1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ hội và thách thức đối với việc phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt nam sau khi gia nhập WTO và chức năng của chính phủ trong việc quản lý kinh tế

40 1,5K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ hội và thách thức đối với việc phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt nam sau khi gia nhập WTO và chức năng của chính phủ trong việc quản lý kinh tế
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Huế
Chuyên ngành Kinh Tế Quốc Tế
Thể loại tiểu luận
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 237 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ hội và thách thức đối với việc phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt nam sau khi gia nhập WTO và chức năng của chính phủ trong việc quản lý kinh tế

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài:

Trong đời sống và quan hệ quốc tế hiện đại, đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) đóng vai trò hết sức quan trọng, không chỉ là dấu hiệu phê chuẩn hội nhậpthị trường toàn cầu về chính sách và triển vọng phát triển kinh tế của một nước

mà còn là một động lực phát triển quan hệ quốc tế ở nhiều lĩnh vực khác nhaunhư chính trị, ngoại giao Thông qua đó đảm bảo lợi ích đan xen, cơ chế anninh đa phương mà các nước đang hướng tới

Tầm quan trọng của FDI không chỉ ở chổ thu hút được nhiều nguồn vốn

mà còn là kết hợp một cách hết sức hiệu quả giữa vốn, các mối quan hệ có liênquan như an ninh quốc gia nhằm đảm bảo cho môi trường đầu tư lành mạnh, ổnđịnh, tạo ra nguồn nhân lực có khả năng tiếp thu quản lý tri thức và công nhgệhiện đại Đây thực sự là một đòn bẩy sắc bén cho phát triển kinh tế và chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế gắn liền với bảo đảm an ninh quốc gia trong quá trìnhhội nhập khu vực và toàn cầu

Đối với Việt Nam, việc thu hút được các nguồn vốn FDI trong những nămqua có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đạihóa đất nước, nhất là sau khi Việt nam trở thành thành viên của Tổ chức Thươngmại Thế giới (WTO) đã tạo ra thế và lực phát triển mới cho nền kinh tế ViệtNam

Trong một bối cảnh suy thoái của nền kinh tế trên thế giới , đặc biệt là saucuôc khủng hoảng tài chính Mỹ hiện nay khiến cho tình hình kinh tế thế giới gặpphải nhiều khó khăn, trước hết là vốn FDI khan hiếm và làn sóng FDI giảm sútnghiêm trọng ở tất cả các châu lục Vì vậy việc nghiên cứu các giái pháp thu hútnguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt nam trong thời gian tới là điều hếtsức cần thiết

Với mong muốn giải quyết vấn đề nêu trên, trong tiểu luận môn kinh tế

quốc tế , tôi tập trung nghiên cứu đề tài: “Cơ hội và thách thức đối với việc

Trang 2

phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt nam sau khi gia nhập WTO và chức năng của chính phủ trong việc quản lý kinh tế”.

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Trình bày những vấn đề cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài;

- Đánh giá những cơ hội và thách thức đối với FDI từ hiệu ứng gia nhập tổchức thương mại Thế giới (WTO)

- Đánh giá tình hình đầu tư nước ngoài tại Việt nam sau khi gia nhậpWTO; và tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Tỉnh thừa thiên Huế

- Dự báo Xu hướng thu hút FDI năm 2009

- Đề xuất một số giải pháp phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việtnam

3 Phương pháp nghiên cứu :

Với mục đích trên đề tài đã sử dụng Phương pháp thu thập số liệu: dựa

vào các tài liệu đã được công bố như Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và đầu

tư, niên giám thống kê của Cục thống kê, Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh ThừaThiên Huế, các tài liệu, báo cáo của các cơ quan chuyên ngành , trong các năm

2006, 2007, 2008 Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số kết quả nghiên cứu củanhiều tác giả được công bố trên các tạp chí Đầu tư, Kinh tế phát triển; các

website

Trang 3

Phần I : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ CÁC CHỨC NĂNG CỦA

NHÀ NƯỚC

1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp (FDI- Foreign Direct Investment )

Đầu tư trực tiếp (FDI) là một loại hình di chuyển vốn giữa các quốc gia ,trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hànhhoạt động vốn đầu tư

Về thực chất, FDI là loại hình đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư bỏ vốn để xâydựng hoặc mua phần thậm chí toàn bộ các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài để làchủ sở hữu toàn bộ hay từng phần cơ sở đó và trực tiếp quản lý, điều hành hoặctham gia quản lý , điều hành hoạt động của đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư đồngthời họ cũng chịu trách nhiệm theo mức sở hữu về kết quả sản xuất kinh doanhcủa dự án

1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp (FDI)

- Tỉ lệ vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trong vốn pháp định của dự ánđạt mức tối thiểu tùy theo luật đầu tư của từng nước quy định

- Các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý và điều hành dự án mà họ

bỏ vốn đầu tư Quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào tỉ lệ góp vốn của chủđầu tư trong vốn pháp định của dự án.Nếu doanh nghiệp góp 100% vốn trongvốn pháp định thì doanh nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu của nhà đầu tư nướcngoài và cũng do họ quản lý toàn bộ

- Kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh của dự án được phân chia chocác bên theo tỉ lệ góp vốn vào vốn pháp định sau khi nộp thuế cho nước sở tại vàtrả lợi tức cổ phần (nếu có)

Trang 4

- FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới ,mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu

để thôn tính hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau

1.3 Vai trò của FDI

1.3.1 Tác động đối với nước đi đầu tư

* Tác động tích cực

- Chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý và điều hành dự án nên họthường có trách nhiệm cao thường đưa ra những quyết định có lợi cho họ.Từ đó

mà có thể đảm bảo hiệu quả của vốn FDI cao

- Chủ đầu tư nước ngoài mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩmnguyên liệu, cả công nghệ và thiết bị trong khu vực và thế giới

- Có thể giảm giá thành sản phẩm do khai thác được nguồn lao động giá rẻhoặc gần nguồn nguyên liệu, hoặc gần thị trường tiêu thụ sản phẩm.Từ đó mànâng cao hiệu quả kinh tế của vốn FDI , tăng năng suất và thu nhập quốc dân

- Tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch và phi mậu dịch của nước sở tại vìthông qua FDI mà chủ đàu tư nước ngoài xây dựng được các doanh nghiệp củamình nằm trong lòng các nước thi hành chính sách bảo hộ

1.3.2 Tác động đối với nước nhận đầu tư

* Tác động tích cực

-Tạo điều kiện khai thác được nhiều vốn từ bên ngoài do không quy địnhmức tối thiểu cho các nhà đầu tư nước ngoài

Trang 5

- Tạo điều kiện tiếp thu kĩ thuật và công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản

lý kinh doanh của bên nước ngoài tạo điều kiện thuận lợi để khai thác tốt các lợithế của mình về tài nguyên thiên nhiên, về vị trí địa lý…

- Tạo thêm việc làm, tăng tốc độ tăng trưởng của đối tượng bỏ vốn và nềnkinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao đời sống của nhân dân

- Góp phần cải tạo cảnh quan xã hội, tăng năng suất và thu nhập quốc dân

- Khuyến khích năng lực kinh doanh trong nước, tiếp cận với thị trườngnước ngoài

-Trình độ của đối tác nước tiếp nhận sẽ quyết định hiệu quả của hợp tácđầu tư

- Có thể nhận chuyển giao từ các nước đi đầu tư các công nghệ không phùhợp với nền kinh tế trong nước, gây ô nhiễm môi trường

- Các lĩnh vực và địa bàn được đầu tư phụ thuộc vào sự lựa chọn của cácnhà đầu tư nước ngoài mà nhiều khi nó không theo ý muốn của nước tiếp nhận.Điều đó cũng có nghĩa việc chủ động trong bố trí cơ cấu đầu tư bị hạn chế

- Giảm số lượng doanh nghiệp trong nước, ảnh hưởng tới cán cân thanhtoán của nước nhận

- Bị thua thiệt do vấn đề giá chuyển nhượng nội bộ từ các công ty quốc tế(công ty đa quốc gia , xuyên quốc gia)

- Dòng vốn FDI chủ yếu chảy ở trong khối OECD (Organisation forEconomic Co-operation and Development -Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế)

là khu vực tương đối nhiều vốn của thế giới.Ngày nay 80% tổng số vốn FDIhướng vào các nước tư bản phát triển

Trang 6

- Dòng vốn FDI chảy vào nhiều nước trong nội bộ khu vực do những ưuthế về khoảng cách địa lý và các điều kiện tương đồng.

- Lĩnh vực đầu tư có nhiều thay đổi so với trước: Trước đây thường hướngvào các lĩnh vực truyền thống mà chủ yếu là hướng vào các ngành cần nhiều laođộng thì ngày nay các nhà đầu tư truyền thống hướng vào dịch vụ đặc biệt làthương mại và tài chính khiến các ngành nghề truyền thống dần bị mai một

1.4 Tổng quan chức năng quản lý nhà nước về kinh tế

+ Khái niệm

Nhà nước thực hiện vai trò kinh tế của mình không chỉ bằng việc xây dựng

và quản lý khu vực kinh tế nhà nước mà quan trọng hơn là quản lý toàn bộ nềnkinh tế quốc dân, Để quản lý nền kinh tế quốc dân, Nhà nước phải thực hiệnnhiều công việc khác nhau Những công việc này hình thành khái niệm chứcnăng quản lý nhà nước về kinh tế

Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là hình thức biểu hiện phươnghướng và giai đoạn tác động có chủ đích của Nhà nước tới nền kinh tế quốc dân,

là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà Nhà nước phải tiến hành trong quátrình quản lý nền kinh tế quốc dân

Quản lý nhà nước về kinh tế là quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân với tưcách là một hệ thống lớn phức tạp, là tổng thể các ngành kinh tế, các vùng, địaphương và các sở kinh tế của các vùng, địa phương đó Nhà nước quản lý nềnkinh tế quốc dân trên quy mô toàn xã hội với việc thực hiện hàng loạt chức năng,

có sự phân biệt với chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh của các cơ sở kinh tế.Mục đích của việc thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế làxác định hệ thống mục tiêu quản lý nền kinh tế quốc dân, cũng như phương thứcthực hiện các mục tiêu đã đề ra cho từng thời kỳ phát triển của đất nước

+ Ý nghĩa

Quản lý nhà nước về kinh tế trong thời đại ngày nay trở thành nhân tố cơbản quyết định đến sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Phân tích chức năngquản lý nhà nước về kinh tế không chỉ góp phần quan trọng trong việc xây dựng

cơ chế quản lý kinh tế đúng đắn mà còn góp phần quan trọng trong việc xây dựng

và hoàn thiện bộ máy quản lý nền kinh tế quốc dân

Trang 7

+ Phân loại chức năng quản lý nhà nước về kinh tế

Có 3 cách tiếp cận chức năng quản lý nhà nước về kinh tế: tiếp cận theo quátrình quản lý, tiếp cận theo tính chất tác động và tiếp cận theo yếu tố và lĩnh vựchoạt động của nền kinh tế quốc dân

Cách tiếp cận theo quá trình quản lý: chia các hoạt động quản lý nhà nước

về kinh tế thành các nhóm chức năng: kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm soátnền kinh tế

Cách tiếp cận theo tính chất tác động: chia các hoạt động quản lý nhà nước

về kinh tế thành các nhóm chức năng: tạo lập môi trường thuận lợi cho hoạt độngsản xuất kinh doanh, bảo đảm cơ sở hạ tầng cho phát triển, hỗ trợ phát triển, nângcao hiệu quả hoạt động của kinh tế nhà nước

Cách tiếp cận theo yếu tố và lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân:chia chức năng quản lý nhà nước về kinh tế thành quản lý nhà nước về tài chính -tiền tệ, quản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại, quản lý nhà nước về tài nguyênmôi trường, khoa học công nghệ…

1.5 Các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế theo tính chất tác động

Các chức năng này biểu hiện vai trò của Nhà nước đối với nền kinh tế quốcdân

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hộ chủ nghĩa như

ở Việt Nam, luận chứng rõ những nhiệm vụ mà Nhà nước phải thực hiện có ýnghĩa to lớn Chức năng kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường lànhững hoạt động mà Nhà nước cần thực hiện để cùng với thị trường đảm bảothực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội trong quá trình phát triển

Trong đó Tạo lập môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.Môi trường kinh doanh là tổng thể các yếu tố tác động trực tiếp hay gián tiếp đếncác quyết định hoặc hoạt động của các chủ thể kinh tế trên thị trường Nhóm cácyếu tố bên ngoài có tác động gián tiếp đến các đơn vị kinh doanh được gọi lànhóm các yếu tố môi trường vĩ mô, bao gồm: môi trường văn hoá xã hội, môitrường kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường vật chất và môi trường côngnghệ Nhóm các yếu tố bên ngoài có tác động trực tiếp đến các đơn vị kinh tế là

Trang 8

các yếu tố môi trường vi mô, bao gồm: khách hàng, nhà cung cấp, các đối thủcạnh tranh, các nhóm quyền lợi trong các cơ sở kinh tế

Duy trì ổn định kinh tế vĩ mô là làm giảm những biến động ngắn hạn trongnền kinh tế, khuyến khích tăng trưởng bền vững, lâu dài

Trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, yếu tố hàng đầu là ổn định tiền tệ

và biểu hiện là ổn định tỉ giá hối đoái, ổn định giá cả, lãi suất Thông qua đó tácđộng tích cực đến tăng trưởng và phát triển kinh tế, và có ý nghĩa hết sức quantrọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước

Trang 9

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) CỦA VIỆT NAM

SAU KHI GIA NHẬP WTO

II.1.Cơ hội và thách thức đối với FDI từ hiệu ứng gia nhập WTO:

Việc Việt Nam ra nhập WTO và hiệu ứng từ gia nhập WTO đã đẩy lànsóng FDI vào Việt Nam lên cao, thế nhưng Việt Nam còn có một tiềm năng lớn

để thu hút FDI ở mức độ cao hơn nhiều Điều này đã được minh chứng trongkhảo sát triển vọng đầu tư thế giới của UNCTAD 2007-2009, trong đó Việt Namđược xếp thứ 6 trong số nền kinh tế hấp dẫn nhất để đưa FDI vào

Tiềm năng này có thể trở thành hiện thực nếu Việt Nam tiếp tục có nhữngkhuôn khổ và chính sách thích hợp trong thu hút FDI Có nhiều biểu hiện chothấy rằng Việt Nam hiện đang đi theo hướng đó với việc nghiêm túc thực hiệncác cam kết gia nhập WTO

* Vốn FDI đã tập trung vào lĩnh vực cần thiết

Năm 2007, tính chung cả cấp mới và tăng vốn, thu hút nguồn vốn FDI đạt 20,3 tỷ USD, tăng gần 70% so với năm 2006, gần bằng tổng mức FDI trong 20 năm qua, kể từ khi có Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987 đến nay

Nổi bật trong thu hút nguồn vốn FDI năm 2007 là các dự án đầu tư đã tậptrung vào các lĩnh vực mà Việt Nam ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài để phục

vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như các dự án công nghệcao, khu đô thị mới, hiện đại Điều này phù hợp với định hướng thu hút FDI củaViệt Nam trong giai đoạn 2006-2010

II.1.1 Cơ hội:

Sau một năm trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đã đạtđược những thành tựu lớn về KTXH, đã và đang tạo ra môi trường kinh doanhthuận lợi, những cơ hội đầu tư mới cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Việc

Trang 10

Việt Nam trở thành thành viên chính thức WTO cũng đã và đang mở ra những cơhội mới trong thu hút FDI.

Trước hết, việc gia nhập WTO đã tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt

Nam tham gia thị trường xuất khẩu hàng hóa quốc tế một cách bình đẳng, gópphần khắc phục trở ngại về thị trường mà lâu nay các doanh nghiệp Việt Nam, kể

cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường gặp phải Điều đó đã tạo điềukiện thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư tại Việt Nam đểxuất khẩu ra thế giới

Thứ 2, Việt Nam cam kết mở cửa 11/12 ngành dịch vụ, gồm 110 phân

ngành theo quy định của WTO, trong đó có một số ngành quan trọng như: dịch

vụ viễn thông, bảo hiểm, ngân hàng, chứng khoán, vận tải, bảo hộ sở hữu trítuệ Điều này đã tạo điều kiện thu hút FDI vào lĩnh vực kinh doanh dịch vụ tạiViệt Nam và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư lâu dài

ở Việt Nam

Thứ ba, việc gia nhập WTO cũng đòi hỏi Việt Nam tiếp tục xây dựng môi

trường pháp lý hoàn chỉnh và minh bạch hơn Việt Nam đã cam kết kể từ khi gianhập WTO sẽ tuân thủ toàn bộ các hiệp định quan trọng của WTO liên quan đếnchính sách tài chính, tiền tệ, doanh nghiệp nhà nước, quyền kinh doanh, trợ cấp,các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs), tuân thủ nguyên tắckhông phân biệt đối xử của WTO (trừ một số ngoại lệ), loại bỏ toàn bộ các biệnpháp hạn chế số lượng nhập khẩu, bãi bỏ chế độ hai giá, bãi bỏ áp dụng tỉ lệ xuấtkhẩu bắt buộc đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Điều này(được thể hiện trong Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp mới cùng các văn bảnhướng dẫn) sẽ thúc đẩy mở cửa các ngành kinh tế và tăng tính hấp dẫn của ViệtNam đối với đầu tư nước ngoài

Thứ tư, việc gia nhập WTO tạo điều kiện thúc đẩy nâng cao hiệu quả và

sức cạnh tranh của nền kinh tế của doanh nghiệp và của sản phẩm Việt Nam.Đồng thời, việc sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO cũng tạo thêmlòng tin cho các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

Trang 11

Có thể khẳng định rằng, việc Việt Nam trở thành thành viên chính thứccủa WTO tiếp tục có tác động lớn làm cho dòng vốn FDI tăng cao trong năm

2007, 2008 và sẽ tiếp tục tăng trưởng Bên cạnh sự tăng lên mạnh mẽ về số lượng

dự án đầu tư nước ngoài cũng như về vốn đăng ký mới, các dự án đầu tư mớitrong thời gian tới sẽ hướng dần đến những ngành, lĩnh vực công nghệ cao, côngnghệ nguồn, gia tăng xuất khẩu, tạo việc làm, các dự án sản xuất các sản phẩm,dịch vụ có sức cạnh tranh, các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng

Hiện Chính phủ Việt Nam đang chuẩn bị các điều kiện thuận lợi nhất choviệc thu hút ở mức cao nhất và sử dụng có hiệu quả nhất dòng vốn FDI đang tăngmạnh tại Việt Nam, trong đó có việc thực hiện có hiệu quả và đúng lộ trình cáccam kết song phương và đa phương trong quá trình hội nhập quốc tế; tiếp tụchoàn thiện cơ chế thị trường, cải cách thủ tục hành chính, hệ thống tài chính,ngân hàng; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, khắc phục các yếu kém về kếtcấu hạ tầng và phát triển ngành công nghiệp phụ trợ."

* Nhà đầu tư đã thấy an tâm?

Năm 2007, số lượng các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam

là 1.445 dự án, tăng gấp đôi so với năm 2006 Tổng số tiền đầu tư (bao gồm cảcác khoản đầu tư mới, đầu tư mở rộng) là 20,3 tỷ USD, đây là con số lớn nhấtcho tới nay Những con số này cho thấy sự lớn mạnh ngạc nhiên của đầu tư nướcngoài vào Việt Nam trong năm 2007 Thế nhưng khó có thể chỉ dựa vào sự giatăng một cách đột ngột này để đánh giá và phán đoán được những công lao vàkhuyết điểm chỉ sau một năm gia nhập WTO

Trong tương lai gần, nếu xác định được những lợi nhuận trong việc gianhập WTO, các nhà đầu tư sẽ cảm thấy an toàn để thực hiện các hoạt động đầu tư

và sẽ cân nhắc xúc tiến đầu tư vào Việt Nam Điều này chắc chắn sẽ mang lạinhiều lợi nhuận cho Việt Nam

Trong suốt quá trình gia nhập WTO, Việt Nam đã nỗ lực rất lớn để đàmphán với các nước thành viên của WTO và cải thiện hệ thống pháp lý phù hợpvới tiêu chuẩn quốc tế được thiết lập bởi WTO như Luật Đầu tư, Luật Doanhnghiệp

Trang 12

Trong thời gian tới, Việt Nam nên chú ý nhiều hơn những vấn đề sau đây:

Hoàn thiện những việc chuyển giao như mở các lĩnh vực về dịch vụ; duy trì

và thực hiện khuyến khích về thuế với những máy móc công nghiệp kỹ thuật cao,cân nhắc lại về thuế với những máy móc ứng dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu;chắt lọc những mối quan hệ giữa WTO và những thoả thuận đầu tư song phương vớicác nước khác; cải thiện giáo dục và hệ thống đào tạo để đẩy mạnh những kỹ sư vàcông nhân tay nghề cao Bên cạnh đó, trong khi thiết lập dự thảo hoàn chỉnh choViệt Nam khi gia nhập WTO, những chuyên gia giỏi địa phương liên quan đến cácvấn đề đầu tư được đề nghị phải có thẩm quyền để tuyên bố rằng Việt Nam nên thựchiện những điều ghi trong dự thảo

Doanh nghiệp Nhật Bản, những đối tác đầu tư rất quan trọng của Việt Nam,cũng chú ý đến vai trò lớn lao của các chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực đầu tư,nắm giữ nhiều trọng trách với chính quyền địa phương và để thiết lập cơ cấu và tổchức trong đó tạo dựng cho các nhà đầu tư cảm giác an toàn khi quyết định đầu tưvào Việt Nam

Việt Nam tiếp tục là điểm đầu tư hấp dẫn

Năm 2006, khoảng 50 nền kinh tế thế giới đã đầu tư hơn 20 tỉ USD vàoViệt Nam FDI đã tăng mạnh, gấp đôi so với giai đoạn vừa qua chỉ trong vòng 1năm Trong số 50 nền kinh tế đầu tư vào Việt Nam thì Hàn Quốc là quốc giađứng đầu về FDI tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký 13 tỉ USD với 1837 dự ántính đến tháng 12/2007 Chỉ riêng trong năm 2007, Hàn Quốc đã đăng ký 4,4 tỉUSD tăng 1,5 lần so với 2006 và giữ vị trí FDI hàng đầu tại Việt Nam cả về sốlượng dự án và số vốn đầu tư

Trong lĩnh vực bất động sản và công nghiệp chủ chốt khác như nănglượng, hoá chất, hoá dầu, sản xuất thép và trong những năm tới Việt Nam sẽcòn tiếp tục chứng kiến sự tăng vọt của FDI bởi vì với một môi trường kinh tế-xãhội-chính trị ổn định

Việt Nam có những lợi thế về nhân công giá rẻ, môi trường đầu tư ngàycàng được cải thiện cũng như vị trí địa lí nằm ở trung tâm ASEAN Nền kinh tếViệt Nam được đánh giá là sẽ còn tiếp tục phát triển mạnh, và sự hội nhập vào

Trang 13

WTO sẽ định hướng cho Việt Nam trên con đường mở cửa thị trường của mìnhcho các công ty nước ngoài.

Yếu tố thứ hai là giá cả về cung cấp điện nước, các dịch vụ công của ViệtNam hiện nay như chi phí thuê đất, điện, viễn thông tăng nhanh trong một thờigian ngắn Yếu tố này cũng ảnh hưởng đến thu hút FDI, đặc biệt ở các thành phốlớn, nó làm cho các nhà đầu tư nước ngoài không cảm thấy thoải mái khi ở ViệtNam.Theo các chuyên gia nước ngoài, chi phí đầu tư của Việt Nam cao hơn mứcbình quân của một số nước ASEAN và Trung Quốc Ví dụ, giá điện cao hơn25%, giá nước: 71%, cước điện thoại quốc tế: 136%, giá cước hàng không và vậntải biển còn cao hơn nhiều Ngay như chi phí thuê lao động, giá thuê đất tuy đượccoi là thấp, song nếu tính thêm các chi phí liên quan như đào tạo, đền bù giảiphóng mặt bằng thì Việt Nam không còn lợi thế nữa Thêm vào đó là tình trạngthanh tra, kiểm tra doanh nghiệp tuỳ tiện, chồng chéo đang diễn ra khá phổ biến,gây tâm lý không an tâm đối với các nhà đầu tư Từ đó, khiến cho môi trườngđầu tư ở Việt Nam trước đây được coi là hấp dẫn, thông thoáng, thì nay đang mấtdần tính cạnh tranh và độ rủi ro tăng lên

Yếu tố thứ ba chính là nguồn nhân lực của Việt Nam Hiện nay các công

ty nước ngoài khi thâm nhập vào Việt Nam đang gặp phải vấn đề là công nhânthành thạo tiếng Anh còn rất kém, đặc biệt ở các vùng ngoại ô

Vấn đề khác nữa là thông tin về đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt là nhữngthông tin mang tính chuẩn xác cao về Việt Nam Đôi khi luật pháp của Việt Nam

Trang 14

được giải nghĩa và hiểu theo nhiều cách khác nhau Do đó, để thu hút hơn nữanguồn vốn FDI thì quá trình trao đổi thông tin cần được tăng cường hơn trongtương lai Nếu Việt Nam cải thiện tốt môi trường đầu tư của mình thì các nhà đầu

tư khác cũng sẽ mời gọi những người bạn của họ đầu tư vào các công ty của ViệtNam

II.1.3 Một số lợi thế của thị trường Việt Nam

Thứ nhất là môi trường kinh tế thuận lợi Năm 2007, FDI tăng gần 70% so

với 2006 đạt 20,3 tỉ USD Một trong những lợi thế để đạt được thành tích trên, đó

là chính sách và luật lệ thu hút FDI

Thứ hai là quy hoạch vùng, đặc biệt là quy hoạch khu công nghiệp của

Việt Nam hiện rất tốt; đưa ra nhiều khu công nghiệp để thu hút các nhà đầu tưnước ngoài Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, khu công nghiệp là một công cụtốt đối với họ, mọi thứ đều có sẵn ở đó, chính sách một cửa, sẵn điện, đất Cácnhà đầu tư nước ngoài dễ dàng ký được hợp đồng, đỡ nhức đầu Nếu đầu tư rangoài khu công nghiệp sẽ phức tạp hơn

Thứ ba, điều quan trọng là hạ tầng cơ sở, các tiện ích đem lại cho nhà đầu

tư Phải ghi nhận rằng đã có những cải thiện ở Việt Nam, Việt Nam đang xử línhững vấn đề này như xây cầu, đường rất nhiều ở Hà Nội và Tp.HCM Nhìn vàoquy hoạch của Chính phủ Việt Nam, kế hoạch xây dựng 30 cảng biển trong vòng

20 năm tới có thể làm được vì Việt Nam có bờ biển dài

Thứ 4 chính là nguồn nhân lực Nhân lực Việt Nam ham học hỏi, chăm

chỉ, và có tâm lí tốt Các nhà đầu tư nước ngoài khi đến cũng rất thích thú Tuynhiên, cũng có vấn đề đặt ra là thiếu các lao động có kỹ năng Do đó Việt Namcần đầu tư hơn nữa vào trường đào tạo nghề, trường đại học để đào tạo ra các nhàquản lí

Vấn đề cuối cùng là khuôn khổ pháp lý, thủ tục hành chính tại Việt Nam

cần phải được cải thiện hơn nữa, tất nhiên cũng đã có những thay đổi về LuậtĐầu tư, Luật Doanh nghiệp nhưng vẫn còn có khoảng trống gây khó khăn chonhà đầu tư

Trang 15

Ví dụ khi làm việc với Sở Môi trường liên quan đến Luật Đất đai, người talại giải thích Luật Đất đai không chính xác Luật quy đinh một đằng nhưng đôikhi thực hiện luật ở cấp địa phương lại một nẻo khác Hay liên quan đến WTO,

có những luật, quy chế cần phải cải tiến hơn nữa Tuy nhiên, Việt Nam cũng đãcam kết giải quyết vấn đề này mạnh mẽ."

Quan hệ kinh tế song phương Việt-Mỹ đã được cải thiện kể từ khi Hiệpđịnh Thương mại song phương (BTA) được ký kết sau 6 năm đàm phán BTAđược xây dựng trên cơ sở WTO đã trở thành trụ cột quan trọng để Việt Nam làthành viên WTO Nỗ lực bình thường hoá này đã được hiện thực khi Tổng thốngBush ký sắc lệnh về PNTR với Việt Nam vào tháng 12/2006 Khi Việt Namchính thức gia nhập WTO ngày 11/1/2007, Mỹ đã loại bỏ quota về hàng dệt may.Tháng 6/2007 hai bên cũng ký Hiệp định thương mại và đầu tư (TIFA)

Khủng hoảng tài chính châu Á đã quá xa với chúng ta Việt Nam hiện nayđang mong muốn có sự thành công trong việc tham gia WTO Xuất khẩu tăngmạnh mẽ Nền kinh tế bùng nổ Khu vực sản xuất và dịch vụ đã giúp cho đất nướcphát triển với mức độ nhanh nhất kể từ năm 1996, đạt 8,2% năm 2006 và 8,5%năm 2007; FDI nhảy từ 12 tỉ USD năm 2006 lên một con số kinh ngạc 20,3 tỉ vàonăm 2007 và hơn 64 tỷ vào 2008

Có sự nhảy vọt này là nhờ vào những nhà sản xuất hàng đầu về điện tử

Họ đã tận dụng lợi thế về giá nhân công rẻ của Việt Nam Việt Nam đang trởthành địa chỉ đầu tư mới trên thế giới Chính phủ tiếp tục cam kết mạnh mẽ cảicách kinh tế, tăng trưởng công nghiệp, khu vực sản xuất đang thực hiện tốt

Việt Nam cũng trở thành nơi nổi tiếng cho khách du lịch nước ngoài Tấtnhiên cũng có những thách thức mà Việt Nam gặp phải trong những năm tới Đó

là những tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO đối với vấn đề y tế, sứckhoẻ, đào tạo giáo dục, đô thị hoá

Việt Nam có dân số trẻ, 58% dân số Việt Nam dưới 30 tuổi Đến năm

2020, Việt Nam sẽ vượt qua Nhật Bản để trở thành nước đông dân thứ 4 ở châu

Á Lực lượng trung lưu ở thành thị cũng nổi lên Như vậy, chúng ta thấy người

Trang 16

Việt Nam đang rất lạc quan tin tưởng vào tương lai Hơn thế nữa, người ViệtNam có kiến thức, rất có năng lực để tiếp cận với công nghệ mới.

Tuy nhiên, hạ tầng cơ sở đóng vai trò rất quan trọng Do đó, chúng ta phải

có cơ sở hạ tầng được xây dựng trên cơ sở sử dụng những công nghệ tiên tiếnnhất

II 2.Thực trạng của đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam:

II.2.1 Nguồn vốn FDI năm 2007 đạt được 5 điểm vượt trội

Thứ nhất, tổng vốn đăng ký mới và bổ sung đạt trên 20 tỷ USD, cao nhất

tính từ năm 1988 (sau khi có Luật đầu tư nước ngoài) đến nay tăng tới 8 tỷ USD

so với năm trước, khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO) Lượng vốn bình quân một dự án mới đã đạtkhoảng 11 triệu USD, cao hơn con số tương ứng năm trước

Thứ hai, tỷ trọng lượng vốn đăng ký mới đầu tư vào nhóm ngành công

nghiệp - xây dựng tiếp tục đạt kỷ lục cao nhất, phù hợp với thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thànhnước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020

Thứ ba, trong hơn 50 nước và vùng lãnh thổ năm nay có dự án mới đầu tư

vào nước ta, đã có hơn 15 nước và vùng lãnh thổ đạt trên 100 triệu USD, trong

đó nhiều nhất là Hàn Quốc, Quần đảo Virgin thuộc Anh, Singapore, vùng lãnhthổ Đài Loan, Nhật Bản, Ấn Độ, CHND Trung Hoa, Đặc khu kinh tế Hồng Kông(Trung Quốc), Mỹ, Thái Lan, Pháp, Malaysia

Thứ tư, trong 51 tỉnh/thành phố có dự án đầu tư mới đã có 10 địa bàn đạt

trên 500 triệu USD, trong đó nhiều nhất là Tp.HCM, Phú Yên, Bà Rịa-Vũng Tàu,Bình Dương, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Long An, Đà Nẵng, Hậu Giang, Thừa Thiên-Huế

Thứ năm, lượng vốn thực hiện cũng đạt kỷ lục từ trước tới nay Năm nay

có thể đạt 4,6 tỷ USD, cao hơn mức 3,956 tỷ USD của năm trước, cao hơn mứcbình quân năm của thời kỳ 1988-1995 (0,815 tỷ USD), của thời kỳ 1996- 2000(2,589 tỷ USD) và của thời kỳ 2001- 2005 (2,77 tỷ USD)

Trang 17

Sau 1 năm gia nhập WTO, thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc với 20,3 tỉ USD vốn đăng ký (2007)

Trong năm 2007, Việt Nam có hơn 1.400 dự án đầu tư nước ngoài mớiđược cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt gần 18 tỷUSD Đồng thời có khoảng 380 lượt dự án đầu tư đang hoạt động đăng ký tăngvốn, với tổng vốn tăng thêm đạt 2,4 tỷ USD Tính chung, thu hút FDI đạt 20,3 tỷUSD, tăng gần 70% so với năm 2006, gần bằng tổng mức đầu tư nước ngoài của

5 năm 2001-2005 và chiếm tới gần 20% tổng vốn đầu tư nước ngoài trong 20năm qua Sau một năm trở thành thành viên của WTO, Việt Nam đã đạt đượcnhững thành tựu lớn về kinh tế - xã hội, đã và đang tạo ra môi trường kinh doanhthuận lợi, những cơ hội đầu tư mới cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước ViệcViệt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO cũng mở ra những cơ hộimới trong thu hút đầu tư nước ngoài

Ngay từ năm 2006, khi nắm được thông tin Việt Nam sẽ gia nhập WTO,nhiều nhà đầu tư đã “đón đầu” sự kiện nên đã tích cực đầu tư vào Việt Nam.Chính vì thế, ngay trong năm 2006, FDI đã tăng mạnh và đặc biệt năm 2007, saumột năm gia nhập WTO, FDI đã tăng từ 10,2 tỉ USD lên 20,3 tỉ USD

Một thành công nữa là Việt Nam đã thu hút được các tập đoàn lớn vàokinh doanh tại Việt Nam Điều đó đã tạo ra uy thế cho Việt Nam cũng như giá trịsản phẩm trên trường quốc tế Hiện có trên 110 các tập đoàn đa quốc gia (TNCs)trong danh sách 500 tập đoàn đa quốc gia lớn nhất thế giới (do tạp chí uy tínFortune 500 công bố) đã đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký là 11,09 tỉUSD, chiếm một tỉ trọng lớn, 20% tổng vốn FDI của cả nước Các tập đoàn nàyđầu tư vào các lĩnh vực giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của ViệtNam Ví dụ như trong lĩnh vực dầu khí có BP, Statoil, ConocoPhilips, Petronas,Chevron; điện năng lượng có BP, EDF, Tokyo Electric, AES; ôtô-xe máy cóHonda, Toyota, DaimlerCrysler, Yamaha ; điện tử có Sony, Matsushita,Samsung, Toshiba, Cannon

Thu hút vốn FDI của Việt Nam sở dĩ có được thành tựu nổi bật như vậy,mấu chốt là sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên WTO, môi trường

Trang 18

quốc tế đã thuận lợi hơn cho Việt Nam phát triển Bên cạnh đó, thị trường trongnước nói chung và thị trường tiêu dùng của Việt Nam nói riêng không ngừng mởrộng và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh

Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng vọt:

Việt Nam thu hút được 2,65 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)trong hai tháng đầu năm, mức tăng 39% so với cùng kỳ năm ngoái

Theo thông tin Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư, 2,5 tỷ USD được dành cho 72 dự

án mới, số còn lại dành cho 17 dự án đang thực hiện Phần lớn các dự án tậptrung vào lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và nông ngư nghiệp

Cũng theo thông tin từ Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư, Việt Nam bước vào nămmới với một số dự án quy mô lớn Đáng chú ý nhất là dự án xây dựng khu tổ hợpkhách sạn giải trí tại Bà Rịa – Vũng Tàu với tổng số vốn đầu tư 1,29 tỷ USD bởitập đoàn Good Choice có trụ sở tại Mỹ, ngoài ra là một dự án với tổng vốn đầu tư

610 triệu USD cho lĩnh vực sản xuất phần mềm và phát triển nhân lực cho ngànhcông nghệ thông tin của một số công ty Nhật Bản

Với dự án có vốn đầu tư 1,29 tỷ USD, chiếm một nửa trong tổng số vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu dẫn dầu cảnước về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong hai tháng đầu năm 2008 Giaiđoạn trên đây cũng là giai đoạn tăng trưởng đáng kể của các doanh nghiệp có vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, trong hai tháng qua lợi nhuận tổngcộng là 4,9 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm ngoái

Năm 2007 khép lại với con số thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) của cả năm đầy ấn tượng: 20,3 tỷ USD Con số này càng ý nghĩa hơn khiViệt Nam đang chuẩn bị kỷ niệm 20 năm thực thi Luật Đầu tư nước ngoài (1988

- 2008)

Kế hoạch thu hút FDI được đặt ra cho năm 2007 là 13 tỷ USD, thế nhưng

số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) vừa đượccông bố cho thấy, 12 tháng qua, cả nước đã thu hút được 20,3 tỷ USD vốn đầu tưđăng ký bao gồm cả cấp mới và tăng vốn, tăng 69,1% so với cùng kỳ năm trước,vượt 56% kế hoạch dự kiến

Trang 19

Tổng vốn thực hiện cũng đạt kết quả khả quan là 4,6 tỷ USD, tăng 12,2%

so với cùng kỳ năm trước, vượt 2,2% kế hoạch năm đề ra (4,5 tỷ USD)

Trong 12 tháng, cả nước đã có 1.406 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu

tư với tổng vốn đầu tư đăng ký lên 17,6 tỷ USD, tăng 68,8% về số dự án và 94%

về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước Số lượt dự án tăng vốn trong 12 thángqua cũng đạt 361 lượt dự án với tổng vốn tăng thêm hơn 2,65 tỷ USD, bằng74,3% về số dự án và 91,2% về vốn bổ sung so với cùng kỳ năm 2006

Năm 2007, mặc dù chịu tác động của một số yếu tố không thuận lợi, đặcbiệt là sự cạnh tranh gay gắt trong thu hút đầu tư nước ngoài, nhưng một lần nữa,đầu tư nước ngoài lại đem đến những tín hiệu vui cho nền kinh tế

Bên cạnh vốn thực hiện của các doanh nghiệp FDI vượt kế hoạch 2,2%,doanh thu của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong năm 2007 đạt 39,6 tỷUSD, tăng 34,8% so với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu cũng đạt 19,7 tỷ USD,tăng 37,6% so với cùng kỳ năm 2006 Quy mô vốn đầu tư trung bình của mỗi dự

án thời gian qua đạt gần 11 triệu USD, cao hơn mức bình quân cùng kỳ nămtrước

Đặc biệt, trong số các dự án mới cấp phép, có một số dự án có quy mô vốnđầu tư đăng ký lớn như dự án xây dựng nhà máy lọc dầu Vũng Rô tại Phú Yên,tổng vốn đầu tư 1,7 tỷ USD

Đáng chú ý là nhiều nhà đầu tư đặc biệt quan tâm đến những dự án bấtđộng sản Kiên Giang đang chuẩn bị mặt bằng cho dự án Hòn ngọc châu Á tạiPhú Quốc với quy mô 2 tỷ Euro của Tập đoàn uỷ thác Trustee Suisse (Thụy Sĩ).Tp.HCM cũng đã ký biên bản ghi nhớ với nhà đầu tư Berjaya Land Berhad,Malaysia xây dựng dự án Khu đô thị đại học quốc tế có quy mô vốn 3,5 tỷ USD

Hà Nội có thêm dự án xây dựng khách sạn - căn hộ cao cấp Keangnam của HànQuốc có vốn đầu tư 500 triệu USD cùng với dự án xây dựng cụm công trình côngviên, khách sạn tại khu vực hồ Yên Sở của Malaysia với tổng vốn đầu tư lên 2 tỷUSD

Năm 2007 cũng là năm "được mùa" của lĩnh vực công nghệ cao với việctriển khai nhiều dự án lớn, trong đó phải kể đến Công ty Compal xây dựng tại

Trang 20

Vĩnh Phúc nhà máy sản xuất linh kiện điện tử, máy vi tính và thiết bị ngoại vi vớivốn đầu tư 500 triệu USD; Công ty TNHH Jabil (Singapore) sản xuất bản mạch

in với tổng vốn 100 triệu USD tại thành phố Hồ Chí Minh; Hai nhà máy côngnghệ cao của Foxconn (Đài Loan) ở Bắc Ninh có tổng vốn 80 triệu USD

Điểm nhấn trong hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2007 làviệc phân cấp mạnh mẽ về cho các địa phương Tính đến nay, có 60 địa phươngtrong cả nước đã thực hiện việc cấp giấy phép đầu tư cho các dự án FDI theo cácđiều kiện phân cấp tại địa bàn

Đặc biệt, trong thời gian qua, đầu tư nước ngoài đã góp phẩn thay đổi cụcdiện, gương mặt và đời sống kinh tế, xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế củanhiều địa phương từ một tỉnh thuần nông trở thành tỉnh công nghiệp phát triểnnăng động và hiệu quả như Vĩnh Phúc, Bình Dương

II.2.2 FDI vào Việt Nam năm 2008 cao nhất từ trước đến nay

Theo Cục Đầu tư Nước ngoài - Bộ Kế hoạch - Đầu tư đã có con số sơ bộ

về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trong năm 2008 Theo

đó, tổng vốn FDI đăng năm 2008 đã đạt hơn 64 tỷ USD, gấp gần ba lần năm2007

Đây là mức thu hút vốn FDI kỷ lục từ trước đến nay của Việt Nam Điềunày càng có ý nghĩa trong trong bối cảnh kinh tế toàn cầu khủng hoảng

Cụ thể, trong tháng 12/2008, cả nước đã cấp mới thêm 112 dự án FDI vớitổng số vốn đăng ký đạt 1,17 tỷ USD

Tính chung từ đầu năm, đã có tổng số 1.171 dự án FDI được cấp phép đầu

tư vào Việt Nam với tổng số vốn đăng ký đạt hơn 60,2 tỷ USD, tăng 222% sovới năm 2007 Bên cạnh đó, trong năm 2008, có 311 dự án đăng ký tăng vốn,tổng số vốn tăng thêm đạt 3,74 tỷ USD

Trong các lĩnh vực đầu tư, vốn FDI tập trung chủ yếu vào lĩnh vực côngnghiệp và xây dựng, gồm 572 dự án với tổng vốn đăng ký 32,62 tỷ USD, chiếm48,85% về số dự án và 54,12% về vốn đầu tư đăng ký Lĩnh vực dịch vụ có 554

dự án, tổng vốn đăng ký 27,4 tỷ USD, chiếm 47,3% về số dự án và 45,4% về vốnđầu tư đăng ký Số còn lại thuộc lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp

Ngày đăng: 05/08/2013, 14:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w