thị là bộ phận dân số
Trang 123.2.2 Đặc điểm dân số đô thị.
Dân số đô thị luôn luôn biến động do các yếu tố sinh, tử, đi, đến
Dân số tập trung với mật độ cao, quy mô dân số lớn và phát triểnmạnh
Chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có trình độ cao
Có tính chất xã hội phức tạp, có nhiều vấn đề xã hội có thể phát sinh
3.2.3 Ảnh hưởng của dân số đô thị đến sự phát triển của cơ sở hạ tầng
kỹ thuật.
Ảnh hưởng lớn nhất của sự gia tăng dân số chính là gây ra sự quá tảiđối với hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị từ hệ thống giao thông,điện nước, rác thải…
Hệ thống giao thông không đáp ứng đủ nhu cầu đi lại của ngườidân, do diện tích mặt đường quá nhỏ so với số lượng phương tiện
đi lại, dẫn đến mật độ phương tiện trên một đơn vị mặt đường quánhỏ
Hệ thống điện, cung cấp nước sạch cũng không đáp ứng đủ nhucầu sinh hoạt, sản xuất của người dân
Hệ thống thoát nước cũng quá tải do dân số đông thì lượng nướctiêu thụ cũng khá lớn, do đó lượng nước thải cũng rất lớn, trong khi
hệ thống thoát nước không đáp ứng đủ
Dân số cao làm lượng rác thải tăng lên, trong khi khả năng thu gom
và xử lý rác thải còn hạn chế cả về người và phương tiện, do đógây ra tình trạng quá tải
Tuy nhiên, dân số tăng nhanh cũng có đôi chút thuận lợi do lực lượnglao động tăng lên (gồm cả lao động trí óc và lao động chân tay) sẽ đápứng tốt cho công tác xây dựng và quản lý hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật
đô thị
Trang 133.3 Vấn đề tăng trưởng kinh tế.
3.3.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thu nhập của nền kinh tế (GDP, GNP,GDP/đầu người) trong khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)
Sự gia tăng thường được thể hiện ở quy mô và tốc độ Quy mô tăngtrưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sửdụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh haychậm giữa các thời kỳ Như vậy, bản chất của tăng trưởng kinh tế là phảnánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế, nhưng mục tiêu của đất nướckhông phải là tăng trưởng kinh tế mà là phát triển kinh tế
3.3.2 Khái niệm phát triển kinh tế.
Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nềnkinh tế Phát triển được xem như là quá trình biến đổi cả về chất vàlượng, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của haivấn đề về kinh tế và xã hội ở một quốc gia Nội dung của phát triển kinh
tế được khái quát qua 3 tiêu thức sau:
Một là, sự gia tăng tổng thu nhập của nền kinh tế, mức gia tăng bình quân
trên một đầu người Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượngcủa nền kinh tế, là điều kiện để nâng cao mức sống của một quốc gia vàthực hiện các mục tiêu khác của phát triển
Hai là, sự biến đổi theo đúng xu hướng của cơ cấu kinh tế Đây là tiêu
thức phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế của một quốc gia Đểphân biệt các giai đoạn phát triển của nền kinh tế hay so sánh trình độphát triển kinh tế các nước với nhau, người ta thường dựa vào dấu hiệu vềdang cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đạt được
Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội Mục tiêu
cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải là tăngtrưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là việc xóa bỏ nghèo đói, suy
Trang 14dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trí gáo dục của quảng đại quầnchúng nhân dân
Như vậy, tăng trưởng kinh tế đô thị là quá trình tích tụ, tập trung vàlớn lên về quy mô kinh tế, xã hội đô thị Quá trình tăng trưởng và tậptrung diễn ra theo hai hướng chiều rộng và chiều sâu Theo chiều rộngchính là sự đô thị hóa tức là mở rộng quy mô hành chính và tăng dân số
đô thị Theo chiều sâu là sự tăng tổng số việc làm ở đô thị, thay đổi cơcấu kinh tế đô thị và nâng cao khả năng hiệu quả sản xuất Kết quả củaquá trình tăng trưởng kinh tế đô thị là nâng cao đời sống, thu nhập chongười dân, tăng GO, GDP, tăng tích lũy cho đô thị, thay đổi cơ cấu kinh
tế, nâng cao hiệu quả kinh tế đô thị, tăng tỷ trọng dân số đô thị trong tổng
số dân cả nước
3.3.3 Quy mô và tốc độ tăng trưởng của các ngành.
Chuyển dịch cơ cấu ngành là quá trình phát triển của các ngành kinh
tế dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổi quan
hệ tương quan giữa chúng so với một thời điểm trước đấy Tăng trưởng
về quy mô với nhịp độ khác nhau của các ngành dẫn đến thay đổi cơ cấu.Trong trường hợp này sự điều chỉnh cơ cấu ngành là kết quả của sự pháttriển không đồng đều của các ngành sau mỗi giai đoạn
Chỉ tiêu xác định tốc độ biến đổi tương quan giữa các ngành kinh tếthường dùng là nhịp độ tăng trưởng ngành:
Thay đổi trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành Sự thayđổi này trước hết biểu thị bằng số ngành có liên quan Mức độ tác độngqua lại của ngành này với các ngành khác qua quy mô đầu vào mà nócung cấp cho các ngành hay nhận từ các ngành đó
Sự tăng trưởng của các ngành dẫn đến sự thay đổi cơ cấu ngành trongmỗi nền kinh tế Cho nên, chuyển dich cơ cấu ngành xảy ra như là kếtquả của quá trình phát triển Đó là quy luật tất yếu từ xưa đến nay tronghầu hết mọi nền kinh tế Vấn đề đáng quan tâm là ở chỗ : sự chuyển dich
Trang 15cơ cấu ngành diễn ra theo xu hướng nào, tốc độ nhanh chậm ra sao, cónhững quy luật gì?
3.3.4 Nguồn vốn đầu tư cho CSHTKT.
Vốn là điều kiện cần của mọi quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đặcbiệt là đầu tư phát triển CSHTKTĐT Trong nền kinh tế thị trường, vốn làmột loại hàng hóa đặc biệt, nó có điểm khác các loại hàng hóa khác là nó
có chủ sở hữu nhất định
Vốn sản xuất là giá trị của những tài sản được sử dụng làm phươngtiện phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất và dịch vụ, bao gồm vốn cốđịnh và vốn lưu động Ở giác độ vĩ mô, vốn sản xuất luôn luôn được biểuhiện dưới dạng hiện vật, phản ánh năng lực sản xuất của một nền kinh tế Vốn đầu tư cho sản xuất là toàn bộ các khoản chi phí nhằm duy trìhoặc gia tăng mức vốn sản xuất, được chia thành vốn đầu tư cơ bản vàvốn đầu tư sửa chữa lớn Vốn đầu tư cơ bản làm tăng khối lượng thực tếcủa tài sản cố định bảo đảm bù đắp số lượng tài sản cố định bị hao mòn
và tăng thêm phần xây lắp dở dang Vốn sửa chữa lớn không làm tăngkhối lượng thực tế của tài sản, do đó không có trong thành phần của vốnđầu tư cơ bản
Các nguồn vốn gồm có: Nguồn vốn ở trong nước do sự tiết kiệm củaChính phủ, doanh nghiệp, dân cư; Nguồn vốn từ nước ngoài do các tổchức, cá nhân, chính phủ nước ngoài cho vay hoặc viện trợ không hoànlại (ODA, FDI)
3.4 Các cơ chế quản lý, tổ chức.
3.4.1 Khái niệm quản lý đô thị.
Quản lý đô thị là quá trình tác động tổng hợp bằng các cơ chế chínhsách của các chủ thể quản lý đô thị (các cấp chính quyền, các tổ chức xãhội, các sở, ban, ngành chức năng) vào các đối tượng quản lý trên địa bàn
Trang 16đô thị nhằm duy trì hoạt động hay định hướng cho sự phát triển của cácđối tượng đó.
3.4.2 Khái niệm bộ máy quản lý đô thị.
Bộ máy quản lý nhà nước về đô thị là một bộ phận của bộ máy quản lýnhà nước bao gồm Ủy ban nhân dân của thành phố, quận, phường, thị xã,thị trấn và các cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ quản lý trên tất cảcác lĩnh vực ở đô thị
3.4.3 Nguyên tắc quản lý và phát triển cơ sở hạ tầng đô thị.
Tập trung dân chủ và phân cấp quản lý
CSHTĐT là hàng hóa cộng cộng có tầm quan trọng về kinh tế - xãhội, khó thu được tiền hoặc lợi nhuận thấp, thời gian hoàn vốn dài nên cónhiều rủi ro nên thường do Nhà nước đảm nhiệm Nhà nước giữ vai tròchủ đạo và điều chỉnh để đảm bảo cung cấp các dịch vụ CSHTKT, đảmbảo nhu cầu cuộc sống cả nhân dân, tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất
và làm dịch vụ của các doanh nghiệp, đảm bảo cho dịch vụ đó có đượcmột cách kịp thời, đủ số lượng và chất lượng cần thiết với giá cả thíchhợp Đây là vai trò của Nhà nước tác động trực tiếp vào khâu quản lý đểđiều tiết nền kinh tế trong sự phát triển bền vững
Tuy nhiên, chính phủ cũng có khả năng hạn chế trong quản lý vànguồn tài chính phát triển CSHTKTĐT Do đó, chính phủ cũng tạo điềukiện và mở rộng chức trách cho khu vực kinh tế tư nhân và cộng đồngtham gia thực hiện các quyền dân chủ quản lý, thực hiện nghĩa vụ đónggóp và thu hút mọi nguồn vốn, tăng thêm hiệu quả quản lý và phát triểnCSHTKTĐT của quốc gia
Phân cấp quản lý là sự phân định và xếp hạng các đô thị theo quy mô ,
vị trí hay tầm quan trọng của từng đô thị trong phát triển kinh tế xã hộicủa đất nước, của vùng hay địa phương để từ đó xác định các chính sáchquản lý, đầu tư thích hợp Ở nước ta, đô thị được phân cấp quản lý nhưsau:
Trang 17Đô thị loại 1 và loại 2 chủ yếu do Trung ương quản lý.
Đô thị loại 3 và loại 4 chủ yếu do tỉnh quản lý
Đô thị loại 5 chủ yếu do huyện quản lý
Tiết kiệm và hiệu quả
Sự hình thành và phát triển, quy mô và định hướng phát triển của các
đô thị nói chung phụ thuộc vào quy hoạch tổng thể không gian đô thị.Quy hoạch tổng thể không gian đô thị chỉ được thực hiện có hiệu quả khiCSHTKTĐT được xây dựng đồng bộ và đi trước một bước Nguyên tắcnày xuất phát từ thực tiễn sự tăng trưởng kinh tế phát sinh nhu cầuCSHTKTĐT với một quy mô lớn, nhất là trong xu thế bùng nổ đô thị hóatoàn cầu với một tốc độ choáng ngợp Thực tiễn này, đã gây ra hệ quảphát sinh ngày càng gay gắt, trực tiếp có ảnh hưởng về lâu dài là toàn bộ
hệ thống giao thông trong và xuyên các trung tâm kinh tế đô thị hóa, hệthống điện gia dụng và công nghiệp, nước sạch cho các hộ gia đình vàsản xuất, hệ thống thu gom và xử lý chất thải rắn và lỏng đều bị sử dụngquá tải nhưng không được đầu tư nâng cấp và mở rộng thỏa đáng khả dĩđáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội
Ngân hàng Thế giới (WB) đã khuyến nghị với Chính phủ các nướcđang phát triển rằng: Hạ tầng thích hợp sẽ giúp xác định quốc gia nàythành công hay thất bại qua việc đa dạng hóa sản xuất, mở rộng thươngmại, giải quyết vấn đề tăng trưởng dân số, giảm thiểu nghèo đói, cải thiệnmôi trường Hạ tầng tốt làm tăng năng suất, giảm chi phí sản xuất, nhưng
nó cần theo kịp sự với sự tăng trưởng…
Kết cấu hạ tầng đô thị không chỉ phụ thuộc vào trình độ quy mô pháttriển sản xuất, dịch vụ, mật độ dân cư, mà còn phụ thuộc vào các phươngtiện đi lại, các thiết bị sinh hoạt của dân cư Đây là nguyên tắc hệ thống
để làm sao các đặc trưng và mục tiêu của hệ thống CSHTKTĐT đượcthực hiện một cách tốt đẹp
Trang 18 Môi trường pháp lý tạo những điều kiện huy động các nguồn lựccho việc đầu tư CSHTKT, kể cả nguồn vốn ngân sách, nguồn vốncủa tổ chức, của cá nhân.
3.5 Công tác quy hoạch đô thị.
3.5.1 Khái niệm.
Quy hoạch không gian đô thị là nghiên cứu có hệ thống những phươngpháp để bố trí hợp lý các thành phần của đô thị, phù hợp với những nhucầu của con người và điều kiện tự nhiên, đồng thời đề ra những giải pháp
kỹ thuật để thực hiện các phương pháp bố trí đó
Quy hoạch đô thị là việc tạo ra viễn cảnh tốt đẹp hơn cho đô thị bằngcách đưa ra các quyết định tương lai về quy mô, hình thể và chức năngcủa đô thị và phương thức để thực hiện mong muốn đó
Quy hoạch xây dựng đô thị là sự tổ chức sắp xếp không gian đô thịsao cho sử dụng hợp lí các nguồn lực (không gian, kết cấu hạ tầng và tàinguyên thiên nhiên), đảm bảo sự phát triển bền vững (về kinh tế, xã hội
và môi trường) của đô thị Quy hoach xây dựng đô thị được thực hiệnthông qua các yêu cầu, quy định của nhà nước đối với các hoạt độngkhác của mọi chủ thể có liên quan đến việc sử dụng không gian, kết cấu
hạ tầng đô thị và tài nguyên khác (đất đai, khoáng sản, nguồn nước, dulịch văn hóa…) đã được xác định Quy hoạch xây dựng đô thị được thểhiện dưới dạng các bản vẽ, các quy chế và thường được xây dựng, banhành để áp dụng trong một giai đoạn nhất định
Trang 193.5.2 Các đặc điểm cơ bản.
Quy hoạch đô thị là công tác có tính chính sách
Quy hoạch đô thị là công tác có tính tổng hợp
Quy hoạch đô thị mang tính địa phương và kế thừa của nhiều yếutố
Quy hoạch đô thị là công tác có tính dự báo cho sự phát triển trongtương lai
3.5.3 Mục tiêu và nhiệm vụ cơ bản của công tác quy hoạch xây dựng
đô thị.
Tổ chức sản xuất
Quy hoạch đô thị phải đảm bảo phân bố hợp lý các khu vực sản xuấttrong đô thị, trước tiên là khu vực sản xuất công nghiệp tập trung, các xínghiệp công nghiệp vừa và nhỏ, các cơ sở thủ công nghiệp và các loạihình sản xuất đặc trưng khác Quy hoạch đô thị cần giải quyết tôt các mốiquan hệ giữa hoạt động sản xuất của các khu công nghiệp với bên ngoài
và với các khu chức năng khác trong đô thị Đó là mối liên hệ trực tiếpvới các khu ở của dân cư nhằm bảo đảm sự hoạt động bình thường và nhucầu phát triển không ngừng của các cơ sở sản xuất với việc làm của ngườidân đô thị
Tổ chức đời sống
Quy hoạch đô thị có nhiệm vụ tạo điều kiện tổ chức tốt cuộc sống vàmội hoạt động hàng ngày của người dân đô thị, tạo cơ cấu hợp lý trongviệc phân bố dân cư và sử dụng đất đai đô thị, tổ chức việc xây dựng cáckhu ở, khu trung tâm và dịch vụ công cộng, khu nghỉ ngơi, giải trí, cũngnhư việc đi lại giao tiếp của người dân đô thị Ngoài ra, còn tạo môitrường sống trong sạch, an toàn, tạo điều kiện hiện đại hóa cuộc sống củangười dân đô thị, phục vụ con người phát triển một cách toàn diện
Trang 20 Tổ chức không gian kiến trúc, cảnh quan và môi trường đô thị
Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng của quy hoạch nhằm cụ thể hóacông tác xây dựng đô thị, tạo cho đô thị một đặc trưng và hình thái kiếntrúc đẹp, hài hòa với thiên nhiên, môi trường và cảnh quan Quy hoạch đôthị cần xác định được phương hướng bố cục không gian kiến trúc, xácđịnh vị trí và hình khối kiến trúc các công trình chủ đạo, xác định tầngcao, màu sắc và một số chỉ tiêu cơ bản trong quy hoạch, nhằm cân đốiviệc sử dụng đất đai phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện địaphương, phong tục tập quán và truyền thống dân tộc của đô thị
3.5.4 Nguyên tắc cơ bản.
Thực hiện nhiệm vụ chính trị và đường lối xây dựng của Đảng,Nhà nước, Chính phủ đề ra
Kết hợp chặt chẽ giữa QHĐT và QHNT, giữa các vùng với nhau
QHĐT phải dựa vào thành tựu khoa học kĩ thuật, kinh tế hiện tại vàtương lai
QHĐT cải tạo, phục hồi, nâng cấp các đô thị cũ là công tác quantrọng
QHĐT tuân thủ chỉ tiêu, định mức, quy trình kĩ thuật của Nhà nướcban hành cho từng giai đoạn phát triển
Khai thác triệt để các điều kiện tự nhiên, cảnh quan thiên nhiên,chú ý bảo vệ môi trường sống
Trang 21loại ở một thời điểm khác Điều này được minh định đanh thép bằng toàn
bộ lịch sử nhân loại mà chúng ta đã và đang trải qua
Dân tộc Việt Nam đã được hình thành và bước đầu phát triển trênvùng châu thổ sông Hồng và sông Mã phía Bắc của Việt Nam ngày nay.Con người từ các vùng đồi núi xuống vùng đồng bằng, từ đời này sangđời khác đã khai hoá đất để trồng trọt Họ đã tạo ra một hệ thống đê điều
để chế ngự dòng sông Hồng gây nhiều lũ lụt hàng năm Quá trình laođộng không ngừng để chế ngự nước - chống lũ, lụt, bão, hạn hán, xâydựng đê điều, đào kênh phục vụ cho việc trồng lúa, xây dựng đường xáphục vụ cho việc đi lại Tạo lên hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụcho nền văn minh lúa nước thời bấy giờ
Dưới các triều đại phong kiến, dân tộc ta đã trải qua biết bao nhiêucuộc chiến tranh với các thế lực phản động trong và ngoài nước, đặc biệt
là bọn phản động ở phương Bắc đã phá hoại rất nhiều các công trình như:đền chùa, miếu mạo, cung đình, đường xá, thành quách gây ra rất nhiềukhó khăn cho dân tộc ta Vào giữa thế kỷ 19 (1858), thực dân Pháp bắtđầu cuộc xâm chiếm Việt Nam Triều đình nhà Nguyễn bất lực đã dầndần nhân nhượng quân xâm lược và từ năm 1884 Pháp thiết lập chế độbảo hộ và thuộc địa trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Ngay từ những ngàyđầu, các phong trào kháng chiến quần chúng dưới sự lãnh đạo của các sĩphu yêu nước nổ ra ở khắp mọi nơi, nhưng cuối cùng đều thất bại Tiếpđến là sự xâm chiếm của đế quốc Mĩ (1954 – 1975) với hàng loạt nhữngcuộc chiến tranh lớn nhỏ nhằm phá hoại đất nước ta
Sau nhiều năm chiến tranh kéo dài, đất nước bị tàn phá nặng nề vềnhiều mặt, đặc biệt là con người và cơ sở hạ tầng Từ năm 1975 đến
1986, Việt Nam phải đối phó với vô vàn khó khăn trong việc khắc phụcnhững hậu quả của chiến tranh, nhất là cơ sở hạ tầng
Trang 223.6.2 Yếu tố chính trị.
Trên thế giới có rất nhiều mô hình hệ thống chính trị và thể chế nhànước Chúng ta không thể khẳng định mô hình nào là ưu việt nhất mà vấn
đề là ở chỗ, mô hình nào phù hợp, thích ứng đối với mỗi quốc gia Thực
tế đã minh chứng rất rõ ràng: Sự ổn định, phát triển và năng lực củachúng ta đang được rất nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đánh giá cao vàcoi là hình mẫu có thể tham khảo Một hệ thống chính trị mạnh là một hệthống chính trị đặt mục tiêu và phương thức thực thi quyền lực nhà nước,quyền lực chính trị phù hợp với lợi ích của nhân dân Lợi ích của nhândân liên quan đến nhiều giai cấp, tầng lớp nên có thể có nhiều khác biệt.Một hệ thống chính trị vận hành tốt thì khi đã đưa ra những quyết sách,thường đảm bảo ích chung, phản ánh được điểm tương đồng chung, tạo rađược sự đồng thuận xã hội Đồng thuận xã hội là cơ sở để đoàn kết toàndân tộc Mọi tầng lớp, mọi giai cấp đều cố gắng để thực hiện mục tiêu,chủ trương, chính sách, pháp luật do hệ thống chính trị đề ra - Người tagọi đây là “sản phẩm đầu ra” của hệ thống chính trị
Trong xã hội có giai cấp, hệ thống chính trị có vai trò rất quan trọng,
là hệ thống phân bổ các giá trị xã hội, tổng hợp các phương thức thực thiquyền lực chính trị và quyền lực nhà nước Trong hệ thống chính trị, nhànước đóng vai trò trung tâm Mọi hoạt động chính trị của tổ chức, củacông dân đều hướng tới để xây dựng một hệ thống chính trị sao cho quátrình phân bổ quyền lực của xã hội phải đảm bảo cân bằng các lợi ích,đảm bảo sự công bằng Hơn 20 năm đổi mới, chúng ta đã thu được rấtnhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử Đó là nhờ hệ thống chính trịvận hành tốt, đây cũng là yếu tố cơ bản để đảm bảo sự ổn định trong thờigian vừa qua
Để đảm bảo ổn định chính trị, không chỉ có tập hợp được nhân dân,đảm bảo được lợi ích của nhân dân, đảm bảo sự đồng thuận toàn xã hội
và đoàn kết toàn dân tộc mà còn phải đảm bảo được an ninh quốc gia, sự
Trang 23toàn vẹn chủ quyền và lãnh thổ của quốc gia Bất kì hệ thống chính trịnào muốn có ổn định để phát triển đều cũng phải đạt được điều đó Hệthống chính trị của bất kỳ một nước nào cũng có nhà nước, có Đảng cầmquyền, có các tổ chức nối nhà nước với công dân (gọi là các tổ chứcchính trị - xã hội) và các quan hệ, cơ chế nguyên tắc đảm bảo cho hệthống chính trị đó vận hành tốt Hệ thống chính trị của chúng ta đã huyđộng được sức mạnh của toàn xã hội, phát huy nội lực, tận dụng ngoạilực đã tạo ra thế và lực mới có đủ điều kiện để đảm bảo hòa bình, ổn địnhtrong nước, quan hệ tốt với các nước láng giềng và các nước trên thế giới.
Đó là điều kiện cơ bản để giữ được an ninh chính trị, an sinh công dân vàtoàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ quốc gia
Một hệ thống chính trị tốt phải thể hiện 4 tiêu chí cơ bản sau: Một là,vạch được mục tiêu đúng; Hai là, tổ chức thực hiện được các mục tiêu;
Ba là, đảm bảo được dân chủ; Bốn là, đảm bảo được ổn định chính trị
-xã hội, đất nước phát triển, tự thích nghi, tự hoàn thiện và đổi mới
Qua đây, chúng ta có thể tự đánh giá chính mình và so sánh được hệthống chính trị nước ta với hệ thống chính trị các nước trong khu vực vàtrên thế giới Chúng ta đã có đường lối đổi mới và các chính sách kinh tế
- xã hội đúng, hợp lòng dân, hợp với xu thế phát triển của thời đại, đượccộng đồng quốc tế thừa nhận và đánh giá cao; tổ chức hiện thực hoáchúng với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, liên tục; đời sống nhân dânđược cải thiện rõ rệt; đạt đựơc nhiều thành tựu và tiến bộ trong xây dựngnhà nước pháp quyền, dân chủ hoá xã hội, phát huy quyền dân chủ củanhân dân; chính trị ổn định… Khách quan mà nói chúng ta đang có một
xã hội công dân đang hình thành và phát triển tốt, làm cơ sở cho hệ thốngchính trị dân chủ và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Tính đặcbiệt, đặc sắc ở đây là Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hộilàm nòng cốt của xã hội công dân đó Chúng ta cũng tích cực khắc phục
Trang 24tham nhũng, đã và đang nghiên cứu, tiến hành nhiều đổi mới quan trọngnhằm làm cho hệ thống chính trị hoạt động tốt hơn, hiệu lực, hiệu quảhơn Trong lúc đó, nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển đangrơi vào các cuộc chiến tranh, nội chiến, xung đột, nợ nần, nạn khủng bố,khủng hoảng chính trị…Chúng ta đang ở thế thuận lợi Vấn đề là biết tậndụng những lợi thế này để phát triển nhanh và bền vững đất nước, tạo cácyếu tố thuận lợi hơn để tiếp tục chủ động đổi mới toàn diện đất nước,trong đó có đổi mới hệ thống chính trị Từ vị thế này, chúng ta rất có khảnăng, xứng đáng và rất đáng tích cực tham gia vào các quá trình quản lýtoàn cầu nói chung và khu vực nói riêng
Hệ thống chính trị chúng ta trước đây chủ yếu là một hệ thống phục vụcác mục tiêu chiến đấu (mang nặng tính bao cấp, chỉ huy), qua hơn 20năm đổi mới, về cơ bản đã tương thích được với đời sống chính trị củacộng đồng quốc tế Điều này không phải nước nào cũng làm được
Hệ thống chính trị nước ta cũng như tất cả các nước khác đều cónhững thách thức, vừa do những nguyên nhân nội tại vừa do nhữngnguyên nhân bên ngoài Đó là do những đặc điểm đặc thù của mình màmỗi nước vẫn có những “vấn đề” riêng chưa tương thích với những yêucầu chung, những chuẩn mực chung; mặt khác lại có những nước muốn
áp đặt cách nhìn nhận, lợi ích, chuẩn mực của riêng mình cho cộng đồngquốc tế
Yêu cầu tương thích của hệ thống chính trị của chúng ta với đời sốngchính trị thế giới cũng đang đặt ra một số vấn đề Mô hình nhà nước củachúng ta là nhà nước pháp quyền nhưng tàn dư của mô hình tập trungquan liêu bao cấp còn khá nặng nề Việc đảm bảo và và thực hiện đầy đủcác quyền dân chủ của người dân, tình trạng quan liêu tham nhũng đang
là những vấn đề cấp bách cần được giải quyết Chúng ta cũng đang tìmtòi để đổi mới hệ thống và hoàn thiện hệ thống chính trị Thời gian quachúng ta đã đảm bảo được sự ổn định Điều đó nói lên sự thích hợp, hiệu
Trang 25lực, hiệu quả của hệ thống chính trị Bên cạnh đó, chúng ta đang nghiêncứu, tìm hướng khắc phục khuyết điểm của hệ thống chính trị và tìm cáchđổi mới
Thành công của Việt Nam, đặc biệt là vị thế mới của Việt Nam phụthuộc rất nhiều vào tính ổn định chính trị - xã hội, đường lối, chính sáchđối nội, đối ngoại cởi mở thân thiện Những yếu tố đó đã tạo ra sự thânthiện, cởi mở, hoà nhập của dân cư trong các sinh hoạt trong nước, cũngnhư ở nước ngoài Những thành công của Việt Nam không chỉ biểu hiệntính cách dân tộc, bản sắc văn hoá, hoặc khả năng động viên của chínhquyền mà chủ yếu là biểu hiện chất lượng các chính sách đối nội, đốingoại Các chính sách đó đã tạo được sự đồng thuận và đoàn kết xã hội,góp phần tạo ra hình ảnh Việt Nam ngày nay: Một Việt Nam hoà bình,tươi đẹp, cởi mở, thân thiện, năng động, đồng thuận, dân chủ, công bằng,phát triển mạnh mẽ và quyết tâm vươn lên không gì ngăn cản nổi
3.6.3 Yếu tố xã hội.
Ý thức con người.
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con
ngư-ời, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Tuy nhiên, không phải
cứ thế giới khách quan tác động vào bộ óc người là tự nhiên trở thành ý
thức Ngược lại, ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới, do
nhu cầu của việc con người cải biến giới tự nhiên quyết định và đượcthực hiện thông qua hoạt động lao động Vì vậy, ý thức là cái vật chấtđược đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trongđó” Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú Trên cơ sởnhững cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởngtượng ra những cái không có trong thực tế Ý thức có thể tiên đoán, dựbáo về tương lai, có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại, những giảthuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng và có tính khái quát cao
Trang 26Ý thức là một hiện tượng tâm lý - xã hội có kết cấu rất phức tạp baogồm nhiều thành tố khác nhau có quan hệ với nhau Có thể chia cấu trúccủa ý thức theo hai chiều:
Theo chiều ngang: Bao gồm các yếu tố như tri thức, tình cảm, niềmtin, lý trí, ý chí , trong đó tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi
Theo chiều dọc: Bao gồm các yếu tố như tự ý thức, tiềm thức, vôthức
Ý thức của con người là cái tồn cài sẵn trong con người, là cái cótrước, còn các sự vật bên ngoài chỉ là phức hợp các cảm giác, chỉ là cáiphụ thuộc vào ý thức chủ thể, coi sự vật là sự phức hợp các cảm giác, thìkhông có nghĩa chủ nghĩa duy tâm chủ quan phủ nhận sự tồn tại do nguồngốc này hay nguồn gốc khác, dưới hình thức này hay hình thức khác của
sự vật, mà ở đây chủ nghĩa duy tâm chủ quan đã tuyệt đối hoá vai trò củacảm giác, của ý thức ở góc độ nhận thức luận
Trình độ dân trí
Người dân được chuẩn bị ở một trình độ văn hóa nhất định và đượcđào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, sẵn sàng được đào tạo về chuyên mônnghiệp vụ, sẵn sàng được huy động vào quá trình sản xuất kinh tế - xãhội, trước hết vào xây dựng các CSHT và khai thác các cơ sở đó sau khixây dựng Bởi vì, xây dựng các cơ sở hạ tầng một mặt đòi hỏi các laođộng thủ công, mặt khác đòi hỏi những lao động có trình độ kỹ thuật cao
để vận hành các máy móc, thiết bị và tổ chức quản lý Đô thị là nơi cótrình độ dân trí cao nhất trong cả nước, đó là một trong những lợi thế vôcùng to lớn của đô thị
II – Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng
kỹ thuật đô thị Thành phố Hà Nội
Trang 271 Thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị Hà Nội hiện nay.
1.1 Giao thông đô thị.
Hệ thống giao thông đường bộ
Trong những năm qua, hạ tầng cơ sở của Thủ đô Hà Nội đã được đầu
tư phát triển và đạt được một số kết quả góp phần tích cực trong việc đápứng các nhu cầu phát triển của nền kinh tế và phục vụ nhu cầu của ngườidân Nhiều công trình hạ tầng quan trọng đã được hoàn thành như cải tạonâng cấp các tuyến đường quốc lộ hướng tâm, quốc lộ 32 (đoạn Cầu Giấy
- Cầu Diễn), tuyến đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ; đường vành đai 3(đoạn Mai Dịch - Trung Hoà), tuyến đường Lê Văn Lương, đường VănCao, Nhiều công trình giao thông quan trọng đang được đầu tư xâydựng như cầu Thanh Trì, cầu Vĩnh Tuy, đường Láng - Hoà Lạc, tuyếnđường 5 kéo dài, tuyến đường La Thành - Thái Hà - Láng; Hạ tầng kỹthuật của nhiều khu đô thị mới được đầu tư: Linh Đàm, Đại Kim - ĐịnhCông, Đông Nam Trần Duy Hưng, Khu thể thao Mỹ Đình, Hệ thốngvận tải hành khách công công bằng xe buýt bước đầu đã phát triển vàtừng bước đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân Tuy nhiên, hệ thống hạtầng cơ sở của Thành phố vẫn được đánh giá là còn yếu kém và còn nhiềubất cập chưa theo kịp nhu cầu của nền kinh tế và chưa tương xứng vớitầm vóc và vị thế của Thủ đô
Trước hết là do dân số tăng nhanh, lại tập trung thành từng cụm đôngđúc, trong khi mật độ đường so với số dân và mật độ đường so với diệntích đất sử dụng còn quá thấp Thành phố mới dành 6,1% quỹ đất chogiao thông, mặt đường của TP quá hẹp (80% có mặt cắt dưới 11m),khoảng cách trung bình giữa các nút giao thông từ 380m - 400m (quágần), trong đó lại có tới 580 nút đồng mức; vỉa hè thì chật hẹp, đặc biệt cótới 35 điểm giao cắt với đường sắt Tại các quận Đống Đa, Hai Bà Trưng
Trang 28thiếu đường ngang, đường qua khu vực dân cư, nhất là đường đông - tây
TP Ta có thể thấy được thông qua biểu đồ sau:
Hình 1 - So sánh mật độ đường của Hà Nội với một số
thủ đô ở Châu Á năm 2005 (%)
Tiếp đến là diện tích đất cho bãi đỗ xe chỉ đạt 1,2% diện tích đất (quyhoạch là 5-6% tổng quỹ đất) Còn phương tiện cá nhân tăng với tốc độchóng mặt Hiện tại Hà Nội có 172.444 ôtô các loại, 1.678.504 xe máy,hàng triệu xe đạp Ngoài ra, trong quá trình xây dựng các công trình giaothông vẫn phải đáp ứng nhu cầu đi lại, sinh hoạt của người dân nênthường gây ùn tắc Trong 10 năm gần đây mới chỉ làm thêm 60kmđường, trong đó 25km đường nội thành Thành phố có trên 580 nút giaothông, nhưng mới có trên 100 nút được lắp đèn tín hiệu Số lượng xegắn máy mỗi năm tăng 12-20%, nhiều người không có giấy phép lái xe,hoặc có giấy phép nhưng không nắm vững luật giao thông, có khi vậnhành xe chưa thành thạo vẫn tham gia giao thông
Hệ thống giao thông đường sắt
Hà Nội là đầu mối giao thông đường sắt của các tuyến đường sắt điHải Phòng, Thái Nguyên, Đồng Đăng, Lào Cai và tuyến Thống Nhất, vớichiều dài 159,5 km, có một ga trung tâm là Ga Hà Nội và 21 ga lẻ ở các
Trang 29huyện ngoại thành Có 60 đường ngang có gác chắn và 77 đường ngang
có thiết bị cảnh báo (đèn, chuông) tự động, biển báo hiệu; 569 đườngngang dân sinh do dân tự mở Gần đây, nhu cầu đi lại, vận chuyển hànghoá bằng phương tiện đường sắt của người dân cao, tại Hà Nội có 30 đôitàu khách đi về Hà Nội và 14 đôi tàu đi, về các ga hàng hoá Yên Viên,Giáp Bát Lượng khách trung bình từ 5.000 đến 7.000 lượt khách/ngày,đặc biệt vào các ngày lễ lượng khách tăng đột biến, có thời điểm lên tới
12 đến 15 nghìn người/ ngày
Hiện nay, tình trạng đường dân sinh cắt qua đường sắt không nhữngkhông giảm mà còn có chiều hướng gia tăng Dọc theo tất cả các tuyếnđường sắt từ các tỉnh vào ga Hà Nội đều xuất hiện các vi phạm đến trật tự
an toàn giao thông đường sắt Theo thống kê, địa bàn Hà Nội có tới 133điểm giao cắt đường sắt với đường bộ, trong đó 46 điểm có gác chắn, 39điểm lắp đặt cảnh báo tự động, 48 điểm có biển báo và trên 500 đườngdân sinh chằng chịt cắt qua đường sắt Tình trạng đường ngang dân sinh
mở trái phép qua đường sắt được lát bằng những tấm bê tông, sắt, gỗ khá phổ biến Chính vì vậy có tới 90% các vụ tai nạn đường sắt đều xảy
ra ở đây Điển hình là ở khu vực thuộc phường Trung Phụng, phườngPhương Liệt và đoạn đường chạy dọc phố Phùng Hưng Tại xã ThạchBàn hiện có gần 20 ngôi nhà, lều quán lấn chiếm hành lang an toàn giaothông đường sắt Xã Dương Xá có một bãi đỗ xe vi phạm Phường KhâmThiên có 106 nhà và 12m tường rào lấn chiếm hành lang ATGTĐS;Phường Trung Phụng có 105 nhà; phường Phương Mai có 12 nhà, 3 lều
và 528 m tường rào vi phạm Phường Phương Liệt có 95 nhà Điển hình
là ở đoạn đường sắt chạy qua Khâm Thiên, đường Lê Duẩn dân bày bántràn lan các đồ gỗ, sành sứ xâm phạm nghiêm trọng đến ATGTĐS.Trên tuyến đường sắt từ ga Hà Nội đến Ngọc Hồi có 66 đường ngangdân sinh được lát bằng các tấm bê tông hoặc kê gỗ bắc ngang qua đường
Trang 30ray Tuyến đường sắt Hà Nội- Lạng Sơn có 10 đường ngang trái phép;tuyến Hà Nội - Hải Phòng có tới 314 đường ngang
Với tình trạng mất ATGT ĐS như trên, lâu nay TP Hà Nội cũng nhưTổng công ty ĐSVN vẫn gần như bất lực, chưa có biện pháp gì nhằm cảithiện, giảm thiểu tai nạn giao thông đường sắt Bởi hiện nay hầu hết cácđường ngang giao với đường sắt vẫn là giao cắt đồng mức
Hệ thống giao thông đường thủy
Hiện nay, tình trạng phương tiện thuỷ chở quá tải trọng cho phép, tàuthuyền không có đăng ký, đăng kiểm và thiếu trang thiết bị an toàn, ngườiđiều khiển không có bằng lái hay chứng chỉ chuyên môn đang rất phổbiến trên những đoạn sông Hồng, sông Đuống thuộc quản lý của Hà Nội.Không những thế, hàng loạt bến bãi đang hoạt động trái phép một cáchcông khai Không giấy phép, cơ sở hạ tầng rách nát không đủ tiêu chuẩnnhưng những bến bãi này vẫn được tư nhân khai thác ngày đêm
Các bãi khai thác cát trái phép kéo theo những bến trung chuyển vàđịa điểm kinh doanh vật liệu xây dựng xuất hiện ngày một nhiều trênsông Hồng, sông Đuống khiến dòng chảy cũng như luồng lạch chạy tàu,
hệ thống đê điều và kết cấu hạ tầng giao thông đường thuỷ nội địa thayđổi đáng kể, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn chạy tàu và gây mấttrật tự xã hội Một số chủ bến bãi thậm chí còn sử dụng cả hành lang bảo
vệ công trình đường thuỷ để mở các bến thuỷ nội địa, bến bốc xếp kinhdoanh vật liệu xây dựng
Không những thế, trên sông Hồng còn tồn tại một số bến trái phép dànhriêng cho các phương tiện chở rau xanh, hoa quả và đồ sành sứ để phục
vụ nhu cầu của người dân Các lực lượng chức năng đã xử phạt rất nhiềulần nhưng không giải toả được dứt điểm những bến bãi trái phép này.Việc có thêm bến bãi ở những địa điểm hợp lý rất cần thiết trong thờiđiểm hiện nay Ngoài việc phải xử lý nghiêm những phương tiện thuỷ haybến bãi trái phép, thành phố nên có nghiên cứu để tìm được những địa
Trang 31điểm hợp lý thành lập bến bãi để phục vụ những nhu cầu nảy sinh trongquá trình phát triển của cuộc sống như bến dành cho phương tiện bán rauxanh, hoa quả, đồ sành sứ
Nếu được quy hoạch hợp lý, những địa điểm buôn bán này không chỉphục vụ được nhân dân Thủ đô mà còn trở thành những điểm du lịch hấpdẫn trên tuyến sông Hồng
Chỉ riêng một nhánh của sông Hồng dài khoảng 20km chảy qua quậnLong Biên, Gia Lâm, Đông Anh đã có rất nhiều vi phạm ATGT đườngthuỷ với những bến khách ngang sông hoạt động không có giấy phép,không đảm bảo an toàn; người điều khiển không có bằng lái và chứng chỉchuyên môn, đặc biệt khu vực phường Tứ Liên, Phú Thượng, Xuân Canh,Bắc Cầu Tại các xã Xuân Canh, Tàm Xá, Động Hội, Mai Lâm, Dương
Xá, Phù Đổng, Đặng Xá, Văn Đức, Thượng Thanh, Ngọc Thuỵ, LiênMạc rất nhiều phương tiện khai thác cát thường xuyên hoạt động trên 2tuyến sông làm cản trở giao thông và gây mất trật tự ATGT đường thuỷnội địa
Những phương tiện mà người lái không có bằng và chứng chỉ chuyênmôn sẽ bị đình chỉ hoạt động ngay lập tức Lực lượng liên ngành cũng sẽgiải toả nhanh những tụ điểm neo đậu trái phép có nguy cơ gây hư hại kếtcấu hạ tầng giao thông đường thuỷ nội địa, đường bộ và công trình chốngbão lũ
Hệ thống giao thông đường hàng không
Hà Nội có hai sân bay là sân bay Nội Bài (quốc tế, nội địa) và sân bayGia Lâm (sân bay nhỏ, nơi có thể thuê trực thăng du lịch) Sân bay NộiBài cách thành phố 45 km về phía Tây Bắc Sân bay Gia Lâm cách trungtâm Hà Nội 8 km Ngoài ra, Hà Nội còn có một sân bay quân sự hiệnđang không sử dụng đó là sân bay Bạch Mai Chúng có vai trò đặc biệtquan trọng trong việc hội nhập với quốc tế, kích thích cho sự phát triển
Trang 32 Hệ thống giao thống tĩnh trong đô thị
Diện tích đất dành cho giao thông tĩnh Hà Nội mới chỉ đạt được0,45% Còn theo tiêu chuẩn ở đô thị hiện đại cấp thủ đô của quốc gia thìdiện tích đất dành cho giao thông tĩnh cũng là từ 5- 6% Với những khókhăn bề nổi của hệ thống giao thông Thủ đô thì giao thông tĩnh vốn đượccoi là phần “chìm của tảng băng” cũng đang đối mặt với tình trạng thiếu
và yếu trầm trọng Vấn đề khai thác các điểm giao thông tĩnh hiện naycủa thành phố đang được giao cho Công ty khai thác điểm đỗ xe Hà Nội
tổ chức và chủ yếu khai thác đối với các điểm đỗ xe ô tô trên hè đường,đất công cộng và điểm trông giữ xe ô tô được xây dựng theo quy hoạch.Còn việc trông giữ xe đạp, xe máy là của các thành phần khác nhau domột số tổ chức và cá nhân thực hiện Công ty khai thác điểm đỗ xe HàNội hiện đang quản lý hơn 130 điểm trông giữ xe, đỗ xe ô tô công cộngvới tổng diện tích 28ha và chủ yếu tận dụng từ lòng đường, vỉa hè, đấtlưu không và vườn hoa công cộng Số diện tích trên chỉ đáp ứng đượchơn 7.000 ô tô và khoảng 30- 35% nhu cầu đỗ xe của thành phố
Điều đáng nói nữa là trong số bãi đỗ xe trên chỉ có khoảng 10 điểmchính thức đăng ký và có quy mô hoạt động thực sự, còn lại đều là nhữngđiểm tạm thời Rất nhiều điểm trông xe chưa được quy định một cáchkhoa học, tổng thể và chưa đạt đến các tiêu chí chung của hệ thống giaothông tĩnh như an toàn phòng chống cháy nổ, mái che mưa, che nắng, vệsinh môi trường Chính sự thiếu hụt hệ thống điểm đỗ xe tại thành phố đãdẫn tới tình trạng xe máy để bừa bãi, ô tô đỗ sai quy định, lấn chiếm hèđường diễn ra hết sức phổ biến ở khắp mọi nơi Trong năm 2006, Thanhtra GTCC Hà Nội đã kiểm tra và xử lý tới 7.676 trường hợp ô tô dừng đỗsai quy định và 406 trường hợp trông giữ xe máy, xe đạp trái phép Cònnăm 2007 con số ô tô đỗ dừng sai quy định bị xử lý tăng lên đáng kể với9.516 trường hợp và 388 trường hợp trông giữ xe máy, xe đạp khôngphép
Trang 331.2 Cấp nước sạch đô thị.
Năm 2004 thành phố tập trung nâng công suất nước sạch ở các nhàmáy: Mai Dịch, Pháp Vân, Tương Mai, Ngọc Hà, Ngô Sĩ Liên với côngsuất 180.000 m3/ngày đêm; hoàn thành Nhà máy Nước Nam Dư 30.000m3/ngày đêm vào quý I/2004; mở rộng công suất Nhà máy Nước CáoĐỉnh từ 30.000m3 lên 60.000 m3/ngày đêm, Nhà máy Nước Lương Yên
từ 55.000 m3 lên 70.000 m3/ngày đêm; triển khai dự án cải tạo mạng cấpnước các ô 8, 10 thuộc Q.Ba Đình (các phường Ngọc Khánh, Kim Mã,Thành Công, Giảng Võ); ô 6 (Ngọc Hà, Đội Cấn); ô 9A Láng Thượng; ô
13 các phường Cát Linh, Hàng Bột, Quốc Tử Giám, Ô Chợ Dừa; hoànthành cải tạo mạng lưới cấp nước tại P.Phương Mai và các khu vực lâncận vào cuối năm 2004; cải tạo các ô 11, 12 Q.Đống Đa (gồm các phườngLáng Hạ, Thịnh Quang, Ngã Tư Sở); tiếp tục thực hiện dự án 1A, thicông cấp nước vào khu vực Q.Hai Bà Trưng tại các phường Quỳnh Lôi,Thanh Nhàn, Vĩnh Tuy, Hoàng Văn Thụ; cải tạo và lắp đặt mạng lưới cấpnước cho P.Trung Hòa, Q.Cầu Giấy; P Phú Thượng, dọc đường LạcLong Quân, Q.Tây Hồ; P.Nhân Chính, Q.Thanh Xuân Đến năm 2007, đã
có rất nhiều phường được cải thiện, ổn định về dịch vụ cấp nước tốt hơncác năm trước gồm: Láng Hạ, Láng Thượng, Cát Linh, Hàng Bột, Quốc
Tử Giám, Ô Chợ Dừa (Q.Đống Đa); khu vực Tứ Liên, Yên Phụ, Quảng
An (Q.Tây Hồ); Trung Hòa (Q.Cầu Giấy); Hoàng Văn Thụ, Quỳnh Lôi,Thanh Nhàn, Vĩnh Tuy (Q.Hai Bà Trưng); Nhân Chính (Q.Thanh Xuân)
Đường ốngnước tăngthêm (km)
Sản lượng nước bìnhquân/ngày(nghìn m³/ngày)
Trang 341.3 Thoát nước đô thị.
Hạ tầng thoát nước còn thiếu nghiêm trọng, năm 2007 Thành phố mớichỉ có 77.9km kênh mương thoát nước, 44.4km sông thoát nước, 628km
hệ thống thoát nước ngầm, 844ha đất cho việc sử lý chất thải
Hình 2 - Hệ thống thoát nước ở Hà Nội
Hệ thống thoát nước ngầm(km)
Thành phố mới chỉ có 24 km cống mới lắp đặt trong dự án thoát nướcgiai đoạn 1 chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số 546 km cống các loại trênđịa bàn Hệ thống cống mới phủ được 70% chiều dài các đường phố ở HàNội có cống thoát nước, trong đó nhiều tuyến cống xây dựng cách đây 50
Trang 35năm, đã quá tải và xuống cấp từ lâu Tuyến cống phố Lò Ðúc, Quán Sứđược xây dựng từ trước năm 1945, nay đã xập xệ, hư hỏng, thoát nướckém, là nguyên nhân gây tình trạng ngập úng ở các phố: Hàng Chuối,Phạm Ðình Hổ, Trần Hưng Ðạo, Lý Thường Kiệt, Phan Bội Châu khimưa to
Công tác quản lý đô thị, tổ chức thoát nước gây nên sự bất cập của hệthống thoát nước Trước hết là do sự buông lỏng quản lý xây dựng Tạicác tuyến phố: Khâm Thiên, Ðội Cấn, Tôn Ðức Thắng, đặc biệt là cácquận mới như Thanh Xuân, Cầu Giấy, Long Biên, hệ thống cấp thoátnước chưa được quy hoạch trong khi tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, các
ao hồ có nhiệm vụ điều hòa nước mưa bị san lấp để làm nhà, nước không
có đường thoát, vì vậy úng ngập cũng là điều dễ hiểu
1.4 Cung cấp điện chiếu sáng cho đô thị.
Tính đến năm31/12/2006, Hà Nội có hệ thống cung cấp điện lướigồm:
Nguồn cấp 220 KV:
E4.2 (Trạm 220 KV Hà Đông): 2x 250 MVA
E6.2 (Trạm 220 KV Chèm): 2x 250 MVA
E3.2 (Trạm 220 KV Mai Động): 2x 125 MVA
E19 (Trạm 220 KV Sóc Sơn) : 2x125 MVA
Trạm 220 KV Phố Nối: 1x125 MVA
Lưới 110 KV
Lưới điện 110 KV Hà Nội hiện được cấp từ 41 MBA với tổng côngsuất 1783 MVA
Đường dây 110 KV có tổng chiều dài : 395,8 Km
Lưới điện trung áp
Cáp(km) ĐDK(km)
Trạmbiến áp
Máybiến áp
Dunglượng(MVA)Lưới 6KV 316,393 660,520 1,395 1,615 643,308