“Hoàn thiện chính sách Marketing quốc tế nhằm thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm hoá dầu tại công ty cổ phần Hoá dầu Petrolimex”
Trang 1Lời mở đầu
1 Tính tất yếu của chuyên đề
Kể từ năm 1986, Việt Nam chính thức thông qua chủ trương, chínhsách đổi mới nền kinh tế trong đó có chính sách cải cách doanh nghiệp nhànước Đến nay hệ thống các DNNN đã đóng vai trò quan trọng cùng vớicác thành phần kinh tế khác đưa nền kinh tế nước Nhà vượt qua bao thửthách và đạt được những thành tựu to lớn Điều này là một minh chứngphản bác lại những ý kiến nói rằng DNNN là con bạch tuộc ngốn ngânsách, là nơi làm tiêu hao nguồn vốn nhà nước Trong số những DNNN nhưthế không kể đến Tổng công ty xăng dầu Việt Nam mà công ty cổ phầnHoá dầu Petrolimex là một công ty trực thuộc khá lớn mạnh
Hiện nay, công ty cổ phần Hoá dầu Petrolimex đã ổn định thị trườngtrong nước và bước đầu xuất khẩu các sản phẩm hoá dầu ra thị trường nướcngoài Khi áp lực cạnh tranh quốc tế do quá trình tự do hóa thương mại;trước hết là thời hạn có hiệu lực của CEPT trong khuôn khổ AFTA cứ mỗilúc một gần, sau đó là hiệp định thương mại Việt- Mỹ được kí kết và việcViệt Nam ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO thì việc thực hiện cácchính sách Marketing quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng đối vớicác doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần hoá dầu Petrolimex nóiriêng Bởi đây cũng chính là mặt hạn chế của hầu hết các doanh nghiệpViệt Nam Vì vậy, việc nghiên cứu chính sách Marketing quốc tế của Công
ty dừng lại ở cấp độ: Marketing xuất khẩu Mặt khác, do hoạt động xuấtkhẩu các sản phẩm hoá dầu tập trung chủ yếu tại Phòng Kinh doanh Dầu
mỡ nhờn nên chính sách Marketing quốc tế được áp dụng đối với ngànhhàng Dầu mỡ nhờn là chính
Trang 2Do đó đề tài : “Hoàn thiện chính sách Marketing quốc tế nhằm thúc
đẩy xuất khẩu các sản phẩm hoá dầu tại công ty cổ phần Hoá dầu Petrolimex” được chọn để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Qua thực trạng kinh doanh và tình hình xuất nhập khẩu hàng thiết bịđiện Dầu mỡ nhờn, Nhựa đường, Hóa chất của công ty cổ phần hóadầuPetrolimex, để tìm ra được những thành công cũng như mặt hạn chếtrong tiến trình chuyển giao đổi mới công nghệ, cũng như xây dựng thêmcác phương án kinh doanh, các chính sách Maketing mới của công ty phùhợp với tình hình hiện nay nhằm thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh,chuyển giao công nghệ.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của báo cáo là tình hình sản xuất kinhdoanh, phương hướng phát triển, cơ cấu, tình hình tài chính, thị trường,công nghệ, nguồn nhân lực của công ty cổ phần hóa dầu Petrolimex
3.2 Phạm vi nghiên cứu
-Không gian nghiên cứu : Bản báo cáo nghiên cứu trong phạm vi hoat động của công ty cổ phần hóa dầu Petrolimex và một số công ty khác.-Thời gian nghiên cứu: Bản báo cáo nghiên cứu công ty cổ phần hóadầu Petrolimex trong thời gian từ năm 2004 đến năm 2008
4 Phương pháp nghiên cứu
- Báo cáo sử dụng một số phương pháp cơ bản của nghiên cứu kinh
tế như phương pháp thống kê, phương pháp phân tích và tổng hợp, phươngpháp hệ thống…
Nguồn thông tin trong báo cáo được lấy từ các nguồn khác nhau nhưng chủ yếu được lấy từ các báo cáo tổng hợp về tài chính, tài sản… của công ty cổ phần hóa dầu Petrolimex.
Trang 35 Kết cấu của chuyên đề
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp ngoài lời mở đầu và kết luận, bố cụcgồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận chung về Marketing quốc tế.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách Marketing quốc tế tại
công ty Hóa dầu
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện chính sách Marketing quốc tế
nhằm thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm hoá dầu tại công ty hoá dầuPetrolimex (PLC)
Trang 4CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MARKETING QUỐC TẾ
Trong hai thập kỷ vừa qua, nền kinh tế toàn cầu đ• có những bước độtphá quan trọng Cùng với sự chấm dứt của cuộc chiến tranh lạnh kéo dài là
xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới Đồng thời, đó là
sự thu hẹp đáng kể khoảng cách về địa lý, về văn hoá khi mà các hệ thốngnối mạng máy tính, điện thoại toàn cầu và chương trình truyền hình qua vệtinh đi khắp thế giới Thị trường quốc tế ngày càng mở rộng đối với nhữngcông ty nội địa, tạo ra nhiều thách thức cũng như cơ hội cho hoạt động kinhdoanh của họ Mà trong đó, Marketing quốc tế được nhìn nhận là một hoạtđộng kinh doanh hết sức căn bản, có chức năng riêng biệt “Nó là toàn bộcông việc kinh doanh dưới góc độ kết quả cuối cùng, tức là dưới góc độkhách hàng” (Peter Drucker) Điều đó có nghĩa, khác với Marketing trongthị trường nội địa, Marketing quốc tế phải được tiến hành trong một môitrường kinh doanh hết sức rộng lớn và phức tạp Vì vậy, “Những vấn đề lýluận chung về Marketing quốc tế” sẽ cho ta những hiểu biết cơ bản về mặt
lý thuyết của hoạt động Marketing quốc tế
1.1 KHÁI QUÁT VỀ MARKETING QUỐC TẾ
1.1.1 Khái niệm Marketing quốc tế
1.1.1.1 Khái niệm Marketing quốc tế
Đề cập đến Marketing, người ta dựa trên những khái niệm cốt lõi sau: nhu cầu, mong muốn và yêu cầu, sản phẩm, giá trị, chi phí và sự hài lòng, trao đổi, giao dịch và các mối quan hệ, thị trường, Marketing và những người làm Marketing Những khái niệm này được minh hoạ trong sơ đồ sau:
Trang 5Hình 1.1 Những khái niệm cốt lõi của Marketing.
Cũng giống như cách tiếp cận Marketing nói chung, Marketing quốc tế
là sự vận dụng những nguyên tắc, nguyên lý này trong một môi trường kinhdoanh rộng lớn và nhiều yếu tố biến động hơn, đó là thị trường quốc tế
Có nhiều định nghĩa Marketing quốc tế, ở đây xin nêu ra một địnhnghĩa khá phổ biến:
Marketing quốc tế là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó
mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thôngqua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với ngườikhác trong phạm vi quốc tế
Như vậy, các khái niệm Marketing nói chung và Marketing quốc tếnói riêng đều tập trung vào vấn đề nắm bắt nhu cầu thị trường và tìm cácbiện pháp để thoả mãn tối đa những nhu cầu đó nhằm mang lại lợi nhuậntối đa cho doanh nghiệp Nhưng nhu cầu của khách hàng trên thị trườngquốc tế đa dạng và phức tạp hơn rất nhiều so với thị trường nội địa do hệthống những nhu cầu này chịu sự chi phối của nhiều yếu tố như: kinh tế,văn hoá, địa lý, luật pháp Đây cũng là điểm khác nhau căn bản nhất giữaMarketing quốc tế và Marketing nội địa
1.1.1.2 Phân loại Marketing quốc tế
Trong ngoại thương hoạt động Marketing quốc tế có thể được tiếnhành ở nhiều cấp độ khác nhau tuỳ thuộc vị thế và đặc tính sản phẩm củacông ty Căn cứ vào tính phức tạp của hoạt động Marketing quốc tế, người
ta phân chia nó thành 3 loại sau (theo thứ tự từ đơn giản đến phức tạp):
hài lòng
Trao đổi, giao dịch và các mối quan hệ
Thị trường Marketing
và người làm marketing
Trang 6a) Marketing truyền thống.
Marketing truyền thống là hoạt động Marketing của các doanh nghiệpchỉ có trách nhiệm tìm và bán các sản phẩm của mình cho khách hàng vàgần như không quan tâm (hoặc ít quan tâm) sản phẩm của mình có thoảmãn người tiêu dùng không
b) Marketing xuất khẩu
Ở mức độ nào đó, công ty đã có chỗ đứng tương đối vững chắc trên thịtrường nội địa và bắt đầu nghiên cứu có hệ thống thị trường nước ngoài.Ngoài ra, công ty cố gắng thích ứng sản xuất những mặt hàng, sản phẩmtheo chỉ tiêu và những đòi hỏi của thị trường Trong giai đoạn này, thịtrường nước ngoài vẫn chỉ ở mức bổ sung cho thị trường chính trong nước.c) Marketing toàn cầu
Trong giai đoạn phát triển này, đối với công ty, thế giới được xem nhưmột thị trường thống nhất Nguyên tắc của hoạt động Marketing dựa trên
cơ sở những điểm tương đồng về văn hoá, sở thích, khuynh hướng tiêu thụ
ở các thị trường khác nhau Trên cơ sở đó, mục đích chính của công ty làsản xuất ra các sản phẩm có thể tiêu thụ và thích hợp trên phạm vi toàn cầu,không phụ thuộc vào sự khác biệt về văn hoá, đặc điểm dân tộc,tập quán,thói quen của từng thị trường như sản phẩm của CocaCola, Kodak
1.1.2 Chức năng của Marketing quốc tế
Hoạt động trong một môi trường kinh doanh rộng lớn, Marketing quốc
tế phải làm thích ứng hoạt động kinh doanh đó với thị trường quốc tế nhằm
mở rộng thị trường, đem lại lợi nhuân tối đa cho doanh nghiệp Vì vậy,Marketing quốc tế có những chức năng chính sau:
a Thiết lập một hệ thống quan sát hữu hiệu tập hợp các thị trường đểnhận biết một cách nhanh chóng các biến động thị trường và nếu có thể thì
dự báo trước các biến động đó
Trang 7b Thiết lập khả năng phản ứng nhanh chóng đối với các điều kiện đặcbiệt và đồng thời với nó là khả năng thích ứng nhanh chóng từ phía dịch vụsản xuất và dịch vụ hành chính.
c Thiết lập một hệ thống theo dõi kết quả và kiểm tra hiệu quả cáchoạt động đã cam kết bất chấp những khó khăn nảy sinh do sự khác biệt vềmôi trường kinh doanh
d Hình thành khả năng sáng tạo và áp dụng những thay đổi trong kỹthuật thu thập thông tin trên thị trường để bao quát được mọi trường hợpriêng biệt
1.2 XUẤT KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG MARKETING QUỐC TẾ ĐỐI VỚI XUẤT
1.2.1 Xuất khẩu
1.2.1.1Khái niệm và các loại hình xuất khẩu
Theo cách tiếp cận đơn giản nhất, xuất khẩu là việc bán sản phẩm, chitiết được sản xuất, lưu trữ hay chế biến tại nước của công ty cung cấp vànước người khác với nhà cung cấp liên quan tới việc sản xuất hoặc chế biếnhàng hoá ở nước ngoài Ngày nay, các doanh nghiệp quốc tế hoạt độngkinh doanh của mình với phạm vi ngày càng rộng Vì vậy, sự khác biệtgiữa xuất khẩu thuần tuý với hoạt động kinh doanh quốc tê trở nên rất mờnhạt Tuy nhiên, về mặt bản chất, chúng vẫn có sự khác nhau nhất định
Trang 8Mục đích xuất khẩu hàng hoá ra thị trường nước ngoài của công tymỗi khác nhau Nêú như công ty này xuất khẩu hàng hoá nhằm nâng caodoanh số bán, mở rộng thị trường thì công ty khác lại coi xuất khẩu là chứcnăng chủ yếu trong toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty Tuỳ theođiều kiện quốc tế cũng như mục đích kinh doanh mà công ty có thể lựachọn phương thức sản xuất phù hợp nhất Nhìn chung, xuất khẩu đượcchia ra thành hai loại hình cơ bản: xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu giántiếp Xuất khẩu gián tiếp là hình thức xuất khẩu trong đó công ty thông quadịch vụ của các tổ chức độc lập đặt ngay tại nước xuất khẩu để tiến hànhxuất khẩu sản phẩm của mình ra nước ngoài Khi doanh nghiệp mới thamgia vào thị trường quốc tế, áp dụng hình thức xuất khẩu gián tiếp giúpdoanh nghiệp hạn chế được rủi ro, tận dụng được kinh nghiệm của trunggian xuất khẩu, doanh nghiệp cũng ít phải đầu tư một khoản vốn để xâmnhập thị trường Nhưng doanh nghiệp cũng gặp phải một số vướng mắcnhư: Doanh nghiệp không trực tiếp thu thập được những thông tin phản hồicủa thị trường về sản phẩm xuất khẩu
Do đó, nó làm chậm quá trình cải tiến sản phẩm, nâng cao tính cạnhtranh, khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường Bên cạnh hình thức xuất khẩugián tiếp, xuất khẩu trực tiếp được áp dụng khi doanh nghiệp đã phát triển
đủ mạnh để có thể thành lập tổ chức bán hàng riêng của mình, nhằm kiểmsoát trực tiếp thị trường Mặc dù xuất khẩu trực tiếp khiến độ rủi ro kinhdoanh tăng cao song nó giảm bớt lợi nhuận trung gian, tức giảm bớt chi phíxuất khẩu và làm tăng lợi nhuận cho nhà sản xuất Mặt khác, những thôngtin phản hồi từ phía khách hàng về sản phẩm của doanh nghiệp cũng đượcthu thập một cách nhanh chóng và chính xác hơn Như vậy, doanh nghiệp
có thể biết được nhu cầu khách hàng và tình hình bán hàng để thay đổi sảnphẩm và các điều kiện bán hàng cho phù hợp
1.2.1.2 Các trung gian xuất khẩu.
Trang 9Cùng với sự phát triển hoạt động kinh doanh quốc tế, các trung gianxuất khẩu cũng xuất hiện với hình thức ngày càng phong phú và đa dạng.Tuy nhiên, mỗi loại trung gian xuất khẩu có những ưu điểm và hạn chếriêng Tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi công ty mà có thể lựa chọn chomình một trung gian xuất khẩu phù hợp nhất với khả năng tài chính, sảnphẩm xuất khẩu.
a) Các thương nhân xuất khẩu:
Các thương nhân xuất khẩu có mặt ở ngay nước của công ty xuất khẩu
có vai trò là người hướng dẫn trong các hoạt động xuất khẩu (nghĩa là mua
và bán trên các tài khoản riêng của họ) Họ là những người bán buôn, muahàng hoá của công ty trong nước và đem bán lại chúng ở nước ngoài Họhoạt động trên thị trường nước ngoài thông qua các cửa hiệu bán lẻ Một sốngười chuyên ở một số nước nào đó, một số khác chuyên về những hànghoá cụ thể nào đó Việc kinh doanh của họ gọi là những “ hãng xuất khẩu”.Lợi nhuận thu được là khoản chênh lệch giữa giá mua và giá bán Các hãngxuất khẩu có những kiến thức hiểu biết lớn và có sự quen thuộc điều kiệnthị trường nước ngoài Các công ty xuất khẩu sẽ giảm bớt được những khókhăn về quản lí, về các thủ tục, vận chuyển đóng hàng, vận chuyển nội bộ Các công ty xuất khẩu sẽ không gặp phải rủi ro thất bại thị trường Tuynhiên, các công ty xuất khẩu sẽ không kiểm soát được toàn bộ sự có mặtsản phẩm của họ ở thị trường nước ngoài và có thể gặp những thất bại khitiến hành bán lẻ ở nước ngoài không được đảm bảo hàng Một điều rõ ràng
là lợi nhuận của các công ty xuất khẩu qua trung gian sẽ thấp hơn so vớixuất khẩu trực tiếp
Trang 10Tuy nhiên, lợi ích rất lớn xuất phát từ việc sử dụng một hãng xuấtkhẩu đã được tổ chức tốt là đối tác của công ty tiếp xúc ngay với danh sách
và những khách hàng tiềm năng trên khắp thế giới, giúp cho họ tiết kiệmthời gian nghiên cứu thị trường nước ngoài Các hãng xuất khẩu tự mìnhnắm được mạng lưới rộng rãi về các hợp đồng đại lí, sắp xếp mối quan hệgiữa các nhà phân phối và thoả thuận với các ngân hàng Nhà nước, cáchãng quảng cáo và các công ty nghiên cứu thị trường Chú ý xem làm thếnào mà một số công ty lớn thường tự mình thực hiện các hợp đồng xuấtkhẩu và rất hiếm khi sử dụng các hãng xuất khẩu để bán hàng trong nhữngđịa điểm nhỏ và không quen thuộc vì ở đó thành lập một chi nhánh bánhàng độc lập sẽ không đem lại nhiều lợi ích
Liên kết với một thương nhân xuất khẩu là cần thiết giống như việcbán hàng cho khách hàng trong nước Việc thanh toán sẽ được tiến hànhtheo những điều kiện và nội dung giống hệt như thông lệ ở thị trường trongnước
b) Các hãng xác nhận.
Các hãng buôn chứng thực tồn tại để làm đại diện là người hướng dẫngiới thiệu cho những người mua nước ngoài biết về những công ty chưa cótiếng tăm để cung cấp cho họ theo các điều khoản tín dụng Công ty chứngthực tài trợ cho việc giao dịch và do vậy sẽ biết được rủi ro về thiếu vắngkhách hàng Ngược lại, nó thu được hoa hồng từ người mua Khách hàngnước ngoài gửi đơn đặt hàng tới nhà cung cấp được một hãng buôn chứngthực “ khẳng định mua hàng với cách thức thanh toán” Chứng nhận thanhtoán nói lên rằng sẵn sàng mua và chấp nhận thanh toán trong một tài liệuriêng Ngày sau khi hàng hoá sẵn sàng được giao thì nhà cung cấp thôngbáo cho hãng buôn chứng thực biết để thông báo giao hàng và thanh toáncho nhà cung cấp
c) Các đại lí cung cấp.
Trang 11Các đại lí xuất khẩu sẽ nhận được hoa hồng từ các công ty trong nước.
Họ bán ra thị trường theo danh nghĩa tên riêng của họ hay tên các đối táccủa họ Các đại lí không phân phối là người chịu trách nhiệm chính, nhữngrủi ro, thất bại, trách nhiệm về bảo hiểm hay các thủ tục kê khai hải quan
là của các công ty xuất khẩu
d)Các chi nhánh (cơ sở) mua hàng.
Các tập đoàn bán lẻ lớn, các tổ chức quốc tế và các đại lí mua hàngcủa chính phủ thường xuyên duy trì các chi nhánh mua hàng có cổ đôngnhững nước công nghiệp lớn Họ mua tại các nhà máy hay mua theo giáFOB và do vậy, giúp các công ty cung cấp hàng hoá tiết kiệm những chiphí và giảm bớt sự bất tiện về tài liệu ngoại thương
Trang 12e) Các công ty quản lý xuất khẩu.
Có những công ty là người chuyên về xuất khẩu và họ đưa các dịch
vụ xuất khẩu hoàn chỉnh bao gồm tất cả các chức năng của nghiệp vụ xuấtkhẩu Người quản lí xuất khẩu có thể nhân danh tên của công ty xuất khẩunhưng cũng có thể đóng vai trò là một người chỉ đạo, những giao dịch vềtài chính và chấp nhận một phần rủi ro của họ bằng việc thuê một ngườiquản lý xuất khẩu, công ty sẽ đảm bảo phẩn việc xuất khẩu được hoànthành và đương nhiên công ty phải trả tiền hoa hồng cho người đó Hơnnữa, do sản phẩm thường được xuất khẩu dưới tên của công ty xuất khẩu,nên trên thị trường nước ngoài chúng được nhận biết là những sản phẩmcủa công ty xuất khẩu Các công ty xuất khẩu không phải mất chi phí quản
lý chung đối với các nghiệp vụ xuất khẩu, không cần tuyển người và khôngcần phải phát triển các nhân viên chuyên về Marketing quốc tế Một công
ty quản ký xuất khẩu sẽ thực hiện các chức năng xuất khẩu của nhiềucông ty khách hàng tại cùng một thời điểm, do vậy đảm bảo đạt được hiệuquả kinh tế nhờ giảm được chi phí, đặc biệt là nếu người xuất khẩu chuyên
về một mặt hàng nào đó Một thuận lợi nữa trong việc sử dụng các công tyquản lý xuất khẩu và doanh thu của công ty dựa trên tỉ lệ hoa hồng của cácdoanh số bán hàng nên công ty sẽ hoạt động tích cực để làm tăng doanh sốbán hàng ở nước ngoài Những khó khăn mà công ty quản lý xuất khẩu cóthể gặp phải là:
+ Quá tải do thực hiện công việc của quá nhiều khách hàng
+ Không có kiến thức cần thiết về các thị trường nước ngoài
+ Thiếu chuyên gia về sản phẩm
Hơn nữa, cần lưu ý rằng việc sử dụng những công ty quản lý xuấtkhẩu bên ngoài sẽ làm cho nhiều công ty sử dụng dịch vụ này bỏ quanhững khả năng, bước xuất khẩu cần có trong nội bộ công ty
Trang 131.1.1.3 Lợi ích và khó khăn của xuất khẩu.
Một trong những lí do chính khiến cho các công ty thúc đẩy các hoạtđộng kinh doanh quốc tế, nói chung và xuất khẩu ra thị trường nước ngoàinói riêng là: Họ hi vọng tăng hiệu quả kinh tế theo quy mô đa dạng hoá sảnxuất và hiều quả mà “đường cong kinh nghiệm” đem lại từ việc gia tăngsản phẩm đầu ra Mặt khác, thị trường nước ngoài có khả năng sinh lợi cao
mà thị trường trong nước không thể bằng Điều đó cho ta thấy rõ ràng làxuất khẩu mang lại rất nhiều lợi ích: Độ rủi ro, thất bại thị trường tronghoạt động xuất khẩu ít hơn đáng kể so với đầu tư trực tiếp nước ngoài.Kinh nghiệm về Marketing quốc tế không ngừng được nâng cao; mối quan
hệ với các đại lý nước ngoài, các nhà phân phối và các cửa hàng bán lẻ ởnước ngoài được mở rộng Xuất khẩu giúp cho việc nhận biết nhu cầukhách hàng và xác lập các biện pháp thoả mãn các nhu cầu đó nhằm đemlại lợi nhuận tối đa cho nhà xuất khẩu
Bên cạnh đó, xuất khẩu cũng gặp phải không ít những khó khăn, trởngại
• Chi phí, sự không thuận tiện của việc tìm kiếm các đại lý và các nhà phânphối nước ngoài, mỗi thị trường nước ngoài có những đặc điểm,những quy định thương mại khác nhau
• Chi phí tài chính cho khoảng thời gian dài chờ nhận được các đơn đặthàng xuất khẩu, phân phối hàng hoá cho người nhập khẩu và nhậnđược thanh toán
• Khả năng nắm bắt thông tin từ thị trường nước ngoài và thách thức đốivới công ty xuất khẩu trước những thay đổi của thị trường nước ngoàivề: Tình hình cạnh tranh, chính trị, luật pháp, kinh tế xã hội
• Hoạt động Marketing quốc tế bị chi phối bởi nhiều nhân tố luôn luônbiến động, đặc biệt là khả năng nắm bắt “ thị hiếu ” của khách hàngnước ngoài
Trang 14Để tiến hành xuất khẩu đạt hiệu quả cao nhất, công ty xuất khẩu cầncoi trọng đúng mức hoạt động Marketing quốc tế Cần thực hiện tốt côngtác nghiên cứu thị trường cũng như nắm bắt được nhu cầu, đặc điểm củakhách hàng nước ngoài và đưa ra được những dự báo về thị trường đó Nhờvậy, công ty có thể thích nghi với thị trường nước ngoài và điều chỉnh hoạtđộng xuất khẩu cho phù hợp với thị trường thâm nhập.
1.2.2 Vai trò của hoạt động Marketing quốc tế đối với xuất khẩu
Marketing quốc tế giúp doanh nghiệp tăng hiệu quả kinh tế theo quy
mô Bằng cách lựa chọn đúng thị trường xuất khẩu, Marketing quốc tế thúcđẩy doanh nghiệp thâm nhập vào đoạn thị trường tiềm năng đã lựa chọn.Các sản phẩm của doanh nghiệp được xuất khẩu vào thị trường có sức mua
và khả năng thanh toán lớn hơn thị trường trong nước Do vậy, chi phí chomột đơn vị sản phẩm giảm xuống nhờ việc tăng quy mô sản xuất Cũngnhư tối thiểu hoá được hàng loạt các chi phí khác (chiết khấu thu được từviệc mua hàng nhiều, chi phí vận chuyển, chi phí cho hoạt động nghiêncứu, triển khai )
Một mặt, Marketing quốc tế giúp doanh nghiệp tăng hiệu quả kinh tếtheo quy mô, mặt khác, nó làm tăng khả năng sinh lợi của doanh nghiệpngày nay, khi quá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới đang diễn ra mạnh
mẽ, biên giới thương mại giữa các quốc gia cũng dần dần được xoá bỏ Cácđiều kiện phục vụ cho hoạt động kinh doanh quốc tế trở nên thuận tiện vàđơn giản Hơn nữa, thị trường nước ngoài chứa đựng những nhân tố thúcđẩy khả năng sinh lợi của doanh nghiệp mà thị trường trong nước không
có được như: sức mua, khả năng thanh toán, cơ hội tăng nhu cầu thịtrường
Trang 15Bất kì một sản phẩm nào cũng có chu kỳ sống của riêng nó Khi có sựgiảm sút bất ngờ về nhu cầu thị trường ở một nước có thể được bù đắp bởiviệc phát triển mở rộng nhu cầu ở những nước khác Marketing quốc tế lúcnày đóng vai trò là “chiếc cầu nối ” giữa doanh nghiệp và thị trường tiềmnăng cũng như giữa thị trường này với thị trường khác.
Trong kinh doanh quốc tế, người ta đề cập đến “ cơ hội quốc tế ” như
là một yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp thâm nhập thành công thịtrường tiềm năng và gia tăng thị phần trên đoạn thị trường đang hoạt động.Marketing quốc tế xác lập các biện pháp, các chính sách giúp doanh nghiệp
có kế hoạch, các chiến lược trong dài hạn để bám sát hàng loạt những cơhội quốc tế Việc nắm bắt được các cơ hội là chiếc chìa khoá giúp doanhnghiệp cạnh tranh và gia tăng doanh số bán hàng từ hoạt động xuất khẩu.Như vậy, muốn xuất khẩu đem lại hiệu quả cao, nhất thiết doanhnghiệp phải tổ chức tốt các hoạt động Marketing quốc tế Cần có một độingũ nhân viên, những nhà quản lý giàu kinh nghiệm, am hiểu hoạt độngMarketing quốc tế Chi phí cho hoạt động này cũng được đảm bảo mộtcách đúng mực Đây cũng là vấn đề mà từ trước đến nay các doanh nghiệpViệt Nam chưa hề coi trọng tìm hiểu, nghiên cứu thị trường xuất khẩu làhoạt động kinh doanh còn nhiều hạn chế của các công ty xuất khẩu
Như vậy, muốn xuất khẩu đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhất thiếtdoanh nghiệp phải tổ chức tốt các hoạt động Maketing quốc tế Cần có mộtđội ngũ nhân viên, những nhà quản lý giầu kinh nghiệm, am hiểu hoạt độngMaketing quốc tế Chi phí cho hoạt động này cũng được đảm bảo một cáchđúng mức Đây cũng là vấn đề mà từ trước đến nay các doanh nghiệp ViệtNam chưa hề coi trọng tìm hiểu, nghiên cứu thị trường xuất khẩu là hoạtđộng kinh doanh còn nhiều hạn chế của các Công ty xuất khẩu
1.3 CÁC CHÍNH SÁCH MARKETINH QUỐC TẾ
1.3.1 Chính sách sản phẩm quốc tế.
Trang 16Đây là bộ phận quan trọng nhất trong các chính sách Marketing quốc
tế Vậy, sản phẩm là gì: “Sản phẩm là mọi thứ có thể chào bán trên thị trường để có thể mua sử dụng hay tiêu dùng và có thể thoả mãn một mong muốn hoặc một nhu cầu nào đó” Với những sản phẩm được mua bán trên thị trường bao gồm hàng hoá vật chất, dịch vụ, địa điểm, tổ chức và ý tưởng, chính sách sản phẩm nói chung và chính sách sản phẩm quốc tế nói riêng được thể hiện thông qua các nội dung sau:
Trang 17* Danh mục, chủng loại sản phẩm.
Một danh mục sản phẩm là một tập hợp tất cả những sản phẩm và mặthàng mà một người bán cụ thể đưa ra để bán cho người mua Danh mục sảnphẩm của một công ty sẽ có chiều dài, chiều rộng, độ sâu và mật độ nhấtđịnh Chiều rộng danh mục sản phẩm thể hiện công ty có bao nhiêu sảnphẩm khác nhau Chiều dài của danh mục sản phẩm là tổng số các mặthàng trong danh mục sản phẩm Chiều sâu danh mục sản phẩm thể hiện cóbao nhiêu phương án của mỗi sản phẩm trong loại Còn mật độ của danhmục sản phẩm thể hiện mối quan hệ mật thiết đến mức độ nào giữa các loạisản phẩm khác nhau xét theo cách sử dụng cuối cùng, thiết bị sản xuất,kênh phân phối hay một phương diện nào khác
Bốn chiều trên của danh mục sản phẩm tạo nên những căn cứ để xácđịnh chính sách sản phẩm của công ty Đó là:
+ Mở rộng danh mục sản phẩm bằng cách bổ sung sản phẩm mới.+ Kéo dài từng loại sản phẩm làm tăng chiều dài danh mục
+ Bổ sung thêm các phương án sản phẩm cho từng sản phẩm và tăngchiều sâu cho danh mục sản phẩm
+ Làm tăng hay giảm mật độ của loại sản phẩm tuỳ theo ý đồ kinhdoanh của công ty: muốn có uy tín vững chắc trong một lĩnh vực hay thamgia vào nhiều lĩnh vực
Chủng loại sản phẩm là một nhóm sản phẩm có quan hệ chặt chẽ vớinhau Bởi chúng thực hiện một chức năng tương tự, được bán cho ngườitiêu dùng, qua cùng kênh như nhau hay tạo nên một khung giá cụ thể
Một danh mục sản phẩm bao gồm nhiều sản phẩm khác nhau, ngườiquản lý cần phải biết doanh số của từng sản phẩm hay nhóm sản phẩm vàtình trạng của sản phẩm đó so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh để từ đó
có quyết định về chiều dài tối ưu của loại sản phẩm, quyết định hiện đạihoá sản phẩm, làm nổi bật hay thanh lọc sản phẩm
* Chất lượng sản phẩm.
Trang 18“Chất lượng sản phẩm là toàn bộ những tính năng của một sản phẩmhay dịch vụ đem lại cho nó khả năng thoả mãn những nhu cầu được nói rahay được hiểu ngầm”.
Đối với chất lượng sản phẩm và dịch vụ, sự thoả mãn khách hàng vàkhả năng sinh lời của công ty có mối quan hệ mật thiết Mức chất lượngcàng cao thì mức độ thoả mãn khách hàng cũng càng cao và ta cũng có thểtính giá cao hơn trong khi chi phí thường là không tăng hơn nhiều, thậm chíchi phí giảm (do sự khác biệt về công nghệ)
Chất lượng sản phẩm là một trong những thuộc tính đầu tiên và quantrọng nhất đối với khách hàng khi họ lựa chọn sản phẩm của công ty (đặcbiệt là đối với những sản phẩm công nghiệp) Do vậy, chất lượng sản phẩmphải lấy khách hàng làm trung tâm Chất lượng phù hợp là chất lượng đápứng được nhu cầu thị trường theo mục tiêu và khi phân tích chất lương phảitính đến chất lượng theo thị trường chứ không phải chất lượng theo tiêuchuẩn kỹ thuật Đối với chính sách sản phẩm quốc tế thì vấn đề này càngquan trọng
Trong các quyết định về sản phẩm thì quyết định về chất lượng sảnphẩm là một quyết định then chốt bởi tất cả các nỗ lực Marketing sẽ trởthành vô nghĩa khi sản phẩm đó là một sản phẩm tồi Mặt khác, chất lượngsản phẩm có ảnh hưởng đến hiệu quả của các chính sách Marketing khác
Do vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn cải tiến chất lượng sản phẩm, nângcao năng lực cạnh tranh Để cải tiến chất lượng sản phẩm cần phải chú ýđến những vấn đề sau:
- Chất lượng phải được khách hàng nhận thức được
- Chất lượng phải được phản ánh trong mọi sản phẩm của công ty chứkhông phải trong một sản phẩm nhất định của công ty
- Chất lượng bao giờ cũng có thể cải tiến Cải tiến chất lượng đôi khiđòi hỏi phải có bước đột phá
- Chất lượng không đòi hỏi chi phí thêm
Trang 19- Chất lượng là cần thiết nhưng có thể là không đủ, chạy đua theo chấtlượng không thể cứu vãn được sản phẩm tồi.
* Nhãn hiệu, bao bì sản phẩm
Nhãn hiệu, bao bì sản phẩm là bộ phận quan trọng trong chính sáchsản phẩm quốc tế Nhãn hiệu về cơ bản là một sự hứa hẹn của người bánđảm bảo cung cấp cho người mua một sản phẩm tốt Việc thiết kế nhãnhiệu phù hợp với sản phẩm cũng như phù hợp với thị hiếu của thị trườngnước ngoài là một phần thiết yếu trong chính sách Marketing quốc tế củadoanh nghiệp
Bao bì có thể đóng vai trò chủ yếu hay thứ yếu đối với từng loại sảnphẩm Đối với những người làm Marketing quốc tế, bao bì được xem làmột yếu tố thiết yếu của chính sách sản phẩm và trở thành một công cụMarketing đắc lực Bao bì thiết kế tốt có thể tạo ra giá trị thuận tiện chongười tiêu dùng (làm nâng cao tổng giá trị nhận được của người mua) vàgiá trị khuyến mãi cho người sản xuất
* Dịch vụ sau bán hàng.
Trong thời đại ngày nay thì dịch vụ sau bán hàng là công cụ để đảmbảo lợi thế cạnh tranh của công ty (đặc biệt là những công ty sản xuất mặthàng có tính công nghiệp và những mặt hàng có tính kỹ thuật cao) Dịch vụsau bán hàng nếu được thực hiện tốt sẽ làm tăng lợi ích nhận được củakhách hàng cũng như sự hài lòng của khách hàng khi mua sản phẩm Dịch
vụ sau bán hàng tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm trong môi trường cạnhtranh
1.3.2 Chính sách giá quốc tế.
Trang 20Giá cả mang lại thu nhập nhưng cũng là yếu tố linh hoạt nhất trongcác chính sách Marketing, nó có thể thay đổi một cách nhanh chóng, khônggiống như những tính chất của sản phẩm và những cam kết của kênh Đồngthời việc định giá và cạnh tranh giá cả là vấn đề số một cho những ngườilàm Marketing, đặc biệt trong môi trường kinh doanh quốc tế.
Trong Marketing quốc tế, việc xác định giá cả bao gồm các nội dungchủ yếu sau:
- Xác định mức giá cơ sở cho sản xuất của doanh nghiệp
- Xác định các điều kiện để phân hoá giá bán tại các thị trường khácnhau
- Xác định một chính sách giá giữa các thị trường nước ngoài…
Việc xác định giá cả sản phẩm tại thị trường nước ngoài chịu ảnhhưởng của nhiều nhân tố:
Trang 211.3.3 Chính sách phân phối quốc tế.
Chính sách phân phối quốc tế là một trong những khâu quan trọng vàhết sức phức tạp mà người làm Marketing phải thực hiện Hầu hết nhữngngười sản xuất đều cung cấp sản phẩm của mình cho thị trường quốc tếthông qua những người trung gian Do đó, vấn đề phân phối là vấn đề sốngcòn đối với doanh nghiệp trong thời đại ngày nay Sự quan trọng của hệthống phân phối được Corey nhận xét :
"Hệ thống phân phối là một nguồn lực then chốt ở bên ngoài Thôngthường phải mất nhiều năm mới xây dựng được và không dễ gì thay đổiđược nó Nó có tầm quan trọng không thua kém gì những nguồn lực thenchốt trong nội bộ như con người và phương tiện sản xuất, nghiên cứu thiết
kế và tiêu thụ Nó là cam kết của công ty với rất nhiều công ty độc lập khácchuyên về phân phối và đối với thị trường mà công ty phục vụ Nó cũng làmột loạt những cam kết về một loạt chính sách và thông lệ tạo nên những
cơ sở để xây dựng mối quan hệ lâu dài."
Nội dung quan trọng nhất trong chính sách Marketing nói chung vàMarketing quốc tế nói riêng là hệ thống các kênh phân phối KênhMarketing có thể xem như tập hợp các tổ chức phụ thuộc lẫn nhau liênquan đến quá trình tạo ra sản phẩm hay dịch vụ hiện có để sử dụng hay tiêudùng - đó cũng chính là bản chất của kênh phân phối
Kênh Marketing được tạo thành như một dòng chảy có hệ thống đượcđặc trưng bởi cấp số của kênh, bao gồm: người sản xuất, các trung gian vàngười tiêu dùng Kênh Marketing thực hiện công việc lưu chuyển hàng hoá
từ người sản xuất đến người tiêu dùng, vượt qua những ngăn cách về khônggian, thời gian, đem lại sự tiện dụng cho người tiêu dùng hàng hoá củacông ty
Trang 22Kênh Marketing là cốt lõi của chính sách phân phối quốc tế Nó đạtđược nhằm các mục tiêu phân phối và tạo điều kiện để phát huy tác dụngcủa các chính sách markting khác Kênh Marketing tạo nên đặc trưng củachính sách phân phối quốc tế và đồng thời tạo ra sự khác biệt giữa các côngty.
1.3.4 Chính sách khuyếch trương quốc tế.
Thực hiện hoạt động khuyếch trương trên phạm vi quốc tế, chính sáchnày phải tính đến những ảnh hưởng của các nhân tố rất phức tạp Khuyếchtrương bao gồm nhiều hoạt động khác nhau nhằm mục tiêu cung cấp vàtruyền thông tin về một sản phẩm nào đó đến nhà cung cấp, các khách hàng
và người tiêu dùng cuối cùng để tạo ra và phát triển nhận thức, sự hiểu biết
và lòng ham muốn mua hàng Khuyếch trương trong Marketing quốc tếkhác với trên thị trường nội địa, vì đây là quá trình truyền tin giữa các nềnvăn hoá song sự phân biệt như vậy không phải là tuyệt đối Sự khác biệtnày thể hiện ở các khía cạnh về ngôn ngữ, luật pháp, phương tiện giao tiếp,thị hiếu… Chính sách khuyếch trương quốc tế tập trung vào các nội dungchính như sau:
+ Marketing trực tiếp.
Đây là hệ thống tương tác của Marketing có sử dụng một hay nhiềuphương tiện quảng cáo để tác động đến một phản ứng đáp lại đo đếm đượchay việc giao dịch tại bất kỳ địa điểm nào Các công cụ Marketing trực tiếp
có thể sử dụng là: thư, điện thoại và các công cụ liên lạc gián tiếp khác đểthông tin cho khách hàng hiện có và khách hàng tiềm năng của doanhnghiệp
+ Quảng cáo.
Trang 23Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện không gian và thời gian đểchuyển đến khách hàng tiềm năng các thông tin về sản phẩm của doanhnghiệp Thực hiện một chương trình quảng cáo, người làm Marketing phảitính đến sự tác động của hai nhóm nhân tố là môi trường quảng cáo vàphương tiện quảng cáo Một số phương tiện quảng cáo quốc tế thông dụngnhư: báo, tạp chí, phương tiện truyền thanh, truyền hình quốc tế, cácphương tiện quảng cáo ngoài trời, bưu điện và đội ngũ nhân viên chàohàng…
+ Xúc tiến bán hàng.
Xúc tiến bán hàng là toàn bộ các hoạt động Marketing nhằm thu hút
sự chú ý của khách hàng tới một sản phẩm khiến nó trở nên hấp dẫn hơn ởnơi bán hoặc nơi tiêu thụ Hoạt động xúc tiến bán hàng được sử dụng cóhiệu quả khi có sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà sản xuất trên thị trườngnước ngoài, các sản phẩm tương đối giống nhau về chất lượng, giá cả, khốilượng bán phụ thuộc mức độ quen thuộc giữa khách hàng với doanhnghiệp Các hình thức chủ yếu của xúc tiến bán hàng là: thay đổi hình thứcsản phẩm, khuyến khích mua hàng, trưng bày các tài liệu về sản phẩm tạiđiểm bán, giới thiệu mẫu hàng
+ Các hoạt động yểm trợ sản phẩm.
Đây là những hoạt động liên quan đến các dịch vụ sản phẩm và thôngtin mà doanh nghiệp cung cấp thêm cho những người sử dụng sản phẩmcủa mình Các dịch vụ sản phẩm chủ yếu là: Catalog, xuất bản phẩm vềdoanh nghiệp, phim ảnh…
+ Xây dựng các mối liên hệ với công chúng.
Trang 24Doanh nghiệp có thể tiến hành nhiều hoạt động phong phú và đa dạng
để xây dựng và mở rộng các mối liên hệ với công chúng Những hoạt độngchủ yếu là: quan hệ báo chí, hội trợ, triển l•m, phòng trưng bày… Mục tiêucủa hoạt động này là giới thiệu sản phẩm đến tay khách hàng, trao đổithông tin, tìm hiểu đối thủ cạnh tranh, tiếp xúc với khách hàng tiềm năng,thu thập những ý kiến đánh giá của khách hàng, quan sát xu thế của thịtrường…
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MARKETING QUỐC TẾ
Toàn bộ các hoạt động Marketing quốc tế đều diễn ra trong một môitrường kinh doanh rộng lớn và phức tạp hơn hết nhiều so với môi trườngkinh doanh trong nước Môi trường này bao gồm hàng loạt các nhân tố cóảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến các yếu tố của Marketing quốc tế như:sản phẩm, giá cả, phân phối, khuyếch trương Các nhân tố này thuộc môitrường kinh tế, luật pháp, văn hoá, chính trị, công nghệ và các nhân tốmang tính toàn cầu như: thế quan, kiểm soát ngoại hối Dù vậy, các công
ty không thể kiểm soát được sự biến động của môi trường đó mà chỉ có thểđưa ra những dự báo cần thiết và trả lơi 2 câu hỏi căn bản:
* Công ty bị tác động như thế nào?
* Phản ứng của các công ty ra sao?
Điều đó có nghĩa công ty luôn luôn phải điều chỉnh hoạt động kinhdoanh nói chung và hoạt động Marketing quốc tế nói riêng để thích ứng với
sự biến động của môi trường kinh doanh
1.4.1 Các nhân tố mang tính toàn cầu
Người ta quy những nhân tố mang tính toàn cầu này thuộc về hệthống thương mại quốc tế.Đó là các hàng rào thuế quan, phi thuế quan mộtnước có thể bảo trợ một số ngành sản xuất trong nước bằng cách tăng thuếnhập khẩu đối với một số mặt hàng cùng loại hay áp dụng chế độ hạnngạch nhằm hạn chế số lượng hàng nhập khẩu Bên cạnh các công cụ thuế
Trang 25quan, ngày nay, đứng trước xu thế tự do hoá thương mại, các công cụ phithuế quan của các quốc gia trở nên tinh vi và chặt chẽ hơn bao giờ hết Cácnhà kinh doanh nước ngoài phải đối diện với hàng rào phi thuế quan như:
hệ thống tiêu chuẩn của quốc gia đó, giấy phép nhập khẩu, các chế độ phânbiệt đối với nhà đấu thầu nước ngoài
Với nỗ lực quan trọng để đi đến những hiệp định giải toả mức độ thuếquan và các hàng rào phi thuế quan trên khắp thế giới, tổ chức Thương mạiquốc tế (WTO) đã ra đời và phát triển không ngừng trên thế giới cũng hìnhthành nhiều liên minh kinh tế ở các mức độ khác nhau như: EU,ASEAN,APEC các liên minh này đã và đang tạo ra những thách thứccũng như cơ hội đối với các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế Với sự xoá
bỏ hàng rào thuế quan và các quy định hạn chế thương mại trong nội bộkhối, các liên minh kinh tế sẽ trở thành những thị trường thuần nhất rộnglớn và có sức mua lớn, nhưng khó khăn cho quá trình thâm nhập sẽ được
bù đắp bởi doanh số và lợi nhuận cao hơn
1.4.2 Nhân tố kinh tế
Khi đánh giá ảnh hưởng của môi trường kinh tế đến hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, người làm Marketing quốc tế phải quan tâm đênrất nhiều yếu tố như: cơ cấu kinh tế, mức độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạmphát, phân phối thu nhập, chế độ xuất nhập khẩu Từ đó phải đưa ra đượcnhững đánh giá về độ rủi ro, khả năng tăng trưởng kinh tế trong tương lai
và ảnh hưởng của nó đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Cơ cấu nền kinh tế cho biết có tồn tại hay không một chỗ đứng chocác sản phẩm của doanh nghiệp Nền kinh tế với tỷ trọng ngành côngnghiệp và dịch vụ cao đương nhiên là thị trường hấp dẫn đối với mọi sảnphẩm hơn là nền kinh tế với tỷ trọng ngành nông nghiệp lớn Tại thị trườngcác nước công nghiệp hoá, họ mua bán sản phẩm chế biến với nhau hoặcxuất khẩu sang các nước kém phát triển để đổi lấy nguyên liệu thô hoặc sản
Trang 26phẩm sơ chế Hoạt động công nghiệp chế biến rộng lớn và đa dạng cùngmột tầng lớp trung lưu đông đảo tạo nên đoạn thị trường hấp dẫn.
Các chỉ tiêu quan trọng khác của một nền kinh tế đáng được quan tâmnhư: tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, phân phối thu nhập Chúngphản ánh sức mạnh tổng thể của nền kinh tế quốc gia Đồng thời chúng dựbáo những rủi ro có thể gặp phải khi doanh nghiệp thâm nhập vào nhữngthị trường này Nói đến phân phối thu nhập, người ta chia ra thành 5 loạikết cấu phân phối thu nhập như sau:
+ Lợi tức gia đình rất thấp
+ Phần lớn lợi tức gia đình đều thấp
+ Lợi tức gia đình thấp, trung bình, cao
+ Phần lớn lợi tức gia đình đều trung bình
Lẽ dĩ nhiên, qua đó, người làm Marketing quốc tế có thể đánh giáđược khả năng thanh toán của đoạn thị trường tiềm năng và dự đoán đượctổng doanh số của công ty tại những thị trường này
Một trong những nhân tố có tác động trực tiếp tới các công ty xuấtkhẩu đó là chế độ xuất nhập khẩu của quốc gia là đối tác Chế độ xuấtnhập khẩu tạo ra những thuận lợi hoặc khó khăn Ngay từ bước đầu doanhnghiệp đưa ra sản phẩm vào thị trường nước ngoài Đặc biệt là chế độthanh toán quốc tế mà nước đó đang áp dụng một vấn đề phức tạp và nangiải với hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế
Không chỉ dừng lại ở việc xem xét, đánh giá mức độ ảnh hưởng củacác nhân tố thuộc môi trường kinh tế tới hoạt động kinh doanh quốc tế củadoanh nghiệp mà Marketing quốc tế phải đưa ra được những dự báo về sựtăng trưởng kinh tế trong tương lai Trên cơ sở đó Marketing quốc tế xáclập các biện pháp nhằm ứng phó với những biến động của thị trường và tìm
Trang 27mọi cách thích ứng nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp.
1.4.3 Nhân tố chính trị
Mỗi quốc gia đều duy trì mỗi chế độ chính trị khácnhau Môi trườngchính trị thường chứa đựng nhiều nhân tố bất ổn, gây ra những rủi ro khólường trước đối với các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế Người
ta đã chỉ ra một số những nhân tố cơ bản thuộc môi trường chính trị thườngxuyên có tác động đến các doanh nghiệp khi xem xét khả năng mở rộngsang thị trường nước ngoài như sau:
• Sự ổn định về chính trị.
Một nền chính trị bất ổn, có sự tranh giành quyền lực gay gắt giữa cácđảng phái, bạo động liên tục đương nhiên là đe doạ trực tiếp tới hoạtđộng kinh doanh của công ty nước ngoài Liệu tài khoản của họ có bịphong toả, tài sản của doanh nghiệp nhà nước có thể bị sung công? Chính
vì vậy, sự ổn định chính trị là nhân tố được đặt lên trên hàng đầu trongnhóm các nhân tố thuộc môi trường chính trị khi doanh nghiệp xem xétkhả năng thâm nhập thị trường này
• Thái độ của Nhà nước đối với nhà kinh doanh nước ngoài.
Chính phủ có thể đưa ra những ưu đãi đối với nhà kinh doanh nướcngoài như: đơn giản hoá thủ tục xuất nhập khẩu, thủ tục đầu tư nước ngoài;luật khuyến khích đầu tư nước ngoài và các quy định ưu đãi khác.Mặtkhác, chính phủ có thể đưa ra những yêu cầu về hạn ngạch nhập khẩu; hạnchế sử dụng ngoại tệ và quy định tỷ lệ cao về sự có mặt của người địaphương trong hoạt động quốc tế Cũng như khi những quy định gây khó dễđối với việc chuyển lợi nhuận về nước của nhà kinh doanh nhà nước
• Vai trò của các đảng chính trị đối lập nhau.
Mỗi đảng theo đuổi một mục tiêu chính trị riêng Những mục tiêu này
có ảnh hưởng trực tiếp đến luật pháp và kiến trúc chính trị của quốc gia nếuĐảng đó chiếm đa số ghế trong bộ máy quyền lực
Trang 28• Tính hiệu lực của bộ máy chính quyền; nạn tham nhũng, hối lộ củacác quan chức trong chính phủ.
Rủi ro về chính trị cần được đánh giá một cách hệ thống và cần đượcđiều chỉnh liên tục Bất cứ một doanh nghiệp tham gia vào thị trường nướcngoài đều phải xem xét mình có thích ứng được với môi trường chính trịcủa quốc gia đó hay trong tương lai doanh nghiệp có những biện pháp gì dểphòng ngừa tối đa rủi ro do môi trường chính trị để lại ?
1.4.4 Nhân tố luật pháp.
Các nhân tố thuộc môi trường luật pháp ảnh hưởng đến hoạt độngMarketing quốc tế thông qua các đặc điểm của sản phẩm (độ an toàn, cácứng dụng vật lý, kích thước ); việc đóng gói, gắn nh•n hiệu, tên nh•n hiệu,thời gian bảo hành, giá cả, xúc tiến bán hàng Luật pháp cũng quy định vềphương thức thanh toán quốc tế, giá trị hiệu lực của các bản hợp đồng, cáchthức giao dịch, giải quyết tranh chấp
• Xung đột pháp luật.
Việc xuất khẩu hàng hoá từ nước này sang nước khác chịu sự chi phốicủa ít nhất là hài nguồn luật khác nhau Cùng một vấn đề nhưng luật phápcủa mỗi quốc gia quy định không giống nhau Điều này dẫn đến nhữngxung đột pháp luật có thể xảy ra ở đây, xin nêu ra một số mâu thuẫn củaluật pháp như sau:
Trang 29+ Những khoảng cách vượt ra khỏi khuôn khổ của trường hợp nào trởthành “ngưỡng quan hệ pháp lý ” (để không ai có thể kiện nhằm được đềnbù) rất khác nhau trong các nước Ví dụ như: ở nước Anh, thời gian đối vớihầu hết các hợp đồng là 6 năm; ở nước Pháp, thời gian này có thể lên tới 30năm; còn ở Đức, nó phụ thuộc vào việc có giao dịch thương mại haykhông, nếu có liên quan thì cả hai bên tham gia hợp đồng phải là nhữngthương gia.
+ Luật pháp các nước có thể quy định khác nhau về cá nhân, tổ chức
có tư cách pháp nhân tham gia kí kết hợp đồng kinh tế
+ Các điều khoản miễn giảm và điều khoản phạt trong các hợp đồngđược quy định khác nhau giữa các quốc gia
+ Một số nước (đặc biệt ở châu Âu) rút ra những sự khác biệt quantrọng giữa các hợp đồng thường mại và phi thương mại với mức độ chứng
cớ đòi hỏi cần thiết thấp hơn để hình thành sự tồn tại của dạng hợp đồngthương mại và những tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng thương mạiđược đưa ra trong các toà án thương mại đặc biệt
+ Đôi khi, chính phủ Mỹ phạt những chi nhánh công ty nước ngoàihoạt động ở Mỹ, những công ty mẹ cung cấp hàng hoá cho những nước màHoa Kỳ đang cấm vận
• Phán quyết.
Đây là hành động pháp lý xảy ra ở trong nước của bên đang bị kiện
Những xung đột giữa các bên tham gia hợp đồng được giải quyết ở bên bị
kiện song có thể phải áp dụng luật pháp của nước người đi kiện Do vậy,phán quyết là một vấn đề rất phức tạp Trên thế giới, Công ước Brussels
1982 và Công ước Rome 1990 được coi là những văn bản pháp lý tiêu biểu
có tính quốc tế đề cập chi tiết đến vấn đề này
• Các quy định về vận chuyển hàng hoá
Trên thế giới có tới 80% khối lượng hàng hoá được chuyên chở bằngđường biển - là con đường vận chuyển thuận tiện và có cước phí rẻ nhất
Trang 30Các quy định về vận chuyển hàng hoá bằng đường biển được tập hợp kháđầy đủ trong “ Quy định Hague - Visby ” và được thế giới áp dụng rộng r•i.Bên cạnh đó, vận chuyển hàng không được đề cập trong Công ướcWarsow 1929; các điều kiện về thực hiện hợp đồng đối với đường sắt đượcquy định trong Công ước Vận chuyển COTiF 1985 và vận chuyển đường
bộ ở châu Âu hầu như được quy định trong Công ước vận chuyển hàng hoáđường bộ - CMR 1956
• Các công ước quốc tế
Hai công ước quốc tế được tạo ra cho phù hợp với những quy địnhpháp lý có liên quan đến việc buôn bán hàng hoá quốc tế Công ước Hague
1964 dự thảo “Luật thống nhất ” (Uniform Law) cho:
1 Bán hàng qua biên giới quốc gia
2 Hình thành những hợp đồng buôn bán quốc tế
Sau đó, Uỷ ban Liên hợp quốc và Luật Thương Mại quốc tế(UNCiTRAL) đã xem xét, phát triển “ Luật thống nhất ” và soạn ra côngước ViENNA để sử dụng trong tất cả các giao dịch quốc tế
• Cơ chế giải quyết tranh chấp
Hai vấn đề quan trọng nhất quyết định việc sử dụng luật pháp củaquốc gia nào là: Hợp đồng có điều khoản chỉ rõ luật sẽ được áp dụng vàoviệc thoả thuận mua bán, các tranh chấp có thể xảy ra và điều khoản trọngtài trong bản hợp đồng đó Hầu hết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế trênthế giới đều được giải quyết bằng phương pháp trọng tài Đây là phươngpháp giải quyết nhanh nhất và cũng đỡ tốn kém nhất
1.4.5 Nhân tố văn hoá
Văn hoá chứa đựng nhiều nhân tố đa dạng và phức tạp như: ngôn ngữ,phong tục tập quán, thói quen, tôn giáo Nó phản ánh sự tác động qua lạigiữa lòng tin và cách sống Vì vậy, nó có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt độngMarketing quốc tế Có thể điểm ra đây một vài ảnh hưởng quan trọng của
văn hoá tới kinh doanh trên phạm vi quốc tế.
Trang 31• Về quảng cáo.
Các giá trị văn hoá của một quốc gia quyết định khả năng chấp nhậncủa khách hàng đối với sản phẩm Thông qua đó, nó xác lập vị trí của sảnphẩm tại thị trường nước ngoài đã và đang thâm nhập Từ đó, người làmMarketing quốc tế có được cách thức quảng cáo thích hợp với sự hiểu biếtcủa khách hàng về chương trình quảng cáo; mức độ lịch sự, chất lượng
mong nhân được từ quảng cáo
• Về cách thức kinh doanh.
Ngồi vào bàn đàm phán, người Trung Quốc không đề cập trực tiếpngay vấn đề cần đàm phán; trong khi đó, người Mỹ lại mong muốn tiếtkiệm thời gian và nêu ngay vấn đề cần đàm phán một cách thẳng thắn;người Pháp coi trọng mối quan hệ bạn hàng đã có từ trước; người Nhật lạitin tưởng sự giới thiệu đối tác qua một công ty có uy tín Như vậy, văn hoá
có tác động sâu sắc tới việc thực hiện các cuộc họp mặt, cách đàm phán,mức độ về nghi thức quan hệ, cách chào hàng cũng như mối quan hệ ngườimua và người bán
• Môi trường kinh doanh.
Ngày nay, tuy đ• có sự giao lưu văn hoá giữa các nền văn hoá khácnhau trên thế giới nhưng mỗi nền văn hoá đều có một bản sắc riêng Nóảnh hưởng mạnh đến thói quen và tâm lí tiêu dùng Xét về khía cạnh môitrường kinh doanh, văn hoá tác động trực tiếp hay gián tiếp vào: hệ thốngtruyền thông; các quyết định quản lí; vai trò của chính phủ trong công việckinh doanh; điều kiện làm việc; các mối quan hệ giữa các nghiệp đoàn vớicác tổ chức lãnh đạo
1.4.6 Nhân tố công nghệ
Cuộc cách mạng công nghệ đã đem lại những thành quả to lớn chotoàn nhân loại Ngày nay, cùng với sự tăng tốc của việc thay đổi công nghệ,Marketing quốc tế cũng chịu sự chi phối mạnh mẽ của nó Đơn cử nhưviệc nối mạng internet trên phạm vi toàn cầu đã giảm thiểu sự cách biệt về
Trang 32địa lí giữa các quốc gia, đưa đến cho Marketing quốc tế “ một mảnh đấtmàu mỡ ” để phát triển hoạt động kinh doanh quốc tế Sự thay đổi nhanhchóng của nền công nghệ cũng tạo ra vô số những cơ hội đổi mới đối vớicác doanh nghiệp Hoặc là họ sử dụng công nghệ mới để nâng cao vị thếcủa mình so với các doanh nghiệp khác hoặc là chịu tụt lùi trong cạnhtranh Đây cũng là lí do cần thiết để dành nhiều ngân sách cho việc nghiêncứu và phát triển Như vậy, Marketing quốc tế phải không ngừng thích ứngcác hoạt động của mình với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ Đó lànhân tố thúc đẩy Marketing quốc tế phát triển nhưng đồng thời cũng lànhân tố tạo ra nhiều thách thức, nhiều sự cạnh tranh cho hoạt động kinhdoanh trên phạm vi quốc tế.
1.5 KINH NGHIỆM MARKETING CỦA MỘT SỐ CÔNG TY, TẬP ĐOÀN LỚN TRÊN THẾ GIỚI
1.5.1 Tập đoàn BP
Năm 2007 là một năm sóng gió dối với tập đoàn mang “quốc tịch”Anh này Shell đã bước phải nâng cấp nhà máy lọc dầu Whitting ở Mỹ saukhi nhà máy này bị buộc tội vi phạm các quy dịnh về môi trường Sự ra dicủa Ceo John Brown cũng là một vấn dề lớn dối với BP trong năm qua Tuy nhiên, khoản đầu tư 2,4 tỉ USD ở khu vực San Juan (Mỹ) và các
dự án thăm dò dầu khí nước sâu ở Vịnh Mexico được dự báo là sẽ đem lạikết quả kinh doanh khả quan cho BP vào những năm sắp tới
Với 97.600 nhân viên, trong năm 2007, BP đạt doanh thu 291,438 tỉUSD, tăng 6,2% Trong khi dó, lợi nhuận của tập doàn chỉ đạt có 20,845 tỉUSD, giảm 5,3% Tài sản của BP tính dến cuối năm ngoái là 236,076 tỉUSD
Có được ngững kết quả đó là do tập đoàn BP đã đưa ra những chínhsách Marketing hợp lý và khoa học :
- Chính sách sản phẩm quốc tế
Trang 33+ Mở rộng danh mục sản phẩm bằng cách bổ sung sản phẩm mới.+ Kéo dài từng loại sản phẩm làm tăng chiều dài danh mục.
+ Bổ sung thêm các phương án sản phẩm cho từng sản phẩm và tăngchiều sâu cho danh mục sản phẩm
+ Làm tăng hay giảm mật độ của loại sản phẩm tuỳ theo ý đồ kinhdoanh của công ty: muốn có uy tín vững chắc trong một lĩnh vực hay thamgia vào nhiều lĩnh vực
Chủng loại sản phẩm là một nhóm sản phẩm có quan hệ chặt chẽ vớinhau Bởi chúng thực hiện một chức năng tương tự, được bán cho ngườitiêu dùng, qua cùng kênh như nhau hay tạo nên một khung giá cụ thể
Một danh mục sản phẩm bao gồm nhiều sản phẩm khác nhau, ngườiquản lý cần phải biết doanh số của từng sản phẩm hay nhóm sản phẩm vàtình trạng của sản phẩm đó so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh để từ đó
có quyết định về chiều dài tối ưu của loại sản phẩm, quyết định hiện đạihoá sản phẩm, làm nổi bật hay thanh lọc sản phẩm
- Chính sách phân phối quốc tế : là một trong những khâu rất quantrọng mà người làm Marketinh cần phải chú ý và BP là một trong nhữngcông ty hàng đầu trong lĩnh vực này BP có trụ sở tại hơn 100 nước trên thếgiới với ngững hệ thông phân phối dày đặc, với mỗi nước BP có nhữngchính sách Marketinh khác nhau nhằm đánh đúng vào thị hiếu cảu ngườitiêu dùng
1.5.2 Royal Dutch Shell
Nam 2007, tập đoàn đến từ Hà Lan này cũng đứng ở vị trí thứ 3trong danh sách 500 công ty lớn nhất thế giới của Fortune
Đối mặt với khủng hoảng năng lượng, Shell dó có những bước tiếnriêng để đảm bảo tương lai của tập đoàn Hai dự án lớn của Shell trong nămqua bao gồm mua lại 22% cổ phần của Shell Canada, mở rộng khả năngtiếp cận của tập đoàn với nguồn tài nguyên dầu cốt khổng lồ ở Alberta vàtiếp tục thúc đẩy dự án xây dựng nhà máy khí hóa lỏng ở Qatar
Trang 34Shell có 104.400 nhân viên, đạt doanh thu 355,782 tỉ USD,tăng 11,5%
so với năm 2006 và lợi nhuận đạt 31,331 tỉ USD, tăng 23,1% Tài sản củaShell tăng đến cuối năm 2007 đạt con số 269,470 tỉ USD Shell có nhữngchính sách Marketinh riêng biệt như:
- Quan hệ công chúng gây - ảnh hưởng đến cộng đồng và hình thành
sự truyền miệng - thực sự là công cụ để duy trì những thương hiệu mới.Bên cạnh đó Shell cũng bảo vệ hình ảnh của công ty và sản phẩm
Quan hệ công chúng có thể được sử dụng như một công cụ bổ sunghoặc thay thế cho quảng cáo Tuy nhiên, khác với quảng cáo, Shell thườngtập chung vào ý kiến của bên thứ ba ( các phương tiện truyên thông ) để tácđộng tới khán giả/ khách hàng mục tiêu Trong nhiều trường hợp thậm chí
nó còn tốt hơn quảng cáo vì công chúng có xu hướng tin vào quan điểmcủa bên thứ ba hơn là của chính doanh nghiệp
Bên cạnh đó Shell con áp dụng linh hoạt chính sách giá quốc tế Giá
cả mang lại thu nhập nhưng cũng là yếu tố linh hoạt nhất trong các chínhsách Marketing, nó có thể thay đổi một cách nhanh chóng, không giốngnhư những tính chất của sản phẩm và những cam kết của kênh Đồng thờiviệc định giá và cạnh tranh giá cả là vấn đề số một cho những người làmMarketing, đặc biệt trong môi trường kinh doanh quốc tế
Việc xác định giá cả của Shell bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Xác định mức giá cơ sở cho sản xuất của doanh nghiệp
- Xác định các điều kiện để phân hoá giá bán tại các thị trường khácnhau
- Xác định một chính sách giá giữa các thị trường nước ngoài…
Việc xác định giá cả sản phẩm tại thị trường nước ngoài chịu ảnhhưởng của nhiều nhân tố:
+ Chi phí cho sản phẩm
+ Nhu cầu thị trường
+ Cạnh tranh
Trang 35+ Luật pháp và chính trị.
1.5.3 Tập đoàn Wal-Mart
Năm 2008, Tập đoàn này có tổng số 2.005.000 nhân viên, doanh thu378,799 tỷ USD, lơi nhuận 12,731 tỷ USD Tài sản của Tập đoàn trongnăm 2007 là 163,514 tỷ USD Năm qua, Wal-Mart đạt được nhiêu bướctiến lớn trong lĩnh vực lao động và bảo vệ môi trường Từ lâu, hãng bánhàng lẻ nay của Mỹ bị đánh giá thấp trong lĩnh vực chăm sáo sưc khỏe chonhân viên, do đó hãng nỗ lực nhiều hơn trong lĩnh vực này
Tính đến tháng 1 năm nay, đã có 93,7% nhân viên của Wal-Mart đượchưởng chế độ chăm sóc sức khỏe, tăng so với mức 90,4% của năm trước.Trong lĩnh vục bảo vệ môi trường, trong vòng 15 tháng, Wal-Mart đã bánđược 145 triệu bóng đèn tiết kiệm năng lượng Nhờ thế mà doanh thu củaWal-Mart tăng 7,9% và lợi nhuận tăng 12,8% so với năm trước
Wal-Mart thực hiện hoạt động khuyếch trương trên phạm vi quốc tế,chính sách này phải tính đến những ảnh hưởng của các nhân tố rất phứctạp Khuyếch trương bao gồm nhiều hoạt động khác nhau nhằm mục tiêucung cấp và truyền thông tin về một sản phẩm nào đó đến nhà cung cấp,các khách hàng và người tiêu dùng cuối cùng để tạo ra và phát triển nhậnthức, sự hiểu biết và lòng ham muốn mua hàng Khuyếch trương trongMarketing quốc tế khác với trên thị trường nội địa, vì đây là quá trìnhtruyền tin giữa các nền văn hoá song sự phân biệt như vậy không phải làtuyệt đối Sự khác biệt này thể hiện ở các khía cạnh về ngôn ngữ, luật pháp,phương tiện giao tiếp, thị hiếu… Chính sách khuyếch trương quốc tế củaWal-Mart tập trung vào các nội dung chính như sau:
+ Marketing trực tiếp
Đây là hệ thống tương tác của Marketing có sử dụng một hay nhiềuphương tiện quảng cáo để tác động đến một phản ứng đáp lại đo đếm đượchay việc giao dịch tại bất kỳ địa điểm nào Các công cụ Marketing trực tiếp
có thể sử dụng là: thư, điện thoại và các công cụ liên lạc gián tiếp khác để
Trang 36thông tin cho khách hàng hiện có và khách hàng tiềm năng của doanhnghiệp.
+ Quảng cáo
Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện không gian và thời gian đểchuyển đến khách hàng tiềm năng các thông tin về sản phẩm của doanhnghiệp Thực hiện một chương trình quảng cáo, người làm Marketing phảitính đến sự tác động của hai nhóm nhân tố là môi trường quảng cáo vàphương tiện quảng cáo Một số phương tiện quảng cáo quốc tế thông dụngnhư: báo, tạp chí, phương tiện truyền thanh, truyền hình quốc tế, cácphương tiện quảng cáo ngoài trời, bưu điện và đội ngũ nhân viên chàohàng…
Trang 37+ Xúc tiến bán hàng.
Xúc tiến bán hàng là toàn bộ các hoạt động Marketing nhằm thu hút
sự chú ý của khách hàng tới một sản phẩm khiến nó trở nên hấp dẫn hơn ởnơi bán hoặc nơi tiêu thụ Hoạt động xúc tiến bán hàng được sử dụng cóhiệu quả khi có sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà sản xuất trên thị trườngnước ngoài, các sản phẩm tương đối giống nhau về chất lượng, giá cả, khốilượng bán phụ thuộc mức độ quen thuộc giữa khách hàng với doanhnghiệp Các hình thức chủ yếu của xúc tiến bán hàng là: thay đổi hình thứcsản phẩm, khuyến khích mua hàng, trưng bày các tài liệu về sản phẩm tạiđiểm bán, giới thiệu mẫu hàng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Để bắt đầu việc phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện chính sáchMarketing quốc tế tại Công ty Hoá dầu Petrolimex (PLC), Chuyên đề đãtrình bày Chương 1: Lý luận chung về chính sách Marketing quốc tế nhằmlàm cơ sở lý thuyết cho đề tài này Phần này đã đưa ra khái niệm, phân loại
và chức năng của Marketing quốc tế Sau đó là lý thuyết về hoạt động xuấtkhẩu cũng như vai trò của chính sách Marketing quốc tế đối với hoạt độngxuất khẩu Tiếp theo là phần trình bày lý thuyết về chính sách Marketingquốc tế bao gồm: Chính sách sản phẩm quốc tế, chính sách giá quốc tế,chính sách phân phối quốc tế và chính sách khuyếch trương quốc tế Cuốicùng Chương 1 đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến chính sáchMarketing quốc tế
Với độ dài 33 trang, phần này đã tổng kết những lý thuyết cô đọngnhất về chính sách Marketing quốc tế, tạo cơ sở khoa học cho việc nghiêncứu Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách Marketing quốc tế tại PLCcũng như việc đưa ra các giải pháp hoàn thiện chính sách Marketing quốc
tế phù hợp với thực tiễn tại Chương 3
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
MARKETING QUỐC TẾ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
HÓA DẦU PETROLIMEX
Từ lâu, người ta đãcoi Marketing là chiếc cầu nối giữa nhà sản xuất vànhững người khách hàng của họ Nhưng “chiếc cầu nối ” trong Marketingquốc tế thì quả là gian nan và phức tạp…Để bắt đầu việc xem xét, đánh giáthực trạng hoạt động Marketing quốc tế tại công ty Hoá dầu Petrolimex(PLC), chúng ta hãy cùng chiêm nghiệm những lý lẽ của chuyên gia nổitiếng Lee La Cocca: “Sự an tâm duy nhất về việc làm có được ở công tynày (Chrysler) bắt nguồn từ chất lượng, năng suất và thoả m•n kháchhàng” Đây cũng là chính mục tiêu mà toàn bộ các hoạt động Marketingquốc tế của PLC đã và đang hướng tới
2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY HOÁ DẦU PETROLIMEX (PLC).
Ngày 1-9-1994, Công ty Dầu nhờn Petrolimex (Petrolimex LubricantCompany) – thành viên thứ 25 của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam - đượcthành lập theo Quyết định số 745TM/TCCB ngày 9-4-1994 của Bộ thươngmại đánh dấu sự lớn mạnh không ngừng trong lịch sử hình thành và pháttriển trên 40 năm của Petrolimex Đồng thời điều đó khẳng định đườnghướng đúng đắn trong chiến lược đa dạng hoá các mặt hàng kinh doanhnhằm xây dựng Petrolimex thành một tồng công ty mạnh, đảm bảo đủ sứccạnh tranh với các hãng dầu trong và ngoài nước
Đến năm 1999, công đổi tên thành Công ty hóa dầu Petrolimex theoquyết định số 1191/1998/QD BTM ngày 13.10.1998
Trang 39Công ty cổ phần hóa dầu petrolimex ( PLC ) là doanh nghiệp nhà nướcđược cổ phần hóa theo Quyết định 1801/2003/QĐ-BTM của Bộ thươngmại PLC được sở kế họach đầu tư TP Hà Nội cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh số 0103003690, ngày 18/02/2004 Công ty chính thức hoạtđộng theo mô hình công ty cổ phần từ ngày 01/03/2004
Tên tiếng Việt : Công ty cổ phần hóa dầu Petrolimex
Tên tiếng Anh : Petrolimex Petrochemical Joint Stock CompanyTrụ sở chính : Số 1Khâm Thiên-P.Khâm Thiên-Q Đống Đa-TP Hà Nội
• Theo quyết định số 567/XD – QD, Tổng công ty xăng dầu Việt Nam
bổ sung nhiệm vụ cho PLC là: “ Nghiên cứu, sản xuất, pha chế các loại dầu
mỡ nhờn để thay thế các mặt hàng nhập khẩu thuộc phạm vi kinh doanhcủa công ty
• Chủ động xây dựng kế hoạch kinh doanh và các hoạt động khác củađơn vị và tổ chức thực hiện có hiệu quả các kế hoạch đó sau khi được Tổngcông ty duyệt
Quá trình hình thành và phát triển của công ty Hoá dầu Petrolimex(PLC) gắn liền với bề dày kinh nghiệm và truyền thống hoạt động hơn 40năm của Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) Ngày nay,Petrolimex đã trở thành một tổ chức kinh doanh xăng dầu quốc gia với sựhiện diện của hơn 49 công ty trực thuộc và 52 chi nhánh; xí nghiệp thànhviên đại diện tại 60/61 tỉnh và thành phố, các trung tâm kinh tế trong cảnước và sự hợp tác thương mại với các hãng các tổ chức kinh doanh trên
Trang 40thế giới đã khẳng định khả năng đáp ứng toàn diện và sự phát triển liên tụccủa Petrolimex.
Mặc dù tuổi đời còn non trẻ song PLC đã chứng tỏ mình là một trongnhững thành viên năng động nhất của Petrolimex Công ty cổ phần Hoádầu Petrolimex được đánh giá là Công ty sản xuất kinh doanh hàng đầu tạiViệt Nam về lĩnh vực dầu mỡ nhờn; nhựa đường; dung môi hoá chất Tuycác sản phẩm hoá dầu của công ty không nằm trong danh mục các mặthàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nhưng bước đầu công ty đã có mộtkhối lượng đáng kể các sản phẩm xuất khẩu ra thị trường các nước trongkhu vực
Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩmhoá dầu- đó cũng chính là mục tiêu chiến lược dài hạn của PLC
Những năm qua công ty đã mở rộng việc sản xuất kinh doanh với quy
mô lớn hàng trăm chủng loại mặt hàng Có thể sơ lược một vài nhóm hàngchính như sau:
Về ngành hàng dầu mỡ nhờn gồm có:
• Dầu nhờn động cơ dùng cho ôtô, xe máy
• Dầu nhờn dùng cho công nghiệp
• Dầu nhờn hàng hải dùng cho tàu thuyền
• Các loại dầu mỡ nhờn đặc trưng khác (dầu biến thế điện, dầu thuỷlực)
Về ngành hàng dung môi hoá chất gồm có:
• Dung môi cao su, xylene, toluen, LAWS, PPG, TDi, iPA, MEK
• Các loại dung môi hoá chất khác
Về ngành hàng nhựa đường gồm có:
• Nhựa đường đặc 60-70; 85-100 dạng phuy, dạng xá (bulk) Đặc biệt
là nhựa đường xá được vận chuyển bằng xe bồn với nhiệt độ trên 1200C
• Nhựa đường lỏng MC-30; MC –70
• Nhựa đường nhũ tương CRS.1, CSS.1