1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tích hợp giáo dục biển đảo thông qua các hoạt động giáo dục cho trẻ 5 6 tuổi ở trường mầm non

60 282 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, việc giáo dục biển đảo cho trẻ ở các trường Mầm non vẫn chưa thực sự được chú trọng, các biện pháp giáo dục cho trẻ vẫn chưa được áp dụng thích hợp, do đó đòi hỏi người giáo v

Trang 1

Xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Mầm non Bảo Ninh, các giáo viên trong trường và các cháu đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình làm

đề tài khóa luận này Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu song do kiến thức còn hạn chế, thời gian không nhiều và những lí do khách quan khác nên không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được ý kiến đóng góp của hội đồng khoa học để đề tài khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Đồng Hới, ngày… tháng… năm 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu của đề tài là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào

Trang 4

Bảng 2.2 Mức độ thực hiện tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ thông

Bảng 2.3 Nhận thức của giáo viên về thời điểm tích hợp giáo dục biển

Bảng 2.4 Nhận thức của giáo viên về việc lựa chọn các nội dung chủ

Bảng 2.5 Nhận thức về việc lựa chọn hoạt động để giáo dục biển đảo

Bảng 3.3 Mức độ hiểu biết về môi trường biển và bảo vệ biển đảo 41

Bảng 3.4 Mức độ biểu hiện kĩ năng bảo vệ biển đảo của trẻ 42 Bảng 3.5 Mức độ thể hiện ý thức và thái độ giữ gìn, bảo vệ biển đảo

Bảng 3.6 Mức độ biểu hiện bảo vệ biển đảo của trẻ sau thử nghiệm 44

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 3.1.Mức độ biểu hiện giáo dục biển đảo cho trẻ trước thực

Hình 3.2.Mức độ có nhu cầu và hứng thú với việc giáo dục bảo

Hình 3.3 Sơ đồ biểu hiện sự hiểu biết của trẻ về môi trường biển

Hình 3.4 Mức độ biểu hiện kĩ năng bảo vệ biển đảo của trẻ 42 Hình 3.5 Ý thức, thái độ và giữ gìn bảo vệ biển đảo của trẻ 43 Hình 3.6.Mức độ biểu hiện bảo vệ biển đảo của trẻ sau thực

Trang 6

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Đối tượng nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Những đóng góp của đề tài 6

9 Cấu trúc của khóa luận 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 Cơ sở lý luận 7

1.1.1 Các vấn đề về biển đảo Việt Nam 7

1.1.2 Các vấn đề về giáo dục tích hợp 9

1.1.3 Đặc điểm phát triển tâm - sinh - lý của trẻ 5 - 6 tuổi 12

1.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.2.1 Nội dung chương trình giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non 15

1.2.2 Thực trạng giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non Bảo Ninh 16

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC BIỂN ĐẢO THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 21

2.1 Lựa chọn và vận dụng các phương pháp dạy học một cách linh hoạt để tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi 21

2.2 Tích hợp giáo dục biển đảo trong xây dựng các chủ đề 24

2.3 Xây dựng trò chơi học tập có tích hợp giáo dục biển đảo 26

2.4 Tích hợp giáo dục biển đảo trong xây dựng tình huống học tập 28

2.5 Tăng cường hoạt động ngoại khóa nhằm tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ 29

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 31

3.1 Chọn bài soạn thực nghiệm 31

3.2 Kết quả thực nghiệm 38

Trang 7

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46

1 Kết luận 46

2 Kiến nghị 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Là một bộ phận của biển Đông, biển và hải đảo Việt Nam chứa đựng nguồn lợi sinh vật biển đa dạng, tài nguyên khoáng sản dồi dào, tiềm năng phát triển du lịch biển rất lớn Bên cạnh đó, vùng biển Việt Nam cũng là một phần trong tuyến đường biển nhộn nhịp bậc nhất thế giới, do đó nơi đây có tầm chiến lược cực kì quan trọng và thường xuyên bị tranh chấp Suốt nhiều thế kỉ qua, biển đảo là yếu tố gắn bó máu thịt với đời sống dân tộc ta Tuy nhiên, hiện nay tài nguyên và môi trường biển bị suy thoái nghiêm trọng, vấn đề chủ quyền quốc gia thường xuyên bị xâm phạm Do đó, vấn đề vô cùng cấp thiết hiện nay là cần tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao ý thức giữ gìn tài nguyên, môi trường biển, cũng như tăng cường hơn nữa công tác giáo dục bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam

Thời gian gần đây, giáo dục biển đảo bước đầu đã được giảng dạy tích hợp trọng một số môn học ở cấp Tiểu học tại Việt Nam Tuy nhiên, giáo dục biển đảo chỉ là một nội dung rất nhỏ trong giáo dục môi trường Hơn nữa, hoạt động này mới chỉ là giải pháp tình thế, chưa có hệ thống và chưa trở thành nhiệm vụ bắt buộc trong Nhà trường Do đó, chất lượng, hiệu quả của giáo dục bảo vệ môi trường nói chung và giáo dục biển đảo nói riêng còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong công cuộc hiện đại hóa và công nghiệp hóa

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục Mầm non là mắt xích đầu tiên, rất quan trong và có vị trí tương đương với các bậc học khác Việc đưa giáo dục biển đảo vào trong trường Mầm non là vô cùng cần thiết vì điều này sẽ giúp trẻ tạo ra những phản xạ, thói quen đầu tiên về giữ gìn môi trường sống cũng như hình thành những ý niệm đầu tiên về quyền làm chủ của đất nước đối với vùng biển Việt Nam, từ đó góp phần hình thành nhận thức, ý kiến và kĩ năng cho các bậc học sau này

Tuy nhiên, việc giáo dục biển đảo cho trẻ ở các trường Mầm non vẫn chưa thực

sự được chú trọng, các biện pháp giáo dục cho trẻ vẫn chưa được áp dụng thích hợp,

do đó đòi hỏi người giáo viên phải biết cách tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ thông qua các hoạt động học tập để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Kế thừa thành quả của những người đi trước và xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã quyết định

lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tích hợp giáo dục biển đảo thông qua các hoạt động giáo dục cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non”

Trang 9

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Vùng biển và các đảo là yếu tố gắn bó máu thịt với đời sống của người dân và mãi mãi quan trọng đối với dân tộc Việt Nam ta Biển đảo không chỉ là nơi mưu sinh,

mà còn là nơi giao thương và tiếp giao văn hóa của người Việt với thế giới bên ngoài,

là nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hóa Biển đảo đã tạo tiền đề và điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn như dầu khí, thủy sản, hàng hải, du lịch Chính vì thế, biển đảo luôn là địa bàn chiến lược quan trọng đối với

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bởi vậy, nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài nước đã cho ra những công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến tài nguyên, môi trường, các hoạt động kinh tế hay vấn đề chủ quyền biển hải đảo Việt Nam Cụ thể như sau:

Nguyễn Ngọc Sinh, Hứa Chiến Thắng (1998), “Hiện trạng môi trường biển và đới bờ Việt Nam”

Ban Tuyên giáo Trung ương, Quân chủng Hải quân (2007), “Biển và hải đảo Việt Nam”

Lê Đức An (2008), “Tiềm năng kinh tế - xã hội hệ thống các đảo của Việt Nam” Nguyễn Chu Hồi (2012), “Ô nhiễm biển và quản lý ô nhiễm biển ở Việt Nam”

Lê Đức An (1995), “Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế

xã hội, hệ thống đảo ven bờ biển Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội biển”, Báo cáo tổng hợp đề tài KT,03.12, lưu trữ tại viện địa lý, viện khoa học và công

nghệ Việt Nam, Hà Nội

Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (2000), “Đánh giá hiện trạng và dự báo diễn biến môi trường vùng ven bờ biển và biển ven bờ Đông Nam Bộ”, lưu trữ tại tổng

cục Môi trường, Hà Nội

Nguyễn Bá Diến (2006), “Chính sách pháp luật biển của Việt Nam và chiến lược phát triển bền vững”, NXB Tư pháp, Hà Nội

Nguyễn Văn Long (2007), “Nghiên cứu đặc điểm san hô, cỏ biển và một số hệ sinh thái khác ở vịnh Đà Nẵng”, Báo cáo lưu trữ tại Viện Hải Dương học, Nha Trang Brice M.Claget (2011), “Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung quốc

ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông”, NXB chính trị quốc

gia sự thật, Hà Nội

Trang 10

Nguyễn Văn Long (2013), “Nguồn lợi cá rạn san hô vùng biển ven bờ Phú Yên”,

Tạp chí khoa học và Công nghệ biển, số 1 Hà Nội

Nhiều tác giả (2011), “Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý Hoàng Sa, Trường

Sa là của Việt Nam”, NXB trẻ TP Hồ Chí Minh

Không chỉ có các công trình nghiên cứu về biển đảo Việt Nam, liên quan đến các vấn đề nghiên cứu của đề tài còn có một số đề tài nghiên cứu về dạy học tích hợp ở trường Mầm non như:

Lê Thị Thanh Hà (2004) với tác phẩm“Một số biện pháp giáo dục môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non”

Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị Xuân (2009) đã cho ra đề tài “Phương pháp cho trẻ Mầm non khám phá khoa học về môi trường xung quanh”

Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2013) cũng đã nghiên cứu đề tài “Các biện pháp tích hợp giáo dục môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh”

Như vậy, nghiên cứu vấn đề về biển đảo và giáo dục tích hợp đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, tuy nhiên vẫn chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu nội dung tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua các hoạt động ở trường Mầm non Với đề tài này, tác giả sẽ tập hợp nghiên cứu các biện pháp để tích hợp giáo dục biển đảo để giúp các bé những hiểu biết sơ đẳng về môi trường

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi

ở trường Mầm non, tác giả sẽ tiến hành xây dựng các biện pháp tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động giáo dục ở trường Mầm non

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ như sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc đưa giáo dục biển đảo vào trong chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mẫu giáo, trên cơ sở đó đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu thực trạng giáo dục vấn đề biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non

- Trên cơ sở khoa học, đề tài đề xuất một số biện pháp tích hợp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trường Mầm non hiện nay

- Ngoài ra, đề tài còn tiến hành thực nghiệm sư phạm để xác định hiệu quả của các biện pháp tích hợp và khẳng định tính khả thi của đề tài

Trang 11

5 Đối tượng nghiên cứu

Xây dựng các biện pháp tích hợp nội dung giáo dục biển đảo vào chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại trường Mầm non

6 Phạm vi nghiên cứu

Do hạn hẹp về thời gian nên trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ tập trung

nghiên cứu việc tích hợp giáo dục biển đảo thông qua các hoạt động giáo dục cho trẻ 5 -

6 tuổi ở trường Mầm non

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa những vấn đề lý luận, những tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xác định các biện pháp tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non, đồng thời để vận dụng thiết kế các bài dạy cụ thể

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.3 Phương pháp điều tra

Đề tài sử dụng phương pháp điều tra bằng các phiếu khảo sát nhằm tìm hiểu thực trạng giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non Bảo Ninh, Đồng Hới, Quảng Bình Tác giả sẽ tiến hành khảo sát trên 15 giáo viên và 60 trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Bảo Ninh Từ đó đánh giá thực trạng và làm cơ sở cho việc xây dựng các vấn đề tích hợp giáo dục biển đảo thông qua các hoạt động giáo dục cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non Nội dung khảo sát tập hợp vào các vấn đề sau:

- Nhận thức của giáo viên về việc tích hợp giáo dục biển đảo vào các hoạt động học tập

- Các biện pháp mà giáo viên đã sử dụng để góp phần giáo dục biển đảo cho trẻ thông qua các hoạt động học tập

Trang 12

- Hiệu quả việc giáo dục biển cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua các hoạt động học tập tác giả tiến hành khảo sát hiệu quả việc giáo dục biển cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non

7.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm được tiến hành nhằm mục đích kiểm chứng lại kết quả của việc tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động học tập Qua đó chứng minh cho giả thuyết khoa học mà đề tài đã đề ra

- Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm: Để thực hiện mục đích đề ra của

đề tài, tác giả tiến hành thực nghiệm sư phạm trên 60 trẻ 5 - 6 tuổi của Trường Mầm

non Bảo Ninh Cụ thể là:

 Lớp mẫu giáo lớn A (lớp đối chứng) và lớp mẫu giáo lớn C (lớp thực nghiệm)

 Lớp đối chứng và lớp thử nghiệm chúng tôi lựa chọn số trẻ bằng nhau (đều có 30 trẻ)

 Đặc điểm trẻ ở hai lớp đối chứng và thực nghiệm tương đương nhau về trình độ nhận thức, ý thức và thể lực

Thời gian tiến hành thực nghiệm từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2018

- Nội dung thực nghiệm:

Trong quá trình thực nghiệm, tác giả đã tiến hành giáo dục biển đảo cho trẻ thông qua hoạt động học tập bằng cách áp dụng các biện pháp sau:

 Lựa chọn và xây dựng nội dung giáo dục biển đảo thành các chủ đề

 Xây dựng các tình huống tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ

 Biện pháp hướng dẫn trẻ biết cách bảo vệ môi trường

 Tích hợp giáo dục biển đảo trong xây dựng tình huống học tập

 Tăng cường hoạt động ngoại khóa nhằm tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ

Do thời gian và điều kiện không cho phép nên tác giả đã thiết kế được 3 giáo án và

tiến hành dạy trẻ trong hoạt động học có chủ đích “khám phá môi trường xung quanh”

- Các bước tiến hành thử nghiệm:

Để đảm bảo kết quả của quá trình thực nghiệm với mục đích của đề tài tác giả tiến hành các bước sau:

 Bước 1: Trước khi tiến hành thử nghiệm chúng tôi đã kiểm tra trình độ ban đầu của trẻ ở lớp thử nghiệm và đối chứng và nhận thấy trình độ nhận thức và ý thức và bảo vệ môi trường ở hai lớp tương đương nhau

Trang 13

 Bước 2: Nghiên cứu và soạn giáo án thử nghiệm phù hợp với chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ ở trường mầm non

 Bước 3: Tiến hành giảng dạy thử nghiệm theo giáo án

 Bước 4: Trong quá trình dạy chúng tôi đã theo giỏi những biểu hiện và mức độ nhận thức của trẻ trong hoạt động

 Bước 5: Xử lý các kết quả quan sát sau quá trình dạy thử nghiệm bằng các công thức toán học

7.2.5 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

Nghiên cứu, phân tích các giáo án, kế hoạch hoạt động của giáo viên và các sản phẩm của trẻ có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng một số công thức toán học để phân tích, xử lí các số liệu thu thập được

về mặt định lượng, nhằm khẳng định độ tin cậy của đề tài

8 Những đóng góp của đề tài

8.1 Ý nghĩa khoa học

- Góp phần làm phong phú hệ thống lý luận, các lý thuyết về vấn đề tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non Đồng thời, từ thực trạng nghiên cứu bước đầu đã đề xuất các biện pháp tích hợp có hiệu quả

- Đóng góp thêm số liệu, thông tin để thấy rõ hơn về thực trạng vấn đề nghiên cứu

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tư liệu tham khảo, thông tin học tập cho các bạn sinh viên, giáo viên các khóa kế tiếp cho những ai quan tâm đến vấn đề này

8.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Góp phần mô tả thực trạng giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non

- Bằng một số giáo án theo chủ điểm, đề tài tiến hành thực nghiệm ở một số lớp mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) nhằm khẳng định tính khả thi của các biện pháp tích hợp giáo dục biển đảo

- Kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo đối với các học giả, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên gia quan tâm đến nhà trẻ em

9 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài các phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm có 3 phần

Chương 1 Cơ sở khoa học của đề tài

Chương 2 Một số biện pháp tích hợp giáo dục biển đảo thông qua các hoạt động giáo dục cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các vấn đề về biển đảo Việt Nam

1.1.1.1 Khái niệm về biển đảo

Biển là một bộ phận của đại dương nằm ở gần hoặc xa đất liền và có những đặc điểm riêng, khác với đại dương bao quanh về nhiệt độ, độ mặn, chế độ thủy văn, các sinh vật trầm tích đáy, sinh vật [13]

Đảo là bộ phận đất nổi có diện tích nhỏ hơn lục địa, xung quanh có biển hoặc đại dương bao bọc Đảo có thể đứng lẻ loi hoặc tập trung thành quần đảo [13] Một số đảo có nguồn gốc lục địa: chúng cũng là những bộ phận của lục địa, nằm ở vùng thềm lục địa Một số đảo có nguồn gốc đại dương: đó là các đảo, quần đảo độc lập nằm xa

bờ lục địa, không có liên quan gì đến lục địa và thường do núi lửa hoặc các cấu trúc san hô tạo thành [13]

1.1.1.2 Khái quát về vùng biển Việt Nam

a Vùng biển

Vùng biển nước ta bao gồm: nội thủy, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc

quyền kinh tế và thềm lục địa

- Nội thủy: Nội thủy là vùng nước ở phía trong đường cơ sở để tính lãnh hải của

mỗi quốc gia, bao gồm các vùng nước cảng biển, các vũng tàu, cửa sông, cửa vịnh, các vùng nước Tại đó quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn tối cao và đầy đủ như trên lãnh thổ đất liền Người và tàu thuyền nước ngoài muốn vào phải xin phép và phải được

sự đồng ý của Việt Nam Vùng nội thủy của nước ta mặc dù ở trên biển song vẫn được coi như lãnh thổ trên đất liền [8]

- Lãnh hải : Lãnh hải Việt Nam, theo tuyên bố của Chính phủ nước ta ngày 12

tháng 5 năm 1977, có chiều rộng 12 hải lý (1 hải lý = 1852m) Ranh giới phía ngoài của lãnh hải được coi là biên giới quốc gia trên biển Trên thực tế, đó là các đường

song song và cách đều đường cơ sở về phía biển 12 hải lý [8]

- Tiếp giáp lãnh hải: Tiếp giáp lãnh hải là vùng biển được quy định nhằm đảm

bảo cho việc thực hiện chủ quyền của một nước ven biển Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước ta cũng được quy định có chiều rộng 12 hải lý Trong vùng này, Nhà nước ta có quyền thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh quốc phòng, kiểm soát thuế quan, các

quy định về y tế, môi trường, di cư, nhập cư, [8]

Trang 15

- Vùng đặc quyền về kinh tế: Vùng đặc quyền về kinh tế là vùng biển hợp với

lãnh hải có chiều rộng là 200 hải lý tính từ đường cơ sở Ở vùng này, Nhà nước ta đã

có chủ quyền hoàn toàn về kinh tế nhưng vẫn để các nước khác đặt các đường ống dẫn dầu, dây cáp ngầm và tàu thuyền, máy bay nước ngoài được tự do về hàng hải và hàng

không, đúng như các công ước quốc tế về Luật biển đã quy định [8]

- Thềm lục địa: Thềm lục địa nước ta cũng đã được Nhà nước quy định bao gồm

đáy biển và lòng đất dưới biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đên bờ ngoài của rìa lục địa, có độ sâu khoảng 200m hoặc hơn nữa Nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở không đến 200 hải lý thì thềm lục địa được tính cho đến 200 hải lý Nhà nước ta có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò,

khai thác, bảo vệ và quản lý các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam [8]

Như vậy, theo quan điểm mới về chủ quyền quốc gia thì Việt Nam có chủ quyền trên một vùng biển khá rộng, khoảng 1 triệu km2 tại biển Đông

b Các đảo

Nước ta có trên 4.000 hòn đảo lớn nhỏ Căn cứ vị trí chiến lược và các điều kiện địa lý, kinh tế, dân cư người ta có thể chia các đảo, quần đảo thành các nhóm:

- Hệ thống đảo tiền tiêu, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Trên các đảo có thể lập những căn cứ kiểm soát vùng biển, vùng trời nước

ta, kiếm tra hoạt động của tàu, thuyền, bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước ta Đó là các đảo, quần đảo: Hoàng Sa, Trường Sa, Chàng Tây, Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Cô Tô, Bạch Long Vĩ,…[15]

- Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội Đó

là các đảo như Cô Tô, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc

- Các đảo ven bờ gần đất liền, có điều kiện phát triển nghề các, du lịch và cũng

là căn cứ để bảo vệ trật tự, an ninh trên vùng biển và bờ biển nước ta Đó là các đảo thuộc huyện đảo Cát Bà, huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), huyện đảo Phú Quý (Bình Thuận), huyện đảo Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu), huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang),…[15]

- Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa:

 Quần đảo Hoàng Sa là quần đảo san hô, phân bố rải rác trong một phạm vi từ khoảng kinh tuyến 111o

đến 113o Đông; từ vĩ tuyến 15o45’B đến 17o15’B, ngang với

Trang 16

Huế và Đà Nẵng, phía ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, ở khu vực phía Bắc Biển Đông, trên con đường biển quốc tế từ Châu Âu đến các nước ở phía Đông và Đông Bắc Á và giữa các nước châu Á với nhau Quần đảo Hoàng Sa gồm trên 37 đảo, đá, bãi cạn nằm trong phạm vi biển rộng khoảng 30.000km2, chi làm hai nhóm: nhóm phía Đông có tên nhóm An Vĩnh, gồm khoảng 12 đảo, đá, bãi cạn, trong đó có hai đảo lớn là Phú Lâm và Linh Côn, mỗi đảo rộng khoảng 1,5km2

; nhóm phía Tây gồm nhiều đảo xếp vòng cung nên gọi là nhóm Lưỡi Liềm, trong đó có đảo Hoàng Sa (diện tích gần 1km2), Quang Ảnh, Hữu Nhật, Quang Hòa, Duy Mộng, Chim Yến,…

 Quần đảo Trường Sa cách quần đảo Hoàng Sa khoảng 200 hải lý về phía Nam, bao gồm hơn 100 đảo, đá, bãi ngầm, bãi san hô, nằm trải rộng trong một vùng biển khoảng 180.000 km2

, khoảng từ vĩ tuyến 6o30’B đến 12oB và khoảng từ kinh tuyến 111o30’Đ đến 117o20’Đ, cách Cam Ranh 248 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) 595 hải lý

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí hết sức quan trọng đối với đất nước ta Trước hết, hai quần đảo này nằm giữa Biển Đông, nơi có những tuyến đường hàng hải quan trong nhất của thế giới đi qua Ngoài ra, do vị trí nằm trải dài theo hướng bờ biển Việt Nam, Hoàng Sa và Trường Sa là những vị trí tiền tiêu bảo vệ sường Đông của nước ta, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên sinh vật và khoáng sản phong phú, đa dạng, đặc biệt là nguồn tài nguyên dầu khí

1.1.2 Các vấn đề về giáo dục tích hợp

1.1.2.1 Khái niệm về tích hợp

Tích hợp là định hướng dạy học trong đó giáo viên tổ chức, hướng dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, đời sống, thông qua đó hình thành những kiến thức,

kĩ năng mới, phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn

đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống Ngoài ra, tích hợp là lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của một môn học [6]

1.1.2.2 Quan điểm về giáo dục tích hợp

Theo quan điểm của nhiều nhà khoa học, giáo dục theo hướng tích hợp là phù

hợp và có hiệu quả với bậc học Mầm non Như Bredekamp viết: “Việc học không chỉ xảy ra trong một phạm vi hạn hẹp của mỗi môn học, sự học và phát triển của trẻ mang

Trang 17

tính tích hợp Mỗi hoạt động thúc đẩy mỗi mặt phát triển nào đó đồng thời cũng tác động đến các mặt phát triển khác” Vậy giáo dục tích hợp được hiểu như sau:

Tích hợp không phải là đặt cạnh nhau, liên kết với nhau mà là xâm nhập, đan xen các đối tượng hay các bộ phận của đối tượng vào nhau tạo thành một chỉnh thể

Tất cả các yếu tố xã hội, tự nhiên và khoa học của môi trường đan quyện vào nhau tạo thành môi trường sống phong phú của trẻ Xuất phát từ quan điểm này mà chương trình giáo dục trẻ nhỏ được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp chủ đề Giáo dục tích hợp hay dạy học tích hợp nhấn mạnh việc kết hợp nhiều nội dung giáo dục (xã hội, tự nhiên, khoa học) thông qua các hoạt động tích cực của cá nhân trẻ với môi trường sống của mình Với cách học này, trẻ được học một cách tự nhiên, không có giới hạn tuyệt đối về thời gian, không gian và môn học

Tích hợp được thể hiện nhiều cách khác nhau bao gồm tích hợp theo chủ đề và tích hợp trong một hoạt động Tích hợp theo chủ đề được hiểu là việc tổ chức các hoạt động xoay quanh nội dung một chủ đề nào đó Tích hợp trong một hoạt động đó là: Khi tổ chức một hoạt động nhằm thúc đẩy một mặt phát triển nào đó, giáo viên cần chú ý tác động cùng một lúc đến nhiều mặt phát triển khác nhau của trẻ Bên cạnh đó, tích hợp các lĩnh vực nội dung trong một hoạt động tức là khai thác nội dung của các lĩnh vực khác nhau vào trong quá trình tổ chức một hoạt động nào đó

1.1.2.3 Nội dung tích hợp giáo dục biển đảo

Để giáo dục biển đảo cho trẻ 5 -6 tuổi ở trường Mầm non cần tiến hành tích hợp

ở 4 nội dung sau:

Nội dung 1: Tài nguyên biển đảo

- Tài nguyên sinh vật: đa dạng về sinh học biển, lợi thủy, hải sản

- Tài nguyên phi sinh vật: khoáng sản, du lịch, hàng hải

Nội dung 2: Môi trường biển: bao gồm môi trường nước, môi trường đất, môi trường không khí, môi trường sinh vật

Nội dung 3: Hoạt động kinh tế biển đảo

- Phát triển năng lượng

- Phát triển cảng - hàng hải

- Phát triển du lịch

- Phát triển nghề cá

Trang 18

Nội dung 4: Vấn đề về chủ quyền biển đảo: bao gồm chủ quyền của Việt Nam đối với các đảo, quần đảo, đặc biệt là 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa[12]

1.1.2.4 Ý nghĩa của việc tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ

Việc giáo dục biển đảo cho trẻ sẽ góp phần giải quyết nhiệm vụ phát triển trẻ một cách toàn diện các mặt trí tuệ, đạo đức, lao động, thẩm mỹ Cụ thể:

- Giáo dục biển đảo góp phần phát triển trí tuệ cho trẻ

Quá trình lĩnh hội tri thức về tự nhiên vô tính, động vật, thực vật, con người là mối quan hệ đơn giản giữa các súc vật và hiện tượng tự nhiên phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ sẽ hoàn thiện các giác quan, tích lũy kinh nghiệm cảm tính ở trẻ, hình thành các khái niệm đơn giản Việc lĩnh hội tri thức về môi trường có liên quan trực tiếp đến sự phát triển ở trẻ khả năng nhận thức, tư duy logic, chú ý, ngôn ngữ, sự quan sát, say mê… để phát triển tư duy và hình thành thế giới duy vật, cần cho trẻ tiếp xúc sự vật hiện tượng xung quanh, dạy chúng tìm kiếm cách giải thích những hiện tượng quan sát được và có ý thức về mối quan hệ giữa chúng Dạy trẻ quan sát (tập trung chú ý đến hiện tượng một cách có mục đích) là phát triển ở trẻ sự chú ý Đây là phẩm chất tâm lý có liên quan chặt chẽ với sự phát triển trí tuệ, là điều kiện không thể thiếu được để chuẩn bị cho trẻ sẵn sàng học tập ở phổ thông

- Giáo dục biển đảo góp phần phát triển tình cảm đạo đức cho trẻ Giáo dục trẻ

tình yêu thiên nhiên, có thái độ giữ gìn, bảo vệ động, thực vật…Trẻ thường gắn bó và coi trọng những gì chúng tự chăm sóc Sự đa dạng của động thực vật ở trường Mầm non, việc trẻ trực tiếp chăm sóc chúng sẽ hình thành những phẩm chất nhân cách quan trọng như thái độ coi trọng lao động, biết yêu lao động, có thói quen lao động, có trách nhiệm với công việc được giao

- Giáo dục biển đảo góp phần phát triển thể chất và lao động Hình thành ở trẻ

tình yêu lao động, thái độ bảo vệ tự nhiên, một số kỹ năng trồng cây và chăm sóc động vật Điều quan trọng là trẻ phải cảm thấy thích thú trong quá trình lao động, kết quả lao động Sự tiếp xúc và lao động trong tự nhiên còn cần thiết để củng cố sức khỏe của trẻ và phát triển thể chất cho chúng (phát triển các cơ và củng cố hệ thần kinh của chúng) Việc cho trẻ làm quen với lao động của người lớn trong tự nhiên, giáo dục sự tôn trọng lao động của người lớn cũng góp phần hình thành ở trẻ tình yêu lao động

- Giáo dục biển đảo còn là phương tiện để phát triển thẩm mỹ Cái đẹp của tự

nhiên có thể ảnh hưởng đến mọi trẻ Khi cho trẻ làm quen với tự nhiên cần hướng sự chú

Trang 19

ý của trẻ đến sự náo nhiệt của thiên nhiên như tiếng thác, nước đổ, tiếng chim hót, tiếng côn trùng kêu, tiếng rì rào của sóng biển, mùi vị của hoa sự vận động của động vật, thực vật sống dưới biển Trong quá trình đó, trẻ học được cách cảm nhận vẻ đẹp của tự nhiên

để từ đó chúng biết cảm nhận thế giới với mọi người sự hấp dẫn và đa dạng của nó

1.1.3 Đặc điểm phát triển tâm - sinh - lý của trẻ 5 - 6 tuổi

Từ 5 - 6 tuổi là giai đoạn có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình phát triển chung của trẻ em L.N.Tônxtoi đã nói về tầm quan trọng của giai đoạn này như sau:

“Tất cả những cái gì mà đứa trẻ đã có sau này trở thành người lớn đều thu nhận được trong thời thơ ấu Trong quảng đời còn lại những cái mà nó thu nhận được chỉ đáng 1% những cái đó mà thôi”

Nhiều công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non và tâm lý học sư phạm đã khẳng định việc dạy học và nâng cao chất lượng việc dạy học cần phải được xây dựng trên những cơ sở đặc điểm phát triển tâm - sinh - lý của trẻ em Bên cạnh đó, trẻ thời kì này có đặc điểm là rất dễ uốn nắn và có mức độ phát triển nhanh, chính vì vậy việc giáo dục tạo ra cho trẻ thói quen sống thân thiện với môi trường, có ý thức đạo đức về giữ gìn, bảo vệ môi trường sẽ rất thuận lợi trong thời kì này[18]

1.2.3.1 Đặc điểm phát triển thể chất của trẻ 5-6 tuổi

Sự phát triển của trẻ em tuân theo những quy luật cơ bản của sinh học Trình tự

và tốc độ của sự phát triển phụ thuộc vào những yếu tố di truyền, môi trường sống, phương pháp nuôi dưỡng, điều kiện xã hội, vệ sinh và sự rèn luyện thân thể một cách

có ý thức Trong những năm đầu của cuộc sống, tốc độ phát triển của cơ thể trẻ rất nhanh, biểu hiện qua sự phát triển chiều cao, cân nặng, vòng đầu, vòng ngực…và đây

là những chỉ số đặc biệt quan trọng để đánh giá sự phát triển thể lực của trẻ[18]

Hệ thần kinh của trẻ phát triển nhanh chóng từ 4 - 6 tuổi, quá trình ức chế dần dần phát triển.Trẻ đã có khả năng phân tích, tổng hợp, hình thành các kĩ năng, kĩ xảo vận động và có khả năng phân biệt được các hiện tượng xung quanh

Hệ vận động gồm hệ xương và hệ cơ Trẻ 5 tuổi các vận động dần dần đi đến hoàn thiện Các vận động của trẻ bước đầu đã đạt mức độ chính xác, nhịp nhàng, nhịp điệu ổn định, biết phối hợp hoạt động của mình với tập thể Sang 6 tuổi, tốc độ trưởng thành của trẻ tăng rất nhanh Các vận động được hình thành một cách nhanh chóng và

dễ được cũng cố Các vận động cơ bản được thực hiện tương đối chính xác, mềm dẻo, thể hiện sự khéo léo trong vận động Lực cơ bắp được tăng lên

Trang 20

1.2.3.2 Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ 5-6 tuổi

- Về phát triển ngôn ngữ

Trẻ 5 - 6 tuổi nhìn chung đã thực sự nắm vững tiếng mẹ đẻ, trẻ nắm được ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm đúng với sự phát âm của người lớn, biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và đặc biệt là nói đúng hệ thống ngữ pháp khá phức tạp bao gồm những quy luật ngôn ngữ tinh vi nhất về phương diện cú pháp và về phương diện tu từ, nói năng mạch lạc, thoải mái Trẻ thích tham gia kể và nghe kể chuyện Trẻ hiểu được rằng ngôn ngữ có thể được viết dưới dạng các biểu tượng[18]

- Ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý

Ở lứa tuổi này, trẻ đã tự ý thức được về bản thân, về những ưu, khuyết điểm của mình mà không cần sự đánh giá của người lớn Trẻ tự điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với những chuẩn mực, những quy tắc của xã hội

Nhờ vào hoạt động chủ đạo của lứa tuổi mẫu giáo - hoạt động vui chơi mà các hoạt động tâm lý bên trong được biến đổi một cách rõ rệt, từ những quá trình tâm lý không chủ định chuyển sang những quá trình tâm lý chủ định, như tri giác có chủ định, chú ý có chủ định, ghi nhớ có chủ định…

- Sự phát triển tư duy

Cùng với kiểu tư duy trực quan - hành động của trẻ em, ở giai đoạn này đã xuất hiện kiểu tư duy trực quan hành tượng Tư duy của trẻ dựa vào các biểu tượng mà trẻ

đã tích lũy - đó là sự chuyển tư tưởng từ hành động định hướng bên ngoài vào hành động định hướng bên trong theo cơ chế nhập tâm của hành động Kiểu tư duy này được phát triển và chiếm ưu thế trong suốt độ tuổi mẫu giáo, đặc biệt phát triển mạnh

ở giai đoạn cuối lứa tuổi mẫu giáo (5 - 6 tuổi)

Kiểu tư duy trực quan - hình tượng phát triển mạnh mẽ, lúc này sẽ xuất hiện một kiểu tư duy mới đó là kiểu tư duy trực quan - sơ đồ Kiểu tư duy này sẽ giúp trẻ

em đi sâu vào các mối quan hệ phức tạp của sự vật hiện tượng, nhìn thấy được bản chất sự vật của hiện tượng mà tư duy trực quan - hình tượng không cho phép nhìn thấy được Hoạt động tâm lý của trẻ giai đoạn này đặc biệt nhạy cảm với nhũng hình tượng sinh động cụ thể về các sự vật và hiện tượng Tư duy của trẻ còn gắn liền với cảm xúc và ý muốn chủ quan của trẻ Trẻ chỉ suy nghĩ cả ghi nhớ những gì mà trẻ thấy hứng thú

Nhìn chung, trẻ 5 - 6 tuổi đã xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới - tư duy trực quan biểu đồ và những yếu tố của kiểu tư duy logic

Trang 21

- Tính tích cực nhận thức

Hứng thú là vô cùng quan trọng đối với sự nhận thức của trẻ Trẻ luôn tò mò, khám phá thế giới xung quanh Trẻ luôn muốn chiếm lĩnh những đối tượng có nội dung mới Lòng mong ước hoạt động trí tuệ ngày càng thúc đẩy phát triển hứng thú nhận thức, xu hướng nhận thức đã đuộc hình thành rõ rệt ở lứa tuổi mẫu giáo

- Sự xuất hiện động cơ của hành vi

Trong thời kỳ này, trẻ đã hiểu rằng những hành vi của chúng có thể mang lại lợi ích cho những người khác và chúng bắt đầu thực hiện những công việc vì người khác theo sáng kiến của riêng mình Ở lứa tuổi này đã bắt đầu hình thành quan hệ phụ thuộc theo thứ bậc của các động cơ, được gọi là hệ thống thứ bậc của các động cơ Đó là một cấu tạo tâm lý mới trong sự phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo

Hệ thống thứ bậc của các động cơ được hình thành ở tuổi này khiến cho toàn bộ hành vi của trẻ nhằm theo một xu hướng nhất định Đối với những đứa trẻ này cần áp dụng những biện pháp giáo dục thích hợp, có hiệu quả nhằm thay đổi những cơ sở của nhân cách đã được hình thành một cách bất lợi này, trước hết phải cảm hóa trẻ bằng tình yêu thương, đồng thời lại đòi hỏi ở chúng sự yêu thương và quan tâm đến những người xung quanh, tạo ra những tình huống để gợi lên ở trẻ những hành vi đạo đức tốt đẹp

- Tính tự lực ở trẻ

Có thể nói rằng tính tự lực là phẩm chất quan trọng của nhân cách, sự tích lũy kinh nghiệm thực tế trong khi hành động, sự phát triển xu hướng nhận thức và xu hướng xã hội đã hình thành ở trẻ mẫu giáo nguyện vọng muốn được tự lực Trẻ càng lớn thì tính tự lực càng phát triển, tuy nhiên tính tự lực của trẻ không giống với hành vi

tự phát của chúng ta, bao giờ cũng có vai trò lãnh đạo và những yêu cầu của người lớn

- Đặc điểm nhận thức về môi trường biển của trẻ 5-6 tuổi

Đặc trưng cơ bản của trẻ em là luôn thích tìm tòi khám phá thế giới xung quanh Trẻ luôn muốn khám phá các hiện tượng tự nhiên, muốn tìm hiểu về bản thân mình, trẻ luôn đặt ra câu hỏi “Tại sao”, “Sao lại như thế”…

Tuy nhiên nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) về môi trường, nhất là môi trường biển còn mang nặng cảm tính và tính trực quan hành động nên trẻ chỉ tập trung, chú ý, ghi nhớ và tái hiện những sự vật hiện tượng mới lạ, hấp dẫn nghộ nghĩnh …Vì vậy giáo dục biển đảo cho trẻ cần phải có những đồ dùng trực quan đẹp mắt, cần phải cho trẻ được tiếp xúc trực tiếp với môi trường, với những tình huống

Trang 22

về môi trường cụ thể… có như vậy những kỹ năng, kiến thức về môi trường mới ăn sâu vào tâm trí trẻ

Trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) đã có khả năng tổng hợp, phân tích và khái quát hóa những dấu hiệu bên ngoài, trẻ nhận biết được đâu là đúng, đâu là sai, cái gì nên làm và cái gì không nên làm Khả năng vận dụng những điều đã nhận biết vào việc liên hệ với cuộc sống xung quanh của trẻ được nâng lên sâu và rộng hơn, trẻ thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ của mình Trẻ hiểu được ý nghĩa của việc phải giáo dục biển đảo và trẻ biết mình phải làm gì để giữ gìn bảo vệ môi trường

Từ những đặc điểm nhận thức của trẻ về môi trường, trong quá trình tổ chức giáo dục trẻ cần chú ý cho trẻ được thường xuyên tiếp xúc với thiên nhiên, giao tiếp với bạn

bè và người lớn, thõa mãn những nhu cầu hiểu biết của trẻ, cần tăng cường yếu tố trực quan sinh động trong quá trình giáo dục cho trẻ, ngoài việc cung cấp những kiến thức,

kỹ năng giáo dục, cần phải tiến hành cho trẻ được hành động trực tiếp thông qua trò chơi hoặc giao việc cụ thể, bên cạnh đó cũng cần chú ý đến đặc điểm cá nhân của trẻ

để có biện pháp sư phạm tác động thích hợp, tránh sự gò bó, áp đặt trẻ trong quá trình giáo dục

Nói chung, với sự phát triển về tâm lý, thể chất cũng như trí tuệ của trẻ 5 - 6 tuổi, chúng ta thấy rằng hoàn toàn có thể áp dụng được một số biện pháp phù hợp để giáo

dục biển đảo cho trẻ

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Nội dung chương trình giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non

Bảng 1.1 Phân phối chương trình giáo dục độ tuổi mẫu giáo lớn năm học 2017 - 2018

Bé đến

trường

4-8/9

Ngày hội đến trường của bé

11-15/9

Trường mầm non của bé

18-22/9

Lớp mẫu giáo của bé

25-29/9

Đồ dùng đồ chơi của bé Bản thân

16-20/10

Cơ thể bé

23-27/10

Các giác quan Gia đình

thân yêu

30/10-3/11

Những người thân trong gia đình bé

6-10/11

Ngôi nhà xinh của bé

13-17/11

Đồ dùng trong gia đình bé

20-24/11

Ngày hội của

cô giáo

1/12

27/11-Nhu cầu gia đình Nghề

nghiệp

4-8/12

Nghề nông/dịch vụ

11-15/12

Bác sỹ, y tá

18-22/12

Cháu yêu chú bộ đội

25-29/12

Nghề xây dựng

Trang 23

8-12/1

Động vật dưới nước

15- 19/1

Động vật sống trong rừng

5- 9/3

Ngày hội 8/3

12- 16/3

Quả ngọt quanh bé

19-23/3

Vườn rau của Bé

26-30/3

Cây xanh

Bé thích Giao thông -

Hiện tượng

tự nhiên

2-6/4

Phương tiện giao thông

9-13/4

Phân loại phương tiện giao thông

16-20/4

Hiện tượng thiên nhiên

7-11/5

Trường Tiểu học

14-18/5

Bác Hồ kính yêu

(Nguồn: Kế hoạch năm học 2017-2018, Trường Mầm non Bảo Ninh)

Bảng 1.2 Dự kiến tổng số hoạt động năm học 2017 - 2018 (đơn vị: tiết học)

Chủ đề Phát triển

thể chất

Khám phá xã hội - khoa học

Ngôn ngữ

Tạo hình Toán

Âm nhạc

(Nguồn: Kế hoạch năm học 2017-2018, Trường Mầm non Bảo Ninh)

1.2.2 Thực trạng giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non Bảo Ninh 1.2.2.1 Giới thiệu khái quát về trường Mầm non Bảo Ninh

Trường Mầm non Bảo Ninh là trường công lập, tọa lạc tại xã vùng biển Bảo Ninh thuộc địa phận Thành phố Đồng Hới Đây là một trong số các trường được xây dựng khá lâu đời và có bề dày về thành tích hoạt động Từ những năm đầu thành lập đến nay, trường đã phát triển một cách nhanh chóng

Về cơ sở vật chất, trường hiện có 12 phòng học (gồm 10 phòng kiên cố ở cụm trung tâm, 02 phòng bán kiên cố ở cụm Hà Thôn), 02 phòng chức năng (phòng Nghệ

Trang 24

thuật, Hội trường), 04 phòng làm việc (phòng Hiệu trưởng, phòng Phó hiệu trưởng, phòng Y tế, Văn phòng), 02 phòng bếp ăn (01 phòng kiên cố và 01 bán kiên cố ở cụm

Hà Thôn) Khuôn viên Nhà trường thoáng mát, có tường rào kiên cố, môi trường sạch

sẽ, an toàn, thân thiện Nhìn từ xa trong trường như một công viên trẻ em xinh xắn với nhiều loại đồ chơi xích đu, cầu trượt, nhà chòi và bập bênh, sân trường rợp cây xanh và bóng mát Có đủ hệ thống phòng học, phòng chức năng, sân chơi, công trình vệ sinh, tường rào phục vụ hoạt động Trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho việc dạy và học đầy

đủ theo quy định, có máy chiếu, máy vi tính, tivi để thực hiện công tác quản lý của Nhà trường nhằm triển khai chương trình kidsmart, chương trình giáo dục Mầm non mới

Về đội ngũ cán bộ trường có 49 người bao gồm 03 cán bộ quản lí, 31 giáo viên trực tiếp đứng lớp, 01 giáo viên dạy năng khiếu, 12 nhân viên (01 kế toán, 01 y tế, 10 cấp dưỡng)

Có thể nói Trường Mầm non Bảo Ninh được người dân trong xã cũng như toàn

thành phố xem như một địa chỉ đáng tin cậy trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ Ở đây, các

bé sẽ luôn cảm thấy thoải mái, độc lập và tự tin phát triển khả năng của bản thân Đồng thời, các bé sẽ có một không gian học tập, vui chơi và làm quen với môi trường xung quanh một cách hoàn hảo trong môi trường giáo dục vừa thân thiện, gần gũi, an toàn vừa kích thích trí tò mò, khám phá của trẻ Các cô đến với cháu bằng tất cả tấm lòng người mẹ

“Chưa làm mẹ nhưng chứa chan tình mẹ, bởi yêu nghề nên quý lớp măng non”

1.2.2.2 Thực trạng giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non Bảo Ninh

a Nhận thức của giáo viên về vai trò của tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi

- Nhận thức của giáo viên về vai trò của tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ thông

qua các hoạt động học tập

Tác giả đã sử dụng phiếu điều tra đối với 15 giáo viên trường Mầm non Bảo Ninh để tìm hiểu thực trạng việc giáo dục biển đảo cho trẻ trong hoạt động học tập cũng như các điều kiện ảnh hưởng tới hiệu quả của việc giáo dục biển đảo cho trẻ và điều kiện để nâng cao chất lượng giáo dục biển đảo cho trẻ

Sau khi phát phiếu điều tra, thu thập và xử lý, tác giả thu được kết quả như sau:

Bảng 2.1 Nhận thức của giáo viên về vai trò của tích hợp giáo dục biển đảo cho

Trang 25

Từ kết quả trên cho thấy hầu hết các giáo viên đã đánh giá cao tầm quan trọng của việc tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ thông qua hoạt động học tập Trong quá trình tổ chức hoạt động, có 66,7% ý kiến giáo viên cho rằng việc tích hợp giáo dục biển đảo thông qua hoạt động học tập là rất quan trọng Còn 33,3% ý kiến là quan trọng, không có ý kiến nào cho rằng việc tích hợp giáo dục cho trẻ thông qua hoạt động học tập là không quan trọng Như vậy, có thể khẳng định hoạt động học tập là biện pháp giúp trẻ tiếp cận với môi trường một cách dễ dàng và thuận lợi nhất Tuy nhiên, các giáo viên mới chỉ nêu lên được tầm quan trọng của nó chứ chưa tích hợp vào hoạt động học tập Cho nên việc tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ ở trường Mầm non vẫn đang còn rất hạn chế

Nhận thức của giáo viên về mức độ thực hiện tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ thông qua hoạt động học tập

Sau khi phát, thu phiếu điều tra và xử lí số liệu, tác giả đã thu được kết quả nhận thức của giáo viên về mức độ thực hiện tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ qua hoạt động học tập như sau:

Bảng 2.2 Mức độ tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ thông qua hoạt động học tập

(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)

Từ bảng trên ta thấy, có 26,7% ý kiến của giáo viên cho rằng thường xuyên tích hợp giáo dục biển đảo thông qua hoạt động học tập, không có giáo viên nào không thực hiện và có đến 73,3% cho rằng không thường xuyên nghĩa là chỉ thỉnh thoảng thực hiện, và khi chúng tôi hỏi thêm tại sao các giáo viên chỉ thỉnh thoảng tiến hành giáo dục biển đảo cho trẻ thì các cô cho rằng thông qua các hoạt động trong chế độ sinh hoạt hàng ngày thì chúng tôi tiến hành thường xuyên hơn Như vậy, nhận thức của giáo viên về việc tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ thông qua hoạt động học tập là chưa cao, tỷ lệ thực hiện không thường xuyên chiếm số đông là vì các giáo viên cho rằng khi tích hợp thông qua hoạt động học tập thì phải có môi trường cho trẻ trải nghiệm và hình thành ý thức cho trẻ ngay từ đầu thì mới đạt hiệu quả

- Nhận thức của giáo viên về thời điểm tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ thông qua hoạt động học tập

Trang 26

Bảng 2.3 Nhận thức của giáo viên về thời điểm tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ

(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)

Từ bảng trên ta thấy, có 46,7% ý kiến cho rằng nên tích hợp giáo dục biển đảo vào cuối hoạt động học tập, có 20% ý kiến cho rằng nên tích hợp vào đầu hoạt động, cũng 20 ý kiến cho rằng nên tích hợp từ đầu đến cuối hoạt động, chỉ có 13,3% ý kiến cho rằng nên tích hợp vào giữa hoạt động

Qua đó ta thấy, nhận thức của giáo viên về thời điểm để tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ thông qua hoạt động học tập chưa đồng đều nhau, và chưa có sự thống nhất Đa số các giáo viên cho rằng tích hợp giáo dục biển đảo vào cuối hoạt động sẽ mang lại hiệu quả cao nhất Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng chỉ tích hợp vào cuối hoạt động thì chưa đủ để hình thành được ý thức hay thái độ của trẻ với hoạt động học tập

và sẽ không nâng cao được chất lượng của hoạt động

- Nhận thức của giáo viên về việc lựa chọn các nội dung chủ đề giáo dục biển đảo cho trẻ thông qua hoạt động học tập

Bảng 2.4 Nhận thức của giáo viên về việc lựa chọn các nội dung chủ đề

giáo dục biển đảo cho trẻ

(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)

Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy, có đến 53,3% ý kiến cho rằng có thể tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ ở tất cả các chủ đề, chủ điểm trong hoạt động học tập Điều

đó cho thấy, đa số giáo viên đã nhận thức được các nội dung cần để giáo dục biển đảo cho trẻ nhưng trong thực tế họ vẫn chưa thực hiện một cách linh hoạt trong các chủ đề

đó

Trang 27

Như vậy, thông qua hoạt động học có chủ đích, giáo viên còn chưa linh hoạt, việc giáo dục biển đảo vẫn được thực hiện nhưng trong phạm vi hạn chế chủ yếu ở một số chủ đề như trường mầm non, nước và các hiện tượng tự nhiên…

- Nhận thức về việc lựa chọn hoạt động để giáo dục biển đảo cho trẻ thông qua hoạt động học tập

Bảng 2.5 Nhận thức về việc lựa chọn hoạt động để giáo dục biển đảo cho trẻ

3 Hoạt động khám phá môi trường xung quanh 3 20

(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)

Qua bảng ta thấy, mặc dù các giáo viên có sự nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ thông qua hoạt động học tập nhưng khi được hỏi lựa chọn hoạt động để tiến hành giáo dục biển đảo cho trẻ thì phần lớn giáo viên lại cho rằng hoạt động dạo chơi tham quan là phù hợp hơn (chiếm 26,7%) Trong khi đó, chỉ có 20% chọn hoạt động khám phá môi trường xung quanh (KPMTXQ)

Như vậy, nhận thức của giáo viên vẫn chưa đầy đủ, các giáo viên cho rằng tích hợp giáo dục biển đảo trong hoạt động tạo hình, dạo chơi tham quan là có hiệu quả nhất còn hoạt động học tập thì hầu như đa số giáo viên còn chưa chú trọng, nếu có thì chỉ thông qua tranh ảnh và đàm thoại với trẻ về hành động, việc làm của các bạn nhỏ

về ý thức bảo vệ môi trường hoặc lồng ghép vào phần sau của hoạt động chứ chưa cho trẻ trải nghiệm, thực hành để hình thành ý thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm của trẻ đối với môi trường

Trang 28

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC BIỂN ĐẢO THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO TRẺ 5 - 6

TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON

2.1 Lựa chọn và vận dụng các phương pháp dạy học một cách linh hoạt để tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi

Trẻ em trong giai đoạn từ 5 - 6 tuổi là thời kì phát triển mạnh mẽ cả về thể chất, trí tuệ, cảm xúc Trẻ tương tác tích cực với những gì diễn ra xung quanh chúng

Bản chất việc học ở trẻ em là thông qua sự bắt chước, khám phá, trải nghiệm, thực hành để hiểu về những sự vật, hiện tượng diễn ra xung quanh trẻ, đồng thời trẻ học cách biểu đạt những hiểu biết đó thông qua sự chia sẻ, trao đổi với bạn bè Vì vậy, vai trò của giáo viên là người được đào tạo có mục đích để giảng dạy và dạy dỗ trẻ trở nên con người Nhằm khai thác các tình huống cũng như các vật liệu khác nhau để khuyến khích trẻ chơi, khuyến khích trẻ hoạt động cùng nhau

Sau đây là một số vấn đề mà giáo viên cần quan tâm và vận dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực trong tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ Đối với giáo viên thì có rất nhiều phương pháp để giáo dục, để giảng dạy Giáo viên là người giáo dục trẻ thì phải chọn phương pháp phù hợp để tích hợp giáo dục biển đảo của mình đáp ứng với quan điểm giáo dục biển đảo tại trường Mầm non

Thứ nhất, giáo viên nên giúp trẻ tận dụng tất cả các giác quan để khám phá sự vật, hiện tượng Giáo viên nên dành thời gian cho trẻ quan sát, xem xét, phỏng đoán,

so sánh, sử dụng câu hỏi gợi mở, câu hỏi kích thích trẻ tư duy nhằm dẫn dắt trẻ suy nghĩ và giúp trẻ nói lên được về những gì chúng đang nhìn thấy, giáo viên gợi ý cho trẻ chia sẻ, bày tỏ ý kiến của mình, cùng nhau trao đổi để tìm hiểu, khám phá đối tượng Bên cạnh đó giáo viên cần tạo cho trẻ môi trường hoạt động phong phú, hấp dẫn với các đồ dùng, đồ chơi và các nguyên vật liệu khác nhau để kích thích hứng thú khám phá của trẻ

Thứ hai, người giáo viên mầm non cần phải nắm vững các kỹ thuật sử dụng từng phương pháp dạy học cụ thể Giáo viên cần thực hiện đúng yêu cầu kỹ thuật của từng

phương pháp, có như thế thì mới nâng cao được hiệu quả tổ chức các hoạt động cho trẻ Các kỹ thuật này bao gồm: Kỹ thuật chia nhóm, kỹ thuật giao nhiệm vụ, kỹ thuật đưa ra tình huống có vấn đề, kỹ thuật đặt câu hỏi Cụ thể về kỹ thuật đặt câu hỏi thì giáo viên cần chú ý tới một số yêu cầu như sau: Câu hỏi phải liên quan trực tiếp đến

Trang 29

việc thực hiện mục tiêu bài học, câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng dễ hiểu, đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp với trình độ của trẻ, câu hỏi phải kích thích sự suy nghĩ của trẻ nhằm khuyến khích sự phát triển nhận thức và ngôn ngữ của trẻ, giáo viên không ghép nhiều nội dung trong một câu hỏi, không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc, trẻ sẽ trả lời dễ dàng hơn với các câu hỏi đơn nghĩa, rõ ý

Thứ ba, cần khai thác và vận dụng các phương pháp dạy học tích cực một cách khoa học Để thực hiện tốt điều này thì trong từng phương pháp dạy học cụ thể giáo

viên cần phải chú ý một số nội dung như sau:

- Phương pháp thảo luận nhóm: Có rất nhiều cách khác nhau để chia nhóm tuy

nhiên, không nên chia nhóm trẻ quá đông hoặc quá ít, nội dung thảo luận của các nhóm

có thể giống hoặc khác nhau Cần quy định rõ thời gian thảo luận và kết quả thảo luận cho các nhóm, cần bầu ra trưởng nhóm, kết quả thảo luận nhóm có thể được trình bày bằng nhiều hình thức như: vẽ, hát, đóng kịch, thơ…Giáo viên cần quan sát các nhóm thảo luận và có sự giúp đỡ kịp thời trong trường hợp các nhóm gặp khó khăn

- Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề: thì giáo viên cần thực hiện đúng theo

quy trình các bước như sau: Xác định, nhận dạng vấn đề hoặc tình huống, thu thập thông tin có liên quan đến vấn đề hoặc tình huống đặt ra, liệt kê các cách giải quyết có thể có, phân tích, đánh giá kết quả từng cách giải quyết (tích cực, hạn chế, cảm xúc, giá trị), so sánh kết quả các cách giải quyết, lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất, thực hiện theo cách giải quyết đã lựa chọn, rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn

đề, tình huống khác

- Phương pháp đóng vai: thì việc “diễn” không phải là phần chính của phương

pháp này mà điều quan trọng là giáo viên giúp trẻ tham gia thảo luận sâu sau phần tham gia vào vai diễn ấy

- Phương pháp trò chơi: đạt hiệu quả thì giáo viên nên chọn những trò chơi dễ

tổ chức và thực hiện, trò chơi phải phù hợp với chủ đề, với đặc điểm và trình độ của trẻ, phù hợp với quỹ thời gian, với hoàn cảnh, điều kiện thực, trẻ phải nắm được quy tắc chơi và phải tôn trọng luật chơi, trò chơi phải tạo được sự hứng thú và vui thích của trẻ

- Phương pháp dạy học khám phá: giáo viên nên lựa chọn nội dung vấn đề hoặc

tình huống đảm bảo tính vừa sức đối với trẻ, chuẩn bị đồ chơi, đồ dùng trực quan và những điều kiện cần thiết để trẻ tự tìm tòi khám phá, tổ chức cho trẻ làm việc cá nhân,

Trang 30

làm việc theo nhóm, khuyến khích trẻ tự tìm tòi khám phá, đưa ra các phát hiện, cách giải quyết có thể, liệt kê các cách giải quyết có thể có, phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết của cá nhân trẻ, của nhóm trẻ, lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất, kết luận về nội dung của vấn đề, làm cơ sở cho trẻ tự kiểm tra, tự điều chỉnh, rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác

- Phương pháp dạy học trải nghiệm: thì giáo viên nên tổ chức cho trẻ thực hiện

đủ 4 bước: quan sát, suy nghĩ (tâm trí), Cảm nhận (cảm xúc, hành động (cơ bắp) Để học hiệu quả, trẻ cần phải: tiếp nhận thông tin, suy ngẫm xem nó sẽ tác động đến cuộc sống của trẻ em như thế nào, so sánh mức độ phù hợp của nó với những trải nghiệm của trẻ em thế nào và suy nghĩ xem từ thông tin đó trẻ em sẽ có những cách hành xử mới nào Việc học tập đòi hỏi không chỉ có nhìn, nghe, chuyển động hay động chạm Trẻ cần biết kết hợp những gì trẻ cảm giác và suy nghĩ được với những gì trẻ cảm nhận và ứng xử

- Phương pháp động não: khi sử dụng đối với trẻ Mầm non thì giáo viên nên

hướng dẫn trẻ cách trả lời những câu hỏi ngắn, có khi chỉ cần một từ Tất cả ý kiến của trẻ đều cần được giáo viên khích lệ, thừa nhận Đặc biệt, không phê phán các câu trả lời của trẻ và luôn khen ngợi trẻ đúng lúc Cuối giờ thảo luận cần nhấn mạnh kết quả

có được là thành quả của cả nhóm hoặc của tất cả các thành viên trong nhóm

Thứ tư, làm thế nào để vận dụng có hiệu quả phương pháp dạy học theo dự án? Đây là một phương pháp dạy học rất có ý nghĩa đối với trẻ, tuy nhiên trong thực tế

thì phương pháp này ít được giáo viên sử dụng Các dự án thường xuất hiện từ các câu hỏi của trẻ Dự án được thực hiện bởi một trẻ hoặc một nhóm trẻ em (4-6 thành viên)

để trải nghiệm và khám phá các vấn đề, câu hỏi, vấn đề và thách thức có liên quan Thời gian thực hiện dự án thường phải mất vài tuần để hoàn thành - và đôi khi lâu hơn nữa, tùy thuộc vào độ tuổi và sở thích của trẻ Phương pháp dạy học theo Dự

án được tổ chức thành 3 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Thử hứng thú của trẻ: Ngay từ khi bắt đầu dự án, giáo viên quan

tâm đến chủ đề thông qua việc khuyến khích trẻ chia sẻ những câu chuyện cá nhân có liên quan Khi trẻ có hiểu biết hiện tại về chủ đề nào đó, từ đó giáo viên đánh giá xem mức độ hiểu biết của trẻ như thế nào và giúp trẻ xây dựng các câu hỏi mà trẻ có thể

tìm hiểu

Ngày đăng: 08/06/2018, 10:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w