1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần Xây dựng Miền Tây.

76 704 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần Xây dựng Miền Tây.
Tác giả Đỗ Thị Thu Hương
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Xây Dựng
Chuyên ngành Kinh Tế Xây Dựng
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 600 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vận dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần Xây dựng Miền Tây.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ,vận hành theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một chủtrương lớn đã được đưa ra tại Đại hội Đảng lần thứ VI và hoàn thiện từng bướcqua các kỳ đại hội Đảng lần thứ VII ,VIII ,IX ,X Chủ trương này đã tác động tớitoàn bộ các tổ chức ,các lĩnh vực hoạt động kinh tế -xã hội ,trong đó có cácdoanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nước ta

Sau nhiều thập kỷ thực hiện hình thức giao thầu xây dựng nói chung ,xâydựng dân dụng nói riêng theo cơ chế kế hoạch tập trung ,lần đầu tiên tại ViệtNam đã chính thức áp dụng hình thức đấu thầu theo Quyết định 183/TTg ngày16/4/1994 của chính phủ về việc thành lập hội đồng xét thầu quốc gia và Nghịđịnh 43 CP ngày 16/7/1994 về quy chế đấu thầu đã đánh dấu một bước ngoặt củaviệc thực hiện quá trình chuyển đổi lĩnh vực về tổ chức và quản lý xây dựng Từđây ,các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cũng bắt đầu bước vàomột thời kỳ mới của sự phát triển,đó là thời kỳ cạnh tranh trong đấu thầu xâydựng

Những năm qua ,Nhà nước đã huy động nhiều loại nguồn lực để khôiphục ,mở rộng và xây dựng mới hàng loạt các công trình xây lắp trên tất cả cácvùng , miền của đất nước Chỉ tính riêng vốn nhà nước đầu tư cho phát triển cơ

sở hạ tầng xây lắp thì giai đoạn 1996-2000 đã đầu tư hơn 7 tỷ đồng ,giai đoạn2001-2005 trên 37 tỷ đồng (gấp 5 lần giai đoạn 1996-2000); kế hoạch 2005-2010

dự tính đầu tư 85 nghìn tỷ đồng (gấp 2,3 lần giai đoạn 2001-2005); trong đó chỉtính riêng những công trình nhóm A đã tới trên 20 dự án chuyển tiếp ,trên 20 dự

án chuẩn bị khởi công và xây dựng mới

Trang 2

Mức tiết kiệm trong đầu tư vào các công trình xây lắp cầu đường đượcquyết định nhiều nhân tố ,trong đó đấu thầu là một trong những nhân tố quantrọng Năm 2004,qua 28.644 gói thầu đã được đưa ra thực hiện đấu thầu thì giátrị thầu thấp hơn giá gói thầu tới 487 triệu USD (4.599/5.086 triệu USD) đạt tỉ lệtại khâu này là 9,6%,trong đó có sự đóng góp của cạnh tranh đấu thầu của cácdoanh nghiệp xây dựng.

Rõ ràng rằng ,cùng với sự ưu tiên của Nhà nước dành cho sự phát triển cơ

sở hạ tầng ,giao thông cầu đường ,dẫn đến việc làm tăng số lượng công trình vàtổng mức đầu tư với lĩnh vực này thì các doanh nghiệp xây dựng đang thực sựđứng trước nhiều cơ hội và thách thức,trong đó cơ hội được dự thầu tăng lên ,cònviệc có trúng thầu hay không thì lại tùy thuộc chủ yếu vào khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp trước quá trình này.Trên thực tế, nhà thầu trúng thầu đã thắngcác đối thủ cạnh tranh của mình không phải bao giờ cũng là do năng lực thực sựvượt trội ,đồng thời cũng đã xảy ra không ít trường hợp nhà thầu trúng thầu đãlấp vào lỗ hổng năng lực cạnh tranh của mình bằng những cách thức “mamãnh”,đã trúng thầu bằng những cách thức cạnh tranh không “lành mạnh”

Các Tổng công ty xây dựng Việt Nam được thành lập theo Quyết định90/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ là một loại hình doanh nghiệpđược xếp vào loại mạnh của hệ thống doanh nghiệp Việt Nam.Trong quá trình

dự thầu các gói thầu xây dựng ở nước ngoài,nhiều Công ty hay Tổng công tytrong số đã trúng thầu;tuy nhiên ,tại gói thầu trong nước ,các Công ty ,Tổng công

ty đã thua cuộc trước những đối thủ là những doanh nghiệp xây dựng nướcngoài.Vấn đề nổi lên trong các cuộc thắng ,thua này ,xét về bản chất đó là vấn đềnăng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp Đây là một vấn đề thực tiễn đòi hỏiphải nghiên cứu để cung cấp cho doanh nghiệp và những cơ quan hoạch định

Trang 3

chính sách của Nhà nước,những nghiên cứu khoa học để hình thành những quanđiểm và nhận thức đúng đắn ,đánh giá mặt được và chưa được của tình hình và

đề ra các giải pháp hữu hiệu cho vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của cácCông ty hay Tổng công ty

Mặc dù là một yêu cầu vừa thiết thực,vừa cấp bách trước mắt,vừa cơ bảnlâu dài đối với các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam,nhưng vấn đề nâng caonăng lực cạnh tranh trong đấu thầu của các doanh nghiệp này cho tới nay vẫncòn rất ít các công trình nghiên cứu

Để góp phần tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này,trong quá trình thực tập tạiCông ty cổ phần Xây dựng Miền Tây ,tôi đã chọn đề tài cho chuyên đề thực tậpcủa mình là :”Đánh giá năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của Công ty

cổ phần Xây dựng Miền Tây qua chuỗi sản lượng tự thầu và một số nhân tốkhác”

Phương pháp nghiên cứu : Sử dụng phương pháp mô tả thống kê, phân tíchlogic , phần mềm kinh tế lượng View…

Trang 4

1.1.1 Khái niệm ,thực chất đấu thầu xây dựng

Đấu thầu là một phạm trù kinh tế tồn tại một cách khách quan trong nềnkinh tế thị trường đòi hỏi Nhà nước phải nắm bắt và vận dụng có hiệu quả trongquá trình quản lý và điều hành nền kinh tế quốc dân.Trong cơ chế thị trường hoạtđộng đấu thầu là một mắt xích vô cùng quan trọng trong toàn bộ quá trình muasắm của chính phủ nói chung và trong việc thực hiện các dự án đầu tư nóiriêng.Mặt khác ,từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) với chủ trươngđổi mới cơ chế quản lý mở cửa nền kinh tế để thu hút vốn đầu tư nước ngoài,đặc biệt là khi có luật đầu tư ra đời ,nền kinh tế nước ta chuyển biến mạnh mẽ.Ngoài nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước ,còn có các nguồn vốn từ các khoảnvay ,vốn viện trợ từ các tổ chức kinh tế ,xã hội và chính trị nước ngoài Các tậpđoàn kinh tế ,các ngân hàng nước ngoài đã bỏ vốn đầu tư vào nước ta ngày càngnhiều ,nhất là trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.Đối với các dự án thuộc vốn đầu

tư nước ngoài thì việc đấu thầu là bắt buộc.Những năm qua ,dự án đầu tư thuộcvốn trong nước cũng thông qua việc tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu ,xongthể lệ và quy định còn chắp vá,chưa chuẩn mực,các nhà thầu được lựa chọn hoặctrúng thầu nhiều khi chưa thực sự khách quan,thậm chí còn chưa tương xứng với

dự án

Xuất phát từ đặc điểm trên,để tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý đầu tư xâydựng cơ bản được tốt hơn và quy chuẩn việc chọn nhà thầu ,đồng thời tiếp cận

Trang 5

với thông lệ quốc tế.Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/1999/ND-CPngày1/9/1999,Nghị định số 14/2000/ND-CP ngày 05/5/2000 và Nghị định số66/2003/ND-CP ngày 12/6/2003 về quy chế đấu thầu.Bên cạnh đó còn có Thông

tư số 04/2000/TT-BKH ngày 26/05/2000 của Bộ Kế hoạch và 88/1999 ND-CP

và Nghị định số 14/2000/ND-CP

Đấu thầu xây dựng là phương thức mà chủ đầu tư sử dụng để tao ra cạnhtranh giữa các đơn vị xây dựng với nhau nhằm lựa chọn nhà thầu có thực hiện tốtcác yêu cầu của chủ đầu tư

Hoạt động xây dựng có thể khái quát bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1 : Khái quát hoạt động đấu thầu xây dựngGiải thích sơ đồ: Các nhà thầu thông qua các yêu cầu của chủ đầu tư xâydựng HSDT nhằm cho các nhà đầu tư biết được năng lực của các nhà thầu đưa racác biện pháp thi công Chủ đầu tư thông qua bên tư vấn để lựa chọn nhà thầu

Trang 6

đáp ứng được những yêu cầu của chủ đầu tư tốt nhất và hai bên đi ký hợp đồng.Chủ đầu tư : là cá nhân hoặc tổ chức có tư cách pháp nhân được giao tráchnhiệm trực tiếp quản lý,sử dụng vốn đầu tư theo quy định của pháp luật.

Nhà thầu :là tổ chức kinh tế có đủ tư cách pháp nhân tham gia đấu thầu màđơn thầu đã được chủ công trình chấp nhận

Hợp đồng: nghĩa là thỏa thuận giữa chủ đầu tư và nhà thầu về việc thực thicông trình,bao gồm các điều kiện,đặc điểm kỹ thuật,các bản vẽ của chủ côngtrình và các bản vẽ của nhà thầu,các bảng mục đã được định giá và điền,đothầu ,thư chấp nhận và các điều kiện khác mà đã được thư chấp nhận gộp vàomột cách rõ ràng

1.1.1.2 Thực chất của đấu thầu xây dựng.

Có nhiều quan niệm khác nhau về đấu thầu xây dựng:

a) Theo quan điểm của nhà thầu

Đấu thầu là một trong những phương thức chủ yếu để có được dự án giúpcho doanh nghiệp tồn tại và phát triển

Thực chất của đấu thầu đối với nhà thầu là một quá trình cạnh tranh với cácđối thủ,thương thảo với các chủ thầu làm rõ khả năng tiến hành công tác xâydựng bảo đảm các yêu cầu về chất lượng,tiến độ để dành lấy hợp đồng thực hiện

dự án mà chủ thầu đưa ra.Đấu thầu là quá trình hết sức khó khăn,không ít rủi ronguy hiểm xảy ra

Trang 7

Sơ đồ 1.2-Đấu thầu giữa các nhà thầu(NT)Giải thích: Trong rất nhiều nhà thầu,để lựa chọn được nhà thầu phù hợp vớitính chất của công trình đầu tư chủ đầu tư tổ chức đấu thầu thông qua quy chếđấu thầu để lựa chọn nhà thầu.

b) Theo quan điểm của chủ đầu tư

Đấu thầu là hình thức (quá trình) lựa chọn nhà thầu đáp ứng được yêu cầucủa chủ đầu tư trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu.Quy chế đấu thầu banhành theo Nghị định14/2000/ND-CP ngày 05/5/2000 của Chính phủ đã ghirõ”đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mờithầu.Mục tiêu của công tác đấu thầu là nhằm mục đích cạnh tranh công bằng vàminh bạch trong quá trình lựa chọn nhà thầu phù hợp,bảo đảm hiệu quả kinh tếcủa dự án.”

Có thể hiểu đấu thầu là hình thức thương thảo của hai bên,gồm:

Bên mời thầu là chủ đầu tư hoặc đại diện hợp pháp của chủ đầu tư có dự áncần đấu thầu

Các nhà thầu là các tổ chức kinh tế có đủ điều kiện và tư cách pháp nhân để

Đấu Thầu

NTn

Dự án công trình xây dựng

Trang 8

tham gia đaaus thầu.Nhà thầu có thể là cá nhân trong trường hợp đấu thầu tuyểnchọn tư vấn.

Sơ đồ 1.3-Quan hệ giữa bên mời thầu và các nhà thầu

Giải thích: Bên mời thầu có quan hệ với các nhà thầu khi xuất hiện côngtrình xây dựng.Từ các nhà thầu tham gia đấu thầu bên mời thầu thông qua quychế đấu thầu tổ chức ,đấu thầu và lựa chọn nhà thầu trúng thầu.Mối quan hệ giữabên mời thầu và các nhà thầu luôn được giữ trong quá trình sản xuất kinh doanh.c) Quan điểm của Nhà nước

Đấu thầu là một phương thức quản lý các hoạt động xây dựng cơ bản thôngqua việc ủy quyền cho các chủ đầu tư (bên mời thầu) theo chế độ công khaituyển chọn nhà thầu

Xét theo quan điểm này, đấu thầu là sự tham dự của 3 chủ thể có liên quanđến dự án (công trình xây dựng)

Quy chế mời thầu

Công trình xây dựng

Đấu Thầu

Trang 9

Sơ đồ 1.4-Quan hệ giữa các chủ thể trong đấu thầu đối với các dự án doNhà nước đầu tư

Giải thích: Trong sơ đồ 1.4 chỉ rõ ,Chính phủ phân cấp quản lý cho chínhquyền địa phương , các bộ, các tổ chức kinh tế-xã hội …trong việc quản lý thựchiện các dự án công trình xây dựng giao thông ,các cấp quản lý các dự án nàyđóng vai trò là các bên mời thầu và theo chế độ đấu thầu sẽ tiến hành mời cácnhà thầu tham gia đấu thầu để chọn một nhà thầu có hiệu quả nhất mà giao dựán

Từ 3 cách tiếp cận đấu thầu nói trên ,có thể rút ra khái niệm chung sau đây:Đấu thầu là cuộc thi công khai với cùng một điều kiện nhằm dành lấy côngtrình(dự án) xây dựng, mà người ra đề thi (hồ sơ mời thầu) và chấm thi là bênmời thầu ,thí sinh là các nhà thầu với bài thi là các hồ sơ dự thầu,còn người giámsát cuộc thi là chế độ đấu thầu do Nhà nước ban hành thông qua tổ chuyên gia tưvấn đấu thầu

1.1.2 Đặc điểm đấu thầu xây dựng:

Đối tượng của hoạt động đấu thầu xây dựng là một phần việc, một/một số

Quy chế đấu thầu

dựng

Trang 10

hạng mục hoặc toàn bộ một công trình xây dựng.Theo Luật Xây dựng năm 2000thì:”Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của conngười ,VLXD,thiết bị lắp đặt vào công trình ,được lien kết định vị với đất ,có thểbao gồm phần dưới mặt đất,phần trên mặt đất ,phần dưới mặt nước và phần trênmặt nước,được xây dựng theo thiết kế.Công trình xây dựng bao gồm công trìnhxây dựng công cộng,nhà ở,công trình công nghiệp ,giao thông ,thủy lợi ,nănglượng và các công trình khác”.Công trình đấu thầu xây dựng gắn liền với đấtđai ,liên quan tới quy hoạch vùng ,lãnh thổ.

Do vậy đặc điểm khác biệt nhất giữa đấu thầu xây dựng và đấu thầu muasắm hàng hóa và dịch vụ khác là đối tượng vì đối tượng của đấu thầu xây dựng làcác công trình xây dựng,mà trong giai đoạn đấu thầu xây dựng chưa phải là mộthàng hóa đã lưu thông trên thị trường như đối tượng của hoạt động đấu thầu muasắm hàng hóa và dịch vụ đấu thầu khác

Mặt khác ,đối với đấu thầu mua sắm hàng hóa và dịch vụ khác,các nhà thầucạnh tranh nhau thông qua việc đảm bảo cung cấp hàng hóa và dịch vụ đủ chấtlượng theo yêu cầu của cơ quan mua sắm nhưng với chi phí hợp lý như cùng vớicác dịch vụ bảo hành ,bảo trì ,dịch vụ sau bán hàng thuận lợi đối với ngườimua.Đấu thầu mua sắm hàng hóa luôn đưa ra những công nghệ mới đem lạinhiều lợi thế trong sử dụng và trong đấu thầu mua sắm hàng hóa và dịch vụ nhàthầu luôn cạnh tranh thông qua uy tín của doanh nghiệp

Còn trong lĩnh vực xây lắp, các nhà thầu luôn cạnh tranh về giải pháp vàthực hiện thiết kế sao cho đáp ứng được yêu cầu về chất lượng với chi phí thấpnhất.Giải pháp của nhà thầu xây dựng gắn liền với kinh nghiệm được đúckết,gắn liền với việc áp dụng công nghệ mới và không bỏ qua biện pháp thựchiện phù hợp với điều kiện thi công thực tế.Trong đấu thầu xây lắp, giải pháp

Trang 11

thực hiện luôn là yếu tố quan trọng để giành thắng lợi trong đấu thầu xây lắp.

1.1.3 Phương thức đấu thầu xây dựng

-Đấu thầu một túi hồ sơ

Theo phương pháp này ,nhà thầu cần nộp hồ sơ dự thầu trong một túi hồ sơbao gồm những đề xuất về kỹ thuật,tài chính,giá bỏ thầu và những điều kiệnkhác

-Đấu thầu hai túi hồ sơ (hai phong bì)

Khi dự thầu theo phương pháp này,nhà thầu cần nộp những đề xuất về kỹthuật và những đề xuất về tài chính trong từng túi hồ sơ riêng vào cùng một thờiđiểm

Túi hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được xem xét trước để đánh giá xếphạng.Nhà thầu đạt số điểm về kỹ thuật từ 70% trở lên sẽ được xem xét tiếp túi hồ

sơ về tài chính Trường hợp nhà thầu không đáp ứng được các yêu cầu về tàichính và các điều kiện của hợp đồng ,bên mời thầu phải xin ý kiến của người cóthẩm quyền quyết định đầu tư nếu được chấp thuận mới được nhà thầu tiếp theo

để xem xét

-Đấu thầu hai giai đoạn

Phương pháp này áp dụng cho các dự án lớn (có giá trị từ 500 tỷ đồng trởlên) phức tạp về công nghệ và kỹ thuật hoặc dự án thuộc dạng chìa khóa traotay.Trong quá trình xem xét ,chủ đầu tư có điều kiện hoàn thiện yêu cầu về mặtcông nghệ ,kỹ thuật tài chính của hồ sơ mời thầu

Trang 12

kỹ thuật của mình.

Giai đoạn thứ hai:

Chủ đầu tư mời các nhà thầu khác tham gia trong giai đoạn thứ nhất nộp đềxuất kỹ thuật đã được bổ sung hoàn chỉnh trên cùng một mặt bằng kỹ thuật và đềxuất đầy đủ các điều kiện tài chính,tiến độ thực hiện,điều kiện hợp đồng gói thầuđánh giá ,xếp hạng các nhà thầu

1.1.4 Quá trình đấu thầu xây dựng từ góc độ doanh nghiệp xây dựng.

Đối với các doanh nghiệp nói chung khi thực hiện một dự án bao giờ cũngmong muốn đạt được hiệu quả cao nhất trong điều kiện có thể đối với 3 yếu tố vềchất lượng,chi phí ,thời gian.Nhất là đối với một quốc gia thì yếu tố này quantrọng bởi ngân sách quốc gia không phải lúc nào cũng cân bằng thậm chí có lúcluôn luôn thâm hụt trong khi đó lại có rất nhiều thứ phải chi như quốc phòng anninh ,giáo dục ,giao thông vận tải ,y tế …Do vậy phải luôn cân nhắc cả 3 yếu tốkhi quyết định đầu tư vào một dự án nào đó.Việc sử dụng phương pháp đấu thầu

đã giúp cho các doanh nghiệp (chủ đầu tư) càng có nhiều phương án lựa chọnnhà đầu tư phù hợp với yêu cầu đề ra nhất là đối với các dự án lớn đòi hỏi vốnlớn,tính chất kỹ thuật phức tạp,thi công trong6 G điều kiện khó khăn thìphương thức đấu thầu càng tỏ ra có hiệu quả,bởi khi thực hiện đấu thầu sẽ:

Do tính cạnh tranh trong đấu thầu nên để có thể thắng thầu thì các nhà thầuphải đáp ứng tối đa các điều kiện của bên mời thầu.Các nhà thầu thường cóhướng giảm chi phí của gói thầu bằng cách hạ thấp giá tự thầutrong hồ sơ dựthầu xuống thấp tới mức có thể chấp nhận được nghĩa là bù đắp đủ chi phí vàvẫn có lợi nhuận.Kết quả là giảm được chi phí đáng kể cho chủ đầu tư

Trang 13

1.1.4.2 Nâng cao chất lượng và tiến độ thực hiện dự án.

Khi hợp đồng đã được kí kết với nhà thầu và chủ đầu tư nghĩa là tráchnhiệm mỗi bên đã được quy định rõ ràng.Để hoàn thành tốt hợp đồng đang thựchiện và giữ uy tín cho chính nhà thầu để thực hiện các hợp đồng lần sau thì cácnhà thầu buộc phải thực hiện công trình một cách tốt nhất trong khả năng có thể -Tiết kiệm thời gian thực hiện dự án: Các nhà thầu phải đẩy nhanh tiến độthi công nếu muốn tiếp tục thực hiện các hợp đồng với khách hàng khác.Mặtkhác với sự chuyên môn hóa ngày càng cao thì nhà thầu luôn muốn đẩy nhanhtiến độ công việc để tránh những rủi ro có thể xảy ra

-Nâng cao chất lượng dự án: Nhà thầu trúng thầu dĩ nhiên họ phải đáp ứngđược yêu cầu và chất lượng.Hơn nữa do sức ép cạnh tranh không có lý do gì mànhà thầu đẩy nhanh tiến độ mà lơ là công tác giám định chất lượng của công việc

mà họ làm

1.1.4.3 Nâng cao hiệu quả đầu tư và quản lý đầu tư.

Để tổ chức đấu thầu bắt buộc bên mời thầu phải bán mời thầu ,cân nhắc kỹlưỡng các lợi hại đạt được ,đồng thời phải xem xét kỹ các điều kiện đưa ra khảnăng phù hợp với nhà thầu trong nước hay quốc tế ,do đó mà họ hiểu rõ toàn bộ

và bao quát được gói thầu một cách chắc nhắn tránh trường hợp bị thay đổi ,thấtthoát hay gian trá trong quá trình thực hiện dự án.Ngược lại để tham gia đấu thầuthì nhà thầu phải có một đội ngũ cán bộ nắm vững các vấn đề liên quan tới đấuthầu như quy chế đấu thầu ,các văn bản,quy định ,quyết định của các cơ quannhà nước có thẩm quyền,đồng thời phải hiểu rõ nội dung yêu cầu của dự án.Nhưvậy qua mỗi lần đấu thầu các nhà thầu có điều kiện học hỏi thêm kinh nghiện và

kỹ năng mới của các nhà thầu khác,được cọ xát và xâm nhập thực tế bởi vậy họ

Trang 14

tăng cường thêm nghiệp vụ chuyên môn cũng như năng lực quản lý.Vô hình cácyếu tố đó làm tăng chất lượng sản phẩm hay nói khác đi làm tăng hiệu quả củaquản lý đầu tư và hiệu quả đầu tư.

1.1.4.4 Đấu thầu góp phần tích cực vào sự trưởng thành của các nhà thầu trong nước.

Được thử thách và được tôi luyện trong môi trường thực tế là điều kiện tốtnhất để học hỏi ,trưởng thành đối với mỗi nhà thầu Cứ mỗi lần tham gia đấuthầu các nhà thầu trong nước đã có cơ hội để thử thách và thực sự đã có dấu hiệucạnh tranh được với các nhà thầu quốc tế thông qua những lần đấu thầu mà họtham gia.Trước đây các nhà thầu trong nước chỉ tham gia với tư cách là các nhàthầu phụ đối với các gói thầu quốc tế thì nay đã có thể chính thức tham dự và đãtrúng thầu nhiều gói thầu có quy mô khá lớn từ 10-60 triệu USD đối với cáccông trình xây dựng.Đó chính là nhờ tính cạnh tranh ,các nhà thầu muốn tồn tại

và phát triển thì họ phải tự khắc phục những yếu kém về năng lực tàichính,chuyên môn và kinh nghiệm.Mặt khác cũng phải nói đến chính sách ưutiên của Đảng và Nhà nước đối với các nhà thầu khi họ tham gia đấu thầu

Xét trên góc độ từ phía doanh nghiệp thì quá trình đấu thầu phải thực hiệnqua 3 giai đoạn:

-Giai đoạn sơ tuyển: Đây là giai đoạn mà các nhà thầu phải vượt qua (vớicác công trình lớn yêu cầu kỹ thuật phức tạp…) nếu muốn được tham gia tiếpcác giai đoạn sau của quá trình đấu thầu Đây là giai đoạn sơ tuyển các nhà thầutrước khi tham gia vào giai đoạn đấu thầu

-Giai đoạn nhận đơn thầu : Đây là giai đoạn chủ đầu tư và bên mời thầutiến hành xác lập điều kiện đấu thầu bao gồm : Thông báo mời thầu ,mẫu đơnđấu thầu ,hồ sơ thiết kế kỹ thuật ,tiến độ thi công ,bảo vệ dự thầu…

Trang 15

-Giai đoạn mở thầu và đánh giá đơn thầu:Đây là giai đoạn mà chủ đầu tưtiến hành mở thầu đánh giá và xếp hạng nhà thầu,xét duyệt kết quả đấu thầuđồng thời phải thông báo kết quả trúng thầu…

1.2 Khái niệm ,mô hình và phương pháp xác định năng lực cạnh tranh đấu thầu của doanh nghiệp xây dựng.

1.2.1 Khái niệm và thực chất năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng (phân biệt sự khác biệt năng lực cạnh tranh,khả năng cạnh tranh và sự cạnh tranh).

1.2.1.1 Khái niệm cạnh tranh

Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường là một khái niệm được sử dụng cho

cả phạm vi doanh nghiệp ,phạm vi ngành ,phạm vi quốc gia hay phạm vi khuvực liên quốc gia v.v…Trong khi đối với một doanh nghiệp, mục tiêu của cạnhtranh chủ yếu là để tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận thì đối với một số quốc gia mụctiêu là để phát triển nền kinh tế quốc dân một cách bền vững và có hiệu quả hơn

so với các quốc gia khác Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh

tế ganh đua nhau ,tìm mọi biện pháp để đạt được mục tiêu kinh tế củamình,thông thường là chiếm lĩnh thị trường ,giành lấy khách hàng cũng như cácđiều kiện sản xuất,thị trường có lợi nhất.Mục đích cuối cùng của các chủ thểkinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa lợi ích.Đối với người sản xuất kinhdoanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dung là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.-Theo K.Marx “cạnh tranh là sự ganh đua,sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà

tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hànghóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.Nghiên cứu về sản xuất tư bản chủ nghĩaK.Marx đã khẳng định rằng quy luật cơ bản của chủ nghĩa tư bản là quy luật giátrị thặng dư,đồng thời còn chỉ rõ nhiều quy luật khác của phương thức sản xuất

Trang 16

này trong đó có quy luật cạnh tranh.

-Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam (tập 1) : Cạnh tranh (trong kinh doanh)

là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa,giữa các thươngnhân ,các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường ,chi phối bởi quan hệcung-cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất ,tiêu thụ và thị trường có lợinhất.Ngoài ra, còn có nhiều nhà kinh tế học nổi tiếng khác cũng đã đề cập tớivấn đề này Và từ những định nghĩa và các cách hiểu đa dạng về cạnh tranh cóthể rút ra được điểm hội tụ chung ,theo đó cạnh tranh là cố gắng nhằm giành lấyphần hơn,phần thắng về mình trong môi trường cạnh tranh Và bên cạnh nhữnglợi ích mà cạnh tranh đem lại thì cạnh tranh cũng có những khuyết tật cố hữumang đặc trưng của cơ chế thị trường.Cơ chế thị trường buộc các doanh nghiệpphải thực sự tham gia vào cạnh tranh để tồn tại và phát triển.Trong quá trình

ấy ,các doanh nghiệp chỉ quan tâm trước hết đến lợi ích của bản thân mà khôngchú ý đến việc giải quyết các vấn đề xã hội từ đó làm xuất hiện những mâu thuẫngiữa các doanh nghiệp và Nhà nước, kéo theo các vấn đề xã hội như nạn thấtnghiệp ,tiền công rẻ mạt, môi trường sinh thái bị hủy hoại ,các tệ nạn của bộ máyNhà nước phát triển (tham nhũng ,tha hóa v.v…)

Như vậy ,cạnh tranh một mặt thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh ,mặtkhác cũng dẫn đến tình trạng phân hóa, cạnh tranh không lành mạnh hoặc độcquyền trên thị trường.Chính điều này đòi hỏi phải có sự quản lý vĩ mô của Nhànước ,trong đó có việc tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanhnghiệp hoạt động có hiệu quả,góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước.Khi nghiên cứu về cạnh tranh ,các nhà nghiên cứu sử dụng các khái niệmnhư sức cạnh tranh,năng lực cạnh tranh ,khả năng cạnh tranh.Tuy nhiên,có một

sự khác biệt giữa những khái niệm này Việc phân biệt giữa chúng có ý nghĩa

Trang 17

quan trọng trong việc hoạch định chiến lược cũng như đường đi nước bước trongkinh doanh ,nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng và đem lại lợi ích chodoanh nghiệp.

1.2.1.2 Năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng (phân định sự khác biệt năng lực cạnh tranh ,khả năng cạnh tranh và sức cạnh tranh).

Khi nói đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là tích hợp củakhả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần,lợi ích và định những

ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranhtrực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định

Năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của doanh nghiệp (nhàthầu ,tổng công ty,công ty…) là toàn bộ những năng lực về tài chính ,thiết

bị ,công nghệ,marketing,tổ chức quản lý ,lao động…mà doanh nghiệp có thể sửdụng để tạo ra các lợi thế của mình so với các nhà thầu khác (doanh nghiệp xâydựng) nhằm nâng cao khả năng trúng thầu của doanh nghiệp mình

Năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của doanh nghiệp không chỉ làlợi thế về sản phẩm (chất lượng ,giá cả) mà còn có các lợi thế về nguồn lực đểđảm bảo sản xuất ra sản phẩm đó (tài chính ,công nghệ ,nhân lực) Để tồn tại vàphát triển bền vững cần phải không ngừng nâng cao nội lực của doanh nghiệpnhằm tạo ra ưu thế về mọi mặt như chất lượng công trình ,tiến độ thi công,biệnpháp thi công ,giá cả…so với các đối thủ khác.Trước yêu cầu ngày càng cao và

đa dạng của khách hàng,nếu doanh nghiệp không vươn lên đáp ứng được thì điềuthất bại trong cạnh tranh là điều khó tránh khỏi Trên thực tế sự cạnh tranh giữacác doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt,buộc các nhà thầu phải tìm mọi biệnpháp để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình thông qua những năng lực hiệncó

Trang 18

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là toàn bộ năng lực và việc sử dụngcác năng lực đó để tạo ra lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranhkhác nhằm thỏa mãn đến mức tối đa các đòi hỏi của thị trường.

Một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đặc biệt là doanh nghiệp xây dựng(xây dựng là một ngành sản xuất vật chất đặc thù) thì nhiều khi doanh nghiệp cónăng lực cạnh tranh mạnh mẽ (có tài chính mạnh,có công nghệ hiện đại,có nhânlực tốt…) tuy nhiên chưa chắc có được khả năng cạnh tranh mạnh mẽ so với cácđối thủ trong đấu thầu …

Yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh:

-Yếu tố bên trong doanh nghiệp như khả năng tài chính,khả năng côngnghệ-kỹ thuật,khả năng về nhân lực,trình độ tổ chức lập kế hoạch trong kinhdoanh

-Yếu tố bên ngoài như chính sách của Nhà nước ,ảnh hưởng từ phía kháchhàng , thế lực của đối thủ cạnh tranh,áp lực từ phía nhà cung cấp

Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của doanh nghiệp (nhàthầu,tổng công ty,công ty…) là toàn bộ những năng lực về tài chính,thiết bị côngnghệ,marketing,tổ chức quản lý ,lao động…mà doanh nghiệp có thể sử dụng đểtạo ra các lợi thế của mình so với các nhà thầu khác nhằm nâng cao khả năngtrúng thầu của doanh nghiệp mình

Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng các công trình giao thông củadoanh nghiệp không chỉ là lợi thế về sản phẩm (chất lượng,giá cả) mà còn có cáclợi thế về nguồn lực để đảm bảo sản xuất ra sản phẩm đó (tài chính ,côngnghệ ,nhân lực) Để tồn tại và phát triển bền vững phải không ngừng nâng caonội lực của doanh nghiệp nhằm tạo ra ưu thế về mọi mặt như chất lượng côngtrình ,tiến độ thi công,biện pháp thi công,giá cả…so với các đối thủ.Trước yêu

Trang 19

cầu ngày càng cao và đa dạng của khách hàng ,nếu doanh nghiệp không vươn lênđáp ứng được thì sự thất bại trong cạnh tranh là điều khó tránh khỏi.Trên thực tế

sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt, buộc các nhàthầu phải tìm mọi biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình

Sức cạnh tranh của một quốc gia là năng lực của một nền kinh tế có thể tao

ra tăng trưởng bền vững trong môi trường kinh tế đầy biến động của thị trườngthế giới.Sức cạnh tranh trong doanh nghiệp thể hiện ở thực lực và lợi thế củadoanh nghiệp so với các đối thủ khác trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏicủa khách hàng để thu lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp trong môi trườngcạnh tranh trong và ngoài nước

+Yếu tố cấu thành sức cạnh tranh gồm: Chiến lược kinh doanh của doanhnghiệp; quy mô của doanh nghiệp,năng lực quản lý và điều hành kinh doanh,khảnăng nắm bắt thông tin;khả năng hợp tác hữu hiệu với các đối thủ hữu quan;Uytín của doanh nghiệp;trình độ công nghệ;chất lượng đội ngũ lao động,cán bộquản lý; văn hóa doanh nghiệp ;chi phí kinh doanh;sự chấp nhận mạo hiểm ,rủi

ro trong kinh doanh

Sức cạnh tranh là yếu tố bên trong (nội lực) doanh nghiệp đã tồn tại và sẽ sửdụng để làm vũ khí cạnh tranh nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng

Nó được coi như một lợi thế so sánh của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnhtranh trong việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng

Có thể nói giữa năng lực cạnh tranh, khả năng cạnh tranh ,sức cạnh tranh vềbản chất là khác nhau nhưng giữa chúng có quan hệ tương quan với nhau Chúng

hỗ trợ cho nhau để cùng đạt mục đích cuối cùng là thỏa mãn khách hàng và đemlại lợi ích lớn nhất cho doanh nghiệp

1.2.2 Mô hình các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh đấu thầu của

Trang 20

doanh nghiệp xây dựng

Có thể nói cấu thành nên năng lực cạnh tranh đấu thầu của doanh nghiệpxây dựng bao gồm hai nội dung cơ bản sau:

+Năng lực cạnh tranh hiển thi trong hồ sơ dự thầu của Nhà thầu

+Năng lực cạnh tranh nguồn lực đấu thầu của Nhà thầu

1.2.2.1 Năng lực cạnh tranh hiển thị trong hồ sơ dự thầu của Nhà thầu.

Đối với một Dự án,Chủ đầu tư sẽ tìm kiếm một nhà thầu ,người sẽ thực hiệntốt nhất công việc tạo một công trình có chất lượng đúng thời hạn và ở một chiphí thấp nhất Trong một sự kết hợp nhà thầu-chủ đầu tư tốt nhất ,chủ đầu tư phảichọn một nhà thầu từ một danh sách các công ty thực sự muốn tham gia côngviệc đó.Các yếu tố ảnh hưởng đến những hồ sơ dự thầu của nhà thầu là khốilượng công việc hiện tại ,uy tín,các công trình ,sản phẩm tương tự,vị trí trên thịtrường ,khả năng sinh lợi nhuận …Để có thể chiến thắng được các đối thủ cạnhtranh thì việc xây dựng được hồ sơ dự thầu có chất lượng là việc phải làm.Tuynhiên để có thể xây dựng được một hồ sơ dự thầu có chất lượng thì không hề đơngiản,mỗi một doanh nghiệp khi tham gia đấu thầu cần xác định được rõ năng lựccạnh tranh của doanh nghịp đó được hiển thị trong hồ sơ dự thầu, cụ thể là sảnphẩm ,là giá cả,là phân phối và xúc tiến truyền thông

a) Sản phẩm cạnh tranh: Trong hồ sơ dự thầu nhà thầu phải nêu bật được vịtrí trên thị trường so với đối thủ cạnh tranh để từ đó khẳng định năng lực cạnhtranh của nhà thầu.Trong bất kỳ hồ sơ dự thầu nào khi lập hồ sơ đều phải chấphành tiêu chí kinh tế kỹ thuật theo hồ sơ mời thầu như các chỉ dẫn của hồ sơ mờithầu,mục tiêu của công việc,hợp đồng theo quy ước,và các quy định mang tínhbắt buộc đối với tất cả các doanh nghiệp tham gia dự thầu.Do vậy ngay trong Hồ

sơ dự thầu phải làm nổi bật được nhà thầu đã tuân thủ các quy định đó như thế

Trang 21

nào và đưa ra được các bằng chứng cụ thể để chứng minh năng lực nhà thầu.Từmục tiêu công việc và các chỉ dẫn trong hồ sơ mời thầu,nhà thầu phải đưa rađược biện pháp thi công để từ đó tiên lượng lập dự toán đưa ra giá dự thầu nhưngliên quan đến biện pháp thi công nhà thầu phải chỉ rõ được các ưu thế của mìnhkhi tham gia dự thầu như phương tiện kỹ thuật,phương pháp thi công,năng suấtlao động để từ đó khẳng định tiến độ hoàn thành công trình.Đối với các côngtrình xây lắp,chất lượng sản phẩm xây lắp ngoài những nội dung như đã đề cạp ởtrên.Do tính năng kỹ thuật (độ đông kết,độ ổn định…) sản phẩm xây dựng cónhiều khâu không thể đốt cháy giai đoạn ,thêm nữa do tính mùa vụ vì chịu tácđộng của thời tiết (mùa mưa thì rất khó xây dựng) nên tiến độ xây dựng lại càngquan trọng Do vậy để sản phẩm có tính cạnh tranh thì uy tín về chất lượng ,vềtiến độ và vị thế của nhà thầu chiếm lĩnh trên thị trường là các nhân tố quyết định

sự so sánh

b) Giá cạnh tranh: Để có được giá cạnh tranh trong xây dựng công trình xâylắp phụ thuộc nhiều vào địa điểm xây dựng,vào chủng loại công trình xây dựng

và vào các yêu cầu sử dụng khác nhau của các chủ đầu tư

Cấu tạo của cách tính giá dự thầu như sau:

GDT=VL+NC+M+C+L+VAT

=T+C+L+VAT

Trong đó: VL-chi phí vật liệu; NC –chi phí nhân công

M-chi phí máy xây dựng;T-tổng chi phí trực tiếp

L-lãi dự kiến của nhà thầu

C-chi phí chung=C1+C2 (trong đó C1-chi phí quản lý công trường ; C2-chiphí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho từng hạng mục xây dựng)

Trong giá trị dự toán thì giá thành chiếm tỷ trọng lớn nhất

Trang 22

và chất lượng.Vì khi nâng cao yêu cầu chất lượng công trình thì chi phí cho đầu

tư xây dựng tăng lên,nhưng chi phí cho khai thác, bảo dưỡng sửa chữa trong sửdụng giảm xuống

Hình vẽ 1.1:Mối quan hệ giữa chi phí ,chất lượng

Trong đó: C –Chi phí ; Q –Chất lượng ; Cx-Chi phí xây dựng côngtrình; Ck –Chi phí kiểm soát chất lượng; Ct – Tổng chi phí ; Qop- Chất lượng tốiưu; Cop- Chi phí tối ưu

Khi xem xét đồng thời mối quan hệ của cả ba nhân tố là chi phí, chất lượng,

Trang 23

thời gian xây dựng thấy thời gian xây dựng công trình được rút ngắn,giá trị sửdựng công trình được gia tăng đem lại lợi ích cho cả chủ đầu tư và nhà thầu.Cóthể nói, trong đấu thầu khi nhà thầu có được giá dự thầu mang tính cạnh tranh thìkhả năng giành chiến thắng trước các đối thủ cạnh tranh khác là rất lớn.

c) Phân phối cạnh tranh: Trong lĩnh vực xây dựng ,để cạnh tranh được nhàthầu rất cần tạo ra những sự khác biệt của doanh nghiệp mình so với doanhnghiệp cùng loại và kể cả các doanh nghiệp khác ngành nghề.Do đó việc tạodựng vị thế của mình trên thương trường là việc cần phải làm đối với bất kỳdoanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp nào.Khi khẳng định được vị thếcủa mình, nhà thầu có thể dễ dàng huy động được các nguồn lực để phục vụ thicông Quá trình xây dựng và duy trì các quan hệ trên thị trường là cần thiết để cóthể đảm bảo lợi ích đa phương bền vững trong môi trường kinh doanh toàn cầuđầy biến động và không chắc chắn như hiện nay.Do vậy các doanh nghiệp xâylắp ngoài các quan hệ với chủ đầu tư, các nhà thầu chính cần phải thết lập và duytrì hiệu quả các mối quan hệ với nhiều đối tác trên thị trường như nhà cung cấp,nhà sản xuất,quan hệ với người lao động,quan hệ với các tổ chức marketingchuyên môn hóa khác…Để làm tốt và duy trì các mối quan hệ trên, thì buộcdoanh nghiệp phải vận dụng marketing quan hệ Các hoạt động marketing quan

hệ cần được thực hiện và quản lý bao gồm cả các hoạt động cả bên trong và bênngoài doanh nghiệp,các hoạt động trong nước và quốc tế Các hoạt độngmarketing quan hệ có thể xem xét từ rộng đến hẹp bao gồm xây dựng mạng lướikinh doanh, xây dựng và duy trì liên kết chiến lược,cải tiến hoạt động liêntục ,nghiên cứu và phát triển quan hệ dài hạn…đây được coi là cách nhanh nhất

để tạo dựng được vị thế và tạo dựng được sự ủng hộ công chúng của nhà thầu.d) Xúc tiến, truyền thông: Được hiểu là tiếp xúc giữa nhà cung cấp dịch vụ

Trang 24

và khách hàng thông qua các hoạt động truyền thông về dịch vụ viễn thông, vềnhà cung cấp dịch vụ nhằm giới thiệu, quảng bá sản phẩm dịch vụ của doanhnghiệp Thông qua xúc tiến truyền thông có thể đem đến cho chủ đầu tư, nhàcung cấp ,người sử dụng…biết đến hình ảnh thương hiệu nhà thầu, uy tín chấtlượng công trình xây dựng của Nhà thầu đã qua.Và quan trọng nhất là kinhnghiệm của nhà thầu trong thi công công trình.

1.2.2.2 Năng lực cạnh tranh nguồn lực đấu thầu của nhà thầu:

a) Năng lực thương hiệu của nhà thầu:

Trong thời đại kinh tế tri thức,nhân lực, thông tin và thương hiệu là ba loạitài sản có ý nghĩa quyết định nhưng không hề xuất hiện trong bảng tổng kết tàisản của doanh nghiệp Xây dựng thương hiệu ngày nay đã trở thành một yếu tốquan trọng nhất để thành công trong kinh doanh.Nhưng thực tế đã chứngminh,điểm tương đồng của tất cả các thương hiệu thành công là đều có một tầmnhìn rõ ràng về triển vọng và tiềm năng của mình và những tầm nhìn là hoàntoàn khác biệt với nhau.Mọi thương hiệu thành công đều phải trải qua hai thờikỳ: đột phá và củng cố Để tiến lên từ không có gì và trở thành một thương hiệuđược thị trường chấp nhận, thì thương hiệu đó cần phải đột phá để tạo thành vàsau đó là duy trì và củng cố địa vị thương hiệu Chỉ với chiến dịch quảng cáo,không một thương hiệu nào có thể vươn lên để trở thành thương hiệu hàng đầutrong một chủng loại sản phẩm hay một lĩnh vực hoạt động mà thương hiệu đótrước tiên phải cung ứng được một cái gì đó mới mẻ, đủ quan trọng để chi phốikhách hàng

Có thể nói đối với một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng thìviệc tạo dựng thương hiệu là vô cùng quan trọng ,trong lĩnh vực xây lắp muốnthắng thầu ngoài tính hiện đại,đồng bộ của thiết bị thi công , thì thương hiệu của

Trang 25

một doanh nghiệp xây dựng cũng góp phần quan trọng trong việc thắng thầu vàgiữa các doanh nghiệp xây dựng luôn có sự cạnh tranh trực tiếp đó là sự so sánh

về thương hiệu và danh tiếng Vì từ thương hiệu nhà thầu có thể khẳng định vớicác chủ đầu tư, với khách hàng về chất lượng và tiến độ,kỹ-mỹ thuật công trìnhthông qua các công trình đã thi công trước đó; đồng thời giúp chủ đầu tư,kháchhàng hiểu rõ về lịch sử và hiện trạng năng lực sở trường,ngành nghề truyềnthống của doanh nghiệp

b) Năng lực tài chính của nhà thầu

Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế, kỹ thuật, công nghệ,lao động…phát sinh trong quá trình kinh doanh dưới hình thức giá trị Hoạt độngsản xuất kinh doanh ảnh hưởng tới hoạt động tài chính, ngược lại tình hình tàichính tốt hay xấu sẽ có tác động thúc đẩy hay cản trở quá trình sản xuất kinhdoanh.Việc tìm các biện pháp huy động các nguồn vốn để cung cấp đầy đủ, kịpthời, vững chắc và có lợi nhất cho sản xuất kinh doanh (nhất là các nguồn vốnlớn, dài hạn có lãi suất thấp…) luôn luôn là những đòi hỏi đối với những doanhnghiệp mong muốn chủ động tăng cường năng lực cạnh tranh của mình

Xác định nguồn vốn với cơ cấu hợp lý, nhất là giữa vốn tự có và vốn vay,vốn trong nước và vốn ngoài nước khi liên doanh,giữa các nguồn vốn với các lãisuất khác nhau mà doanh nghiệp phải vay cũng là một vấn đề quan trọng đối vớihoạt động tài chính của doanh nghiệp Tài chính của doanh nghiệp là mối quantâm của rất nhiều đối tượng:

+Đối với các ngân hàng và các tổ chức tín dụng, mối quan tâm của họ chủyếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Họ cũng quan tâm đến số vốncủa chủ sở hữu, bởi số vốn này đảm bảo cho họ trường hợp doanh nghiệp bị rủi

Trang 26

Đối với các nhà cung ứng vật tư,họ căn cứ vào khả năng thanh toán hiện tại

và tương lai của doanh nghiệp để quyết định xem có cho phép khách hàng muachịu hay không

Đối với nhà đầu tư, họ cần phải có thông tin về điều kiện tài chính, kết quảsản xuất kinh doanh, tiềm năng tăng trưởng để quyết định đầu tư

Có thể nói, năng lực tài chính của doanh nghiệp là một yếu tố vô cùng quantrọng trong việc cấu thành nên năng lực cạnh tranh đấu thầu của doanh nghiệpxây dựng Và năng lực tài chính của doanh nghiệp được coi là điều kiện cần đểnhà thầu tham gia dự thầu và thắng thầu

d) Năng lực máy móc thiết bị, kỹ thuật- công nghệ của doanh nghiệp

Sức mạnh về kỹ thuật công nghệ được biểu hiện trực tiếp ở số lượng, chấtlượng, cơ cấu của hệ thống máy móc,thiết bị, trình độ công nghệ của đội ngũ cán

bộ, công nhân kỹ thuật mà doanh nghiệp có thể sẵn sàng huy động và sử dụngkhi trúng thầu

Sức mạnh về kỹ thuật còn được đo bởi trình độ hiện đại của công nghệ:Thông số kỹ thuật,công suất động cơ, năm sản xuất, nước sản xuất, biết đượcthời gian lịch sử, xuất xứ của công nghệ đã được hoạt động bao lâu và khả năngtối đa của công nghệ đó

Để tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp do kỹ thuật và công nghệđem lại, vấn đề quan trọng hàng đầu là giải pháp kỹ thuật có tính độc đáo, cóhiệu quả cao mà doanh nghiệp khác không có sẽ làm tăng tính hấp dẫn, tạo khảnăng trúng thầu cao

Địa hình và thời tiết trong xây dựng cũng là vấn đề đòi hỏi phải xem xétthận trọng, tỷ mỉ những giải pháp thiết bị,công nghệ thích hợp Đối với những

Trang 27

công trình có độ phức tạp cao thì công nghệ cũng phải có độ phức tạp tương ứng

để đáp ứng cho thích hợp

Sức mạnh kỹ thuật công nghệ còn đòi hỏi trình độ của người sử dụng các kỹthuật, công nghệ đó Những trang thiết bị có kỹ thuật phức tạp bao nhiêu thì càngcần đến trình độ của người sử dụng bấy nhiêu

Khả năng đổi mới công nghệ có ảnh hưởng đến việc đảm bảo khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp Những doanh nghiệp có nhiều khả năng đổi mới côngnghệ, luôn tăng cường đầu tư máy móc thiết bị hiện đại để đảm bảo công trìnhngày càng đạt chất lượng cao hơn thì khả năng cạnh tranh được tăng cường, ưuthế trong đấu thầu ngày càng được cải thiện

Máy móc thiết bị là tài sản quan trọng nhất trong tài sản cố định của doanhnghiệp, đại diện cho trình độ kỹ thuật và năng lực kỹ thuật hiện có, giúp doanhnghiệp tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường

Doanh nghiệp xây dựng được đánh giá có trình độ công nghệ cao, máy mócthiết bị hiện đại thì trong cơ cấu trang thiết bị phải có các đặc tính sau:

Tính hiện đại của thiết bị,công nghệ: biểu hiện ở các thông số như hãngsản xuất, năm sản xuất, công suất, giá trị còn lại…của thiết bị

Tính đồng bộ: Thiết bị hoạt động tốt phải đảm bảo sự phù hợp giữa thiết bịcông nghệ với các điều kiện địa lý, khí hậu, thủy văn, phương pháp sản xuất và

sự phù hợp giữa chất lượng, độ phức tạp của sản phẩm với giá cả của sản phẩm

do công nghệ đó sản xuất ra

Tính đổi mới: Đây là một trong những yếu tố cơ bản tăng cường khả năngcanh tranh của doanh nghiệp

Tính hiệu quả: thể hiện ở trình độ sử dụng máy móc, thiết bị của doanhnghiệp, từ đó tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng huy động

Trang 28

tối đa nguồn lực vật chất sẵn có phục vụ cho mục đích kinh doanh.

Năng lực máy móc thiết bị và trình độ công nghệ ảnh hưởng rất nhiều đếncác mặt hoạt động của doanh nghiệp Yếu tố kỹ thuật này quyết định việc xácđịnh và lựa chọn các giải pháp hợp lý trong tổ chức thi công, bố trí con người vàthiết bị một cách hài hòa nhằm đạt được tiêu chuẩn chất lượng, rút ngắn tiến độthi công, tiết kiệm các chi phí xây dựng , hạ giá thành công trình và tăng lợi thếcạnh tranh

e) Năng lực nguồn nhân lực của doanh nghiệp

Do đặc điểm kinh tế kỹ thuật, lao động trong ngành xây dựng có nhiều điểmkhác so với các ngành khác như điều kiện lao động nặng nhọc và có tính lưuđộng cao, các quá trình lao động trong xây dựng rất phức tạp và khó tổ chức chặtchẽ như các dây truyền sản xuất trong các nhà máy công nghiệp, các phương án

tổ chức lao động luôn mang sắc thái cá biệt, địa bàn hàng hóa rộng lớn v.v…xuấtphát từ đó,việc quản lý lao động trong xây càng cần phải được quan tâm thỏađáng

Vấn đề quản lý lao động có vai trò cực kỳ quan trọng vì con người là chủthể của quá trình sản xuất kinh doanh Quá trình đó diễn ra thông qua con ngườivới những động cơ, thái độ và trình độ nghề nghiệp nhất định Với cùng mộtnguồn vật tư, máy móc, tiền vốn như nhau, nhưng quản lý nhân sự khác nhau sẽcho kết quả sản xuất kinh doanh khác nhau

Trình độ kỹ thuật, cấp bậc tay nghề của người lao động tạo cho doanhnghiệp có được một khả năng cạnh tranh xác định, vì vậy doanh nghiệp phảiquan tâm đầu tư đúng mức vào việc nâng cao năng lực làm việc của đội ngũ cán

bộ quản lý và công nhân viên của doanh nghiệp Trong sản xuất kinh doanh máymóc rất quan trọng nhưng nó vẫn cần đến sự điều khiển của con người mới có

Trang 29

thể hoạt động được Doanh nghiệp cần phải quan tâm đầu tư vào công tác đàotạo, cử người đi học thường xuyên để tiếp cận cái mới, trẻ hóa đội ngũ, coi đây làmột trong những điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp.

Lực lượng lao động (về chất lượng và số lượng) phải phù hợp với trình độphát triển của cơ sở kỹ thuật trong doanh nghiệp Do vậy doanh nghiệp cần chútrọng công tác tuyển dụng lao động và tổ chức phân công sử dụng lao động mộtcách khoa học, thực hiện bồi dưỡng cho người lao động cả về mặt vật chất, tinhthần và năng lực làm việc, coi đó là những hoạt động thiết thực làm tăng khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp

e)Năng lực Marketing của doanh nghiệp

Việc phân tích và chuẩn đoán các yếu tố marketing với tư cách là nguồn nộilực quan trọng hình thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, chủ yếu đánhgiá dựa trên cơ sở sau:

- Tổ chức marketing

- Hệ thống thông tin marketing

- Năng lực nhân sự marketing

- Năng lực ngân quỹ marketing

f) Năng lực lãnh đạo và quản lý

Đối với năng lực lãnh đạo và quản lý của nhà thầu thể hiện ở việc tổ chứcquá trình xây dựng, tổ chức lao động bảo đảm thực hiện đúng nhiệm vụ, tiến độ

và đúng chất lượng Với những công trình có quy mô lớn, kết cấu và yêu cầuphức tạp, đòi hỏi về năng lực tổ chức càng cao Do vậy, những người lãnh đạo vàđội ngũ cán bộ quản lý phải không ngừng trau rồi, nâng cao năng lực tổ chức Đểlàm tốt việc này, cần chú ý đúc rút kinh nghiệm thực tế từ những công trình đã

Trang 30

thi công; nắm chắc lực lượng của đơn vị, có kế hoạch hợp lý, bố trí và điều phốilực lượng thiết bị và nhân lực theo…

Năng lực tổ chức của nhà thầu phải được thể hiện rõ trong tài liệu, giải trìnhcác biện pháp thực hiện Nó là một trong những tài liệu quan trọng thuyết phụcbên mời thầu khi các nhà thầu bỏ giá thầu tương tương nhau Do vậy yếu tố này

là một trong những yếu tố nâng cao năng lực của nhà thầu trước sự cạnh tranhmạnh mẽ của đối thủ cạnh tranh

1.2.3 Phương pháp xác định năng lực cạnh tranh đấu thầu của doanh nghiệp xây dựng.

Năng lực cạnh tranh trong đấu thầu của doanh nghiệp xây dựng được xácđịnh thông qua các tiêu chuẩn sau:

1.2.3.1 Tiêu chuẩn về tài chính, thương mại: bao gồm giá dự thầu; điều kiện

và thời hạn thanh toán; sự đáp ứng về điều kiện đảm bảo thực hiện hợp đồng nhưbảo lãnh, khả năng huy động vốn…

1.2.3.2 Tiêu chuẩn về năng lực và kinh nghiệm:

- Kinh nghiệm được hiểu là thời gian hoạt đọng của doanh nghiệp trong lĩnhvực hoạt động của mình và kinh nghiệm đã thực hiện các công trình, gói thầu cóyêu cầu kỹ thuật ở vùng địa lý và hiện trường tương tự

- Năng lực kỹ thuật bao gồm một phần về vấn đề nhân sự như có chỉ huytrưởng công trường có kinh nghiệm hay có đủ số cán bộ kỹ thuật giám sát tạicông trường có đủ kinh nghiệm và có đội ngũ công nhân chuyên môn hóa và taynghề cao…Mặt khác, năng lực kỹ thuật còn bao gồm máy móc thiết bị thi công

- Năng lực tài chính : được tìm hiểu thông qua các báo cáo tài chính hoặccác báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh hàng năm của doanh nghiệp, cụ thểnhư: doanh thu hàng năm, lợi nhuận hàng năm, tổng sản lượng hàng năm của

Trang 31

doanh nghiệp Việc xác định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ được xemxét thông qua các tham số: lợi nhuận, dòng tiền mặt, tỷ lệ vốn vay, mức dự trữ vàhiệu suất lợi tức cổ phần Cụ thể : các hệ số thanh khoản, các hệ số hoạt động(chu chuyển tài sản, cu chuyển dự trữ, chu chuyển khoản nợ phải thu), các chỉ sốsinh lợi (lợi nhuận cận biên, tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư), các tỷ lệ vốn vay(nợ trên tài sản ròng, nợ trên tổng tài sản), phân tích các nguồn vốn và sử dụngcác ngân quỹ…

1.2.3.3 Tiêu chuẩn về kỹ thuật:

Có biện pháp thi công khả thi và có lực lượng thi công đủ năng lực thựchiện ; Có biện pháp an toàn lao động ; Có đủ khả năng huy động thiết bị thi công

và kiểm tra chất lượng sản phẩm theo biện pháp thi công và theo yêu cầu của góithầu ; Có biện pháp tốt để đảm bảo kiểm soát chất lượng sản phẩm ; Có tiến độthi công ngắn nhất

Trang 32

Chương 2: GIỚI THIỆU VÀ PHÂN TÍCH SƠ BỘ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ

PHẦN XÂY DỰNG MIỀN TÂY.

2.1 Khái quát về Công ty cổ phần xây dựng Miền Tây.

2.1.1 Sự ra đời và phát triển :

Công ty cổ phần xây dựng Miền Tây đã chuuyển đổi từ doanh nghiệp Nhànước sang công ty cổ phần theo quyết định số 999/QĐ-BGTVT ngày 16/4/2004của Bộ trưởng bộ giao thông vận tải và bắt đầu từ ngày 23/7/2004 Công ty chínhthức hoạt động theo con dấu, mã số thuế ,tài khoản mới

Công ty CPXD Miền Tây tiền thân là công ty XD Miền Tây được thành lậptheo quyết định số 2409/QĐGTVT của Bộ giao thông vận tải

10 năm qua với Công ty cổ phần xây dựng Miền Tây là một trang sử đẹp,sựhình thành và duy trì phát triển cũng mang đậm nét riêng của Ban xây dựng 64nay là tổng công ty XDCTGT8-Bộ giao thông vận tải

Đường 6,Mộc Châu, Điện Biên là những cơ sở của các đơn vị từ thời banxây dựng 64,sâu đậm tình người và là điểm tựa để các đơn vị sang đất bạn Làolàm nhiệm vụ quốc tế Có những người con,người đồng chí hy sinh trên đất bạnđưa về yên giấc tại đất Điện Biên

Vùng đất Tây Bắc do điều kiện địa hình ,xa các trung tâm kinh tế văn hoáđòi hỏi sự phát triển để tiến kịp miền xuôi .Bộ chính trị có nghị quyết22/BCT ,Thủ tướng chính phủ có quyết định 72/CP về phát triển kinh tế miềnnúi.Nhận thức rõ chủ trương này ,Liên hiệp các xí nghiệp giao thông 8(Nay làtổng công ty XDCTGT8) đã cử một ban đại diện Tây Bắc và đây chính là tiềnthân của Công ty xây dựng Miền Tây

Trang 33

Tổng Công ty đã cử các cán bộ lên giúp đỡ và đề nghị Bộ giao thông vận tảicho phép thành lập Công ty xây dựng Miền Tây và Bộ đã có quyết định thànhlập số 2409QĐ/TCCB-LĐ ngày 21/11/1994.

Như vậy điều kiện về tư cách pháp nhân đã có ,Công ty đã sử dụng hìnhthức lấy ngắn nuôi dài ,vận động các thành phần đem vốn vào thi công để pháttriển công ty Ngoài gần 10 công trình tại Sơn La đặc biệt là nhà khách Tỉnh vàĐường Mai Sơn –Tà Hộc,tiến tới phát triển lên Tỉnh Lai Châu và một số côngtrình ở các Tỉnh khác như Hà Tĩnh,Yên Bái,Nam Định

Công ty được hình thành là thêm một thành viên của tổng Công ty,tăngthêm sức mạnh của tổng Công ty.Đây là sự nhìn nhận có tầm chiến lược của tổngCông ty về khu vực Tây Bắc.Có sự động viên ,khuyến khích của các phòng bancủa tổng Công ty và sự cố gắng vượt bậc,vượt qua khó khăn lúc đầu “vạn sựkhởi đầu nan” của các đồng chí lãnh đạo Công ty

2.2 Đặc điểm cơ cấu bộ máy ,tổ chức định biên lao động của công ty: 2.2.1.Tổ chức cơ cấu bộ máy của công ty

Căn cứ vào nhiệm vụ ,đặc điểm của quá trình sản xuất kinh doanh,tính phứctạp của kỹ thuật cũng như tiêu chuẩn của quá trình thi công mà công ty CPXDMiền Tây thành lập cơ cấu quản lý trực tuyến,tổ chức định biên và nhiệm vụtrong ban lãnh đạo và các phòng ban,Đơn vị sản xuất Công ty hiện nay như sau:

Trang 34

Sơ đồ tổ chức công ty cổ phần xây dựng miền tây

PHÒNG TCKT

PHÒNG TCCBLĐ

PHÒNG HÀNH CHÍNH

PHÒNG VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN TẠị ĐIỆN BIÊN

SỐ 1

ĐỘI XDCT

SỐ 7

ĐỘI XDCT

SỐ 8

ĐỘI XDCT

SỐ 9

ĐỘI XDCT

SỐ 11

ĐỘI XDCT

SỐ 15

ĐỘI XDCT

SỐ 18

ĐỘI XDCT CẦU

Trang 35

2.2.2 Tổ chức định biên lao động của Công ty:

2.2.2.1 Ban giám đốc

Giám đốc Công ty

-Chịu trách nhiệm toàn diện về kết quả các mặt hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty theo quy định của pháp luật

-Trực tiếp phụ trách các công tác sau:

+ Tổ chức cán bộ - lao động, kế hoạch - kỹ thuật, tài chính- kế toán, vật thiết bị

tư-+ Phụ trách khối cơ quan văn phòng công ty

Các phó Giám đốc Công ty

- Nhiệm vụ chung của các phó giám đốc:

+ Giúp giám đốc điều hành một số lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanhcủa Công ty, chịu trách nhiệm trước giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ đượcgiám đốc phân công thực hiện

+ Thay mặt giám đốc giải quyết các công việc được giám đốc giao và uỷquyền

+ Chịu trách nhiệm về công tác điều hành và hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa công trình được phân công phụ trách trên cơ sở điều lệ quy chế của công ty,hợp đồng kinh tế và hợp đồng giao nhận khoán

Trang 36

+ Theo dõi và giải quyết những tồn tại của các công trình cũ mà trước đây

Đ/c Nguyễn Văn Hương:

-Phụ trách các công trình khu vực Yên Bái ,Lào Cai,Đường 7,Đường20,Đường 22B,Đường Xuyên á,Dự án B4(giai đoạn2),Lai Châu -Mường Tè cũ

 Quyền hạn:

+ Duyệt phương án tổ chức thi công , kế hoạch tiền vôn, kế hoạch vật tưthiết bị, lao động tại các công trình được phân công phụ trách căn cứ vào hợpđồng kinh tế A-B, hợp đồng giao khoán của công ty

+ Ký kết các hợp đồng kinh tế, các văn bản của công ty theo uỷ quyền củagiám đốc

+ Thay mặt giám đốc giải quyết các công việc với chủ đầu tư, ban quản lý,

tư vấn giám sát và các cơ quan hữu quan…

+ Phối hợp với các chủ đầu tư và các cơ quan liên quan tổ chức nghiệm thu,thanh toán, bàn giao công trình

2.2.2.2 Các phòng ban công ty:

*.Nhiệm vụ và định biên phòng TCCB-LĐ-TL(4 người)

-Xây dựng quy chế quản lý cán bộ, quy hoạch cán bộ tham mưu cho cácgiám đốc và cấp uỷ về công tác sắp xếp, bố trí, điều động cán bộ, tổ chức đào tạo

và đào tạo lại cán bộ…

Trang 37

- Phối hợp cùng các phòng ban tổ chức sắp xếp các mô hình sản xuất phùhợp nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty qua từng thời kỳ và điều lệ quản

lý đầu tư XDCB của nhà nước Phân tích, đánh giá mô hình cơ cấu sản xuấttrong đó có biện pháp phát triển, sát nhập, giải thể để phù hợp với yêu cầu nhiệm

vụ sản xuất

- Thực hiện chế độ chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người lao động

- Thực hiện chế độ báo cáo của Công ty, báo cáo cấp trên

- Kiểm tra, theo dõi thực hiện việc trả lương, thưởng cho người lao động

- Quản lý và đề ra các quy chế tiền lương, tiền thưởng, kiểm tra việc thựchiện an toàn lao đông, nội quy lao động, thoả ước lao động tập thể của người laođộng

- Tổ chức nâng lương, nâng bậc, thi thợ giỏi… cho người lao động Thựchiện chế độ thi đua khen thưởng, kỷ luật hàng năm đối với CBCNV

- Căn cứ vào một số nhiệm vụ cơ bản đó, định biên phòng TCCB-TL gồm 4người, trong quá trình thực hiện căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ sản xuất phòng sẽxem xét sửa đổi, bổ xung cho phù hợp

1).Trưởng phòng (Dương Mạnh Thắng,năm sinh 1964 - Kỹ sư KTXD ,Cầuđường-Trưởng phòng) -Phụ trách chung

- Nhiệm vụ:

+Tham mưu ,đề xuất cho cấp uỷ,Ban giám đốc Công ty về bố trí ,sắp xếp,

đề bạt,công tác nâng lương ,nâng bậc,khen thưởng ,kỷ luật ,đào tạo…đối vớiCBCNV

+Xây dựng các quy chế quản lý quản lý cán bộ,tiền lương ,đề xuất phương

án tách nhập,giải thể các đơn vị sản xuất phù hợp với yêu cầu sản xuất kinhdoanh và sự phát triển chung toàn bộ Công ty ,Tổng Công ty và xã hội

Trang 38

+Xây dựng chiến lược phát triển chung và dài hạn về công tác cán bộ và laođộng.

+Nghiên cứu các văn bản ,Qui phạm pháp luật,luật,Điều lệ quản lý đầu tư

và xây dựng…để đưa ra các mô hình sản xuất ,cơ cấu sản xuất phù hợp ,hợp lý +Tổ chức biên soạn các tài liệu,văn bản hướng dẫn về công tác cán bộ laođộng tiền lương ,An toàn lao động.Đồng thời bồi dưỡng ,hướng dẫn cho cán bộchuyên môn nghiệp vụ cấp dưới công tác nghiệp vụ

2).Cán bộ phụ trách về định mức Lao động và Tiền lương:

-Xây dựng được định mức lao động chi tiết ,định mức lao động tổng hợpcho đơn vị sản phẩm theo qui định của Nhà nước,ngành ,định mức nội bộ ápdụng cho Công ty

-Lập quỹ tiền lương,xây dựng đơn giá tiền lương đồng thời tổ chức triểnkhai,giao đơn giá tiền lương cho các đơn vị thực hiện,cân đối và điều chỉnh thựchiện quỹ tiền lương theo định kỳ

-Kiểm tra ,kiểm soát ,duyệt tiền lương cho các đơn vị sản xuất và người laođộng

-Phối hợp các phòng ban chuyên môn theo dõi bổ sung,sửa đổi định mứclao động cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ sản xuất từng thời kỳ,từng địa bànthi công

-Làm báo cáo với cơ quan cấp trên về tình hình thực hiện định mức laođộng,tiền lương và thu nhập thực hiện từng thời kỳ một cách đầy đủ và chínhxác

-Lập sổ theo dõi tình hình thực hiện tiền lương hàng năm ,từng loại côngtrình để có cơ sở phân tích đánh giá Đồng thời tổ chức mạng lưới báo cáo thốngkê,hướng dẫn phương pháp làm việc của cán bộ cấp đơn vị đảm bảo thông tin

Ngày đăng: 05/08/2013, 12:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1 : Khái quát hoạt động đấu thầu xây dựng - Vận dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần Xây dựng Miền Tây.
Sơ đồ 1.1 Khái quát hoạt động đấu thầu xây dựng (Trang 5)
Sơ đồ 1.2-Đấu thầu giữa các nhà thầu(NT) - Vận dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần Xây dựng Miền Tây.
Sơ đồ 1.2 Đấu thầu giữa các nhà thầu(NT) (Trang 7)
Sơ đồ 1.3-Quan hệ giữa bên mời thầu và các nhà thầu - Vận dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần Xây dựng Miền Tây.
Sơ đồ 1.3 Quan hệ giữa bên mời thầu và các nhà thầu (Trang 8)
Sơ đồ 1.4-Quan hệ giữa các chủ thể trong đấu thầu đối với các dự án do Nhà nước đầu tư - Vận dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần Xây dựng Miền Tây.
Sơ đồ 1.4 Quan hệ giữa các chủ thể trong đấu thầu đối với các dự án do Nhà nước đầu tư (Trang 9)
Hình vẽ 1.1:Mối quan hệ giữa chi phí ,chất lượng - Vận dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần Xây dựng Miền Tây.
Hình v ẽ 1.1:Mối quan hệ giữa chi phí ,chất lượng (Trang 22)
Sơ đồ tổ chức công ty cổ phần xây dựng miền tây - Vận dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần Xây dựng Miền Tây.
Sơ đồ t ổ chức công ty cổ phần xây dựng miền tây (Trang 34)
Bảng 2 : Chi phí đầu tư cho đào tạo nhân lực - Vận dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần Xây dựng Miền Tây.
Bảng 2 Chi phí đầu tư cho đào tạo nhân lực (Trang 51)
Bảng 4 : Bảng so sánh các nhà thầu tham gia dự thầu - Vận dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần Xây dựng Miền Tây.
Bảng 4 Bảng so sánh các nhà thầu tham gia dự thầu (Trang 52)
BẢNG THỐNG KÊ MÔ TẢ BIẾN K: - Vận dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần Xây dựng Miền Tây.
BẢNG THỐNG KÊ MÔ TẢ BIẾN K: (Trang 56)
ĐỒ THỊ K: - Vận dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần Xây dựng Miền Tây.
ĐỒ THỊ K: (Trang 57)
BẢNG THỐNG KÊ MÔ TẢ BIẾN L : - Vận dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần Xây dựng Miền Tây.
BẢNG THỐNG KÊ MÔ TẢ BIẾN L : (Trang 58)
ĐỒ THỊ L: - Vận dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần Xây dựng Miền Tây.
ĐỒ THỊ L: (Trang 59)
BẢNG THỐNG KÊ MÔ TẢ BIẾN Y : - Vận dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần Xây dựng Miền Tây.
BẢNG THỐNG KÊ MÔ TẢ BIẾN Y : (Trang 60)
ĐỒ THỊ Y: - Vận dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần Xây dựng Miền Tây.
ĐỒ THỊ Y: (Trang 61)
Bảng kết quả hồi quy : Dependent Variable: Y Method: Least Squares Date: 04/16/09   Time: 10:19 Sample(adjusted): 2003:2 2008:4 - Vận dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công ty cổ phần Xây dựng Miền Tây.
Bảng k ết quả hồi quy : Dependent Variable: Y Method: Least Squares Date: 04/16/09 Time: 10:19 Sample(adjusted): 2003:2 2008:4 (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w