1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp và kiến nghị phát triển dịch vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển ở Việt Nam.

66 779 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Và Kiến Nghị Phát Triển Dịch Vụ Bảo Hiểm Hàng Hoá Xuất Nhập Khẩu Bằng Đường Biển Ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Thảo
Người hướng dẫn Th.S. Phạm Xuân Hoà
Trường học Viện Chiến Lược Phát Triển Kinh Tế Xã Hội
Chuyên ngành Kinh Tế Phát Triển
Thể loại Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 465 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp và kiến nghị phát triển dịch vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển ở Việt Nam.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm qua nền kinh tế nước ta đã có những bước tăng trưởng đáng khích lệ Đóng góp vào thành công chung đó không thể không kể đến vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu Hoạt động xuất nhập khẩu tăng nhanh nên nhu cầu bảo hiểm đối với hàng hoá xuất nhập khẩu ngày càng lớn và do hoạt động bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu đã trở thành tập quán trong hoạt động ngoại thương nên nghiệp vụ này vẫn là nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp bảo hiểm Mặt khác, trao đổi buôn bán hàng hoá xuất nhập khẩu hiện nay vẫn được vận chuyển chủ yếu bằng đường biển do ưu điểm của loại hình vận chuyển này Vì vậy, việc phát triển hoàn thiện các vấn đề về nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển là một yêu cầu quan trọng trong sự phát triển của mỗi doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng và trong toàn bảo hiểm nói chung, nhất là trong điều kiện thị trường trong nước và quốc tế có sự cạnh tranh như hiện nay.Mặt khác hàng hóa vận chuyển bằng đường biển thường gặp nhiều rủi ro, trách nhiệm của người chuyên chở lại rất hạn chế và việc khiếu nại bồi thường lại rất khó khăn; việc mua bảo hiểm bảo vệ được nhiều lợi ích của doanh nghiệp khi có tổn thất và tạo ra tâm lý an tâm trong kinh doanh; Vì vậy, việc phát triển thị trường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển là rất cần thiết

Trong thời gian thực tập ở ban dịch vụ- Viện chiến lược phát triển kinh tế

xã hội và được sự hướng dẫn của thầy giáo Phạm Xuân Hoà em đã chọn đề tài

“ Một số giải pháp phát triển dịch vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển ở Việt Nam.” để làm chuyên đề thực tập của mình

Nội dung của chuyên đề ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo được chia thành 3 chương

Trang 2

Chương I: Lý thuyết về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển.

Chương II: Thực trạng về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển ở Việt Nam

Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị phát triển dịch vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển ở Việt Nam

Do thời gian thực tập không nhiều và còn hạn chế trong lý luận cũng như kinh nghiệm thực tế nên đề tài không tránh khỏi thiếu sót nhất định Em rất mong nhận được sự đóng góp và ý của các thầy cô

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

Năm 1182 ở Lomborde - Bắc Ý, hợp đồng bảo hiểm hàng hóa đã ra đời trong đó người bán đơn này cam kết với khách hàng sẽ thực hiện nội dung

đã ghi trong đơn Từ đó hợp đồng bảo hiểm, người bảo hiểm đã ra đời với tư cách như là một nghề riêng độc lập

Năm 1468 tại Venise nước Ý đạo luật đầu tiên về bảo hiểm hàng hải

đã ra đời Sự phát triển của thương mại hàng hải đã dẫn đến sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của bảo hiểm hàng hải và hàng loạt các thể lệ, công ước quốc

Trang 4

tế liên quan đến thương mại và hàng hải như: Mẫu hợp đồng bảo hiểm của Lloy’d 1776 và luật bảo hiểm của Anh năm 1906, công ước Brucxen năm

1924, Hague Víby năm 1986, … Các điều khoản về bảo hiểm ngày càng hoàn thiện

Ở Việt Nam, thời kỳ đầu nhà nước giao cho một công ty chuyên môn trực thuộc Bộ Tài chính kinh doanh bảo hiểm đó là công ty Bảo hiểm Việt Nam nay là Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam Công ty Bảo hiểm Việt Nam được thành lập ngày 17/12/1964 theo quyết định số 179/ CP và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/1/1965

Trước năm 1964 Bảo Việt chỉ làm đại lý bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu cho công ty Bảo hiểm nhân dân Trung Quốc trong trường hợp mua theo giá FOB, CF và bán theo giá CIF với mục đích là học hỏi kinh nghiệm

Từ năm 1965 – 1975 Bảo Việt mới triển khai ba nghiệp vụ bảo hiểm đối ngoại trong đó có bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu Từ sau 1970 Bảo Việt có quan hệ tái bảo hiểm với Liên Xô, Ba Lan, Triều Tiên Trước đó Bảo Việt chỉ có quan hệ bảo hiểm với Trung Quốc

Từ năm 1975 – 1992 Bảo Việt đã triển khai thêm nhiều nghiệp vụ

và mở rộng phạm vi hoạt động Từ chỗ chỉ có quan hệ tái bảo hiểm với một số nước xã hội chủ nghĩa cũ thì trong thời kỳ này Bảo Việt đã có quan hệ đại lý, giám định, tái bảo hiểm với hơn 40 nước trên thế giới Năm 1965 khi Bảo Việt

đi vào hoạt động, Bộ tài chính đã ban hành quy tắc chung về Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển Gần đây, để phù hợp với sự phát triển thương mại và ngành hàng hải của đất nước, Bộ tài chính đã ban hành quy tắc chung mới – Quy tắc chung 1990 cùng với luật hàng hải Việt Nam Quy tắc chung này là cơ sở pháp lý chủ yếu điều chỉnh các vấn đề về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển

Trang 5

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang có những bước phát triển mạnh mẽ, xuất phát từ yêu cầu bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định thu hút vốn đầu tư nước ngoài thì việc đa dạng hoá các loại hình kinh doanh bảo hiểm là một đòi hỏi thiết thực Để đáp ứng yêu cầu cấp bách trên, Nghị định 100/CP của Chính phủ về hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã được ban hành ngày 18/12/1993 đã tạo điều kiện cho nhiều công ty bảo hiểm Việt Nam đã bắt đầu phát triển với sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty, nghiệp

vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vẫn là một nghiệp vụ truyền thống mà các nhà bảo hiểm Việt Nam vẫn duy trì và phát triển với các biện pháp, chiến lược, sách lược giành thắng lợi trong cạnh tranh

II Vai trò của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu.

1 Khái niệm bảo hiểm

1.1 Định nghĩa.

Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người tham gia bảo hiểm trong từng trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện người tham gia nộp một khoản phí cho chính anh ta hoặc cho người thứ ba Điều này có nghĩa là người tham gia chuyển giao rủi

ro cho người bảo hiểm bằng cách nộp khoản phí để hình thành quỹ dự trữ Khi người tham gia gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, người bảo hiểm lấy quỹ dự trữ trợ cấp hoặc bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia Phạm vi bảo hiểm là những rủi ro mà người tham gia đăng ký với người bảo hiểm

1.2 Phân loại bảo hiểm.

• Bảo hiểm xã hội

• Bảo hiểm thất nghiệp

• Bảo hiểm y tế

• Bảo hiểm thương mại

Trang 6

• Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển

• Bảo hiểm thân tàu thuỷ

• Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt

• Bảo hiểm hoạt động tham dò và khai thác dầu khí

• Bảo hiểm cháy

• Bảo hiểm tiền gửi, tiền cất giữ trong kho và trong quá trình vận chuyển

• Bảo hiểm trong nông nghiệp

• Bảo hiểm vật chất các phương tiện vận tải

• Bảo hiểm trách nhiệm

• Bảo hiểm con người

Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu là nghiệp vụ bảo hiểm mà đối tượng

là hàng hóa vận chuyển bằng đường biển Ðây là một trong số các nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải đã hình thành và phát triển từ rất sớm

2 Vai trò của ngành bảo hiểm.

Bảo hiểm nói chung mang lại những lợi ích kinh tế - xã hội thiết thực

- Trước hết bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho người tham gia trước tổn thất và rủi ro gây ra Rủi ro dù do thiên tai hay tai nạn bất ngờ đều gây thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến thu nhập, đời sống sản xuất kinh doanh của các cá nhân, doanh nghiệp tham gia bảo hiểm, chưa kể có lúc gây thiệt hại

về người Tổn thất đó sẽ được bảo hiểm trợ cấp hoặc bồi thường về tài chính

để người tham gia bảo hiểm nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định đời sống, sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác một cách bình thường Tác động này phù hợp với mục tiêu kinh tế nên thu hút được số đông người tham gia

- Bảo hiểm góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất, giúp cho cuộc sống con

Trang 7

người an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, giảm bớt lỗi lo cho mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp Khi đã tham gia bảo hiểm, cơ quan hoặc công ty bảo hiểm sẽ cùng với người tham gia thực hiện các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất rủi ro đã xảy ra Cơ quan, công ty bảo hiểm đóng góp tài chính một cách tích cực để thực hiện cá biện pháp hạn chế rủi ro như tuyên truyền, hướng dẫn các biện pháp phòng tránh tai nạn, mua sắm thêm các dụng cụ phòng cháy chữa cháy; cùng ngành giao thông làm các biển báo, các đường lánh nạn

- Bảo hiểm góp phần ổn định chi tiêu của ngân sách nhà nước Với quỹ bảo hiểm do các thành viên tham gia đóng góp, cơ quan, công ty bảo hiểm sẽ trợ cấp hoặc bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia để

họ khôi phục đời sống, sản xuất kinh doanh Như vậy ngân sách nhà nước không phải chi ra để trợ cấp cho các thành viên, các doanh nghiệp khi gặp rủi

ro, tất nhiên trừ trường hợp tổn thất có tính thảm hoạ, manh tính xã hội rộng lớn

- Bảo hiểm còn là phương thức huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội Dưới hình thức phí bảo hiểm, ngành bảo hiểm đã huy động được số lượng vốn khá lớn từ các đối tượng tham gia Số vốn đó ngoài chi trả trợ cấp hay bồi thường thiệt hại còn là nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế xã hội

- Bảo hiểm còn góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước thông qua hoạt động tái bảo hiểm Thị trường bảo hiểm nội địa và thị trường bảo hiểm quốc tế có mối quan hệ qua lại, thúc đẩy nhau phát triển thông qua hình thức phân tán rủi ro và chấp nhận rủi ro – hình thức tái bảo hiểm giữa các công ty các nước Như vậy, bảo hiểm vừa góp phần phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước, vừa góp phần ổn định thu chi ngoại tệ cho ngân sách

- Bảo hiểm thu hút một số lượng lớn số lao động nhất định của xã hội, góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp cho xã hội Đồng thời hoạt động bảo hiểm cũng góp phần giải quyết đời sống cho bộ phận lao động làm việc trong

Trang 8

ngành bảo hiểm; góp phần tạo ra một bộ phận tổng sản phẩm trong nước của quốc gia.

- Cuối cùng bảo hiểm là chỗ dựa tinh thần cho mọi người, mọi tổ chức kinh

tế xã hội; giúp họ yên tâm trong cuộc sống, sinh hoạt và trong hoạt động sản xuất kinh doanh

3 Vai trò của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển

Do đặc điểm của vận tải đường biển tác động đến sự an toàn cho hàng hoá được chuyên chở là rất lớn Vì vậy vai trò của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển càng được khẳng định rõ nét:

Một là: Hàng hoá xuất nhập khẩu phải vượt qua biên giới của một hay nhiều quốc gia người xuất khẩu và nhập khẩu lại ở xa nhau và thường không trực tiếp áp tải được hàng hoá trong quá trình vận chuyển do đó phải tham gia bảo hiểm cho hàng hoá Ở đây, vai trò của bảo hiểm là người bạn đồng hành với người được bảo hiểm

Hai là, vận tải đường biển thường gặp nhiều rủi ro tổn thất đối với hàng hoá vượt quá sự kiểm soát của con người Hàng hoá xuất nhập khẩu chủ yếu lại được vận chuyển bằng đường biển do đó phải tham gia bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển

Ba là: Theo hợp đồng vận tải người chuyên chở chỉ chịu trách nhiệm về tổn thất của hàng hoá trong một phạm vi và giới hạn nhất định Trên vận đơn đường biển, rất nhiều rủi ro các hàng tàu loại trừ không chịu trách nhiệm, ngay cả các công ước quốc tế cũng quy định mức miễn trách nhiệm rất nhiều cho người chuyên chở Vì vậy các nhà kinh doanh phải tham gia bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu

Bốn là: Hàng hoá xuất nhập khẩu thường là những hàng hóa có giá trị cao, những vật rất quan trọng với khối lượng rất lớn nên để có thể giảm bớt

Trang 9

thiệt hại do các rủi ro có thể xảy ra, việc tham gia bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu trở thành một nhu cầu cần thiết.

Năm là: Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu đã có lịch sử rất lâu đời do

đó việc tham gia bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển đã trở thành một tập quán, thông lệ quốc tế trong hoạt động ngoại thương

Như vậy việc tham gia bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển là rất quan trọng và ngày càng khẳng định vai trò của nó trong thương mại quốc tế

III Những nội dung cơ bản của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng

Trang 10

hoá được bảo hiểm Nếu người bán hàng mua bảo hiểm thì phải chuyển nhượng lại cho người mua hàng, để khi hàng về đến nước nhập, nếu bị tổn thất có thể khiếu nại đòi người bảo hiểm bồi thường.

- Hàng hoá xuất nhập khẩu thường được vận chuyển bằng các phương tiện khác nhau theo phương thức vận chuyển đa phương tiện trong đó có tàu biển Người vận chuyển hàng hoá đồng thời cũng là người giao hàng cho người mua Vì vậy người chuyên chở là bên trung gian phải có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc hàng hoá đúng quy cách, phẩm chất, số lượng từ khi nhận của người bán đến khi giao cho người mua hàng

Quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá có liên quan đến nhiều bên, trong đó

có bốn bên chủ yếu là: Người bán ( bên xuất khẩu ), người mua ( bên nhập khẩu ), người vận chuyển và người bảo hiểm Vì vậy, cần phải phân định rõ ràng trách nhiệm của các bên liên quan và khi tiến hành xuất nhập khẩu hàng hoá các bên liên quan phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình

1.2 Trách nhiệm của các bên liên quan.

Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá thường được thực hiện thông qua ba loại hợp đồng: Hợp đồng mua bán, hợp đồng vận chuyển và hợp đồng bảo hiểm Ba hợp đồng này là cơ sở pháp lý để phân định trách nhiệm các bên liên quan và trách nhiệm này phụ thuộc vào điều kiện giao hàng của hợp đồng mua bán Theo các điều kiện thương mại quốc tế “ INCOTERMS 2000” có 13 loại điều kiện giao hàng, được phân chia thành 4 nhóm E, F, C, D

Nhóm E : Giao hàng tại cơ sở của người bán

Nhóm F: Cước vận chuyển chính chưa trả

Nhóm C: Cước vận chuyển chính chưa trả

Nhóm D: Nơi hàng đến, tức người bán giao hàng tại nước người mua

Trang 11

Trong đó thông dụng nhất là điều kiện FOB( giao hàng lên tàu ), điều kiện CFR ( tiền hàng và cước phí ), điều kiện CIF( Tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí).

Trong các điều kiện giao hàng, ngoài phần giá hàng, tuỳ theo từng điều kiện

cụ thể mà có thể thêm cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm Có những điều kiện giao hàng mà người bán không có trách nhiệm thuê tàu vận chuyển và mua bảo hiểm cho hàng hoá Như vậy, tuy bán được hàng nhưng dịch vụ vận chuyển vào bảo hiểm sẽ do người mua đảm nhận (điều kiện FOB) Có trường hợp giao hàng theo điều kiện mà ngoài việc xuất khẩu được hàng hoá, người bán còn có trách nhiệm thuê tàu vận chuyển và bảo hiểm cho số hàng hoá (điều kiện CIF ) Thực tế, các tập đoàn kinh tế hoạt động trên nhiều lĩnh vực sản xuất, vận chuyển, bảo hiểm,… khi giao hàng theo điều kiện nhóm C và D, bên cạnh việc bán hàng còn giành cho họ dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm cho

số hàng đó Vì vậy, nếu nhập khẩu hàng theo điều kiện FOB, hay điều kiện CFR thì sẽ giữ được dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm, hay chỉ dịch vụ bảo hiểm Nếu trong hoạt động nhập khẩu, bán hàng theo giá CIF, người bán cũng giữ được dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm Như vậy sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành vận tải đường biển và ngành bảo hiểm của quốc gia đó Nói chung trách nhiệm của các bên liên quan được phân định như sau:

• Người bán: Chuẩn bị hàng hoá theo đúng hợp đồng về số lượng, chất lượng, loại hàng, bao bì đóng gói, thời hạn tập kết hang ở cảng; thủ tục hải quan, kiểm dịch Nếu bán theo giá CIF, người bán phải mua bảo hiểm cho hàng hoá, sau đó ký hậu vào đơn bảo hiểm để chuyển nhượng quyền lợi bảo hiểm cho người mua

• Người mua: Có trách nhiệm nhận hàng của người chuyên chở theo đúng

số lượng, chất lượng đã ghi trong hợp đồng vận chuyển và hợp đồng mua bán, lấy giấy chứng nhận kiểm đến, biên bản kết toán giao nhận hàng với chủ tàu,

Trang 12

biên bản hàng hoá hư hỏng đổ vỡ do tàu gây nên Nếu sai lệch về số lượng và chất lượng với hợp đồng mua bán nhưng đúng với hợp đồng vận chuyển thì người mua bảo lưu quyền khiếu nại đối với người bán Nếu phẩm chất, số lượng sai lệch so với biên bản giao hàng thì người mua căn cứ vào hàng hư hỏng đổ vỡ do tàu gây nên mà khiếu nại người vận chuyển Ngoài ra người mua có trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hoá hoặc nhận từ người bán chuyển nhượng lại.

• Người vận chuyển: Có trách nhiệm chuẩn bị phương tiện chuyên chở theo yêu cầu kỹ thuật thương mại và kỹ thuật hàng hải, giao nhận hàng đúng quy định theo hợp đồng vận chuyển Theo tập quán thương mại quốc tế thì tàu chở hàng cũng phải được bảo hiểm Người vận chuyển còn có trách nhiệm cấp vận đơn cho người gửi hàng Vận đơn là một chứng từ vận chuyển hàng trên biển do người vận chuyển cấp cho người gửi hàng nhằm nói lên quan hệ pháp lý giữa người vận chuyển, người gửi hàng và người nhận hàng Có nhiều loại vận đơn, nhưng ở đây cần quan tâm đến vận đơn hoàn hảo và vận đơn không hoàn hảo

• Người bảo hiểm: Có trách nhiệm đối với hàng hoá được bảo hiểm Chẳng hạn, kiểm tra chứng từ về hàng hoá, kiểm tra hành trình và bản thân con tàu vận chuyển… Khi xảy ra tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm, người bảo hiểm có trách nhiệm tiến hành giám định, bồi thường tổn thất

và đòi người thứ ba nếu họ gây tổn thất này

2 Các loại rủi ro và tổn thất trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển.

2.1 Rủi ro trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển

Rủi ro trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển là những rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển gây ra làm hư hỏng hàng hoá và phương tiện chuyên chở

Trang 13

Rủi ro hàng hải gồm nhiều loại:

• Theo nguyên nhân, rủi ro hàng hải bao gồm rủi ro do thiên tai, rủi ro do tai nạn bất ngờ trên biển và rủi ro do hành động của con người Ngoài ra còn rủi ro do lúc xếp dỡ hàng, hàng bị nhiễm mùi lây bẩn,…

- Rủi ro do thiên tai: Là những hiện tượng do thiên tai gây ra như biến động, bão, lốc, sét, thời tiết quá xấu… mà con người không chống lại được

- Rủi ro do tai nạn bất ngờ trên biển: Mắc cạn, đắm, bị phá huỷ, cháy,

nổ, mất tích, đâm va với tàu hoặc vật thể khác không phải là nước, phá hoại của thuyền trưởng, thuỷ thủ trên tàu

- Rủi ro do hành động của con người: Ăn trộm, ăn cắp hàng, mất cướp, chiến tranh, đình công, bắt giữ, tịch thu…

• Theo nghiệp vụ bảo hiểm: rủi ro thông thường được bảo hiểm, rủi ro

ko được bảo hiểm và rủi ro được bảo hiểm trong trường hợp đặc biệt

- Rủi ro thông thường được bảo hiểm: Bão, lốc, song thần, mắc cạn, đâm va …

- Rủi ro không được bảo hiểm: Các hành vi sai lầm cố ý của người được bảo hiểm, bao bì không đúng quy cách, vi phạm thể lệ xuất nhập khẩu hoặc vận chuyển chậm trễ làm mất thị trường, sụt giá…

- Rủi ro được bảo hiểm trong trường hợp đặc biệt: Rủi ro do chiến tranh, định công, bạo loạn… thường không được nhận bảo hiểm Trong trường hợp chủ hang yêu cầu rủi ro chiến tranh sẽ được nhận bảo hiểm kèm theo rủi ro thông thường được bảo hiểm với điều kiện trả thêm phụ phí đặc biệt

2.2 Tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển.

Tổn thất trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu là những thiệt hại hư hỏng của hàng hoá được bảo hiểm do rủi ro gây ra

 Nếu căn cứ theo quy mô,mức độ tổn thất có thể chia thành hai

Trang 14

loại: Tổn thất toàn bộ và tổn thất bộ phận.

• Tổn thất bộ phận là một phần của đối tượng được bảo hiểm theo một hợp đồng bảo hiểm bị mất mát,hư hỏng, thiệt hại.Tổn thất bộ phận có thể là tổn thất về số lượng, trọng lượng, thể tích, phẩm chất hoặc giá trị

• Tổn thất toàn bộ là toàn bộ đối tượng được bảo hiểm theo một hợp đồng bảo hiểm bị hư hỏng thiệt hại hoặc mất mát:

- Tổn thất toàn bộ thực tế : là toàn bộ đối tượng được bảo hiểm theo một hợp đồng bảo hiểm bị hư hỏng, mất mát, thiệt hại hoặc bị biến chất, biến dạng không còn như lúc mới được bảo hiểm hay bị mất đi, bị tước đoạt không lấy lại được nữa

- Tổn thất toàn bộ ước tính: là trường hợp đối tượng được bảo hiểm bị thiệt hại, mất mát chưa tới mức độ tổn thất toàn bộ thực tế, nhưng không thể tránh khỏi tổn thất toàn bộ thực tế; hoặc nếu bỏ thêm chi phí ra cứu chữa thì chi phí cứu chữa thì chi phí cứu chữa có thể lớn hơn hoặc bằng giá trị bảo hiểm

 Nếu phân theo trách nhiệm bảo hiểm thì tổn thất bao gồm tổn thất riêng và tổn thất chung

• Tổn thất riêng là tổn thất chỉ gây ra thiệt hại cho một hoặc một số quyền lợi của các chủ hang và chủ tàu trên một con tàu Tổn thất riên chỉ liên quan đến từng quyền lợi riêng biệt

• Tổn thất chung là những hi sinh hay chi phí đặc biệt được tiến hành một cách cố ý và hợp lý nhầm mục đích cứu tàu và hàng hoá chở trên tàu thoát khỏi một sự nguy hiểm chung

3 Điều kiện bảo hiểm trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.

Trang 15

Điều kiện bảo hiểm là những quy định phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm đối với tổn thất của hàng hoá Hàng được bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm nào, chỉ những rủi ro tổn thất quy định trong điều kiện đó mới được bồi thường.Sau đây là những điều kiện bảo hiểm.

• Institute cargo clauses C ( ICC- C ) - điều kiện bảo hiểm C

• Institute cargo clauses B ( ICC- B ) - điều kiện bảo hiểm B

• Institute cargo clauses A ( ICC - A ) - điều kiện bảo hiểm A

• Institute war clauses - điều kiện bảo hiểm chiến tranh

• Institute strikes clauses - điều kiện bảo hiểm đình công

3.1 Điều kiện bảo hiểm C ( ICC – C )

3.1.1 Rủi ro được bảo hiểm

- Cháy hoặc nổ

- Tàu hay xà lan bị mắc cạn, đắm hoặc lật úp

- Tàu đâm va nhau hoặc tàu, xà lan hay phương tiện vận chuyển đâm

va phải bất kỳ vật thể gì bên ngoài không kể nước hoặc bị mất tích

Trang 16

- Những chi phí mà người được bảo hiểm hoặc đại lý của họ đã chi nhằm phòng tránh hoặc giảm nhẹ tổn thất cho hàng hoá được bảo hiểm hoặc những chi phí kiện tụng để đòi người thứ ba bồi thường.

- Phần trách nhiệm mà người được bảo hiểm phải chịu theo điều khoản “ hai bên cùng có lỗi “ ghi trong hợp đồng vận tải

- Mìn, thuỷ lôi, bom hay những vũ khí chiến tranh khác đang trôi dạt

- Đình công, cấm xưởng, rối loạn lao động hoặc lao động

- Người đình công, công nhân bị cấm xưởng, người gây rối loạn lao động hoặc lao động, kẻ khủng bố hay hành động vì động cơ chính trị

- Việc sử dụng các vũ khí chiến tranh có dùng đến năng lượng nguyên

tử, hạt nhân hoặc chất phóng xạ

- Khuyết tật vốn có tính chất đặc biệt của hàng hoá bảo hiểm

- Hành động ác ý hay cố ý của bất cứ người nào

Trong mọi trường hợp, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với những mất mát, hư hỏng và chi phí do:

- Việc làm xấu cố ý của người được bảo hiểm

- Chậm chễ là nguyên nhân trực tiếp

- Tàu hay xà lan không đủ khả năng đi biển và do tàu, xà lan, phương tiện vận chuyển hoặc container không thích hợp cho việc chuyên chở hàng

Trang 17

hoá mà người được bảo hiểm hay người làm công cho họ đã biết về tình trạng

đó vào thời gian bốc xếp hàng hoá

- Bao bì không đầy đủ hoặc không thích hợp

- Hao hụt tự nhiên, hao mòn tự nhiên, dò chảy thông thường

- Chủ tàu, người quản lý tàu hoặc thuê tàu không trả được nợ hoặc thiếu thốn về mặt tài chính gây ra

3.2 Điều kiện bảo hiểm B ( ICC- B )

3.2.1 Rủi ro được bảo hiểm

Như điều kiện C và mở rộng thêm một số điều kiện sau:

- Động đất, núi lửa phun, sét đánh

- Nước cuốn khỏi tàu

- Nước biển, nước sông chảy vào tàu, xà lan, hầm hàng, phương tiện vận chuyển, container hoặc nơi chứa hàng

- Tổn thất toàn bộ của bất kỳ kiện hàng hoá nào do rơi khỏi tàu hoặc rơi trong khi xếp hàng lên hay đang dỡ hàng khỏi tàu hoặc xà lan

3.2.2 Những tổn thất, chi phí và trách nhiệm khác

Như điều kiện C

3.2.3 Rủi ro loại trừ

Như điều kiện C

3.3 Điều kiện bảo hiểm A ( ICC- A )

3.3.1 Rủi ro được bảo hiểm

Theo điều kiện này, người bảo hiểm phải chịu trách nhiệm về mọi rủi ro gây

ra mất mát hư hỏng cho hàng hoá bảo hiểm trừ những rủi ro đã được loài trừ Rủi ro được bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm này bao gồm cả rủi ro chính ( tàu mắc cạn, đắm, cháy, đâm va nhau, đâm va phải những vật thể khác, mất tích ) và những rủi ro phụ ( hư hỏng, đổ vỡ, cong, bẹp, gỉ, hấp hơi, thiếu hụt,

Trang 18

trộm cắp, không giao hàng ) do tác động ngẫu nhiên bên ngoài trong quá trình vận chuyển xếp dỡ, giao nhận vận chuyển, lưu kho hàng hoá.

3.3.2 Những tổn thất, chi phí và trách nhiệm khác

Như điều kiện B, C

3.3.3 Rủi ro loại trừ

Như điều kiện B, C; loại trừ thiệt hại do hành động ác ý gây ra

3.4 Điều kiện bảo hiểm chiến tranh.

Theo điều kiện này, người bảo hiểm phải bồi thường những mất mát,

hư hỏng của hàng hoá do:

- Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, nổi loạn, khởi nghĩa hoặc xung đột dân sự xảy ra từ những biến cố đó hoặc bất kỳ hành động thù địch nào

- Chiếm đoạt, bắt giữ, kiềm chế hoặc cầm giữ

- Mìn, thuỷ lôi, bom hoặc các vũ khí chiến tranh khác

- Tổn thất chung và chi phí cứu nạn

Phạm vi không gian và thời gian bảo hiểm đối với rủi ro chiến tranh hẹp hơn các rủi ro thông thường Bảo hiểm bắt đầu có hiệu lực khi hàng hoá được xếp lên tàu biển và kết thúc khi được dỡ khỏi tàu tại cảng cuối cùng hoặc khi hết hạn 15 ngày kể từ nửa đêm ngày tàu đến cảng dỡ cuối cùng, tuỳ theo diều kiện nào xảy ra trước Nếu có chuyển tải, bảo hiểm vẫn tiếp tục có hiệu lực cho đến khi hết hạn 15 ngày kể từ nửa đêm ngày tàu đến cảng chuyển tải

Đối với rủi ro mìn và ngư lôi trách nhiệm của người bảo hiểm được mở rộng ra cả khi hàng hoá còn ở trên xà lan để vận chuyển ra tàu hoặc từ tàu vào

bờ nhưng không vượt quá 60 ngày kể từ ngày dỡ hàng khỏi tàu, trừ khi có thoả thuận đặc biệt khác

3.5 Điều kiện bảo hiểm đình công.

Trang 19

Theo điều kiện này, chỉ bảo hiểm cho những mất mát, hư hỏng của hàng hoá được bảo hiểm do:

- Người đình công, công nhân bị cấm xưởng hoặc những người tham gia gây rôi loạn lao động, bạo động hoặc nổi dậy

- Hành động khủng bố hoặc vì mục đích chính trị

- Tổn thất chung và chi phí cứu nạn

Người bảo hiểm chỉ bồi thường những tổn thất do hành động trực tiếp của những người đình công mà không chịu trách nhiệm về những thiệt hại do hậu quả của đình công gây ra

3.6 Trách nhiệm của bảo hiểm về mặt không gian và thời gian.

Bảo hiểm này bắt đầu có hiệu lực kể từ khi hàng dời khỏi kho hay nơi chứa hàng tại địa điểm có ghi trên hợp đồng bảo hiểm để bắt đầu vận chuyển, tiếp tục có hiệu lực trong quá trình vận chuyển bình thường và kết thúc tại một trong các thời điểm sau

 Khi giao hàng vào kho hay nơi chứa hàng cuối cùng của người nhận hàng hoặc một người nào khác tại nơi nhận có ghi tên trong hợp đồng bảo hiểm

 Khi giao hàng cho bất kỳ kho hay nơi chứa hàng nào khác, dù trước khi tới hay tại nơi nhận hàng ghi trong hợp đồng bảo hiểm mà người được bảo hiểm dùng làm: nơi chia hay phân phối hàng hoặc nơi chứa hàng ngoài hành trình vận chuyển bình thường

 Khi hết hạn 60 ngày kể từ khi hoàn thành việc dỡ hàng khi tàu biển tại cảng dỡ cuối cùng ghi trên đơn bảo hiểm

Trong quá trình vận chuyển nói trên nếu xảy ra chậm chễ ngoài sự kiểm soát của người được bảo hiểm, tàu đi chệch hướng dỡ hàng bắt buộc, chuyển tải ngoại lệ hoặc thay đổi hành trình thì hợp đồng bảo hiểm vẫn giữ

Trang 20

nguyên hiệu lực với điều kiện người được bảo hiểm phải thông báo cho người bảo hiểm biết về việc xảy ra và phải trả thêm phí bảo hiểm nếu có yêu cầu.

4 Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.

4.1 Khái niệm.

Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển là một văn bản trong đó người mua bảo hiểm cam kết sẽ bồi thường cho người tham gia bảo hiểm các tổn thất của hàng hoá theo các điều kiện bảo hiểm đã ký kết, còn người tham gia bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm

4.2 Các loại hợp đồng bảo hiểm.

Trong hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển người ta chia ra làm hai loại hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng bảo hiểm chuyến

và hợp đồng bảo hiểm bao:

 Hợp đồng bảo hiểm chuyến: Là hợp đồng bảo hiểm cho một chuyến hàng được vận chuyển từ địa điểm này đến một địa điểm khác ghi trong hợp đồng bảo hiểm Người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm về hàng hoá trong phạm

vi một chuyến Hợp đồng bảo hiểm chuyến thường được trình bày dưới hình thức đơn bảo hiểm hay giấy chứng nhận bảo hiểm do người bảo hiểm cấp Đơn bảo hiểm chính là một hợp đồng bảo hiểm chuyến đầy đủ Nội dung gồm hai phần: mặt trước và mặt sau của đơn bảo hiểm Mặt trước thường ghi các chi tiết về hàng, tàu, hành trình Mặt sau thường ghi các điều lệ hay các quy tắc bảo hiểm của công ty bảo hiểm Nội dung của hợp đồng bảo hiểm chuyến chủ yếu bao gồm:

- Ngày cấp đơn bảo hiểm và nơi ký kết hợp đồng bảo hiểm

- Tên, địa chỉ, số tài khoản của người bảo hiểm và người được bảo hiểm

Trang 21

- Tên hàng hoá được bảo hiểm, quy cách, số lượng, chủng loại

- Tên tàu, số hiệu, cờ, dung tích của tàu vận chuyển

- Cảng khởi hành, cảng đích, cảng chuyển tải ( nếu có )

- Giám định viên và phương thức bồi thường

v.v

Hợp đồng bảo hiểm chuyến có thể là hợp đồng hành trình, hợp đồng đồng thời gian, hợp đồng hỗn hợp, hợp đồng đánh giá hoặc hợp đồng không định giá Hợp đồng bảo hiểm chuyến thường dùng bảo hiểm cho những lô hàng nhỏ, lẻ tẻ, không có kế hoạch chuyên chở nhiều lần

 Hợp đồng bảo hiểm bao ( Hợp đồng bảo hiểm mở ): là hợp đồng bảo hiểm trong đó người bảo hiểm nhận bảo hiểm cho một khối lượng hàng vận chuyển trong nhiều chuyến kế tiếp nhau trong một thời gian nhất định (thường

là một năm ) hoặc nhận bảo hiểm cho một khối lượng hàng hoá vận chuyển nhất định không kể đến thời gian Tất cả các chuyến hàng thuộc phạm vi bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm đều được bảo hiểm một cách tự động, linh hoạt

và phí bảo hiểm thường được trả theo thời gian thoả thuận, thường là theo tháng

Nội dung của hợp đồng bảo hiểm bao gồm các vấn đề chung nhất, có tính nguyên tắc như: nguyên tắc chung, phạm vi trách nhiệm, việc đóng gói hàng, loại phương tiện vận chuyển, giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm và phương thức thanh toán phí, giám định, bồi thường Trong hợp đồng phải có ba điều kiện cơ bản sau:

- Điều kiện xếp hạng tàu được thuê chuyên chở hàng hoá được bảo hiểm

- Điều kiện về giá trị bảo hiểm

- Điều kiện về quan hệ trên tinh thần thiện chí

Trang 22

Hợp đồng bảo hiểm bao có lợi ích cho cả người bảo hiểm và người được bảo hiểm Người bảo hiểm đảm bảo thu được một khoản phí bảo hiểm trong thời hạn bảo hiểm Người được bảo hiểm vẫn được người bảo hiểm chấp thuận bảo hiểm ngay cả khi hàng đã xếp lên tàu vận chuyển rồi mà chưa kịp thông báo bảo hiểm Hợp đồng bảo hiểm bao dùng để bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu thường xuyên khối lượng lớn vận chuyển làm nhiều chuyến Điều khoản huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm quy định cho phép một bên có thể huỷ

bỏ hợp đồng hoặc bất kỳ một phần nào của hợp đồng với điều kiện phải thông báo trước ( thường là 30 ngày )

4.3 Nội dung hợp đồng bảo hiểm.

Hợp đồng bảo hiểm được in sẵn thành mẫu thường bao gồm 2 mặt: mặt trước gồm các thông tin về người bảo hiểm, người được bảo hiểm và đối tượng bảo hiểm; mặt sau in sẵn các quy định cơ bản về bảo hiểm Mẫu của các nước khác nhau có thể khác nhau song hiện nay hầu hết các nước, các công ty đều sử dụng mẫu đơn bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm London từ tháng 4 năm

1982 theo quy định của ICC - 1982 Nội dung của hợp đồng bảo hiểm bao gồm:

- Tên, địa chỉ, số hiệu tài khoản ở ngân hàng của người bảo hiểm và người được bảo hiểm

- Tên hàng hoá được bảo hiểm, số lượng, trọng lượng, loại bao bì, cách đóng gói

- Loại tàu chuyên chở: tên tàu, tuổi tàu, cờ tàu, trọng tải, dung tích

Trang 23

- Điều kiện bảo hiểm, giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm.

- Nơi giám định tổn thất, nơi thanh toán bồi thường

- Ký tên, đóng dấu

Những nội dung trên được ghi tóm tắt trên đơn bảo hiểm cấp cho mỗi chuyến hàng tham gia bảo hiểm Ngoài ra, hợp đồng bảo hiểm còn ghi các điều khoản về quyền và trách nhiệm của mỗi bên Trong đó có một số nội dung cơ bản như sau:

4.3.1 Giá trị bảo hiểm

Giá trị bảo hiểm là giá trị thực tế của lô hàng Giá trị thực tế của lô hàng có thể là giá hàng hoá( giá FOB ) cũng có thể bao gồm: giá hàng hoá, cước phí vận chuyển, phí bảo hiểm và các chi phí liên quan khác Công thức xác định:V= C + I + F

Trong đó: V – là giá trị bảo hiểm của hàng hoá

C – là giá hàng tại cảng đi ( giá FOB )

I – là phí bảo hiểm

F – là cước phí vận tải

Ngoài ra để đảm bảo quyền lợi của mình, người được bảo hiểm có thể bảo hiểm thêm cả khoản lãi dự tính do việc xuất nhập khẩu mang lại: Khi xuất nhập khẩu theo giá CIF hoặc CIP thì theo tập quán giá trị bảo hiểm sẽ tính thêm 10% lãi dự tính Như vậy khi xuất nhập khẩu theo giá CIF thì:

Trang 24

Số tiền bảo hiểm là toàn bộ hay một phần giá trị bảo hiểm do người được bảo hiểm yêu cầu và được bảo hiểm.

Về nguyên tắc, số tiền bảo hiểm chỉ có thể nhỏ hơn hoặc bằng giá trị bảo hiểm Nếu số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm thì phần lớn hơn đó sẽ không được bảo hiểm Ngược lại, nếu số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị bảo hiểm tức là người được bảo hiểm tự bảo hiểm lấy một phần thì người bảo hiểm cũng chỉ bồi thường trong phạm vi số tiền bảo hiểm đã được ghi trong hợp đồng Nếu đối tượng bảo hiểm được bảo hiểm trùng, tức là cùng một rủi

ro, một giá trị bảo hiểm nhưng lại được bảo hiểm ở nhiều công ty bảo hiểm khác nhau thì trách nhiệm của tất cả các công ty bảo hiểm cũng chỉ giới hạn trong phạm vi số tiền bảo hiểm Trong xuất nhập khẩu nếu có số tiền bảo hiểm chỉ bằng giá trị hóa đơn hay giá FOB hoặc giá CFR thì người được bảo hiểm chưa bảo hiểm đầy đủ giá trị hay nói cách khác là bảo hiểm dưới giá trị

4.3.3 Phí bảo hiểm, tỷ lệ phí bảo hiểm

Phí bảo hiểm là một khoản tiền mà người được bảo hiểm phải trả cho người bảo hiểm để được bồi thường khi có tổn thất do các rủi ro đã thoả thuận gây nên Phí bảo hiểm thường được tính toán trên cơ sở thống kê tổn thất của nhiều năm trên một loại hàng hoá được bảo hiểm nhằm đảm bảo trang trải tiền bồi thường và có lãi Như vậy phí bảo hiểm được tính toán trên cơ sở tỷ lệ phí bảo hiểm và phụ thuộc vào số tiền bảo hiểm hoặc giá trị bảo hiểm Để lập công thức tính phí bảo hiểm cần có các chỉ tiêu sau:

R: là tỷ lệ phí bảo hiểm

I: là phí bảo hiểm

A: là số tiền bảo hiểm

V: là giá trị bảo hiểm

Thì: I = R * A (nếu A < V )

Trang 25

- Loại hàng hoá: hàng hoá dễ bị tổn thất như dễ vỡ, dễ bị mất cắp thì tỷ

lệ phí bảo hiểm cao hơn

- Loại bao bì, phương thức đóng gói hàng hoá

Phương tiện vận chuyển: xem xét một số chi tiết liên quan đến tàu vận chuyển như tên tàu, quốc tịch loại tàu, tuổi tàu

- Hành trình vận chuyển và các thiết bị cảng tại các cảng tàu cập bến

- Điều kiện bảo hiểm càng rộng thì rủi ro càng nhiều do đó phí bảo hiểm tăng lên

Tỷ lệ phí bảo hiểm thường xuyên được xem xét, điều chỉnh một cách định kỳ trên cơ sở những hậu quả tổn thất của người được bảo hiểm trong kỳ trước cũng như tình hình thực tế Điều này được gọi là định phí theo kết quả,

vì vậy để giữ được tỷ lệ phí thấp việc đề phòng và hạn chế rủi ro gây ra tổn thất là rất quan trọng

a) (1

* R 1

F C

F C CIF

− +

=

Trang 26

Hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực ngay sau khi phí bảo hiểm được trả, người bảo hiểm có quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm nếu người được bảo hiểm không thể thực hiện đúng nghĩa vụ trả phí bảo hiểm hoặc có quyền từ chối bồi thường khi rủi ro xảy ra.

5 Công tác giám định và bồi thường tổn thất.

5.1 Công tác giám định tổn thất.

Giám định tổn thất là việc làm của các chuyên viên giám định, của người bảo hiểm hoặc công ty giám định được người bảo hiểm uỷ quyền nhằm xác định mức độ và nguyên nhân của tổn thất, làm cơ sở cho việc bồi thường Giám định tổn thất được tiến hành khi hàng hoá bị hư hỏng, đổ vỡ, thiếu hụt, giảm phẩm chất, thối Ở cảng đến hoặc tại cảng dọc đường và do người được bảo hiểm yêu cầu Những tổn thất như do tàu đắm, hàng mất, giao thiếu hoặc không giao thì không cần phải giám định và cũng không thể giám định được

Mục đích của giám định tổn thất là:

- Xác định loại tổn thất, nguyên nhân gây ra tổn thất cho hàng hoá.Giám định giúp xác định rõ loại tổn thất là do hư hỏng, đổ vỡ, thiếu hụt hay ẩm mốc Nguyên nhân tổn thất có nhiều loại, có thể do bốc xếp cẩu thả,

do đâm va, bão lụt, do thông giờ không tốt, do bản thân hàng bị ẩm ướt

- Xác định trách nhiệm tổn thất thuộc về ai

Giám định chính xác, trung thực kết quả nói lên người phải chịu trách nhiệm và bồi thường tổn thất cho hàng hoá, khiến họ không thể từ chối trách nhiệm của mình Đó có thể là người mua, người bán, người vận tải, người bảo hiểm hoặc cơ quan giao nhận cảng

Giám định tổn thất là cơ sở tiến hành khiếu nại đòi bồi thường và giải quyết khiếu nại

Trang 27

Yêu cầu của công tác giám định tổn thất phải:

- Kịp thời đầy đủ, trung thực và kết quả nhằm xác định chính xác nguyên nhân của tổn thất

- Bám sát hiện trường để phản ánh được cụ thể tình hình tổn thất của tổn thất của tài sản bảo hiểm

- Có ý kiến tham gia với người nhận hàng trong các khâu: cứu chữa,

xử lý hàng hư hỏng, đề phòng và giảm nhẹ tổn thất, bốc dỡ giao nhận, yêu cầu

về bao bì hàng hoá khiếu nại người thứ ba có trách nhiệm đối với hàng hoá tổn thất

5.2 Công tác bồi thường tổn thất.

Sau khi lập được biên bản giám định, người bảo hiểm tiến hành giám định bồi thường Đây là công đoạn rất quan trọng và nhạy cảm vì nó nhắn liền với lợi ích của cả người được bảo hiểm và người bảo hiểm vì vậy việc giám định bồi thường phải đáp ứng được một số nguyên tắc sau

- Nhanh chóng, kịp thời: để giúp khách hàng nhanh chóng khôi phục hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả nhất

- Kịp thời chính xác: Phải tuân theo những điều kiện, điều khoản của hợp đồng bảo hiểm và thực tế thiệt hại

- Công bằng trung thực: Phải dựa trên tình huống tai nạn, quan hệ hợp tác mà giám định bồi thường linh hoạt, thoả mãn những yêu cầu hợp lý của khách hàng

Ngoài ra, trong quá trình giám định cần đảm bảo một số yêu cầu sau:

- Tờ trình bồi thường phải thực hiện đầy đủ chi tiết về khiếu nại, nguyên nhân phạm vi tổn thất, số tiền khiếu nại và số tiền bồi thường cùng ý kiến nhận xét của cán bộ thường về toàn bộ khiếu nại

Trang 28

- Trong trường hợp mỗi công ty tính toán tổn thất đánh giá khiếu nại thì hai bên giám định của công ty tính toán tổn thất sẽ là cơ sở cho việc giải quyết bồi thường.

- Nếu số tiền bồi thường vượt quá phân cấp, phải thông báo và xin ý kiến chỉ đạo của công ty trước khi giải quyết bồi thường

Trang 29

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT

NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN Ở VIỆT NAM.

I.Thực trạng bảo hiểm ở Việt Nam.

 Thị trường bảo hiểm Việt Nam

Quy mô thị trường ngày càng được mở rộng: từ chỗ chỉ có một DNBH là Bảo Việt đến nay đã có 28 doanh nghiệp bảo hiểm Phi nhân thọ, 11 doanh nghiệp bảo hiểm Nhân thọ, 10 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt động cùng nhau tranh tài cung cấp sản phẩm bảo hiểm để khách hàng có quyền lựa chọn một cách tích cực Trong số đó, bảo hiểm phi nhân thọ có 7 DN 100% vốn nước ngoài, 4 doanh nghiệp liên doanh, bảo hiểm nhân thọ có 10 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, môi giới bảo hiểm có 4 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Bảng 2.1: Thị trường bảo hiểm Việt Nam.

Năm

Số DN bảo hiểm

phi nhân thọ

Số DN bảo hiểm nhân thọ

Số DN mô giới BH

Vốn huy động lại (tỷ đồng)

Nguồn: Số liệu thống kê bảo hiểm Việt nam

Mạng lưới hoạt động của ngành bảo hiểm được mở rộng bằng các chi nhánh, công ty thành viên, văn phòng giao dịch của các doanh nghiệp bảo hiểm đến tận các tỉnh, thành, quận huyện, các vùng cao, vùng sâu, biên giới, hải đảo Đối tượng khách hàng ngày càng đa dạng, phong phú Không có một doanh nghiệp sản xuất, một ngành nghề nào là không được doanh nghiệp bảo hiểm tiếp cận tuyên truyền giới thiệu sản phẩm và vận động tham gia bảo hiểm

 Sản phẩm bảo hiểm Việt Nam

Trang 30

Số lượng sản phẩm bảo hiểm ngày càng nhiều, đa dạng, phong phú cơ bản đáp ứng nhu cầu và tạo được sự lựa chọn mang tính cạnh tranh cho khách hàng Năm 1999 mới có 20 sản phẩm bảo hiểm, đến nay khối phi nhân thọ đã

có 3 sản phẩm bảo hiểm bắt buộc và 600 sản phẩm bảo hiểm do doanh nghiệp đăng kí với Bộ Tài chính; Khối nhân thọ có gần 200 sản phẩm bảo hiểm được

Bộ Tài chính phê duyệt Các sản phẩm bảo hiểm có sự khác biệt giữa doanh nghiệp bảo hiểm này với doanh nghiệp bảo hiểm khác mang tính cạnh tranh cao để khách hàng lựa chọn Đã có nhiều sản phẩm bảo hiểm đòi hỏi kĩ thuật công nghệ bảo hiểm cao như bảo hiểm hàng không, bảo hiểm dầu khí, bảo hiểm vệ tinh, bảo hiểm đóng tàu, bảo hiểm công trình 70 tầng, bảo hiểm các công trình ngầm Đặc biệt, bảo hiểm nhân thọ đã ra đời, phát triển sản phẩm bảo hiểm liên kết chung (Universal life) và bảo hiểm liên kết đơn vị (Unit link) phù hợp với sự phát triển của thị trường bảo hiểm – chứng khoán – đầu

tư – tài chính trong giai đoạn mới

 Mức độ tăng trưởng của ngành bảo hiểm

Trong những năm qua ngành bảo hiểm Việt Nam đã có những phát triển vượt bậc Khi kinh tế bước vào thời kỳ hội nhập thì ngành bảo hiểm cũng có tốc độ tăng trưởng cao Năm 1993, doanh thu bảo hiểm mới đạt 700 tỉ đồng, chiếm 0,37% GDP Năm 2007, doanh thu bảo hiểm đạt 17.846 tỉ đồng, chiếm 2,11% GDP, trong đó nhân thọ đạt 9.486 tỉ đồng, phi nhân thọ đạt 8.360 tỉ đồng Năm 2008, doanh thu bảo hiểm ước đạt 21.314 tỉ đồng, chiếm 2,22% GDP, trong đó nhân thọ ước đạt 10.489 tỉ đồng, tăng trưởng 11%, phi nhân thọ ước đạt 10.825 tỉ đồng, tăng trưởng 29% Đặc biệt, bảo hiểm phi nhân thọ

đã về đích trước hạn trong việc thực hiện chỉ tiêu chiến lược phát triển ngành bảo hiểm giai đoạn 2003 – 2010 đề ra là 9.000 tỉ đồng

Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng ngành bảo hiểm.

Trang 31

Doanh thu BH (Tỷ đồng)

Tốc độ tăng trưởng

Nguồn: Công ty Bảo Minh

Tốc độ tăng trưởng bảo hiểm phi nhân thọ bình quân 15 năm qua đạt 2%/năm, bảo hiểm nhân thọ thí điểm từ năm 1996, chính thức triển khai từ cuối năm 1999 cũng đạt tăng trưởng bình quân 1999 – 2008 là 20%/năm Đây

là tốc độ tăng trưởng cao, mang sức hấp dẫn lớn đối với các công ty bảo hiển nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam

 Năng lực tài chính:

Năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng mạnh Năm

1993, ngành bảo hiểm có vốn chủ sở hữu 145 tỉ đồng, dự phòng nghiệp vụ

188 tỉ đồng, đến nay, vốn chủ sở hữu đã lên tới trên 17.500 tỉ đồng, dự phòng nghiệp vụ lên tới 35.485 tỉ đồng Khối bảo hiểm phi nhân thọ có vốn chủ sở hữu 10.676 tỉ đồng, dự phòng nghiệp vụ 5.611 tỉ đồng, khối nhân thọ có vốn chủ sở hữu 6.824 tỉ đồng, dự phòng nghiệp vụ 34.446 tỉ đồng Đặc biệt, có donh nghiệp bảo hiểm có vốn chủ sở hữu lớn như Bảo Minh 2.067 tỉ đồng, PVI 1.754 tỉ đồng, Bảo Việt 1.005 tỉ đồng, có dự phòng bảo hiểm cao như Bảo Việt 1.895 tỉ đồng, Bảo Minh 635 tỉ đồng, Bảo Việt Nhân Thọ 12.215 tỉ đồng, Prudential 13.059 tỉ đồng Vốn chủ sở hữu và dự phòng nghiệp vụ tăng mạnh làm cho năng lực bảo hiểm của từng doanh nghiệp bảo hiểm nâng lên rõ rệt, tăng khả năng nhận tái bảo hiểm trong nước và giảm dần phần tái bảo hiểm nước ngoài

Trang 32

 Năng lực quản lý:

Năng lực quản lý điều hành và chất lượng cán bộ bảo hiểm ngày càng chuyên nghiệp Năm 1993, ngành bảo hiểm mới có 500 cán bộ, công nhân viên, đến nay, toàn ngành đã có tới 14.000 cán bộ, công nhân viên và 140.000 đại lý bảo hiểm, trong đó có 90.000 đại lý bảo hiểm nhân thọ chuyên nghiệp Lãnh đạo doanh nghiệp bảo hiểm, các Trưởng phòng, Giám đốc chi nhánh đều được trải qua các khóa đào tạo trong và ngoài nước đạt tiêu chuẩn qui định của Bộ Tài chính Sự ra đời các công ty bảo hiểm có vốn nước ngoài đã

là tấm gương cho các doanh nghiệp bảo hiểm học tập kinh nghiệm, phương thức quản lý điều hành doanh nghiệp bảo hiểm, nghiên cứu, phát triển sản phẩm bảo hiểm phát triển kênh phân phối qua khâu trung gian bảo hiểm là môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm Toàn ngành có trên 90% cán bộ bảo hiểm

có trình độ đại học, trong đó, 5% có trình độ trên đại học, có trên 1.000 cán bộ tốt nghiệp các khóa đào tạo bảo hiểm nước ngoài có trình độ đại học và sau đại học Gần đây, trong quá trình cổ phần hóa, các doanh nghiệp bảo hiểm đã hướng tới chọn đối tác chiến lược là các công ty bảo hiểm hàng đầu quốc tế

để tiếp thu phương pháp, kinh nghiệm, công nghệ quản lý, điều hành của họ

 Mức độ đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm

Đầu tư vào nền kinh tế quốc dân của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng mạnh Năm 1993, đầu tư vào nền kinh tế quốc dân mới ở mức 300 tỉ đồng Năm 2008, đầu tư vào nền kinh tế quốc dân ước đạt 50.896 tỉ đồng, trong đó, bảo hiểm nhân thọ là 36.012 tỉ đồng, bảo hiểm phi nhân thọ là 14.884 tỉ đồng Các khoản đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm đều đảm bảo an toàn, hiệu quả, chủ yếu là đầu tư vào trái phiếu chính phủ, tiền gửi ngân hàng và các khoản đầu tư có đảm bảo Tiền lãi đầu tư đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo

Trang 33

hiểm trả bảo tức ngày một tốt hơn cho khách hàng, một phần để bù đắp chi phí hoạt động, một phần đem lại cổ tức cho các cổ đông Các khoản đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm là nguồn vốn trung và dài hạn cho các công trình, các dự án phát triển nền kinh tế xã hội Năm 1993, ngành bảo hiểm nộp ngân sách nhà nước 68 tỉ đồng, năm 2008, ước đạt 450 tỉ đồng Ngoài ra, ngành bảo hiểm tạo nguồn thu thuế VAT gần 1.000 tỉ đồng, thuế thu nhập cá nhân của nhân viên và đại lý bảo hiểm gần 1.000 tỉ đồng Các doanh nghiệp bảo hiểm đã tài trợ cho các hoạt động thể thao, văn hóa, xã hội, từ thiện hàng trăm

tỉ đồng

Tóm lại ngành bảo hiểm xứng đáng là tấm lá chắn kinh tế của nền kinh

tế xã hội, góp phần ổn định sản xuất kinh doanh, ổn định đời sống trước những rủi ro hiểm họa xảy ra Năm 1993, ngành bảo hiểm giải quyết bồi thường 120 tỉ đồng, đến năm 2007, ngành bảo hiểm đã giải quyết bồi thường 3.229 tỉ đồng đối với bảo hiểm phi nhân thọ, trả tiền bảo hiểm 2.239 đối với bảo hiểm nhân thọ Năm 2008, bảo hiểm phi nhân thọ giải quyết bồi thường ước đạt 4.500 tỉ đồng và trả tiền bảo hiểm nhân thọ ước đạt trên 3.000 tỉ đồng Nhiều tổn thất lớn xảy ra đã và đang được giải quyết bồi thường Ngoài ra, các doanh nghiệp bảo hiểm còn tích cực làm tốt công tác đề phòng, hạn chế tổn thất cho các công trình đường lánh nạn, gương cầu lồi, hàng rào hộ lan, đường gom, đường dân sinh, khắc phục điểm đen tai nạn

Có thể nói những năm qua là chặng đường dài ngành bảo hiểm đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, vượt qua thử thách, mở cửa và hội nhập quốc tế

để phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển đầu tư trong nước, ổn định đời sống nhân dân trước những thiên tai, hiểm họa xảy ra

Ngày đăng: 05/08/2013, 14:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình kinh tế bảo hiểmNhà xuất bản thống kê 2000 – Trường đại học Kinh tế quốc dân 2. Giao trình vận tải và bảo hiểm hàng hóa ngoại thương.Nhà xuất bản giáo dục 1997 – trường Đại học ngoại thương Khác
3. Giáo trình nghiệp vụ vận tải và bảo hiểm ngoại thương.Nhà xuất bản Tài chính, GV: Dơng Hữu Hạnh - Cao học Kinh tế-Tài chính TP Hồ Chí Minh Khác
4. Giáo trình quản trị kinh doanh bảo hiểmNhà xuất bản giáo dục – 1996, PGS, PTS Nguyễn Cao Thường Khác
5. Tạp chí thông tin thị trường Bảo hiểm- Tái bảo hiểm 1999,2000 của VINARE Khác
6. Tạp chí bảo hiểm 2006, 2007 – Của tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam Khác
7. Thời báo kinh tế Việt Nam 2006, 2007, 2008 Khác
8. Báo cáo kết quả kinh doanh của toàn thị trường bảo hiểm từ 2005 – 2008 Khác
9. Báo cáo tổng bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển toàn thị trường của VINARE10.Các trang web bảo hiểm Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thị trường bảo hiểm Việt Nam. - Một số giải pháp và kiến nghị phát triển dịch vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển ở Việt Nam.
Bảng 2.1 Thị trường bảo hiểm Việt Nam (Trang 29)
Bảng 2.3: Tỷ lệ bồi thường theo nghiệp vụ của toàn thị trường. - Một số giải pháp và kiến nghị phát triển dịch vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển ở Việt Nam.
Bảng 2.3 Tỷ lệ bồi thường theo nghiệp vụ của toàn thị trường (Trang 36)
Bảng 2.6: Tỷ lệ hàng hoá được bảo hiểm trong kim ngạch xuất  nhập khẩu của Viêt Nam(2004- 2008). - Một số giải pháp và kiến nghị phát triển dịch vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển ở Việt Nam.
Bảng 2.6 Tỷ lệ hàng hoá được bảo hiểm trong kim ngạch xuất nhập khẩu của Viêt Nam(2004- 2008) (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w