1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết ngồi của nguyễn bình phương

79 649 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy người viết đã chọn đề tài “Dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương” với mong muốn lý giải một tư duy nghệ thuật, khám phá và lí giải các phương d

Trang 1

Lời Cảm Ơn

Hoàn thành khoá luận này, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo khoa Khoa học xã hội – Trường Đại học Quảng Bình, những người đã truyền đạt kiến thức trong suốt bốn năm học qua.Với vốn kiến thức được tiếp thu trong thời học tập không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu

mà còn là hành trang quý giá để tôi bước vào đời vững vàng và tự tin

Đặc biệt, bằng sự kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo Th.S Lương Hồng Văn - người đã trực tiếp hướng dẫn, góp ý, giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện khoá luận

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã luôn sát cánh, ủng hộ, động viêc và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Quảng Bình, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Lê Thị Mỹ Huyền

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài khóa luận tốt nghiệp “Dấu ấn hậu hiện đại

trong tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương” là kết quả nghiên cứu

của riêng tôi không sao chép của ai cả, dưới sự hướng dẫn của Th.S Lương Hồng Văn Nội dung của đề tài nghiên cứu có tham khảo và sử dụng tài liệu của các tác giả, tôi đã trích đầy đủ trong mục tài liệu tham khảo của khóa luận Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình nghiên cứu này

Tác giả khóa luận

Lê Thị Mỹ Huyền

Trang 3

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

2.1 Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương 3

2.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

3.1 Đối tượng nghiên cứu 7

3.2 Phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Đóng góp của khóa luận 8

6 Cấu trúc của khóa luận 8

B PHẦN NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG 9

1.1 Khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại 9

1.1.1 Thuật ngữ chủ nghĩa hậu hiện đại 9

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại 12

1.2 Chủ nghĩa hậu hiện đại và ảnh hưởng trong văn học Việt Nam 15

1.2.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam sau 1986 trong việc tiếp nhận chủ nghĩa hậu hiện đại 16

1.2.2 Ảnh hưởng chủ nghĩa hậu hiện đại trong đời sống văn chương Việt Nam đương đại 17

1.3 Hành trình sáng tạo của Nguyễn Bình Phương 20

1.3.1 Nguyễn Bình Phương – một quan niệm mới về văn chương 20

1.3.2 Những đóng góp của Nguyễn Bình Phương trong tiến trình tiểu thuyết đương đại 24

CHƯƠNG 2: TIỂU THUYẾT “NGỒI” CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG NHÌN TỪ TÂM THỨC HẬU HIỆN ĐẠI VỀ CUỘC SỐNG, CON NGƯỜI 28

2.1 Tâm thức hậu hiện đại về thế giới phồn tạp, bất an 28

2.2 Tâm thức hậu hiện đại về thế giới bất định 32

2.3 Tâm thức hậu hiện đại về sự khủng hoảng niềm tin và cái chết 35

2.4 Con người bản năng – ám ảnh 37

Trang 4

2.5 Con người tha hóa 41

2.6 Con người vô bản sắc 45

CHƯƠNG 3: DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TIỂU THUYẾT “NGỒI” NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN 48

3.1 Kết cấu 48

3.1.1 Kết cấu phân mảnh 49

3.1.2 Kết cấu song hành 52

3.1.3 Dung hợp thể loại 54

3.2 Thủ pháp xây dựng nhân vật 57

3.2.1 Thủ pháp “mờ hoá” hay “tẩy trắng” nhân vật 57

3.2.2 Thủ pháp trừu tượng hóa nhân vật 60

3.3 Giọng điệu 63

3.3.1 Giọng giễu nhại 63

3.3.2 Giọng điệu vô âm sắc (Giọng “trắng”) 65

C KẾT LUẬN 70

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 5

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hậu hiện đại đã trở thành hiện tượng mang tính toàn cầu, được bàn luận, tranh cãi rất nhiều và có ảnh hưởng sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, trong đó có văn học Với văn học, chủ nghĩa hậu hiện đại đã mở ra nhiều khả năng mới cho sự sáng tạo, đem lại những hiệu quả rất to lớn trong việc mang đến cho đông đảo quần chúng độc giả trên toàn thế giới món ăn tinh thần hết sức gần gũi mà không hề bị nhàm chán

Trong bối cảnh hội nhập thế giới trên nhiều mặt đặc biệt trên lĩnh vực văn hoá, văn học Việt Nam đã và đang chuyển động để hoà nhập với không khí chung này như một sự vận động tất yếu của sự phát triển Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho văn học Việt Nam có nhu cầu trong việc học hỏi, tìm tòi, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại trong đó có chủ nghĩa hậu hiện đại Cho đến nay, chủ nghĩa hậu hiện đại không còn là một khái niệm xa lạ trong văn học nước ta Dẫu có nhiều cách lý giải khác nhau, nhưng nó đã được nhìn nhận như một khuynh hướng văn học với những nét đặc thù riêng Vào những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, yếu tố hậu hiện đại đã để lại

dấu ấn trong tiểu thuyết Việt Nam Như trong bài viết Dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu

thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI của Thái Phan Vàng Anh đã khẳng định lại: “Trong quá trình vận động và phát triển, tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã dung nạp vào bản thân nó những yếu tố hậu hiện đại: giải – khu biệt hoá và phi trung tâm hoá; tính chất hỗn loạn và bất ổn của trật tự đời sống; sự xáo trộn giữa hư và thực, giữa cái siêu nhiên, huyền bí và đời thường; những kiểu cấu trúc mới, mảnh vỡ, liên văn bản, gián cách, trò chơi ngôn ngữ, trò chơi cấu trúc, bút pháp nhại, nghịch dị, huyền ảo,… Các yếu tố cơ bản của hậu hiện đại đã được các nhà văn Việt Nam tiếp biến ở nhiều mức

độ, ở từng phong cách” [19,263]

Ở góc độ nghiên cứu văn học, có thể thấy rằng chủ nghĩa hậu hiện đại là một yếu

tố mang lại hương sắc mới, sự cách tân mới mẻ trên các phương diện cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật

Nguyễn Bình Phương là một nhà văn được xếp vào nhóm khuynh hướng hậu hiện đại Tên tuổi của ông được biến đến cuối những năm 90, những tiểu thuyết bắt

đầu từ Vào cõi (1991), Bả giời (1991), Những đứa trẻ chết già (1994), Người đi vắng (1999), Trí nhớ suy tàn (2000), Thoạt kỳ thuỷ (2005), đặc biệt tiểu thuyết Ngồi (2006)

Trang 6

đã thể hiện một lối viết riêng biệt, khác lạ từ cách tiếp cận nhân vật, xây dựng không gian, thời gian và ngôn từ cho đến cách nhìn nhận hiện thực xã hội của tác giả

Lối tư duy thơ và logic của cảm xúc đã chi phối đến thể loại tiểu thuyết tạo nên một cõi thương biến, linh ảo Nó vừa biểu hiện ở thì hiện tại với cuộc đời trần trụi, vừa nhập nhằng ở thì quá khứ với một lịch sử xa xôi từ thời khởi thuỷ hay ám ảnh những giấc mơ, suy tưởng Thế giới ấy không phải ai cũng dễ dàng thâm nhập vào được Cây bút Nguyễn Bình Phương đã khai phá tầng sâu nhất ở mỗi con người như mê lộ của ý thức với những khó khăn chằng chịt để tìm thấy điểm đầu và kết thúc để tìm cho mình

một “lối đi riêng” Đúng như tác giả tâm niệm: “Tiểu thuyết cần có những bước mạo

hiểm” [38] Con đường mà Nguyễn Bình Phương lựa chọn quả là mạo hiểm nhưng

đầy sức vẫy gọi đối với người tiếp nhận, khám phá các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, người viết thấy có một lối viết riêng biệt và thực sự mới mẽ từ cách nhìn nhận, tiếp cận hiện thực, sử dụng ngôn ngữ sáng tạo, cốt truyện cho đến việc sử dụng thủ pháp liên văn bản có tính hiện thực cao Với cách viết riêng lạ này tiểu thuyết của

Nguyễn Bình Phương có thể xem là “sự tích hợp phong phú nhiều trạng thái tư duy

nghệ thuật của tiểu thuyết hiện đại và đương đại Thế giới từ đó đúc kết tạo nên một kiểu tư duy độc đáo Nguyễn Bình Phương” [19,402]

Ngồi là một trong những tác phẩm mới của Nguyễn Bình Phương , được xuất bản

năm 2006 cũng như các tác phẩm khác Ngồi được đánh giá cao ngay từ lúc mới ra đời,

đây là tác phẩm độc đáo, mới lạ cùng với các tiểu thuyết trước, đã đóng góp lớn cho thành tựu của văn học Việt Nam đương đại Cuốn tiểu thuyết này đã nhận thấy cái nhìn độc đáo là hiện thực linh ảo, hiện thực huyền ảo Đó không chỉ là một hiện thực đan xen hai cõi âm dương mà còn là một thế giới bao quát tất cả những vật giới, linh giới, hiện tượng … luôn luôn đi tìm bản thể của mình với cái nhìn vượt lên trên tính tự tôn của loài người

Ngồi được xem là tác phẩm “có những khám phá bên trong con người, tìm hiểu những thức cảm nội tại của nhân vật” [21], là cuốn tiểu thuyết mang đậm dấu ấn hậu

hiện đại từ phương diện nội dung và cả phương thức nghệ thuật trong tác phẩm Bằng kết cấu phân mảnh và dung hợp về thể loại đã mang lại cho tác phẩm cái nhìn mới cho người đọc tiếp cận tác phẩm thông qua hệ thống nhân vật tác giả đã khai thác triệt để

từ đó ta có cái nhìn mới về con người và xã hội trong cuộc sống hiện tại Tuy nhiên sự

quan tâm của bạn đọc và giới phê bình với tác phẩm Ngồi chỉ dừng lại ở các bài báo và

Trang 7

tạp chí chưa có sự nghiên cứu một cách quy mô, hệ thống về Nguyễn Bình Phương cũng như dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết của ông Trong khi đó lại là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên cái hay, cái đặc sắc của thơ Việt giai đoạn đổi mới

Chính vì vậy người viết đã chọn đề tài “Dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết

Ngồi của Nguyễn Bình Phương” với mong muốn lý giải một tư duy nghệ thuật, khám

phá và lí giải các phương diện làm nên giá trị trong các tác phẩm của ông Qua việc thực hiện đề tài này người viết mong muốn góp một phần sức lực của mình vào việc xác định một hướng giải mã mới, phù hợp với xu thế nghiên cứu văn học hậu hiện đại,

là một phương thức tiếp cận tác phẩm đầy tiềm năng và thích ứng với mọi văn bản nghệ thuật

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương

Nguyễn Bình Phương là một tác giả trẻ, có một phong cách độc đáo, kỹ thuật viết mới Nguyễn Bình Phương là một cây bút tài năng, ông viết đều tay trên nhiều thể

loại: Thơ (Khách của trần gian (1986), Lam chướng (1992), Xa thân (1997),… truyện ngắn Đi (1999) và tiểu thuyết Trong lĩnh vực nào ông cũng đạt một số thành công nhất định, đặc biệt hơn hết là thể loại tiểu thuyết với các tác phẩm như: Vào cõi (1991), Bả giời (1991), Những đứa trẻ chết già (1994), Người đi vắng (1999), Trí nhớ

suy tàn (2000), Thoạt kỳ thuỷ (2005), Ngồi (2006), Mình và Họ (2014) Tác phẩm của

Nguyễn Bình Phương xuất hiện đều gây xôn xao trong dư luận bởi sự khác lạ, mới mẽ

về cấu trúc và bởi sự khó hiểu trong hình thức diễn đạt

Viết công trình này người viết đã xem xét hầu hết các bài viết quan trọng về tác giả Nguyễn Bình Phương trong các luận văn, bài báo, tạp chí và các bài nghiên cứu,… Tổng thuật các công trình nghiên cứu như sau:

Tiêu biểu nhất phải kể đến tập hợp các bài nghiên cứu có tính chuyên sâu của

Thuỵ Khê về từng tác phẩm của Nguyễn Bình Phương như: “Khuynh hướng hiện thực

huyền ảo trong tiểu thuyết Những đứa trẻ chết già; Tính chất hiện thực linh ảo âm dương trong tiểu thuyết Người đi vắng; Yếu tố tiểu thuyết mới trong tác phẩm Trí nhớ suy tàn, Thoạt kỳ thuỷ trong vùng đất Cậm cam hoang vu của Nguyễn Bình Phương”[23]…Thuỵ Khê đã nhận thấy cái nhìn hiện thực độc đáo ở Nguyễn Bình

Phương là cái nhìn linh ảo, hiện thực huyền ảo Đó chỉ là một hiện thực đan cài hai cõi

âm – dương mà còn là một thế giới bao quát tất cả những vật giới, linh giới, hiện

Trang 8

tượng,… riết ráo đi tìm bản thể của mình với cái nhìn vượt lên trên tính tự tôn của loài người Mặt khác, các công trình này đã phần nào phát hiện được sự xoá nhoà ranh giới

thể loại trong sáng tác Nguyễn Bình Phương: “Những yếu tố vừa tạo kịch vừa phi

kịch, vừa thơ, vừa phi thơ là những mấu chốt của cấu trúc của tiểu thuyết”

Trong bài viết Cảm nhận tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương của tác giả Phùng Gia Thế (2004) đã khẳng định: “Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương ám ảnh bởi sự khủng

hoảng niềm tin ở con người, của nhà văn vào con người và cuộc đời, những đỗ vỡ của những trật tự xã hội và gia đình, sự khắc khoải ngưng đọng của đời sống, sự đánh mất bản ngã, phương hướng, sự băng hoại đạo đức, đau đớn bơ vơ, tình trạng bất an của con người” cũng trong bài viết này tác giả cũng đã nhận định rằng: “Nhân vật Nguyễn Bình Phương hiện thân cho nỗi đau đớn đến cùng cực của thân phận Người Họ thường là đám đông ô hợp, trong đó có nhiều người điên, quái dị, đơn độc, bản năng, bệnh hoạn, méo mó tự thân Họ luôn lặn gụp miên man giữa hai bờ thực - ảo, vật lộn đau đớn kiếp con người” [35,37] Từ bài viết của tác giả Phùng Gia Thế cho ta thấy

nhà văn Nguyễn Bình Phương tuy trẻ nhưng rất am hiểu về cuộc sống và xã hội đây là nguồn tư liệu vô giá để nhà văn đưa vào tác phẩm của mình Đây là những luận điểm quan trọng chắp thêm ý tưởng cho người viết khi tiến hành làm rõ nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm

Hoàng Nguyên Vũ trong bài viết Lối đi riêng của Nguyễn Bình Phương (2010), cảm nhận ở Nguyễn Bình Phương một lối viết như người mộng du: “Người đọc cảm

giác như đang theo dõi một người mộng du đi trên một sợi dây, và phấp phổng chờ điểm rơi của người ấy cho đến cuối truyện để rồi nhận những kết thúc bất ngờ và đau đớn” [36] Lối viết ấy tất yếu đã tạo nên màn sương nhoè mờ cho sự xuất hiện thế giới

nhân vật Các nhân vật trong tiểu thuyết hiện lên như những đám đông “được soi bởi

một lối tư duy vô thức” Trong bài viết này của Hoàng Nguyên Vũ, tác giả đã cung cấp

thêm cho người viết nhận biết được “sự vô ý thức” trong sáng tác của Nguyễn Bình

Trang 9

cảm giác rất thật về cuộc sống, có những điều không phải lúc nào cũng lý giải và sự phi lý vốn là một mặt không thể thiếu của cuộc sống

Nhìn chung, các ý kiến đều đánh giá cao sự nỗ lực, sự cách tân trong lối viết của Nguyễn Bình Phương trong văn học Bằng một lối tư duy hậu hiện đại, một cách cảm, một cách nghĩ mới mẽ cho thấy Nguyễn Bình Phương là cây bút đầy triển vọng của nền văn học Việt Nam đương đại

Các đề tài nghiên cứu trên là cơ sở và nguồn tư liệu quan trọng để người viết

triển khai các luận điểm về dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn

Bình Phương trên phương diện về con người và cuộc sống cũng như các phương thức nghệ thuật ở trong tác phẩm

2.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến dấu ấn hậu hiện đại trong

tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương

Tất cả các bài viết của Nguyễn Bình Phương giúp chúng ta có điều kiện thâm nhập vào động cơ sáng tạo, tư tương nhà văn, quan niệm của nhà văn về thể loại, ít nhiều đã đề cập tới những yếu tố hậu hiện đại trong tiểu thuyết của nhà văn này (chẳng hạn như vấn đề cảm quan đời sống và đổi mới kỹ thuật tiểu thuyết theo hướng hậu hiện đại) trở thành những gợi ý quan trọng trong khi triển khai luận điểm của khóa luận để có điều kiện đi sâu vào những ảnh hưởng và tiếp thu văn học hậu hiện đại thế giới trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương trên một cấp độ tổng thể

Bài báo Ngồi của Nguyễn Bình Phương: Tiểu thuyết “hướng nội ” hiếm hoi của

Việt Nam do báo thể thao văn hóa (2013) thực hiện có viết :

“Trong những tiểu thuyết trước, Nguyễn Bình Phương luôn luôn cho chạy song song hai dòng mạch khác nhau: Những đứa trẻ chết già là cõi âm và cõi dương; đến cõi người và cõi vật trong Người đi vắng; rồi trí nhớ và sự suy tàn của trí nhớ trong Trí nhớ suy tàn; người và người điên trong Thoạt kỳ thủy Tiểu thuyết Ngồi vẫn có hai mạch chạy song song, nhưng trong cùng một con người: đời sống hiện thực hàng ngày, và đời sống đang xảy ra trong tư tưởng của Khẩn”[21] Từ việc khái quát chung

về tác phẩm giúp cho người viết, người đọc có cái nhìn rõ nét hơn về nội dung của tác phẩm ra sao để người viết tiến hành đi phân tích tác phẩm trên hai phương diện nội dung

và hình thức nghệ thuật Từ đó, khẳng định một cách chắc chắn dấu ấn hậu hiện đại

trong tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương

Trong bài viết Trò chơi kết cấu – một cách tân nghệ thuật trong “Paris 11 tháng

Trang 10

rộng biên độ cho kết cấu, tính hệ thống, nhất quán của các thủ pháp nghệ thuật đã nhường chỗ cho sự thăng hoa của tính đa tạp, đằng sau những mẫu tin ngắn ẩn chứa câu chuyện dài về thân phận con người, nhà văn dẫn dắt người đọc vào một trò chơi kết cấu thú vị, những liên hệ không thời gian, những mảnh đời, số phận, tin tức thời sự… không liên tục mà được xáo trộn, ngắt quãng, đứt gãy, như ảnh phản của một hiện thực đời sống không toàn vẹn, rời rạc, đổ vỡ, rạn nứt… Kết cấu được sử dụng như một trò chơi trong tổ chức thế giới nghệ thuật của tác phẩm, như một nỗ lực cách tân thể loại, đóng góp thêm một cách tiếp cận hiện thực và đời sống con người, tạo nên những sắc thái mới mẽ cho Paris 11 tháng 8” [19, 110] Đây là một bài viết cung

cấp cho người viết một luận điểm quan trọng về phương diện sử dụng kết cấu trong một văn bản hậu hiện đại Quan trọng nhất của bài viết là đã mang lại cho người viết hiểu được trò chơi kết cấu một yếu tố quan trọng trong việc góp phần bộc lộ tốt chủ đề

và tư tưởng của tác phẩm văn học, triển khai, trình bày một cách hấp dẫn cốt truyện, cấu trúc một cách hệ thống tính cách, tổ chức hợp lý hệ thống điểm nhìn của tác giả tạo nên tính toàn vẹn của một tác phẩm văn học Đồng thời, đây cũng là một luận điểm

mở ra những khám phá mới và tạo được hiệu ứng thẩm mỹ thú vị cho bạn đọc

Bài báo Nguyễn Bình Phương tạo nét mới cho tiểu thuyết Việt Nam do Báo Thể Thao Văn Hoá thực hiện có viết: “Bước thể nghiệm làm mới văn chương đương đại

của Nguyễn Bình Phương rất đáng để ghi nhận, đồng thời thể hiện rõ tính nhất quán trong quan niệm sáng tác của tác giả đó là: “không thích sự giả dối, lên gân, những cái đa dạng trong văn chương là cần thiết Đương đại là cái gì khóc liệt nhưng không nhất thiết phải dùng giọng văn gân guốc, nghiệp ngã Điều quan trọng là ngửi hơi văn phải thấy được đó là văn chương của những năm 30, 60 hay 90 chứ không căn cứ vào sự kiện trong tác phẩm” [39] Bài báo này đã cung cấp cho người viết

một luận điểm quan trọng trong việc đi tìm hiểu hành trình sáng tạo văn chương của nhà văn Nguyễn Bình Phương Từ đó, giúp người viết thể hiện cách nhìn mới mẽ và sáng tạo của Nguyễn Bình Phương Một người có quan niệm mới về văn chương thể hiện ở việc thể hiện quan niệm mới về mối quan hệ giữa văn học - hiện thực cùng với quan niệm mới về cách viết của ông trong tiến trình phát triển của tiểu thuyết đương đại ở Việt Nam

Trong bài viết Dấu ấn hậu hiện đại trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương qua

Những đứa trẻ chết già và Thoạt kỳ thuỷ do Lê Minh Hiền thực hiện có viết: “Những

Trang 11

đứa trẻ chết già và Thoạt kỳ thuỷ của Nguyễn Bình Phương có lắp ghép và xáo trộn các tầng bậc, chiều kích thời gian, không gian Tư duy mảnh vỡ về thế giới hiện thực trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương được thể hiện qua cảm quan con người cô đơn đi tìm bản thể, con người vỡ mộng, thức tỉnh, hoài nghi, hoang mang đan xen giữa các yếu tố ảo và thực Vì vậy tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương ít nhiều hàm chứa nhiều vấn đề của cảm thức hiện đại, bước đầu đưa văn học Việt Nam tiến tới hoà nhập với văn học thế giới” [19,410] Từ nhận định của tác giả Lê Minh Hiền đã giúp cho

người viết khai thác vấn đề cảm quan (hay còn gọi là tâm thức) hậu hiện đại được đề cập đến trong tác phẩm Đó là những cảm quan về con người, xã hội trong sự cô đơn

đi tìm bản thể riêng, rồi những con người vỡ mộng, hoài nghi về sự khủng hoảng và cái chết của hiện thực bên trong tác phẩm

Nguyễn Bình Phương chia sẻ: “Tôi viết về sự giãy dụa của người công chức trong việc

giữ gìn mô hình sống mẫu mực trước những cám dỗ của một xã hội đang phát triển

Có những cốt lõi mà họ không được vi phạm Tuy nhiên, họ vẫn đang phải đối mặt với cái đám lùng nhùng ấy Tóm lại, tôi muốn phản ánh tình trạng dở dở, ương ương của công chức đương thời”[21] Ngồi có cấu trúc của một giấc mơ, nhanh như những gì

xảy ra giữa hai cái chớp mắt Với bài báo này đã một phần nào cung cấp cho người viết một luận điểm quan trọng trong việc giải quyết luận điểm tâm thức hậu hiện

đại về đời sống hiện thực được thể hiện trong tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình

Phương

Phần lớn những bài viết trên không gọi tên nhưng là những gợi mở, xác minh

khuynh hướng hậu hiện đại trong tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương Qua đó

có thể cho thấy “Dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình

Phương” là một đề tài còn khá mới mẻ, chưa được nhiều người nghiên cứu khai thác

một cách quy mô, hệ thống Trong khi đây là một khía cạnh quan trọng làm nên thành công của văn học Việt Nam Các công trình nghiên cứu trên có ý nghĩa gợi mở quan trọng, có thể xem là hành trang quý báu giúp tôi tham khảo trong quá trình nghiên cứu

đề tài này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương

Trang 12

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Tiểu thuyết Ngồi trên hai bình diện: tâm thức hậu hiện đai về cuộc sống, con

người và dấu ấn hậu hiện đại nhìn từ phương thức biểu hiện

4 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp liên ngành

- Phương pháp cấu trúc, hệ thống

- Phương pháp so sánh đối chiếu

Ngoài các phương pháp chủ đạo trên, người viết còn sử dụng một số phương pháp hỗ trợ như: phương pháp phân tích văn học, thống kê, phân loại, tổng hợp, so sánh liên ngành…

5 Đóng góp của khóa luận

Thông qua nghiên cứu đề tài này, khóa luận có những đóng góp sau đây:

- Tìm hiểu về dấu ấn hậu hiện đại trong văn học Việt Nam và đặc điểm của chủ

nghĩa hậu hiện đại thể hiện trong tiểu thuyết Ngồi

- Khẳng định những thành tựu nghệ thuật, cách thức sáng tác, phong cách sáng tác và đóng góp quan trọng của ông trong nền văn học Việt Nam đương đại

- Nghiên cứu dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình

Phương một cách trọn vẹn và đầy đủ cả hai mặt nội dung và hình thức nghệ thuật tác phẩm

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, phần nội dung của khóa luận được triển khai như sau:

Chương 1: Chủ nghĩa hậu hiện đại và hành trình sáng tạo của Nguyễn Bình Phương

Chương 2: Tiểu thuyết “Ngồi” của Nguyễn Bình Phương nhìn từ tâm thức hậu hiện đại về cuộc sống, con người

Chương 3: Dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết “Ngồi” nhìn từ phương thức thể hiện

Trang 13

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI VÀ HÀNH TRÌNH

SÁNG TẠO CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG

1.1 Khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại

Chủ nghĩa hậu hiện đại là một xu hướng trong nền văn hóa đương đại được đặc trưng bởi sự chối bỏ sự thật khách quan và siêu tự sự Chủ nghĩa hậu hiện đại nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ, những quan hệ quyền lực, động cơ thúc đẩy; đặc biệt nó tấn công việc sử dụng những sự phân loại rõ ràng như nam với nữ, bình thường với đồng tính, trắng với đen, đế quốc với thực dân Chủ nghĩa hậu hiện đại đã ảnh hưởng tới nhiều lĩnh vực văn hóa, bao gồm cả phê bình văn học, xã hội học, ngôn ngữ học, kiến trúc, nghệ thuật thị giác, và âm nhạc Nó là một nội hàm rộng và vẫn đang vận động, biến đổi không ngừng Người viết tự giới hạn việc giới thiệu tổng quát những lý thuyết được biết đến về chủ nghĩa hậu hiện đại, đồng thời cũng thấy được sự phát triển một chặng đường văn học của thế giới cũng như ở Việt Nam

1.1.1 Thuật ngữ chủ nghĩa hậu hiện đại

Chủ nghĩa hậu hiện đại (Postmodernism) như sự phản biện chủ nghĩa hiện đại (Moderism), là một trào lưu văn hoá rộng lớn bao gồm nhiều lĩnh vực như triết học, văn hoá, giáo dục, khoa học, nghệ thuật, chính trị, xã hội, ra đời từ sau chiến tranh thế giới thứ hai được phát triển mạnh vào thập niên 1970 ở Tây Âu, xuất phát từ nước Pháp sau đó được lan rộng sang các nước Italia, Đức, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Thuỵ Sĩ,… Sau một thời gian tạo nên những tranh luận sôi nổi từ những năm 1990 trở lại đây thì chủ nghĩa hậu hiện đại đã tự khẳng định mình như một hệ hình tư duy mới, ảnh hưởng sâu rộng đến các ngành khoa học từ các ngành khoa học tự nhiên đến các ngành khoa học xã hội rồi đi sâu vào cảm thức văn hoá và lối sống của mỗi con người trong

xã hội Chính sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa hậu hiện đại vào đời sống của mỗi

con người trong xã hội đã tạo nên một hiện tượng hiếm có, nó đang là “não trạng và

mốt sống của nhân loại” Trong xã hội toàn cầu hoá thế giới hiện nay, chủ nghĩa hậu

hiện đại là một trong những khuynh hướng văn hoá có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự giao lưu, tương tác tiếp biến văn hoá giữa các quốc gia, các nền văn hoá khác nhau Chính sự xuất hiện của chủ nghĩa hậu hiện đại với tư cách là sản phẩm văn hoá và tinh

Trang 14

mang lại một diện mạo mới cho thế giới Những bước phát triển cùng với những khủng hoảng mang tính chu kỳ của chủ nghĩa tư bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai cho đến những năm 70 của thế kỷ XX, sự bùng nổ của các hiện tượng văn hoá, nữ quyền luận, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, sự phân cực thế giới chính trị, chiến tranh lạnh,… hay chính sự nở rộ của các phát kiến khoa học công nghệ, rồi sự hồi sinh của

một số học thuyết triết học phi lý, sự xuất hiện “bước ngoặt ngôn ngữ”… đây là những

điều kiện quan trọng để làm tiền đề cơ sở cho sự ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đại

Khái niệm “hậu hiện đại” đã manh nha từ năm 1934, theo Hassan thì khái niệm

“chủ nghĩa hậu hiện đại” được nhà phê bình người Tây Ban Nha là Federico de Onis

đưa vào văn bản đầu tiên ở thập niên 30 để chỉ sự ảnh hưởng tương phản với chủ nghĩa hiện đại Sau đó đến năm 1942, lý thuyết đó được Duley Fitts sử dụng bởi sử giả Arnold Toynbee công trình lịch sử đồ sộ A Study of History để chỉ khoảng thời gian từ

1918 đến 1939 Paul Hoover thì cho rằng khái niệm “hậu hiện đại” đã được nhà thơ

Charles Olson sử dụng từ năm 1951, đến năm 1959 được Irving Howe sử dụng trong

tiểu luận Xã hội chúng ta và tiểu thuyết hậu hiện đại Khái niệm này sau đó đã được sử

dụng phổ biến và thập niên 60 tại New York với sự xuất hiện của hai cuốn phê bình mĩ

thuật kiến trúc The Dearth of Life of Great American Cities của Jane Jacobs xuất bản năm 1961 và cuốn Complexity and Contradiction in Architecture của Robert Venturi

đã được xuất bản năm 1966 Mặc dù trong hai cuốn sách không nhắc đến khái niệm về

“chủ nghĩa hậu hiện đại”song cả hai tác giả này đều đề nghị giới trí thức hiện đại phải

có tầm nhìn vượt lên trên thời hiện đại Năm 1972, những khối nhà cao tầng được xây dựng từ thập niên 1950 tại thành phố St Louis, ở bang Misssouri bị giật sập kéo theo

sự phá huỷ các cao ốc có kiến trúc tương tự ở các thành phố khác ở Mỹ, Canada và Châu Âu trong những năm tiếp theo Do vậy, năm 1972 đã trở thành mốc thời gian của

sự hình thành chủ nghĩa hậu hiện đại như một trào lưu văn hoá Cũng từ đó, chủ nghĩa hậu hiện đại lan rộng ra các nước Châu Âu, châu Úc, châu Mĩ Latinh và các quốc gia châu Á (điển hình là ở Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc)

Khác với trào lưu trường phái văn học khác, chủ nghĩa hậu hiện đại không có tổ chức, không có tuyên ngôn Giới nghiên cứu thừa nhận chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện sau chủ nghĩa hiện đại, tương đương với thời hậu hiện đại trong văn chương, là sự

kế thừa và phủ nhận chủ nghĩa hiện đại, bao gồm nhiều khuynh hướng sáng tác như:

kịch phi lý, tiểu thuyết mới, hiện thực huyền ảo và trào lưu hậu hiện đại Hiểu theo

Trang 15

nghĩa hẹp thì chủ nghĩa hậu hiện đại dùng để chỉ trào lưu hậu hiện đại, trào lưu văn học với các tác giả như: Barthelme, Italo Calvino, Umberto Eco,…Song hiểu như thế nào thì cũng không thể coi đó là khuynh hướng độc tôn Chủ nghĩa hậu hiện đại là một thực thể động, một khuynh hướng mở, tồn tại bên cạnh và chuyển lưu một cách tự nhiên với các khuynh hướng trào lưu khác

Thuật ngữ về chủ nghĩa hậu hiện đại ra đời rất sớm và được làm sáng tỏ về nguồn

gốc Nhưng đến nay vẫn chưa có một cách trọn vẹn và chính xác về khái niệm “chủ

nghĩa hậu hiện đại” Đây là một hệ thống mở và không ngừng vận hành trong đời sống

xã hội và văn hoá nghệ thuật Điều này khiến cho các nhà nghiên cứu có một cách nhìn nhận riêng về khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại

Chủ nghĩa hậu hiện đại, tự nó đã là một đề tài hết sức phức tạp, do vậy định nghĩa

một cách đầy đủ về nó quả thật là một công việc rất khó.“Chủ nghĩa hậu hiện đại

(Postmodernism) là một thuật ngữ phức tạp, một tập hợp các tư tưởng, chỉ mới nổi lên như một khu vực nghiên cứu hàn lâm từ giữa thập niên 1980 Chủ nghĩa hậu hiện đại rất khó định nghĩa, vì nó là một quan niệm xuất hiện trong bộ môn hay khu vực nghiên cứu bao gồm nghệ thuật, kiến trúc, âm nhạc, phim ảnh, văn học, xã hội, truyền thông, thời trang và công nghệ Khó định vị nó về thời gian hay lịch sử, vì không thể biết đích xác chủ nghĩa bắt đầu khi nào” [1,197]

Theo quan niệm của Hà Minh Đức viết trong cuốn Lý luận văn học thì ông cho rằng: “Chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện đưa ra nhiệm vụ đi tìm bản nguyên của con

người và vũ trụ, đi tìm nền tảng của nhận thức và của cả cách thức tri nhận thế giới, qua đó hồng cắt nghĩa đâu là tự do, hạnh phúc đích thực của con người Mục đích tối hậu của nó một mặt thúc đẩy tri thức nhân loại tiến thêm, dùng khoa học, kỹ thuật làm nền tảng cho hành động, một mặt khách quan hoá cái nhìn về cuộc đời, giải phóng con người ra khỏi những định chế đã trở nên lỗi thời, kìm hãm bước tiến của nhân loại”

[6,21] Cái nhìn mới về chủ nghĩa hậu hiện đại cho ta tìm thấy những cảm quan (hay còn gọi là tâm thức) mới về con người trong cơ chế xã hội hiện nay

Theo PGS.TS Lê Huy Bắc thì “Chủ nghĩa hậu hiện đại phã vỡ trung tâm tìm đến

cái phi trung tâm, phá bỏ đại tự sự để tìm đến những tiểu tự sự Nếu đại tự sự thừa nhận tính tất nhiên và cho mọi thứ có thể lý giải bằng lý tính thì hậu hiện đại phủ nhận tất nhiên, bởi xem đó là sản phẩm nguỵ tạo do con người làm ra nhằm mục đích trục lợi nào đó Vì vậy, tiểu tự sự tôn sùng tính ngẫu nhiên, đã phá sự sắp xếp theo những

Trang 16

định hướng chủ đề nhất định…” [2,22] Quan niệm của ông là xem chủ nghĩa hậu hiện

đại là một sự phá bỏ cấu trúc truyền thống đi đến lối tư duy mới đó là: tư duy hậu hiện đại Đây là một khái niệm mà người viết xem đó là kim chỉ nam để người viết đi sâu

phân tích mạch ngầm trong tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương

Có thể nói rằng, có nhiều định nghĩa về chủ nghĩa hậu hiện đại, mỗi một định nghĩa là một cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau Tuy nhiên, nói một cách khái quát

có thể hiểu chủ nghĩa hậu hiện đại đó là sự phá vỡ các khuôn mẫu đã định hình từ trước, cố gắng kiếm tìm như một thực tại thuần khiết, tiến tới chấp nhận một thực tại hỗn tạp, đa chiều về một thế giới đa tầng Tác phẩm hậu hiện đại là sự kết hợp của các mảng độc lập tạo nên tính đa âm, có sự phân mảnh và liên văn bản Đây là những kỹ thuật phổ biến để các nhà văn hậu hiện đại tạo nên lối trần thuật theo một trật tự thông thường, chuyện kể đứt mạch, đảo chiều, xé mụn một cách khác thường Với cảm quan giải trung tâm thì tiểu thuyết hậu hiện đại càng đào sâu thế giới đa kích của cuộc sống cũng như tâm hồn con người Để đi sâu và khám phá những đặc điểm cũng như giải

quyết một cách đầy đủ những vấn đề của chủ nghĩa hậu hiện đại trong tiểu thuyết Ngồi

của Nguyễn Bình Phương thì người viết tập trung những lý thuyết của Lê Huy Bắc và

Hà Minh Đức để đi vào phân tích những đặc điểm và sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại trong tiểu thuyết này

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại

Khác với thời kỳ hiện đại và chủ nghĩa hiện đại thì thời kỳ hậu hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại hầu như xuất hiện đồng thời Tuỳ mức độ và phạm vi ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại đến từng quốc gia, từng lĩnh vực mà nó có một cách biểu hiện khái niệm của chủ nghĩa hậu hiện đại khác nhau Chủ nghĩa hậu hiện đại vẫn đang vận động, không đóng khung, gò bó vào bất cứ một hệ thống hay lý thuyết nào cụ thể Tuy nhiên, để mường tượng về một số đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại, người viết tạm khái quát về những công trình nghiên cứu về hậu hiện đại đã được công

bố trong thời gian gần đây như sau:

Cảm quan hậu hiện đại hay còn gọi là tâm thức hậu hiện đại (Postmodern

sensibility): khái niệm này được Lyotard đề xuất và được các nhà triết học hậu hiện đại khác hưởng ứng Theo đó, chủ nghĩa hậu hiện đại không chỉ hiển diện trong văn học nghệ thuật mà còn có ở trong các ngành khoa học khác Nhưng trước khi trở thành

một “hệ hình tư duy, một phương pháp khoa học,… (điều mà các triết gia hậu hiện đại

Trang 17

không hề muốn) hậu hiện đại trước hết hiện diện trước hết với tư cách là một “tâm thức”, một “thế giới quan” mới đối với hiện thực” [2,35] Cảm quan hậu hiện đại

được xem như là một cách cảm nhận thế giới đặc biệt, phản ánh tâm thức (cảm quan) của thời hiện đại, hậu kỹ nghệ Đó là cảm giác về một thế giới hỗn độn, nơi mà không

có bất kỳ một tiêu chí nào, thể hiện sự khủng hoảng niềm tin đối với những giá trị đã tồn tại trước đó Cảm quan hậu hiện đại biểu hiện rõ nhất trong lĩnh vực lý luận phê

bình, đó là lối viết đặc trưng: “lối viết tiểu luận nhiều ẩn dụ”

Hiện thực thậm phồn (Hyperraelity) khái niệm triết học này đã tác động trực tiếp

đến mĩ học huyền ảo (magic) và nguyên lý mảnh vỡ trong tự sự.“Hiện thực thậm phồn

(còn được dịch là phi đại) được Jean Baudrillard khởi xướng dùng để chỉ những vật thể giả tạo (simulacra) đối với hiện thực Khái niệm này gần giống với quan niệm

“logic văn hoá của chủ nghĩa tư bản hậu lỳ” (cultural logic of late capitalism) của Fredric Jameson, khi mà nhân loại đang chuyển nhanh từ thời đại công nghiệp sang

kỷ nguyên thông tin (information age) Sự can thiệp của công nghệ thông tin vào đời sống đã thay đổi toàn bộ bộ mặt kinh tế, giáo dục đến văn hoá nhân loại Nó tạo nên một kiểu hiện thực xa lạ, kiểu hiện thực đa chiều kích, có thể mở rộng đến bất kỳ nơi nào trí tưởng tượng của con người vươn đến” [2,39] Khi mà những sản phẩm tái tạo

không như thật, thậm chí còn đáng tin cậy và có quyền uy với chúng ta hơn cả những sản phẩm thật thì nó đang tồn tại trong vương quốc của hiện thực thậm phồn

“Phủ nhận“đại tự sự” (Grand narrative hoặc Metanarrative) được xem như là

nền tảng của triết học hậu hiện đại, tác động đến mọi phạm vi mĩ học hậu hiện đại như

phi trung tâm, giải “tôi”, “đa điểm nhìn” [2,38] Lyotard khởi xướng đại tự sự trong cuốn Hoàn cảnh hậu hiện đại, “đại tự sự” là danh từ mà Lyotard dùng để chỉ những

hệ thống ý thức chủ đạo chi phối hoạt động của con người trong những thời đại khác nhau Thời hiện đại với nhiều đại tự sự gò ép con người vào khuôn khổ, không cho

phép tư duy độc lập Theo Lyotard, cần phải đổ những đại tự mà con người đã “chấp”

vào Ông phủ nhận triệt để những đại tự sự về tri thức xã hội hậu hiện đại Bất tín đại

tự sự, Lyotard thiên về những tiểu tự sự (Little narrative) trong đó con người tự tư duy,

tự phản ứng theo cách riêng của mình chứ không gò vào với những quy ước, định đề

có sẵn Tuy nhiên, đánh đổ đại tự sự của Lyotard lại bị phê phán rằng đó chính là một

đại tự sự, đó cũng là “tính nhị nguyên” của ngôn ngữ, khó giải triệt, trừ khi “bất lập

văn tự”

Trang 18

Liên văn bản (Intertexuality) là thuật ngữ được nhà lý luận của chủ nghĩa hậu

hiện đại do Julia Kristeva đưa ra vào năm 1967, trong tiểu luận Bakhtin, từ đối thoại

và tiểu thuyết.“Mỗi văn bản đều như là tấm vải mới được dệt bằng những trích dẫn

cũ” [1,35] Và quá trình đọc của tác giả, văn bản và độc giả là “một trường thống nhất, vô tận cho trò chơi của sự viết” [2,34] Trong thế giới của văn bản, các văn bản

riêng lẻ có sự tương tác, dẫn dựa lẫn nhau bỡi lẽ tất cả đều là bộ phận của “văn bản

chung” và đồng thời diễn ra sự triệt tiêu giá trị văn bản riêng lẻ M Folcault nhận xét

về liên văn bản như sau: “Biên giới của một cuốn sách không bao giờ thực sự rõ ràng:

vượt ra ngoài nhan đề, dòng chữ đầu tiên và dấu chấm cuối cùng, vượt ra ngoài cấu trúc nội tại và hình thức mang tính tự sự của nó, nó bị bắt quả tang là đang hoà lẫn vào một hệ thống quy chiếu đến các cuốn sách khác, các văn bản khác, các câu văn khác, nó chỉ là một cái gút trong mạng lưới lớn Cuốn sách không phải là vật thể chúng ta cầm trên tay, sự thống nhất của nó thường biến dạng và rất tương đối”

[2,36] Vận dụng liên văn bản là một trong những thủ pháp cơ bản của văn bản văn chương hậu hiện đại Liên văn bản góp phần tạo nên sự đứt gãy trong mạch tự sự, sự đảo lộn trật tự thời gian, sự nhoè mờ về ngôi thứ,… và khơi sâu không gian văn hoá, nới rộng chiều không – thời gian,… của tác phẩm

Tính nhục thể (Cororality) đây là khái niệm của chủ nghĩa hậu cấu trúc và chủ

nghĩa hậu hiện đại Nó là hệ quả của tính dục hoá ý thức lý luận và mỹ học phương Tây và là cơ sở cho việc giải nhân cách hoá chủ đề Việc đưa ra nguyên tắc nhục thể kéo theo nó ba khuynh hướng (đúng hơn, nó chỉ đóng vai trò tăng cường thêm ba

khuynh hướng đã bộc lộ từ lâu).“Thứ nhất, hoà tan tính tự trị và uy tín của chủ thể

vào các hành vi nhục cảm, tức là vào các trạng thái ý thức nằm ngoài quyền năng của

ý chí và lý tính Thứ hai, việc nhấn mạnh các chấn động nhục cảm làm tăng sự chú ý đến khía cạnh bệnh hoạn của nó Và cuối cùng tính dục như sự thể hiện tập trung và

rõ ràng nhất của nhục cảm được gần như tất cả các nhà lý luận hậu cấu trúc đặt lên hàng đầu, lấn át tất cả những hình thức biểu hiện tình cảm còn lại Về nguyên tắc, điều này có thể lý giải sự quan tâm của văn học tới vấn đề tình dục Mặc dù đây là khái niệm chưa được ấn định về mặt thuật ngữ và đang được các nhà lý luận định danh một cách khác nhau nhưng người viết đề cấp đến bởi vì nó là một trong những biểu hiện giải nhân cách hoá của chủ nghĩa hậu hiện đại Nó liên quan đến vấn đề quan trọng của văn chương hậu hiện đại chủ nghĩa: vấn đề tính dục” [1,20] Đây là

Trang 19

đặc điểm quan trọng giúp người viết tiến hành khai thác vấn đề bên trong của tiểu

thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương thể hiện ở tâm thức hậu hiện đại về con người

với bản năng tự nhiên

Phân mảnh (Fragment) trong một văn bản hậu hiện đại, nhà văn chú ý nhiều đến

tính chất phân mảnh, không cấu trúc, không trung tâm “Họ phá vỡ văn bản thành

những khoảng trống, những nhan đề, những con số hay biểu tượng, chen lẫn những kí hiệu, hình vẽ, kiểu chữ một cách lộn xộn, không liên gì đến câu chuyện đang kể”

[1,21] Để đọc và hiểu được những văn bản tưởng chừng rời rạc không liên quan này, người đọc phải có một thái độ chủ động trong tiếp nhận và phát huy tối đa khả năng sáng tạo, tưởng tượng của mình cùng tác giả Việc phân mảnh đã phá vỡ tính trật tự của văn bản, tạo nên sự phong phú, độc đáo cho văn chương hậu hiện đại Đây là đặc điểm hết sức quan trong để người viết khai thác và làm rõ phần kết cấu của tiểu thuyết

Ngồi của Nguyễn Bình Phương

Như đã trình bày và khẳng định ở trên thì chủ nghĩa hậu hiện đại không nhóm họp, không tuyên ngôn, và nó vẫn chưa hoàn tất hành trình của mình Vì vậy, có những đặc điểm sẽ mờ đi và có những đặc điểm đậm thêm, cũng có những đặc điểm

mới xuất hiện Tất cả đều là những nổ lực để dung chứa những “hiện thực thậm

phồn”, diễn đạt cảm quan và mỹ học hậu hiện đại Không phải tất cả các tác phẩm văn

chương hậu hiện đại đều mang tất cả những đặc tính, đặc điểm đã nêu trên mà để được xem là một tác phẩm hậu hiện đại thì nó cũng phải mang một số đặc điểm đó

1.2 Chủ nghĩa hậu hiện đại và ảnh hưởng trong văn học Việt Nam

Hậu hiện đại là một khuynh hướng nhanh chóng lan tỏa vào mọi lĩnh vực, trong đó

có văn học Chúng ta có thể hình dung được những đặc trưng phổ quát nhất của chủ nghĩa hậu hiện đại, tuy nhiên để đưa ra một khái niệm chính xác thì lại rất khó, bởi

chính trong nội tại, hậu hiện đại chối bỏ “đại tự sự”, chối bỏ xây dựng học thuyết, chủ

trương đề cao cái tự nhiên

Tìm hiểu về một số vấn đề lý thuyết về văn học hậu hiện đại phương Tây, chúng tôi muốn tiếp cận tới một lý thuyết không quá mới trên thế giới, nhưng còn nhiều bỡ ngỡ ở Việt Nam, để từ đó tìm ra những đặc trưng cơ bản và tự định hình cho mình những ý niệm cơ bản nhất về hiện tượng văn học độc đáo này

Trang 20

1.2.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam sau 1986 trong việc tiếp nhận chủ nghĩa hậu hiện đại

Cuộc sống luôn vận động và biến đổi không ngừng Sau năm 1975, bước ra khỏi những năm tháng chiến tranh gian khổ, cả dân tộc Việt Nam bước vào guồng quay mới của cuộc sống thời bình Bước vào cuộc sống mới, tư duy của con người cũng thay đổi Cách sống, cách nghĩ không còn đơn giản và bình dị như trước đây Cuộc đời vì thế trở nên muôn màu muôn vẻ hơn

Đặc biệt quá trình toàn cầu hoá đã dẫn đến sự bùng nổ thông tin đây cũng chính

là tiền đề quan trọng cho sự xuất hiện các yếu tố hậu hiện đại trong văn hoá - văn học Việt Nam Các trào lưu triết mỹ phương Tây, trong đó có chủ nghĩa hậu hiện đại ồ ạt xâm nhập vào nước ta một cách nhanh chóng và dễ dàng thông qua hệ thống thông tin

Mở cửa với tất cả cho việc giao lưu và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn học – đó là yêu cầu vừa là thực tiễn của nền văn học được dân chủ hoá Văn chương hậu hiện đại thế giới được dịch và giới thiệu vào Việt Nam đã tác động tích cực khi đã làm thay đổi phần nào thị hiếu thẩm mỹ của người đọc, khiến nhà văn buộc phải bắt kịp kinh nghiệm thẫm mỹ của thời đại mà lúc bấy giờ được coi là tân tiến nhất để đáp ứng được nhu cầu của những độc giả ngày càng khó tính và có trình độ văn hoá cao Góp phần tạo tiền đề cho sự đổi mới văn học là các nhà lý luận phê bình, nhà nghiên cứu Họ là

những người đã có công trong việc tiếp biến “mã hóa” để các trào lưu vào Việt Nam

một cách rộng rãi Khi mà luồng văn hóa, văn học phương Tây du nhập vào, họ luôn là người mở ra những chiều hướng cho văn học phát triển Họ phải tìm những lối nghiên cứu mới, họ phải là những nhà chuyên môn, chuyên nghiệp chứ không phải là những người làm công tác tư tưởng, một ca sĩ trong dàn đồng ca Trong cuộc hành trình đó,

họ đã trang bị cho mình, tìm cho mình một lối đi Sẽ là không quá khi nói rằng nếu thiếu đi sự nghiêm túc của các nhà nghiên cứu thì nền văn học sẽ không phát triển được Ở Việt Nam, đội ngũ phê bình, lí luận, dịch thuật còn khiêm tốn, tuy nhiên không vì thế mà làm mất đi tính hiệu quả trong văn chương nghệ thuật Các lí thuyết hậu hiện đại thường xuyên được giới thiệu, có thể kể đến các tác giả như Phương Lựu, Nguyễn Văn Dân, Đỗ Đức Hiểu, Trương Đăng Dung, Đỗ Lai Thúy…đó là những cây bút phê bình lý luận, dịch thuật sắc sảo, đưa ra ý kiến tạo tiền đề cho sự đổi mới Họ đã tìm tòi những con đường đi mới, thoát khỏi những lối mà người trước đã đi Dấu hiệu này cho thấy nghiên cứu văn học Việt Nam đang có những dịch chuyển tích cực Văn

Trang 21

chương hậu hiện đại Việt Nam sẽ ngày càng phát triển hơn nữa, hội nhập với nền văn chương thế giới

1.2.2 Ảnh hưởng chủ nghĩa hậu hiện đại trong đời sống văn chương Việt Nam đương đại

Cái “hậu hiện đại” nổi bật nhất trong đây chính là “cảm quan hậu hiện đại”

Thời đại lịch sử - xã hội cụ thể hiển nhiên sẽ làm nảy sinh trong nó những kiểu tâm trạng xã hội tương ứng Vậy, cái gì là “cảm quan hậu hiện đại”? Có thể nói vắn tắt, đó

là một kiểu cảm nhận đời sống đặc thù thể hiện trạng thái tinh thần của thời đại: nhận thấy sự đổ vỡ của những trật tự đời sống, tính áp đặt của cái chính thống, của các phát ngôn lớn, sự đảo lộn trong các thang bảng giá trị đời sống, sự mất niềm tin, bơ vơ, lạc loài, vong thân, tâm trạng hồ nghi tồn tại và tình trạng bất an của con người Đấy là tinh thần chung nhất Còn sự thể hiện chúng trong văn chương lại khá đa dạng, phức tạp Có thể lấy một ít ví dụ trong văn xuôi ở ta gần đây Chẳng hạn, ở truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đó là những câu chuyện về sự vô nghĩa của cuộc đời, sự bê tha nhếch nhác của con người, sự bơ vơ lạc loài của cái đẹp Ở Phạm Thị Hoài, là câu chuyện về một thế giới vô hồn rất ít sự gần gũi mang tính người, về những cuộc chia tay Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương ám ảnh bởi sự khủng hoảng niềm tin của con người, của nhà văn vào con người và cuộc đời, sự đổ vỡ của những trật tự đời sống xã hội và gia đình, sự ngắc ngoải ngưng đọng của đời sống, sự đánh mất bản ngã, phương hướng, sự băng hoại đạo đức, sự đau đớn bơ vơ, tình trạng bất an của con người Tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà thể hiện cái nhìn về một đời sống hỗn loạn, đổ vỡ Văn chương

Tạ Duy Anh là nỗi khắc khoải đi tìm bản ngã, tìm một giá trị thật sự nhân bản trên cái đời sống đổ nát, điêu tàn, là sự loay hoay lý giải, hoá giải những nỗi đoạ đầy con người từ tiền kiếp Nhìn đời sống như những mảnh vỡ, tiểu thuyết Hồ Anh Thái thể hiện tinh tế những nỗi hoang mang về con người

Nhà văn hậu hiện đại, phải chăng đang tuyên dương cho một thứ chủ nghĩa hư vô? Không phải vậy Tôi cho rằng trách nhiệm công dân của họ vẫn rất cao, song họ

cảm thấy rất rõ “sự bất lực” của mình Văn chương hậu hiện đại hình như còn có xu

hướng khước từ những sứ mệnh cao cả mà lịch sử từng đặt lên vai nó Nhà văn, không dám đứng giữa trận đồ bát quái của cuộc đời để tuyên ngôn nữa Viết, với họ giờ như một nghiệp chướng, hay chỉ là một cuộc chơi ngôn từ thôi Chưa bao giờ như lúc này, văn chương nói nhiều đến thế về giới hạn của văn chương Nó oằn mình đau đớn Nó

Trang 22

mong manh, nhỏ bé Như kiếp hoa dại Nếu thuật ngữ “cảm quan hậu hiện đại” được

xác nhận thì tôi gọi đây là biểu hiện của kiểu cảm quan đặc thù ấy

Để chuyên chở, thể hiện thái độ hậu hiện đại, phải có những hình thức nghệ thuật đặc thù Tôi chỉ nói ở phương diện chung nhất: hình thức của cái nhìn – hình thức thế giới quan như một dấu hiệu quan trọng của tư duy hậu hiện đại Đó là những chuyển

động trong mô hình truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp như một nguyên tắc cấu trúc để

thể hiện câu chuyện tâm thức thời đại: sự đa dạng và dịch chuyển liên tục của các điểm nhìn nghệ thuật; không có nhân vật trung tâm, lý tưởng; sự vặn gẫy vai nhân vật và vai

tính cách trong hình tượng; vô số các hình tượng nhại; nhiều kết thúc; có thể “tháo

dỡ” được; sự chuyển dịch, pha trộn làm đứt gẫy những giới hạn thể loại truyền thống;

một cuộc “chơi” thể loại, kiểu truyện ngắn - tư liệu, truyện ngắn - nhật ký, truyện

ngắn - dòng chảy ý thức, truyện ngắn - chân dung

Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương luôn luôn có nhiều tuyến chạy ngược - xuôi theo lối kết cấu song hành xoắn vặn, dung chứa ngồn ngộn những hỗn tạp, khốc liệt, đau đớn của cuộc đời, nhiều khi nó bơ vơ chẳng gặp nhau như kiếp người chẳng thể gặp nhau; nhiều tuyến truyện, nhiều nhân vật bị cố ý bỏ quên; rồi lối kể nhảy cóc; sự sáng tạo các điểm nhìn dị biệt; sự dung hợp nhiều thủ pháp hội hoạ, âm nhạc và điện ảnh; sự làm nhoà cái tinh tuyển và cái bình dân trong ngôn ngữ tiểu thuyết bởi những

thanh âm trong trẻo và cả những tạp âm; sự “vênh lệch”, phi lý trong đối thoại; hiện tượng “dìm” nhân vật trong bể ngôn từ, như nhân vật bị chìm lỉm đi, vô tăm tích giữa

cuộc đời Đọc Nguyễn Việt Hà, thấy tác giả hầu như rất hạn chế việc phân tích nhân vật bằng tài hiểu tâm lý của mình Điểm nhìn và ngôi kể liên tục được dịch chuyển, thay đổi

Các nhân vật chính ở đây dường như đều có khả năng thế chỗ nhà văn trong việc

kể chuyện Mỗi cá nhân như một “nguyên tử” được đặt ở vô số các giao điểm Nó tự

kể chuyện mình, kể về cái nhìn của mình với người khác Hiện thực là những diện mạo khác nhau tuỳ vào cách người ta suy cảm về nó Một sự kiện lại có thể được nhìn từ nhiều phía, với những thời điểm trần thuật không trùng nhau Rồi lối truyện của nhiều chuyện, văn bản của nhiều văn bản, tính phân mảnh của chủ thể, trần thuật phi trung tâm, cố ý lộ rõ sự can thiệp của tác giả vào câu chuyện, biến tiểu thuyết thành một trò chơi ngôn từ, một sự thăm dò, thử nghiệm của nghệ thuật Rồi chất hài hước, nghịch

dị và nhại được sử dụng như một nguyên tắc tổ chức tác phẩm Nó không chỉ là thủ

Trang 23

pháp, mà trở thành hình thức của cái nhìn Chống lại sự đơn điệu, nhại trong tiểu

thuyết Nguyễn Việt Hà, cái hài, cái nghịch dị trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái vừa “lột

tả” được một phần bản chất có thật của đối tượng, vừa dung hợp được cái bác học của

suy tư, cái suồng sã của văn hoá bình dân, sức mạnh vô địch của trào tiếu dân gian Và

với lối tự nhại, văn chương chẳng những là sự hoài nghi về các trật tự đời sống mà còn

là sự nghi ngờ chính những khả năng, sứ mệnh mà người ta thường đặt ra cho nó

Tôi cho rằng, có nhiều hướng cách tân văn học mà “hậu hiện đại” chỉ là một Ở

ta, đường hướng này lại không tách bạch Nó vừa là sự tiếp thu văn học nước ngoài,

vừa là sự khơi dậy những ngọn nguồn, những “mẫu” có từ truyền thống Thậm chí, nó

đi cùng với quá trình hiện đại hoá hình thức - một quá trình ít nhiều bị đứt mạch bởi

giai đoạn “văn học sử thi” Không nên dè dặt với cái mới, với cả cái mới chưa hay

Tôi cho rằng việc phát triển văn chương theo khuynh hướng hậu hiện đại là một xu hướng cần được cổ vũ Đấy không phải là sự sao chép, cóp nhặt, lai ghép tuỳ tiện, mà

là sự thay đổi của hệ hình tư duy, và trên hết, là đòi hỏi tất yếu của lịch sử - xã hội và bản thân văn học Có thể gọi được chăng, đây là khuynh hướng phát triển văn chương

theo hướng hoà nhập với tiến trình văn học thế giới, bên cạnh các khuynh hướng tìm

tòi thử nghiệm khác của nền văn học Việt Nam sau 1986 nhiều màu vẻ Đối với văn xuôi thì như trên, còn trong địa hạt thơ, theo nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Tuấn, đã có

một “thái độ hậu hiện đại” ngay từ Bùi Giáng khi “nhà thơ diễn tả cảm xúc của mình

bằng thứ ngôn ngữ như đùa giỡn: vừa chân thành vừa bày tỏ tình cảm của mình, lại vừa như muốn châm biếm chính cách bày tỏ ấy”[39]

Quá trình hiện đại hóa thơ Việt với trọng tâm là đổi mới tư duy dẫn đến đổi mới cái nhìn đời sống, trong ứng xử và trong quan niệm nghệ thuật Hành trình sáng tạo với những tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Quang Thiều, Văn Cầm Hải, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, nhóm thơ Mở miệng… đã bắt đầu mang những yếu tố của hậu hiện đại Điểm chung tư duy hậu hiện đại của các tác giả này là

ý thức chống lại truyền thống duy cảm trong thơ bằng cách gia tăng chất suy tư, đậm chất lí tính Sáng tác của các nhà thơ trẻ đã góp phần đưa thơ ca Việt Nam đương đại chuyển mình trên một hệ hình tư duy mới của văn chương hậu hiện đại Trong thơ, cảm thức hậu hiện đại khó xác nhận hơn trong văn bản hình tượng, song lại thể hiện đậm nét qua thái độ của nhà thơ với thơ và cách hành ngôn thơ Theo người viết, người làm thơ theo khuynh hướng hậu hiện đại ở nước ta quan tâm nhiều đến việc làm

Trang 24

mới chữ, mới âm, đến tính chất diễn trò của ngôn từ Bởi đây không phải là đối tượng nghiên cứu của khoá luận nên người viết chỉ đề cập đến hậu hiện đại trong thơ ca như một thành tố của dòng chảy văn học Việt Nam đương đại mà thôi

1.3 Hành trình sáng tạo của Nguyễn Bình Phương

1.3.1 Nguyễn Bình Phương – một quan niệm mới về văn chương

Đi vào tác phẩm của Nguyễn Bình Phương ta nhận thấy một lối viết rất riêng biệt, mới mẻ từ cách nhìn hiện thực, tiếp cận nhân vật, sáng tạo cốt truyện, xây dựng không gian thời gian cho đến sử dụng ngôn từ…

Nguyễn Bình Phương thường hướng ngòi bút vào những mảnh vỡ hiện thực,

những “tiểu tự sự” của cuộc sống hiện đại Nếu như đích đến của các cây bút trước

1975 là những “đại tự sự”, những sự kiện lịch sử, chính trị lớn lao bao quát toàn bộ

đời sống con người thì đích đến của ngòi bút Nguyễn Bình Phương lại là hiện thực phân mảnh, hiện thực bị xé lẻ, phân tách (và vì thế nhiều khi ta không biết bắt đầu tóm tắt tác phẩm của anh từ đâu), Nguyễn Bình Phương không vuốt ve hiện thực, cũng

không ảo tưởng về nó Ngòi bút của anh không ưa những “đại tự sự” Trong tác phẩm

của anh ta thấy không còn tồn tại những bức tranh hiện thực lớn lao, những hình tượng

kỳ vĩ Tác phẩm của anh có khi chỉ đơn giản là giấc mơ của một kẻ điên loạn, hình ảnh

của một con cú trôi dọc triền sông (Thoạt kỳ thuỷ), lễ gọi hồn người chết ("Chị em Nhiêu, Quỳnh nọ Quỳnh kia và con mèo tam thể"), những kẻ đi tìm kho báu (Những

đứa trẻ chết già), sự suy tàn của trí nhớ (Trí nhớ suy tàn) Rất nhiều hiện thực đời sống

được đan chéo, gài lồng, móc nối trong một dung lượng câu chữ hạn hẹp (Thoạt kỳ

thuỷ: 167 trang, Trí nhớ suy tàn: 133 trang, Những đứa trẻ chết già: 311 trang) Ở "Chị

em Nhiêu, Quỳnh nọ Quỳnh kia và con mèo tam thể", ngòi bút Nguyễn Bình Phương

đã xoá sạch những "đại tự sự" Câu chuyện gọi hồn là tiêu điểm của tác phẩm Tác phẩm mở đầu và kết thúc lửng lơ, mờ ảo, hư hoặc (mặc dù có sự xuất hiện của nhân vật, có lai lịch, có những cái chết, có công an điều tra ) Tác phẩm khiến người đọc suy ngẫm và thảng thốt mãi vì không thể phân định đâu là thực đâu là hư, đâu là

nguyên nhân của hàng loạt cái chết trong tác phẩm Trong Trí nhớ suy tàn, tác giả lại

xây dựng cho mỗi nhân vật một mảng hiện thực riêng biệt Mỗi nhân vật tự đóng khung trong thế giới của mình Có tới trên 20 nhân vật được khắc hoạ trong tác phẩm nhưng hình như họ không có liên hệ với nhau Ta như bước vào thể giới không hình người (mặc dù có đám đông), bước vào những trang văn không nhân vật (mặc dù có

Trang 25

trên 20 cái tên được nhắc đến) Tác giả tái hiện thực tại thông qua cái nhìn của Huyền Nhưng cái nhìn của cô mờ nhạt, xa xôi, nhoè nhoẹt, vì cô đã đánh mất mọi ý niệm về đời sống, thời gian, không gian, tình yêu, tình dục Cuối cùng cô đã tự mình cởi trói

thoát khỏi sự ràng buộc, chỉ có một ám ảnh vẫn theo đuổi “Trí nhớ đang suy tàn ghê

gớm” Bước vào thế giới của Những đứa trẻ chết già ta thấy hiện thực chỉ còn là

những biến cố xung quanh một cái làng nhỏ bé - làng Linh Nham Ở đó các nhân vật

mê mải, quay cuồng trong cuộc hành trình đi tìm kho báu Khi họ ngộ ra nhiều điều cũng là lúc họ hoang mang tột cùng trước thế giới đổ nát, hoang tàn Tất cả các mối quan hệ không tìm thấy sự móc nối: Tiến quắt chết; Hương đớn đau thắt ruột; Ông Trình chới với hoảng loạn; Quý cụt ra đi; Loan day dứt; ông Liêm bàng hoàng; còn Hải thì im lìm, câm lặng

Đan xen hiện thực và ảo huyền, khai thác điểm nhìn con người từ góc nhìn vô thức, các nhà tiểu thuyết ngắn, trong đó có Nguyễn Bình Phương, đã góp phần thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người trong nền văn học đương đại Việt Nam Con người được nhìn nhận không phải như những điển hình (cách nhìn con người phổ biến trong văn học thời kỳ 1945-1975), không phải ở những gì biểu hiện ra bề ngoài mà cả trong những thầm kín, bí mật, riêng tư Tác phẩm của Nguyễn Bình Phương, ở góc độ

này, không thể không nói là có sự ảnh hưởng thuyết Phân tâm học của S.Freud Phân

tâm học khẳng định vai trò độc lập của vô thức, phủ nhận phần ý thức tuyệt đối của

con người trong triết học truyền thống, từ Platon đến Descartes Theo S Freud, cái vô thức mới chính là bộ mặt của con người, là một cái tôi đích thực, chi phối mọi hoạt động của con người Với vô thức, ước muốn làm chủ bản thân của con người chỉ là ảo vọng Khơi sâu vào phần vô thức chìm khuất trong mỗi con người, nhân vật của Nguyễn Bình Phương có thể chưa thực sự gần gũi với bạn đọc nhưng sức ám ảnh của

nó cũng chính là sức hấp dẫn, giá trị của tiểu thuyết

Thoạt kỳ thủy thực sự là cuộc “giao lưu trong vô thức” (Đoàn Cầm Thi)

Với Thoạt kỳ thủy, Nguyễn Bình Phương đã đẩy cuộc thăm dò vô thức đi xa nhất trong

số các nhà văn đương đại (ý của Đoàn Cầm Thi)

Sau Thoạt kỳ thủy, năm 2006 tiểu thuyết mới nhất của Nguyễn Bình Phương được xuất bản, tác phẩm Ngồi Ngoài cấu trúc, cốt truyện, ngôn từ… với rất nhiều mới

lạ, Ngồi gây ấn tượng nhất ở sự đan xen ảo và thực, đến nỗi khó phân biệt đâu là thực,

đâu là ảo Bút pháp huyền ảo thể hiện ngay từ đầu tác phẩm với khung cảnh huyễn

Trang 26

hoặc, đầy phi lý, thực ít, ảo nhiều, một khung cảnh được miêu tả như thuở khai thiên lập địa nghìn năm trước Hàng loạt yếu tố phi lý thấp thoáng ẩn hiện trong tác phẩm cũng góp phần làm cho cái thực thêm ảo và cái ảo càng kỳ bí Nhưng có lẽ bút pháp ảo

huyền của Ngồi thể hiện rõ nhất ở trạng thái mơ của các nhân vật, đặc biệt là Khẩn,

nhân vật chính của tác phẩm Sống ở thực tại, một thực tại với quá nhiều những xô bồ, phồn tạp, Khẩn thường hay mơ Trong những giấc mơ bất chợt mà dai dẳng ấy luôn có hình bóng của Kim, người con gái vừa như là mối tình đầu trong sáng đẹp đẽ của

Khẩn, vừa như là sức mạnh cứu vớt tâm hồn anh: “Khi cơn giông kéo đến sát hồ thì

mình và Kim gấp mảnh áo mưa chạy về phòng Chớp loàng nhoàng lướt trên bầu trời, chúng soi tỏ những đám mây to nặng nề đang sà xuống mỗi lúc một thấp Nước hồ co thắt lạ với màu ghi xám rồi đột ngột cuộn lên như có con vật khổng lồ vùng dậy Lúc tỉnh dậy, nhớ lại giấc mơ đó mình láng máng rằng mình thực sự còn lại một cái gì nữa chứ không phải chỉ là thế này”[14,129] Giải mã giấc mơ về Kim, thế giới nội tâm

nhân vật Khẩn cũng dần hé lộ Bằng yếu tố vô thức, giấc mơ đã có một sự khám phá

quá trình nổ tung bên trong của ý nghĩ con người Giấc mơ về Kim cứ mờ tỏ nhưng cái

khát khao một chốn bình yên như trong cõi hư vô mộng ảo của Khẩn lại thật hiện hữu Trong thế giới nội tâm của Khẩn, sau những xô bồ, bấn loạn của cuộc mưu sinh là những khoảng lặng đầy khao khát Đào sâu vào thế giới nội tâm con người, khám phá những ẩn mật bản ngã của cái tôi bí ẩn, yếu tố vô thức đã làm cho tiểu thuyết như

“một bản hòa âm lạ lùng giữa tiếng nói ngọt ngào mê lịm từ thăm thẳm tâm linh với những tiếng gầm gào đầy bạo lực, mánh lới của cuộc mưu sinh thường nhật”

Nguyễn Bình Phương quan niệm tiểu thuyết cần bước “mạo hiểm” để nhận thức

lại các giá trị của cuộc sống và con người Từ quan niệm đó, các tiểu thuyết của ông

đều thể hiện sự thể nghiệm lối viết rất riêng với cảm hứng “giải thiêng”, nghi ngờ

chân lý đã tồn tại lâu đời Trong bối cảnh chung của một nền văn học các nhà văn như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái,… đã có những truyện giả sử, giả

cổ tích để tái hiện cuộc sống với cái nhìn đa chiều kích pha lẫn màu sắc kỳ ảo Với riêng Nguyễn Bình Phương, nhà văn cũng có cách thử nghiệm hết sức mới mẽ Ông coi trọng sự sáng tạo, sự dũng cảm của người cầm bút để vượt ra những quy tắc vốn

có Những gì trước đây coi là chân lý nay bị xem xét lại Cách viết văn cũng vậy, không có một thể loại nào tồn tại bền vững và xu hướng chung các thể loại có sự pha trộn, đôi khi hoà và nhau đem lại sắc thái mới Thực tế, trong những cuốn tiểu thuyết

Trang 27

của mình, Nguyễn Bình Phương đã từng bước mạo hiểm thử nghiệm nhại các thể loại:

Nhại cổ tích trong Những đứa trẻ chết già, Thoạt kỳ thuỷ; nhại tiểu sử trong Thoạt kỳ

thuỷ; lồng ghép lịch sử trong Người đi vắng hay sự xâm nhập chất kịch, chất truyện,

chất thơ trong tất cả các cuốn tiểu thuyết của ông Tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương là sự hoà trộn vừa lạ mà quen, là cấu trúc mở lắp ghép lập thể khối vuông Rubic mà tâm điểm nó cuốn vào cả thơ ca, lịch sử, cổ tích, tiểu sử,… trong sự tổng hoà tất cả thể hiện cái cười hết sức thâm trầm sâu cay Quan điểm sáng tác của Nguyễn Bình Phương cũng rất tự do, ông coi trọng mọi sự bó buộc đều giết chết văn chương

và thiên về sự sáng tạo trong cách viết: “Văn chương bản thân nó là chân trời tự do thì

ta cứ nương theo thế, đừng bó nó”[30] Quan niệm văn chương là chân trời tự do,

Nguyễn Bình Phương đã viết với một tinh thần đối thoại với những khuôn mẫu truyền thống, khuôn mẫu trong tư tưởng và cả bút pháp nghệ thuật Trong những trang văn

của ông, nỗi bật lên vẫn là xu hướng “giải thiêng”, đập vỡ những thạch trụ văn

chương được xây dựng nên và tồn tại bao đời trong tâm thức người Việt Từ đó, nhà văn lách sâu vào từng tế bào của cuộc sống, của con người làm hiện lên chân thực những tầng sâu kín nhất bị khuất lấp hay cố tình bị che giấu đi Nguyễn Bình Phương

cũng thẳng thắn “nhại” lại những điều điều được coi là đức tin, đạo đức và tình yêu cũng bị “giải thiêng” theo nhiều cách

Nguyễn Bình Phương nói: “Tôi từ chối xây dựng những nhân vật điển hình”

[38] Tiểu thuyết của ông hướng đến những kiểu nhân vật chưa có trong truyền thống Nhân vật không phải là sự mô phỏng một con người sống thật Đó là những con người tưởng tượng, một cái tôi thực nghiệm Trong các tác phẩm của Nguyễn Bình Phương, không có bóng dáng của nhân vật điển hình mang tầm khái quát cho mọi tính cách lớn lao trong đời sống, mà thay vào đó là đủ thứ hạng người trong nhân gian, đại đa số là những đám đông bệnh hoạn, u tối, dị nghịch cả thể xác lẫn tinh thần theo quan điểm

“ai cũng có một người điên trong chính mình”

Như vậy có thể thấy, Nguyễn Bình Phương là một nhà văn có một quan niệm mới về văn chương Từ đó, giúp ông tạo ra những tác phẩm độc đáo, mới lạ khẳng định được phong cách riêng của bản thân

Trang 28

1.3.2 Những đóng góp của Nguyễn Bình Phương trong tiến trình tiểu thuyết đương đại

Mỗi người có một quan điểm, một lựa chọn sáng tác Nhưng thường thì, nhà văn kín tiếng lại là những người lao động văn chương nghiêm túc và nghiêm khắc Nguyễn Bình Phương có lẽ là một trong những người viết như vậy Tên tuổi anh ở lại trong lòng bạn đọc là từ giá trị của tác phẩm Trong môi trường văn chương nhiều ồn ào và lắm thị phi, nhà văn Nguyễn Bình Phương như người thuộc về một ngọn núi khác - âm thầm nhưng vững vàng, lặng lẽ mà kiên định, lầm lũi sáng tạo trong cõi riêng Mọi định danh tên tuổi anh trong lòng bạn đọc đều từ giá trị của từng tác phẩm Nguyễn

Bình Phương hay nói về “độ hiểm” cần thiết đối với một tác phẩm văn học Anh bảo

văn chương không thể bằng phẳng như miền đồng bằng quang mây, mà phải hiểm hóc với núi cao vực sâu để người đọc được dẫn dụ vào những không gian đa tầng

Những tác phẩm của anh hầu hết đều chạm đến những giới hạn này Kể xong rồi

đi cũng vậy Tác phẩm chọn cái chết làm nhân vật trung tâm để kể về một cõi nhân

gian bề bộn, với những hành trình đi đến sự chết của con người dù số phận thấp hèn hay vinh quang, nhẹ nhàng hay khốc liệt… Cũng giống như những chuyến xe lên núi -

xuống núi trong tiểu thuyết viết về chiến tranh biên giới phía Bắc - Mình và họ, Kể

xong rồi đi dẫn dắt người đọc qua những ngóc ngách của đời sống rồi tự chiêm nghiệm

về mục đích lớn nhất của cuộc sống “Nhà văn nào viết sách cũng muốn tác phẩm đến

được với nhiều độc giả Nhưng trên một con đường, sẽ luôn có những vị trí khác nhau Văn chương cũng vậy Giả dụ những người trẻ đứng ở đây - bây giờ, thì “bọn già” như tụi tôi sẽ đứng ở một nơi khác Độc giả cũng đi cùng trên một trục thời gian Có người đọc sách của người trẻ, nhưng cũng có độc giả thích đọc những người viết già Thôi thì chỉ lo cho xong phần viết của mình, còn có nhiều người đọc hay không là do phúc của mình nữa” - Nguyễn Bình Phương nói: “Nếu thật sự chọn văn chương là sự nghiệp, thì nhất định anh sẽ đi được tới giới hạn cuối của chính mình - đi đến kiệt sức,

để khi dừng bút thì gò đồi văn nghiệp mới thật sự nổi lên Giá trị của tác phẩm phải được tính qua độ lùi của thời gian Thời trẻ, tôi viết hừng hực khí thế, nhưng đôi khi cũng… liều mạng Còn thời điểm này, cảm giác tôi đang ở giai đoạn viết một cách bình tĩnh, tiết chế được mọi cảm xúc, không còn hồ đồ, đã cân đối được mọi lựa chọn thể hiện” [40]- anh bộc bạch

Trang 29

Tập trường ca Khách của trần gian (1986) bộc lộ rõ một phong cách lạ lẫm đến

huyền hoặc Tuy nhiên, chính những tác phẩm văn xuôi mới tạo cho Nguyễn Bình

Phương một dấu ấn khác lạ đến chấn động, như các tiểu thuyết Vào cõi (Nhà xuất bản Thanh niên, 1991), Những đứa trẻ chết già (Nhà xuất bản Văn học, 1994), Người đi

vắng (Nhà xuất bản Văn học, 1999), Trí nhớ suy tàn (Nhà xuất bản Thanh niên,

2000)… Các tiểu thuyết trên là những thể nghiệm về một lối viết riêng biệt, khác lạ cách tiếp cận nhân vật, xây dựng về không gian thời gian, ngôn từ cho đến cách nhìn hiện thực của tác giả Với cách viết riêng mới lạ, tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương

có thể xem là sự tích hợp phong phú nhiều trạng thái tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết hiện đại và đương đại thế giới từ đó đức kết tạo thành một kiểu tư duy độc đáo Nguyễn Bình Phương Phải thừa nhận rằng, đọc và hiểu tác phẩm của Nguyễn Bình Phương là rất khó, tiểu thuyết của ông vì thế rất kén chọn độc giả Các tiểu thuyết của

Nguyễn Bình Phương như: Thoạt kỳ thuỷ, Ngồi,… dường như nó không mang lại cho

độc giả một sự thoải mái như các tiểu thuyết khác mà các tác phẩm của Nguyễn Bình Phương luôn bắt người đọc phải trăn trở, suy nghĩ, nghiền ngẫm để rồi từ đó mới tự ta tìm thấy sự thoải mái, và những ẩn ý nghĩa sau một qúa trình với sự đọc Đây cũng là nét khác biệt trong phong cách viết tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương và các cây bút văn xuôi khác Nguyễn Bình Phương có đóng góp rất lớn trong tiến trình phát triển của tiểu thuyết đương đại trên hai phương diện đó là: đóng góp trong quá trình tiếp cận mối quan niệm giữa hiện thực và cuộc sống; đóng góp về các phương diện nghệ thuật đặc sắc

Đầu tiên, đóng góp của Nguyễn Bình Phương trong quá trình tiếp cận mối quan niệm giữa hiện thực và con người của Nguyễn Bình Phương được phát ngôn trực tiếp ở những bài trả lời phỏng vấn báo chí Trò chuyện với phóng viên Vietnamnet, nhà văn

nói: “Theo tôi, đời sống có những từ ngữ nào thì văn học có quyền đưa từ đó vào Tại

sao lại bỏ nó đi trong khi nó vẫn sống hằng ngày, hằng giờ, hằng phút với chúng ta?” Ông coi trọng sự sáng tạo sự dũng cảm của người cầm bút để vượt ra những quy tắc vốn có “văn chương cần có những bước mạo hiểm”; “Tôi cho rằng ranh giới giữa các thể loại đã bị xoá nhoà […] Nhà văn là người vượt qua những định nghĩa để tiến tới một định nghĩa khác” [27] Từ quan niệm trên, Nguyễn Bình Phương xem xét lại mối

quan hệ giữa văn học và hiện thực, mối quan hệ giữa nhân vật và hiện thực

Trang 30

Hiện thực cuộc sống theo Nguyễn Bình Phương không chỉ dừng lại ở cái nó vốn

có, mà nhà văn đã đi sâu tiếp nối và khai thác cái lạ, cái huyền ảo ma mị tồn tại song song với hiện thực trần trụi trong cuộc sống Cái lạ cũng là một quy luật trong một thế giới bất thường, xáo trộn, hỗn độn, phi lý Nhà văn đã thực sự đi sâu khai thác đời sống hiện thực tâm linh, cõi vô thức đan xen với hữu thức của con người trong nhu cầu giải phóng cái tôi cá nhân trong hiện thực mới Xuất hiện trong trang văn của Nguyễn Bình Phương là hiện thực trong một trạng thái vận động và đan xen: Cái xô bồ hoà lẫn cái thanh cao, cõi âm mờ nhoè trong cõi dương… Tất cả như đang chìm đắm trong hiện thực mang trạng thái mộng du như giấc mơ của Trang Tử Chính quan niệm mới

về hiện thực của Nguyễn Bình Phương đã đưa nhà văn đến với quan niệm mới về con người Cũng như nhiều nhà văn cùng thời, Nguyễn Bình Phương đã từ bỏ quan niệm nhận thức về con người ở thế tĩnh tại, một chiều nhất phiếm mà hướng đến con người

“tính cách đa dạng, không theo một chiều, yêu ghét đúng với bản chất người nông thôn Sự tha hóa của con người, những dục vọng bùng nỗ, những hành động phi lý, phi nhân tính được thể hiện một cách nghệ thuật trong tiểu thuyết”[30] Những tác phẩm

của Nguyễn Bình Phương xuất hiện nhiều giấc mơ, người điên, đi sâu vào khai thác cái vô thức, những ẩn ức, dục vọng, bản năng trong con người Con người được nhận thức không chỉ bằng mối quan hệ xã hội mà bởi sự tổng hoà quan hệ xã hội và tự nhiên Con người đi vào hành trình khám phá những tư tưởng, những cảm thức của

chính mình, những cảm giác da thịt, những ý nghĩ “xấu xa tiêu cực”, những đòi hỏi,

những mộng mị, trắc ẩn, những rối loạn, bệnh hoạn, trong chính bản thân mình Nguyễn Bình Phương muốn giải thoát con người, để con người nhìn thẳng vào con

người, có cả cái “rồng phượng” lẫn “rắn rết” Đối với nhân vật trong tiểu thuyết của

Nguyễn Bình Phương được tiếp cận bằng kiểu cảm quan (hay tâm thức) đặc thù, với việc sử dụng kết hợp các biện pháp nghệ thuật mới là: mờ hoá chân dung, phân rã tính cách, con người ám ảnh, khiến cho nhân vật hiện lên độc đáo như: nhân vật kỳ ảo, nhận vật mang ám ảnh, nhân vật là thế giới đồ vật,… Bên cạnh đó, qua các tiểu thuyết của mình nhà văn con bày tỏ quan niệm mới của mình về ngôn ngữ như việc khai thác các thế mạnh những câu văn ngắn, phi ngữ pháp hay việc sử dụng thủ pháp tạo khoảng trắng giữa những lời đối thoại bằng thao tác nhại và cắt dán ngôn ngữ Điều đặc biệt hơn hết là trong các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương luôn gắn liền với cảm thức

“giải thiêng”, nên các tác phẩm của ông luôn gắn liền với các yếu tố kỳ ảo Các yếu tố

Trang 31

này mang đậm sắc thái tâm linh và nó trở thành một công cụ đắc lực giúp tác giả chuyển tải ý tưởng của mình đến gần với độc giả hơn Đây là một dụng ý nghệ thuật của tác giả mà đây cũng chính là quan niệm tác giả về hiện thực bởi vì cái quái đản, huyền ảo từ lâu đã ăn sâu vào máu thịt và tồn tại một cách bền bỉ trong tiềm thức mỗi con người mà nó khó lay chuyển được Vì vậy, mà các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương là những bản hoà âm nhiều sắc điệu của các giọng điệu như: giễu nhại, vô âm sắc, hoài nghi, trần thuật khách quan Những thể nghiệm trên của Nguyễn Bình Phương là kết quả của sự thể nghiệm tìm tòi những tư tưởng mỹ học, triết học, văn hoá học hậu hiện đại đang tồn tại trong các tác phẩm

*

* *

Từ sau 1986 đến nay, văn học Việt Nam nói chung và tiểu thuyết nói riêng đã và đang đứng trước ngưỡng cửa của tiến trình hội nhập với văn học thế giới trong xu thế toàn cầu hoá Hiện thực này vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với một nền văn học chưa có nhiều thành tựu mang tính quốc tế như văn học Việt Nam Dù muốn hay không văn học Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những trào lưu văn học lớn trên thế giới, trong đó có chủ nghĩa hậu hiện đại đang là một xu hướng có nhiều triển vọng Tiểu thuyết với một tư cách một thể loại chủ lực và tiên phong đã có những dấu hiệu đổi mới theo hướng tiến gần hơn với văn học thế giới Trong số những cây bút nổi bật hiện nay, Nguyễn Bình Phương là một gương mặt quen thuộc Như vậy, trong hành trình sáng tạo của mình, Nguyễn Bình Phương đã đưa đến cho văn học Việt Nam một luồng gió mới, góp phần cùng các nhà văn, nhà thơ khác đưa văn chương nước ta hội nhập với văn chương nhân loại

Trang 32

CHƯƠNG 2: TIỂU THUYẾT “NGỒI” CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG NHÌN TỪ TÂM THỨC HẬU HIỆN ĐẠI VỀ CUỘC

SỐNG, CON NGƯỜI

Tâm thức trước hết là cái tinh thần được biểu hiện của bản thể dân tộc, gắn với tính bản địa và truyền thống dân tộc Văn học Việt Nam qua các thời kỳ đều gắn với điều này, và đến lượt mình, văn học hậu hiện đại Việt Nam cũng phải gắn với nó, tạo

thành tâm thức hậu hiện đại - “cơn kịch phát” của dân tộc tính trong thời hậu hiện đại

Tâm thức gắn liền với nhân tính, được đặt trong dân tộc tính, nhưng mang tính toàn nhân loại, là tính ý hướng quan trọng nhất của văn chương

Các nhà văn theo xu hướng hậu hiện đại vẫn luôn ám ảnh bởi vấn đề nhân tính, không xa rời trách nhiệm của người cầm bút đối với con người, với dân tộc Được soi chiếu bởi những tư tưởng nhân sinh - dân chủ, được tri nhận từ những tri thức khoa học mọi mặt, trải qua những bài học từ lịch sử, nhìn nhận con người và xã hội từ nhiều góc độ, các nhà văn theo xu hướng hậu hiện đại Việt Nam đã làm thay đổi cách hiểu

về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực trên cơ sở những quan niệm mỹ học mới,

mà cái có ý nghĩa nhất là đặt định các giá trị đúng chỗ và sự tôn trọng mọi giá trị Tâm thức hậu hiện đại, có thể hiểu vắn tắt là kiểu cảm nhận đời sống đặc thù thể hiện trạng thái tinh thần của thời đại: nhận thấy sự đỗ vỡ của trật tự đời sống, tính áp đặt của cái chính thống, của các phát ngôn lớn, sự đảo lộn trong các thang bảng giá trị đời sống, sự mất niềm tin, bơ vơ, lạc lõng, vong thân, tâm trạng hoài nghi và tình trạng

bất an của con người

2.1 Tâm thức hậu hiện đại về thế giới phồn tạp, bất an

Hiện thực thế giới hiện lên trong tác phẩm Ngồi phong phú, sinh động, phồn tạp

như nó vốn có Đó là một thế giới hỗn loạn, kéo theo những bất an của con người Sống trong xã hội hiện đại nhưng con người luôn hình dung về quá khứ và cảm thấy lo lắng, bất an Cuộc sống trước mắt họ mơ hồ, thực ảo lẫn lộn nhiều khi khiến họ chao đảo Là vậy nhưng thực ra không phải vậy Cuộc sống hiện tại đó nó như những mãnh

vỡ có sự đan cài của những mặt đối lập, đúng với bản chất thực, đôi lúc phũ phàng buộc con người phải chấp nhận Ở tâm thức này, Nguyễn Bình Phương nhấn mạnh ở trên hai khía cạnh: một bên là tâm thức về cuộc sống đời thường; bên kia là một cách

Trang 33

thể hiện một tâm thức, một cách nhìn mới về thế giới phồn thực, bất an được thể hiện rất rõ nét trong tiểu thuyết này

Đầu tiên, nhân vật chính của cuốn sách đồng thời sống trong hai thế giới, một thế giới có thể tạm coi là hiện tại của anh ta (đi đến văn phòng một công sở, sống với những người đồng nghiệp và những người bạn, cuộc sống nửa vợ chồng, nửa tạm bợ của anh ta với cô gái Minh ) và một thế giới của một cái gì đó, nửa như giấc mơ, nửa như quá khứ (mối tình của anh ta và cô gái Kim) Điều kỳ lạ là trong đời sống của nhân vật giữa hai thế giới đó luôn có sự giao tiếp Có thể thấy, những trang truyện của Nguyễn Bình Phương lay động độc giả bằng những câu chuyện đời thường: tình ái, kiếm tiền, cuộc sống thiếu thốn, sống thử, đảng viên hủ hóa, cặp bồ… của giới công chức, xoay quanh các nhân vật: Khẩn, Minh, Nhung, Nghĩa, Hùng, Liên, Thúy, lão

Việt, Thái, Vận, Kim, Hoàng Lân, Quân Trong đó Khẩn là nhân vật “con cưng” của

tác giả, đồng thời cũng là nhân vật mang tâm lý và hành động phức tạp nhất Đặc biệt, chuyện tình ái của Khẩn với cô gái nhà lành, cũng như các cô nàng đàng điếm đều mang trạng thái của một kẻ đi tìm những khát vọng siêu thực, biểu hiện sự bức bối không lối thoát của một công chức vừa máy móc, vừa ham sống buông tuồng Trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, hầu hết các nhân vật thường rơi vào một giấc

mơ triền miên không dứt Cõi mơ tuy mênh mông nhưng đôi lúc còn hiển hiện hơn cõi

thực, chiếm lĩnh không gian cõi thực tạo nên bầu không khí nhập nhằng thực ảo Thoạt

kỳ thủy có sự lấn át của vô thức và thường là giấc mơ kì quái: “ Hoa nở đặc bãi nghiền sàng Hiền mặc áo mới đi tìm rau vừng thấy một con trâu mặt người chạy ra Sợ, thét lên Tỉnh” [15,160] Con trâu mặt người, cái tai cưỡi trên lưng trâu là hình ảnh người

được vật hóa, kì quái tạo cảm giác một thế giới dị thường

Ngồi được xem là tác phẩm “có những khám phá bên trong con người, tìm hiểu những thức cảm nội tại của nhân vật” Nguyễn Bình Phương chia sẻ: “Tôi viết về sự giãy dụa của người công chức trong việc giữ gìn mô hình sống mẫu mực trước những cám dỗ của một xã hội đang phát triển Có những cốt lõi mà họ không được vi phạm Tuy nhiên, họ vẫn đang phải đối mặt với cái đám lùng nhùng ấy Tóm lại, tôi muốn phản án tình trạng dở dở, ương ương của công chức đương thời”[21] So với các nhân

vật chính trước đây, Khẩn trong Ngồi là mẫu người kỳ lạ: ngồi im mà vẫn bay nhảy

Khẩn vừa đại diện cho cá tính Giao Chỉ, vừa đại diện cho cái tôi bất động; vừa tự ti vừa đầy ảo tưởng Trong nội tâm của Khẩn có sự di chuyển vào ra liên tục giữa ảo và

Trang 34

thực, đến mức khó phân biệt Tương lai đó là cả một mối lo âu, là những dự cảm chẳng lành Cuộc sống hôm nay đầy rẫy những dự báo, hoài nghi về những đổi thay tiêu cực Trong chính căn nhà của mình nhưng người ta lại cảm thấy cô đơn, lạc lõng, mọi thứ luôn trong tư thế đảo lộn, trong trạng thái rạn vỡ Không chỉ có Nguyễn Bình Phương nhận ra sự bề bộn, phức tạp của cuộc sống, mà có rất nhiều nhà thơ đương thời cũng nhận thấy điều đó, tuy nhiên mỗi người lại có cách thể hiện khác nhau trong văn chương Chính hiện thực cuộc sống đã tác động đến con người, họ ganh đua, bon chen, lừa lọc, đố kị, cầu cạnh để tiến thân, họ sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để đạt được mục đích của mình Giá trị sống nhường chỗ cho những ma trận rối ren của cuộc sống

Ngồi là một câu chuyện lặp: bắt đầu bằng hình ảnh của nhân vật chính Khẩn ngồi

xổm bên cạnh cái cột đèn giao thông ở chương đầu, và kết thúc cũng là hình ảnh ấy ở chương cuối Các nhóm nhân vật khác xoay quanh Khẩn, những đấu đá, những vận hạn, những mối quan hệ bất chính Tình dục được tuôn tràn phóng khoáng trên từng trang sách Tiếng cốc cốc cũng vậy, văng vẳng cho đến khi gấp trang cuối của cuốn sách xuống Khẩn như kiểu bị hồn nhập, thỉnh thoảng có cô tình cũ Kim đến với viên

khiến con người mất niềm tin vào cuộc sống, không còn tin vào cái gì nữa Cái nhìn của con người về cuộc sống, về thế giới của con người bị nhập nhòe, mờ ảo Họ luôn

mơ ước thoát khỏi cuộc sống hiện tại và tưởng tượng về một cuộc sống tốt đẹp hơn, sáng sủa hơn Cuộc sống bế tắc của những kiếp người Cuộc sống trong tác phẩm đặt các nhân vật ở giữa những vấn đề không giải quyết được Chính vì có quá nhiều vấn

đề không giải quyết được nên các nhân vật đã dần rơi vào bế tắc tuyệt vọng Từ đầu đến cuối việc tranh giành quyền lực vẫn còn nên Khẩn vẫn tiếp tục bị lôi vào cuộc chiến, Hùng vẫn loay hoay bên vấn đề cơm áo gạo tiền Và Nhung vẫn xoay quanh việc đi tìm chồng vì chồng cô cuối tác phẩm vẫn không tìm thấy Cuộc sống trong thế giới thực đẩy con người tới chỗ bế tắc, tuyệt vọng, không có đường lui Cuộc sống chứa đựng nhiều áp lực xoay quanh các nhân vật Sáng đến cơ quan thì phải đối diện với việc tranh đấu quyền lực của các vị lãnh đạo Tối về nhà thì đối diện với cặp vợ

chồng suốt ngày cãi nhau: “vợ chồng nhà nào mà suốt ngày cãi nhau như phường chợ

búa thế” [14,11] Không chỉ có vậy, cuộc sống của Khẩn lúc nào cũng xoay quanh

việc đối diện với Minh, mặc dù yêu cô, nhưng không bao giờ anh chạm đến cô Đối với các cô gái khác Khẩn luôn chủ động nhưng trước Minh anh chưa bao giờ làm điều

Trang 35

đó, kể cả khi Minh chủ động Cuộc sống của anh cứ suốt ngày quay quanh những vấn

đề khó giải quyết Anh cứ bị cuộc sống đẩy đến những áp lực Với đó, Thúy cũng là người có nhiều áp lực nhưng áp lực lớn nhất cô là không biết chồng cô còn sống hay

đã chết

Trong tác phẩm Ngồi, Nguyễn Bình Phương đã cho chúng ta thấy các nhân vật

trong tác phẩm là những con người mất đi niềm tin đối với bản thân Điều đó thể hiện qua việc khắc họa Khẩn là một con người cô đơn Khẩn cô đơn trong chính căn nhà của mình, mặc dù sống với Minh nhưng chưa bao giờ Khẩn thấy ấm áp Khẩn cô đơn đến nỗi mà nghĩ rằng cuộc đời mỗi con người chỉ cần một nút xóa thì tất cả sẽ biến mất, không ai nhớ tới mình Cái tên của mỗi người chỉ cần xóa đi thì mọi thứ sẽ hết

“Khẩn hình dung ra những kí tự kia là một người và một kí tự xóa đi, biến mất thì cuộc

đời lại dở dang, vô nghĩa thêm một chút” [14,111] Cũng tương tự là sự biến mất của

một nhân vật và một cái tên trong đoạn văn sau “Mặt hồ chới với vài ba tia nắng

muộn Trương vẫn múa may quay cuồng chửi bới cãi cọ với đối thủ Bất ngờ Trương lao ra cửa, tao bới lên này, ối a này này Trư làm động tác xúc đất từ chỗ

nọ đổ sang chỗ kia Nhìn này ối a thằng kia Tr lại chạy nhao lên giường ngồi bó gối

sợ sệt nhìn ra cửa sau đó T đột ngột thăng vút lên, bắt hai chân vào nhau rồi rơi tự do” [14,267] Mỗi cái tên là đại diện cho một con người, một số phận Nhưng không

phải ai cũng để lại ý nghĩa, dấu ấn cho đời mà thực chất giữa hàng ngàn con người thì

sự tồn tại của mỗi người chỉ như một dấu chấm vô cùng nhỏ bé và có khi vô nghĩa Con người ta có thể biến mất hoặc thay đổi không ngờ trước, đó là điều thường nhật

mà mỗi chúng ta phải chấp nhận Với sự biến mất của những cái tên, Nguyễn Bình Phương đã cho ta một quan niệm phủ nhận sự thống trị vĩnh viễn của mỗi con người trong cõi đời Tất cả tạo nên ý nghĩa về sự hiện hữu của con người, giới hạn con người, chỗ đứng của con người trong cuộc đời Khẩn cô đơn và mất niềm tin đến nỗi khi cầm

điện thoại gọi cho ai đó thì các “con số cứ lộn xộn chạy lên trong đầu” [14,220] Khẩn

lúc này như rơi vào cảm giác vô định, anh chẳng biết phải làm gì, chẳng biết phải làm sao Chỉ khi mất niềm tin vào cuộc sống này thì chúng ta mới có cảm giác bâng khuâng và hoang mang như vậy

Thông qua các sáng tác Nguyễn Bình Phương đã nêu bật lên được quan điểm và

lí giải quan điểm của mình về thế giới Những trang viết của ông đã phơi bày được

Trang 36

hiện thực thế giới phồn tạp đầy rẫy bất an và phản ánh được khá đầy đủ các đặc điểm, trạng thái tâm lý cũng như tâm thế của con người sống trong thời hiện tại

2.2 Tâm thức hậu hiện đại về thế giới bất định

Hiện thực thế giới trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương hiện lên không chỉ là một thế giới phồn tạp, đầy rẫy bất an mà đó còn là không gian vô cùng kì ảo để khắc họa một bức tranh hiện thực đầy màu sắc và mang một chút rùng rợn, ma quái

Bao bọc trong Ngồi là không gian của những giấc mơ, giấc mơ của Khẩn về Kim, giấc mơ của chính Kim được kể lại qua hồi ức của Khẩn: “ Kim đặt tay lên môi mình

sẽ sàng bảo, đêm qua em đã mơ thấy một mầm cây thật, nó đỏ rực mọc lên ngay sát mũi chân em, chẳng hiểu sao lúc ấy em lại nghĩ rằng chắc chắn đó không phải là cái mầm cây còn nó là cái gì thì em chưa xác định được” [14,134] Giấc mơ về cái mần

cây đỏ rực không phải là điều kì lạ vì yếu tố không bình thường đó chính là bản chất của giấc mơ Nó có thể là mầm cây, cũng có thể là một cái gì đó nữa, nhưng nó không quan trọng Cái chính là giấc mơ rất bình thường ấy của Kim lại được Khẩn nhớ đến tỉ

mỉ, chứng tỏ hồi ức vẫn sống mãnh liệt và dai dẳng trong anh Ngay cả giấc mơ của

mình trong lần dạo chơi cùng Kim cũng được Khẩn nhớ rõ ràng: “ Rồi mình có một

giấc mơ Mình mơ lại câu chuyện của sư Liễn nhưng người trong mơ lại là mình với Kim Không giải thích nổi, không tài nào giải thích nổi Khi ấy Kim quét sân trong chùa, đang chống chổi nhìn chiếc lá bị vun thành một đống lớn thì mình đi qua Kim cúi đầu chào mình, giọng nhỏ nhẹ nhưng thanh điệu lại vang ngân va đập vào các thành mạch của mình Những chiếc lá khô nhúc nhích Kim gục mình vào thỉnh chuông Tiếng chuông king koong gieo từng âm tròn vo trong hoàng hôn sau đó đổ liên hồi lớp lớp xô đẩy nhau ” [14,200] Những sự việc ấn tượng của một ngày đã để

lại “dấu vết” trong giấc mơ Câu chuyện cuộc đời của sư Liễn như được diễn lại trên

“sân khấu” giấc mơ với người nhập vai là Khẩn và Kim Không khí thơ mộng, có gì

đó huyền diệu phảng phất từ thanh điệu vang ngân ở giọng nói nhỏ nhẹ của Kim, từ

âm tròn vo của tiếng chuông, từ không gian hoàng hôn nơi cửa chùa Tất cả hòa trộn với nhau tạo nên một thế giới khác vừa yên ả, thanh thản vừa đầy quyến luyến, giăng mắc trong một thứ tình cảm êm ái Có khi giấc mơ của Khẩn lại nhuốm màu sắc kì vĩ,

nó được dệt nên từ ấn tượng về chiếc phản bằng cây gỗ lim khổng lồ Nó hiện lên trong bóng dáng của chiếc xe mây ngũ sắc chở Khẩn lướt qua các đỉnh núi Có cả giấc

mơ được nhập vai thần trong câu chuyện đang đọc cho Kim nghe: “Cả hai im lặng

Trang 37

nằm bên nhau cho tới gần sáng thì mình thiếp đi Mình đã mơ thấy mình đội nước đi lên, cao to lực lưỡng với đôi mắt rực lửa, cái miệng mở rộng, mái tóc xõa ngang vai, sau mỗi bước đi của mình, nước bắn cao hàng chục mét” [14, 243] Đằng sau mỗi giấc

mơ của Khẩn là một khao khát mãnh liệt về tầm vóc sức mạnh và tình cảm Đó là thứ tình cảm thầm lặng trong sáng với Kim nhưng mãi mãi nó cũng chỉ dừng lại ở đó Giấc

mơ trong hồi ức, một mặt bộc lộ thế giới nội tâm sâu thẳm, mặt khác cũng là sự ngưng đọng vĩnh viễn một trạng thái, một kỉ niệm trong tiềm thức

Trong Ngồi người đàn bà kì dị - hiện thân của một xác chết dẫn Khẩn vào giấc

mơ rất tự nhiên: “Khẩn chột dạ Bà già đu đưa nhè nhẹ như sắp sửa lao vào Khẩn

Chiếc đũa ngậm ngang miệng bà già hơi cựa quậy khiến Khẩn tập trung ánh mắt vào

đó rồi nhận ra mặt bà già vàng ệch như xát nghệ Một xác chết Khẩn kinh hoảng ngoắt người bỏ chạy thục mạng cho tới khi rơi hẫng xuống vực thẳm và bừng tỉnh”

[14,67] Giấc mơ đó cũng bị đứt đoạn vì trạng thái hoang mang sợ hãi của nhân vật Đâu là thực? Đâu là hư?

Ở Những đứa trẻ chết già, giấc mơ của cụ Trường lại mang nhiều ám ảnh từ thực tại: “Đêm, cụ Trường mơ thấy mình được kiệu đến gặp ông tổ của dòng họ Đoàn kiệu

dập dờn đi mãi, đi mãi vào cái hang bốc mù mịt khói vàng, thơm lựng Tiếng cụ tổ văng vẳng lại vừa mơ hồ, vừa xa xăm: chưa ai xứng cả Cụ Trường vật vã tỉnh lại”[16,277] Nỗi lo sợ có pha chút nuối tiếc chưa hoàn thành trách nhiệm nặng nề với

dòng họ đã xen ngang vào giấc mơ khiến cụ bừng tỉnh Nhưng mang theo trạng thái

vật vã vì một đời người sắp kết thúc Giấc mơ ngắn như một dự cảm không lành

Không gian hư hư ảo ảo mang màu sắc Phật giáo bao trùm Điều đó thể hiện qua

việc kết thúc mỗi chương truyện “Ngồi” là những tiếng gõ mõ, tụng kinh đều đều “cốc

cốc cốc…” dai dẳng không dứt tạo nên không gian ma quái, kỳ ảo Khảo sát tiểu

thuyết “Ngồi”, chúng ta thấy có sự xuất hiện lặp đi lặp lại của âm thanh “cốc” trong 18

chương trên tổng số 49 chương Âm thanh này thường xuất hiện ở cuối chương Những đoạn âm thanh này vang lên chủ yếu giữa cảnh đời thực với những thăng trầm, thường nhật của các sự kiện nơi công sở, khu dân cư, trong một gia đình Có lúc nó

được cất lên từ cảnh mơ mộng, hư ảo, huyễn hoặc Những âm thanh “cốc, cốc” kéo

dài xen vào cuộc đời của Khẩn, góp phần thể hiện cuộc sống đang diễn ra theo chiều hướng suy sụp Tiếng mõ cứ bền bỉ ngân lên sau mỗi biến cố xảy ra như muốn cứu rỗi tâm hồn Tiếng mõ cất lên khi nhân vật Quân mất tích, khi Thuý tìm đến với Nghĩa,

Trang 38

với Khẩn, tiếng mõ sau đám tang bà nội Nhung Những câu văn là chuỗi âm thanh

“cốc cốc” vang lên như tiếng vọng từ tiềm thức để cứu rỗi tính bản thiện của con

người Tiếng gõ mõ xoáy sâu vào tâm trí nhân vật để mỗi nhân vật tự soi lại giá trị, ý nghĩa của mình trong cuộc đời này

Thứ hai là không gian sống của các nhân vật trong truyện hư hư thực thực, có sự hòa trộn của không gian thực, của cuộc sống sinh hoạt, làm việc và không gian ảo của những giấc mơ Không gian thực – không gian của sự hỗn loạn, hỗn tạp, xô bồ Một không gian mà ở đó người ta đến cơ quan không phải để làm việc mà để đấu đá, tranh giành, để làm tình, để rủ nhau đi chơi gái,… Một không gian sống tụ hợp đủ mọi loại người với đủ mọi loại âm thanh, tiếng cãi vã, tiếng chửi nhau, tiếng trẻ con khóc hòa lẫn tiếng gõ mõ, tụng kinh Trong không gian ấy lúc nào con người ta cũng căng lên vì

sự chen lấn, ganh đua, xô bồ và nhân vật chính – Khẩn lúc nào cũng rơi vào trạng thái mệt mỏi, đau đầu mặc dù anh không làm việc gì nhiều Không gian ảo – không gian của những điều mơ hồ, huyễn hoặc, không gian của những giấc mơ, của đền miếu, của thế trận Huyền đồ,… Không gian ảo ấy là sự phản ánh lại không gian thực nhưng đã qua nhào nặn trong suy nghĩ, với những ước mơ con người Không gian ảo có cả sự huyền bí, rùng rợn, mơ hồ, không lí giải được nhưng có cả sự thánh thiện, trong trẻo, vượt lên tất cả sự khắc nghiệt của không gian thực Đó là không gian gặp gỡ giữa con người của hiện thực – Khẩn với con người của cõi tâm linh – Kim Một mối tình đầy đẹp đẽ, trong sáng Một khoảng trời huy hoàng mà thanh khiết sau cơn mưa – nơi anh

và Kim cùng nắm tay nhau ngắm nhìn chiếc cầu vồng vắt qua bầu trời Khung cảnh đẹp đẽ tuyệt diệu ấy gắn với mối tình đầu thơ mộng nên mãi mãi ám ảnh cả hiện tại lẫn tương lai của Khẩn Trong dòng chảy của thực tại, bất cứ lúc nào không gian mối tình đầu rực rỡ kia cũng có thể hiện về trong Khẩn, lấp đầy những khoảnh khắc trống rỗng

nơi anh “Ngày tỏ tình với Kim cũng là ngày mưa… Kim mặc chiếc áo màu ngà với một

đường viền sẫm chạy ngang qua ngực Những giọt mưa màu hổ phách, như màu của ánh nến” [14,105], “Anh đã viết tên em lên cơn mưa …Kim đã ở trong vòng tay Khẩn như một ngày lễ lộng lẫy…Cây đào chưa trổ hoa, màu hồng ánh lên là của năm cũ và một vầng trăng đầy đặn chói lói ngự giữa đỉnh trời Khẩn hoang mang, hình như Khẩn

đã từng tới nơi này” [14,273] Trong hiện thực, nhân vật Khẩn luôn tồn tại trong trạng

thái cô đơn, mất niềm tin vào cuộc sống và cả sự ham muốn về tính dục với rất nhiều người phụ nữ Nhưng trong cõi tâm linh, vô thức, anh đã đến với Kim bằng tình yêu

Trang 39

chân thành, đằm thắm, không chút toan tính, vụ lợi Chính trong những giấc mộng, cuộc sống đối với anh thật dễ chịu, thiên nhiên hòa quyện với mây núi, sông suối Trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, những hồi ức, suy tư, giấc mơ không chỉ

ở cuộc đời thực tại, cõi trần thế với hàng trăm con người thực, nó còn là con người đã lùi xa về thời gian, của linh hồn trôi dạt, lang thang trong sự vây bủa của màn đêm, giấc mơ xuất hiện trong trạng thái mơ màng, hôn mê kéo dài Tất cả hội tụ thành một dòng vô tận, một không gian mê man triền miên, vô định Tuy nhiên, chúng không hoàn toàn là một thế giới xa lạ mà chứa đựng bóng dáng cuộc đời, là khúc xạ của đời sống nội tâm nhân vật Mà nội tâm bao giờ cũng phức tạp nên đòi hỏi người nghệ sĩ phải có trái tim nhạy cảm Và từ đó qua giấc mơ ta sẽ khám phá ra điều bí ẩn của tâm trạng mà con người không thể bộc lộ trong đời sống thường nhật

2.3 Tâm thức hậu hiện đại về sự khủng hoảng niềm tin và cái chết

Một trong những vấn đề được các cây bút sau năm 1986 dành nhiều sự quan tâm nhất đó là quan niệm hiện thực và tính hiện thực trong văn học Mỗi nhà văn có một

“gu” sáng tạo riêng Với Nguyễn Bình Phương, xuất phát từ cảm quan mới về hiện

thực và con người, nhà văn đã có một lối đi riêng cho mình Ngòi bút của ông hướng

đến “tiểu tự sự” những mảnh vỡ của cuộc sống hiện đại Từ đó nhà văn khám phá ra

những mảng hiện thực mới mẻ, mảng hiện thực suồng sả, bát nháo, phàm tục và biểu hiện hiện thực như nó vốn có với những khía cạnh khuất lấp: những cuộc tình vụng trộm, những âm mưu tranh đoạt quyền lợi, những ham muốn tầm thường trong cuộc sống

Trong tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương khi nói đến tâm thức hậu hiện

đại về khủng hoảng niềm tin và cái chết hiện thực thì nhà văn đã không ngần ngại khi đưa ra vấn đề dục vọng, và sự đối chọi chân chất giữa con người với con người khía cạnh của đời sống: tiền bạc, danh lợi và những dục vọng cá nhân, khiến cho người ta không khỏi bàng hoàng khi chứng kiến những mặt trái của xã hội Con người không thể trốn tránh được những dục vọng của bản thân mình, càng trốn tránh thì nó càng trỗi dậy Những nhân vật trí thức của những người như Khẩn, Nghĩa, Nhung Đặc biệt là Khẩn, anh ta làm tốt nhiệm vụ chuyên môn, không đấu đá kèn cựa trong công việc, quan hệ tốt với đồng nghiệp nhưng tư cách cá nhân trong đời sống riêng tư hết sức buông thả Những quan hệ giới tính xô bồ với cô vợ hờ (Minh) và đồng nghiệp nữ (Nhung), với bà bán khoai hàng xóm và cả những cô gái điếm ở quán Karaoke trá hình

Ngày đăng: 08/06/2018, 10:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w