“Tình hình khai thác bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Hội sở Giao dịch Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện”
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Xã hội nào trên con đường phát triển của mình cũng luôn hướng tới sựphồn thịnh, ấm no về vật chất cùng với sự đảm bảo công bằng và phúc lợi xãhội Để thực hiện được mục tiêu đó, phải tiến hành nhiều hoạt động kinh tế -
xã hội Mỗi hoạt động có những đặc thù và chức năng riêng của mình Nhưng
có một hoạt động không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế mà ý nghĩa xã hội của
nó cũng không thể phủ nhận Đó là Bảo hiểm - một hoạt động dịch vụ tàichính dựa trên nguyên tắc số đông bù số ít Hàng năm nó mang lại một nguồnthu lớn cho ngân sách Nhà nước, lợi nhuận cho người kinh doanh bảo hiểm,đồng thời góp phần ổn định đời sống, sản xuất cho người tham gia Nhờ cóbảo hiểm, những thiệt hại do thiên tai, tai nạn bất ngờ xảy ra với một người sẽđược bù đắp, san sẻ từ những khoản đóng góp của nhiều người Do đó, nó làchỗ dựa tinh thần cho mọi người, mọi tổ chức, giúp họ yên tâm trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh
Khi nền kinh tế được khai thông, Việt Nam mở cửa thị trường thựchiện tự do hoá thương mại giao thương với các nước khác Điều đó đã tạo nênnhững thuận lợi cũng như những khó khăn nhất định cho hoạt động ngoạithương của Việt Nam, tổng kim ngạch hàng hoá xuất nhập khẩu đã tăng lênđáng kể so với trước, cụ thể 06 tháng đầu năm 2008 xuất khẩu đạt 29,7 tỉUSD, tăng 31,8% Nhập khẩu đạt 44,5 tỉ USD, tăng 60,3% với mức nhập siêu14,7 tỉ USD Việc tăng kim ngạch hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam đãtạo ra một thị trường bảo hiểm hàng hoá còn bỏ ngỏ chưa được các công tybảo hiểm khai thác triệt để Chính vì vậy, là một sinh viên khoa bảo hiểm,hiện đang thực tập tại phòng Hàng hải thuộc HSGD Công ty Cổ phần Bảo
hiểm Bưu điện, em đã lựa chọn đề tài: “Tình hình khai thác bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Hội sở Giao dịch
Trang 2Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện” để nghiên cứu và hoàn thiện
chuyên đề thực tập tốt nghiệp nhằm mục đích hiểu sâu hơn về tầm quantrọng của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
Kết cấu của chuyên đề gồm có 03 chương:
Chương 3:
Một số giải pháp nhằm thúc đẩy khai thác bảo hiểm hàng hoá xuất nhậpkhẩu vận chuyển bằng đường biển tại HSGD Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưuđiện
Trang 3Chương I: Tổng quan về bảo hiểm hàng hoá xuất, nhập khẩu vận
chuyển bằng đường biển
I Khái quát chung về bảo hiểm hàng hoá xuất, nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
1) Vai trò và đặc điểm của vận chuyển hàng hoá xuất, nhập khẩu vận chuyển
bằng đường biển
a Vai trò:
Dịch vụ vận chuyển nói chung và dịch vụ vận chuyển hàng hóa xuất,nhập khẩu (XNK) bằng đường biển nói riêng ngày càng đóng vai trò quantrọng trong thương mại quốc tế Vì vận chuyển bằng đường biển có rất nhiều
ưu điểm:
Vận chuyển hàng hoá xuất, nhập khẩu bằng đường biển có thể vậnchuyển được nhiều chủng loại hàng hoá với khối lượng lớn, mà các phươngtiện khác như: Đường bộ, đường sông, đường hàng không … không thể đảmnhận được, chẳng hạn như các loại hàng hoá siêu trường, siêu trọng
Các tuyến vận chuyển đường biển rộng lớn nên trên một tuyến có thể tổchức được nhiều chuyến tàu trong cùng một lúc cho cả hai chiều
Việc xây dựng và bảo quản các tuyến đường biển dựa trên cơ sở lợidụng điều kiện thiên nhiên của biển, do đó không phải đầu tư nhiều về vốn,nguyên, vật liệu, sức lao động Đây là một trong những nguyên nhân làm chogiá thành vận chuyển bằng đường biển thấp hơn so với các phương tiện khác
Vận chuyển bằng đường biển góp phần phát triển tốt mối quan hệ kinh
tế với các nước, thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại của nhà nước, góp phầntăng thu ngoại tệ …
Vì vậy, hoạt động vận chuyển hàng hoá xuất, nhập khẩu bằng đườngbiển ngày càng phát triển mạnh mẽ
Trang 4Tuy nhiên, vận chuyển hàng hoá xuất, nhập khẩu bằng đường biển
cũng có một số nhược điểm sau:
Vận chuyển bằng đường biển gặp rất nhiều rủi ro Các rủi ro này có thể
do các yếu tố tự nhiên, yếu tố kỹ thuật hoặc yếu tố xã hội, con người
Do yếu tố tự nhiên: Vận chuyển bằng đường biển phụ thuộc rất nhiều vào
điều kiện tự nhiên Thời tiết, khí hậu trên biển đều ảnh hưởng trực tiếp đếnquá trình vận chuyển bằng đường biển Những rủi ro do thiên tai bất ngờ nhưbão, sóng thần, lốc … có thể xảy ra bất cứ lúc nào
Yếu tố tự nhiên diễn ra không theo một quy luật nhất định nào Vì vậy,mặc dù khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và có thể dự báo thời tiết,nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra
Do yếu tố kỹ thuật: Trong hoạt động của mình, con người ngày càng sử
dụng nhiều hơn các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại Nhưng dù máymóc hiện đại chính xác đến đâu cũng không tránh khỏi trục trặc về kỹ thuật,
đó là trục trặc của chính con tàu, kỹ thuật dự báo thời tiết, các tín hiệu điềukhiển từ đất liền … từ đó gây ra đổ vỡ, mất mát hàng hoá trong quá trìnhXNK
Do yếu tố xã hội, con người: Hàng hoá có thể bị mất trộm, mất cắp, bị
cướp, hoặc bị thiệt hại do chiến tranh …
Tốc độ của tàu biển còn chậm, hành trình trên biển có thời gian dài, nênxác suất rủi ro tai nạn trên biển càng cao, nhưng việc ứng cứu rủi ro, tai nạnrất khó khăn
Cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội, mỗi chuyến tàu thường có giá trịrất lớn bao gồm giá trị tàu và hàng hoá chở trên tàu Vì vậy, nếu rủi ro xảy ra
sẽ gây tổn thất rất lớn về tài sản, trách nhiệm và con người
Trang 5Trong quá trình vận chuyển, hàng hoá được chủ phương tiện chịu tráchnhiệm chính Nhưng trách nhiệm này rất hạn chế về thời gian, phạm vi vàmức độ tuỳ theo điều kiện giao hàng và hợp đồng vận chuyển.
b Đặc điểm:
Việc XNK hàng hoá thường được thực hiện thông qua hợp đồng giữangười mua và người bán với nội dung về số lượng, phẩm chất, ký mã hiệu,quy cách đóng gói, giá cả hàng hoá, trách nhiệm thuê tàu và trả cước phí, phíbảo hiểm, thủ tục và đồng tiền thanh toán …
Có sự chuyển giao quyền sở hữu lô hàng XNK từ người bán sang ngườimua
Hàng hoá XNK thường được vận chuyển qua biên giới quốc gia, phảichịu sự kiểm soát của hải quan, kiểm dịch … tuỳ theo quy định của mỗi nước.Đồng thời để được vận chuyển ra (hoặc vào) qua biên giới phải mua bảo hiểmtheo tập quán thương mại quốc tế
Hàng hoá XNK thường được vận chuyển bằng các phương tiện khácnhau theo phương thức vận chuyển đa phương tiện, trong đó có tàu biển.Người vận chuyển hàng đồng thời cũng là người giao hàng cho người mua
Quá trình XNK hàng hoá có liên quan đến nhiều bên, trong đó có 4 bênchủ yếu là: Người bán, người mua, người vận chuyển và người bảo hiểm
2) Rủi ro và tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất, nhập khẩu vận chuyển
Trang 6Theo nguyên nhân:
Rủi ro hàng hải bao gồm rủi ro do thiên tai, rủi ro do tai nạn bất ngờtrên biển và rủi ro do hành động của con người
Thiên tai: Là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra như biển động,bão, lốc, sét, thời tiết quá xấu … mà con người không chống lại được
Tai nạn bất ngờ trên biển: Mắc cạn, đắm, bị phá huỷ, cháy, nổ, mấttích, đâm va với tàu hoặc một vật thể cố định hay di động khác không phải lànước, phá hoại của thuyền trưởng và thuỷ thủ trên tàu …
Hành động của con người: Ăn trộm, ăn cắp hàng, mất cướp, chiếntranh, đình công, bắt giữ, tịch thu …
Ngoài ra còn các rủi ro khác như rủi ro lúc xếp dỡ hàng, hàng bị nhiễmmùi, lây bẩn …
Theo nghiệp vụ bảo hiểm:
Có 3 loại rủi ro: Rủi ro thông thường được bảo hiểm, rủi ro khôngđược bảo hiểm và rủi ro được bảo hiểm trong trường hợp đặc biệt
Rủi ro thông thường được bảo hiểm: Bão, lốc, sóng thần, mắc cạn, đâm
va …
Rủi ro không được bảo hiểm (còn gọi là rủi ro loại trừ): Các hành vi sailầm cố ý của người được bảo hiểm, bao bì không đúng quy cách, vi phạm thể
lệ XNK hoặc vận chuyển chậm trễ làm mất thị trường, sụt giá …
Rủi ro được bảo hiểm trong trường hợp đặc biệt: Rủi ro do chiến tranh,đình công, bạo loạn … (gọi chung là rủi ro chiến tranh) thường không đượcbảo hiểm Trong trường hợp chủ hàng yêu cầu, rủi ro chiến tranh sẽ đượcnhận bảo hiểm kèm theo rủi ro thông thường được bảo hiểm với điều kiện trảthêm phụ phí đặc biệt
Trang 7Các rủi ro được bảo hiểm phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra tổn thất.Việc phân biệt nguyên nhân trực tiếp hay nguyên nhân gián tiếp có vai trò rấtquan trọng để xác định rủi ro gây ra tổn thất có phải là rủi ro được bảo hiểmhay không Những tổn thất nào có nguyên nhân trực tiếp là rủi ro được bảohiểm gây ra mới được bồi thường.
TTBP là một phần của đối tượng được bảo hiểm theo một hợp đồng
bảo hiểm (HĐBH) bị mất mát, hư hỏng, thiệt hại TTBP có thể là tổn thất về
số lượng, trọng lượng, thể tích, phẩm chất hoặc giá trị
TTTB là toàn bộ đối tượng được bảo hiểm theo một HĐBH bị hư
hỏng, mất mát, thiệt hại
Có 2 loại TTTB là TTTB thực tế và TTTB ước tính.
TTTB thực tế: Là toàn bộ đối tượng được bảo hiểm theo 1 HĐBH bị hưhỏng, mất mát, thiệt hại hoặc bị biến chất, biến dạng không còn như lúc mớiđược bảo hiểm hay bị mất đi, bị tước đoạt không lấy lại được nữa Chỉ có
“TTTB thực tế” trong 4 trường hợp sau:
Hàng hoá bị huỷ hoại hoàn toàn;
Hàng hoá bị tước đoạt không lấy lại được;
Hàng hoá không còn là vật thể bảo hiểm;
Hàng hoá ở trên tàu mà tàu được tuyên bố mất tích
Trang 8 TTTB ước tính: Là trường hợp đối tượng được bảo hiểm bị thiệt hại,mất mát chưa tới mức độ TTTB thực tế, nhưng không thể tránh khỏi TTTBthực tế; hoặc nếu bỏ thêm chi phí ra cứu chữa thì chi phí cứu chữa có thể bằnghoặc lớn hơn GTBH.
Phân loại theo trách nhiệm bảo hiểm:
Có 2 loại tổn thất: Tổn thất chung (TTC) và tổn thất riêng (TTR)
TTR là tổn thất chỉ gây ra thiệt hại cho một hoặc một số quyền lợi của
các chủ hàng và chủ tàu trên một con tàu Như vậy TTR chỉ liên quan đếntừng quyền lợi riêng biệt Trong TTR, ngoài thiệt hại vật chất, còn phát sinhcác chi phí liên quan đến TTR nhằm hạn chế những hư hại khi tổn thất xảy ra,gọi là tổn thất chi phí riêng
Tổn thất chi phí riêng là những chi phí bảo quản hàng hoá để giảm bớt
hư hại hoặc để khỏi hư hại thêm, bao gồm chi phí xếp, dỡ, gửi hàng, đóng góilại, thay thế bao bì … ở bến khởi hành và dọc đường Có tổn thất chi phí riêng
sẽ làm hạn chế và giảm bớt TTR
TTR có thể là TTBP hoặc TTTB
TTC là những hy sinh hay chi phí đặc biệt được tiến hành một cách cố
ý và hợp lý nhằm mục đích cứu tàu và hàng hoá chở trên tàu thoát khỏi một
sự nguy hiểm chung, thực sự đối với chúng
Các thiệt hại, chi phí hoặc hành động được coi là TTC khi có các đặctrưng sau:
Hành động TTC phải là hành động tự nguyện, hữu ý của những ngườitrên tàu theo lệnh của thuyền trưởng hoặc người thay mặt thuyền trưởng
Hy sinh hoặc chi phí phải đặc biệt, bất thường;
Hy sinh hoặc chi phí phải hợp lý và vì an toàn chung cho tất cả cácquyền lợi trong hành trình ;
Trang 9Nguy cơ đe doạ toàn bộ hành trình phải nghiêm trọng và thực tế;
Mất mát, thiệt hại hoặc chi phí phải là hậu quả trực tiếp của hành độngTTC;
TTC phải xảy ra trên biển
TTC bao gồm hai bộ phận chủ yếu đó là hy sinh TTC và chi phí TTC
Hy sinh TTC: Là những thiệt hại hoặc chi phí do hậu quả trực tiếp củamột hành động TTC Ví dụ, việc vứt bỏ bớt hàng vì lý do an toàn của tàu, đốtvật phẩm trên tàu để thay nhiên liệu …
Chi phí TTC là những chi phí phải trả cho người thứ ba trong việc cứutàu và hàng thoát nạn hoặc chi phí làm cho tàu tiếp tục hành trình
Chi phí TTC bao gồm: chi phí cứu nạn; chi phí làm nổi tàu đã bị mắccạn, chi phí thuê kéo, lai, dắt tàu khi bị nạn; chi phí tại cảng lánh nạn như: Chiphí ra vào cảng, chi phí xếp dỡ, nhiên liệu … vì an toàn chung hoặc để sửachữa tạm thời; chi phí tái xếp hàng, lưu kho hàng hoá, tiền lương cho thuyềntrưởng, thuyền viên, lương thực, thực phẩm, nhiên liệu tiêu thụ tại cảng lánhnạn
II Nội dung cơ bản của bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển
1) Đối tượng bảo hiểm
Bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển là bảo hiểm chohàng hoá xuất, nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển khi hàng hoá xảy ratổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm hayHợp đồng bảo hiểm
Trang 102) GTBH, STBH, Phí bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm (GTBH):
Là giá trị thực tế của lô hàng, thường là giá CIF, bao gồm: Giá hànghoá, cước phí vận chuyển, phí bảo hiểm và các chi phí liên quan khác
Ngoài ra để thoả mãn nhu cầu của người tham gia bảo hiểm, đối vớihàng thương mại, người bảo hiểm coá thể nhận bảo hiểm thêm cả phần lãi dựtính, tức mức chênh lệch giữa giá mua ở cảng đi và giá bán ở cảng đến (thực
ra đây là lợi nhuận thương mại, không hoàn toàn là giá trị của hàng được bảohiểm)
Số tiền bảo hiểm (STBH):
Là số tiền được đăng ký bảo hiểm, ghi trong hợp đồng bảo hiểm
STBH được xác định dựa trên cơ sở GTBH
Hoá đơn hàng là tài liệu chắc chắn để xác định GTBH của hàng hoá
Nếu STBH bằng GTBH, đó là “bảo hiểm ngang giá trị”, còn gọi là
“bảo hiểm toàn phần”
Nếu STBH cao hơn GTBH, đó là “bảo hiểm trên giá trị”, còn gọi là
“bảo hiểm vượt mức”
Nếu STBH thấp hơn GTBH, đó là “bảo hiểm dưới giá trị”, còn gọi là
“bảo hiểm dưới mức”
Trang 11P = Sb x (a+1) x RTrong đó: Sb – STBH;
a - Số phần trăm lãi dự tính;
R - Tỷ lệ phí bảo hiểm
3) Điều kiện bảo hiểm:
Điều kiện bảo hiểm ở Việt Nam
a Điều kiện bảo hiểm C
Theo điều kiện bảo hiểm này, người bảo hiểm chịu trách nhiệm đốivới:
Những mất mát, hư hỏng xảy ra cho hàng hoá được bảo hiểm có thểquy hợp lý cho các nguyên nhân sau:
Cháy hoặc nổ
Tàu hay sà lan bị mắc cạn, đắm hoặc lật úp
Tàu đam va nhau hoặc tàu, sà lan hay phương tiện vận tải va phải bất
kỳ vật thể gì bên ngoài không kể nước
Dỡ hàng tại một cảng nơi tàu gặp nạn
Phương tiện vận tải đường bộ bị lật đổ hoặc trật bánh
Những mất mát, hư hỏng xảy ra cho hàng hoá được bảo hiểm do cácnguyên nhân sau gây ra:
Trang 12 TTC và chi phí cứu hộ được điều chỉnh hay xác định bằng hợp đồngchuyên chở và/hoặc theo luật pháp và tập quán hiện hành.
Những chi phí và tiền công hợp lý mà người được bảo hiểm, người làmcông hay đại lý của họ đã chi ra nhằm phòng tránh hoặc giảm nhẹ tổn thất chohàng hoá được bảo hiểm để đòi bồi thường và kiện người chuyên chở, ngườinhận uỷ thác hàng hoá hay người thứ ba nào khác, với điều kiện những chiphí và tiền công này phải được giới hạn trong phạm vi những tổn thất thuộctrách nhiệm của người bảo hiểm
Những chi phí hợp lý cho việc dỡ hàng, lưu kho và gửi tiếp hàng hoáđược bảo hiểm tại cảng dọc đường hay cảng lánh nạn do hậu quả của một rủi
b Điều kiện bảo hiểm B
Phạm vi điều kiện bảo hiểm B bao gồm các rủi ro tổn thất và chi phícủa điều kiện bảo hiểm C và mở rộng thêm: Động đất, núi lửa phun hoặc sétđánh; nước biển, nước hồ hay nước sông chảy vào tàu, sà lan, hầm hàng,phương tiện vận tải, công-ten-nơ hoặc nơi chứa hàng; TTTB nguyên kiệnhàng do rơi khỏi tàu hoặc trong quá trình xếp dỡ, chuyển tải
Trang 13c Điều kiện bảo hiểm A
Trong điều kiện bảo hiểm A, người bảo hiểm chịu trách nhiệm về mọirủi ro gây ra mất mát, hư hỏng cho hàng hoá được bảo hiểm, trừ những trườnghợp quy định trong rủi ro loại trừ chung
* Theo điều kiện bảo hiểm C, B, người được bảo hiểm cũng có thể mua
thêm rủi ro phụ:
Rủi ro trộm cắp và/hoặc không giao hàng; tổn thất do những hành vi ác
ý hay phá hoại gây ra; hư hại do nước mưa, nước ngọt, do đọng hơi nước vàhấp hơi nóng; va đập phải hàng hoá khác; rỉ và ô-xy hoá; vỡ, cong và/hoặcbẹp, móp méo; rò rỉ và hoặc thiếu hụt hàng hoá; hư hại do móc cẩu hàng; dâybẩn do dầu và/hoặc mỡ …
* Rủi ro loại trừ: (Áp dụng cho cả 3 điều kiện bảo hiểm A, B, C)
Mất mát, hư hỏng hay chi phí gây ra bởi:
Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, khởi nghĩa, phản loạn hoặc quầnchúng nổi dậy khi xảy ra những biến cố này hoặc do bất kỳ hành động thùđịch nào khác của một thế lực tham chiến hay chống lại thế lực đó
Việc chiếm, bắt giữ, cầm giữ tài sản hoặc kiềm chế (trừ khi do cướpbiển và áp dụng điều kiện bảo hiểm A) và hậu quả hay bất kỳ mưu toan nàophát sinh từ những sự việc này
Mìn, thuỷ lôi, bom hay những vũ khí chiến tranh khác đang trôi dạt.Những mất mát, hư hỏng hay chi phí do:
Những người đình công hay công nhân bị cấm xưởng gây ra hoặcdonhững người tham gia các vụ gây rối trong lao động, làm náo loạn hoặc bạođộng gây ra
Phát sinh từ những cuộc đình công, cấm xưởng, những vụ gây rối tronglao động, phản loạn hoặc bạo động
Trang 14 Bất kỳ kẻ khủng bố nào hoặc bất kỳ người nào đang hành động vì một
lý do chính trị nào gây ra
Những mất mát, hư hỏng hay chi phí phát sinh từ việc sử dụng bất kỳmột loại vũ khí chiến tranh nào có sử dụng năng lượng nguyên tử, hạt nhânvà/hoặc phản ứng hạt nhân, phóng xạ hoặc tương tự
Những mất mát, hư hỏng hay chi phí do khuyết tật vốn có hoặc do tínhchất riêng của loại hàng được bảo hiểm
Hàng hoá hay một bộ phận của hàng hoá bị hư hại hay bị phá huỷ cóchủ tâm do hành động sai lầm của bất kỳ người nào gây ra (trừ khi mua bảohiểm theo điều kiện bảo hiểm A)
Những mất mát, hư hỏng hay chi phí do:
Việc làm xấu, cố ý của người được bảo hiểm
Có nguyên nhân trực tiếp do chậm trễ
Tàu hoặc sà lan không đủ khả năng đi biển và do tàu, sà lan, phươngtiện vận chuyển hoặc công-ten-nơ không thích hợp cho việc chuyên chở hàng
an toàn nếu người được bảo hiểm hoặc người làm công cho họ được biết vềtrạng thái đó vào thời gian bốc xếp hàng hoá
Việc đóng gói hoặc chuẩn bị hàng hoá được bảo hiểm không đầy đủhoặc không thích hợp và do việc xếp hàng hỏng lên tàu
Hàng hoá được bảo hiểm bị rò chảy thông thường, hao hụt trọng lượnghay giảm thể tích thông thường hoặc hao mòn tự nhiên
Những mất mát, hư hỏng hay chi phí phát sinh do chủ tàu, người quản
lý, người thuê hay người điều hành tàu không trả được nợ hoặc thiếu thốn vềtài chính gây ra
Xếp hàng quá tải (đối với hàng chở nguyên chuyến) hoặc xếp hàng saiquy cách, không đảm bảo an toàn cho hàng hoá khi vận chuyển
Trang 154) Hợp đồng bảo hiểm (HĐBH)
Khái niệm:
HĐBH hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển là một văn bản,trong đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ bồi thường cho người tham gia bảohiểm các tổn thất của hàng hoá theo các điều kiện bảo hiểm đã ký kết, cònngười tham gia bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm
HĐBH chuyến thường được trình bày dưới hình thức đơn bảo hiểmhay giấy chứng nhận do công ty bảo hiểm cấp Đơn bảo hiểm chính là mộtHĐBH chuyến đầy đủ Nội dung gồm 2 phần: Mặt trước và mặt sau của đơnbảo hiểm Mặt trước thường ghi các chi tiết về hàng, tàu, hành trình Mặt sauthường ghi các điều lệ hay quy tắc bảo hiểm của Công ty bảo hiểm
Nội dung HĐBH chủ yếu bao gồm:
Ngày cấp đơn bảo hiểm
Nơi ký kết HĐBH
Tên và địa chỉ của người mua bảo hiểm
Tên hàng được bảo hiểm
Quy cách đóng gói, loại bao bì và ký mã hiệu của hàng
Số lượng, trọng lượng của hàng
Tên tàu hoặc phương tiện vận chuyển hàng
Trang 16 Cách xếp hàng trên tàu
Cảng khởi hành, cảng chuyển tải và cảng cuối Trong trường hợp nơiđến của hàng ghi trong đơn bảo hiểm là một điểm nằm sâu trong nội địa,nghĩa là sau khi đến cảng cuối, phải chuyển tiếp hàng bằng phương tiện khácđến điểm đã định và đến đây mới hết trách nhiệm của công ty bảo hiểm, thìphải tăng thêm phụ phí bảo hiểm vì ngoài rủi ro hàng hải còn có thêm rủi rotrên đoạn đường phụ trong toàn bộ hành trình được bảo hiểm
Ngày tàu khởi hành
Giá trị bảo hiểm (GTBH) và số tiền bảo hiểm (STBH)
Điều kiện bảo hiểm
Phí bảo hiểm
Địa chỉ của giám định viên bảo hiểm
Phương thức và địa điểm trả tiền bồi thường, do người được bảo hiểmchọn
Số bản đơn được phát hành
HĐBH bao (HĐBH mở):
HĐBH bao là HĐBH cho một khối lượng hàng vận chuyển trong nhiềuchuyến kế tiếp nhau trong một thời gian nhất định (thường là một năm) hoặcnhận bảo hiểm cho một lượng hàng vận chuyển nhất định (không kể đến thờigian)
Nội dung bao gồm: Nguyên tắc chung, phạm vi trách nhiệm, tên hàng
được bảo hiểm, việc đóng gói hàng, loại phương tiện vận chuyển, cách tínhGTBH và STBH tối đa cho mỗi chuyến hàng, điều kiện bảo hiểm, tỷ lệ phíbảo hiểm và thanh toán phí bảo hiểm, giám định, khiếu nại đòi bồi thường,hiệu lực của hợp đồng, xử lý tranh chấp … Trong hợp đồng, phải có 3 điềukiện cơ bản sau:
Trang 17 Điều kiện xếp hạng tàu được thuê chuyên chở hàng hoá sẽ được bảohiểm:
Tàu phải có cấp hạng cao và nếu do 10 hãng đăng kiểm nổi tiếng trênthế giới cấp mới được chấp nhận một cách tuyệt đối
Tàu phải có khả năng đi biển bình thường và tuổi tàu thấp (dưới 15năm)
Điều kiện về GTBH: Người được bảo hiểm phải kê khai giá trị hàngtheo từng chuyến về số kiện, giá CIF hoặc giá FOB, số hợp đồng mua bán, sốthư tín dụng (L/C), ngày mở và trị giá L/C, số vận đơn B/L …
Điều kiện về quan hệ trên tinh thần thiện chí: Nghĩa là đã mua bảohiểm bao của người bảo hiểm nào thì trong thời gian đó người được bảo hiểmkhông được phép mua bảo hiểm hàng hoá của người bảo hiểm khác
Trong thời gian có hiệu lực của HĐBH bao, mỗi lần vận chuyển hànghoá, người tham gia bảo hiểm phải gửi giấy báo vận chuyển cho người bảohiểm Nếu có thay đổi đặc biệt về số lượng, giá trị hàng … phải tiến hành kýkết HĐBH khác
Sau khi cấp đơn bảo hiểm hoặc HĐBH, nếu người được bảo hiểm thấycần bổ sung, sửa đổi một số điều và công ty bảo hiểm đồng ý thì công ty bảohiểm sẽ cấp giấy chứng nhận bảo hiểm bổ sung Giấy này cũng có giá trị nhưmột đơn bảo hiểm, là một bộ phận được kèm theo và không thể tách rời củađơn bảo hiểm (hoặc HĐBH) ban đầu
Ngoài ra đơn bảo hiểm có thể chuyển nhượng từ người đứng tên trongđơn cho một người khác được hưởng quyền lợi của đơn bảo hiểm Ngườiđược bảo hiểm chỉ cần ký hậu vào đơn rồi trao lại đơn và các giấy tờ liênquan khác cho người được nhượng Ví dụ bán hàng theo giá CIF, người bánhàng sau khi mua bảo hiểm cho hàng sẽ ký hậu vào đơn bảo hiểm rồi chuyểnnhượng cho người mua
Trang 185) Giám định và bồi thường tổn thất
Giám định là việc làm của người bảo hiểm hoặc người được uỷ thác
nhằm đánh giá, xác định nguyên nhân, mức độ và trách nhiệm đối với tổn thấtcủa đối tượng được bảo hiểm để làm cơ sở cho việc tính toán tiền bồi thường.Khi hàng hoá được bảo hiểm bị tổn thất (hư hỏng, đổ vỡ, thiếu hụt … ), yêucầu giám định trong thời gian quy định Sau khi giám định xong, cán bộ giámđịnh sẽ cấp chứng từ giám định, trong đó có xác định mức độ tổn thất hoặcmức giảm giá trị thương mại của hàng hoá làm cơ sở cho việc bồi thường
Việc bồi thường tổn thất phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc thứ nhất: STBH là giới hạn tối đa của STBT của người bảo
hiểm Tuy nhiên các khoản tiền sau (ngoài số tiền tổn thất) cũng được bồithường như các chi phí đã chi ra để cứu vớt hàng, chi phí cứu nạn, phí giámđịnh, chi phí bán đấu giá hàng bị hư, tiền đóng góp TTC dù tổng STBT vượtquá STBH
Nguyên tắc thứ hai: Bồi thường bằng tiền, không bồi thường bằng hiện
vật Thông thường nộp phí bảo hiểm bằng loại tiền tệ đó
Nguyên tắc thứ ba: Khi trả tiền bồi thường, người bảo hiểm sẽ khấu trừ
các khoản tiền mà người được bảo hiểm đã đòi được ở người thứ ba
Sau đó, người bảo hiểm bồi thường như sau:
Bồi thường TTC
Người bảo hiểm bồi thường cho người được bảo hiểm phần đóng gópvào TTC dù hàng được bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm nào Nếu STBHthấp hơn giá trị phải đóng góp vào TTC, người bảo hiểm chỉ bồi thường theo
tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị phải đóng góp vào TTC
Không bồi thường trực tiếp cho người được bảo hiểm mà thanh toáncho người tính toán TTC do hãng tàu (người chuyên chở) chỉ định
Trang 19STBT này được cộng thêm hay khấu trừ phần chênh lệch giữa số tiềnthực tế đã đóng góp vào TTC.
Bồi thường TTR
Đối với TTTB thực tế: Bồi thường toàn bộ STBH;
Đối với TTTB ước tính: Bồi thường toàn bộ STBH nếu người được bảohiểm từ bỏ hàng;
Trường hợp người được bảo hiểm không từ bỏ hàng hoặc xin từ bỏnhưng người bảo hiểm không chấp nhận, sẽ bồi thường theo mức độ tổn thấtthực tế
Đối với TTBP: Bồi thường số kiện, số bao hàng bị thiếu, mất hay giá trịtrọng lượng số hàng ròi bị thiếu, mất hoặc bồi thường theo mức giảm giá trịthương mại của phần hàng bị tổn thất
Ngoài ra, nếu trong HĐBH hàng hoá XNK có ấn định mức miễnthường của công ty bảo hiểm thì khi tổn thất xảy ra, xác định STBH đối vớigiá trị hàng hoá bị tổn thất phải xét đến mức miễn thường này
Mức miễn thường là một tỷ lệ miễn giảm trách nhiệm bồi thường củangười bảo hiểm khii tổn thất xảy ra đối với hàng hoá được bảo hiểm
Có 2 loại miễn thường: Miễn thường có khấu trừ và miễn thườngkhông khấu trừ Theo HĐBH có áp dụng miễn thường có khấu trừ x%, nếutổn thất xảy ra vượt quá x% STBH thì người bảo hiểm sẽ bồi thường phần tổnthất vượt quá đó Theo HĐBH có áp dụng miễn thường không khấu trừ x%,nếu tổn thất vượt quá x% STBH thì người bảo hiểm sẽ bồi thường toàn bộ tổnthất
Trong cả 2 trường hợp miễn thường, nếu tỷ lệ tổn thất không vượt quá
tỷ lệ miễn thường thì công ty sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường tổn thất
Trang 20III Công tác khai thác bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
1) Vai trò của công tác khai thác
Cũng giống như các nghiệp vụ bảo hiểm khác, nghiệp vụ bảo hiểmhàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển bao gồm các khâu:khai thác bảo hiểm, kiểm soát tổn thất (đề phòng hạn chế tổn thất), giám định
và giải quyết khiếu nại bồi thường Trong đó, khâu khai thác là khâu đầu tiêncủa việc triển khai nghiệp vụ Khâu khai thác là việc tiến hành ký hợp đồngbảo hiểm với người có nhu cầu tại công ty bảo hiểm, hoặc để có khách hàng,hay muốn thuyết phục khách hàng mua bảo hiểm thì đòi hỏi công ty cần cóchiến lược thích hợp bằng việc đưa ra những điều kiện, điều khoản bảo hiểm,mức phí bảo hiểm phù hợp, các loại tỷ lệ phí tương ứng với các loại hợp đồngvới số tiền bảo hiểm khác nhau để cho khách hàng có thể lựa chọn và đồngthời nhắm đảm bảo quyền lợi của khách hàng từ phía công ty bảo hiểm khi cótổn thất xảy ra đối với hàng hoá Khai thác bảo hiểm là khâu đầu tiên, làmtiền đề cho những khâu sau có thể thực hiện được chức năng của mình Nếukhai thác tốt thì sẽ mang về nhiều hợp đồng bảo hiểm tăng thêm doanh thu,thêm những khách hàng quen cho công ty …
Công tác khai thác tại các công ty bảo hiểm có một vai trò rất quantrọng vì đặc thù của bảo hiểm là bảo hiểm cho những rủi ro không lườngtrước, xảy ra bất ngờ và lợi ích mà bảo hiểm mang lại và lợi ích vô hình, chỉkhi có tổn thất xảy ra thì mới có thể thấy được sự hữu ích của bảo hiểm.Muốn cho khách hàng biết đến công ty của mình, để cho khách hàng hiểuđược tầm quan trọng cũng như lợi ích của việc mua bảo hiểm cho hàng hoátrong quá trình vận chuyển, cũng như các lợi ích riêng cho cá nhận, doanhnghiệp, xã hội mà bảo hiểm mang lại thì đòi hỏi đội ngũ nhân viên, cán bộkhai thác phải khéo léo, nhiệt tình, tận tâm, kiên trì thuyết phục để kháchhàng ký kết hợp đồng tham gia bảo hiểm tại công ty mình.Các khâu tiếp theo
Trang 21của nghiệp vụ bảo hiểm được thực hiện khi hoạt động khai thác được hoànthành, khi đó sẽ tăng thêm việc bảo vệ cho khách hàng cũng như uy tín củacông ty đối với khách hàng và trên thị trường.
Một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ hoạt động trên nguyên tắccân bằng thu chi có lãi Do đó, khi kinh doanh một loại hình dịch vụ nào đó,
họ cũng mong sao sẽ đem lại lợi nhuận cho công ty ở mức tối đa Đối vớinghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển, do đặc thùcủa hoạt động XNK hàng hoá nên doanh nghiệp bảo hiểm ra đời phần nàođáp ứng được nhu cầu của hoạt động XNK Khi khai thác được thêm mộtkhách hàng điều đó đồng nghĩa với việc sản phẩm của công ty đến tay ngườitiêu dùng, và trong thời hạn bảo hiểm nếu rủi ro xảy ra thì các giai đoạn tiếptheo chính là khi sản phẩm bảo hiểm phát huy công dụng của nó Sản phẩmcủa công ty đến tay khách hàng như vậy đã tạo ra doanh thu cho công ty,nhưng đó không phải là lợi nhuận mà công ty thu được Quá trình thu thậpthông tin đến lúc lưu trữ, theo dõi, giữ đơn bảo hiểm và tiếp nhận giải quyếtmới đảm bảo cho việc hoàn thanh khâu khai thác Như vậy, đối với doanhnghiệp bảo hiểm khi khâu khai thác hoàn thành là việc quan trọng hàng đầu.Sau khi đã ký kết xong hợp đồng bảo hiểm, công ty bảo hiểm mới dựa vào đó
để đề ra các giải pháơ đề phòng, hạn chế tổn thất, nhằm ngăn chặn rủi ro xảy
ra và nếu có xảy ra thì tối thiểu hoá tổn thất Khi công tác khai thác được thựchiện tốt, đầy đủ thông tin về khách hàng, hợp đồng ký rõ ràng, kê khai chi tiếtthì việc giám định giải quyết bồi thường sẽ diễn ra nhanh chóng hơn, giảmbớt chi phí chung, làm hài lòng khách hàng và tăng độ tin cậy của sản phẩmcủa công ty
Đứng trên góc độ khách hàng, hoàn thành khâu khai thác đã phần nàomang lại lợi ích cho khách hàng, làm họ yên tâm hơn với hàng hoá được vậnchuyển
Trang 22Như vậy, nếu muốn phát triển sản phẩm bảo hiểm dù là sản phẩm đãxuất hiện trên thị trường hay là sản phẩm hoàn toàn mới thì công tác khai thácđóng vai trò rất quan trọng mang lại lợi ích to lớn cho công ty cũng như giúpcho các khâu khác hoàn thành nhiệm vụ dễ dàng hơn.
2) Quy trình khai thác
Công tác khai thác là một khâu trong quá trình triển khai nghiệp vụ bảohiểm, vì thế để tiến hành thực hiện công tác khai thác cũng cần có những kỹnăng hay nói cách khác là các bước cơ bản để đảm bảo hoàn thành tốt côngtác khai thác Nói chung, công tác khai thác bảo hiểm được tiến hành gồm 7bước
a Điều tra nhu cầu của khách hàng và tiếp cận khách hàng nhận thông tin từ
khách hàng
Để có được thông tin từ khách hàng, cán bộ bảo hiểm phải theo sáthoạt động của khách hàng, có thể bắt đầu từ khách hàng quen biết để xác địnhthời gian phát sinh nhu cầu bảo hiểm của khách hàng Cụ thể là phải biết thờigian cso hàng xuất hoặc có nhu cầu về nhập hàng về, kim ngạch XNK là baonhiêu, hàng hoá thuộc loại nào, mẫu mã, chủng loại hàng, phương tiện vậnchuyển … qua đó còn nắm thêm thông tin về những đòi hỏi của người muabảo hiểm, họ muốn tránh rủi ro nào, nhằm nắm bắt chính xác nhu cầu bảohiểm của khách hàng để tư vấn phù hợp
Trong quá trình này, mỗi cán bộ trong công ty bảo hiểm lại có nhữngcách tiếp cận thông tin khác nhau Có thể là qua một khách hàng hoặc qua sựgiới thiệu, qua các mối quan hệ khác Cũng có thể nắm bắt thông qua cácphương tiện thông tin đại chúng hoặc nguồn đáng tin cậy để trực tiếp đến traođổi với khách hàng
Khi cán bộ khai thác của công ty đã có thông tin trong tay thì bằng một
số cách như liên lạc qua điện thoại, trực tiếp gặp gỡ trao đổi với người có
Trang 23trách nhiệm trong công ty là đối tượng khách hàng của mình để thực hiệncông tác tiếp xúc tuyên truyền Lúc này, bằng sự hiểu biết nghiệp vụ, sự khéoléo, tâm lý cán bộ khai thác thuyết phục khách hàng đồng ý tham gia bảohiểm tại công ty mình.
Do đặc thù riêng của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK gắn liền vớihoạt động ngoại thương nên cán bộ khai thác phân tích cụ thể đặc điểm củahoạt động ngoại thương để đưa cách tiếp cận khách hàng phù hợp đặc điểmcủa ngành
b Phân tích tìm hiểu và đánh giá rủi ro
Đối với bất kỳ một nghiệp bảo hiểm nào việc đánh giá rủi ro cũng rấtquan trọng, hoặc tư vấn cho khách hàng về quản lý rủi ro cũng vậy Việc phântích tìm hiểu và đánh giá rủi ro giúp cho cán bộ khai thác đánh giá được mức
độ an toàn hay nguy hiểm đối với một đối tượng bảo hiểm cụ thể Từ đó cóthể đưa ra quyết định chấp nhận bảo hiểm hay không Nếu chấp nhận bảohiểm thì phải đồng thời tư vấn cho khách hàng về quản lý rủi ro, để kiểm soátrủi ro nhằm làm giảm thiểu tổn thất nếu xảy ra Khi đó, công ty bảo hiểmcũng như khách hàng đều có lợi Riêng đối với nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoáXNK vận chuyển bằng đường biển cán bộ của phòng hàng hải còn có tráchnhiệm tư vấn cho khách hàng các vấn đề liên quan đến hoạt động XNK của
họ Cụ thể:
Với từng lô hàng cụ thể và tuyến đường vận chuyển, loại tàu tham giachuyên chở thì khách hàng nên tham gia bảo hiểm theo điều kiện nào nhằmmục đích giúp khách hàng chống lại rủi ro một cách tối ưu nhất với chi phíthấp nhất
Trong điều kiện có thể, cán bộ khai thác còn cung cấp cho người đượcbảo hiểm một số thông tin về các đại lý tàu, về tình hình vận chuyển hàng hoáquốc tế cũng như những thông tin về tổn thất hay các chế độ đảm bảo an toàn
Trang 24trên biển hiện nay Đặc biệt đưa ra các thông tin về công tác đề phòng hạn chếtổn thất nhằm giảm bớt những tại nạn trong quá trình vận chuyển hàng hoá
Người cán bộ khai thác còn có thể tư vấn cho khách hàng những loạihàng gì là hợp pháp đối với một số quốc gia trên tuyến đường vận chuyểnhàng hoá của khách hàng
Thông qua các số liệu về khách hàng để tư vấn cho lãnh đạo về cácchính sách khách hàng Kết hợp với bộ phận bồi thường để tính hiệu quả đốivới từng khách hàng, theo từng niên giám để kịp đề xuất điều chỉnh tỷ lệ phísao cho phù hợp
Khai thác viên sẽ đánh giá rủi ro trên cơ sở tiếp xúc trực tiếp với đốitượng bảo hiểm, cụ thể tức là phải tiếp xúc với hàng hoá thì công việc đánhgiá rủi ro mới chính xác
c Xem xét đề nghị bảo hiểm
Các cán bộ bảo hiểm trước khi chấp nhận cấp đơn bảo hiểm sẽ phảixem xét kỹ lưỡng lại tính chất hàng hoá, bao bì và phương thức xếp hàng củatừng mặt hàng phù hợp với điều kiện bảo hiểm mà khách hàng lựa chọnkhông để giải thích và đề nghị khách hàng điểu chỉnh lại
Tàu chở hàng phải được bảo hiểm trách nhiệm P&I đầy đủ với một Hôibảo hiểm P&I có uy tín trên thế giới Trong trường hợp phải tham khảo phíbảo hiểm của tái bảo hiểm thì chào phí bảo hiểm cho khách hàng khi đã nhậnđược thông báo phí của thị trường tái bảo hiểm
Trường hợp khách hàng đã tham gia bảo hiểm tại một đơn vị thànhviên thì hai đơn vị thành viên phải thông báo cho nhau và phối hợp để cóquyết định đúng đắn, thuyết phục khách hàng tiếp tục tham gia bảo hiểm tạicông ty cũ tránh cạnh tranh nội bộ
Đối với khách hàng tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểmkhác, khai thác viên phải tìm hiểu các vấn đề liên quan đến tình hình tài
Trang 25chính, tình hình thanh toán phí bảo hiểm trước đây, tình hình tổn thất qua cácnăm.
Trường hợp yêu cầu trên không được thoả mãn có thể từ chối nhận bảohiểm … Ngoài ra, đối với những hợp đồng có giá trị lớn, khách hàng tiềmnăng, tính kỹ thuật đòi hỏi cao và phức tạp hơn khai thác viên phải báo lại cholãnh đạo phòng hoặc lãnh đạo công ty để xin ý kiến chỉ đạo
d Đàm phán và chào phí
Trong quá trình đàm phán, các yếu tố liên quan như Quy tắc bảo hiểm,biểu phí, hồ sơ số liệu khách hàng, chính sách khách hàng, phí của nhà tái bảohiểm hàng đầu sẽ được Lãnh đạo xem xét nhằm đưa ra mức phí phù hợp Saukhi có sự thống nhất của cấp trên, bản chào phí được hoàn thành Trong đó sẽđưa ra các thông tin một cách chi tiết để khách hàng có thể nắm bắt như: tỷ lệphí, cách tính dựa trên cơ sở giá trị hàng hoá, cách thức đóng gói …
e Chấp nhận bảo hiểm và cấp giấy chứng nhận bảo hiểm
Khi khách hàng chấp nhận bản chào phí mà công ty bảo hiểm đưa ra,
đề nghị gửi giấy yêu cầu bảo hiểm hoàn chỉnh bằng văn bản cho công ty.Trong trường hợp đặc biệt, cán bộ khai thác có thể nhận thông tin qua điệnthoại Nhưng trước khi trình cấp trên cấp đơn bảo hiểm phải yêu cầu kháchhàng ký giấy yêu cầu bảo hiểm theo thông tin đã khai báo qua điện thoại
Giấy yêu cầu bảo hiểm là một bằng chứng và cơ sở pháp lý thể hiện ýmuốn của khách hàng về việc đồng ý tham gia bảo hiểm và là một phần tronghợp đồng bảo hiểm Trên giấy yêu cầu bảo hiểm đòi hỏi phải kê khai rõnhững đề mục đã in sẵn
Quy trình cấp đơn gồm các bước sau:
Kiểm tra chứng từ: về nội dung giấy yêu cầu bảo hiểm, các tài liệu kèmtheo như vận đơn, hoá đơn, hợp đồng vận tải …
Vào sổ cấp đơn, lấy số đơn
Trang 26Tính phí và cấp đơn bảo hiểm cho khách hàng
* Lưu ý: Khi cấp đơn hàng nhập khẩu, trường hợp khách hàng nhập theo giá
FOB, nếu họ không xác định được mức phí thì phải ước tính: phụ phí bảohiểm được cộng thêm khi khách hàng mua thêm các điều kiện bảo hiểm phụ.Khi cấp đơn hàng xuất khẩu phải chú ý đến điều kiện bảo hiểm do khách đềnghị Nếu hàng xuất theo tín dụng thư (L/C) thì các điều kiện bảo hiểm đãlàm theo đúng tín dụng thư đã mở
f Cấp đơn theo hợp đồng bảo hiểm bao và hợp đồng bảo hiểm nguyên tắc
Khách hàng có trách nhiệm hoàn thành giấy yêu cầu bảo hiểm và cungcấp cho cán bộ bảo hiểm biết những thông tin quan trọng từ đó giúp ngườibảo hiểm phán đoán rủi ro Sau đó, cán bộ kiểm tra các giấy tờ, chứng từ cầnthiết như vận tải đơn, hoá đơn thương mại Nếu thiếu thì thông báo ngay chokhách hàng để họ cung cấp Trên cơ sở đầy đủ thông tin, công ty sẽ tiến hành
ký hợp đồng bảo hiểm với khách hàng
g Lưu trữ, theo dõi, gửi đơn bảo hiểm và tiếp cận giải quyết mới
Sau khi cấp đơn bảo hiểm, cán bộ bảo hiểm phải vào sổ theo dõi, khaithác, thống kê Như vậy mới nắm bắt được số liệu, kết quả, hiệu quả mà công
ty đạt được trong khâu khai thác
Bên cạnh đó, còn phải theo dõi đối tượng bảo hiểm, đôn đốc việc thuphí bảo hiểm Theo dõi tình hình nợ của khách hàng Yêu cầu ký các xác nhậntrên biên lai, hoá đơn
Sau đó, nếu khách hàng có yêu cầu khác thì sẽ tiếp nhận và giải quyếtcác thắc mắc của khách hàng về việc bảo hiểm Nếu khách hàng đã hết hạnhợp đồng bảo hiểm thì tiếp tục thuyết phục khách hàng tham gia tiếp bảohiểm cho hàng hoá của mình
Trang 273) Đánh giá kết quả và hiệu quả khai thác
Khai thác bảo hiểm là khâu đầu tiên của quy trình triển khai bảo hiểm
Nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của DNBH nói chung và từngnghiệp vụ bảo hiểm nói riêng, trong đó có nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNKvận chuyển bằng đường biển Xuất phát từ nguyên tắc chung của hoạt độngkinh doanh bảo hiểm là “lấy số đông bù số ít” nhằm tạo lập nguồn quỹ bảohiểm đủ lớn để dễ dàng san sẻ rủi ro, DNBH nói chung và nghiệp vụ bảohiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển nói riêng cần phải tổ chứctốt khâu khai thác (tức là khâu bán hàng)
Trang 28Chương II: Thực trạng công tác khai thác bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển tại Hội sở giao dịch Công ty Cổ phần
Bảo hiểm Bưu điện giai đoạn 2004-2008
I Giới thiệu chung về Công ty và Hội sở giao dịch Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện
1) Lịch sử ra đời và phát triển
Tên đơn vị: Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện
Tên tiếng Anh: VNPT Insurance Joint stock Company
Tên viết tắt: VNPT Insurance
Địa chỉ trụ sở chính: 8F, Tòa Nhà Harec, 4A Láng Hạ, Quận Đống Đa, Hà Nội
Chi nhánh tại Hà Nội: Hội sở giao dịch (PTI Hà Nội)
Địa chỉ: 100 Thái Thịnh, Quận Đống Đa, Hà Nội
Ngày 12/08/1998, Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (Gọi tắt là
PTI) được thành lập, phá bỏ độc quyền về kinh doanh bảo hiểm đã tồn tại
hàng chục năm trước đây PTI là tập hợp của các doanh nghiệp lớn thuộc cáclĩnh vực kinh doanh khác nhau tạo nên sự đa dạng về ngành nghề cũng như
vững chắc về tài chính Cổ đông sáng lập và chi phối (41%) là: Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (VNPT Group) và các cổ đông sáng lập
khác là Công ty Cổ Phần Tái Bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE), Tổng công ty Cổ Phần Bảo hiểm T.P Hồ Chí Minh (Bảo Minh), Tổng Công ty xây dựng Hà Nội (HACC), Tổng Công ty Xuất nhập khẩu Xây dựng Việt Nam (Vinaconex), Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế
(VIBank) Ngay sau khi thành lập, PTI đã nhanh chóng chiếm được vị trí tin
cậy trên thị trường bảo hiểm
Trang 29Được thành lập trong cơ chế thị trường, PTI hiểu rõ hơn bao giờ hết là
chấp nhận cạnh tranh và phải từng bước nghiên cứu thị trường, phát triển thận
trọng vững chắc Điều đó thể hiện ở việc PTI lấy con người làm trọng tâm
phát triển, xây dựng và đào tạo một đội ngũ cán bộ chuyên viên giỏi vềnghiệp vụ, có tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp cao Xác định rõ quyền lợi
và sự phát triển của khách hàng luôn gắn liền với sự phát triển của PTI nên PTI đã chú trọng công tác chăm sóc khách hàng thông qua các chương trình
tư vấn bảo hiểm, tuyên truyền vận động khách hàng quan tâm đến công tácphòng ngừa hạn chế rủi ro và bằng quỹ đề phòng hạn chế tổn thất của mình
PTI hỗ trợ khách hàng đảm bảo an toàn trong sản xuất kinh doanh.
Hoạt động của PTI đã được khách hàng đánh giá cao, trả lại cho khách
hàng những ưu đãi và quyền lợi chính đáng mà họ được hưởng trong nền kinh
tế thị trường, đó là: Phí bảo hiểm giảm, và các chính sách chăm sóc kháchhàng được quan tâm chú trọng hơn Khách hàng có nhiều cơ hội để lựa chọn
sản phẩm và người cung cấp dịch vụ phù hợp Đặc biệt uy tín của PTI được
nâng cao bởi khâu giải quyết bồi thường chắc chắn, nhanh chóng, hợp tình
hợp lý PTI thực sự là chỗ dựa về tài chính của khách hàng với sự cảm thông
chia sẻ trong hoạn nạn khi những tổn thất không may xảy ra
Thực tế đã chứng minh, trong hơn 10 năm qua cùng với sự phát triển
chung của nền kinh tế Việt Nam, PTI đã khẳng định được vị thế của mình
trên thị trường bảo hiểm Việt Nam và có uy tín với các nhà tái bảo hiểm thếgiới Công ty đã xây dựng được một đội ngũ CBCNV gồm 360 người làmviệc tại Hà Nội và hơn 21 chi nhánh, các văn phòng đại diện trong phạm vitoàn quốc Công ty đã triển khai rộng rãi hàng chục loại hình bảo hiểm trongcác lĩnh vực bảo hiểm thiết bị điện tử, bảo hiểm xây dựng lắp đặt, bảo hiểmhàng hoá xuất nhập khẩu, con người, xe cơ giới, trách nhiệm dân sự tới hàngvạn khách hàng trong cả nước Công ty đã giữ vị trí hàng đầu trong các công
ty bảo hiểm về loại hình bảo hiểm thiết bị điện tử, bảo hiểm xây lắp các công
Trang 30trình viễn thông, dân dụng Ngoài những nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống,
trong thời gian qua PTI đã triển khai một số nghiệp vụ bảo hiểm mới như:
Bảo hiểm vệ tinh (Vinasat), Bảo hiểm bưu phẩm - bưu kiện khai giá
Nhằm đảm bảo khả năng bồi thường cho khách hàng và năng lực nhậnbảo hiểm cho các dự án đầu tư lớn, Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện đã cóquan hệ hợp đồng với nhiều Công ty bảo hiểm và Tái bảo hiểm có uy tín trênthị trường quốc tế như các Công ty Tái bảo hiểm Thuỵ Sỹ (SwissRe), Công tytái bảo hiểm Munich (MunichRe) (Đức), Công ty tái bảo hiểm Sumitomo
(Nhật), Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt nam (VINARE) Công ty PTI có
quan hệ mật thiết với các Công ty giám định tổn thất chuyên nghiệp như:Cunningham Lindsey, Crawford, Vivaco và đã nhận được sự cộng tác hiệuquả của các Công ty này trong việc đánh giá rủi ro, giám định và giải quyếtkhiếu nại
Với những thành tích đã đạt được, công ty đang ngày càng phát triểnvới mức tăng trưởng bình quân hàng năm là 26% Năm 2007 công ty đã đạtdoanh thu 304 tỷ đồng Trong kế hoạch kinh doanh 5 năm lần thứ 1, PTI bắt
đầu hoạch định một chiến lược kinh doanh phát triển đến năm 2008, ngoàiviệc phục vụ tốt các khách hàng trong cổ đông, lấy đó làm nền tảng vữngchắc để phát triển ra thị trường bên ngoài nhằm tích cực hoà nhập và đónnhận cơ hội cũng nhưng chấp nhận thách thức khi Việt Nam chính thức mởcửa hoàn toàn với thị trường bảo hiểm thế giới
Tổng tài sản của PTI cho đến ngày 31 tháng 12 năm 2007 là hơn 500
tỷ đồng, đứng hàng thứ 5 trên tổng số các công ty Bảo hiểm phi nhân thọ tạiViệt Nam
Trang 312) Ngành ngh ề kinh doanh
a Kinh doanh bảo hiểm trực tiếp
Do có định hướng kinh doanh đúng đắn nên mặc dù ra đời muộn hơncác công ty bảo hiểm gốc khác PTI đã tạo được chỗ đứng khá vững chắc trênthị trường bảo hiểm phi nhân thọ Với gần 50 sản phẩm bảo hiểm được triểnkhai rộng khắp trong phạm vi cả nước thông qua Văn phòng chính đặt tại HàNội, Hội sở giao dịch tại Hà nội và hơn 21 chi nhánh ở TP.Hồ Chí Minh, HảiPhòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Vinh, Phú Thọ, Huế, Thanh Hoá, Bình Dương,Đồng Nai, Cà Mau, Đắc Lắc, Khánh Hoà, Bình Định, Bắc Ninh, Lào Cai Ngoài ra còn có hệ thống các văn phòng khu vực và mạng lưới đại lý tại 64tỉnh thành, hoạt động kinh doanh bảo hiểm của PTI đã đáp ứng nhu cầu phongphú của khách hàng, duy trì khả năng cạnh tranh trên thị trường Trong số cácnghiệp vụ bảo hiểm có tốc độ tăng trưởng cao của PTI phải kể đến bảo hiểmthiết bị điện tử, bảo hiểm xây dựng - lắp đặt, bảo hiểm cháy, bảo hiểm conngười và xe cơ giới Ngoài những nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống, trongthời gian qua PTI đã triển khai một số nghiệp vụ bảo hiểm mới như: bảo hiểm
vệ tinh, bảo hiểm bưu phẩm - bưu kiện khai giá Tăng trưởng về doanh thubảo hiểm gốc hàng năm đạt trung bình khoảng gần 30% năm
Danh mục sản phẩm bảo hiểm PTI đã đăng ký với Bộ tài chính
A Nhóm nghi ệ p v ụ t à i s ả n - k ỹ thu ậ t
I Bảo hiểm kỹ thuật
1 Bảo hiểm mọi rủi ro trong lắp đặt
2 Bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng
3 Bảo hiểm thiết bị điện tử
4 Bảo hiểm đổ vỡ máy móc
5 Bảo hiểm máy móc thiết bị chủ thầu
Trang 32II Bảo hiểm tài sản
1 Bảo hiểm mọi rủi ro cho tài sản
2 Bảo hiểm nhà tư nhân
3 Bảo hiểm mọi rủi ro công nghiệp
4 Bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt
III Bảo hiểm hỗn hợp
1 Bảo hiểm trộm cắp
2 Bảo hiểm tiền
3 Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
4 Bảo hiểm lòng trung thực
5 Bảo hiểm khác về tài sản
IV Bảo hiểm trách nhiệm
1 Bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba
2 Bảo hiểm trách nhiệm công cộng
3 Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm
4 Bảo hiểm trách nhiệm hỗn hợp
B Nhóm nghi ệ p v ụ b ả o hi ể m h à ng hoá
1 Bảo hiểm hàng hoá xuất khẩu
2 Bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu
3 Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển nội địa
4 Bảo hiểm bưu phẩm, bưu kiện khai giá
C Nhóm nghi ệ p v ụ b ả o hi ể m phi h à ng h ả i
I Bảo hiểm con người
Trang 331 Bảo hiểm tai nạn thuyền viên
2 Bảo hiểm tai nạn học sinh
3 Bảo hiểm tai nạn cá nhân 24/24
4 Bảo hiểm bồi thường cho người lao động
5 Bảo hiểm trợ cấp nằm viện và phẫu thuật
6 Bảo hiểm toàn diện học sinh
7 Bảo hiểm khách du lịch
8 Bảo hiểm sinh mạng con người
9 Bảo hiểm kết hợp con người
II Bảo hiểm xe cơ giới
1 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với ngời thứ ba
2 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với hàng hoávận chuyển trên xe
3 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với hành kháchtrên xe
4 Bảo hiểm vật chất xe cơ giới
5 Bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe
6 Bảo hiểm tai nạn hành khách
b Kinh doanh tái bảo hiểm
Nhận và nhượng tái bảo hiểm liên quan đến các nghiệp vụ bảo hiểm phinhân thọ cho các công ty bảo hiểm - tái bảo hiểm trong và ngoài nước
PTI có quan hệ hợp tác lâu dài và đã ký kết những hợp đồng tái bảo
hiểm cố định với hầu hết các công ty, tập đoàn tái bảo hiểm có uy tín và năng
lực tài chính hàng đầu trên thế giới Nhờ đó, hiện nay PTI có khả năng nhận
Trang 34và thu xếp tái bảo hiểm ra thị trường quốc tế các dịch vụ bảo hiểm có giá trịlên tới hàng trăm triệu USD, đặc biệt là các dự án xây dựng quy mô lớn như:thủy điện, ximăng, cầu, đường, khu đô thị, cao ốc văn phòng doanh thu từhoạt động kinh doanh nhận tái bảo hiểm tăng đều đặn hàng năm, năm 2006đạt trên 20 tỷ đồng.
Danh sách các nhà tái bảo hiểm nhận tái từ PTI ST