Chính vì thế tôi rất băn khoăn, trăn trở "Cần làm gì để có hệ thống bài tập trong tiết tăng vừa rèn được kĩ năng lại vừa bồi dưỡng chohọc sinh trong lớp mà vẫn đảm bảo chuẩn kiến thức kỹ
Trang 1UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: "Kinh nghiệm xây dựng nội dung tiết Toán (tăng) cho học
5 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
6 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có):
7 Các kiếnđiều kiện cần thiết để áp dụng sáng:
8 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu:
HỌ TÊN TÁC GIẢ (KÝ TÊN) XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Trang 3THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: "Kinh nghiệm xây dựng nội dung tiết Toán tăng cho học sinh
Trình độ chuyên môn: Đại học
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường TH Phượng Hoàng - huyện Thanh
7 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
+ Điều kiện con người:
- Giáo viên dạy văn hóa có chuyên môn vững vàng, được trang bị và biết sửdụng các phương pháp dạy học mới, nắm vững khả năng tiếp thu của đối tượng họcsinh để có biện pháp giảng dạy phù hợp
- Học sinh: Học sinh lớp 3 đại trà (đặc biệt là học sinh ở vùng nông thôn) + Điều kiện về CSVC: Phòng học, sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệuchuẩn kiến thức kỹ năng, sách tham khảo,
8 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2012-2013
HỌ TÊN TÁC GIẢ (KÝ TÊN) XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Trang 4TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến.
Được sự phân công của nhà trường, tôi đảm nhiệm chức vụ tổ trưởng tổ 2+3 hainăm liền 2012 - 2013; 2013 - 2014 Qua thực tế giảng dạy, qua kiểm tra giáo án, dựgiờ giáo viên khối 3, tôi thấy giáo viên soạn tiết Toán tăng còn chung chung, hệ thốngbài tập chưa phù hợp, Mặc dù đã được dự hội thảo chuyên đề cấp khu và sự hướngdẫn của Ban giám hiệu nhà trường về cách soạn giảng tiết Toán tăng nhưng giáo viênvẫn kêu là khó soạn và khó dạy Chính vì thế tôi rất băn khoăn, trăn trở "Cần làm gì
để có hệ thống bài tập trong tiết tăng vừa rèn được kĩ năng lại vừa bồi dưỡng chohọc sinh trong lớp mà vẫn đảm bảo chuẩn kiến thức kỹ năng
Xuất phát từ hoàn cảnh thực tế đó, tôi đưa ra một số "Kinh nghiệm xây dựng nội
dung tiết Toán( tăng) cho học sinh lớp 3.”
2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
+ Điều kiện con người:
- Giáo viên dạy văn hóa có chuyên môn vững vàng, được trang bị và biết sửdụng các phương pháp dạy học mới, nắm vững khả năng tiếp thu của đối tượng họcsinh để có biện pháp giảng dạy phù hợp
- Học sinh: Học sinh lớp 3 đại trà (đặc biệt là học sinh ở vùng nông thôn) + Điều kiện về CSVC: Phòng học, SGK, SGV, tài liệu chuẩn kiến thức kỹnăng, sách tham khảo,
Thời gian áp dụng lần đầu: Năm học 2012 - 2013
Đối tượng áp dụng: GV lớp 3
3 Nội dung sáng kiến:
+ Với cách soạn và cách dạy một tiết toán tăng như trước đây thì bản thân mỗigiáo viên phải tốn rất nhiều thời gian tìm bài tập để đưa vào tiết soạn ở các loạisách tham khảo mà hiệu quả học tập của học sinh chưa cao Nhưng với kinhnghiệm xây dựng hệ thống bài tập mà tôi đưa ra vừa đảm bảo theo chuẩn kiến thức
kĩ năng, vừa đảm bảo tính hệ thống, vừa tốn ít thời gian tìm kiếm trên sách thamkhảo, giáo viên dễ soạn và dạy không lo thấp hơn hoặc vượt so với chuẩn Với họcsinh: giúp học sinh nắm vững kiến thức, làm cho giờ học nhẹ nhàng, hấp dẫn nhằmgây hứng thú toán học, phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh.+ Có khả năng áp dụng cho tất cả giáo viên tiểu học Mỗi giáo viên cần:
Nắm được nội dung chương trình môn Toán lớp 3 theo chuẩn kiến thức năngcác mảng kiến thức sau
Biết lựa chọn, xây dựng nội dung tiết Toán tăng theo định hướng phân hóa đốitượng học sinh Cụ thể như sau:
- GV phải biết cách xây dựng hệ thống bài tập củng cố kiến thức, rèn luyện kĩnăng cho học sinh trong tiết Toán tăng trên cơ sở các bài tập cơ bản trong SGK,VBT theo chuẩn kiến thức kĩ năng
- Lựa chọn đơn vị kiến thức cần luyện tập củng cố
- GV phải nắm được những yêu cầu khi xây dựng hệ thống bài tập cho tiếtToán tăng
Trang 5GV phải biết cách phát triển bài toán trên cơ sở các bài toán có sẵn trongSGK, vở bài tập.
+ Hiện nay trong giờ học toán tăng, các em có thái độ học tập tốt, tự giác học tập,hợp tác cùng bạn để học, chủ động trong việc tự tìm tòi kiến thức, tích cực, sôi nổitrong học Toán Nhiều em đã biết tự ra được đề toán cho bản thân và cho các bạn tronglớp, các em tích cực hơn trong việc nêu câu hỏi cho GV Tiết học đã diễn ra hoạt động
trao đổi theo nhiều chiều khác nhau: Trò <-> Trò, Thầy <-> Trò, Trò <-> Thầy Học
sinh có khả năng tự học, biết cách học
Sau khi áp dụng các biện pháp nêu trên, tôi thu được kết quả như sau:
4 Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến
Những kết quả mà tôi đã thu được trong quá trình nghiên cứu không phải làcái mới so với GV trong huyện, song lại là cái mới đối với khối 3 trường tôi Trongquá trình nghiên cứu, tôi đã phát hiện và rút ra nhiều điều lý thú về kinh nghiệmxây dựng hệ thống bài tập cho tiết Toán tăng nói chung và ở lớp 3 nói riêng, đồngthời giúp cho bản thân nâng cao được năng lực chuyên môn, hiểu sâu hơn vềchương trình và sách giáo khoa Toán 3, nắm chắc các phương pháp giảng dạy mônToán, chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong dạy học Bản thân tự tin và chủ động hơnkhi dạy tiết tăng, tiết dạy trở nên sôi động, học sinh tích cực học tập và tham gianhiệt tình vào các hoạt động
5 Đề xuất khuyến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến.
Qua cách dạy đã nêu trên đây, so với các lớp học theo chỉ dẫn của sách giáokhoa và sách giáo viên, tôi nhận thấy học sinh dễ hiểu bài hơn, dễ áp dụng hơn.Qua kết quả học tập của học sinh lớp 3, các đồng nghiệp trong khối cũng nhận thấycách hướng dẫn trên là hay và có hiệu quả
Nếu tính khả thi cao có thể áp dụng trong cụm chuyên môn bằng hình thứcbáo cáo chuyên đề, thao giảng … để chúng tôi cùng với các anh chị đồng nghiệp ởcác trường bạn rút kinh nghiệm, giúp đề tài ngày càng hoàn thiện hơn, tính khả thingày càng được nâng cao hơn
Trang 6MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Như chúng ta đã biết môn Toán bước đầu giúp các em phát triển năng lực tưduy độc lập, khả năng suy luận hợp lí và diễn đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện
và cách giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trítưởng tượng; chăm học và hứng thú học tập toán; hình thành bước đầu phươngpháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo
Được sự phân công của nhà trường, tôi đảm nhiệm chức vụ tổ trưởng tổ 2+3 hainăm liền 2012 - 2013; 2013 - 2014 Qua thực tế giảng dạy, qua kiểm tra giáo án, dựgiờ giáo viên khối 3, tôi thấy giáo viên soạn tiết Toán tăng còn chung chung, hệ thốngbài tập chưa phù hợp, Mặc dù đã được dự hội thảo chuyên đề cấp khu và sự hướngdẫn của Ban giám hiệu nhà trường về cách soạn giảng tiết Toán tăng nhưng giáo viênvẫn kêu là khó soạn và khó dạy Chính vì thế tôi rất băn khoăn, trăn trở "Cần làm gì
để có hệ thống bài tập trong tiết tăng vừa rèn được kĩ năng lại vừa bồi dưỡng chohọc sinh trong lớp mà vẫn đảm bảo chuẩn kiến thức kỹ năng
Xuất phát từ tầm quan trọng của bộ môn, từ thực tế dạy tiết Toán tăng trongkhối lớp 3 cũng như trong nhà trường Tiểu học hiện nay Theo tôi mỗi giáo viênđều phải là những người có khả năng tạo lập nhanh những đề toán mới vừa phù hợpvới yêu cầu của chương trình, vừa kích thích được tinh thần chủ động học tập củahọc sinh Hơn thế nữa, vấn đề biết tự đặt ra đề toán mới theo yêu cầu còn là mộttrong những nội dung mà mỗi học sinh Tiểu học đều phải rèn luyện Việc làm này
sẽ giúp cho các em nắm vững được kiến thức một cách chủ động, tư duy độc lập,sáng tạo, biết cách học, rèn khả năng tự học cho học sinh tiểu học
Chính vì thế việc tìm kiếm kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy học mônToán ở buổi thứ hai trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết Vì vậy, tôi bản
thân nảy sinh ra một số "Kinh nghiệm xây dựng nội dung tiết Toán tăng cho học
sinh lớp 3.”
2 Cơ sở lí luận của vấn đề.
Năm học 2014- 2015 là năm học tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Mỗi thầygiáo, cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo”, là năm thứ 9 BộGiáo dục triển khai cuộc vận động “Hai không với 4 nội dung” Cuộc vận động đãtác động trực tiếp tới những người làm công tác giáo dục không khỏi lo lắng, trăntrở, tập trung nâng cao chất lượng dạy học nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục toàndiện Cũng như những môn học khác, môn Toán có một vai trò hết sức quan trọngtrong việc hình thành nhân cách học sinh Học Toán giúp các em phát triển tư duyđộc lập, linh hoạt, sáng tạo, rèn luyện về nền nếp phong cách, tác phong làm việckhoa học
Như chúng ta đã biết, đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học ở các lớp đầucấp là năng lực phân tích tổng hợp chưa phát triển, nhận thức thường dựa vào yếu
tố bên ngoài Đối với HS lớp 3, ở lứa tuổi này, các em vẫn nhận thức cảm tính, khảnăng tư duy lôgic còn chậm Tuy nhiên các em cũng có một số điểm mạnh nhấtđịnh Đó là tâm lý ham học hỏi muốn chiếm lĩnh các kiến thức mới thông qua
Trang 7những vốn hiểu biết của bản thân, ưa hoạt động, hay tò mò, thích khám phá vàgiàu óc tưởng tượng Chính vì vậy, tri thức cung cấp cho HS phải đa dạng và luônmới lạ Giờ học phải sinh động, vừa sức, đảm bảo tính khoa học, tính chính xác,tính hiện đại.
3 Thực trạng của vấn đề
Hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáodục nói chung và môn Toán nói riêng được đặt lên hàng đầu và cũng đã phần nàothấm nhuần trong mỗi giáo viên nhưng phần lớn cũng chỉ mới được quan tâm vàdừng lại ở những tiết học buổi thứ nhất - buổi học mà các tiết được cơ cấu có sẵntrong chương trình Còn vấn đề dạy học tiết toán tăng như thế nào để có hiệu quảthì chưa được nhiều giáo viên quan tâm, không ít giáo viên còn xem nhẹ hình thứcdạy học buổi 2
Trong thực tế giảng dạy hiện nay, tôi thấy:
- Giáo viên còn ngại soạn tiết Toán tăng, không biết thiết kế một tiết Toán tăngnhư thế nào cho phù hợp
- Giáo viên chưa tự tin với việc lựa chọn nội dung, hình thức, phương phápdạy nên rất sợ khi có người vào dự giờ tiết toán tăng
- Hình thức dạy tiết Toán tăng nghèo nàn, chưa phong phú, chưa hấp dẫn, chưatạo cho học sinh thích thú và hăng say trong học tập
- Một số tiết chưa dạy theo nhu cầu của học sinh, nhiều giáo viên xem tiết toántăng như là giờ làm bài tập của học sinh và học sinh giải quyết hết các bài tập đó làhết nhiệm vụ của tiết học Còn trong tiết đó, bao nhiêu học sinh cần rèn kiến thức,
kỹ năng gì? Cần rèn đến đâu? Các em có hứng thú học không? Có nhu cầu học haykhông thì giáo viên ít chú ý đến vì thế chưa giúp được học sinh chậm phát triển trítuệ rèn kiến thức, kỹ năng cũng như chưa phát triển được cho những học sinh cókhả năng tiếp thu nhanh, từ đó tạo cho không khí lớp học bị trầm xuống, học sinhchán học, hiệu quả không cao
Việc xây dựng hệ thống bài tập cho tiết Toán tăng có những khó khăn nhấtđịnh:
* Với giáo viên:
- Giáo viên còn cứng nhắc trong việc dạy toán tăng cứ nghĩ rằng sáng học kiếnthức gì thì chiều ôn nội dung kiến thức đó và giáo viên cho một hệ thống các bàitập (khoảng 3 - 5 bài/1tiết), HS lần lượt hoàn thành còn việc lựa chọn câu hỏi, nộidung cho từng đối tượng học sinh qua mỗi bài tập là rất ít
- Nội dung kiến thức tiết Toán tăng không có sẵn nên giáo viên chưa thực sựđầu tư, vì thế:
+ Lựa chọn nội dung cho một tiết toán tăng dễ bị hạ thấp so với chuẩn hoặcvượt chuẩn
+ Lúng túng khi giáo án xây dựng bài tập cụ thể mà học sinh hoàn thành vàchưa hoàn thành theo thời gian dự kiến
+ Xây dựng hệ thống bài tập khoảng 3 - 5 bài trong một tiết nhưng theo thứ tự
từ dễ đến khó, 1 - 3 bài đầu dành cho HS cần phụ đạo và kèm cặp trong học tập và
Trang 8rèn luyện, 1- 2 bài tập sau để bồi dưỡng học sinh trong học tập và rèn luyện Vì thếtrong tiết dạy thường xảy ra hiện tượng rất nhiều học sinh ngồi chơi khi đã hoànthành bài tập trước hoặc đến bài khó thì HS cần phụ đạo và kèm cặp trong học tậplại ngồi chơi vì không hiểu, không vừa sức với các em Từ đó bài tập thường dẫnđến vượt xa chuẩn
* Với học sinh: Ít có thói quen tự học (tìm bài để học) nên thường xảy ra hiệntượng làm xong trước thì ngồi chơi, còn học sinh làm chậm thì chán nản khôngthích làm nữa Lớp học trở nên ồn ào
* Điều kiện về cơ sở vật chất, tài liệu phục vụ cho dạy học theo pháp mớicòn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu (thiếu các phương tiện nghe nhìn, máy vitính, )
Chính từ tình hình thực tiễn đó ảnh hưởng rất nhiều tới chất lượng dạy học
và kết quả bộ môn Chất lượng học tập môn Toán của học sinh trường tôi chưa cao
Cụ thể trong các đợt khảo sát, thi Ôlimpic cấp Tiểu học, thi giải toán qua mạng,kết quả đạt được chưa được như mong muốn
4 Các giải pháp, biện pháp thực hiện
Để xây dựng nội dung dạy học tiết Toán tăng cho học sinh lớp 3 đạt hiệu quả,mỗi giáo viên chúng ta cần giải quyết tốt những vấn đề sau:
4.1 Giáo viên cần nắm được nội dung chương trình môn Toán lớp 3 theo chuẩn kiến thức năng các mảng kiến thức sau:
4.1.1 Số học
4.1.1.1 Phép nhân, phép chia trong phạm vi 1000
- Ứng dụng, mở rộng tính cộng, trừ các số có ba chữ số, có nhớ không quá mộtlần
- Bảng nhân và bảng chia 6, 7, 8, 9 Hoàn thiện các bảng nhận, chia 2, 3, 4, , 9.Giới thiệu về
- Làm quen với biểu thức và giá trị biểu thức, thực hành tính giá trị các biểuthức số có đến hai dấu phép tính, có hoặc không có dấu ngoặc
- Tìm số chia chưa biết
4.1.1.2 Các số đến 10 000 và các số đến 1 00 000
- Đọc, viết, so sánh các số Các hàng đơn vị, chục, trăm, nghìn, chục nghìn
- Phép cộng và và phép trừ có nhớ không liên tiếp và không quá hai lần, trongphạm vi 10 000 và 1 00 000
- Phép nhân số có đến bốn hoặc năm chữ số với số có một chữ số có nhớkhông liên tiếp và không quá hai lần, tích không quá 1 00 000
- Phép chia số có đến năm chữ số cho số có một chữ số, chia hết hoặc chia códư
Trang 9- Giới thiệu bảng số liệu thống kê đơn giản, làm quen với chữ số La Mã.
4.1.2 Đại lượng và đo đại lượng.
Giới thiệu thêm 2 đơn vị đo độ đơn vị đo độ dài héc tô mét (hm); đề ca mét (dam) Bảng đơn vị đo độ dài Đo và uớc lượng độ dài
Đơn vị khối lượng: gam (g) Quan hệ giữa kg và g Thực hành cân
- Đơn vị đo diện tích: xăng - ti - mét vuông (cm2)
- Giới thiệu diện tích của một hình Tính diện tích HCN, hình vuông
- Vẽ góc vuông bằng thước thẳng và e ke Vẽ đường tròn bằng compa
4.1.4 Giải toán lời văn.
- Giải bài toán đơn về phép cộng và phép trừ (trong đó có bài toán dạng ít hơn,nhiều hơn)
- Giải toán đơn bằng một phép nhân hoặc phép chia trong bảng 2, 3, 4, 5
- Giải các bài toán có đến hai bước tính với các mối quan hệ trực tiếp và đơngiản (so sánh hai số hơn kém nhau một số đơn vị; so sánh số lớn gấp mấy lần số bé,
số bé bằng một phần mấy lần số lớn; gấp hoặc giảm một số lần)
- Giải các bài toán liên quan đến rút về đơn vị và các bài toán có nội dung hìnhhọc
4.2 GV phải biết lựa chọn, xây dựng nội dung tiết Toán tăng theo định hướng phân hóa đối tượng học sinh.
4.2.1 Lựa chọn đơn vị kiến thức cần luyện tập củng cố
- Giáo viên cần căn cứ sau mỗi mảng, nội dung kiến thức học buổi sáng (trongtuần) để xây dựng nội dung ôn luyện cho buổi thứ hai sao cho sát đối tượng, pháthuy được mặt mạnh của học sinh, khắc phục được hạn chế, lỗi học sinh thường mắctrong khi học Củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng cơ bản cho học sinh Nội dungxây dựng lựa chọn cần căn cứ vào đối tượng người học là chủ yếu xong phải đảmbảo chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học
- Sau khi lựa chọn được nội dung đơn vị kiến thức, dạng bài tập cần được củng
cố, luyện tập, giáo viên cần thực hiện tốt 5 bước trong việc hướng dẫn học sinh ởbất cứ bài toán nào:
Bước 1 : Củng cố, bổ sung kiến thức có liên quan
Ví dụ : Để luyện tập về Tìm thành phần chưa biết của phép trừ (Số bị trừ) GV cần
củng cố cho HS một số nội dung cơ bản sau :
+ Tên gọi thành phần và kết quả của phép trừ
+ Từ phép trừ lập hai phép cộng
( SBT = Hiệu + Số trừ, SBT = Số trừ + Hiệu )
+ Quy tắc tìm Số bị trừ.
Trang 10Bước 2 : Cách nhận dạng bài toán.
Muốn học sinh làm tốt một bài toán, giáo viên cần giúp HS xác định dạng toáncủa bài bằng hệ thống câu hỏi phân tích bài toán, dựa vào các dữ kiện bài toán cho,dấu hiệu cơ bản trong bài toán Sau khi xác định được dạng toán rồi, học sinh sẽtìm được cách giải bài toán đúng
Ví dụ : Mẹ có một số trứng đem ra chợ bán, mẹ bán được 34 quả trứng, mẹ
còn lại 65 quả trứng Hỏi lúc đầu mẹ có bao nhiêu quả trứng ?
Với bài toán này, giáo viên cần giúp HS xác định được đây là bài toán lời văn
dạng toán Tìm số bị trừ thông qua việc khai thác bài toán Nếu giáo viên không
khéo trong việc khai thác bài toán sẽ dẫn đến việc giải bài toán không đúng theo
đặc trưng của toán tiểu học mà sa đà sang toán Giải phương trình của Trung học cơ
sở
? Bài toán cho biết gì (mẹ bán được 34quả trứng, mẹ còn lại 65 quả trứng)
? Bài toán hỏi gì (Lúc đầu mẹ có bao nhiêu quả trứng?)
? Số trứng ban đầu của mẹ bao gồm số trứng nào? (Số trứng đã bán đi và sốtrứng còn lại)
? Muốn biết số trứng ban đầu của mẹ ta làm như thế nào
Lấy số trứng còn lại + số trứng đã bán = số trứng ban đầu
Hiệu + Số trừ = Số bị trừ.
hoặc:
Lấy số trứng đã bán + Số trứngcòn lại = Số trứng ban đầu
Số trừ + Hiệu = Số bị trừ
Qua việc phân tích bài toán như vậy HS sẽ hiểu đây chính là bài toán lời văn
dạng tìm Số bị trừ Học sinh sẽ có cơ sở lựa chọn phương pháp giải.
Bước 3: Lựa chọn phương pháp giải bài toán.Vẫn với ví dụ trên, sau khi đã
khai thác tìm hiểu bài toán, học sinh đã xác định được dạng toán lời văn Tìm số bị
trừ, học sinh sẽ có cách giải: Lấy hiệu cộng với số trừ (Số trứngcòn lại + số trứng
đã bán = số trứng ban đầu)
Bước 4: Trình bày bài giải
Hướng dẫn cách trình bày bài giải, học sinh cần được trả lời bài toán bằngnhiều cách khác nhau Học sinh có năng khiếu toán đặt đề toán tương tự giải bằngmột phép tính cho trước, qua đó khắc sâu cho các em dạng bài tập đang giải, địnhhình được quan hệ giữa cách giải bài toán với đề toán
Bài giải
Số trứng của mẹ lúc đầu là: (Lúc đầu mẹ có số quả trứng là; Số quả trứng lúc đầu của mẹ là:
34 + 65 = 99 (quả) Đáp số: 99 quả trứng
Bước 5: Khái quát dấu hiệu nhận dạng bài toán, cách giải một dạng toán, mộtdạng bài tập
Trang 11Khi học sinh giải xong một bài toán, giáo viên cần khái quát lại cách giải dạng toán.
Ví dụ 1: Nga có 45 bông hoa, Nga có nhiều hơn Hương 8 bông hoa Hỏi
Hương có bao nhiêu bông hoa?
Ví dụ 2: Ngăn trên có 58 cuốn sách, ngăn trên ít hơn ngăn dưới 18 cuốn sách.
Hỏi ngăn dưới có bao nhiêu cuốn sách?
Ví dụ 3: Có hai thùng đựng dầu, thùng thứ nhất đựng được 124l dầu Nếu đổ
thêm 7 lít dầu vào thùng thứ nhất thì được số dầu của thùng thứ hai Hỏi thùng thứ
hai đựng được bao nhiêu lít dầu?
Ví dụ 4: Có hai thùng đựng dầu, thùng thứ nhất đựng được 124l dầu Nếu rót
ra 7 lít dầu từ thùng thứ nhất thì được số dầu của thùng thứ hai Hỏi thùng thứ hai
đựng được bao nhiêu lít dầu?
Với các dạng toán này, muốn học sinh giải đúng, thì trước tiên phải xác địnhđược dạng toán, số lớn, số bé trong bài toán GV chốt:
Nếu bài toán yêu cầu Tìm số lớn làm tính cộng
Nếu bài toán yêu cầu Tìm số bé làm tính trừ
4.2.2 GV phải biết cách xây dựng hệ thống bài tập củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng cho học sinh trong tiết Toán tăng trên cơ sở các bài tập cơ bản trong SGK, VBT theo chuẩn kiến thức kĩ năng:
Bằng cách phát triển bài toán từ các bài toán có sẵn trong Sách giáo khoa, vởbài tập phù hợp với trình độ, năng lực nhận thức của các đối tượng học sinh GVlựa chọn bài tập phải dựa trên Chuẩn kiến thức kĩ năng của nội dung học tập, từmột bài tập giáo viên cần có cách mở rộng và khắc sâu kiến thức Lựa chọn sốlượng bài tập phù hợp với đặc điểm tiếp thu của học sinh lớp mình giảng dạy
Thực tế giảng dạy đã chứng tỏ rằng: Nếu chỉ sử dụng các bài toán trong SGK,
vở bài tập toán thì chưa thể dạy tốt môn Toán được Giáo viên cần có khả năngsáng tác nhanh đề toán mới vừa phù hợp với yêu cầu của chương trình, đáp ứngchuẩn kiến thức kĩ năng lại vừa kích thích được tinh thần chủ động học tập của họcsinh Đây là việc làm tưởng trừng dễ dàng, song không mấy ai làm tốt được Việclàm này giúp nâng cao tiềm lực của mỗi giáo viên, giúp chúng ta cảm thấy vữngvàng và tự tin hơn trong lúc đứng trên bục giảng
Hơn thế nữa, mỗi chúng ta đều thấy rằng: Tiết học Toán buổi thứ hai mangtính mềm dẻo, co giãn Nó phụ thuộc vào khả năng tiếp thu kiến thức từ tiết học
Trang 12buổi sáng của học sinh trong lớp nói chung, mỗi cá nhân học sinh nói riêng Trongthiết kế bài soạn của mình, mỗi giáo viên đều xây dựng cho mình hệ thống bài tậpcủng cố, rèn luyện kĩ năng cho HS theo chuẩn kiến thức kĩ năng và một số bài tậpphát triển cho học sinh khả năng học toán nhanh Đôi khi, tiết học sẽ trở lên tẻ nhạt,
dư thừa thời gian nếu học sinh đều thực hiện tốt các bài tập cơ bản và một hai bàitập phát triển, nâng cao nhưng cũng có khi tiết học lại có cảm giác trầm và ì khi đốitượng nhận thức của chúng ta gặp khó khăn dẫn đến tiết học dài, thiếu thời gian.Vậy việc linh hoạt trong sáng tác bài toán sẽ giúp giáo viên chủ động trên lớp khigặp tình huống cần giảm bớt bài toán hay tăng lượng bài toán của một tiết học saocho phù hợp trong khi thiết kế giáo án đã soạn sẵn và được kí duyệt
4.2.3 GV phải nắm được những yêu cầu khi xây dựng hệ thống bài tập cho tiết Toán tăng:
a Nội dung bài tập toán phải đáp ứng được mục tiêu của bài dạy, trên cơ sởchuẩn kiến thức kĩ năng để củng cố kiến thức hoặc rèn luyện kỹ năng ứng dụng mộtquy tắc, đơn vị kiến thức nào đó
b Hệ thống bài tập thể hiện rõ sự phân hóa, phù hợp với trình độ kiến thức củatừng đối tượng học sinh, từng khối lớp, sát đối tượng, xây dựng trên cơ sở ngườihọc Tránh hai thái cực bài tập quá đơn giản dẫn đến tiết học nhàm chán, hay quátải làm học sinh hoang mang sợ học Thể hiện thoát li sách giáo khoa, rèn khả năng
tự học cho học sịnh
c Bài tập phải đầy đủ dữ kiện Những yếu tố đã cho của bài toán phải đủ đểtìm ra đáp số
d Câu hỏi phải rõ ràng và đầy đủ ý nghĩa
e Bài toán phải không có mâu thuẫn
g Số liệu đưa ra trong bài toán cần phù hợp với thực tế
Ví dụ: Bài tập củng cố về đơn vị ki-lô-gam, cần chú ý đến khối lượng thực tếcủa vật khi đưa vào bài toán Điều đó làm cho bài toán đảm bảo tính khoa học, tínhthực tiễn mà gần gũi với học sinh “Con chó cân nặng 15kg, con lợn nặng hơn conchó 8kg Hỏi con lợn cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam? ”
h Ngôn ngữ của đề toán cần ngắn gọn, mạch lạc
Ngôn ngữ của bài toán ảnh hưởng rất lớn đến nội dung ý nghĩa của bài toán,đến quá trình suy luận tìm hướng giải cho bài toán Nếu bài toán có quá nhiềunhững từ ngữ “ thừa” “ phi toán học” sẽ làm cho học sinh khó phát hiện ra nội dungtrọng tâm của bài toán
Ví dụ: Một bài toán thừa nội dung không cần thiết, cách diễn đạt dài dòng
“Hôm nay, nhà em có giỗ ông nội, mẹ em đi chợ mua sắm đồ Mẹ mua rấtnhiều thứ Trong đó có gạo nếp và gạo tẻ Mẹ mua 12 kg gạo tẻ Gạo nếp bằng mộtnửa gạo tẻ Hỏi mẹ mua bao nhiêu ki-lô-gam gạo nếp?”
Một bài toán như vậy sẽ làm cho HS khó phát hiện các dữ kiện trọng tâm củabài, HS sẽ bị lạc hướng tìm hiểu bài bởi những yếu tố không cơ bản: “Hôm nay,nhà em có giỗ ông nội, mẹ mua cả gạo”
Trang 13Vậy có thể rút gọn bài toán như sau: “Mẹ mua gạo nếp và gạo tẻ Gạo tẻ có 12
kg Gạo nếp bằng một nửa gạo tẻ Hỏi mẹ mua bao nhiêu ki-lô-gam gạo nếp?”
4.2.4 GV phải biết cách phát triển bài toán trên cơ sở các bài toán có sẵn trong SGK, vở bài tập.
Cách 1: Thay đổi số liệu đã cho
Dạng bài tập này thường được áp dụng thường xuyên nhất trong các tiết học ở những dạng bài “Tính, đặt tính rồi tính, giải toán có lời văn ”, nhằm mục tiêu củng
cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng cơ bản của tiết học
Ví dụ: Khi luyện tập toán bài: “Trừ các số có ba chữ số (có nhớ một lần)”-Toán 3, trong buổi thứ hai, từ bài tập SGK, giáo viên có thể sáng tác các bài toán cơ bản sau:
Bài 1/tr7 – Toán 3 : Tính
541
127
422
144
564
215
Thay đổi số liệu Bài toán mới: a Tính 470
232
897
789
515
208
b Thử lại phép tính bằng cách tìm số trừ
- Học sinh lớp hoàn thành các phép tính trên nhằm củng cố, rèn kĩ năng làm tính trừ có nhớ trong phạm vi 1000 dạng số có ba chữ số trừ đi số có ba chữ số (có nhớ một lần) trong đó vận dụng bảng trừ đã học
- Khuyến khích học sinh làm thêm phần b, thực hiện tính các phép tính trên thử lại phép tính bằng cách “Tìm số bị trừ = Hiệu + Số trừ” hoặc Tìm số trừ = Số
bị trừ - Hiệu
Như vậy trong cùng một khoảng thời gian, cùng một giáo viên, cùng một lớp học, nhưng với mỗi đối tượng khác nhau có số lượng bài tập cần hoàn thành cũng khác nhau Việc làm này còn giúp HS có biện pháp tự học, làm việc hăng say, tích cực, liên tục trong một tiết học
Bài 3/tr 104 – Toán 3: Củng cố rèn kĩ năng giải toán có liên quan đến kĩ năng tính phép trừ có nhớ trong phạm vi 10 000
“Một cửa hàng có 4283m vải, đã bán được 1635m vải Hỏi cửa hàng còn lại bao nhiêu mét vải”
Bài toán mới: “Một cuộn vải dài 8095m vải, cắt ra 2572m vải Hỏi cuộn vải đó còn lại bao nhiêu mét vải?”
Vậy qua đó, học sinh được rèn luyện kĩ năng giải toán dạng “ít hơn” từ quan
hệ “đã bán” sang quan hệ “cắt đi”
Cách 2: Tăng hoặc giảm đi một số yêu cầu của đề toán
-
+
- +
- +
-
+
- +
- +