1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam

94 189 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 601,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó yêu cầu đặt ra là phải quản lý bền vững và hiệu quả hơn các hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước và phòng chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; quản lý

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VÀ TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, Năm 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VÀ TỈNH QUẢNG NAM

HÀ NỘI, Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng của tôi

Các số liệu, tài liệu được trích dẫn trong luận văn theo nguồn đã công bố Kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Lan Hương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC Ở VIỆT NAM 11

1.1 Cơ sở lý luận 11 1.2 Thực tiễn thực hiện chính sách bảo vệ tài nguyên nước của Việt Nam 22

CHƯƠNG 2 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VÀ TỈNH QUẢNG NAM 31

2.1 Tổng quan chung vùng nghiên cứu 31 2.2 Thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước tại thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam 32

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ 67

ĐÀ NẴNG VÀ TỈNH QUẢNG NAM 67 3.1 Quan điểm và định hướng bảo vệ nguồn nước 67 3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước trong thời gian tới 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

CHDCND : Cộng hòa dân chủ nhân dân

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

HTX DVTH SXNN : Hợp tác xã Dịch vụ tổng hợp Sản xuất nông nghiệp

TNHH MTV : Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên

TN&MT : Tài nguyên và Môi trường

Trang 6

Bảng 1.1 Chức năng quản lý có liên quan đến tài nguyên nước của một số

Bộ/Ngành chính 20

Bảng 2.2 Hàm lượng dầu mỡ quan trắc tại các hồ thủy lợi 52

Bảng 2.3 Phân bổ ngân sách cho quản lý tài nguyên nước và khoáng sản tỉnh Quảng Nam 58

Bảng 2.4 Tỷ trọng lượng mưa mùa mưa ít và mùa mưa nhiều 60

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1 Mạng lưới sông TP Đà Nẵng Hình 2.2 Hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn 32

Hình 2.2 Hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn 32

Hình 2.3 Biểu đồ cơ cấu kinh tế Đà Nẵng năm 2015 35

Hình 2.4 Biểu đồ cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Nam qua các năm 32

MỞ ĐẦU

Trang 7

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của quốc gia

Nước đang ngày càng khan hiếm, suy giảm cả về số lượng và chất lượng, kèm theo đó là hạn hán và lũ lụt xảy ra gay gắt ở cả quy mô, mức độ và thời gian trong khi nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng chính là nguyên nhân gây khủng hoảng về nước

Nước đang trở thành tâm điểm tại nhiều diễn đàn lớn thế giới Tại Hội nghị Thượng đỉnh về môi trường tại Johannesburg, Nam Phi, nước được xếp ở vị trí cao nhất trong số 5 ưu tiên để phát triển bền vững (WEHAB), đó là: Nước – W; Năng lượng – E; Sức khỏe –H; Nông nghiệp-A; và đa dạng sinh học –B

Trước đây tài nguyên nước được quản lý theo hướng tiếp cận đơn ngành, nghĩa là nước được quản lý theo từng ngành dọc, theo đơn vị sử dụng nước riêng lẻ

và không có sự kết nối Để thay đổi nhận thức và cách tiếp cận về quản lý tài nguyên nước, tuyên bố Dublin năm 1992 đã nêu rõ “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước là một quá trình đẩy mạnh phối hợp phát triển và quản lý tài nguyên nước, đất

và các tài nguyên liên quan, sao cho tối đa hóa các lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng mà không phương hại đến tính bền vững của các hệ sinh thái thiết yếu”, đây được coi là nền tảng của công tác bảo vệ, quản lý tổng hợp nguồn nước Như vậy bảo vệ và quản lý tổng hợp tài nguyên nước không đơn thuần là việc quy hoạch, kế hoạch mà đây là một quá trình, trong đó cần nỗ lực quản lý theo hướng tổng hợp, cần giải quyết tốt các mối quan hệ tương tác giữa con người và tự nhiên; giữa đất và nước; giữa nước mặt và nước dưới đất; giữa khối lượng và chất lượng; giữa thượng lưu và hạ lưu; giữa nước ngọt và các vùng ven biển; giữa trong

và ngoài nước; giữa các đối tượng sử dụng nước

Hiện nay, tất cả các nước trên thế giới đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề gây ra bởi sự nóng lên toàn cầu và sự thay đổi của khí hậu Các hiện tượng như hạn hán và lũ lụt xảy ra thường xuyên ở các nước trên thế giới Nước không chỉ được nhìn nhận ở khía cạnh là một nguồn tài nguyên quý giá mà còn là chìa khóa để đảm bảo phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Tuy nhiên, với nhu cầu nước

Trang 8

ngày càng tăng (theo dự báo của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế, dự kiến tăng 55% trong khoảng thời gian từ năm 2000 - 2030) sẽ gây ra những áp lực, thách thức

to lớn cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội bền vững trên toàn cầu Theo đánh giá của nhiều cơ quan nghiên cứu về tài nguyên nước, hiện tại có khoảng 1/3 số quốc gia trên thế giới bị thiếu nước và đến năm 2025 con số này sẽ là 2/3 với khoảng 35% dân số thế giới sẽ rơi vào tình cảnh thiếu nước nghiêm trọng Hội nghị về nước của Liên hiệp quốc vào năm 1997 đã thống nhất: “Tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác, địa vị kinh tế, xã hội đều có quyền tiếp cận nước uống với số lượng và chất lượng đảm bảo cho các nhu cầu cơ bản của mình”, theo đó, tiếp cận với nước uống là quyền cơ bản của con người Tuy nhiên, cho đến nay, số người thiếu nước uống sạch an toàn vẫn đang không ngừng gia tăng Vì vậy, mối lo về nước không phải của riêng một quốc gia nào

Cùng chung xu thế phát triển của thế giới, Việt Nam luôn khẳng định “nước

là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước” và vì vậy, Chính phủ Việt Nam luôn nỗ lực tăng cường và kiện toàn thể chế, chính sách trong lĩnh vực tài nguyên nước Tầm quan trọng của tài nguyên nước đối với phát triển bền vững đã có sự chuyển biến rõ rệt cả về nhận thức và hành động Theo đó yêu cầu đặt ra là phải quản lý bền vững và hiệu quả hơn các hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước và phòng chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; quản lý tài nguyên nước phải theo phương thức tổng hợp, sử dụng đa mục tiêu và phải gắn với các tài nguyên thiên nhiên khác

Công tác quản lý tài nguyên nước không ngừng được tăng cường và đã có những bước tiến quan trọng trong cơ cấu tổ chức ngành nước từ trung ương đến địa phương với việc thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước, tách chức năng quản lý khỏi chức năng cung cấp các dịch vụ về nước là một bước đột phá hết sức quan trọng Đặc biệt trong năm

2014 đã ban hành Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc

Trang 9

tỉnh Đồng thời, thể chế về tài nguyên nước cũng không ngừng được hoàn thiện và kiện toàn để đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới: nhiều văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước trên phạm vi cả nước;

Tuy nhiên tài nguyên nước đang đối mặt với nhiều thách thức vô cùng nghiêm trọng: hơn 2/3 lượng nước trên các hệ thống sông của Việt Nam được hình thành từ ngoài lãnh thổ, trong khi cơ chế, chính sách hợp tác, chia sẻ nguồn nước giữa các quốc gia chưa hiệu quả Tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước vẫn tiếp tục gia tăng Cơ chế kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm, các hoạt động chặt phá rừng chưa hiệu quả Bên cạnh đó, tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước đang ngày càng rõ rệt hơn Thiên tai bão, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, ngập úng, nước biển dâng, đang ngày càng gia tăng cả về mức độ nghiêm trọng và phạm vi ảnh hưởng

Khu vực nghiên cứu thuộc thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Huế - Đà Nẵng – Quảng Nam) Quảng Nam - Đà Nẵng đã và đang phải đối mặt với sự thiếu hụt tài nguyên nước một cách nghiêm trọng trong thời gian tới do sự phát triển KTXH, tốc độ gia tăng dân số cao trong khi đó nguồn nước ngày càng cạn kiệt theo không gian và thời gian do các nguyên nhân chủ yếu như BĐKH, NBD; chặt phá rừng đầu nguồn; xây dựng công trình thủy điện không phù hợp quy hoạch; khai thác, quản lý tài nguyên nước mặt chưa hợp lý giữa các ngành, giữa các địa phương cũng như nhận thức của các cấp chính quyền và người dân chưa thực sự coi nước là tài nguyên có hạn cần phải sử dụng tiết kiệm, hiệu quả

Quảng Nam và Đà Nẵng có chung lưu vực sông Vu Gia- Thu Bồn và vùng

bờ Quảng Nam - Đà Nẵng Tuy nhiên sự phối kết giữa hai địa phương trong công tác quản lý và bảo vệ nguồn nước còn khá lỏng lẻo và chưa có sự đồng nhất, các hoạt động phát triển kinh tế mạnh mẽ cùng với cách tiếp cận quản lý tài nguyên nước chưa phù hợp đã làm suy giảm chức năng của lưu vực Về mặt địa lý và địa chính trị thì thành phố Đà Nẵng bị phụ thuộc rất lớn do Đà Nẵng nằm ở hạ lưu sông

Vu Gia trong khi đó Quảng Nam nằm ở thượng nguồn sông Vu Gia – Thu Bồn nên việc khai thác sử dụng quản lý nước của Quảng Nam nếu không được xem xét một

Trang 10

cách cẩn thận và toàn diện trên toàn lưu vực và hai địa phương thì có thể có lợi cho Quảng Nam nhưng lại bất lợi cho Đà Nẵng Ví dụ điển hình là công trình Thủy điện Đắk Mi 4 đã làm chuyển nước từ sông Vu Gia chảy về Đà Nẵng sang sông Thu Bồn chảy về Quảng Nam gây ra tình trạng thiếu nước nghiêm trọng cho Đà Nẵng

Hiện nay tại khu vực nghiên cứu đã ban hành các văn bản chính sách liên quan đến tài nguyên nước Công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức của cộng đồng xã hội tham gia thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước được quan tâm chú trọng Bên cạnh đó có sự phân công, phối hợp rõ ràng, hợp lý giữa các cơ quan, đơn

vị tổ chức thực hiện chính sách về tài nguyên nước; góp phần nâng cao hiệu quả bảo

vệ và quản lý tổng hợp nguồn nước Tuy nhiên bên cạnh những mặt đã đạt được, công tác thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước trên địa bàn khu vực nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế, như: việc phân cấp quản lý, phân phối nguồn nước sử dụng cho nông nghiệp giữa các đơn vị còn nhiều bất cập; cơ chế chia sẻ lợi ích và thể chế quản lý tổng hợp nguồn nước lưu vực sông chưa thực sự hiệu quả Tại vùng nghiên cứu đã có nhiều đề tài, dự án nghiên cứu về vấn đề tài nguyên nước Tuy nhiên các

đề tài, dự án nặng về tính học thuật trong tính toán thủy văn, thủy lực, từ đó đề xuất các giải pháp công trình là chủ yếu mà ít quan tâm đến thể chế, chính sách quản lý nguồn tài nguyên nước một cách bền vững Ngoài ra, trong bản thân hệ thống chính sách liên quan đến nguồn tài nguyên nước cũng như quá trình thực thi các chính sách đó; các cơ chế, chế tài được xây dựng để góp phần thực thi các chính sách còn nhiều hạn chế, bất cập; hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách trong lĩnh vực tài nguyên nước còn thiếu và chưa theo kịp thực tế…

Xuất phát từ các yêu cầu đó, cùng với những kiến thức đã học cũng như lĩnh

vực công tác chuyên môn nên học viên chọn đề tài “Thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam” góp phần bảo vệ

nguồn tài nguyên nước vô giá này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Các công trình nghiên cứu về TNN :

- Đề án Nghiên cứu về phát triển và quản lý TNN toàn quốc tại nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Đề án triển khai là sự phối kết hợp giữa Chính phủ

nước CHXHCN Việt Nam với Chính phủ Nhật Bản và giao nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 11

cho Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) Nghiên cứu đã hoạch định quy hoạch tổng thể về quản lý và phát triển TNN đến năm 2020 cho 14 lưu vực sông chính của Việt Nam

- Tổng luận Quản lý tổng hợp TNN – Tình hình quản lý TNN ở Việt Nam của

Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ cấp quốc gia Tổng luận Quản lý tổng hợp TNN – Tình hình quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam làm rõ thực trạng TNN và các hoạt động quản lý tổng hợp tài nguyên nước tại Việt Nam để từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp để bảo vệ tài nguyên nước

Tại khu vực nghiên cứu đã có rất nhiều đề tài, bài viết liên quan đến vấn đề tài nguyên nước như:

Đề tài: Nghiên cứu cân bằng và Quy hoạch tổng thể khai thác sử dụng bền vững các nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam - năm

2002 của Trường Đại học Mỏ - Địa chất Đề tài đánh giá xác định hiện trạng, khai thác sử dụng và tiềm năng các nguồn nước; Dự báo nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp và các nhu cầu khác theo quy hoạch phát triển kinh

tế - xã hội tỉnh Quảng Nam đến năm 2020;

Đề tài: Giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 - năm 2016 của Sở Tài nguyên và

Môi trường tỉnh Quảng Nam Đề tài đánh giá được hiện trạng và sự biến đổi tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo vệ tổng hợp tài nguyên nước đến năm 2030

Dự án: Đánh giá toàn diện nhằm hướng đến khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu đối với nguồn tài nguyên nước thành phố Đà Nẵng năm (2012-2015)

của Viện Khoa học Thủy lợi miền Trung và Tây Nguyên Dự án tiến hành nghiên cứu xác định sự mất cân bằng giữa nguồn cung cấp và nhu cầu sử dụng nước, sự tiếp cận nguồn nước trong bối cảnh các kịch bản về biến đổi khí hậu và phát triển

đô thị trong tương lai Xác định các giải pháp thiết thực và bền vững nhằm đáp ứng các nhu cầu về nước

Dự án: Quan hệ tương tác giữa biến đổi khí hậu và sử dụng đất ở miền Trung - Việt Nam năm (2010 – 2015) do Văn phòng LUCCI phối hợp với Viện

Khoa học Thủy lợi Việt Nam thực hiện nhằm xây dựng chiến lược quản lý tài

Trang 12

nguyên đất và nước dựa vào tiếp cận liên ngành trong các nghiên cứu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Dự án góp phần xây dựng chiến lược quản lý bền vững tài nguyên nước và sử dụng đất cho lưu vực sông Vu Gia

Đề tài: Nghiên cứu sử dụng tổng hợp nguồn nước các hồ đập phục vụ chiến lược phát triển KTXH TP Đà Nẵng trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng - năm (2013- 2016) của TS Hoàng Ngọc Tuấn – Viện Khoa học Thủy lợi miền Trung và Tây Nguyên Kết quả nghiên cứu của đề tài đã đưa ra các giải pháp

khoa học công nghệ nhằm quản lý, khai thác tổng hợp nguồn nước các hồ, đập ở thành phố Đà Nẵng phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố có xét đến ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng và đề xuất được phương

án khai thác hiệu quả tối ưu cho một số hồ vừa và lớn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho thành phố

Đề tài: Tài nguyên nước mặt vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam trong bối cảnh của biến đổi khí hậu của nhóm tác giả Lê Văn Hoàng, Lê Văn

Thăng, Hồ Đắc Thái Hoàng đăng trên Tạp chí Khoa học Công nghệ số 40/tháng

10-2011 Đề tài tập trung nghiên cứu với mục tiêu nhằm phân tích hiện trạng tài nguyên nước mặt hạ lưu hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn, vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam và đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến TNN vùng nghiên cứu

Các đề tài nghiên cứu trên nặng về tính học thuật trong tính toán thủy văn, thủy lực để từ đó đề xuất các giải pháp công trình là chủ yếu mà ít quan tâm đến thể chế, chính sách quản lý tài nguyên nước tổng hợp nói chung và quản lý nguồn nước nói riêng Chính vì vậy cần phải có sự nghiên cứu sâu và toàn diện hơn về vấn đề

này Đây cũng là lý do học viên chọn đề tài “Thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam” cho luận văn thạc sĩ của

Trang 13

thiện, bổ sung chính sách và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tại thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước của Việt Nam

- Nghiên cứu thực trạng và công cụ thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước tại Quảng Nam – Đà Nẵng Đánh giá thành công và hạn chế của việc thực hiện các chính sách đó

- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước tại Quảng Nam – Đà Nẵng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các chính sách bảo vệ nguồn nước mặt cho thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam Trong khuôn khổ, luận văn không nghiên cứu về chính sách bảo vệ nguồn nước ngầm

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam

- Về thời gian: từ năm 2010 đến 2017 và dự báo đến 2030

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu chính sách công đa ngành, liên ngành khoa học xã hội, trong đó chú ý nhiều đến tiếp cận thực hiện chính sách có sự tham dự, tham gia của các chủ thể chính sách

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và thực tế

- Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập, phân tích và khai thác thông tin

từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ, ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới chính sách bảo vệ

Trang 14

nguồn nước ở nước ta nói chung và vùng nghiên cứu nói riêng

- Phương pháp phân tích chính sách: Là đánh giá tính toàn vẹn, tính

thống nhất, tính khả thi và hiệu quả của chính sách nhằm điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu và thực tế

- Phương pháp thống kê: Là phương pháp thu thập, tổng hợp, trình bày số

liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và đề ra các quyết định

- Phương pháp tiếp thu, kế thừa: Luận văn đã tìm hiểu, phân tích và tiếp thu

có chọn lọc các kết quả đã nghiên cứu có liên quan

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

- Học viên đã nghiên cứu và vận dụng các lý thuyết về chính sách công và quy trình phân tích một chính sách công để làm rõ vấn đề về khoa học và thực tiễn của một chính sách cụ thể

- Kết quả đánh giá nghiên cứu làm sáng tỏ, minh chứng cho các thuyết liên quan đến chính sách công, từ đó hình thành các tiến trình đề xuất các giải pháp chính sách nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách đã ban hành

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc vận dụng các lý thuyết về chính sách công, quy trình phân tích chính sách công để xem xét giữa lý thuyết và thực tiễn về chính sách bảo vệ nguồn nước ở thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam để từ đó nâng cao hiệu quả của chính sách trong những năm tiếp theo

- Góp phần cung cấp thêm các cơ sở khoa học cho Ủy ban nhân dân Tỉnh, các Sở, ban, ngành, đoàn thể có liên quan trong quá trình thực hiện chính sách bảo

vệ nguồn nước để chính sách có thể mang lại hiệu quả trong việc phát triển kinh tế,

xã hội, bảo vệ nguồn tài nguyên nước của địa phương trong tương lai

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước ở Việt Nam

Trang 15

- Chương 2: Thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước tại thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam

- Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước tại phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam

CHƯƠNG 1

Trang 16

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC Ở VIỆT NAM

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm nguồn nước

Cuộc sống thường ngày của chúng ta luôn được gắn liền với nước, từ những công việc nhỏ nhất như nấu nướng, giặt giũ, sinh hoạt… cho đến những công việc lớn lao hơn như đồng áng, sản xuất Nước được chúng ta sử dụng thường xuyên như vậy nhưng lại ít ai quan tâm đến nó Vậy nguồn nước là gì? Và nguồn nước nào có thể sử dụng được? Hiện nay có khá nhiều khái niệm về nguồn nước được trình bày, sau đây là một số khái niệm:

- Theo J.A.Jonnes, tài nguyên nước được chia thành ba loại:

+ Tài nguyên tiềm năng tương lai, là toàn bộ lượng nước có trên Trái Đất

mà trong điều kiện hiện nay loài người hầu như chưa có khả năng khai thác, như nước ngầm nằm rất sâu, nước trong băng tuyết hai cực, nước biển và đại dương… + Tài nguyên tiềm năng thực tại, là lượng nước có trong lãnh thổ, nhưng ở trạng thái tự nhiên con người khó khai thác và có nguy cơ bị nó gây hại, hoặc xảy ra rủi ro, ví dụ như nước lũ, nước ngầm nằm sâu…

+ Tài nguyên hiện thực của một vùng, là khái niệm trùng với quan điểm truyền thống hiện nay, chỉ toàn bộ lượng nước có trong các thuỷ vực mặt và ngầm

mà con người dễ dàng khai thác sử dụng.[13, tr.7]

- Tại Điều 2, Luật Tài nguyên nước Việt Nam (2012) định nghĩa:

+ Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

+ Nguồn nước là các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng bao gồm sông, suối, kênh, rạch, hồ, ao, đầm, phá, biển, các tầng chứa nước dưới đất; mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác Rõ ràng, tài nguyên nước của một lãnh thổ là toàn bộ lượng nước có trong đó mà con người có thể khai thác và sử dụng được xét cả mặt lượng và chất, cho sinh hoạt, sản xuất trong hiện tại và tương lai

Trang 17

1.1.1.2 Chính sách, chính sách công và chính sách bảo vệ nguồn nước

1.1.1.2.1 Chính sách

Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống xã hội Mỗi khi có vấn đề gì nổi cộm trong xã hội, công chúng trông chờ vào những phản ứng của chính quyền Những phản ứng đó khi định hình và thể hiện một cách chính thức được gọi dưới cái tên “chính sách” “Mọi tổ chức, mọi cấp quản lý đều phải sử dụng các công cụ quản lý để tác động lên đối tượng quản lý theo một cách thức nào đó nhằm

đạt tới mục tiêu mong muốn” [9, tr.6]

Mặc dù chính sách của nhà nước là vấn đề nghiên cứu từ rất lâu, nhưng chỉ trở thành vấn đề được xem xét có tính hệ thống từ vài thập kỷ gần đây Sự phát triển của nó gắn với một số (không nhiều) sự kiện lớn trên thế giới, đánh dấu sự thay đổi

từ khi kết thúc thế chiến thứ hai Khái niệm khoa học chính sách được Lasswell đề cập lần đầu tiên từ năm 1951 Đến nay, khoa học chính sách đã có những phát triển mạnh mẽ, trở thành một trong những nội dung trọng tâm của khoa học xã hội

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về vấn đề chính sách, mỗi cách tiếp cận liên quan trực tiếp tới tính đặc thù của từng lĩnh vực, như: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa… Mỗi cách tiếp cận giúp người chuẩn bị quyết định chính sách một hướng

tư duy Từ thực tế chính sách của các ngành, các địa phương và các quốc gia, cũng như qua những cuộc thảo luận trên các diễn đàn nghiên cứu chính sách, dưới đây là một số định nghĩa khác nhau về chính sách:

- Nhà chính trị học Mỹ - Theodore Lowi cho rằng: “Chính sách là cái biểu

hiện của chính trị” [27, tr.677]

- Theo Từ điển tiếng Việt “chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch

cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình

hình thực tế mà đề ra chính sách…” [33, tr.157]

Tóm lại, chính sách được hiểu là tập hợp các biện pháp do các nhà lãnh đạo/nhà quản lý đề ra để giải quyết các vấn đề trong đời sống xã hội, là khung thể chế cho các hoạt động trong thực tiễn

1.1.1.2.2 Chính sách công

Cụm từ “chính sách” khi gắn với vai trò, chức năng của “khu vực công” được gọi là chính sách công (CSC) Đây không chỉ đơn giản là sự ghép từ thuần

Trang 18

túy, mà đã có sự thay đổi cơ bản về nghĩa, bởi nó có sự khác biệt về chủ thể ban hành chính sách, về mục đích tác động của chính sách và vấn đề mà chính sách hướng tới giải quyết

CSC là chính sách của nhà nước, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại, phát triển của nhà nước CSC có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Đến nay, đã có nhiều định nghĩa về CSC, cụ thể:

William Jenkins đưa ra định nghĩa: “CSC là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với

việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó” [15, tr.5]

Theo tác giả, CSC là một quá trình chứ không chỉ đơn giản là một sự lựa chọn; đồng thời, định nghĩa này cũng cho thấy một cách rõ ràng CSC là “một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau” và quá trình chính sách là hành vi định hướng mục tiêu của nhà nước

Theo tác giả Lê Chi Mai: “CSC là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong

đời sống KTXH theo mục tiêu xác định” [14, tr.38]

Như vậy có rất nhiều định nghĩa về “CSC” tùy theo những góc độ tiếp cận khác nhau Tựu chung lại, có thể hiểu “CSC là tập hợp các quyết định của Nhà nước

để giải quyết các vấn đề đặt ra trong đời sống của cộng đồng, người dân nhằm hướng tới mục tiêu phát triển KTXH” Hiểu theo nghĩa rộng: là kết quả của việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng cầm quyền thành các quyết định, tập hợp các quyết định chính trị với mục tiêu, giải pháp, công cụ nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế, xã hội và phục vụ người dân

1.1.1.2.3 Chính sách bảo vệ nguồn nước

Tài nguyên nước thuộc sở hữu của toàn dân, là tài sản của nhà nước và là tài nguyên đặc biệt quan trọng Do đó chính sách bảo vệ nguồn nước là chính sách

công Có thể định nghĩa Chính sách bảo vệ nguồn nước là tập hợp các quyết định của Nhà nước nhằm đưa ra các giải pháp, công cụ chính sách để giải quyết các vấn

đề về bảo vệ tài nguyên nước nhằm thực hiện các mục tiêu bảo vệ nguồn nước cho phát triển bền vững của đất nước

Trang 19

1.1.2 Một số lý luận về thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước

1.1.2.1 Cơ sở lý luận thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước

Nhà nước phải ban hành một hệ thống các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ nguồn nước, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hoạt động bảo vệ nguồn nước Tuy nhiên, để những chính sách và pháp luật về bảo vệ nguồn nước đi vào cuộc sống và trở thành hành vi xử sự, hợp pháp của các chủ thể pháp luật về bảo vệ nguồn nước, phát huy tác dụng của nó trong thực tiễn, Nhà nước phải giữ vai trò trụ cột trong việc thực hiện và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ nguồn nước

Thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của chính sách và pháp luật về bảo vệ nguồn nước đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong thực hiện pháp luật về bảo vệ nguồn nước; bảo vệ, phòng ngừa và xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về bảo vệ nguồn nước Chính sách bảo vệ nguồn nước được tổ chức thực hiện thông qua hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên nước cùng với sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, , tổ chức nghề nghiệp và các cộng đồng trong xã hội

Các hình thức tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước rất đa dạng, phong phú Hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên nước của nhà nước và hệ thống các

tổ chức, các cộng đồng được phối kết hợp với nhau trong tổ chức thực hiện chính sách tài nguyên nước dưới nhiều hình thức khác nhau

Các nguyên tắc về bảo vệ Tài nguyên nước theo quy định tại Điều 3, Luật Tài nguyên nước năm 2012 gồm:

- Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra phải tuân theo chiến lược, quy hoạch tài nguyên nước đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; gắn với bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử -văn hóa, danh lam thắng cảnh và các tài nguyên thiên nhiên khác; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội

- Bảo vệ tài nguyên nước là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân và phải lấy phòng ngừa là chính, gắn với việc bảo vệ, phát triển rừng, khả năng tái tạo tài nguyên nước, kết hợp với bảo vệ chất lượng nước và hệ sinh thái thủy sinh, khắc

Trang 20

phục, hạn chế ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước

- Việc quản lý tài nguyên nước phải bảo đảm thống nhất theo lưu vực sông, theo nguồn nước, kết hợp với quản lý theo địa bàn hành chính

- Tài nguyên nước phải được quản lý tổng hợp, thống nhất cả về số lượng và chất lượng nước; giữa nước mặt và nước dưới đất; nước trên đất liền và nước vùng cửa sông, nội thủy, lãnh hải, giữa thượng lưu và hạ lưu, kết hợp với quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác

- Khai thác, sử dụng tài nguyên nước phải tiết kiệm, an toàn, có hiệu quả; bảo đảm sử dụng tổng hợp, đa mục tiêu, công bằng, hợp lý, hài hòa lợi ích, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các tổ chức, cá nhân

- Các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh phải gắn với khả năng nguồn nước, bảo vệ tài nguyên nước; bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông không vượt quá ngưỡng khai thác đối với các tầng chứa nước và có các biện pháp bảo đảm đời sống dân cư

- Bảo đảm chủ quyền lãnh thổ, lợi ích quốc gia, công bằng, hợp lý trong bảo

vệ, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra đối với các nguồn nước liên quốc gia

1.1.2.2 Quy trình thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước

Việc tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước thông qua 7 bước cơ bản Mỗi một bước trong tổ chức thực hiện đều cần có sự đầu tư nghiêm túc, không coi trọng bước này hay bước kia, nó có sự liên kết chặt chẽ và tương hỗ lẫn nhau

- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước

Tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước là quá trình phức tạp lại diễn

ra trong thời gian dài, do đó cần phải xây dựng kế hoạch Các cơ quan từ trung ương đến địa phương đều phải xây dựng các kế hoạch thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước Nội dung của kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước phải phù hợp, sát với tình hình thực tế của địa phương trên cơ sở Luật Tài nguyên nước và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường

- Phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo vệ nguồn nước

Đây là bước quan trọng, giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách bảo vệ nguồn nước cũng như

Trang 21

tính đúng đắn của các chính sách bảo vệ nguồn nước để họ tự giác thực hiện Đồng thời, giúp cho cán bộ công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi chính sách bảo vệ nguồn nước nhận thức đầy đủ tính chất, quy mô, tầm quan trọng của chính sách để

họ tích cực tìm kiếm các giải pháp thực hiện

- Phân công, phối hợp thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước

Đa số các chính sách bảo vệ nguồn nước được triển khai thực hiện trong phạm

vi cả nước và có nhiều đơn vị tham gia, do đó cần phải có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, các ngành, các cấp để đem lại hiệu quả cao hơn và duy trì sự ổn định của chính sách

- Duy trì chính sách bảo vệ nguồn nước

Là hoạt động đảm bảo cho chính sách bảo vệ nguồn nước tồn tại và phát huy được tác dụng trong môi trường thực tế Để duy trì được chính sách bảo vệ nguồn nước đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước và cán bộ phụ trách tài nguyên nước ở các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở phải hiểu rõ chính sách, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để chính sách được thực thi tốt

- Điều chỉnh chính sách bảo vệ nguồn nước

Cơ quan nào ban hành chính sách bảo vệ nguồn nước thì cơ quan đó có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách cho phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế Việc điều chỉnh không được làm thay đổi mục tiêu ban đầu của chính sách nguồn nước, chỉ điều chỉnh biệp pháp, cơ chế thực hiện và các nội dung khác

- Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước

Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước phải được tiến hành thường xuyên, qua đó, giúp cho các cơ quan quản lý về nguồn nước nắm rõ được tình hình thực thi chính sách, nội dung nào thực hiện thuận lợi, nội dung nào còn vướng mắc để kịp thời bổ sung hoàn thiện chính sách bảo vệ nguồn nước

- Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước

Sau thời gian triển khai thực hiện các chính sách bảo vệ nguồn nước, các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành xem xét đánh giá, tổng kết về chỉ đạo điều hành và chấp hành chính sách bảo vệ nguồn nước của các đối tượng thực thi chính sách Thước đo để đánh giá kết quả thực thi chính sách bảo vệ nguồn nước là: tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách; ý

Trang 22

thức chấp hành các quy định về cơ chế, biện pháp thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện về không gian và thời gian

1.1.3 Các nhân tố tác động tới thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước

Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách công nói chung và chính sách bảo vệ nguồn nước nói riêng có nhiều và được phân chia thành các nhóm khác nhau Ở đây

sử dụng cách phân chia thành: nhóm yếu tố chủ quan và nhóm yếu tố khách quan

1.1.3.1 Các yếu tố chủ quan

a) Hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị của mỗi quốc gia sẽ chi phối cả nội dung lẫn hình thức của việc xây dựng và triển khai chính sách công, nó phản ánh bản chất của chế độ chính trị xã hội của quốc gia đó Trong hệ thống chính trị thì có thể chia các yếu tố nhỏ hơn

nữa Bao gồm các yếu tố về văn hóa chính trị, hiến pháp, thế chế chính trị [7, tr.90]

- Văn hóa chính trị

Văn hóa chính trị tác động mạnh mẽ đến chính sách công nói chung và chính sách bảo vệ nguồn nước nói riêng vì nó tạo nên niềm tin chính trị, ý thức chính trị của những nhà hoạch định chính sách đặc biệt là chính sách bảo vệ nguồn nước được xem là vấn đề văn hóa và đạo đức Bảo vệ nguồn nước còn liên quan cả đến phát triển bền vững bao hàm cả 3 yếu tố phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và công bằng xã hội

- Hiến pháp

Hiến pháp là yếu tố quan trọng thứ hai ảnh hưởng đến quá trình xây dựng chính sách công Hiến pháp năm 2013 là cơ sở pháp lý cao nhất buộc mọi chính sách công phải tuân theo Do đó, chính sách bảo vệ nguồn nước cũng được xây dựng và tổ chức thực hiện trong khuôn khổ của Hiến pháp Những quy định của chính sách bảo vệ tài nguyên nước cũng phải tuân theo Hiến pháp và không được vượt qua khỏi những quy định của pháp luật

- Thể chế chính trị

Trong giai đoạn hiện nay, cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ nguồn nước

và việc tổ chức thực hiện của các cơ quan chức năng vẫn còn những hạn chế, bất cập Theo thống kê của Bộ Tư pháp (2014), hiện nay có khoảng 100 văn bản pháp luật về bảo vệ nguồn nước để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt

Trang 23

động kinh tế, các quy trình kỹ thuật, quy trình sử dụng nguyên liệu trong sản xuất Tuy nhiên, hệ thống các văn bản này vẫn còn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, tính ổn định không cao, tình trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung là khá phổ biến, từ đó làm hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành

vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế, trong việc bảo vệ nguồn nước

b) Hệ thống các giá trị xã hội

Hệ thống các giá trị xã hội bao gồm sự đa dạng về văn hóa, truyền thống, thói quen, phong tục, tập quán, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, tầng lớp xã hội, các nhóm lợi ích, nhóm xã hội Chính sách bảo vệ nguồn nước phải thể hiện sự tồn tại trong

sự đa dạng và thỏa hiệp của hệ thống các giá trị xã hội

c) Năng lực của bộ máy quản lý, trong đó năng lực, trình độ nghiệp vụ của cán

bộ quản lý có vai trò quyết định

1.1.3.2 Các yếu tố khách quan

- Điều kiện tự nhiên

Trong thời gian gần đây thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát triển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ nguồn nước chưa chú trọng đúng mức Tình trạng tách rời công tác bảo

vệ tài nguyên nước với sự phát triển kinh tế - xã hội, tình trạng khai thác cạn kiệt nguồn nước diễn ra phổ biến dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm nguồn nước ngày càng nghiêm trọng

- Công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và tăng trưởng kinh tế

Quá trình CNH - HĐH có tác động nhiều mặt và đặt ra những yêu cầu mới đối với việc bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ nguồn nước nói riêng

Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa đòi hỏi nhu cầu nước cho sản xuất và dân sinh ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng, nhưng phát triển cũng ảnh

Trang 24

hưởng tiêu cực đến chất lượng, trữ lượng nguồn nước Nhu cầu về nước ngày càng tăng dẫn đến việc khai thác sử dụng tài nguyên nước ngày càng nhiều Suy thoái, cạn kiệt nguồn nước mặt, nước ngầm, thiếu nước, khan hiếm nước trở nên phổ biến hơn Việt Nam đang đứng trước thách thức lớn về bảo đảm an ninh nguồn nước cho phát triển và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững Sẽ khó khăn hơn nếu chúng ta không có những cơ chế, chính sách để chia sẻ nguồn nước một cách hợp lý

và thay đổi cơ bản trong việc quản lý, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước

1.1.3.3 Chủ thể và các bên liên quan trong thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước

Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực như: Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành thực hiện chức năng quản lý nhà nước Chính sách bảo vệ nguồn nước cũng là một trong những chính sách công của nhà nước, do đó, chủ thể ban hành chính sách bảo vệ nguồn nước cũng là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường Ngoài ra, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các đơn

vị sự nghiệp công lập cũng ban hành các văn bản phục vụ cho hoạt động quản lý đơn vị mình và tổ chức triển khai thực hiện

a Chủ thể thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước

* Cấp Trung Ương:

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tài nguyên nước Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về tài nguyên

nước, quản lý lưu vực sông trong phạm vi cả nước (Theo Luật Tài nguyên nước, luật số

17/2012/QH13 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2013, trong chương VIII)

Trang 25

Bảng 1.1 Chức năng quản lý có liên quan đến tài nguyên nước của một số

3 Bộ Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn

Quy hoạch, xây dựng, quản lý các hệ thống phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai, các công trình thủy lợi, các vùng đất nông nghiệp,công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

4 Bộ Công thương Quy hoạch, xây dựng, vận hành và quản lý các

công trình thủy điện

5 Bộ Xây dựng Quy hoạch không gian đô thị và xây dựng các

công trình cấp thoát nước và vệ sinh

6 Bộ Giao thông Quy hoạch xây dựng và quản lý các hệ thống

giao thông thủy

7 Bộ Y tế Quản lý chất lượng nước dùng cho ăn uống

8 Bộ Kế hoạch và Đầu tư Xây dựng kế hoạch và đầu tư cho ngành nước

9 Bộ Tài chính Xây dựng các chính sách về thuế và phí tài

nguyên nước

*Cấp Địa phương

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương

UBND cấp tỉnh, thành phố có trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước như sau (Luật Tài nguyên nước số 17/20/2012/QH 13 Điều 71 quy định): Ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật

về tài nguyên nước;

Lập, phê duyệt, công bố và tổ chức thực hiện quy hoạch tài nguyên nước, kế hoạch điều tra cơ bản, điều hòa, phân phối tài nguyên nước, phục hồi nguồn nước bị

Trang 26

ô nhiễm, cạn kiệt;

Khoanh định, công bố vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất, vùng cần bổ sung nhân tạo nước dưới đất và công bố dòng chảy tối thiểu, ngưỡng khai thác nước dưới đất theo thẩm quyền, khu vực cấm, khu vực tạm thời cấm khai thác cát, sỏi và các khoáng sản trên sông; công bố danh mục hồ, ao, đầm phá không được san lấp;

Tổ chức ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước; theo dõi, phát hiện và tham gia giải quyết sự cố ô nhiễm nguồn nước liên quốc gia theo thẩm quyền; lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước, vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt; bảo đảm nước sinh hoạt trong trường hợp hạn hán, thiếu nước hoặc xảy ra sự

cố ô nhiễm nguồn nước;

Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tài nguyên nước;

Cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép về tài nguyên nước và cho phép chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước theo thẩm quyền;hướng dẫn việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước;

Thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật về tài nguyên nước

- Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã

UBND có trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước của cấp huyện,

xã như sau (theo Luật Tài nguyên nước số 17/20/2012/QH 13, Điều 71 quy định):

Thực hiện các biện pháp bảo vệ tài nguyên nước theo quy định của pháp luật; phối hợp với cơ quan, tổ chức quản lý trạm quan trắc, đo đạc, giám sát tài nguyên nước, công trình thăm dò, khai thác nước, xả nước thải vào nguồn nước

để bảo vệ các công trình này;

Tổ chức ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước; theo dõi, phát hiện

và tham gia giải quyết sự cố ô nhiễm nguồn nước liên quốc gia theo thẩm quyền; Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tài nguyên nước; xử lý phạm pháp luật về tài nguyên nước; hòa giải, giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước theo thẩm quyền;

Định kỳ tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp tình hình quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc

Trang 27

phục hậu quả tác hại do nước gây ra;

Tổ chức đăng ký hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước theo thẩm quyền;

Thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên nước theo phân cấp hoặc uỷ quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Phòng Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về: đất đai, tài nguyên nước…

b Các bên liên quan khác trong thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước

- Trách nhiệm và quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về TNN tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ tài nguyên nước, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và chấp hành các quy định của pháp luật về tài nguyên nước; giám sát việc bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước

- Trách nhiệm và quyền của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp

Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có trách nhiệm sau: tuân thủ pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước; tham gia các hoạt động bảo vệ nguồn nước

1.2 Thực tiễn thực hiện chính sách bảo vệ tài nguyên nước của Việt Nam

1.2.1 Quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về bảo vệ nguồn nước

1.2.1.1 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về bảo vệ nguồn nước

Tài nguyên nước ngày càng được khẳng định là một nhân tố của phát triển, do

đó bảo vệ tài nguyên nước là trụ cột của phát triển bền vững mà phát triển bền vững

là yêu cầu xuyên suốt trong mọi quyết định phát triển Bảo vệ nguồn nước là vấn đề

đã được các kỳ đại hội Đảng và nhiều văn kiện quan trọng liên tục đề cập đến, các văn kiện đại hội đã định ra các quan điểm, mục tiêu và giải pháp phù hợp, kịp thời Luật Tài nguyên nước số 17/20/2012/QH 13 được xây dựng trên cơ sở quán triệt sâu sắc, thể chế hóa đầy đủ các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, cụ thể:

- Tài nguyên nước thuộc sở hữu toàn dân, là tài sản của Nhà nước và là tài

Trang 28

nguyên đặc biệt quan trọng, tư liệu thiết yếu cho cuộc sống của con người, phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài

- Nhà nước là đại diện chủ sở hữu toàn dân về tài nguyên nước, vì vậy, các quy định của Luật về bảo vệ tài nguyên nước phải phải thể hiện rõ các quyền năng của chủ sở hữu, đồng thời Nhà nước bảo đảm quyền sở hữu đối với vốn đầu tư, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân tham gia khai thác, sử dụng tài nguyên nước

- Khai thác, sử dụng tài nguyên nước phải đi đôi với bảo vệ tài nguyên nước, bảo vệ môi trường và các tài nguyên thiên nhiên khác Tài nguyên nước có thể tái tạo nhưng hữu hạn, nhất thiết phải được khai thác có hiệu quả và sử dụng tiết kiệm, tổng hợp, đa mục tiêu Đồng thời phải có các biện pháp chủ động phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước hiệu quả để bảo vệ, giữ gìn tài nguyên nước, đảm bảo khai thác bền vững, lâu dài

- Bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, đồng bộ với các luật chuyên ngành có liên quan và phù hợp với các điều ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực tài nguyên nước

mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

1.2.1.2 Các chính sách quốc gia về bảo vệ nguồn nước

Tài nguyên nước không chỉ được nhìn nhận ở khía cạnh là một nguồn tài nguyên quý giá mà còn là chìa khóa để đảm bảo phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Đối với Việt Nam, quản lý và bảo vệ tài nguyên nước trải qua một chặng đường phát triển khá dài Trước khi có Luật Tài nguyên nước, quản lý nhà nước về tài nguyên nước vẫn theo địa giới hành chính và do từng ngành sử dụng nước tự đảm nhiệm

Bước ngoặt đầu tiên mở ra hướng mới cho ngành nước Việt Nam được đánh dấu với sự ra đời của Luật Tài nguyên nước số 08/1998/QH10 năm 1998 Năm

2002, Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập và được giao thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước trên phạm vi cả nước Hàng loạt các văn bản dưới luật ra đời sau đó có vai trò quan trọng trong định hướng quản lý tổng hợp tài nguyên nước và thúc đẩy thay đổi thể chế, chính sách quản lý và bảo vệ tài nguyên nước

Trang 29

Có thể nói rằng Luật tài nguyên nước năm 1998 đã thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng và chiến lược phát triển đất nước có liên quan đến lĩnh vực tài nguyên nước, đưa Việt Nam hòa vào quỹ đạo chung của thế giới theo hướng tiếp cận quản lý tổng hợp tài nguyên nước Ngày 21/6/2012, Luật Tài nguyên nước sửa đổi được Quốc hội thông qua, đã tập trung khắc phục các bất cập trong Luật năm

1998, thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng, chiến lược phát triển đất nước có liên quan đến tài nguyên nước và khẳng định định hướng quản lý tổng hợp tài nguyên nước

Quan điểm quản lý tổng hợp, toàn diện tài nguyên nước đã được luật hóa và được quy định trong Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13 - văn bản pháp lý cao nhất về lĩnh vực tài nguyên nước Luật có hiệu lực từ tháng 1 năm 2013, từ sau đó

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã khẩn trương chỉ đạo công tác rà soát, xây dựng nhiều văn bản mới theo tinh thần của Luật Tài nguyên nước năm 2012, đảm bảo đáp ứng các yêu cầu của công tác quản lý tài nguyên nước trong bối cảnh mới

Để quy định chi tiết thi hành Luật Tài nguyên nước, một hệ thống văn bản dưới Luật đã được ban hành, bao gồm:

- Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29/03/ 2013 của Chính phủ về phí bảo

vệ môi trường đối với nước thải

- Nghị định số 142/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 10/2013 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản

- Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ về Quy định chi tiết một số điều của Luật tài nguyên nước Theo đó, Nghị định quy định việc lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước,

xả nước thải vào nguồn nước; tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước và chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước; tổ chức lưu vực sông và việc điều phối giám sát hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trên lưu vực sông

- Quyết định số 182/QĐ-TTg ngày 23/01/2014 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước giai đoạn 2014-2020

Trang 30

- Quyết định số 182/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt

Kế hoạch hành động quốc gia nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước giai đoạn 2014 -2020

- Thông tư số 13/2014/TT-BTNMT ngày 17/2/2014 Quy định kỹ thuật điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất

- Thông tư số 12/2014/TT-BTNMT ngày 17 tháng 02 năm 2014 của Bộ Tài nguyên Môi trường Quy định kỹ thuật điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt

- Quyết định số 818/2014/QĐ-CTN của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc Việt Nam gia nhập Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho các mục đích phi giao thông thủy

- Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06/8/2016 của Chính phủ: Về thoát nước

và xử lý nước thải đối với các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình trên phạm vi cả nước

- Nghị định số 43/2015/NĐ-CP, ngày 06/5/2015 của Chính phủ Quy định lập, quản lý hàng lang bảo vệ nguồn nước Nghị định này quy định việc lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước được quy định tại Điều 31 của Luật tài nguyên nước

số 17/2012/QH13

- Nghị định số 54/2015/NĐ-CP, ngày 8/6/2015 của Chính phủ Quy định về

ưu đãi đối với hoạt động sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả Theo đó, Nghị định quy định ưu đãi về vay vốn, miễn, giảm thuế đối với hoạt động sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả

- Thông tư số 24/2016/TT-BTNMT Quy định việc xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt

- Nghị định số 154/2016/NĐ-CP của Chính phủ: Về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

- Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 thay thế Nghị định số 142/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản

- Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17/07/2017 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước

- Thông tư số 47/2017/TT-BTNMT ngày 07/11/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước

Trang 31

- Thông tư số 64/2017/TT-BTNMT ngày 22/12/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về xác định dòng chảy tối thiểu trên sông, suối và hạ lưu các

hồ chứa, đập dâng…

1.2.2 Kết quả thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước của Việt Nam

Chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước được chính thức thống nhất quản lý từ trung ương đến địa phương thông qua Nghị quyết số 02/2002/QH11 ngày

5 tháng 8 năm 2002 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa

XI

Trong những năm qua, hệ thống văn bản pháp luật về tài nguyên nước đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường tập trung xây dựng, từng bước hoàn thiện, tạo lập hành lang pháp lý cơ bản cho công tác quản lý TNN từ trung ương đến địa phương thông qua việc xây dựng, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền tổng số gần 35 văn bản pháp luật về TNN Đặc biệt,

để đảm bảo tính đồng bộ, đáp ứng yêu cầu quản lý tài nguyên nước trong tình hình mới, ngày 21/6/2012 Quốc hội đã thông qua Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13

Ngay sau khi Luật tài nguyên nước được Quốc hội thông qua, Bộ Tài nguyên

và Môi trường đã tập trung chỉ đạo khẩn trương xây dựng, trình ban hành tổng cộng

37 văn bản bao gồm: 05 Nghị định của Chính phủ, 14 quyết định của Thủ tướng chính phủ và ban hành 18 thông tư Đây là những công cụ pháp lý hữu hiệu đóng góp quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước hiệu quả

Cơ chế tài chính, chủ trương kinh tế hóa trong lĩnh vực tài nguyên nước bước đầu đã được thể chế hóa thông qua các văn bản đã được Bộ tài chính ban hành như quy định về quản lý nguồn kinh tế trong quản lý tài nguyên nước, quy định tăng thuế khai thác sử dụng tài nguyên nước, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước

và quy định về phí thẩm định hồ sơ cấp phép Nguyên tắc “người dùng nước phải trả tiền” đã được đưa vào quy định của Luật năm 2012 theo quy định về “Tiền cấp quyền khai thác” Nước đã được coi là sản phẩm hàng hóa; các hoạt động bảo vệ, phát triển tài nguyên nước được thực hiện theo hướng xã hội hóa; có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển các dịch vụ về nước và sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả

Trang 32

Công tác quản lý tài nguyên nước không ngừng được tăng cường và đã có những bước tiến quan trọng trong cơ cấu tổ chức ngành nước từ trung ương đến địa phương với việc thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước, tách chức năng quản lý khỏi chức năng cung cấp các dịch vụ về nước là một bước đột phá hết sức quan trọng Đặc biệt trong năm

2014 đã ban hành Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của của Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Đồng thời, thể chế về tài nguyên nước cũng không ngừng được hoàn thiện và kiện toàn để đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới: nhiều văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước trên phạm vi cả nước Sở Tài nguyên và Môi trường đã được thành lập tại tất cả 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với các đơn vị chuyên trách trực thuộc để thực hiện nhiệm vụ quản lý tài nguyên nước trên địa bàn Công tác đào tạo và tăng cường nguồn nhân lực về quản lý tài nguyên nước luôn được quan tâm, coi trọng và được thực hiện đồng bộ ở tất cả các cấp

Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện Đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 11 quy trình vận hành liên hồ chứa trên 11 lưu vực sông phải xây dựng quy trình (bao gồm các lưu vực sông: Ba, Vu Gia – Thu Bồn, Sê San, Srepok, Mã, Cả, Kôn –Hà Thanh, Trà Khúc, sông Hồng, Đồng Nai và lưu vực sông Hương) nhằm làm giảm lũ cho hạ

du trong mùa lũ, tăng hiệu quả sử dụng nước và đảm bảo nguồn nước cho sản xuất

ở khu vực hạ du trong mùa cạn

Công tác quản lý lưu vực sông, quản lý các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, điều hòa phân bổ nguồn nước trên các lưu vực sông đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường triển khai thực hiện mạnh mẽ Bộ đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Danh mục lưu vực sông gồm 392 sông liên tỉnh làm căn cứ để triển khai các hoạt động quản lý lưu vực sông, phân cấp quản lý, Bộ đã ban hành Danh

Trang 33

mục lưu vực sông nội tỉnh gồm trên 3045 sông nội tỉnh

Công tác điều tra cơ bản về tài nguyên nước đã được triển khai trên tất cả các mặt: điều tra đánh giá tài nguyên nước mặt, nước dưới đất; tình hình khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước; lập bản đồ lưu vực sông Về cơ bản đến nay các thông tin, số liệu về tình hình tài nguyên nước, khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước trên hầu hết các lưu vực sông lớn và các vùng kinh tế trọng điểm, các khu đô thị lớn, một số đảo lớn đã được thu thâp, cập nhật, làm cơ sở cho công tác quản lý

Công tác cấp phép tài nguyên nước bao gồm: cấp phép thăm dò, khai thác sử dụng nước mặt, nước biển, nước dưới đất, xả nước thải vào nguồn nước và hành nghề khoan nước dưới đất Từ năm 2013 đến hết tháng 01/2017, các địa phương cấp 14.600 giấy phép, trung ương cấp 620 giấy phép trong lĩnh vực tài nguyên nước

Công tác bảo vệ tài nguyên nước đã được đẩy mạnh thực hiện thông qua việc xây dựng và triển khai các quy định pháp luật về bảo vệ hành lang bảo vệ nguồn nước, bảo vệ lòng, bờ bãi sông, phòng chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; lập quy hoạch tài nguyên nước…

Công tác hợp tác quốc tế nhằm bảo đảm an ninh nước quốc gia được quan tâm, chú trọng Đối với nguồn nước liên quốc gia, Việt Nam có chính sách hợp tác chia sẻ lợi ích, bảo đảm công bằng, hợp lý trong khai thác, sử dụng, bảo vệ, phát triển tài nguyên nước và phòng, chống tác hại do nước gây ra trên nguyên tắc bảo đảm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia Để tạo cơ sở pháp lý việc quản lý nguồn nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Chính phủ gia nhập Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho các mục đích phi giao thông thủy; ngày 15 tháng 4 năm 2014, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký quyết định số 818/2014/QĐ-CTN về việc gia nhập công ước Ngày

19 tháng 5 năm 2014, Việt Nam chính thức thông báo gia nhập Công ước tới Tổng Thư ký Liên hợp quốc và là quốc gia thứ 35 tham gia Công ước Đây là nền tảng pháp lý thuận lợi để Việt Nam xúc tiến đàm phán, ký kết các thỏa thuận song phương và đa phương với các quốc gia về hợp tác và giải quyết tranh chấp, bất đồng trong bảo vệ, khai thác và sử dụng các nguồn nước chung Đến nay, có khoảng

15 dự án quốc tế về tài nguyên nước đã và đang thực hiện

Trang 34

Về khía cạnh bảo vệ, mặc dù có nhiều văn bản quy định về bảo vệ tài nguyên nước như các quy định về cấp phép khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước nhưng vấn đề quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước vẫn chưa đạt hiệu quả cao, tình trạng ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt nguồn nước vẫn đang là vấn đề gây bức xúc ở nhiều địa phương Thực tế cho thấy, công tác bảo vệ tài nguyên nước ở Việt Nam hiện nay còn một số tồn tại nhất định, cụ thể như:

Thứ nhất, chưa kiểm soát hết được các hoạt động khai thác, sử dụng nước và

xả nước thải vào nguồn nước Vẫn thường xuyên xảy ra hiện tượng doanh nghiệp xả trộm nước thải không qua xử lý trực tiếp vào nguồn nước gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhưng chưa được xử lý triệt để và chế tài xử lý chưa đủ để răn đe để các đối tượng xả nước thải không qua xử lý không tiếp tục tái phạm

Thứ hai, hoạt động quản lý, kiểm soát ô nhiễm nguồn nước mới tập trung chủ

yếu ở khu vực đô thị và các đoạn sông xung quanh thành phố và khu công nghiệp, việc kiểm soát chất lượng nước và ô nhiễm nước ở các vùng nông thôn chưa được quan tâm thoả đáng

Thứ ba, các vấn đề mang tính liên ngành, như: Quy hoạch, phát triển, khôi

phục rừng đầu nguồn, bảo vệ nguồn sinh thủy; bảo vệ nguồn nước trong quá trình thực hiện các dự án thủy điện, thủy lợi, nuôi trồng thủy sản… chưa có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa cơ quan quản lý tài nguyên nước và các cơ quan, bộ, ngành liên quan và UBND các tỉnh, thành phố

Thứ tư, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng đã làm

phát sinh thêm nhiều vấn đề, khó khăn cho công tác quản lý tài nguyên nước Trong khi, nhiều địa phương chưa có sự quan tâm đúng mức, chưa có tầm nhìn tổng thể, dài hạn về vấn đề bảo vệ nguồn nước; ý thức của các tổ chức còn rất hạn chế

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Thực hiện chính sách về bảo vệ tài nguyên nước là toàn bộ những hành vi, những phương thức xử sự của các chủ thể pháp luật nhằm thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước Pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước là công

cụ chủ yếu để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động bảo vệ tài nguyên nước Thực hiện chính sách về bảo vệ tài nguyên nước là quản lý, bảo vệ, sử dụng

Trang 35

hợp lý tài nguyên thiên nhiên, nhằm bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo vệ quyền con người được sống trong môi trường trong lành gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế

và bảo đảm tiến bộ xã hội, để phát triển bền vững đất nước, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên khu vực và toàn cầu

Thực hiện chính sách về bảo vệ tài nguyên nước đòi hỏi thực hiện nhiều biện pháp khác nhau để hạn chế những tác động tiêu cực và phát huy những yếu tố tích cực để việc thực hiện pháp luật môi trường đạt hiệu quả trong đời sống thực tiễn

Do vậy, nắm chắc được khái niệm, vai trò của các chủ thể cũng như những yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách về tài nguyên nước là cơ sở lý luận để nghiên cứu và đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về tài nguyên nước từ đó đề xuất những giải pháp hữu hiệu bảo đảm thực hiện chính sách về bảo vệ tài nguyên nước ở thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VÀ TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Tổng quan chung vùng nghiên cứu

2.1.1 Vị trí địa lý của thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam

Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của cả nước, nằm ở trung tâm đất nước, là cầu nối quan trọng giữa Bắc và Nam trên trục giao thông Bắc – Nam về đường sắt, đường bộ, đường biển và đường hàng không, có đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 14D, 14B, 14E nối đồng bằng ven biển qua các huyện trung du, miền núi đến biên giới Việt – Lào và các tỉnh Tây Nguyên, có sân bay Đà Nẵng Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh KonTum, phía Đông giáp biển Đông với trên 125km bờ biển, phía Tây giáp tỉnh Sêkông của nước CHDCND Lào Vùng nghiên cứu có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng và bền vững

2.1.2 Đặc điểm tự nhiên

2.1.2.1 Đặc điểm địa hình

Vùng nghiên cứu có diện tích tự nhiên tương đối lớn so với các tỉnh thành trong cả nước, tổng diện tích toàn vùng là 11.721,80 km2 (trong đó TP Đà Nẵng: 1.283,42 km2; Quảng Nam: 10.438,38 km2) Đặc điểm địa hình phức tạp, bao gồm

đủ các dạng địa hình từ núi cao hiểm trở đến vùng trung du, gò đồi bán sơn địa và đồng bằng, cồn cát ven biển Bề mặt địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi khá phát triển gồm sông Vu Gia, Thu Bồn, sông Tam Kỳ và sông Trường Giang đã tạo nên các tiểu vùng có những nét đặc thù riêng

2.1.2.2 Đặc điểm khí hậu

Đà Nẵng- Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nền nhiệt độ cao và ít biến động với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Tuy nhiên, lượng mưa chủ yếu tập trung từ tháng X đến tháng XI hàng năm (chiếm 80% lượng mưa cả năm) Lượng mưa trung bình năm từ 2.000 – 2.500mm nhưng phân

bố không đều theo thời gian và không gian giữa các vùng, mưa ở miền núi nhiều

Trang 37

hơn đồng bằng Mùa mưa trùng với mùa bão lớn nên thường có lũ lụt, ngập úng ở nhiều vùng; ngược lại mùa khô ít mưa, nền nhiệt cao gây hạn, một số cửa sông bị nước mặn xâm nhập Mùa khô kéo dài đến 8 tháng, dòng chảy cơ bản của sông suối giảm mạnh Đây cũng là thời gian cần nước cho sản xuất nông nghiệp nhất

Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng từ 25-260C Tháng IV đến tháng VII hàng năm là những tháng có nhiệt độ cao nhất, với nhiệt độ trung bình lên tới 36 –

370C Tháng XII đến tháng II năm sau là những tháng có nhiệt độ thấp nhất trong năm (dưới 250C) Nhìn chung vùng nghiên cứu có nền nhiệt độ quanh năm tương đối cao với tổng nhiệt hàng năm đạt trên 9.4000C

2.1.2.3 Mạng lưới sông ngòi

Vùng nghiên cứu có địa hình hết sức phức tạp, trên 70% diện tích tự nhiên là đồi núi và bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn, vùng đồng bằng nhỏ hẹp, đất đai thổ nhưỡng không ổn định đã tạo nên một mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, cụ thể:

Hình 2.1 Mạng lưới sông TP Đà Nẵng Hình 2.2 Hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn

- Quảng Nam có 130 sông, suối (12 sông, suối liên tỉnh thuộc danh mục lưu vực sông liên tỉnh được Thủ tướng Chính phủ ban hành; 118 sông, suối nội tỉnh theo danh mục lưu vực sông nội tỉnh được Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành) Tổng lượng dòng chảy năm trung bình các sông trên địa bàn tỉnh khoảng

20 tỷ m3 Trên địa bàn tỉnh có các hồ chứa lớn Đắk Mi 4, A Vương, Sông Bung 4, Sông Bung 5, Sông Bung 6, Sông Tranh 2, Sông Bung 4A, Sông Côn 2 với tổng dung tích 1,9 tỷ m3 Một số sông chính của Quảng Nam:

+ Sông Vu Gia: gồm nhiều nhánh sông hợp thành, đáng kể là các sông Đăk Mi

(sông Cái), sông Bung, sông A Vương, sông Con Sông Vu Gia có chiều dài đến

Trang 38

cửa ra tại Đà Nẵng là 204 km, đến Cẩm Lệ: 189 km, đến i Nghĩa: 166 km Diện tích lưu vực đến i Nghĩa là 5.425 km2

+ Sông Thu Bồn: Sông được bắt nguồn từ vùng biên giới 3 tỉnh Quảng Nam,

Kon Tum và Quảng Ngãi ở độ cao hơn 2.000 m Chảy theo hướng Nam - Bắc, về Phước Hội sông chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc khi đến Giao Thuỷ sông chảy theo hướng Tây - Đông và đổ ra biển tại Cửa Đại Diện tích lưu vực từ thượng nguồn đến Nông Sơn: 3.150 km2, dài 126 km, diện tích nhánh Thu Bồn tính đến biển là 4.610 km2, dài 206 km

+ Sông Tam Kỳ: Sông có diện tích lưu vực 994 km2, dòng sông với chiều dài

sông 64 km bắt nguồn từ vùng núi phía Nam, nơi giáp ranh giữa hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, với đỉnh núi Chúa cao 1.362 m, là đường phân nước của lưu vực sông Tam Kỳ và sông Trà Bồng Sông chảy theo hướng Nam Bắc, rồi Tây Nam Đông Bắc đổ ra vụng An Hoà Sông Tam Kỳ có các nhánh sông Ba Kỳ, sông quán, sông Vĩnh An

- Đà Nẵng có 12 sông, trong đó có 8 sông nội tỉnh, 3 sông liên tỉnh Nguồn nước khai thác sử dụng chủ yếu từ các sông: Vu Gia - Thu Bồn, Cu Đê, Túy Loan, Vĩnh Điện Bên cạnh đó, còn có 51 hồ đầm nằm rải rác trên địa bàn các quận, huyện, riêng khu vực nội thành có 30 hồ phân bố không đồng đều trong phạm vi đô thị Với tổng lượng nước mặt khai thác hằng năm vào khoảng 150 triệu m3, trong

đó, lượng nước khai thác cấp sinh hoạt là 90,9 triệu m3 sử dụng nguồn nước mặt từ

hạ lưu sông Hàn, sông Cu Đê và nước suối khu vực Sơn Trà Một trong những mặt bất lợi nhất của Đà Nẵng là nằm ở cuối cùng hạ lưu hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn (lưu vực có gần 90% diện tích nằm trên đất Quảng Nam và chịu tác động mạnh của nhiều dự án thủy điện cũng như khai thác sử dụng nước cho các mục đích khác

ở thượng nguồn) Một số sông chính của Đà Nẵng:

+ Sông Túy Loan: sông có lưu vực nằm hoàn toàn trong phạm vi thành phố Đà

Nẵng, có hình dạng lông chim và liền kề với lưu vực sông Cu Đê Sông Túy Loan bắt nguồn từ sườn phía Đông núi Mang (1.708m) và núi Bà Nà (1.487m) Sông có chiều dài khoảng 30km với diện tích 309km2 Sông Túy Loan được hình thành bởi 3 nhánh sông chính: sông An Lợi, sông Lỗ Trào và sông Lỗ Đông Sông Túy Loan chảy qua các xã Hòa Ninh, Hòa Phú, Hòa Phong, Hòa Nhơn Trên lưu vực sông

Trang 39

Túy Loan có hồ Đồng Nghệ

+ Sông Cầu Đỏ: Là hợp lưu của sông Yên và sông Túy Loan nên dòng chảy

chịu ảnh hưởng rất lớn đến quy trình vận hành của các công trình ở thượng lưu, đồng thời còn chịu sự ảnh hưởng của chế độ thủy triều Vào mùa khô, nước trên sông Cầu Đỏ bị nhiễm mặn Sông Cầu Đỏ ở hạ lưu còn gọi là sông Cẩm Lệ

+ Sông Cu Đê: sông nằm ở phía Bắc thành phố Đà Nẵng, có chiều dài 38km

với diện tích lưu vực là 425, 2 km2 Sông được hình thành từ bởi hai nhánh chính là sông Bắc và sông Nam, hướng chảy chính của sông Cu Đê là Tây sang Đông rồi đổ

ra vịnh Đà Nẵng Dòng chảy năm sông Cu Đê chủ yếu phân bố trong mùa mưa Vào mùa khô, dòng chảy khá nhỏ nên thủy triều ảnh hưởng rất cao, lượng nước trong sông vào mùa khô chủ yếu là nước biển lên – xuống Trên lưu vực sông Cu Đê có

hồ Hòa Trung

2.1.2.4.Các đặc trưng thủy văn dòng chảy

Dòng chảy năm: Do địa hình phức tạp và chịu sự chi phối của lượng mưa

nên đặc trưng dòng chảy tại hầu hết sông suối trên địa bàn thường xuyên bị thay đổi, biến động theo thời gian và không gian Hàng năm, mùa lũ trên lưu vực thường bắt đầu chậm hơn mùa mưa khoảng từ 2 đến 3 tháng, từ tháng 9 đến tháng 12 với lượng dòng chảy chiếm khoảng 70 – 80% lượng nước cả năm

Dòng chảy lũ: Đặc điểm chung của lũ các sông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

và tỉnh Quảng Nam là lũ lên nhanh xuống nhanh với thời gian ngắn Thời gian xuất hiện

lũ trên các sông thường từ tháng 9 đến tháng 12, hai tháng thường xuất hiện lũ nhiều hơn

cả là tháng 10 và 11 (chiếm khoảng 70% số trận lũ trong năm)

2.2.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.2.3.1 Dân số và sự phân bố dân cư

Dân số vùng nghiên cứu theo thống kê vào thời điểm 31/12/2015 là 2.509.790 người; trong đó:

- Thành phố Đà Nẵng: 1.029.000 người, có mật độ dân số là 770 người/ km2

Dân cư phân bố không đồng đều giữa 6 quận nội thành Mật độ dân số ở huyện Hòa Vang thấp nhất với 173 người/km2 Dân số khu vực nông thôn chiếm 12,82% Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số từ 11,80% năm 2005 lên 12,74% năm 2012

- Tỉnh Quảng Nam: 1.480.790 người, mật độ bình quân 140 người/km2 Dân tộc

Trang 40

Kinh chiếm 92,3% tổng số dân cư, còn lại là các dân tộc ít người như Cơ Tu, Xơ Đăng

Sự phân bố dân cư giữa các vùng miền có sự chênh lệch lớn: hơn 73% dân cư

tập trung sinh sống ở vùng đồng bằng ven biển, mặc dù diện tích chỉ chiếm 25 %

tổng diện tích đất tự nhiên Quá trình đô thị hóa ở Đà Nẵng, Quảng Nam diễn ra

mạnh mẽ, kéo theo sự chuyển dịch mạnh mẽ dân cư từ nông thôn ra thành thị Theo

tính toán, hàng năm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam có trên 10.000 người ở vùng nông

thôn gia nhập vào dân cư đô thị, con số này càng tăng lên nhanh chóng

Cùng với quá trình di dân, đô thị hóa, cơ cấu dân số theo ngành nghề cũng

thay đổi đáng kể, tỷ lệ dân số lao động trong các ngành nghề công nghiệp, dịch vụ

tăng lên, dân số lao động nông nghiệp ngày cảng giảm đi

2.2.3.2 Đặc điểm kinh tế

Hiện nay cơ cấu kinh tế của thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam có sự

chuyển dịch đáng kể theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng

ngành buôn bán lẻ và dịch vụ lưu trú ăn uống Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù

hợp với xu thế chuyển đổi cơ cấu kinh tế chung của cả nước

Tại Đà Nẵng: Cơ cấu kinh tế tiếp tục

chuyển dịch đúng hướng, năm 2015 tỷ

trọng dịch vụ ước đạt 61,7%, công nghiệp

- xây dựng 36,2% và nông nghiệp 2,1%

góp phần từng bước thực hiện mục tiêu

phát triển bền vững trên cơ sở chú trọng

nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ

và tỷ trọng hàm lượng kỹ thuật, công

nghệ trong các ngành sản xuất [5]

Hình 2.3 Biểu đồ cơ cấu kinh tế Đà Nẵng năm 2015

Tại Quảng Nam: Cơ cấu kinh tế có sự thay đổi và chuyển dịch theo hướng giảm

dần tỷ trọng nông - lâm - thuỷ sản, tăng tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ Tỷ trọng của khu

vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 40,50% (năm 2011) lên 41,13% (năm 2014) Tỷ

trọng khu vực nông - lâm - thuỷ sản giảm từ 20,67% (năm 2011) xuống 17% (năm

2014).[6]

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quảng Nam qua các năm được thể hiện trong biểu đồ

Ngày đăng: 08/06/2018, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w