Tính cấp thiết của đề tài Đà Nẵng cũng như các thành phố khác trong cả nước, mặc dù là thành phố trẻ và có những thuận lợi trong quy hoạch và phát triển cơ sở hạ tầng nhưng việc thực hi
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIỀU TÂM
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIỀU TÂM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đề tài “Thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng”là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và được trích dẫn rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Kiều Tâm
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG 8
1.1 Những vấn đề lý luận về phát triển đô thị bền vững và chính sách phát triển đô thị bền vững 8 1.2 Nội dung thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững 18 1.3 Các bước tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững 21 1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững 24
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TẠI QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 28
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững 28 2.2 Hệ thống thể chế chính sách phát triển đô thị bền vững tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng 30 2.3 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng 32 2.4 Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại quận Cẩm Lệ 57
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 65
3.1 Quan điểm, định hướng phát triển đô thị bền vững ở thành phố Đà Nẵng 65 3.2 Các nhóm giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững ở quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng 68
KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5PGS.TS Phó giáo sư, tiến sĩ
LĐ, TB & XH Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội NNL Nguồn nhân lực
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Chủ thể thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững 19 Bảng 1.2: Môi trường thể chế chính sách PTĐTBV 21 Bảng 2.1: Giá trị sản xuất các ngành của quận Cẩm Lệ giai đoạn 2012-2017 34 Bảng 2.2: Tổng thu ngân sách nhà nước và giải quyết việc làm cho người lao động quận Cẩm Lệ giai đoạn 2012-2017 35 Bảng 2.3: Hoạt động thể dục thể thao quận Cẩm Lệ qua các năm 2012-2016 36 Bảng 2.4: Số cơ sở y tế, giường bệnh và cán bộ y tế quận Cẩm Lệ qua các năm 2012-2016 37 Bảng 2.5: Đánh giá về chính sách phát triển đô thị quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng 60 Bảng 2.6: Đánh giá mục tiêu của chính sách phát triển đô thị UBND quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng 61
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đà Nẵng cũng như các thành phố khác trong cả nước, mặc dù là thành phố trẻ
và có những thuận lợi trong quy hoạch và phát triển cơ sở hạ tầng nhưng việc thực hiện chính sách về phát triển đô thị bền vững cũng gặp phải những vấn đề như: quy hoạch phát triển của các ngành còn chồng lấn, liên tục thay đổi; cơ sở hạ tầng cấp thoát nước, xử lý nước thải và chất thải chưa hoàn thiện; thiếu nhà ở xã hội và không gian công cộng; thiếu hài hòa giữa công trình xây dựng và cảnh quan thiên nhiên; ô nhiễm môi trường; diện tích cây xanh đô thị vẫn chưa đáp ứng tiêu chuẩn đô thị loại I, chưa phát huy được bản sắc của một đô thị hướng biển, nhìn sông và dựa núi Mục tiêu xây dựng Đà Nẵng trở thành thành phố môi trường năm 2020 cũng được thay thế bằng mục tiêu hướng đến thành phố môi trường Tuy nhiên, công tác chuẩn bị dự án, hỗ trợ
và lồng ghép BĐKH vẫn chưa thực sự trở thành nhiệm vụ thường xuyên Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu sự kết nối trong việc ban hành các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng với các chính sách về môi trường; quá trình thực hiện các chính sách về bảo vệ môi trường được thực hiện tách biệt so với các ngành khác nên xẩy ra tỷ lệ nghịch giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội Những tồn tại này dẫn đến hiệu quả tác động của chính sách chưa được như kỳ vọng
Cẩm Lệ là một quận của thành phố Đà Nẵng được thành lập vào năm 2005, nằm ở vị trí cửa ngõ phía Tây Nam của thành phố Cũng như các quận/huyện khác trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Cẩm Lệ được quan tâm, đầu tư phát triển, mở rộng không gian đô thị với quá trình đô thị hóa nhanh Sau 10 năm thành lập, Cẩm Lệ từ một vùng đất trũng, thấp với tỷ lệ sản xuất nông nghiệp chiếm trên 60% đã chuyển mình trở thành đô thị với cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh Tuy nhiên, cũng như thành phố
Đà Nẵng, Cẩm Lệ cũng gặp phải những bất cập như ô nhiễm môi trường, các chính sách phát triển kinh tế - xã hội chưa có sự gắn kết với nhau, việc ứng phó với biến đổi khí hậu còn chậm và chưa có nhiều giải pháp hiệu quả Nhận thấy những vấn đề bức
thiết này, tôi đã chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại quận
Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng” nhằm nghiên cứu và đánh giá lại quá trình thực hiện
Trang 82
các chính sách phát triển đô thị bền vững từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững ở Cẩm Lệ nói riêng và thành phố Đà Nẵng nói chung
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Xây dựng và phát triển đô thị bền vững luôn là đòi hỏi tất yếu đối với một nước như Việt Nam đang có tỷ lệ đô thị hóa cao với tốc độ nhanh chóng Phát triển đô thị bền vững làm cho sự liên kết ngày càng bền chặt trong chuỗi giá trị toàn cầu Ngày nay, tư duy phát triển đô thị bền vững cũng đã có sự chuyển biến nhanh chóng, đi vào chiều sâu và với quy mô ngày càng rộng lớn hơn Những chính sách phát triển kinh tế
- xã hội không những đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, đảm bảo đời sống kinh tế của người dân mà còn quan tâm đến các yếu tố văn hóa, xã hội, tài nguyên và môi trường tạo cơ sở cho đô thị phát triển theo hướng bền vững Do đó, phát triển đô thị bền vững
và các nghiên cứu có liên quan đã được nhiều học giả, tổ chức, nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước quan tâm
Phát triển bền vững là đề tài nghiên cứu được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
và thực hiện Một trong số đó, có thể kể đến công trình“Tổng quan những nghiên cứu
về phát triển bền vững ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Song Tùng thực hiện năm
2008 Nghiên cứu phản ánh tổng quan những nghiên cứu về phát triển bền vững, gồm
02 phần phần 1 là tổng quan những nghiên cứu về phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam và phần 2 là tổng quan những nghiên cứu về phát triển bền vững đô thị và khu công nghiệp ở Việt Nam Nghiên cứu có giá trị tham khảo rất lớn
vì đã cung cấp hệ thống cơ sở lý luận và tổng quan những công trình về PTBV có giá trị cho các học giả, nhà nghiên cứu
Chương trình “Phát triển bền vững môi trường trong các đô thị nghèo”
(2005-2010) do GS.TS Nguyễn Hữu Dũng, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ Bộ Xây dựng là giám đốc kiêm Trưởng ban quản lý Hợp phần Bộ Xây dựng cam kết lồng ghép các chương trình bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng trong quá trình đưa ra quyết định: quản lý quy hoạch về môi trường đô thị, quản lý hạ tầng kỹ thuật môi trường và cung cấp dịch vụ đô thị Các hoạt động của hợp phần được gắn kết với các mục tiêu của Chương trình cũng như các mục tiêu đề ra trong Chiến lược bảo
Trang 9áp dụng trực tiếp đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội
"Phát triển bền vững đô thị: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm của thế giới"
của tác giả Đào Hoàng Tuấn (2008), đã nêu một cách tổng quát các kinh nghiệm phát triển đô thị bền vững của các nước trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Đây là tài liệu tham khảo quan trọng của nhiều nghiên cứu
Sách “Đô thị học- Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Minh Hòa, Nxb
Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, năm 2012 Đây là một tuyển tập 93 bài viết trong số hàng trăm bài công bố trên các tạp chí, sách chuyên khảo trong và ngoài nước của tác giả khi nghiên cứu về đô thị hóa trong 20 năm liên tục (1990-2012) Cuốn sách được tác giả trình bày theo các nội dung: Nhận thức chung về đô thị; văn hóa và xã hội đô thị;
tổ chức không gian sống đô thị; phát triển đô thị trong bối cảnh ở Việt Nam; phát triển
đô thị từ kinh nghiệm quốc tế Cuốn sách cung cấp những kiến thức về nguyên lý và quy luật chung của phát triển đô thị, về quy hoạch - kiến trúc, giao thông, môi trường; đặc biệt là những cách tiếp cận mới về đô thị dưới nhãn quan của đô thị học
Năm 2010, đề tài “Quy hoạch đơn vị bền vững” được Bộ Xây dựng xuất bản là
nghiên cứu của Nguyễn Cao Lãnh khẳng định, sự thành công của đơn vị ở hiện nay, bên cạnh giá trị truyền thống phải là các giá trị bền vững Nghiên cứu đưa một số quan
điểm tương đối có giá trị về cơ cấu và chức năng của “đơn vị ở bền vững” tuy nhiên
tính kết nối và vị thế của khu so với khu vực lân cận chưa được đề cập và phân tích rõ
Trang 104
Trong lĩnh vực văn hóa đô thị, một nghiên cứu gần đây của tác giả Nguyễn
Thanh Tuấn được xuất bản năm 2006 có tên “Biến đổi văn hóa đô thị Việt Nam hiện
nay”, nội dung của cuốn sách không mô tả thực trạng văn hóa Việt Nam mà đi thẳng
vào phân tích những biến đổi về văn hóa đô thị Việt Nam hiện nay theo nhiều khía cận khác nhau từ văn hóa sản xuất kinh doanh cơ cấu dân cư, nhận thức, tổ chức quản lý
đô thị, nếp sống văn hóa đến văn hóa ứng xử của người dân đô thị Tác giả đã phần nào đưa ra được bức tranh về văn hóa đô thị Việt Nam hiện nay trong bối cảnh phát triển giao lưu và hội nhập, nhất là những khía cạnh cơ bản về văn hóa ứng xử trong sản xuất và sinh hoạt của người dân đô thị hiện nay đối với môi trường xung quanh
Bên cạnh những nghiên cứu về phát triển đô thị bền vững của Việt Nam, cũng
có rất nhiều những nghiên cứu khác nói về Đà Nẵng Trong số đó, nghiên cứu “Những
vấn đề đặt ra đối với quy hoạch sử dụng đất đô thị ở Thành phố Đà Nắng hiện nay”
của tác giả Võ Văn Lợi được in trên Tạp chí Tài nguyên và môi trường - Số 3/2014(185) Bài viết nêu những vấn đề đặt ra đối với quy hoạch sử dụng đất đô thị ở thành phố Đà Nẵng hiện nay được làm rõ thực trạng quy hoạch sử dụng đất Từ những phân tích này, tác giả đã rút ra một số hạn chế, bất cập, từ đó đưa ra hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng quy hoạch sử dụng đất tại thành phố Đà Nẵng hiệu quả hơn
Như vậy, vấn đề phát triển đô thị bền vững đã được nhận thức đúng đắn và quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu một cách có hệ thống, đầy đủ về việc thực hiện các chính sách phát triển đô thị bền vững trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, đặc biệt trên địa bàn quận Cẩm Lệ Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ của mình Đề tài luận văn thực hiện có sự
kế thừa, phát triển những thành quả của các tài liệu liên quan trước đó để đánh giá, phân tích, từ đó đề xuất ra các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế và chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của quận trong những năm tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn được thực hiện với mục tiêu phân tích thực trạng thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại quận Cẩm
Trang 115
Lệ, TP Đà Nẵng trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích này, luận văn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Một là, nghiên cứu những vấn đề lý luận về phát triển đô thị bền vững, chính
sách phát triển đô thị bền vững và các vấn đề thực hiện chính sách;
Hai là, nghiên cứu thực trạng thực hiện các chính sách phát triển đô thị bền
vững tại quận Cẩm Lệ
Ba là, trên cơ sở phân tích kết quả thực hiện chính sách phát triển đô thị bền
vững tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng hiện nay để đề ra những giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững trên địa bàn quận Cẩm
Lệ thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
- Cách tiếp cận thể chế: Đề tài tiếp cận hệ thống các chính sách, pháp luật liên
Trang 125.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tư liệu: Luận văn tiến hành thu thập, phân tích và tổng hợp thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các tài liệu, công trình nghiên cứu, các báo cáo, thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách phát triển đô thị bền vững ở nước ta nói chung và thực tế thành phố Đà Nẵng và quận Cẩm Lệ nói riêng Đồng thời, thu thập các tài liệu của các tổ chức và học giả quốc tế liên quan đến đề tài trong thời gian qua
- Phương pháp điều tra xã hội học: Luận văn đã tiến hành phỏng vấn bằng bảng
hỏi đối với 120 nhân viên các ban, ngành, đoàn thể trên địa bàn quận Cẩm Lệ và thành phố Đà Nẵng và 100 người dân sống trên địa bàn quận Cẩm Lệ để tìm hiểu các thông tin liên quan đến nội dung của nghiên cứu
- Phương pháp chuyên gia: Để luận văn đảm bảo chất lượng hơn, trong quá trình triển khai, luận văn đã tham vấn ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực phát triển bền vững, phát triển đô thị về các vấn đề của đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về chính sách công, cụ thể là chính sách phát triển đô thị bền vững ở Việt Nam Đồng thời biết cách vận dụng các lý thuyết về quy trình thực thi chính sách công để đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững của quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
Kết quả nghiên cứu của đề tài minh chứng cho việc vận dụng lý thuyết phân tích quá trình thực thi chính sách công, đánh giá quá trình thực thi chính sách công là cần thiết trong quá trình nghiên cứu thực tiễn thực hiện chính sách phát triển đô thị bền
Trang 137
vững, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững ở nước ta nhằm nâng cao hiệu lực của chính sách phát triển đô thị bền vững đã ban hành
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu các vấn đề về đánh giá thực hiện chính sách công Đồng thời, góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của phát triển đô thị bền vững cho các lãnh đạo Đảng, chính quyền, đoàn thể
Bên cạnh đó, khi những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững phù hợp với thực tế thì chính sách sẽ đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Đà Nẵng thành “thành phố môi trường”, “thành phố
4 an”: an ninh trật tự, an toàn giao thông, an toàn vệ sinh thực phẩm và an sinh xã hội
7 Cơ cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn được bố cục gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đô thị bền vững và chính sách phát triển
Trang 141.1.1 Các khái niệm có liên quan
1.1.1.1 Khái niệm đô thị
Đô thị được hiểu là “Nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có
thể là công nghiệp; thành phố hoặc thị trấn” [31]
Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt
động theo những khu vực kinh tế phi nông nghiệp [31]
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành
có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, hệ thống dân cư mà mỗi nước có quy định riêng tùy theo yêu cầu và khả năng quản lý của mình Song phần nhiều đều thống
nhất hai tiêu chuẩn cơ bản [31]
- Quy mô và mật độ dân số: Quy mô trên 2000 người sống tập trung, mật độ trên 3000 người/km2 trong phạm vi nội thị
- Cơ cấu lao động: trên 65% lao động phi nông nghiệp
Như vậy, đô thị là các thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ có số dân từ 2000 người trở lên và trên 65% lao động là phi nông nghiệp
Việt Nam quy định đô thị là những thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ với tiêu chuẩn về quy mô dân số cao hơn, nhưng cơ cấu lao động phi nông nghiệp thấp hơn Điều đó xuất phát từ đặc điểm nước ta là một nước đông dân, đất không rộng, đi từ một nước nông nghiệp
Đô thị Việt Nam được hiểu là một khu dân cư, trong đó lực lượng lao động chủ
yếu là phi nông nghiệp, sống và làm việc theo lối sống thành thị [29] Ngày nay đô thị
không chỉ đơn thuần là nơi tập trung dân cư đông đúc với các hoạt động mang tính chất phi nông nghiệp; các trung tâm đơn chức năng về hành chính hoặc thương mại
Trang 159
mà đô thị đã trở thành một không gian cư trú của dân cư, là kết quả tất yếu của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một vùng hay một quốc gia, biểu hiện của nó là tập trung mật độ dân cư cao với lối sống đô thị và các hoạt động phi nông nghiệp chiếm ưu thế, cơ sở hạ tầng phát triển ngày càng hiện đại
1.1.1.2 Khái niệm phát triển bền vững
Nếu Phát triển là khái niệm dùng để sự tăng lên về quy mô, sự thay đổi tích cực
về cơ cấu, tạo ra các khả năng khai thác nguồn lực cho phát triển và qua đó cải thiện cuộc sống của con người; thì Phát triển bền vững (PTBV) khái niệm dùng để chỉ sự phát triển đồng bộ về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB): Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới lồng ghép một quá trình sản xuất với bảo toàn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu
đó của thế hệ tương lai Ba lĩnh vực quan trọng nhất của phát triển bền vững đó là: kinh tế, xã hội, môi trường
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững
tổ chức ở Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định “phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của
sự phát triển bao gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm), và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là
sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống
1.1.1.3 Khái niệm đô thị bền vững/phát triển đô thị bền vững
Cho đến nay, chưa có một khái niệm thống nhất về phát triển bền vững đô thị Rất khó để đưa ra được một định nghĩa hay hệ khái niệm được coi là thống nhất
Trang 1610
về phát triển đô thị bền vững vì bản chất đa dạng và đa chiều của đối tượng nghiên cứu Tùy thuộc vào mục đích và phương pháp nghiên cứu mà các tác giả sẽ có những quan điểm khác nhau Các quan điểm về phát triển đô thị bền vững được trình bày rất đa dạng
* Trên thế giới:
- Xuất phát từ bản báo cáo của Ủy ban Brundtland, tại hội nghị URBAN21 (tổ
chức tại Berlin tháng 7/2000), người ta đã đưa ra định nghĩa về phát triển đô thị bền
vững: “Cải thiện chất lượng cuộc sống trong một thành phố, bao gồm cả các thành
phần sinh thái, văn hóa, chính trị, thể chế, xã hội và kinh tế nhưng không để lại gánh nặng cho các thế hệ tương lai,một gánh nặng bị gây ra bởi sự sút giảm nguồn vốn tự nhiên và nợ địa phương quá lớn Mục tiêu của chúng ta là nguyên tắc dòng chảy, dựa trên cân bằng về vật liệu và năng lượng cũng như đầu vào/ra về tài chính, phải đóng vai trò then chốt trong tất cả các quyết định tương lai về phát triển các khu vực đô thị” [13].
- Quan điểm của Ấn Độ, một quốc gia đang và sẽ là nước có tốc độ đô thị hóa
hàng đầu châu Á đã đưa ra định nghĩa về phát triển bền vững: “Một cộng đồng sử
dụng bền vững nguồn tài nguyên của mình để đáp ứng nhu cầu hiện tại, trong khi đảm bảo đủ nguồn lực có sẵn cho các thế hệ tương lai Nó tìm cách cải thiện sức khỏe cộng đồng và một cuộc sống chất lượng tốt hơn cho tất cả cư dân của nó bằng cách hạn chế chất thải, ngăn chặn ô nhiễm, bảo tồn và phát huy tối đa hiệu quả, và phát triển nguồn lực địa phương để khôi phục nền kinh tế địa phương” [13]
- Quan điểm của Argentina về phát triển đô thị bền vững: “Một thành phố bền
vững kết hợp hài hòa yếu tố môi trường với các ngành kinh tế và xã hội để đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến những thế hệ tương lai” [13]
- Theo Viện Môi Trường Stockholm của Thụy Điển, một thành phố bền vững
có thể được định nghĩa là “một thành phố tại đó tiến hành các hành động được đề ra
bởi các chính sách kế hoạch nhằm bảo tồn nguồn tài nguyên sẵn có và thực hiện tái sử dụng, ổn định xã hội, phát triển các nguồn vốn chủ sở hữu, đảm bảo phát triển kinh tế cho các thế hệ tương lai” [13]
Trang 1711
* Ở Việt Nam:
- Theo Viện Quy Hoạch Đô Thị - Nông Thôn - Bộ Xây Dựng (Dự án VIE),
trên cơ sở các khái niệm về phát triển bền vững, một phạm trù phát triển đô thị bền vững cũng được xây dựng mang tính đặc thù hơn Nhìn chung phát triển bền vững
đô thị tập trung giải quyết các vần đề sau:
* Phát triển kinh tế đô thị ổn định, tạo công ăn việc làm cho dân cư đô thị, đặc biệt cho người có thu nhập thấp, người nghèo đô thị
* Đảm bảo đời sống vật chất văn hóa tinh thần, giữ gìn bản sắc truyền thống dân tộc, đảm bảo công bằng xã hội
* Tôn tạo, giữ gìn và bảo vệ môi trường đô thị luôn xanh, sạch, đẹp với đầy đủ
ý nghĩa vật thể và phi vật thể đô thị [25]
Như vậy phát triển đô thị bền vững luôn đồng hành với phát triển bền vững nói chung Đương nhiên, theo ý nghĩa này, phát triển đô thị bền vững không
bó hẹp theo quan điểm và nhiệm vụ của các nhà quy hoạch mà cần mở rộng hơn nhiều lĩnh vực Phát triển đô thị cần được lồng ghép và tiếp cận theo cách nhìn nhận
mà các tổ chức Quốc tế đã đồng thuận đề ra đó là:
+ Là nơi ở cho tất cả mọi người, khái niệm này ý chỉ việc cải thiện nơi ở thông qua việc thực hiện chính sách nhà ở quốc gia Hình thành thị trường nhà ở với những chức năng đầy đủ và thích hợp Huy động sự tham gia của cộng đồng Cải thiện và đảm bảo tính pháp lý và an toàn về quyền sử dụng đất Cải thiện việc huy động tài chính nhà ở Và cung cấp đầy đủ cở sở hạ tầng dịch vụ cơ bản
Giảm nghèo đói đô thị ở đây có 3 tiêu chí nghèo đô thị là nghèo tiền, nghèo bất động sản và nghèo quyền do đó cần có một chính sách toàn diện mới giải quyết được 3 tiều chí quan trọng này Muốn vậy cần xây dựng một cơ chế bền vững về phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường tại cộng đồng dân cư đặc biệt là đối với người nghèo Cung cấp đầy đủ thông tin cho cộng đồng để họ có thể tiếp cận học hỏi
thực hiện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình [25]
Quản lý môi trường đô thị là cải thiện các điều kiện môi trường và làm giảm các chất thải sinh hoạt và các chất thải công nghiệp trong đô thị Cải tiến công tác tiếp cận đồng bộ trong viêc cung cấp các dịch vụ môi trường Bảo vệ môi trường, đảm
Trang 1812
bảo sức khỏe, an toàn dịch bệnh để hỗ trợ đầy đủ phát triển đô thị bền vững [25]
Phát triển kinh tế địa phương cho đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đều công nhận chính sách phi tập trung là cần thiết và có hiệu quả Điều ấy có nghĩa, các nhà chức trách địa phương có trách nhiệm cao hơn, nặng nề hơn trong công cuộc phát triển kinh tế cho địa phương mình, cho đô thị mình Tuy nhiên, năng lực của chính quyền địa phương nói chung còn rất hạn chế Vì thế việc nâng cao năng lực cho chính quyền địa phương là yếu tố quyết định sự thành công của công cuộc PTBV kinh tế
địa phương [25]
Quản lý và điều hành đô thị theo các tiêu chí: Khuyến khích tư vấn thảo luận
và đối thoại giữa cộng đồng, những người có liên quan đến các quyết định, sự ưu tiên
và sở hữu Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi để xây dựng các tiêu chí đánh giá Nâng cao năng lực thông qua việc chia sẻ kinh ngiệm và thông tin.Hình thành mạng lưới truyền thông liên kết người dân với chính quyền địa phương, chính
quyền quốc gia và toàn cầu [25]
- Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam (Ashui), đã định nghĩa về phát
triển đô thị bền vững như sau: “Mối quan hệ hữu cơ,mật thiết giữa: A) Kinh tế đô
thị;B) Văn hóa xã hội đô thị;C) Môi trường-Sinh thái đô thị; D) Cơ sở hạ tầng đô thị
và E) Quản lý đô thị” [10]
Từ đó có thể nhận định rằng, một đô thị bền vững trong quá trình phát triển, theo quan niệm đầy đủ là: Khi nó đạt được sự thống nhất trong một khuôn khổ bền vững cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của thể hệ hiện tại mà không ảnh hưởng tới các nhu cầu phát triển của thế hệ tương lai Khuôn khổ đó phải thể hiện thống nhất giữa quy hoạch, kế hoạch, quản lý phát triển và hành động thực hiện với sự đồng thuận của mọi thành phần xã hội: nhà nước, tư nhân, cộng đồng; mọi cấp độ: địa phương, thành phố và quốc gia
Việc “khủng hoảng đô thị” đặt ra vấn đề phải có đường lối, chính sách phát
triển tổng hợp để định hướng, dẫn dắt và đảm bảo các tiến bộ về cả kinh tế, xã hội, văn hóa và cải thiện môi trường đô thị phát triển hài hòa, cũng như dự báo được xu hướng phát triển tương lai của đô thị Phát triển đô thị bền vững có nghĩa là “cải thiện chất lượng cuộc sống trong đô thị bao gồm các thành phần cấu thành: sinh thái, văn hóa,
Trang 19việc khác cũng như cái giá phải trả cho việc làm đó [9]
Cũng có thể hiểu chính sách công như là một sự phân bổ giá trị mang tính quyền lực của nhà nước cho toàn xã hội và cái mà Chính phủ làm (hay không làm) đều gắn liền với phân bố giá trị xã hội đó và chỉ có nhà nước mới làm được sự phân bổ đó
[9]
Cùng với các nghiên cứu của France Ellis, Tsaint Geouss, các nhà kinh tế học
Việt Nam đã tiếp cận với định nghĩa về khái niệm chính sách “Như là kiểu phương
pháp can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực nào đó theo những mục tiêu và sự can thiệp cần thiết cũng như mức độ can thiệp thích hợp” [5]
Qua đó có thể thấy một chính sách có các đặc điểm sau:
- Là một phương pháp, biện pháp can thiệp;
mà còn giải quyết mối quan hệ giữa các bên tham gia chính sách
“Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng
Trang 2014
và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ thực hiện nhằm giải quyết
các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” [7]
Như vậy, kết hợp các khái niệm trên cho thấy xây dựng chính sách phát triển đô thị bền vững được hiểu là tập hợp các quyết định chính trị liên quan của Nhà nước về phát triển đô thị bền vững để lựa chọn các mục tiêu cụ thể, giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết các vấn đề về phát triển đô thị bền vững theo mục tiêu tổng thể của Đảng và Nhà nước đã xác định
Về mặt bản chất, chính sách là kết tinh ý chí của chủ thể về phương thức tác động đến các đối tượng Tuy nhiên, chính sách chỉ được thực hiện hóa khi nó tham gia
vào quá trình vận động, triển khai thực hiện trong đời sống xã hội [8]
Tổ chức thực hiện chính sách công là một khâu hợp thành chu trình chính sách công Tổ chức thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng, hiện thực hóa nội dung chính sách công một cách hiệu quả
Như vậy, thực hiện chính sách về phát triển đô thị bền vững là toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể bằng các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước về phát triển đô thị bền vững, với các mục tiêu cụ thể, giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết vấn đề về phát triển đô thị bền vững theo mục tiêu tổng thể của Đảng và Nhà nước đã xác định thành hiện thực trong đời sống xã hội
* Thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững có những đặc điểm sau: Thứ nhất, tổ chức thực hiện chính sách công nói chung, chính sách phát triển đô
thị bền vững nói riêng là khâu hợp thành chu trình chính sách, nếu thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không thể tồn tại Tổ chức thực hiện chính sách công thành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách So với các khâu khác trong chu trình chính sách, tổ chức thực hiện có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội
Thứ hai, quá trình tổ chức thực hiện chính sách vào thực tiễn cuộc sống là quá
trình phức tạp, đầy biến động, chịu sự tác động của một loạt yếu tố, thúc đẩy hoặc cản trở thực hiện chính sách
Trang 2115
Thứ ba, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là toàn bộ quá trình
hoạt động của các chủ thể với số lượng cá nhân và tổ chức tham gia thực hiện rất lớn, bao gồm các đối tượng tác động của chính sách, nhân dân thực hiện và bộ máy tổ chức thực hiện trên lĩnh vực đô thị của nhà nước Không chỉ có vậy, các hoạt động thực hiện mục tiêu chính sách phát triển đô thị bền vững diễn ra cũng hết sức phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian, chúng đan xen nhau, thúc đẩy kìm hãm nhau theo quy luật
Thứ tư, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững bằng những cách thức
khác nhau nhằm hiện thực hóa các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước về phát triển đô thị bền vững là một quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế chúng ta cần được lập kế hoạch, chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện một cách chủ động hoàn toàn, có phân công, phối hợp để thực hiện có hiệu quả các nội dung chính sách trong đời sống xã hội
1.1.2 Vai trò của việc thực hiện chính sách đô thị bền vững
Chính sách phát triển đô thị bền vững tốt không những mang lại lợi ích to lớn cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, mà còn góp phần làm tăng uy tín của nhà nước trong quá trình quản lý nhà nước cũng như phát triển đô thị một cách bền vững Tuy nhiên, để có được một chính sách phát triển đô thị bền vững tốt, các nhà hoạch định phải trải qua một quá trình nghiên cứu, tìm kiếm rất công phu Nhưng dù tốt đến đâu thì chính sách cũng trở thành vô nghĩa nếu nó không được thực hiện Những phân tích trên đây giúp chúng ta nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của thực hiện chính sách đô thị bền vững, từ đó chủ động tích cực thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững một cách có hiệu quả
Tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là giai đoạn biến ý đồ chính sách thành hiện thực, biến thái độ ứng xử của Nhà nước đối với các đối tượng quản lý thành hiện thực Qua tổ chức thực hiện để khẳng định tính đúng - sai của chính sách cũng như giúp cho chính sách ngày càng hoàn thiện Tổ chức thực hiện chính sách không tiến hành tốt dễ dẫn đến thiếu tin tưởng thậm chí chống đối của nhân dân đối với Nhà nước, chẳng hạn việc thực hiện chính sách đền bù đất đai trong thời gian qua
Trang 2216
Hoạt động thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững có vai trò then chốt trong thúc đẩy phát triển xã hội, phát triển đất nước, cụ thể như sau:
Thứ nhất, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững nhằm biến ý đồ chính
sách thành hiện thực Trong quản lý xã hội và quản lý đô thị, công cụ được nhà nước
và chính quyền địa phương dùng để chuyển tải thái độ ứng xử của mình đến các đối tượng quản lý là chính sách Tùy theo yêu cầu quản lý, phát triển nền kinh tế, phát triển đô thị ở từng thời kỳ, nhà nước và chính quyền địa phương chủ động ban hành các chính sách để thể hiện ý chí trong quan hệ với các thành phần kinh tế theo định hướng Như vậy, có thể nói thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là giai đoạn biến thái độ ứng xử của nhà nước với các đối tượng quản lý thành hiện thực
Thứ hai, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững nhằm từng bước thực
hiện các mục tiêu chính sách phát triển đô thị bền vững và mục tiêu chung Trong đó, mục tiêu chính sách phát triển đô thị bền vững có liên quan đến nhiều hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội theo những cấp độ khác nhau, nên không thể cùng một lúc giải quyết tất cả các vấn đề có liên quan và cũng không thể đốt cháy giai đoạn của mỗi quá trình Tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững để giải quyết các vấn đề của đô thị trong mối quan hệ biện chứng với mục tiêu cơ bản nhất để thúc đẩy quá trình vận động của hệ thống đô thị đến mục tiêu chung
Thứ ba, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững nhằm khẳng định tính
đúng đắn của chính sách trong phát triển đô thị Một khi chính sách phát triển đô thị bền vững được triển khai thực hiện rộng rãi trong xã hội, thì tính đúng đắn của nó được khẳng định ở mức cao hơn, tức là được cả xã hội thừa nhận, nhất là các đối tượng thụ hưởng chính sách phát triển đô thị bền vững
Thứ tư, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững nhằm giúp cho chính
sách ngày càng hoàn chỉnh Do ảnh hưởng của ý chí chủ quan và sự vận động, phát triển của môi trường nên giữa chính sách phát triển đô thị bền vững và thực tế xã hội trong giai đoạn tổ chức thực hiện chắc chắn có khoảng cách cần được lấp đầy bằng những điều chỉnh về chính sách hay các biện pháp tổ chức thực hiện chính sách Những điều chỉnh bổ sung về mục tiêu hay biện pháp thực hiện chính sách phát triển
đô thị bền vững trong quá trình thực hiện, chính là hoạt động hoàn chỉnh những chính
Trang 2317
sách phát triển đô thị bền vững đang có và góp phần đúc rút những kinh nghiệm cho
hoạch định các chính sách giai đoạn sau [9]
1.1.3 Yêu cầu tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Bảo đảm mục tiêu thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững Để có thể thực hiện, mục tiêu chính sách phát triển đô thị bền vững phải cụ thể, rõ ràng, chính xác Đây là vấn đề quan trọng đầu tiêu để thu hút mọi hoạt động thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững theo một định hướng Thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là những hoạt động cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước và các đối tượng chính sách nhằm đạt được các mục tiêu trực tiếp
- Đảm bảo tính hệ thống trong thực hiện chính sách Tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là một bộ phận cấu thành trong chu trình chính sách,
nó kết hợp chặt chẽ với các bộ phận khác trong chu trình tạo nên một hệ thống thống nhất Nói như vậy không có nghĩa là thực hiện một cách máy móc lộ trình và phương thức thực hiện chính sách của nhà nước mà cần tùy theo những điều kiện cụ thể để tiến hành thực hiện các bước cho hợp lý
- Đảm bảo tính khoa học và pháp lý trong tổ chức thực hiện chính sách.Tính khoa học thể hiện trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là việc phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan quản lý chính sách phát triển đô thị, việc thu hút các nguồn lực hướng mạnh vào thực hiện mục tiêu chính sách, hình thành các chương trình, dự án để thực hiện có hiệu quả một chính sách Tính pháp lý được thể hiện trong tổ chức thực hiện chính sách là việc chấp hành các chế định về thực hiện chính sách như: Trách nhiệm, quyền hạn của tổ chức, các cá nhân được giao thực hiện chính sách, thủ tục giải quyết các mối quan hệ trong thực hiện chính sách, cưỡng chễ thực hiện chính sách trong trường hợp cần thiết
Trang 2418
1.2 Nội dung thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
1.2.1 Chủ thể thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững 1
Chính sách công hay chính sách phát triển đô thị bền vững là một trong những công cụ quản lý của Nhà nước để điều hành hoạt động kinh tế - xã hội Vì vậy, chủ thể ban hành chính sách công hay chính sách phát triển đô thị bền vững là Nhà nước, cụ thể là các cơ quan có thẩm quyền cũng là chủ thể tổ chức thực hiện chính sách công, đặc biệt là có sự tham gia của các tầng lớp nhân dân là những đối tượng thực hiện chính sách công, vừa trực tiếp thụ hưởng những lợi ích mang lại từ chính sách
Về phía Nhà nước, chủ thể ban hành chính sách đồng thời là chủ thể tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững, gồm các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như: Quốc hội, Chính phủ, Bộ Xây dựng và các Bộ có liên quan như Bộ Tài nguyên và môi trường, Bộ Giao thông vận tài, Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT, UBND các tỉnh, thành, UBND các thành phố, huyện của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với đô thị được pháp luật quy định chức năng, thẩm quyền quản lý đối với bộ máy công quyền trên địa bàn đô thị, bao gồm:
- Xây dựng khuôn khổ pháp lý cho sự phát triển đô thị bao gồm các văn bản pháp quy, quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy chế quản lý quy hoạch, quản lý phát triển đô thị;
- Lập quy hoạch, kế hoạch thực hiện chương trình đầu tư phát triển đô thị; tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ trong quyền hạn và phạm vi quản lý đảm bảo cho các hoạt động kinh tế xã hội trên địa bàn;
- Xây dựng hệ thống kiểm soát và phát triển đô thị theo quy hoạch và pháp luật
vì mục tiêu phát triển bền vững, chủ yếu về quản lý và sử dụng đất đô thị; quản lý phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển nhà ở; quản lý tài chính đô thị;
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về quản lý phát triển
luận văn thạc sĩ Chính sách công năm 2017,
Trang 25Quốc hội (ủy ban
Thẩm tra, giám sát
Quan tâm, hỗ trợ
PTĐT trong phạm vi cả nước; ban hành văn bản QPPL, cơ chế, chính sách cụ thể để đảm bảo PTĐTBV
kiến trúc; hoạt động đầu
tư xây dựng, phát triển
đô thị; hạ tầng kỹ thuật
đô thị và KCN; khu KT;
Khu CN cao; nhà ở;
công sở; thị trường bất động sản; vật liệu xây dựng; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong lĩnh vực theo Bộ quản
lý theo quy định pháp luật)
Quản lý PTĐT theo ngành, lĩnh
Hợp tác
Trang 2620
Cấp quản
lý
Các bên tham gia (chủ thể) Chức năng/nhiệm vụ Vai trò Động cơ/thái độ
Quản lý cấp tỉnh, thành phố
Nguồn: Tổng hợp từ các tài liệu và thực tiễn về quản lý và thực hiện chính sách công
1.2.2 Môi trường thể chế chính sách phát triển đô thị bền vững
Thể chế giúp cho mọi hoạt động của đời sống xã hội diễn ra có trật tự theo một
hệ thống nhất định Vì vậy, hệ thống thể chế thống nhất từ Trung ương đến địa phương
là nền tảng tạo lập môi trường thể chế chính sách PTĐTBV Hệ thống thể chế chính sách PTĐTBV phải tuân thủ thể chế chung về quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật Qúa trình thẩm định, phê chuẩn và ban hành phải tuân theo luật định
Thể chế chính sách PTĐTBV dựa trên hệ thống cơ quan quản lý nhà nước ban hành theo thẩm quyền:
- Thể chế do cấp Trung ương quản lý bao gồm các văn bản Luật do Quốc hội ban hành, các văn bản pháp quy do Chính phủ và các Bộ ngành ở Trung ương ban hành
- Thể chế do chính quyền địa phương quản lý bao gồm các văn bản quy phạm
do HĐND, UBND và các cơ quan chức năng các cấp ở địa phương ban hành
Trang 27thuộc Chính phủ có liên quan
Quyết định/Chỉ thị/Thông tư/TT Liên tịch
Cấp tỉnh, thành phố
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
- Quyết định
Nguồn: Tổng hợp từ các tài liệu và thực tiễn về chính sách phát triển đô thị bền vững
1.3 Các bước tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Để tổ chức, điều hành có hiệu quả công tác thực hiện chính sách công cũng như thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững cần phải thực hiện nhiều nội dung quản
lý khác nhau, nhưng cần tuân thủ các bước tổ chức thực hiện sau đây:
1.3.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Trước hết, quy hoạch xây dựng vùng và quy hoạch đô thị bền vững phải trở thành nội dung làm việc thường xuyên của cấp lãnh đạo địa phương Biện pháp này sẽ khắc phục tình trạng trạng phê duyệt chậm trễ, và nội dung quy hoạch đơn điệu Bởi vì
tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là quá trình phức tạp, diễn ra trong thời gian dài, phải cân bằng được mọi giá trị văn hóa, tôn giáo, phải bảo đảm đầy
Trang 2822
đủ các yếu tố xã hội kỹ thuật và dịch vụ thiết yếu Vì thế chúng cần được lập kế hoạch, chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện chính sách một cách chủ động hoàn toàn Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Các cơ quan triển khai thực hiện chính sách từ Trung
ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện
1.3.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách phát triển đô thị bền vững
Việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách phát triển
đô thị bền vững là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng chính sách và người dân tham gia thực hiện hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước Bên cạnh đó, để phát huy tác dụng với toàn xã hội, hệ thống quản lý hiện nay cần được xây dựng và chấn chỉnh theo hướng nghiêm túc về các quy định thể chế và mở rộng về cách làm và nội dung để quy hoạch đi vào cuộc sống, sát lợi ích của
xã hội Riêng đối với việc phổ biến kiến thức, thông tin quy hoạch rộng rãi, và khuyến khích đóng góp ý kiến, là các cách để nhà quy hoạch biết đối thoại, lắng nghe và đến
gần với người dân hơn
1.3.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Chính sách phát triển đô thị bền vững được thực hiện trên phạm vi rộng lớn, tối thiểu cũng là một địa phương-vì thế số lượng cá nhân và tổ chức tham gia thực hiện chính sách là rất lớn, tối thiểu cũng là một địa phương Các hoạt động thực hiện mục tiêu chính sách phát triển đô thị bền vững diễn ra cũng hết sức phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian, chúng đan xen, thúc đẩy hay kìm hãm nhau theo quy luật Vì vậy, để tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững có hiệu quả cần phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực hiện chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách Thiết lập cơ chế để các thành phần liên quan thường xuyên phối hợp, tránh tình trạng chồng lấn hay sự chia cắt các ngành, cát cứ địa phương, vì quy hoạch cần sự phối hợp chia sẻ của toàn xã hội Các trang web, triển lãm, hội thảo, họp báo công bố, tờ rơi v.v , là các phương tiện truyền thông rất khả thi
Trang 2923
và hữu hiệu Các quy hoạch ngắn hạn và kế hoạch xây dựng cần phù hợp với các kỳ bầu cử Đảng và chính quyền, khuyến khích sự tham gia góp ý của các tổ chức, đồng thời cũng giúp các thể chế này cam kết và cụ thể hơn chương trình hành động cụ thể
về phát triển đô thị
1.3.4 Duy trì chính sách phát triển đô thị bền vững
Duy trì chính sách phát triển đô thị bền vững nói riêng là hoạt động đảm bảo cho chính sách tồn tại và phát huy được tác dụng trong môi trường thực tế Vì vậy, phải nâng cao năng lực lập và thực hiện các quy hoạch cho các đơn vị quy hoạch để các cơ sở này
có thể lập các phương án quy hoạch có nội dung khả thi, tầm nhìn dài hạn, có hiệu quả thiết thực nhiều mặt, đáp ứng nhanh kế hoạch triển khai quy hoạch phát triển đô thị Trước mắt, quy hoạch cần tiến hành nhanh và trúng các dự án ưu tiên 5 -10 năm, tạo đà cho phát triển đô thị Còn các mục tiêu lâu dài cần có tầm nhìn rộng, mang chiến lược
Hỗ trợ tất cả các biện pháp trên có vai trò không nhỏ của việc đổi mới công nghệ, đặc biệt là việc áp dụng công nghệ tin học và hệ thống thông tin địa lý GIS vào quá trình lập, quản lý và theo dõi điều chỉnh quy hoạch Các thông tin về phát triển đô thị cần được kết
nối trực tiếp qua đường dẫn tới cổng điện tử của Chính phủ
1.3.5 Điều chỉnh chính sách phát triển đô thị bền vững
Điều chỉnh để chính sách phát triển đô thị bền vững phải phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế phát triển của đô thị Với tốc độ đô thị hóa hiện nay ở Việt Nam, đòi hỏi việc đánh giá thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững cần được thực hiện thường xuyên và theo định kỳ Việc điều chỉnh, bổ sung chính sách phát triển đô thị bền vững phải được cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách xem xet, quyết định; có thể điều chỉnh biện pháp, cơ chế thực hiện và các nội dung khác, nhưng không được làm thay đổi mục tiêu chính sách, nếu thay đổi mục tiêu chính sách coi như thất bại
1.3.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững giúp kịp thời bổ sung hoàn thiện chính sách; là hoạt động của các cơ quan, cán bộ, công chức có thẩm quyền thông qua các công cụ hữu ích nhằm làm cho các chủ thể
Trang 3024
thực thi nêu cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện các biện pháp theo định hướng chính sách Qúa trình này cần có các cuộc họp giữa cơ quan quản lý quy hoạch, cơ quan lập quy hoạch, chính quyền địa phương và các bên liên quan (nhà đầu tư, người dân trong khu quy hoạch) để đánh giá đúng sai, tiến độ thực hiện và biện pháp bổ sung
Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước, còn xem xét, đánh giá việc thực hiện của đối tượng tham gia thực hiện chính sách công, bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách, nghĩa là tất cả các thành viên xã hội với tư cách là công dân
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách phát triển
Thứ hai, môi trường thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững Môi
trường là yếu tố liên quan đến các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, môi trường trong nước và môi trường quốc tế Các hoạt động này diễn ra
Trang 3125
theo quy luật trong những điều kiện cụ thể, nên nó độc lập với quá trình thực hiện chính sách Một xã hội ổn định, ít biến động về chính trị sẽ đưa đến sự ổn định về hệ thống chính sách, cũng góp phần thuận lợi cho thực hiện chính sách
Thứ ba, mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững Nội hàm chủ yếu mối quan hệ này thể hiện thống nhất hay không thống nhất
về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách Không chỉ
do mâu thuẫn lợi ích giữa các đối tượng trong chính sách làm ảnh hưởng đến công tác
tổ chức thực hiện, mà còn do sự không đồng nhất về những tiện ích giữa các cơ quan chỉ đạo điều hành chính sách
Thứ tư, tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách phát triển đô thị bền vững
Yếu tố này được hiểu là thực lực và tiềm năng mà mỗi nhóm có được trong mối quan
hệ so sánh với các nhóm đối tượng khác Tiềm lực của nhóm lợi ích được thể hiện trên các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội về cả quy mô và trình độ
Thứ năm, đặc tính của đối tượng chính sách phát triển đô thị bền vững Đây là
tính chất đặc trưng mà các đối tượng có được từ bản tính cố hữu hoặc do môi trường sống tạo nên qua quá trình vận động mang tính lịch sử Những đặc tính này thường liên quan đến tính kỷ luật, tính sáng tạo, lòng quyết tâm, tính truyền thống Đặc tính gắn liền với mỗi đối tượng thực hiện chính sách, nên các chủ thể tổ chức điều hành cần biết cách khơi gợi hay kiềm chế nó để có được kết quả tốt nhất cho quá trình tổ chức thực hiện chính sách
Thứ sáu, năng lực thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững của cán bộ, công chức Đây là yếu tố có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực hiện chính
sách Năng lực thực hiện chính sách của cán bộ, công chức là thước đo bao gồm những tiêu chí phản ánh về đạo đức công vụ, về năng lực thiết kế tổ chức, năng lực thực tế, năng lực phân tích, dự báo để có thể chủ động ứng phó được với những tình huống phát sinh trong tương lai…
Thứ bảy, mức độ tuân thủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững Quy trình thực hiện chính sách phát triển đô thị bền
vững được coi là những nguyên lý khoa học được đúc kết từ thực tiễn cuộc sống Việc tuân thủ quy trình cũng là một nguyên tắc hành động của các nhà quản lý Mỗi bước
Trang 3226
trong quy trình đều có vị trí, ý nghĩa to lớn đối với quá trình thực hiện chính sách Kết hợp các hoạt động tuyên truyền, phổ biến chính sách với vận động thực hiện sẽ giúp cho các đối tượng chính sách nêu cao tinh thần tự nguyện, tự giác trong thực hiện chính sách Đồng thời họ còn vận động lẫn nhau chấp hành chính sách, tạo thành những phong trào thi đua thực hiện chính sách
Thứ tám, các điều kiện vật chất để thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững Yếu tố này ngày càng có ý nghĩa quan trọng để cùng nhân sự và các yếu tố khác
thực hiện thắng lợi chính sách của nhà nước Để quản lý mọi mặt hoạt động trong điều kiện phát triển hiện nay, nhà nước luôn phải tăng cường các nguồn lực vật chất cả về
số lượng và chất lượng Việc đầu tư trang thiết bị kỹ thuật và phương tiện hiện đại đã trở thành một nguyên lý phát triển Trong thực tế, nếu thiếu các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách thì các cơ quan nhà nước khó có thể chuyển tải những nội dung chính sách đến với đối tượng một cách thường xuyên
Thứ chín, sự đồng tình, ủng hộ của người dân Đây là yếu tố có vai trò đặc biệt
quan trọng, quyết định sự thành bại của một chính sách Mục tiêu chính sách công hay chính sách phát triển đô thị bền vững của các quốc gia là làm thay đổi trạng thái kinh
tế, xã hội hiện tại theo nhu cầu của đời sống xã hội Đây là vấn đề lớn, cần có sự đóng góp sức người, sức của trong một thời gian đủ để các yếu tố cấu thành trạng thái kinh
tế - xã hội vận động phát triển lên trình độ cao hơn, làm thay đổi được về chất của xã hội
Vì thế việc thực hiện các mục tiêu chính sách phát triển đô thị bền vững không chỉ do các cơ quan quản lý nhà nước mà phải có sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội Nếu chính sách phát triển đô thị bền vững không thiết thực với đời sống nhân dân, không phù hợp với điều kiện và trình độ hiện có của nhân dân thì sẽ bị tẩy chay hoặc “bỏ rơi” không thực hiện Tóm lại, một chính sách muốn được triển khai thực hiện tốt vào đời sống xã hội cần phải có sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân
Trang 3327
Tiểu kết Chương 1
Chương 1 đã đưa ra được những khái niệm, quan niệm về những lĩnh vực liên quan đến đề tài, bao gồm những nội dung sau: Các khái niệm, quan niệm về đô thị; Khái niệm, quan niệm về phát triển đô thị bền vững; Khái niệm về chính sách; Khái niệm, quan niệm về chính sách phát triển đô thị bền vững; Khái niệm, quan niệm về thực hiện chính sách về phát triển đô thị bền vững Bên cạnh đó, đã làm rõ nội dung thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững, bao gồm: Vấn đề chính sách phát triển
đô thị bền vững ở nước ta hiện nay; Mục tiêu thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách phát triển đô thị bền vững cũng đã được
đề cập, bao gồm: tính chất của chính sách; môi trường thực hiện chính sách; mối quan
hệ giữa các đối tượng chính sách; tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách; đặc tính của đối tượng chính sách; năng lực thực hiện chính sách của cán bộ, công chức; mức độ tuân thủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện; các điều kiện vật chất để thực hiện; sự đồng tình, ủng hộ của người dân
Trang 3428
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN
Quận Cẩm Lệ được thành lập vào ngày 05/8/2005 theo Nghị định số
102/NĐ-CP ngày 05/8/2005 gồm có 6 phường: Khuê Trung, Hòa Thọ Tây, Hòa Thọ Đông, Hòa Phát, Hòa An, Hòa Xuân Tổng diện tích đất tự nhiên là 3.584 ha
Quận Cẩm Lệ nằm ở cửa ngõ Tây Nam của thành phố, tiếp giáp với 5 quận huyện khác của thành phố là: phía đông giáp quận Hải Châu và Ngũ Hành Sơn; phía tây giáp huyện Hòa Vang và quận Liên Chiểu; phía nam giáp huyện Hòa Vang; phía bắc giáp quận Thanh Khê
Khu vực có vùng gò đồi phân bố tập trung đa số ở phường Hòa Thọ Tây và một phần nhỏ ở phường Hòa Phát, hầu hết là đồi núi xen kẽ với các cánh đồng nhỏ hẹp, với diện tích khoảng 130 ha, có độ cao từ 35 - 100 m
Vùng đồng bằng tương đối bằng phẳng, chiếm phần lớn diện tích toàn quận, có
độ cao trung bình từ 2 - 10 m (so với mực nước biển), phân bố đều khắp các phường
2.1.1.3 Khí hậu
Quận Cẩm Lệ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, mang tính đặc thù của vùng ven biển Trung Trung Bộ, có một mùa mưa và một mùa khô, có các yếu tố đặc trưng của khí hậu như sau: Nhiệt độ trung bình năm: 26,6oC; Biên độ nhiệt dao
Trang 3529
động giữa các ngày và các tháng liên tiếp trong năm khoảng 3-5 oC; Lượng mưa trung
bình năm: 224 mm [32], [33], [34], [35]
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế
- Công nghiệp - xây dựng: Các ngành công nghiệp dệt may, cơ khí, lâm sản, giày da tiếp tục duy trì sản xuất ổn định, tiếp tục là ngành công nghiệp chủ lực của quận, giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng năm 2017 đạt 11.009 tỷ đồng, tăng 13%
so với cùng kỳ năm 2016 Trong đó: giá trị ngành công nghiệp dân doanh ước đạt 2.008 tỷ đồng, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2016 Quận tiếp tục củng cố, kiện toàn
Tổ thu hút đầu tư quận và từng bước tiếp cận các doanh nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội để giới thiệu cơ hội đầu tư vào quận
- Thương mại - dịch vụ: Tổng giá trị ngành thương mại - dịch vụ đạt 4.318 tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm 2016
- Sản xuất nông nghiệp: Thực hiện mô hình sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGap tại các vùng rau chuyên canh, tạo nguồn cung cấp thực phẩm an toàn ra thị trường Xây dựng Phương án phát triển và sản xuất rau an toàn tại khu vực Gò Soi - phường Hòa Thọ Tây; triển khai xây dựng 02 mô hình trồng hoa có hiệu quả kinh tế để phát triển nhân rộng Công tác phòng, chống dịch cúm gia cầm, kiểm soát giết mổ và
vận chuyển trong tiêu thụ được chặt chẽ, không để dịch bệnh xảy ra trên địa bàn [32],
Trang 3630
2.1.2.3 Giáo dục, đào tạo
Hệ thống giáo dục trên địa bàn quận từ mầm non đến trung học phổ thông có 38 trường, trong đó 24 trường quốc lập và 14 trường tư thục; tổng số 22.574 học sinh và 1.197 cán bộ, giáo viên Toàn quận đã đạt chỉ tiêu 100% học sinh hoàn thành chương trình Tiểu học, 99,78% học sinh được công nhận tốt nghiệp Trung học cơ sở Tổ chức
Lễ tuyên dương - khen thưởng cho 144 học sinh đạt giải nhất, nhì qua các Hội thi các
cấp và học sinh xuất sắc toàn diện năm học 2016 - 2017[32], [33], [34], [35]
2.1.2.4 Văn hóa, xã hội
UBND quận đã đầu tư, tăng cường quản lý Nhà nước về lĩnh vực văn hóa, nhất
là các dịch vụ văn hóa và hoạt động quảng cáo; ban hành kế hoạch thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trên địa bàn quận đến năm 2020, định hướng đến năm 2025; tổ chức thi đấu một số môn trong Đại hội thể dục thể thao cấp quận và chỉ đạo các phường hoàn thành tổ chức Đại hội thể dục thể thao lần thứ IV; thành lập Tổ thông tin báo chí của quận Đến năm 2017, toàn quận đạt 100% học sinh hoàn thành chương trình tiểu học, 99,78% học sinh được công nhận tốt nghiệp
hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thân thiện với môi trường, gồm một số đô thị lớn, nhiều đô thị vừa và nhỏ liên kết và phân bố hợp lý trên các vùng Nâng cao chất lượng, tính đồng bộ
và năng lực cạnh tranh của các đô thị; chú trọng phát huy vai trò, giá trị đặc trưng của các
đô thị động lực phát triển kinh tế cấp quốc gia và cấp vùng ", Chương trình hành động số 06-CTr/TU ngày 16/5/2016 của Thành ủy Đà Nẵng thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội lần thứ XXI Đảng bộ thành phố
Trang 37Thành phố Đà Nẵng cũng đã ban hành những chính sách phát triển đô thị bền vững như: Quyết định số 274/QĐ-UBND ngày 23/4/2014 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc Ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số 34-CTr/TU của Thành ủy Đà Nẵng về việc thực hiện Kết luận số 75-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX); Quyết định số 2156/QĐ-UBND ngày 15/4/2015 của UBND thành phố Đà Nẵng về Đề án Tái cơ cấu kinh tế thành phố Đà Nẵng đến năm 2020; Quyết định số 41/2008/QĐ-UBND của UBND thành phố Đà Nẵng về việc ban hành Đề án
“Thành phố Đà Nẵng - Thành phố môi trường”; Quyết định 765/QĐ-UBND ngày 05/2/2016 của UBND thành phố về việc phê duyệt Quy hoạch khớp nối tổng thể các
đồ án quy hoạch chi tiết TL1/500 trên địa bàn quận Cẩm Lệ
Trên cơ sở thể chế hóa và cụ thể hóa hệ thống chính sách, pháp luật về phát triển đô thị nói chung, quận Cẩm Lệ đã ban hành và triển khai chính sách liên quan đến phát triển đô thị bền vững Điển hình là những văn bản sau đây:
- Nghị quyết đại hội Đảng bộ quận Cẩm Lệ lần thứ III (nhiệm kỳ 2015 - 2020);
- Chương trình hành động số 03-CTr/QU ngày 03/11/2015 của Ban chấp hành Đảng bộ quận Cẩm Lệ về việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận lần thứ III, nhiệm kỳ 2015 - 2020;
- Quyết định số 783/QĐ-UBND ngày 9/3/2017 của UBND quận Cẩm Lệ về việc Ban hành Đề án Phát triển hạ tầng đô thị quận Cẩm Lệ giai đoạn 2016 - 2020;
- Quyết định số 7287/QĐ-UBND ngày 23/9/2009 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội quận Cẩm Lệ đến năm 2020;
- Đề án giải quyết việc làm khu đô thị sinh thái Hoà Xuân;
- Đề án “Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước trong việc hỗ trợ doanh
Trang 3832
nghiệp Cẩm Lệ phát triển đến năm 2020;
- Đề án "Phát triển thương mại dịch vụ quận giai đoạn 2016-2020;
- Đề án “Phát triển du lịch lịch ven sông gắn với vùng rau La Hường và các di tích lịch sử văn hóa, tâm linh;
- Quyết định số 956/QĐ-UBND ngày 27/3/2017 phê duyệt Đề án “Phát triển văn hóa quận Cẩm Lệ giai đoạn 2016-2020”; Kế hoạch số 309/KH-UBND ngày 29/3/2017 thực hiện Đề án “Phát triển văn hóa quận Cẩm Lệ giai đoạn 2016 - 2020”
2.3 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
2.3.1 Mục tiêu chính sách phát triển đô thị bền vững tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
2.3.1.1 Mục tiêu tổng quát đến năm 2020
Theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận Cẩm Lệ lần thứ III (nhiệm kỳ 2015 - 2020), xác định mục tiêu là tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị, đẩy mạnh phát triển kinh tế, trong đó ưu tiên phát triển thương mại, dịch vụ; tiếp tục cải cách hành chính, đảm bảo an sinh xã hội, quyết tâm xây dựng quận Cẩm Lệ phát triển bền vững, văn minh, từng bước hiện đại
2.3.1.2 Mục tiêu cụ thể đến năm 2020
- Tổng giá trị sản xuất tăng bình quân từ 11% - 12%
- Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng tăng bình quân từ 10,5% - 11,5%, công nghiệp dân doanh tăng bình quân 11% - 12%
- Giá trị ngành dịch vụ tăng bình quân 14% - 15%
- Giá trị ngành nông nghiệp ở mức dưới 1% trong cơ cấu giá trị sản xuất
- Giá trị xuất khẩu trên địa bàn tăng bình quân 6,5% (khoảng 9 triệu USD năm 2020)
- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 10% so với dự toán được giao
- Hỗ trợ giải quyết việc làm trên 1.800 lao động/năm
- Giảm tỷ suất sinh 0,5‰
- Giảm 700- 800 hộ nghèo/năm, đến cuối nhiệm kỳ không còn hộ nghèo theo tiêu chí của thành phố giai đoạn 2016 - 2020
Trang 39và cải thiện đáng kể, từng bước đáp ứng nhu cầu đời sống của nhân dân quận Cẩm Lệ
2.3.2.1 Về phát triển kinh tế
Kinh tế quận Cẩm Lệ trong giai đoạn từ 2012-2017, tăng trưởng khá, cơ cấu kinh
tế chuyển dịch theo hướng tích cực và đúng định hướng, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, thương mại - dịch vụ giữ vai trò chủ đạo phù hợp với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cụ thể là, năm 2012 đạt 3.644 tỷ đồng, năm 2017 đạt 15.382 tỷ đồng, tăng bình quân giai đoạn đạt 11,8% Chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp và xây dựng (chiếm 52,57%), dịch vụ (chiếm 45,44%), nông, lâm nghiệp và thủy sản (chiếm 1,99%) Song song với quá trình tăng trưởng kinh tế, hoạt động xúc tiến đầu tư đã có nhiều chuyển biến tích cực với việc liên kết và kêu gọi với các thành phố khác trong cả nước như quận kêu gọi đối tác tại Hà Nội vào đầu tư…
(ĐVT: tỷ đồng)
Biểu đồ Tổng giá trị sản xuất quận Cẩm Lệ giai đoạn 2012-2017
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và phương hướng, nhiệm vụ các năm 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, 2017
Trang 4034
Tổng giá trị thương mại, dịch vụ có nhiều kết quả tích cực và đạt hiệu quả cao Giai đoạn 2012-2017, tổng giá trị thương mại, dịch vụ (giá so sánh năm 2010) đạt 19.560 tỷ đồng, năm 2017 đạt 4.318 tỷ đồng tăng gấp 4 lần so với năm 2012; Tổng giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng (giá so sánh 2010 phân theo khu vực kinh tế) giai đoạn đạt 49.204 tỷ đồng, năm 2017 đạt 11.009 tỷ đồng tăng 4,2 lần so với năm 2012 (giá trị năm 2012 đạt 2.600 tỷ đồng), tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 11%/năm Các ngành công nghiệp dệt may, cơ khí, lâm sản, giày da tiếp tục duy trì sản xuất ổn định, tiếp tục là ngành công nghiệp chủ lực của quận Ngành nông nghiệp, trong giai đoạn 2012-2017, tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 258 tỷ đồng, trong đó, ngành nông nghiệp chiếm giá trị lớn hơn so với lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản
Bảng 2.1: Giá trị sản xuất các ngành của quận Cẩm Lệ giai đoạn 2012-2017
Công tác thu ngân sách trên địa bàn quận những năm qua đạt được nhiều hiệu quả tích cực Tổng thu ngân sách từ 2012-2017 đạt 1.605 tỷ đồng, tăng bình quân 13,4% Nhờ tăng nguồn thu nên các khoản chi ngân sách được cải thiện đáng kể, nhất
là chi đầu tư phát triển góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, xóa đói giảm nghèo