Nhận thức được vấn đề này, bản thân tôi là một giáo viên tiểu học, quanghiên cứu các tài liệu về hướng dẫn dạy học môn Toán; là người trực tiếp làm công tác giảng dạy, tôi mạnh dạn viết
Trang 1UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến: Giúp học sinh lớp 2 học tốt các bài toán có lời văn
Bộ môn (lĩnh vực): Toán
Năm học 2017 - 2018
Trang 2THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: Giúp học sinh lớp 2 học tốt các bài toán có lời văn.
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Dạy học môn Toán lớp 2
3 Tác giả:
Họ và tên: Phạm Thị Mai Nam (nữ): Nữ
Ngày tháng/năm sinh: 05/07/1987
Trình độ chuyên môn: Đại học
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường TH Phượng Hoàng - huyện Thanh
7 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Học sinh lớp 2
8 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2016 - 2017
TÁC GIẢ
(ký, ghi rõ họ tên)
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD&ĐT
Trang 3THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: Giúp học sinh lớp 2 học tốt các bài toán có lời văn
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Dạy học môn Toán lớp 2
5 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tên đơn vị, địa chỉ, điện thoại
6 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có): Tên đơn vị; địa chỉ; điện thoại
7 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
8 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: nêu mốc thời gian mà SK được áp dụnglần đầu tiên trong thực tế, hoặc áp dụng thử
TÁC GIẢ
(ký, ghi rõ họ tên)
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD&ĐT
Trang 4TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến.
Dạy có hiệu quả phần Giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2 góp phầnquyết định vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở trường tiểu họcnói chung cũng như ở lớp 2 nói riêng Trong thực tế, giáo viên chưa tự tin vớiviệc lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp dạy học Giải toán có lời vănnên hiệu quả tiết dạy không cao
Nhận thức được vấn đề này, bản thân tôi là một giáo viên tiểu học, quanghiên cứu các tài liệu về hướng dẫn dạy học môn Toán; là người trực tiếp làm
công tác giảng dạy, tôi mạnh dạn viết sáng kiến: “Giúp học sinh lớp 2 học tốt các bài toán có lời văn”.
2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến.
2.1 Điều kiện áp dụng sáng kiến.
Học sinh khối lớp 2
2.2 Thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến.
Từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 3 năm 2018, với học sinh lớp giảng dạy
3 Nội dung sáng kiến
3.1 Tính mới của sáng kiến:
- Sáng kiến đề cập những khó khăn của giáo viên và đưa ra các biện pháptháo gỡ cụ thể nhằm giúp giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy Giải toán có
lời văn cho học sinh lớp 2.
3.2 Tính sáng tạo của sáng kiến.
Chỉ ra cách thức, hình thức, phương pháp tối ưu nhất, phù hợp nhất đểthực hiện giảng dạy Giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2 một cách hiệu quả
3.3 Khả năng áp dụng của sáng kiến.
Sáng kiến này áp dụng cho tất cả học sinh lớp 2 trong các trường tiểu học.Tuy nhiên khi áp dụng các đồng nghiệp phải căn cứ vào tình hình thực tế củalớp mình để áp dụng sao cho đạt hiệu quả
3.4 Lợi ích của sáng kiến mang lại.
Sáng kiến “Giúp học sinh lớp 2 học tốt các bài toán có lời văn” dễ áp
dụng, không tốn kém về tiền bạc, đem lại hiệu quả thiết thực
4 Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến.
Nhờ áp dụng các biện pháp trên trong giảng dạy mà tôi đã thu đượcnhững kết quả ban đầu trong việc dạy học giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2nói riêng và góp phần nâng cao chất lượng môn Toán nói chung Tất cả học sinhtrong lớp đều biết cách giải toán và biết tự trình bày bài giải một cách đúng nhất,khắc phục được những hạn chế và sai sót khi học giải toán có lời văn Có thể nóisáng kiến đã khẳng định một lần nữa tính phù hợp của nội dung, hình thức vàcác biện pháp dạy Giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2
Trang 55 Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến
5.1 Với các cấp quản lý giáo dục:
- Tổ chức sinh hoạt chuyên đề liên trường về nâng cao hiệu quả dạy họcGiải toán có lời văn nói chung cũng như dạy cho học sinh lớp đầu cấp nói riêng
5.2 Với nhà trường:
- Nâng cao hiệu quả sinh hoạt chuyên môn tổ khối bằng các chuyên đề nghiên cứu bài học cụ thể và thiết thực đối với dạy Giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2
5.3 Đối với giáo viên:
Cần tích cực tự học, tự bồi dưỡng; tìm đọc các tài liệu hướng dẫn học vàdạy môn toán để nâng cao trình độ
Trang 6MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến.
Môn Toán ở trường Tiểu học là một trong những môn học có vị trí đặcbiệt quan trọng Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán có rất nhiều ứng dụngtrong cuộc sống, chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học cácmôn học khác và học tiếp Toán ở các lớp tiếp theo Các kiến thức, kĩ năng củamôn Toán ở Tiểu học được hình thành chủ yếu ở thực hành, luyện tập và thườngxuyên được ôn tập, củng cố, phát triển vận dụng trong học tập và trong đời sống
Dạy học giải toán là một trong những con đường hình thành và phát triển
tư duy: Phát hiện và tự giải quyết vấn đề, tự nhận xét, tự so sánh phân tích tổnghợp rút ra những quy tắc ở dạng khái quát nhất định Nội dung các bài toán cólời văn gần gũi cuộc sống hàng ngày của học sinh nên dạy giải toán còn giúpmỗi học sinh tự khám phá, tự phát hiện và giải quyết bài toán thông qua việcthiết lập mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức có liên quan với kinhnghiệm của bản thân (đã học ở trường và trong cuộc sống thực tế )
Mạch kiến thức: "Giải toán có lời văn", là một trong những mạch kiếnthức cơ bản xuyên suốt chương trình Toán cấp tiểu học Thông qua giải toán cólời văn, các em được phát triển trí tuệ, được rèn luyện kỹ năng tổng hợp: đọc,viết, diễn đạt, trình bày, tính toán Toán có lời văn là mạch kiến thức tổng hợpcủa các mạch kiến thức toán học Toán có lời văn là chiếc cầu nối giữa toán học
và thực tế đời sống, giữa toán học với các môn học khác Học sinh được làmquen với toán có lời văn ngay từ lớp Một, đến lớp 2 yêu cầu các em bước đầunắm được cách tóm tắt, phân biệt được dạng toán và giải hoàn chỉnh một bàitoán có lời văn… Có thể nói, đây quả thực là một khó khăn đối với học sinh lớp
2 Đọc một đề toán đã là khó đối với các em vậy mà còn tiếp tục phải: Tìm hiểu
đề toán, tóm tắt đề, đặt câu lời giải, phép tính, đáp số… Làm thế nào để học sinhhiểu được đề toán, viết được tóm tắt, nêu được câu lời giải hay, phép tính đúng?
Là một giáo viên đã nhiều năm trực tiếp giảng dạy lớp 2, qua các đợt khảo sátchất lượng môn Toán, tôi nhận thấy chất lượng giải toán có lời văn còn thấp; kĩnăng nhận dạng và giải toán có lời văn của học sinh còn rất chậm, các emthường hay nhầm lẫn giữa các dạng toán, xác định sai dạng toán dẫn đến cáchgiải sai Một phần nữa, do đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi, các em còn vộivàng, hấp tấp, đơn giản hoá vấn đề nên đôi khi chưa đọc kĩ đề, chưa hiểu kĩ đề
đã vội vàng làm bài, dẫn đến kết quả sai, thiếu hoặc đúng nhưng chưa đủ
Nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy - học giải toán có lời văn trongchương trình lớp 2, tôi mạnh dạn tìm tòi, nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp
“Giúp học sinh lớp 2 học tốt các bài toán có lời văn” để góp phần nâng cao chất
lượng dạy và học của nhà trường nói chung và đối với học sinh lớp 2 nói riêng
Trang 7về đo lường, về các yếu tố đại số, về các yếu tố hình học đã được học trong môntoán ở Tiểu học Thông qua nội dung thực tế muôn hình, muôn vẻ của các đềtoán, học sinh sẽ tiếp nhận được những kiến thức phong phú về cuộc sống và cóđiều kiện để rèn luyện khả năng áp dụng những kiến thức toán học vào cuộcsống Mỗi đề toán là một bức tranh thu nhỏ của cuộc sống Khi giải mỗi bàitoán, học sinh biết rút ra từ bức tranh ấy bản chất toán học của nó, phải biết lựachọn những phép tính thích hợp, biết làm đúng các phép tính đó, biết đặt lời giảichính xác Vì thế quá trình giải toán sẽ giúp học sinh rèn luyện khả năng quansát và giải quyết các hiện tượng của cuộc sống qua con mắt toán học của mình.
Việc giải các bài toán sẽ giúp phát triển trí thông minh, óc sáng tạo và thóiquen làm việc một cách khoa học cho học sinh Bởi vì khi giải toán học sinhphải biết tập trung vào bản chất của đề toán, phải biết gạt bỏ những cái thứ yếu,phải biết phân biệt cái đã cho và cái phải tìm, phải biết phân tích để tìm rađường dây liên hệ giữa các số liệu Nhờ đó mà đầu óc các em sẽ sáng suốt hơn,tinh tế hơn, tư duy của các em sẽ linh hoạt, chính xác hơn, cách suy nghĩ và làmviệc của các em sẽ khoa học hơn Việc giải các bài toán còn đòi hỏi học sinhphải biết tự mình xem xét vấn đề, tự mình tìm tòi cách giải quyết vấn đề, tựmình thực hiện các phép tính, tự mình kiểm tra lại kết quả Do đó giải toán làmột cách rất tốt để rèn luyện đức tính kiên trì, tự lực vượt khó, cẩn thận, chuđáo, yêu thích sự chặt chẽ, chính xác
Việc dạy học giải toán nhằm giúp học sinh biết vận dụng những kiến thức
về toán học, được rèn luyện thực hành với những yêu cầu thể hiện một cách đadạng, phong phú Nhờ việc dạy học giải toán mà học sinh có điều kiện rèn luyện
và phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận và những phẩmchất cần thiết của người lao động mới
Giải toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế, nội dung bài toánđược thông qua những câu văn nói về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc, cóliên quan tới cuộc sống thường xảy ra hàng ngày Cái khó của bài toán có lời vănchính là ở chỗ làm thế nào để lược bỏ được những yếu tố về lời văn đã che đậy bảnchất toán học của bài toán Hay nói một cách khác là làm sao phải chỉ ra được cácmối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán và tìm được nhữngcâu lời giải phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số của bài toán
Trang 83 Thực trạng của vấn đề:
Thực tế qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy ở khối lớp 2, tôi nhận thấy họcsinh khi giải các bài toán có lời văn thường rất chậm so với các dạng bài tậpkhác Các em thường lúng túng khi đặt câu lời giải cho phép tính, có nhiều emlàm phép tính chính xác và nhanh chóng nhưng không làm sao tìm được lời giảiđúng hoặc đặt lời giải không phù hợp với đề toán đặt ra Chính vì thế nhiều khidạy học sinh đặt câu lời giải còn vất vả hơn nhiều so với dạy trẻ thực hiện cácphép tính ấy để tìm ra đáp số Mặt khác, việc yêu cầu học sinh ghi câu lời giảingay từ lớp 1, 2 sẽ là một khó khăn lớn đối với mỗi giáo viên trực tiếp giảng dạynhất là những tuần đầu dạy toán có lời văn, thậm chí khó khăn ngay ở việc giúpcác em đọc đề, tìm hiểu đề… Một số em mới chỉ đọc được đề toán chứ chưahiểu được đề, chưa trả lời được các câu hỏi giáo viên nêu: Bài toán cho biết gì?Đến khi giải toán thì đặt câu lời giải chưa đúng, chưa hay hoặc không có câu lờigiải… Những khó khăn trên phần lớn là do giáo viên phối kết hợp các phươngpháp dạy học chưa linh hoạt, việcchuyển đổi phương pháp giảng dạy còn lúngtúng, chưa phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh Một số giáoviên chưa nắm chắc hệ thống các dạng toán có lời văn ở lớp 2 nên việc tổnghợp, so sánh, phân biệt còn nhiều hạn chế Khi hướng dẫn giải toán giáo viên chỉdừng lại ở việc giải xong bài toán mà chưa chú trọng việc hướng dẫn lập bướcgiải, chưa chốt kiến thức một cách sâu, chắc về nhận dạng, về cách giải mộtdạng toán dẫn đến học sinh có nhiều hạn chế trong việc xác định dạng toán vàgiải toán Việc chữa bài cho học sinh chưa chu đáo, chưa triệt để, chưa có lờinhận xét, biện pháp hỗ trợ cụ thể để giúp học sinh tiến bộ Bên cạnh đó, đối vớihọc sinh lớp 2 thì việc đọc đề, tìm hiểu đề rất khó khăn vì kĩ năng đọc thànhthạo của các em chưa cao Học sinh giải toán có lời văn theo kiểu học thuộclòng, máy móc, rập khuôn, chưa khoa học Các em đọc đề toán và tìm hiểu đềcòn thụ động, thường nôn nóng, đọc qua loa đề bài, chưa chú ý đến các dữ kiện,
dữ liệu của bài toán, còn rất lúng túng trong việc tìm mối quan hệ giữa “cái đãbiết” và “cái cần tìm” dẫn đến không biết phân tích đề, nhận dạng bài toán Một
số học sinh trình bày và viết tóm tắt bài toán còn chưa đúng, chưa khoa học,chưa có sự linh hoạt, sáng tạo - chỉ biết máy móc làm theo mẫu mà giáo viênđưa ra, còn ở một số bài khác mẫu thì học sinh lúng túng, chưa biết cách trìnhbày Có học sinh chưa hiểu được cách ghi lời giải, ghi sai đơn vị Nhiều học sinhkhi nói đến giải toán còn lo sợ, không tự tin khi làm bài hoặc một số em làmđược phép tính nhưng đặt lời giải sai
* Nguyên nhân:
+ Về phía giáo viên:
- Một số giáo viên chưa chú trọng đến việc nghiên cứu nội dung bài dạy nênviệc vận dụng phương pháp còn lúng túng, chưa phát huy tính tích cực chủ động
Trang 9của học sinh Một số giáo viên hướng dẫn giải toán có lời văn chưa rõ ràng làmcho bài toán trở nên phức tạp, học sinh khó hiểu.
- Giáo viên chưa khuyến khích và giúp đỡ một cách hợp lý kịp thời các nhóm,các đối tượng học sinh trong quá trình học
- Giáo viên ít quan tâm đến học sinh, chưa phân chia đối tượng học sinh, chưathường xuyên liên lạc với phụ huynh
+ Về phía học sinh:
- Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều
- Vốn sống của học sinh còn nghèo, khả năng suy luận còn hạn chế dẫn đến họcsinh hiểu nội dung bài toán chậm hoặc hiểu sai yêu cầu của đề bởi những yếu tốkhông cơ bản của bài toán
- Phụ huynh ít có điều kiện quan tâm, chăm lo tới việc học tập của học sinh khi ở nhà
4 Đề xuất một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt các bài toán có lời văn
4.1: Biện pháp thứ nhất: Tìm hiểu tình hình học sinh, họp phụ huynh để thống nhất biện pháp giáo dục.
Chúng ta đều biết học sinh lớp 2 đến trường còn phụ thuộc nhiều vào sựquan tâm, nhắc nhở của cha mẹ và thầy cô Các em chưa có ý thức tự giác họctập, chính vì vậy giáo dục ý thức tích cực học tập cho các em là một yếu tốkhông kém phần quan trọng giúp các em học tốt hơn
Trong một lớp học, lực học của các em không đồng đều, ý thức học củanhiều em chưa cao Để nâng cao chất lượng dạy học nói chung, môn Toán lớp 2nói riêng và giúp cho phụ huynh có biện pháp phù hợp trong việc giáo dục concái, khi bắt đầu nhận lớp, tôi đã tìm hiểu, nắm bắt, phân loại đối tượng HS Đây
là việc làm rất quan trọng, bởi lẽ khi phân loại được HS của lớp, giáo viên đóhình dung ra nhóm học sinh nào cần gì để giáo viên có kế hoạch Qua nhiềukênh thông tin như thể hiện năng lực học tập của HS, qua giao tiếp, qua giáoviên chủ nhiệm cũ, qua gia đình và đặc biệt là qua khảo sát đầu năm, tôi phânloại trình độ học Toán của các em Trong cuộc họp cha mẹ học sinh đầu năm, tôimạnh dạn trao đổi với phụ huynh học sinh về chỉ tiêu phấn đấu của lớp vànhững yêu cầu cần thiết giúp các em học tập như: Mua sắm đầy đủ sách vở, đồdùng - cách hướng dẫn các em tự học ở nhà, đặc biệt nhất là đối với các ông bốvào buổi tối cố gắng bớt đi một chút thời gian chuyện trò với bạn bè, tắt (vặnnhỏ đài, ti vi) dành thời gian nhắc nhở, quan tâm cho các em học tập….Rấtmừng là đa số phụ huynh đều nhiệt liệt hoan nghênh biện pháp trên vì lâu naycác phụ huynh còn đang vướng mắc nhiều về cách dạy học cho các em Sáchgiáo khoa mới còn nhiều kí hiệu, các lệnh, yêu cầu của sách, phụ huynh chưa rõyêu cầu bài tập; nhiều gia đình người mẹ bận việc mà người bố ngại hướng dẫncon nên việc học của con cái chưa được tập trung chú ý Riêng trong phần bài
Trang 10tập của sách Toán, tôi hướng dẫn phụ huynh cách dạy các em luyện nêu miệngcác đề toán, luyện nói và trả lời nhiều…
Đối với những phụ huynh vắng mặt, tôi tìm cách gặp gỡ, trao đổi tại nhà.Các gia đình này phần lớn trình độ văn hoá của bố mẹ không đáp ứng được yêucầu hiện nay trong cách dạy con mà chỉ biết nhắc nhở con: “ Học bài đi” rồi conhọc gì, làm gì ở bàn học bố mẹ cũng không hay… Lúc này tôi hướng cha mẹhọc sinh cùng tham gia đánh giá
VD: Bài toán Đàn gà đẻ 51 quả trứng, 4 quả đã ăn Hỏi còn lại bao nhiêu quả trứng?
Bài giảiCòn lại số quả trứng là: 51 – 4 = 11
Đáp số 11 quả trứng Lúc này thầy cô dùng kĩ thuật phân tích sử dụng để đánh giá thường xuyêntrong tình huống trên
Nếu phải trao đổi với phụ huynh thầy cô sẽ trao thế nào?
GV đưa ra câu hỏi: Em nhận xét về câu trả lời của bạn (câu trả lời đúng)
Ai nhận xét về phép tính của bạn 51 – 4 (viết đúng)
Ai nhận xét về kết quả phép tính của bạn 51 – 4 (chưa chính xác, nhầmmột chút, nhầm hàng chục trừ đi hàng đơn vị.)
Lúc này thầy cô đưa ra nhận xét
Em làm bài từ câu trả lời đến viết phép tính đều đúng, một khâu nhỏ chú ýcần tính toán cho cẩn thận và điền đúng danh số
Trao đổi với phụ huynh, thầy (cô) trao đổi như sau:
Em đã biết giải toán có lời văn, viết câu lời giải, viết phép tính đúng tuynhiên em còn nhầm một chút, gia đình giúp đỡ em thêm
Trước tiên thầy cô hãy dùng lời khen (không chê), khen rồi mới đưa ra lỗicủa học sinh và nhờ phụ huynh giúp đỡ Lúc này phụ huynh sẽ cảm thấy rất hàilòng và sẵn sàng hợp tác cùng với thầy (cô) Đây cũng là biện pháp giáo viêngiúp phụ huynh biết cách kèm cặp con em mình học toán một cách tốt nhất
Đối với những em này, tôi phải hướng dẫn nhiều hơn ở lớp để về nhà các
em tự học Một số học sinh thiếu Sách giáo khoa và Vở bài tập, tôi gặp gỡ traođổi với phụ huynh, động viên họ mua sách (sách cũ cũng được) tạo điều kiệncho con em học tập; tôi trực tiếp kêu gọi những em học sinh cũ (lớp 2 nămngoái) ủng hộ số sách cũ của các em cho nhà trường để nhà trường giúp đỡnhững em có hoàn cảnh gia đình khó khăn Còn vở bài tập tôi cho phô tô lại chonhững em thiếu, vì không có vở bài tập các em sẽ gặp rất nhiều khó khăn khilàm bài tập nhất là trong khi kĩ năng đọc, viết chưa thành thạo
4.2 Biện pháp thứ 2: Hướng dẫn học sinh lớp 2 nắm vững quy trình giải bài toán có lời văn
Trang 11Thông thường khi dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2, tôi dạy họcsinh nắm vững các bước sau:
- Bước 1: Tìm hiểu đề toán
- Bước 2: Tóm tắt bài toán
- Bước 3: Tìm cách giải
- Bước 4: Trình bày bài giải
- Bước 5: Kiểm tra lại bài giải
4.2.1 Tìm hiểu đề toán:
Tìm hiểu đề toán là bước quan trọng, vì vậy tôi yêu cầu học sinh đọc kĩ đềbài Để hiểu được nội dung bài toán, học sinh phải tự đọc, tri giác nhận biết đềtoán Đây là bước đầu tiên giúp học sinh nắm được nội dung bài toán và đặc biệtcần chú ý đến câu hỏi của bài Tôi tổ chức cho các em đọc kĩ đề toán, yêu cầuhọc sinh cầm bút chì và thước gạch chân dưới những dữ kiện quan trọng của bàitoán: “Hãy gạch dưới một gach những cái đã cho”; “Hãy gạch hai gạch dướicâu hỏi của đề toán” Như vậy tất cả học sinh cùng làm việc, em nào không chịulàm việc giáo viên đã biết và nhắc nhở Thông qua việc đọc bài toán, HS phảiđọc kĩ để hiểu rõ bài toán cho biết gì? cho biết điều kiện gì? Bài toán hỏi cái gì?Khi đọc bài toán phải hiểu thật rõ một số từ, thuật ngữ quan trọng chỉ rõ tìnhhuống quan trọng chỉ rõ tình huống toán học được diễn đạt theo ngôn ngữ thôngthường sau đó HS “thuật lại” vắn tắt bài toán mà không cần đọc lại nguyên vănbài Đọc kĩ đề toán giúp học sinh hiểu rõ một số từ khóa quan trọng như "nhiềuhơn", "ít hơn", "lớn hơn", "nhỏ hơn", "dài hơn", "ngắn hơn", "nặng hơn", "nhẹhơn"… Từ đó giúp học sinh xác định được dạng toán và cách giải dạng toán đó.Đối với những học sinh kĩ năng đọc hiểu còn chậm, tôi dùng phương pháp giảnggiải kèm theo các đồ vật, tranh minh hoạ để các em tìm hiểu, nhận xét nội dung,yêu cầu của đề toán Qua đó học sinh hiểu được yêu cầu của bài toán và dựa vàocâu hỏi của bài, các em nêu miệng câu lời giải, phép tính, đáp số của bài toán rồicho các em tự trình bày bài giải vào vở bài tập
Sau khi học sinh đã nhận dạng được bài toán, tôi yêu cầu học thảo luậntheo cặp hoặc theo nhóm để phân tích, tìm hiểu đề toán
* Cái cần tìm: Tòa nhà thứ hai có bao nhiêu tầng?
Tuy nhiên trong quá trình giải toán không phải tất cả đề bài đều cho biếtcái đã cho trước và cái cần tìm sau mà đôi khi ngược lại: Đưa cái cần tìm trướcrồi mới biết cái đã cho
Trang 12Ví dụ: (Bài 3 trang 153 SGK)
Tính chu vi hình tam giác có độ dài các cạnh là: 24mm, 16mm và 28mm?
* Cái cần tìm: Tính chu vi hình tam giác
* Cái đã cho: độ dài các cạnh là 24mm, 16mm, 28mm
4.2.2 Tóm tắt bài toán:
Tóm tắt bài toán nhằm xây dựng, thiết lập mối liên hệ giữa dữ kiện đã cho
và dữ kiện cần tìm của bài toán, tìm cách diễn đạt nội dung của bài bằng ngôn ngữ
kí hiệu toán học Tóm tắt bài toán hoặc minh họa với sơ đồ hình vẽ bằng cách ghi
dữ kiện điều kiện và câu hỏi của bài toán dưới dạng cô đọng, ngắn gọn nhất
Ví dụ: Bài 3 (trang 5 SGK Toán 2)
Một cửa hàng buổi sáng bán 12 xe đạp, buổi chiều bán được 20 xe đạp.Hỏi cả hai buổi cửa hàng bán được tất cả bao nhiêu xe đạp?
+ Bài toán cho biết gì? Hãy gạch một gạch dưới cái đã cho
+ Bài toán hỏi gì? Hãy gạch hai gạch dưới câu hỏi của bài toán
Sau khi học sinh đã thực hiện theo hai câu lệnh làm việc của giáo viên,giáo viên yêu cầu một số học sinh trình bày phân tích nội dung để hiểu rõ nộidung đề toán
Buổi sáng bán: 12 xe đạp
Buổi chiều bán: 20 xe đạp
Cả hai buổi bán: …xe đạp?
Mỗi bài toán có các cách tóm tắt khác nhau, tuy nhiên cần hướng dẫn họcsinh lựa chọn cách tóm tắt sao cho phù hợp từng bài để dễ hiểu, đơn giản vàngắn gọn nhất Có những bài toán nên tóm tắt bằng lời song cũng có những bàitoán nên tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng (nên dùng sơ đồ đoạn thẳng để biểu thịtrực quan khái niệm "ít hơn", "nhiều hơn" )
Ví dụ:
* Tóm tắt bằng lời: Bài 3 trang 96
Mỗi xe đạp có 2 bánh xe Hỏi 8 xe đạp có bao nhiêu bánh xe?
1 xe đạp: 2 bánh
8 xe đạp: bánh?
* Tóm tắt bằng sơ đồ: Bài 2 trang 24
Nam có 10 viên bi, Bảo có nhiều hơn Nam 5 viên bi Hỏi Bảo có baonhiêu viên bi?
10 viên bi
Nam có
5 viên bi Bảo có
? viên bi
Trang 13Phần tóm tắt bài toán là cần thiết khi học sinh giải bài toán có lời văn, đốivới học sinh lớp 2 không nhất thiết phải trình bày vào vở Sau khi tóm tắt xongtôi yêu cầu học sinh nhìn vào tóm tắt đọc lại được một bài toán hoàn chỉnh đúngtheo ý đề bài đã cho.
4.2.3 Tìm cách giải:
Cũng như các môn học khác để tìm được cách giải thì học sinh cần xácđịnh xem bài toán yêu cầu chúng ta làm gì? Từ đó để tìm cách giải, thiết lập mốiquan hệ giữa các dữ kiện của đề bài với phép tính tương ứng
Để tìm cách giải bài toán, tôi yêu cầu học sinh nhìn tóm tắt xem bài toánhỏi gì hay yêu cầu tìm gì? Để trả lời các câu hỏi của bài toán cần biết gì? Làmphép tính gì? Suy luận từ các số, điều kiện đã có, có thể biết gì? Có thể sử dụngphép tính gì? Trên cơ sở đó lập kế hoạch để giải bài toán
Tìm cách giải bài toán gắn liền với việc phân tích các dữ liệu, điều kiện vàcâu hỏi của bài toán nhằm xác lập mối liên hệ giữa chúng và tìm được các phéptính số học thích hợp
Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán để xác định cái đã cho và cáiphải tìm cần giúp học sinh lựa chọn phép tính thích hợp: Chọn “phép cộng” nếubài toán yêu cầu “nhiều hơn”, “cả hai” hoặc “gộp”, “tất cả”, “dài hơn”, “thêm”,
“nặng hơn”, “cao hơn” Chọn “phép trừ” nếu bài toán “bớt” hoặc “tìm phần cònlại” hay là “ít hơn” , “bé hơn”, “ngắn hơn”, “thấp hơn”, “nhẹ hơn”…(áp dụngvới đại đa số các bài toán có lời văn ở lớp 2 theo chuẩn kiển thức kĩ năng) Lập kế hoạch giải bài toán, có hai hình thức: Đi từ câu hỏi của bài toánđến các số liệu, hoặc đi từ số liệu đến các câu hỏi của bài toán
* Xuất phát từ câu hỏi của bài toán đến số liệu:
Ví dụ: Lan hái được 24 bông hoa, Liên hái được nhiều hơn Lan 16 bônghoa Hỏi Liên hái được bao nhiêu bông hoa?
+ Bài toán hỏi gì? (Liên hái được bao nhiêu bông hoa?)
+ Có thể biết ngay chưa?
+ Vì sao?
+ Có thể biết được số hoa Liên hái được nhiều hơn Lan chưa? Vì sao?+ Vậy việc đầu tiên sẽ phải tìm cái gì? Bằng cách nào?
+ Sau đó làm gì nữa? Bằng cách nào? Đã trả lời câu hỏi của bài toán chưa?
* Xuất phát từ dữ kiện (số liệu) đến câu hỏi của bài toán
Ví dụ: Bài 3 trang 24 SGK
Mận cao 95cm, Đào cao hơn Mận 3cm Hỏi Đào bao nhiêu xăng-ti-mét?
- Yêu cầu học sinh nêu Mận cao bao nhiêu? (95cm)
- Yêu cầu học sinh phân tích Đào cao hơn Mận 3cm nghĩa là như thế nào?(Đào cao bằng Mận rồi còn cao thêm 3cm)