1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một vài giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của tổng công ty phát triển phát thanh truyền hình thong tin EMICO trên thị trường Việt nam

74 382 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một vài giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của tổng công ty phát triển phát thanh truyền hình thong tin EMICO trên thị trường Việt nam
Người hướng dẫn Thạc Sỹ Bùi Đức Tuân
Trường học Trường Đại Học EMICO
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 384 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một vài giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của tổng công ty phát triển phát thanh truyền hình thong tin EMICO trên thị trường Việt nam

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong hơn một thập kỷ qua, với những chính sách đổi mới, chuyểnnền kinh tế từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, Việt nam đã cónhững thay đổi kỳ diệu: Nền kinh tế tăng trưởng mạnh, cuộc sống củangười dân ngày một phát triển hơn

Cơ chế thị trường, một mặt tạo ra môi trường thuận lợi, thông thoángcho các doanh nghiệp tự do kinh doanh Nhưng mặt khác, nó làm cho sựcạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường ngày càng tăng, bởi vìcạnh tranh là môi trường của kinh tế thị trường

Bất cứ một doanh nghiệp nào khi tham gia vào hoạt động kinh doanhtrong cơ chế thị trường đều phải chịu tác động của các quy luật khách quancủa thị trường, trong đó có quy luật cạnh tranh Theo quy luật này, mỗidoanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được trên thị trường thì phải khôngngừng nỗ lực áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm

và giảm giá thành, giữ chữ tín Có như vậy, doanh nghiệp mới thu hútđược khách hàng đồng thời chiến thắng được các đối thủ cạnh tranh trên thịtrường Doanh nghiệp nào khả năng cạnh tranh quá yếu kém, không đápứng được các đòi hỏi của thị trường dần dần sẽ đi đến làm ăn thua lỗ và phásản Bởi vậy, trong từng thời kỳ, các doanh nghiệp phải vạch ra cho mìnhnhững chiến lược, những kế hoạch nhằm khắc phục những hạn chế và pháthuy được điểm mạnh của mình, để một mặt nâng cao khả năng cạnh tranhtrên thị trường mặt khác để đạt được mục tiêu cao nhất là lợi nhuận

Với ý nghĩa đó và sau thời gian thực tế tại tổng công ty EMICO , tôi

xin chọn đề tài “Một vài giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh

của tổng công ty phát triển phát thanh truyền hình thong tin EMICO trên thị trường Việt nam “ làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.

Trang 2

Nội dung đề tài gồm:

PHẦN I Lý luận cơ bản về cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường

PHẦN II Thực trạng cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của tổng công ty EMICO

PHẦN III Các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của tổng công ty EMICO.

Xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của thạc sỹ Bùi Đức

Tuân và các anh chị, cô chú trong tổng công ty EMICO đã giúp đỡ tôi

hoàn thành bài viết này

Trang 3

PHẦN I

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH

NGHIỆP TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG

I Kinh tế thị trường và vấn đề cạnh tranh trong kinh doanh của các doanh nghiệp.

1 Kinh tế thị trường và tính tất yếu của cạnh tranh.

1.1 Kinh tế thị trường.

Nền kinh tế được coi như một hệ thống các quan hệ kinh tế Khi

các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể đều biểu hiện qua mua - bán hàng hoá,dịch vụ trên thị trường thì nền kinh tế đó là nền kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường là cách tổ chức nền kinh tế xã hội, trong đó cácquan hệ kinh tế của cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua mua - bánhàng hoá, dịch vụ trên thị trường và thái độ cư xử của từng thành viên chủthể kinh tế là hướng vào việc tìm kiếm lợi ích của chính mình theo sự dẫndắt của giá cả thị trường

Kinh tế thị trường là một nền kinh tế mở, nó tạo điều kiện và môitrường thuận lợi khuyến khích các doanh nghiệp cũng như các cá nhân tự

do tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh Vì vậy mà nó tạo cho nền kinh

tế có một khối lượng hàng hoá dịch vụ dồi dào phong phú mà nền kinh tế

tự nhiên, kinh tế chỉ huy chưa bao giờ đạt được

Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động mua bán đều theo giá cảthị trường và cạnh tranh được coi là môi trường của kinh tế thị trường.Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải sản xuất và bán hàng hoá theo nhucầu của thị trường, có như vậy mới đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại vàphát triển được trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt

Kinh tế thị trường là một hệ thống tự điều chỉnh nền kinh tế, bảo đảm

có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao; dư thừa và phong phú hàng hoá;

Trang 4

dịch vụ được mở rộng và coi như hàng hoá thị trường; năng động và luônluôn đổi mới mặt hàng, công nghệ và thị trường Vì vậy mà người tathường gọi kinh tế thị trường là thành tựu của nhân loại

1.2 Tính tất yếu của cạnh tranh.

Sự tự do trong sản xuất kinh doanh với nhiều thành phần kinh tế tham gia

là nguồn gốc của sự cạnh tranh Cạnh tranh là quy luật trong nền kinh tế thịtrường, là môi trường để kinh tế thị trường phát triển, do đó nó tồn tại mộtcách khách quan

Mục tiêu cao nhất của các chủ thể kinh tế khi tham gia hoạt động sảnxuất kinh doanh là lợi nhuận Cơ chế thị trường tạo điều kiện và môi trườngthuận lợi làm cho số lượng các chủ thể kinh tế tham gia kinh doanh ngàycàng phát triển Theo đó, số lượng hàng hoá được sản xuất ra cũng ngàycàng tăng Bên cạnh đó, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và việc ứngdụng các thành tựu của nó vào sản xuất làm cho hàng hoá ngày càng phongphú đa dạng, chất lượng ngày càng được nâng cao Lúc này, quyền lựachọn của người tiêu dùng là rất lớn Chỉ những hàng hoá nào của doanhnghiệp nào đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng mới mong được tiêuthụ tốt và doanh nghiệp đó mới có thể tồn tại và phát triển được trênthương trường Do đó tất yếu dẫn đến là việc cạnh tranh giữa các chủ thểkinh tế với nhau sẽ trở nên ngày càng gay gắt

Cạnh tranh là môi trường của kinh tế thị trường nhưng nó đồng thời làmục tiêu của doanh nghiệp bởi vì xuất phát từ chính chức năng của cạnhtranh là: làm giá cả trên thị trường giảm xuống; buộc các doanh nghiệp tối

ưu hoá đầu vào trong sản xuất kinh doanh, không ngừng nâng cao chấtlượng sản phẩm và giảm giá thành, giữ chữ tín; Nếu không có cạnh tranh,các doanh nghiệp sẽ không có động lực để ngày càng hoàn thiện mình, cònngười tiêu dùng sẽ không có được những sản phẩm - dịch vụ với chất lượngtốt nhất, nền kinh tế lúc đó sẽ trì trệ và kém phát triển

Trang 5

Sự tự do trong sản xuất kinh doanh với nhiều thành phần kinh tế tham gia

là nguồn gốc của sự cạnh tranh Cạnh tranh là quy luật trong nền kinh tế thịtrường, là môi trường để kinh tế thị trường phát triển, do đó nó tồn tại mộtcách khách quan

Mục tiêu cao nhất của các chủ thể kinh tế khi tham gia hoạt động sảnxuất kinh doanh là lợi nhuận Cơ chế thị trường tạo điều kiện và môi trườngthuận lợi làm cho số lượng các chủ thể kinh tế tham gia kinh doanh ngàycàng phát triển Theo đó, số lượng hàng hoá được sản xuất ra cũng ngàycàng tăng Bên cạnh đó, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và việc ứngdụng các thành tựu của nó vào sản xuất làm cho hàng hoá ngày càng phongphú đa dạng, chất lượng ngày càng được nâng cao Lúc này, quyền lựachọn của người tiêu dùng là rất lớn Chỉ những hàng hoá nào của doanhnghiệp nào đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng mới mong được tiêuthụ tốt và doanh nghiệp đó mới có thể tồn tại và phát triển được trênthương trường Do đó tất yếu dẫn đến là việc cạnh tranh giữa các chủ thểkinh tế với nhau sẽ trở nên ngày càng gay gắt

Cạnh tranh là môi trường của kinh tế thị trường nhưng nó đồng thời làmục tiêu của doanh nghiệp bởi vì xuất phát từ chính chức năng của cạnhtranh là: làm giá cả trên thị trường giảm xuống; buộc các doanh nghiệp tối

ưu hoá đầu vào trong sản xuất kinh doanh, không ngừng nâng cao chấtlượng sản phẩm và giảm giá thành, giữ chữ tín; Nếu không có cạnh tranh,các doanh nghiệp sẽ không có động lực để ngày càng hoàn thiện mình, cònngười tiêu dùng sẽ không có được những sản phẩm - dịch vụ với chất lượngtốt nhất, nền kinh tế lúc đó sẽ trì trệ và kém phát triển

Trang 6

Tóm lại, sự tồn tại của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường là tấtyếu khách quan Nó là cơ sở, là động lực để kinh tế thị trường phát triển

2.2 Các dạng cạnh tranh trên thị trường.

a Căn cứ vào chủ thể kinh tế tham gia thị trường

- Cạnh tranh giữa người bán với người mua:

Là cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt trên thị trường.Người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất, nhưng ngườimua lại muốn mua với giá thấp nhất Giá cả cuối cùng được chấp nhận làgiá thống nhất giữa người mua và người bán sau quá trình mặc cả

- Cạnh tranh giữa người mua với người mua:

Là cạnh tranh xảy ra khi cung nhỏ hơn cầu Khi đó, do hàng hoá trênthị trường khan hiếm, người mua sẵn sàng chấp nhận giá cao để mua đượcthứ mà họ cần Do cung nhỏ hơn cầu nên người bán tiếp tục nâng giá, kếtquả cuối cùng là người bán thu được lợi nhuận cao còn người mua phảimua hàng hoá với giá cao hơn giá trị của nó

- Cạnh tranh giữa người bán với người bán:

Với các doanh nghiệp đây là cuộc cạnh tranh gay go quyết liệt nhất,

và có ý nghĩa sống còn Tất cả các doanh nghiệp đều muốn giành được lợithế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường trước đối thủ Kết quả để đánh giádoanh nghiệp nào thắng trong cuộc cạnh tranh này là việc tăng doanh sốtiêu thụ, tăng thị phần Cùng với nó là việc tăng lợi nhuận, mở rộng sảnxuất

b Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trường

- Cạnh tranh hoàn hảo:

Là cạnh tranh trên thị trường có nhiều người bán và nhiều người muađộc lập với nhau, sản phẩm là đồng nhất Doanh nghiệp cạnh tranh hoànhảo có thể bán tất cả sản phẩm của mình ở mức giá đang thịnh hành trên thị

Trang 7

trường Nếu doanh nghiệp đặt giá cao hơn thì doanh nghiệp sẽ không bánđược vì người tiêu dùng sẽ mua của người khác Theo nghĩa đó doanhnghiệp cạnh tranh hoàn hảo không có sức mạnh thị trường, tức là không cókhả năng kiểm soát thị trường đối với sản phẩm mình bán Sản lượng củadoanh nghiệp là nhỏ so với cung thị trường, vì thế doanh nghiệp không cóảnh hưởng đáng kể đến tổng sản lượng hoặc giá trên thị trường Trong cạnhtranh hoàn hảo không có sự cạnh tranh phi giá Do vậy chính sách củadoanh nghiệp là giảm chi phí sản xuất và tăng cường dịch vụ sau bán hàng.Các tin tức về thị trường, giá cả thì người mua và người bán đều nắm rõ,điều kiện tham gia cũng như rút khỏi thị trường là dễ dàng

- Thị trường cạnh tranh độc quyền:

Là cạnh tranh diễn ra trên thị trường mà ở đó chỉ có một số ngườimua (độc quyền mua) hoặc một số người bán một số sản phẩm thuần nhất

Họ có thể kiểm soát gần như toàn bộ hàng hoá bán ra trên thị trường Nhàđộc quyền hoàn toàn có thể định đoạt giá cả và số lượng bán ra Tuy nhiên,điều đó không có nghĩa là độc quyền có sự tự do hoàn toàn về giá mà tuỳtheo đặc điểm tiêu dùng của sản phẩm và cơ chế quản lý của Nhà nước mànhà độc quyền có thể định giá cao hay thấp để thu lợi nhuận tối đa

Trong thị trường độc quyền, các nhà độc quyền thường sử dụng cáchình thức cạnh tranh phi giá như quảng cáo, phân biệt sản phẩm để thu hútthêm khách hàng Trong thị trường độc quyền thì việc gia nhập thị trường

là rất khó khăn

c Xét theo phạm vi nền kinh tế

- Cạnh tranh trong nội bộ ngành:

Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất hay tiêu thụmột loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó Trong cuộc cạnh tranh này, cácdoanh nghiệp thôn tính lẫn nhau Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mởrộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường Những doanh nghiệp

Trang 8

II Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Trong kinh tế thị trường cạnh tranh tồn tại là tất yếu Khi một hànghoá được đem rao bán trên thị trường, nó sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranhcủa hàng hoá do các hãng khác sản xuất Sự cạnh tranh diễn ra vô cùngkhắc nghiệt bởi vì nó quyết định tới khả năng tiêu thụ của sản phẩm Lúcnày một hàng hoá có chất lượng tốt, giá cả hợp lý, phù hợp với nhu cầu củangười tiêu dùng sẽ được người tiêu dùng chấp nhận và ta có thể nói rằnghàng hoá đó có khả năng cạnh tranh so với các sản phẩm khác Tuy nhiêntrên thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về khả năng cạnh tranh của hànghoá

Fatchams cho rằng: “ khả năng cạnh tranh của hàng hoá là khảnăng được sản xuất với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trênthị trường“

Ranall lại cho rằng: “ khả năng cạnh tranh của hàng hoá là khảnăng giành được và duy trì thị phần trên thị trường với lợi nhuận nhấtđịnh“

Một quan niệm khác lại cho rằng: “ khả năng cạnh tranh củahàng hoá là khả năng được sản xuất theo đúng yêu cầu của thị trường, đồngthời duy trì được thu nhập thực tế của mình”

Trang 9

Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức hợp tác

và phát triển kinh tế (OECD) đã chọn định nghĩa: “ khả năng của các doanhnghiệp, các ngành, quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơntrong điều kiện cạnh tranh quốc tế”

Có thể thấy rằng các quan niệm trên xuất phát từ các góc độ khácnhau nhưng đều nói về vấn đề chiếm lĩnh thị trường và có lợi nhuận, do đó

ta cũng có thể hiểu khả năng cạnh tranh là năng lực nắm vững thị phầnnhất định với mức độ hiệu quả chấp nhận được

2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

2.1.Các nhân tố bên ngoài.

a Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế bao bồm các yếu tố ảnh hưởng đến sức mua và cơcấu chi tiêu của người tiêu dùng Đó là các yếu tố như tốc độ tăng trưởngcủa nền kinh tế, thu nhập bình quân của người dân, tỷ lệ lạm phát, lãi suấtngân hàng

Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế tác động đến sức mua và nhu cầucủa người tiêu dùng, mà nhu cầu của người tiêu dùng lại là yếu tố chi phốiviệc doanh nghiệp sẽ sản xuất, kinh doanh hàng hoá gì ? dịch vụ gì? Vì vậy

mà các yếu tố thuộc môi trường kinh tế cũng tác động đến khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp Một quốc gia có nền kinh tế càng phát triển, thunhập bình quân đầu người càng cao thì khả năng chi tiêu và các đòi hỏi vềchất lượng hàng hoá dịch vụ của người tiêu dùng cũng càng cao Khi đódoanh nghiệp nào cung cấp được các hàng hoá dịch vụ có chất lượng cao,thoả mãn tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng sẽ có lợi thế cạnh tranhlớn trên thị trường

b Môi trường chính trị

Trang 10

Môi trường chính trị bao gồm hệ thống luật pháp và các chính sáchcủa Nhà nước Nó phản ánh sự tác động can thiệp của các chủ thể quản lý

vĩ mô tới hoạt động kinh doanh và cạnh tranh của doanh nghiệp

Hệ thống luật pháp và các chính sách của Nhà nước có tác động lớntới hoạt động sản xuất kinh doanh và cạnh tranh của doanh nghiệp Đó là:Các qui định về chất lượng sản phẩm, qui định về bảo vệ môi trường trongsản xuất, qui định về thuế, qui định về giá, các chính sách bảo hộ Các quiđịnh về cạnh tranh như: trong quảng cáo không được nói xấu sản phẩm haynhãn hiệu của đối thủ cạnh tranh, biển quảng cáo không được đè lên biểnhiệu của đối thủ ; Với những công ty 100% vốn nước ngoài như công tyElectrolux Việt nam thì các luật pháp chính sách của Nhà nước Việt namnhư luật đầu tư nước ngoài, luật thuế xuất nhập khẩu, chính sách phát triểncác thành phần kinh tế có ảnh hưởng lớn tới khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp trên thị trường

c Các yếu tố thuộc môi trường văn hoá

Đó là các yếu tố như tập quán, truyền thống, các chuẩn mực hành vi,

thói quen tiêu dùng của người dân Văn hoá là vấn đề khó nhận ra và hiểuthấu đáo, mặc dù nó tồn tại khắp nơi và thường xuyên tới hoạt động kinhdoanh và cả khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Đặc biệt là đối vớinhững doanh nghiệp hoạt động ở thị trường nước ngoài Văn hoá ảnhhưởng tới sở thích, tới phong cách sống, tới quan niệm thẩm mỹ của ngườitiêu dùng Một sản phẩm có thể được tiêu thụ rất tốt tại thị trường nàynhưng khi bán ở thị trường khác thì có thể khả năng cạnh tranh lại rất kém

do nó không phù hợp với đặc tính văn hoá của thị trường đó Có thể lấy vídụ: Một số hãng máy giặt của châu âu khi thâm nhập thị trường Nhật bản,các sản phẩm của họ do độ ồn khi giặt hơi cao nên lượng tiêu thụ rất ít.Nguyên nhân là do các ngôi nhà truyền thống của người Nhật sử dụng cácvách ngăn bằng giấy nên không chịu độ ồn, nhưng đặc điểm này lại không

Trang 11

được các nhà sản xuất châu âu chú ý Ngay sau khi cải tiến làm giảm độ ồn

đi thì mức tiêu thụ các sản phẩm của họ tốt hơn trước rất nhiều

d Môi trường khoa học kỹ thuật

Khoa học kỹ thuật phát triển tạo ra những công nghệ mới, nhữngnguyên vật liệu mới giúp cho các doanh nghiệp chế tạo được các sản phẩm

có tính năng, công dụng và chất lượng tốt hơn, đồng thời nó cũng có thể hạđược chi phí để làm ra các sản phẩm Trong môi trường cạnh tranh gay gắthiện nay, doanh nghiệp nào biết chú trọng vào việc ứng dụng các thành tựucủa khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì khảnăng cạnh tranh của hàng hoá của nó so với các sản phẩm khác trên thịtrường sẽ được nâng cao lên rất nhiều

2.2 Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp.

a Yếu tố con người

Nhân lực là yếu tố rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp , có thểchia nó thành các cấp: quản trị viên cấp cao, quản trị viên cấp trung gian vàđội ngũ công nhân Các quản trị viên có ảnh hưởng lớn đến các quyết địnhquản lý của doanh nghiệp Nếu họ có trình độ quản ký cao, nhiều kinhnghiệm kinh doanh trên thương trường, khả năng đánh giá và có mối quan

hệ đối ngoại tốt thì doanh nghiệp đó sẽ có khả năng cạnh tranh lớn Độingũ công nhân ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thôngqua các yếu tố về năng suất lao động, trình độ tay nghề, ý thức trách nhiệm,

kỷ luật lao động và sự sáng tạo của họ bởi vì các yếu tố này ảnh hưởngtới việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành cũng như tạo thêm tínhmới lạ, độc đáo của sản phẩm

b Khả năng tổ chức quản lý

Trang 12

Khả năng tổ chức được thể hiện thông qua cơ cấu tổ chức, bộ máyquản trị, hệ thống thông tin quản lý, bầu không khí và nề nếp hoạt động củadoanh nghiệp

Nề nếp tổ chức định hướng cho phần lớn công việc trong doanhnghiệp, nó ảnh hưởng tới phương thức thông qua quyết định của nhà quảntrị Nề nếp đó có thể là nhược điểm gây cản trở cho việc hoạch định và thựchiện chiến lược hoặc có thể là ưu điểm thúc đẩy các hoạt động đó Cáccông ty có nề nếp mạnh, tích cực sẽ có nhiều cơ hội thành công hơn so vớicác công ty có nề nếp yếu kém và tiêu cực Thực chất nề nếp của doanhnghiệp là cơ chế tương tác với môi trường Do vậy, doanh nghiệp cần phảixây dựng được một nề nếp tốt, khuyến khích nhân viên tiếp thu được cácchuẩn mực đạo đức và thái độ tích cực Nếu nề nếp tạo ra được tính linhhoạt và khuyến khích sự tập trung chú ý đến các điều kiện bên ngoài thì nó

sẽ tăng khả năng của công ty thích nghi được với các biến đổi của môitrường Một trong bổn phận chính của các nhà quản trị là phải hình thànhđược các giá trị phẩm chất của tổ chức bằng cách hướng sự lưu tâm chú ýcủa nhân viên vào những điều quan trọng

c Nguồn lực về tài chính

Khả năng tài chính khẳng định sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệptrên thị trường Khả năng tài chính được hiểu là quy mô nguồn tài chínhcủa doanh nghiệp và tình hình hoạt động, các chỉ tiêu tài chính hàng nămnhư hệ số thu hồi vốn, khả năng thanh toán của nó Nếu như một doanhnghiệp có tình trạng tài chính tốt, khả năng huy động vốn lớn sẽ cho doanhnghiệp có nhiều vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ

và máy móc thiết bị, đồng thời tăng khả năng đầu tư hợp tác liên doanh liênkết Tình hình sử dụng vốn sẽ quyết định chi phí về vốn so với đối thủ cạnhtranh

Trang 13

d Nguồn lực vật chất kỹ thuật

Nguồn lực vật chất kỹ thuật thể hiện ở:

- Trình độ kỹ thuật công nghệ hiện đại của doanh nghiệp và khả năng cóđược công nghệ tiên tiến

- Quy mô và năng lực sản xuất: Nếu một doanh nghiệp có quy mô vànăng lực sản xuất lớn thì sẽ có lợi thế hơn nhiều các doanh nghiệp có quy

mô và năng lực sản xuất nhỏ Vì quy mô và năng lực sản xuất lớn có thểlàm ra sản phẩm với khối lượng lớn, nhờ đó hạ được giá thành sản phẩm,đông thời doanh nghiệp có nhiều cơ hội để tiếp xúc với khách hàng hơn,nên dễ nắm bắt và thoả mãn nhu cầu của khách hàng

- Nguồn cung cấp vật tư, nguyên vật liệu: Nếu doanh nghiệp không cónguồn cung cấp tin cậy đều đặn sẽ ảnh hưởng lớn đến việc duy trì sản xuấtliên tục của họ, mặt khác nó còn ảnh hưởng đến chi phí sản xuất ra sảnphẩm của doanh nghiệp

3 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

3.1 Chỉ tiêu định lượng.

- Chỉ tiêu thị phần: ( T )

Doanh thu(lượng bán) của doanh nghiệp

T = - ( %)

Tổng doanh thu(lượng bán) trên thị trường

Thị phần của hàng hoá của doanh nghiệp là phần trăm về số lượnghoặc giá trị của hàng hoá của doanh nghiệp đã bán ra so với tổng số lượnghoặc tổng giá trị của tất cả các hàng hoá cùng loại đã bán trên thị trường Chỉ tiêu này phản ánh tình hình chiếm lĩnh và khả năng chi phối thịtrường của hàng hoá của doanh nghiệp Tuy nhiên chỉ tiêu này khó xácđịnh vì khó biết chính xác được hết tình hình kinh doanh của tất cả các đốithủ

Trang 14

Doanh thu(lượng bán) của doanh nghiệp

Tct = -( % ) Doanh thu(lượng bán) của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất Chỉ tiêu này cho thấy thực tế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trên thị trường Đây là chỉ tiêu đơngiản, dễ tính hơn so với chỉ tiêu trên do các đối thủ cạnh tranh mạnhthường có nhiều thông tin hơn

Ngoài ra còn có thể đo khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bằngcách lấy thị phần năm nghiên cứu trừ đi thị phần của năm trước đó Nếu kếtquả này dương tức là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đã tăng lên,còn kết quả âm thì ngược lại

3.2 Chỉ tiêu định tính.

Đó là uy tín của doanh nghiệp và sự đánh giá của khách hàng đối vớicác nhãn hiệu của doanh nghiệp Doanh nghiệp có uy tín cao thì các nhãnhiệu sản phẩm của nó cũng được khách hàng tín nhiệm và đánh giá cao và

do đó các sản phẩm của doanh nghiệp cũng có khả năng cạnh tranh cao trênthị trường

4 Các công cụ sử dụng để nâng cao khả năng cạnh tranh

Trong nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp phải chịu rất nhiềusức ép từ các đối thủ cạnh tranh Để tồn tại và phát triển được trong điềukiện như vậy, mỗi doanh nghiệp đều có những công cụ riêng của mình đểtạo ra lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác trên thị trường Các công

cụ thường được sử dụng là: giá cả, sản phẩm, các dịch vụ đi kèm, các hoạtđộng xúc tiến

Trang 15

4.1 Sản phẩm.

Khi nói về sản phẩm - hàng hoá người ta thường quy nó về một hìnhthức tồn tại vật chất cụ thể và do đó nó chỉ bao hàm những thành phần hoặcyếu tố có thể quan sát được Đối với các chuyên gia marketing, họ hiểu sảnphẩm - hàng hoá ở một phạm vi rộng lớn hơn Cụ thể là:

Sản phẩm của doanh nghiệp là một hệ thống thống nhất các yếu tố có

liên quan chặt chẽ với nhau nhằm thoả mãn đồng bộ các yêu cầu của khách hàng bao gồm sản phẩm vật chất, bao bì, nhãn hiệu, các dịch vụ kèm theo

Gắn liền với sản phẩm là khái niệm về chất lượng Theo ISO 8402,chất lượng là tập hợp các tính chất, đặc trưng của một sản phẩm có khảnăng thoả mãn nhu cầu của khách hàng Nhu cầu của khách hàng là nhucầu đã nêu hoặc nhu cầu tiềm ẩn

Sản phẩm và chất lượng của sản phẩm là một công cụ cạnh tranh quantrọng của các doanh nghiệp trên thị trường, bởi vì khách hàng luôn có xuhướng so sánh sản phẩm của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanhnghiệp khác nhằm lựa chọn cho mình cái tốt nhất Người tiêu dùng thườngquan tâm trước tiên đến chất lượng khi lựa chọn một sản phẩm nào đó,nhiều lúc họ sẵn sàng chấp nhận mức giá cao để có được sản phẩm tốt hơn Sản phẩm được doanh nghiệp sử dụng làm công cụ để tăng khả năngcạnh tranh bằng cách làm ra các sản phẩm có chất lượng cao nhằm phục vụmột cách tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng, hoặc là tạo ra sự khác biệt

để thu hút khách hàng Mặt khác doanh nghiệp nào có sản phẩm chất lượngcàng cao thì uy tín và hình ảnh của nó trên thị trường cũng càng cao Đồngthời chất lượng sản phẩm tạo nên sự trung thành của khách hàng đối vớicác nhãn hiệu của doanh nghiệp Vì vậy nó tạo ra lợi thế cạnh tranh lớn vàlâu dài cho doanh nghiệp trước các đối thủ cạnh tranh

Trang 16

4.2 Giá bán.

Giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền giá trị của hàng hoá Đốivới các doanh nghiệp, giá cả trực tiếp tạo ra doanh thu và lợi nhuận thực tế.Còn đối với người mua, giá hàng hoá luôn được coi là chỉ số đầu tiên để họđánh giá phần “ được ” và chi phí phải bỏ ra để sở hữu và tiêu dùng hànghoá Vì vậy, những quyết định về giá luôn giữ vai trò quan trọng và phứctạp nhất mà một doanh nghiệp phải đối mặt khi soạn thảo các chiến lượccạnh tranh của mình

Cùng với chất lượng sản phẩm thì giá bán cũng là công cụ cạnh tranhchủ yếu của các doanh nghiệp Một sản phẩm có chất lượng được đánh giá

là rất tốt nhưng chưa chắc nó đã có thể được tiêu thụ mạnh hay bán chạytrên thị trường nếu như giá bán của nó không phù hợp với thu nhập củangười tiêu dùng Sản phẩm nào có giá bán thấp thì thường tạo ra sức cạnhtranh rất lớn so với các sản phẩm cùng loại khác trên thị trường ngay cả khichất lượng của nó không phải là tốt nhất

Hiện nay trên thị trường, giá cả là công cụ cạnh tranh được các doanhnghiệp sử dụng rất phổ biến, nhất là đối với những thị trường mà thu nhậpbình quân của người tiêu dùng còn thấp Để tăng khả năng cạnh tranh củamình, các doanh nghiệp có thể định mức giá bán thấp nhằm thu hút kháchhàng, vì nó tác động trực tiếp tới túi tiền của người tiêu dùng Tuy nhiên,giá thấp lại ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp, đồng thời dễ tạo ratâm lý “ đánh đồng giá với chất lượng “ của khách hàng Mặt khác, nó cũng

có thể làm cho mức độ cạnh tranh trên thị trường quyết liệt hơn Vì vậy, khi

ra các quyết định về giá các doanh nghiệp đều phải cân nhắc rất kỹ lưỡng

và phải tuỳ thuộc vào đặc điểm thị trường, vào mục tiêu và khả năng củamình để có quyết định hợp lý

Trang 17

4.3 Xúc tiến bán hàng.

Theo quan niệm của marketing, đây là một trong 4 nhóm công cụ chủyếu của marketing - mix mà doanh nghiệp có thể sử dụng để tác động vàothị trường mục tiêu nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp

Xúc tiến bán hàng được hiểu là: các hoạt động có chủ đích trong lĩnh vực

marketing của các doanh nghiệp nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ Nội dung của xúc tiến bán hàng được xác định

bao gồm các nội dung chủ yếu: quảng cáo bán hàng, khuyến mại, tham giahội chợ triển lãm, bán hàng trực tiếp và quan hệ công chúng

Xúc tiến bán hàng là công cụ hữu hiệu trong việc chiếm lĩnh thịtrường và tăng tính cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệptrên thị trường Thông qua xúc tiến, các doanh nghiệp tiếp cận được với thịtrường tiềm năng của mình, cung cấp cho khách hàng tiềm năng nhữngthông tin cần thiết, những dịch vụ ưu đãi để tiếp tục chinh phục khách hàngcủa doanh nghiệp và lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh Hoạt độngxúc tiến sẽ tạo ra hình ảnh đẹp về doanh nghiệp trước con mắt của kháchhàng, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhờ thế mà không ngừng tănglên

Thêm vào đó, xúc tiến bán hàng còn kích thích người tiêu dùng muasản phẩm của doanh nghiệp nhiều hơn, thu hút được các khách hàng tiềmnăng từ đó làm tăng khả năng tiêu thụ của doanh nghiệp, doanh nghiệpngày càng được khách hàng ưa chuộng hơn Vì vậy, để nâng cao khả năngcạnh tranh, một vấn đề quan trọng ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triểncủa doanh nghiệp là phải tổ chức tốt xúc tiến bán hàng

4.4 Phân phối.

Hiện nay, ngày càng có nhiều doanh nghiệp quan tâm đến phân phối như làbiến số marketing tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn cho doanh nghiệp trên thịtrường Hoạt động phân phối giải quyết vấn đề hàng hoá dịch vụ được đưa

Trang 18

như thế nào đến người tiêu dùng Vì vậy, doanh nghiệp nào có cách thức tổchức hệ thống phân phối sản phẩm, dịch vụ của mình tốt, tạo ra sự thuậntiện nhanh chóng cho người tiêu dùng thì việc đó sẽ góp phần làm tăng khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường lên khá nhiều Các doanhnghiệp tổ chức và quản lý hoạt động phân phối thông qua các hệ thốngkênh phân phối

Kênh phân phối là con đường mà hàng hoá được lưu thông từ nhà sảnxuất đến người tiêu dùng Nhờ có mạng lưới phân phối mà khắc phục đượcnhững khác biệt về thời gian địa điểm và quyền sở hữu giữa người sản xuấtvới người tiêu dùng các hàng hoá dịch vụ Các kênh phân phối phải thựchiện các chức năng chủ yếu sau:

- Nghiên cứu thị trường, thu thập các thông tin cần thiết

- Xúc tiến khuyếch trương: Cho những sản phẩm họ bán Soạn thảo vàtruyền bá những thông tin về hàng hoá

- Phân phối vật chất: Vận chuyển, bảo quản, dự trữ hàng hoá

- Thiết lập các mối quan hệ: Tạo dựng và duy trì mối liên hệ với nhữngngười mua tiềm năng

Hiện nay, các doanh nghiệp sử dụng nhiều hình thức khác nhau đểphân phối hàng hoá tới người tiêu dùng nhưng về lý thuyết có hai loại kênhphân phối cơ bản đó là:

- Kênh trực tiếp: Là loại kênh phân phối trong đó hàng hoá đượcchuyển đưa thẳng từ người sản xuất tới người tiêu dùng

Ưu điểm:

+ Dễ dàng thu thập các thông tin phản hồi từ khách hàng, thời gianthu thập nhanh Khă năng nghiên cứu, dự đoán thị trường cao

+ Giám sát được hàng hoá, đảm bảo uy tín của doanh nghiệp

+ Không mất nhiều chi phí cho việc thành lập kênh

+ Khả năng phân phối hàng hoá rộng hơn

+ Tiết kiệm các chi phí tương đối

Trang 19

+ Xây dựng mạng lưới phân phối rộng hơn so với tiềm năng

+ Tận dụng cơ sơ vật chất sẵn có của người trung gian

+ Tận dụng uy tín, lực lượng khách hàng, mối quan hệ hiện

có của người trung gian

Nhược điểm: Chi phí tương đối cao, khả năng phân phối hàng hoá

thấp

+ Thông tin thu thập chậm, có thể sai lệch

+ Khả năng nghiên cứu, dự đoán thị trường thấp

+ Phải chia sẻ lợi nhuận

+ Không giám sát được hoạt động của người trung gian

- Kênh gián tiếp: Là loại kênh trong đó có sự tham gia của các trunggian phân phối

Căn cứ vào ưu nhược điểm của từng loại kênh phân phối, tình hình thị

trường và đặc điểm hàng hoá của mình mà doanh nghiệp ra quyết lựa chọnloại kênh nào hoặc là sử dụng kết hợp với nhau

vụ là rất cần thiết, nó đáp ứng mục tiêu phục vụ khách hàng tốt hơn, tạo ra

sự tín nhiệm sự gắn bó của khách hàng đối với doanh nghiệp đồng thời giữgìn uy tín của doanh nghiệp Từ đó doanh nghiệp có thể thu hút được kháchhàng tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá của mình trên thị trường

Trang 20

1 Đối với doanh nghiệp:

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh quyết định sự tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp Cạnh tranh tạo ra động lực cho sự phát triển củadoanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệuquả sản xuất kinh doanh Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triểncông tác marketing bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường để xác định đượcnhu cầu thị trường từ đó ra các quyết định sản xuất kinh doanh để đáp ứngcác nhu cầu đó Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải nâng cao các hoạt độngdịch vụ cũng như tăng cường công tác quảng cáo, khuyến mãi, bảohành Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đưa ra các sản phẩm có chấtlượng cao hơn để đáp ứng được nhu cầu thường xuyên thay đổi của ngườitiêu dùng Muốn vậy, các doanh nghiệp phải áp dụng những thành tựu khoahọc kỹ thuật mới vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng cường công tácquản lý, nâng cao trình độ tay nghề của công nhân từ đó làm cho doanhnghiệp ngày càng phát triển hơn

Trang 21

2 Đối với người tiêu dùng:

Có cạnh tranh, hàng hoá sẽ có chất lượng ngày càng tốt hơn, mẫu

mã ngày càng đẹp, phong phú đa dạng hơn để đáp ứng các yêu cầu củangười tiêu dùng trong xã hội Người tiêu dùng có thể thoải mái, dễ dàngtrong việc lựa chọn các sản phẩm phù hợp với túi tiền và sở thích của mình.Những lợi ích mà họ thu được từ hàng hoá ngày càng được nâng cao, thoảmãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của họ nhờ các dịch vụ kèm theo đượcquan tâm nhiều hơn Đó chính là những lợi ích mà người tiêu dùng có được

từ việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp

3 Đối với nền kinh tế:

- Cạnh tranh là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển của

mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp phần xoá bỏnhững độc quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh

- Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹthuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng xâu sắc

- Cạnh tranh thúc đẩy sự đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng nhu cầungày càng cao của xã hội, kích thích nhu cầu phát triển , làm nảy sinhnhững nhu cầu mới, góp phần nâng cao chất lượng đời sống xã hội và pháttriển nền kinh tế

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà cạnh tranh đem lại, thì còn

có những mặt tiêu cực của nó như:

- Tạo ra sự phân hoá giàu nghèo

- Cạnh tranh không lành mạnh dẫn tới những hậu quả tiêu cực nhưlàm phát sinh hàng giả, hàng nhập lậu gây rối loạn thị trường làm thiêt hạicho người tiêu dùng và những doanh nghiệp làm ăn chính đáng

- Cạnh tranh làm cho các doanh nghiệp vì lợi ích trước mắt màkhông giành chi phí cho việc bảo vệ môi trường như xử lý chất thải gây ônhiễm cũng như các vấn đề xã hội khác

Trang 22

Như vậy vấn đề đặt ra là làm thế nài để phát huy vai trò tích cực

và hạn chế các tiêu cực của cạnh tranh Để giải quyết được vấn đề này thìvai trò của Nhà nước là vô cùng quan trọng

Trang 23

PHẦN II THỰC TRẠNG CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH

CỦA TỔNG CÔNG TY EMICO

I Giới thiệu về tổng công ty.

Tổng công ty phát triển truyền thanh truyền hình thông tin, tên giao dịch quốc tế là Broadcast Information Development Corporation, tên viết tắt là EMICO với trụ sở chính tại số 5A Thi Sách, Hai Bà Trưng, Hà Nội và

số 65 Lạc Trung, Hai Bà Trưng, Hà Nội Là một doanh nghiệp nhà nước được thành lập từ ngày 28/7/1969, tiền thân là công ty cung ứng vật tư thông tin trực thuộc tổng cụ thông tin Từ khi thành lập đến nay tổng công

ty chuyên kinh doanh trong lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng và xuất nhập khẩu thiết bị vật tư phục vụ cho ngành phát thanh, truyền hình thông tin và ngày càng đa dạnh hoá hình thức kinh doanh với nhiều sự thay đổi trong tổ chức và hình thức công ty cũng như đơn vị chủ quản

Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, năm 1976, công ty được đổi tên thành công ty Vật tư kỹ thuật phát thanh truyền hình, đơn vị chủ quản

là Uỷ ban phát thanh truyền hình, là đơn vị đầu tiên cung cấp, lắp đặt thiết

bị vật tư kỹ thuật cho ngành phát thanh, truyền hình trong cả nước

Ngày 20 tháng 5 năm 1987, Nhà nước ban hành quyết định số 213/TCthành lập Bộ văn hoá thông tin, cùng với đó công ty được chuyển về trực thuộc Bộ

Ngày 12 tháng 12 năm 1990, bộ trưởng Bộ Văn hoá thông tin đã ban hành quyế định số 46/TC cho phép công ty được quyền xuất nhập khẩu trực tiếp các loại thiết bị đồng bộ, các loại vật tư, linh kiện kỹ thuật chuyên dùng cho ngành phát thanh truyền hình Đây thật sự là cơ hội lớn để công ty mở rộng lĩnh vực kinh doanh và phát triển hoạt động của mình

Trang 24

Tháng 8 nâm 1992, thực hiện nghị đinh 338/HĐBT của hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thành lập lại doanh nghiệp Nhà nước, bộ trưởng Bộ văn hoá thông tin đã ban hành quyết định số 1862/TC đổi tên công ty thành Công ty xuất nhập khẩu thiết bị vật tư thông tin, tên giao dịchquốc tế là Equipment And Material of Information Import – Export

company(tên viết tắt là EMICO)

Tháng 11 năm 1993, công ty xuất nhập khẩu thiết bị vật tư thông

tin(EMICO) được thủ tướng chính phủ ban quyết định số 1565/TC-QĐ-CP ngày 6 tháng 11 năm 1993 chuyển giao toàn bộ tổ chức, bộ máy về Đài tiếng nói Việt Nam

Ngày 1 tháng 1 năm 2005, Thủ tướng chính phủ đồng ý phê duyệt đề án chuyển công ty xuất nhập khẩu thiết bị vật tư thông tin(EMICO) sang hoạt động theo hình thức công ty mẹ - công ty con

Ngày 10 tháng 4 năm 2006, Tổng giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam ra quyết định số 171/QĐTNVN thành lập công ty mẹ: Tổng công ty phát triểnphát thanh truyền hình thông tin Tên giao dịch quốc tế là Broadcast

Information Development Corporation, tên viết tắt vẫn lấy thương hiệu EMICO

Kể từ ngày 25 tháng 9 năm 2006, công ty xuất nhập khẩu thiết bị vật

tư thông tin(EMICO) hoạt động dưới cái tên mới và con dấu mới: Tổng công ty phát triển phát thanh truyền hình thông tin

Hiện nay công ty có 5 phòng ban và 9 đơn vị thành viên trực thuộc công ty mẹ Mô hình công ty mẹ - công ty con bắt đầu đi vào hoạt động từ quý IV năm 2006

1 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức

I.1 Chức năng, nhiệm vụ

Trang 25

Từ năm 1969 đến nay, Tổng công ty luôn lấy hoạt động kinh doanh, lắp đặt và chuyển giao công nghệ thiết bị phát thanh - truyền hình – thông tin làm ngành nghề kinh doanh chính Cùng với đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên lành nghề và giàu kinh nghiệm, Tổng công ty đã cung cấp hàng chục vạn Radio AM/FM, hàng vạn cụm truyền thông không dây, hàng ngàn trạmthu vệ tinh(anten parabol), phòng thiết bị máy tính, 46 đài phát sóng phát thanh - truyền hình tỉnh thành, 12 đài phát thanh khu vực thuộc trung ương,

30 hệ thống âm thanh, ánh sáng cho các trung tâm văn hoá nghệ thuật quốc gia

Để có được cái nhìn tổng quát hơn, những nhiệm vụ chức năng cụ thể của tổng công ty được cụ thể như sau:

- Kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị, công nghệ phát thanh truyền hình, thông tin, viễn thông, điện tử tin học dân dụng

- Đầu tư sản xuất lắp ráp, sửa chữa bảo hành thiết bị ngành phát thanh truyền hình

- Tư vấn, thiết kể, khảo sát, chuyển giao công nghệ các công trình thuộc lĩnh vực phát thanh truyền hình, viễn thông, điện, điện tử tin học, âm thanh, ánh sáng

- Thực hiện các hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu, đại lý, ký gửi cho các thành phần kinh tế và dịch vụ khách sạn, lữ hành với đội xe 4-16 chỗ ngồi, cung cấp hàng hoá cho 30 siêu thị, nhà sách phía nam

- Nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng các công nghệ kỹ thuật mới thuộc các lĩnh vực chuyên ngành

- Xây dựng dân dụng, đầu tư phát triển và kinh doanh bất động sản

- Xuất nhập khẩu hàng may mặc, hàng tiêu dùng và phương tiện vận tải

Trang 26

- Kinh doanh khách sạn, lữ hành nội địa và vận chuyển

- Đào tạo giáo dục định hướng cho người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn tại nước ngoài chủ yếu, xuất khẩu lao động theo giấy phép 27/LĐTBXH – GP ngày 30 tháng 7 năm 2004 của Bộ lao động thương binh và xã hội Tính đến nay, Tổng công ty đã đưa hơn 3.000 lao động sangcác thị trường Nga, Nhật Bản, Đài Loan

- Tư vấn xã hội, thị trường, marketing, đánh giá hiệu quả dự án và dịch vụ quảng cáo trong phạm vi toàn quốc trên các loại hình: phát thanh, truyền hình, báo chí, pano, áp phích và bảng hiệu điện tử

- Thực hiện các dịch vụ về văn hoá, tổ chức hội thảo, hội nghị, biểu diễn nghệ thuật,phất hành sách báo, tạp chí và các ấn phẩm văn hoá

1.2 Cơ cấu tổ chức

Tổng công ty EMICO có đội ngũ cán bộ kỹ thuật giàu kinh nghiệm trong nghiên cứu, ứng dụng và sản xuât các thiết bị để cung cấp, lắp đặt, đáp ứng và thảo mãn mọi nhu cầu của ngành phát thanh truyền hình và thông tin Tổng công ty EMICO được thành lập chủ yếu trên cơ sở cơ cấu, sắp xếp lại các đơn vị trực thuộc công ty Xuất nhập khẩu thiết bị vật tư thông tin(EMICO) và các đơn vị thuộc Công ty Ứng dụng Phát triển phát thanh truyền hình(BDC) Toàn tổng công ty được điều hành bởi hội đồng quản trị tổng công ty Hội đồng này phụ trách toàn bộ hoạt động của tổng công ty kể cả việc tiếp nhận và thực hiện các kế hoạch được giao từ Đài tiếng nói Việt Nam

Hiện tổng số cán bộ nhân viên trong công ty là 450 người, trong đó

có 5 người trình độ trên đại học, 295 người trình độ đại học, 125 người là công nhân kỹ thuật lành nghề và kinh tế viên và các lao động khác, cụ thể:

- 1 Tổng giám đốc

Trang 27

- 3 phó Tổng giám đốc

- 1 kế toán trưởng

- 8 giám đốc công ty thànhviên và 1 giám đốc trung tâm

- 87 kỹ sư chuyên ngành vô tuyến điện tử, điện, điện dân dụng…

- 79 cử nhân các ngành ngoại thương, tài chính, kế toán, luật…

- 102 công nhân lành nghề

- 43 lao động khác

- Số còn lại là lao động thời vụ hoặc hợp đồng ngắn hạn Ngoài ra, Tổng công ty còn có nhiều cộng tác viên về các lĩnh vực có liên quanđến hoạt động thường xuyên và các bộ phận chức năng của Tổng công ty như: tư vấn, công nghệ, khoa học, kỹ thuật

Có thể thấy nhân lực của Tổng công ty là nguồn nhân lực chất lượng cao, có nhiều năm kinh nghiệm trong nghiên cứu ứng dụng và sản xuất các thiết bị trong lĩnh vực phát thanh truyền hình thông tin Đây cũng là 1 trongnhững khẳng định và đảm bảo về chất lượng hàng hoá cũng như dịch vụ cung cấp

Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban

Phòng Tổng Hợp Đảm nhiệm công tác tổng hợp trong công ty gồm có:

- Sắp xếp lịch công tác hàng tuần, hàng tháng cho lãnh đạo và cácnhân viên của công ty.Trên cơ sở kế hoạch vạch ra,tiến hành theo dõi, kiểmtra phối hợp công việc giữa các phòng ban nhằm thực hiện đúng thời gian

và tiến độ

- Theo dõi tình hình làm việc của các nhân viên trong công ty, từ đó

có các hình thức khen thưởng kỷ luật hợp lý

Trang 28

- Phụ trách vấn đề mua sắm, cung cấp các trang thiết bị cho công ty, tổchức chuẩn bị các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho các cuộc hội thảo hộinghị khách hàng

- Xây dựng quy chế trả lương, tiền thưởng, phụ cấp

- Quản lý các khâu lễ tân, bảo vệ, quét dọn vệ sinh công ty, chuẩn bị

ăn uống cho cán bộ- nhân viên của công ty trong thời gian làm việc

Phòng Kế Toán

- Thực hiện các công tác hạch toán kế toán như kế toán bán hàng, tiềnlương,các khoản chi phí, tình hình hàng hoá nhập xuất và các nghiệp vụkhác có liên quan

- Quản lý các nghiệp vụ liên quan đến nhập khẩu hàng hoá như: mở

LC ,thanh toán cho các ngân hàng, kiểm tra vận đơn

- Thu tiền hàng từ các đại lý, viết lệnh xuất hàng rồi chuyển xuốngkho Trong những dịp đặc biệt, khi mà nhu cầu lấy hàng của các đại lý quálớn nhưng hàng lại không về kịp để đáp ứng thì phòng kế toán có tráchnhiệm tính toán rồi ra quyết định phân phối một lượng hàng cụ thể chotừng đại lý

Phòng Bán Hàng

- Theo dõi tình hình bán hàng của công ty

- Ra ngoài thị trường thu thập các thông tin liên quan đến những biếnđộng của thị trường như về giá cả, nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng,các thông tin về đối thủ cạnh tranh, về các chính sách thương mại của nhànước

- Khi công ty có những chính sách mới như các chương trình khuyếnmại, giảm giá phòng bán hàng trực tiếp đến phổ biến cho các đại lý trongkhu vực Hà nội, đồng thời thường xuyên thăm hỏi tạo dựng mối quan hệ tốtvới các đại lý

Trang 29

Phòng Marketing

- Tổng hợp các thông tin mà phòng bán hàng đã thu thập, từ đó xácđịnh các khuynh hướng của thị trường, đề ra các kế hoạch kinh doanh rồitrình lên ban giám đốc

- Xây dựng các chương trình Marketing mix, xác định ngân sáchđồng thời phối hợp nguồn lực của các phòng ban để thực hiện thành côngcác kế hoạch đã đề ra

Trung Tâm Chăm Sóc Khách Hàng + Showroom

- Phỏng vấn khách hàng, thu thập các thông tin phản hồi từ kháchhàng Thăm dò xem khách hàng có hài lòng với chất lượng sản phẩm củacông ty hay không, thái độ đối với các dịch vụ của công ty như thế nào ,còn có điều gì không vừa ý

- Giải đáp các thắc mắc của khách hàng về những sản phẩm và dịch

vụ của công ty

- Tiếp nhận các thông tin liên quan đến sửa chữa, bảo hành sản phẩmcủa công ty, vào sổ cái rồi chuyển cho phòng kỹ thuật

- Giới thiệu về sản phẩm, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, giới thiệu

về công ty, về các chương trình khuyến mại cho khách hàng Bán hàng,lên lịch lắp đặt rồi chuyển sang phòng kỹ thuật

Phòng Kỹ Thuật

Trang 30

- Phổ biến các kế hoạch, chương trình kinh doanh mới mà công ty

Là một trong những doanh nghiệp đầu ngành trong lĩnh vực cung cấp thiết bị vật tư thông tin, Tổng công ty luôn chú trọng đến chất lượng hàng hoá, giảm chi phí trong quá trình xuất nhập khẩu thiết bị cũng như giao hàng đúng thời hạn Điều này đảm bảo cho Tổng công ty EMICO có thể đứng vững trong thị trường cạnh tranh ngày một gay gắt Thêm vào đó, vớicác mối quan hệ lâu năm, thường xuyên, nhiều hãng sản xuất, cung cấp thiết bị và các tổ chức kinh tế, kỹ thuật quốc tế tại các quốc gia trên thế giớitại các thị trường ASEAN, Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Italia…và với các nhà cung cấp lớn có uy tín như tập đoàn Mitcor( Nhà phân phối của hãng

Trang 31

Hoạt động chủ yếu của tổng công ty la nhập khẩu các thiết bị vật tư thông tin sau đó bán trực tiếp hoặc lắp đặt chế tạo sản phẩm mới Với sản phẩm tiêu biểu là các máy phát thanh FM công suất 10W – 5.000W, các thiết bị sản xuất chương trình(studio) cho phát thanh, truyền hình và cho các trung tâm biểu diễn văn hoá nghệ thuật - Bộ văn hoá thông tin Các sảnphảm này được sản xuất, lắp ráp trên một dây chuyền hiện đại ( bao gồm cả

hệ thống thiết bị đo, kiểm tra) đã được kiểm tra và cấp phép của Trung tâm

kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng khu vực I ( Tổng cục tiêu chuẩn đolường chất lượng)

Hình thức nhập khẩu được Đài tiếng nói Việt Nam đề ra kế hoạch và công ty tổ chức thực hiện theo Công ty có các đơn đặt hàng thông qua hìnhthức dự thầu Sau khi xem xét các tiêu chuẩn dự thầu, nếu đủ điều kiện công ty sẽ tiến hành lập hồ sơ dự thầu Khi trúng thầu, công ty sẽ ký kết cáchợp đồng kinh tế

Trước khi nhập khẩu, phòng kinh doanh của công ty xác định, dự đoán số lượng, chủng loại các mặt hàng cần nhập khẩu theo chỉ tiêu cấp trên giao, theo đơn đặt hàng và theo yêu cầu của thị trường Sau đó công ty lựa chọn nhà cung cấp để đặt hàng và kí kết hợp đồng thương mại

Trang 32

Sau khi hợp đồng thương mại được kí kết, công ty tiến hành mở thư tín dụng L/C Trước hết công ty viết “ Giấy xin mở thư tín dụng” gửi đến ngân hàng Đồng thời viết 2 Uỷ nhiệm chi: một là để trả phí mở L/C, một

để ký quỹ mởi L/C Khi nhận đựơc thông báo về việc mở L/C, bên cung cấp tiến hành bàn giao hàng hoá theo thoả thuận trong hợp đồng Hàng hoá thường được nhập theo đường hàng không hoặc đường biển

Khi hàng về đến nơi giao nhận, bộ phận kỹ thuật kiểm tra thực hiện thủ tục kiểm tra chất lượng hàng hoá và thủ kho làm thủ tục nhập kho, trừ lượng hàng tiêu thụ trực tiếp

Song song với việc cung ứng thiết bị, Tổng công ty còn cung cấp thêmcác dịch vụ lắp đặt, tư vấn, thiết kế hoặc chế tạo mới thông qua các công ty con và trung tâm của mình Các công ty này tạo nên hệ thống kinh doanh thuận lợi, đặc biệt là trong việc mở rộng bạn hàng

Tổng công ty với trung tâm dào tạo và xuất khẩu lao động của mình

đã tiến hành đưa người Việt Nam ra nước ngoài học tập và công tác thành công trên các thị trường Nga, Nhật, Đài Loan Quá trình tuyển dụng lao động được bắt đầu sau khi công ty ký kết hợp đồng tuyển dụng lao động đối với các đối tác nước ngoài Người lao động được đào tạo thêm các kỹ năng cần thiết để làm việc trước khi tham gia vào thị trường lao động nước ngoài Sau đó công ty chuẩn bị mọi giấy tờ cần thiết cho việc đưa người laođộng ra nước ngoài

Ngoài ra, hoạt động truyền thông quảng cáo cũng là một thế mạnh củatổng công ty Trung tâm tư vấn quảng cáo (nay là Công ty tư vấn nghiên cứu xã hội truyền thông và quảng cáo EMICO) được thành lập từ khá sớm, đáp ứng kịp thời nhu cầu của chính bản thân doanh nghiệp và thị trường trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ quảng cáo trên phạm vi toàn quốc qua các

Trang 33

loại hình phát thanh, truyền hình, thông tin, báo chí, pano, áp phích và bảnghiệu điện tử Khách hàng chính trong hoạt động này của tổng công ty là các

ga xe lửa, các sân bay

2.2 Kết quả hoạt động 3 năm gần đây

Hiện nay EMICO đã chuyển đổi sang mô hình công ty mẹ - công ty con theo đề án trình Chính phủ đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt vớivốn kinh doanh là 1000 tỷ đồng

Ngoài việc tập trung cho sự nghiệp phát thanh truyền hình, EMICO còn tham gia thực hiện các dự án lớn cho ngành văn hoá thông tin và giáo dục đào tạo Theo danh mục các hợp đồng kinh tế lớn đã được liệt kê từ năm 2002 đến năm 2006, laọi hình kinh doanh của tổng công ty trong lĩnh vực phát thanh truyền hình thông tin bao gồm cả việc cung ứng, lắp đặt cácthiết bị vật tư thông tin (51 hợp đồng), xây dựng các trụ sở, trung tâm, nhà văn hoá, trạm biến áp, đài phát thanh cho các tỉnh thành và nước bạn

Lào(29 hợp đồng)…

Thông qua tóm tắt các số liệu trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán trong 3 năm(2005-2007) dưới đây chúng ta có thể thấy được một cái nhìn tương đối toàn diện về tình hình tài chính của công ty

Trang 34

Bảng phân tích số liệu tài chính

các năm 2005, 2006, 2007 của tổng công ty EMICO

A Nhóm chỉ tiêu về khả

năng thanh toán

1 Khả năng thanh toán hiện

quả kinh doanh

Trang 35

3 Phương hướng hoạt động trong thời gian tới

Tập trung xây dựng và phát triển Tổng công ty EMICO trở thành

doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực xuất nhập khẩu các thiết

bị phục vụ cho ngành phát thanh truyền hình thông tin trong cả nước đáp ứng kịp thời nhu cầu của xã hội Vì đây là ngành kinh doanh mũi nhọn của tổng công ty cho nên rất được chú trọng, với thế mạnh là doanh nghiệp đi đầu trong lĩnh vực này, Tổng công ty sẽ tập trung phát triển nhằm hiện thựchoá mục tiêu là doanh nghiệp xuất nhập khẩu thiết bị vật tư phục vụ cho ngành phát thanh truyền hình thông tin lớn nhất Việt Nam

Tiếp tục đi sâu vào thị trường xuất khẩu lao động, tìm hiểu về các thị trường mới nhằm tạo ra nhiều cơ hội cho người lao động Việt Nam có thể

có được những công việc phù hợp Trứơc mắt thì Tổng công ty vẫn tiếp tụcmối quan hệ làm ăn với những thị trường cũ như Nga, Nhật, Đài Loan, bêncạnh đó đẩy mạnh khai thác vào những thị trường lao động mới có nhiều tiềm năng và thu hút được nhiều lao động Việt Nam như: Ả Rập Xê Út,

Trang 36

kế hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, kỹ sư tiếp cận với công nghệ mới hiện đại, tìm hiểu nghiên cứu để trong tương lai có thể tự sản xuất các thiết bị máy móc của ngành phát thanh truyền hình thông tin.

Duy trì mối quan hệ làm ăn với các bạn hàng truyền thống, có uy tín, các bạn hàng chủ yếu vẫn là các công ty sản xuất lớn và có tiếng của Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật…chủ động lựa chọn những đối tác nước ngoài là những hãng sản xuất lớn, có công nghệ sản xuất cao để thiết lập những hợpđồng thương mại hoặc các dự án chuyển giao công nghệ tiên tiến, đào tạo cán bộ kỹ sư có năng lực trong quá trình phát triển của tổng công ty Ngoài

ra, trong một vài năm trở lại đây, Tổng công ty cũng đã liên hệ thêm được với nhiều hãng sản xuất trong khu vực như Đài Loan, Thái Lan,

Singapore…đó cũng đều là những hãng sản xuất có uy tín trên thị trường Thế Giới trong những năm gần đây Có thể thấy được những bạn hàng làm

ăn truyền thống và có uy tín của tổng công ty đều là những tập đoàn có thương hiệu lớn trên thế giới, mục tiêu của công ty là tiếp tục giữ được mốiquan hệ hợp tác với các đối tác đó đồng thời cũng dựa và những đối tác đó

mà công ty có thể có thêm nhiều bạn hàng mới có tiềm năng

Nâng cao chất lượng dịch vụ đối với tất cả các lĩnh vực kinh doanh của công ty như tư vấn,quảng cáo, mua bán, lắp đặt máy móc thiết bị, ngày

Trang 37

Đầu tư xây dựng một số cơ sở, trung tâm, nhà văn hoá, trạm phát thanh tại các tỉnh thành trong cả nước và bên nước bạn Lào, xây dựng một

số cơ sở nghiên cứu thiết kế, đào tạo công nhân kỹ thuật, cán bộ quản lý thành thạo trên diện rộng để đáp ứng được nhu cầu sủa chữa lắp đặt máy móc và nhu cầu phát triển của ngành phát thanh truyền hình thông tin

II Phân tích thị trường cạnh tranh và tình hình kinh doanh của công ty.

1.Đặc điểm thị trường kinh doanh.

1.1.Thị trường kinh doanh.

Hoạt động của tổng công ty EMICO là nhập khẩu hàng rồi bán ra thịtrường Việt nam Do đó thị trường kinh doanh của công ty chỉ là thị trườngtrong nước, và trọng tâm là tại các thành phố lớn Sau đây là một số đặcđiểm đáng chú ý của thị trường này

a.Khách hàng

Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyếtđịnh sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Bởi vì khách hàng tạonên thị trường, có khách hàng doanh nghiệp mới có thể bán được hàng hoácủa mình Về phần công ty, khách hàng tập trung vào hai loại chính là:

- Các đại lý trung gian mua hàng hoá của công ty rồi bán cho người tiêudùng hoặc bán lại cho các đại lý khác Đó là những hộ kinh doanh cáthể, các công ty tư nhân được công ty nhận làm đại lý bán hàng chomình

Ngày đăng: 05/08/2013, 14:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Quản trị kinh doanh tổng hợp.NXB Khoa học kỹ thuật-1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: NXB Khoa học kỹ thuật
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật"-1999
9. Quản lý chiêu thị.NXB Thống kê- 1999 10. Nghệ thuật tiêu thụ sản phẩmNhà xuất bản Thống kê 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: NXB Thống kê
Nhà XB: NXB Thống kê"- 1999 10. Nghệ thuật tiêu thụ sản phẩmNhà xuất bản Thống kê 2001
4. Quản lý doanh nghệp trong cơ chế thị trờng.NXB chính trị quốc gia- 1999 Khác
5. Marketing dới góc độ quản trị doanh nghiệp.NXB Thóng kê- 1999 Khác
7. Công nghệ quảng cáo.NXB Khoa học kỹ thuật- 1992 Khác
8. Thời báo kinh tế Việt Nam (2000, 2001) Khác
11. Các tài liệu về tình hình sản xuất kinh doanh của công ty khoá Minh Khai Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng phân tích số liệu tài chính - Một vài giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của tổng công ty phát triển phát thanh truyền hình thong tin EMICO trên thị trường Việt nam
Bảng ph ân tích số liệu tài chính (Trang 34)
Bảng 5 : Phân tích tình hình phân bổ vốn năm 2008 - Một vài giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của tổng công ty phát triển phát thanh truyền hình thong tin EMICO trên thị trường Việt nam
Bảng 5 Phân tích tình hình phân bổ vốn năm 2008 (Trang 50)
Bảng 6 : Phân tích cơ cấu nguồn vốn năm 2008 - Một vài giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của tổng công ty phát triển phát thanh truyền hình thong tin EMICO trên thị trường Việt nam
Bảng 6 Phân tích cơ cấu nguồn vốn năm 2008 (Trang 51)
Bảng 7 : Phân tích tình hình thanh toán - Một vài giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của tổng công ty phát triển phát thanh truyền hình thong tin EMICO trên thị trường Việt nam
Bảng 7 Phân tích tình hình thanh toán (Trang 52)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w